1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu tỉnh sóc trăng

116 567 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 5,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diện tích rừng ngập mặn của tỉnh Sóc Trăng bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang nuôi tôm tự phát, thiếu quy hoạch ở nhiều

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện; các số liệu, hình ảnh thu

thập và phân tích trong đề tài là trung thực Đề tài không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Các số liệu, tài liệu tham khảo hoặc trích dẫn trong luận văn tôi đều chú thích nguồn rõ ràng và chính xác

Thành Phố Hồ Chí Minh, Ngày 29 tháng 03 năm 2012

Học viên thực hiện

Thạch Thị Domres

Trang 4

Chân thành cảm ơn:

TS Phạm Văn Ngọt - giáo viên hướng dẫn - Trường Đại học Sư Phạm Thành

Phố Hồ Chí Minh, đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ cho tôi để tôi hoàn thành luận văn

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh và Phòng Sau Đại

học của trường đã tạo điều kiện cho tôi theo học và tận tình hướng dẫn trong suốt

thời gian tôi học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Gia đình và các bạn cùng khóa, các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Các thầy cô Khoa Sinh trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa trong thời gian qua

Các Thầy cô là giảng viên trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ cho tôi nghiên cứu trong suốt thời gian của khóa học

Cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng, Ủy Ban Nhân Dân, Phòng Thống Kê, Hội Liên hiệp Phụ

Nữ, và các phòng ban khác của huyện Vĩnh Châu, Hội phụ nữ các xã Vĩnh Hải, Lạc Hòa, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Vĩnh Tân và Lai Hòa, Chi hội trưởng hội phụ nữ các ấp nghiên cứu

đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp những số liệu cần thiết để tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu

của mình

Các hộ gia đình của các ấp tạo điều kiện cho tôi tổ chức tập huấn, đã nhiệt tình giúp đỡ

và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành phần nghiên cứu của mình

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012

Thạch Thị Domres

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

M Ở ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Giới hạn của đề tài 2

4 Nội dung nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tình hình giáo dục rừng ngập mặn trên thế giới 4

1.2 Tình hình giáo dục RNM ở Việt Nam 6

1.3 Đặc điểm tự nhiên và xã hội huyện Vĩnh Châu 12

1.3.1 Vị trí địa lí 12

1.3.2 Đặc điểm địa hình 13

1.3.3 Đặc điểm khí hậu 14

1.3.4 Chế độ thủy văn 14

1.3.5 Đặc điểm đất đai 15

1.3.6 Tài nguyên sinh vật 16

1.3.7 Đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.1 Xác định tuyến khảo sát 18

2.3.2 Phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu và làm tiêu bản 18

2.3.3 Thu thập và phân tích tài liệu 20

2.3.4 Phương pháp tập huấn 20

2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu 22

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23

3.1 Hiện trạng về rừng ngập mặn của huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng 23

3.1.1 Thành phần loài thực vật 23

3.1.2 Các quần xã thực vật rừng ngập mặn 26

3.2 Một số đặc điểm về mẫu (phụ nữ) điều tra 29

3.3 Kết quả điều tra nhận thức của phụ nữ về RNM ở các xã khảo sát 31

3.3.1 Nhận thức của phụ nữ về môi trường sống và sự phân bố của RNM 32

3.3.2 Nhận thức của phụ nữ về đa dạng sinh học RNM 37

3.3.3 Nhận thức của phụ nữ về vai trò của RNM 50

3.3.4 Nhận thức của phụ nữ về nguyên nhân suy giảm RNM 54

3.4 Thái độ của phụ nữ đối với RNM các xã khảo sát 58

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 70

PH Ụ LỤC

Trang 7

DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐDSH : Đa dạng sinh học

GTZ : Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức giai đoạn 1 (2007-2010) tại

Sóc Trăng- Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit

GIZ : Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức giai đoạn 2 (2011-2013) tại

Tỉnh Sóc Trăng-Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit

MERC : Mangrove Ecosystem Research Centre- Ban nghiên cứu Hệ

sinh thái Rừng ngập mặn RNM : Rừng ngập mặn

Trang 8

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm dân số, số dân nữ, dân tộc ở các xã ven biển 17

Bảng 3.1 Thành phần loài cây ngập mặn chính thức của huyện Vĩnh Châu 23

Bảng 3.2 Một số đặc điểm về các mẫu điều tra (n=480) 30

Bảng 3.3 Thống kê trung bình tỷ lệ câu trả lời đúng của phụ nữ về môi trường

sống và sự phân bố RNM trước tập huấn 32

Bảng 3.4 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ giữa các câu và

giữa các xã về môi trường sống và sự phân bố RNM trước tập huấn 33

Bảng 3.5 Sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về môi trường sống, sự phân bố

RNM trước tập huấn theo câu 33

Bảng 3.6 Sự khác biệt về nhận thức của phụ nữ đối với môi trường sống, sự

phân bố RNM trước tập huấn theo xã 34

Bảng 3.7 Thống kê trung bình tỷ lệ câu trả lời đúng của phụ nữ về môi trường

sống và sự phân bố RNM sau tập huấn 35

Bảng 3 8 Sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về môi trường sống và sự phân bố

RNM giữa các câu sau khi tập huấn 36

Bảng 3.9 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về môi trường

sống và sự phân bố RNM giữa các câu và giữa các xã sau khi tập

huấn 36

Bảng 3.10 Sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về môi trường sống và sự phân bố

RNM giữa các xã sau khi tập huấn 37

Bảng 3.11 Thống kê trung bình tỷ lệ câu trả lời đúng của phụ nữ về đa dạng

sinh học RNM trước tập huấn 38

Bảng 3.12 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về ĐDSH RNM

trước tập huấn theo câu và theo xã 38

Bảng 3.13 Sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về đa dạng sinh học RNM

trước tập huấn theo câu 39

Bảng 3.14 Thống kê trung bình câu trả lời về các loài thực vật RNM trước tập

huấn 42

Trang 9

Bảng 3.15 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về thực vật

RNM của địa phương trước tập huấn theo loài và theo xã 42

Bảng 3.16 Thống kê trung bình tỷ lệ câu trả lời của phụ nữ về các loài động vật

RNM trước tập huấn 43

Bảng 3.17 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về động vật

RNM của địa phương trước tập huấn theo loài và theo xã 44

Bảng 3.18 Thống kê trung bình tỷ lệ câu trả lời đúng của phụ nữ về đa dạng sinh

học RNM sau tập huấn 45

Bảng 3.19 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về ĐDSH RNM

sau tập huấn giữa các câu và giữa các xã 45

Bảng 3.20 Thống kê trung bình câu trả lời của phụ nữ về các loài thực vật RNM

sau tập huấn 46

Bảng 3.21 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về các loài TV

RNM địa phương sau tập huấn theo xã và theo loài 47

Bảng 3.22 Sự khác biệt nhận thức của phụ nữ về các loài thực vật RNM sau tập

Bảng 3.27 Kết quả phân tích sự khác biệt nhận thức về vai trò RNM của phụ

nữ sau tập huấn theo xã và theo vai trò 54

Bảng 3.28 Thống kê trung bình lựa chọn của phụ nữ về nguyên nhân suy giảm

RNM trước tập huấn 56

Trang 10

Bảng 3.29 Sự khác biệt nhận thức về nguyên nhân suy giảm RNM của phụ nữ

trước tập huấn theo xã 56

Bảng 3.30 Thống kê trung bình tỷ lệ lựa chọn của phụ nữ về nguyên nhân suy

Bảng 3.33 Thống kê trung bình tỷ lệ phụ nữ trả lời về vai trò của người phụ nữ

trong việc khôi phục RNM trước tập huấn 61

Bảng 3.34 Thống kê trung bình thái độ của phụ nữ đối với hậu quả của việc mất

RNM sau tập huấn 62

Bảng 3.35 Thống kê trung bình tỷ lệ phụ nữ có thái độ đối với các biện pháp

khôi phục RNM sau tập huấn 63

Bảng 3.36 Thống kê trung bình tỷ lệ phụ nữ trả lời về vai trò của người phụ nữ

sau tập huấn 64

Trang 11

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Bản đồ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng 13

Hình 2.1 Sơ đồ đường đi chính của các tuyến khảo sát 20

Hình 3.1 Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) đang được trồng phục hồi tại Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Châu 26

Hình 3.2 Quần xã Mấm trắng – Đước đôi ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu 27

Hình 3.3 Quần xã Bần chua - Mấm trắng 27

Hình 3.4 Quần xã Đước đôi 28

Hình 3.5 Quần xã Mấm trắng - Giá - Ôrô 28

Hình 3.6 Quần xã Dừa nước ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu 29

Hình 3.7 Biểu đồ về sự thay đổi nhận thức của phụ nữ về thực vật RNM 47

Hình 3.8 Tỷ lệ % các loài ĐV được lựa chọn trước và sau tập huấn 50

Hình 3.9 Biểu đồ về sự thay đổi nhận thức của phụ nữ về các vai trò của RNM trước và sau tập huấn 53

Hình 3.10 Biểu đồ về sự thay đổi nhận thức của phụ nữ về các nguyên nhân suy giảm RNM trước và sau tập huấn 58

Trang 12

M Ở ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Rừng ngập mặn (RNM) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, có vai trò và lợi ích kinh tế rất lớn, đặc biệt đối với nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và bảo vệ môi trường Rừng ngập mặn đóng vai trò là vùng đệm tự nhiên; bảo vệ đê

biển; hạn chế gió bão, lũ lụt và sóng thần Rừng ngập mặn là nơi cư trú, là bãi đẻ, khu vực ươm nuôi con giống của nhiều loài thủy sản và còn là nơi cư trú của nhiều loài chim, thú

Tỉnh Sóc Trăng có diện tích bờ biển dài trên 72 km, những năm đầu thập niên

90 của thế kỷ XX, tỉnh có hơn 10.000 ha rừng ngập mặn Từ năm 1987 phong trào nuôi tôm sú phát triển, người ta đã phá rừng để lấy đất nuôi tôm Bên cạnh đó, tình trạng phá rừng lấy gỗ, làm than diễn ra thường xuyên làm diện tích rừng ngày càng thu hẹp, chỉ còn hơn 50% diện tích Năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng có chủ trương giao đất rừng ngập mặn ven biển cho các cá nhân, tổ chức để phát triển

và đi vào sản xuất Sau gần 5 năm, toàn tỉnh đã trồng được hơn 4.000 ha rừng Diện tích rừng ngập mặn hiện nay của tỉnh khoảng 6.033,16 ha, riêng huyện Vĩnh Châu

có 3.600 ha

Diện tích rừng ngập mặn của tỉnh Sóc Trăng bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang nuôi tôm tự phát, thiếu quy hoạch ở nhiều địa phương ven biển, trình độ nhận thức của một số người dân về vai trò của rừng ngập mặn đối với môi trường còn thấp Tỉnh Sóc Trăng

có 3 dân tộc anh em chiếm đa số là dân tộc Kinh khoảng 65,28%, dân tộc Khmer chiếm 28,85%, dân tộc Hoa chiếm 5,86% Riêng huyện Vĩnh Châu dân tộc Khmer chiếm đến 52,96%

Dân cư vùng ven biển huyện Vĩnh Châu phần đông là dân tộc Khmer nghèo

khổ Cuộc sống của người dân vùng ven biển đa số gắn liền với hệ sinh thái của

rừng ngập mặn Tuy nhiên do sức ép về kinh tế và dân số, do sự hiểu biết của người dân còn hạn chế, công tác phổ biến kiến thức về vai trò của RNM đến cộng đồng dân cư ven biển chưa được quan tâm nhiều Nâng cao ý thức cho phụ nữ vùng ven

Trang 13

biển là việc làm hết sức cấp thiết, để họ hiểu về tác dụng to lớn của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ cộng đồng dân cư ven biển, gia tăng sản lượng tôm, cá,…Từ đó dân cư vùng ven biển có thái độ đúng đắn, có hành vi thân thiện với rừng ngập mặn

Phụ nữ vừa là người vợ, vừa là người mẹ sẽ tác động tích cực đến những người con, người chồng trong gia đình trong việc bảo vệ và trồng rừng ngập mặn

Từ những vấn đề cấp thiết đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục nâng cao

nh ận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng”

2 M ục tiêu của đề tài

Cung cấp những kiến thức về đặc điểm, về vai trò của hệ sinh thái rừng ngập

mặn và hậu quả của việc chặt phá rừng ngập mặn cho phụ nữ vùng ven biển của huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng ngập mặn,

bảo vệ đa dạng sinh học

3 Gi ới hạn của đề tài

Giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ từ 20

tuổi trở lên sống ở vùng ven biển của 6 xã thuộc huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng

4 N ội dung nghiên cứu

- Tình hình của phụ nữ các xã điều tra: số hộ dân, số phụ nữ, trình độ văn hóa, dân tộc, nghề nghiệp

- Hiện trạng rừng ngập mặn thuộc các xã điều tra Tình hình đánh bắt và nuôi

trồng các loại thủy hải sản của huyện và các xã điều tra

- Điều tra nhận thức của phụ nữ về: sự phân bố của rừng ngập mặn; hiểu biết

về thực vật, động vật rừng ngập mặn; vai trò của rừng ngập mặn, nguyên nhân làm suy thoái rừng ngập mặn, hậu quả và hướng giải quyết

- Tổ chức tập huấn về rừng ngập mặn cho phụ nữ vùng ven biển có rừng ngập

mặn của huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng

5 Ý nghĩa của đề tài

Nâng cao nhận thức cho phụ nữ sống ở vùng ven biển, từ đó góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng ngập mặn trong tình hình biến đổi

Trang 14

khí hậu như hiện nay

Góp phần làm rõ vai trò của rừng ngập mặn, từ đó người dân có ý thức bảo vệ

và trồng rừng ngập mặn ven biển

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình giáo d ục rừng ngập mặn trên thế giới

Theo The Food and Agriculture Organization (FAO) (2007), trên thế giới còn khoảng 124 quốc gia có rừng ngập mặn, với tổng diện tích là 15.231.000 ha Trong

đó Châu Phi có 3.160.000ha, Châu Á có 5.858.000ha, Châu Mỹ có 4.241.000ha, Châu Đại Dương 1.972.000ha Một số nước có diện tích rừng ngập mặn lớn là: Indonesia (2.900.000 ha), Brazil (1.000.000 ha), Australia (1.451.000 ha), Mexico (820.000 ha), Cuba (547.500 ha), Malaysia (565.000 ha), Myanmar (507.000 ha), Bangladesh (476.000 ha), Ấn Độ (448.000 ha) [31]

Ở Châu Phi, từ năm 1980 đến năm 2005 diện tích rừng ngập mặn bị mất khoảng 500.000ha, với những tổn thất lớn xảy ra ở Gabon, Sierria Leone, Cộng Hòa Dân chủ Congo,…do chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang trồng lúa, nuôi tôm, xây dựng cơ sở hạ tầng Ở Mauritius chương trình trồng rừng ngập mặn đã bắt đầu thành công vào những năm 1980 Ở Kenya, năm 1982, tổng thống ra lệnh cấm khai thác rừng ngập mặn Ở Sierria Leone, những nổ lực đã được thực hiện để phục hồi

rừng ngập mặn bị xuống cấp và kiểm soát việc khai thác rừng ngập mặn vào cuối

những năm 1980 Đầu những năm 1990, ở Congo có một số hoạt động để nâng cao

nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của việc quản lí bền vững các hệ sinh thái ven biển, xem như là một nguồn an ninh lương thực của nhân dân địa phương

Hoạt động giáo dục nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cũng đang diễn ra ở Gambia, Seychelles và Nam Phi Hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng ngập mặn

ở các quốc gia thuộc Châu Phi đang được phát triển ở mức cộng đồng Chương trình trồng rừng được bắt đầu vào những năm 1980 và vẫn tiếp tục cho đến nay [31]

Tại Camaron, rất nhiều chương trình và chiến lược đưa ra nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn, chương trình cũng truyền đạt cách thức

để thúc đẩy việc quản lí tài nguyên thiên nhiên và tuân thủ các qui định, luật lệ cũng như nâng cao nhận thức của người dân [31]

Trang 16

Ở Châu Á có 25 nước có rừng ngập mặn, như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,

Nhật Bản, Bangledesh, Malaysia, Mianmar, Inđonesia, Pakistan,… Bảo tồn và khôi

phục lại rừng ngập mặn đang được thực hiện ở nhiều nước thuộc khu vực Châu Á Vào những năm 1990 Chính Phủ Pakistan và Liên Minh Bảo Tồn Thiên Nhiên

Quốc Tế (IUCN) hợp tác khôi phục 19.000ha rừng ngập mặn gồm Mấm và Đước Năm 1999, khoảng 17.000ha rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Ấn đã được phục

hồi với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới Các mối đe dọa và thiệt hại về rừng ngập

mặn ở các nước Châu Á vẫn đang là một vấn đề lớn Nhận thức của cộng đồng về

tầm quan trọng của rừng ngập mặn đang được chú ý như hoạt động trồng rừng,

phục hồi, bảo vệ rừng ngập mặn với mục đích bảo tồn tại Bangladesh, Ấn Độ, Inđonesia, …Nhiều nước đã ban hành luật và qui định để bảo vệ khu vực rừng ngập

mặn còn lại và giảm thiểu thiệt hại trên diện rộng Nhiều quốc gia đã phê chuẩn Công ước Ramsar về Đất ngập nước, rừng ngập mặn được xem như khu vực bảo

tồn đa dạng sinh học [31]

Ở Châu Mỹ, chính quyền địa phương đang ngày càng nhận ra tầm quan trọng

của rừng ngập mặn về giá trị thẩm mỹ, kinh tế sinh thái và môi trường rừng ngập

mặn ngày càng được phục hồi bằng cách trồng cây ngập mặn trong các ao nuôi tôm

bỏ hoang, giảm diện tích đầm nuôi tôm Tháng 4 năm 2005, tại Bahama một loạt các hoạt động được tổ chức để nâng cao nhận thức trong cộng đồng do Bộ Giáo

Dục và Du Lịch và các nhóm nhà môi trường thực hiện [31]

Đứng trước nguy cơ rừng ngập mặn ở nhiều nơi trên thế giới bị phá hủy, một

dự án “Mangrove Action Project (MAP)” có trụ sở tại bang Washington, Mỹ được thành lập từ năm 1992 có nhiệm vụ khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn; tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và học sinh trên toàn thế giới hiểu biết về rừng ngập

mặn, có ý thức và hành động bảo vệ hệ sinh thái này MAP đã hình thành mạng lưới

quốc tế có 60 quốc gia, trên 450 Tổ chức phi chính phủ (non-governmental organization-NGO), 300 nhà khoa học và chuyên gia tham gia Hàng năm, MAP đã

tổ chức cho trẻ em ở các nước Mỹ, Colombia, El Salvador, Ecuador, Nigeria, Keynia, Pakistan, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Việt Nam …

Trang 17

tham gia vẽ tranh về rừng ngập mặn [47]

1.2 Tình hình giáo d ục RNM ở Việt Nam

Với vai trò to lớn của RNM đối với việc bảo vệ môi trường, ở Việt Nam đã có

một số công trình nghiên cứu giáo dục cộng đồng về vai trò của rừng ngập mặn

Từ năm 1991-2001, Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn (MERC) đã tổ chức 136 lớp tập huấn cho cộng đồng ở 8 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh) về vai trò

và lợi ích rừng ngập mặn, kỹ thuật trồng và chăm sóc Trong năm 2001 và 2002 MERC đã tổ chức 20 lớp tập huấn cho giáo viên cốt cán các trường tiểu học và Trung học cơ sở về vai trò và lợi ích của rừng ngập mặn; 12 lớp cho học sinh tham quan học tập tại trạm Nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn, qua đó đã góp phần tích cực cho việc tuyên truyền và giáo dục trong công tác nâng cao nhận thức của

cộng đồng đối với vai trò của rừng ngập mặn

MERC đã tổ chức triển lãm lưu động vì màu xanh rừng ngập mặn phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân nhiều xã ven biển thuộc hai tỉnh Thái Bình và Nam Định, qua đó giúp họ hiểu rõ hơn vai trò và lợi ích của rừng ngập mặn để mọi người

có trách nhiệm và ý thức hơn trong việc quản lí và bảo vệ rừng ngập mặn, coi đó là tài sản của đia phương mình, của con cháu mai sau, mất rừng họ không còn nơi

kiếm sống hàng ngày, thiên tai đe dọa [5]

Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2001) đã tiến hành một số hoạt động tuyên truyền, giáo dục qua chương trình “Vì màu xanh rừng ngập mặn ” tại các xã Giao

Lạc (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), xã Thụy Trường (huyện Thái Thụy,tỉnh Thái Bình) và xã Nam Phú (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân địa phương về hệ sinh thái rừng

ngập mặn, từ đó có ý thức bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn [7]

Nguyễn Thị Kiều Oanh và Phan Nguyên Hồng (2001) đã khảo sát hiệu quả

của việc tổ chức cho học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó tham quan học tập tại

Trạm Nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy,

tỉnh Nam Định Qua chuyến tham quan học tập, các em học sinh được tìm hiểu về

Trang 18

các kiến thức liên quan đến hệ sinh thái rừng ngập mặn [7]

Năm 2002, Trần Minh Phượng và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền và giáo dục về rừng ngập mặn cho học sinh Trung học cơ sở ven biển tại hai

tỉnh Thái Bình và Nam Định với hai phương thức tuyên truyền là: (1) tổ chức tham quan và học tập tập trung; (2) xây dựng phòng trưng bày đa dạng sinh học Qua đó

đã nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ven biển và rừng ngập mặn cho học sinh, góp

phần xây dựng mô hình tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ rừng ngập

mặn và môi trường cho học sinh Trung học cơ sở ven biển [5]

Trần Minh Phượng và cộng sự (2002) cũng đã tổ chức nâng cao nhận thức cho

cộng đồng ở các vùng ven biển có rừng ngập mặn trồng ở 7 xã thuộc 4 huyện Giao

Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định), và huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình) bằng

biện pháp phổ biến và cung cấp kiến thức về rừng ngập mặn qua bài giảng, triển lãm tranh, chiếu phim về rừng ngập mặn; tổ chức các trò chơi tập thể như trò chơi

“Hái hoa rừng ngập mặn”, “Xé dán tranh về rừng ngập mặn” và biểu diễn các tiết

mục văn nghệ nhằm cung cấp kiến thức về rừng ngập mặn [5]

Nguyễn Thị Hương (2002) nghiên cứu nâng cao nhận thức cho cộng đồng tại vùng rừng ngập mặn ở xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy Với mục tiêu là giáo dục cho học sinh những hiểu biết về rừng ngập mặn của địa phương, tuyên truyền gián

tiếp giáo dục cộng đồng về bảo vệ, phát triển môi trường ven biển và rừng ngập

mặn; tác giả đã tiến hành các hoạt động như: giảng dạy lồng ghép trong các bài của môn Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lí; tổ chức các buổi ngoại khóa, tổ chức các

cuộc thi về tìm hiểu môi trường ven biển, phát động vẽ tranh, sưu tầm tranh ảnh,

viết thơ văn về rừng ngập mặn, tổ chức cho học sinh tham quan, xây dựng nội san dán panô, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền nơi công cộng [5]

Phạm Thế Dương, đã nghiên cứu một số hình thức tổ chức giáo dục về tác

dụng và bảo vệ rừng ngập mặn cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nam Phú Các hình thức tổ chức bao gồm: Đưa nội dung giáo dục về rừng ngập mặn vào kế

hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường; lồng ghép nội dung về

rừng ngập mặn vào các môn học (sinh học, địa lí, toán, lí, hóa, văn, giáo dục công

Trang 19

dân); gắn hoạt động học tập của nhóm học sinh yêu Sinh học với nghiên cứu về

rừng ngập mặn; tổ chức các cuộc thi, các trò chơi tìm hiểu về rừng ngập mặn; tổ

chức tham quan rừng ngập mặn; xây dựng phòng trưng bày về rừng ngập mặn [5]

Phạm Thị Hòa (2002) nghiên cứu tuyên truyền vận động các lực lượng xã hội tham gia bảo vệ bền vững rừng ngập mặn ven biển huyện Giao Thủy Tác giả đã

nhận định rằng việc trồng cây ngập mặn rất quan trọng, nhưng việc bảo vệ và chăm sóc chúng còn quan trọng và khó khăn hơn, do đó cần phải tuyên truyền, giáo dục,

vận động tất cả mọi lực lượng xã hội tham gia vào việc chăm sóc bảo vệ rừng ngập

mặn Tác giả đề cập các biện pháp tuyên truyền như là tập huấn về kỹ thuật trồng

rừng, lợi ích to lớn của rừng ngập mặn; tuyên truyền thông qua đài phát thanh của huyện, xã; dán khẩu hiệu nói về lợi ích rừng ngập mặn; Phát tài liệu tuyên truyền về

rừng ngập mặn cho các hộ dân và học sinh các xã ven biển; phối hợp với phòng Giáo Dục và ĐàoTạo tập huấn ngoài giờ cho học sinh trường Trung học cơ sở về

kiến thức rừng ngập mặn; tổ chức thi viết về sáng tác thơ ca, viết truyện, thi tìm

hiểu về rừng ngập mặn Qua việc tuyên truyền, giáo dục đã giúp cho hàng trăm người dân, hàng nghìn học sinh có thêm những kiến thức về rừng ngập mặn, họ sẽ

là những người tuyên truyền tích cực trong việc giúp cộng đồng hiểu được giá trị

của rừng ngập mặn, tham gia chăm sóc, bảo vệ bền vững rừng ngập mặn [5]

Năm 2003, Phan Nguyên Hồng và cộng sự nghiên cứu một số phương thức tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ rừng ngập mặn cho cộng đồng dân cư ven

biển Các tác giả đã nghiên cứu 3 phương thức tuyên truyền: (1) sáng tác “ Rừng

ngập mặn, hôm qua, hôm nay và ngày mai”; (2) cuộc thi “Tìm hiểu về rừng ngập

mặn ”; (3) Triễn lãm “Vì màu xanh rừng ngập mặn ” ở xã Thụy Hải, xã Thái Đô và

xã Thái Thượng – huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; Xã Nghĩa Phúc, xã Nghĩa Lợi

và xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Kết quả nghiên cứu cho biết phương thức tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu rừng ngập mặn ” là phương thức tuyên truyền hiệu quả nhất để nâng cao nhận thức về rừng ngập mặn của cộng đồng dân

cư ven biển [7]

Trang 20

Trần Minh Phượng và Phan Thị Minh Nguyệt (2003), nghiên cứu hiệu quả tuyên truyền thông qua xây dựng “Câu lạc bộ rừng ngập mặn ” trong các trường trung học cơ sở ven biển Các phương thức tuyên truyền đã mang lại hiệu quả cao

trong việc giáo dục cho học sinh - chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những con người năng động, sáng tạo có ý thức cao trong việc bảo vệ tài nguyên rừng

ngập mặn [7]

Việt Nam đã nổ lực để phục hồi rừng ngập mặn, các hoạt động trồng rừng bắt đầu vào năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, và được mở rộng vào đầu năm

1990, đã phục hồi được gần 53.000ha rừng ngập mặn Nhiều tổ chức phi Chính phủ

đã hỗ trợ các dự án phục hồi rừng ngập mặn, với tổng số 14.000ha rừng ngập mặn được trồng ở các tỉnh khác nhau Sự thành công của những nổ lực phục hồi rừng

ngập mặn ở Việt Nam nhờ sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan tài trợ với chính quyền địa phương, giữa chính quyền với nhân dân [31]

Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ - the Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit) thực hiện dự án “Quản lý tài nguyên thiên nhiên ở

tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam” Mục tiêu tổng thể của dự án là bảo vệ và sử dụng đất

ngập nước ven biển của tỉnh Sóc Trăng, giúp cho các nhóm dân cư nghèo tham gia nhiều hơn vào quá trình khai thác, sử dụng vùng ven biển một cách bền vững về

mặt kinh tế cũng như sinh thái Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ tỉnh Sóc Trăng phát triển

kỹ thuật quản lý hành chính trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Đồng thời, hỗ trợ các chương trình đào tạo, thông tin và tuyên truyền để nâng cao ý

thức của người dân trong việc khai thác và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Dự án được thực hiện trong 5 năm kể từ tháng 12/2006 và kết thúc vào tháng 11/2011 ở các huyện ven biển Cù Lao Dung, Long Phú, và Vĩnh Châu [41]

Năm 2010, Trung tâm con người và Thiên nhiên đã nghiên cứu nhận thức của

cộng đồng về môi trường và quản lí tài nguyên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ nhận thức và thái độ cộng đồng địa phương và các bên có liên quan về vấn đề môi trường và quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển ở địa bàn ba huyện Cù Lao Dung, Vĩnh Châu và Long

Trang 21

Phú (tỉnh Sóc Trăng), đồng thời hướng dẫn và hợp tác với cán bộ dự án tại địa phương thực hiện các hoạt động nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của dự án gồm: nhóm cộng đồng địa phương; nhóm cán bộ chính quyền và tổ chức xã hội của địa phương ở cấp tỉnh, huyện và xã; nhóm các doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến

thủy sản [20]

Lý Hòa Khương, 2010 Mô hình phục hồi, quản lí hệ sinh thái RNM theo

hướng đồng quản lí Trong: Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Thị Kim Cúc, Phục hồi và

quản lí hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tuyển tập hội

thảo quốc gia Cần Giờ - Thành Phố Hồ Chí Minh, 23- 25/11/2010 Mô hình đồng

quản lí có sự tham gia của chính quyền địa phương và có cả sự tham gia của cộng đồng dân cư ven biển trong việc trồng, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập

mặn phòng hộ ven biển [13]

Năm 2010, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Ban Quản lý

Dự án quản lý nguồn tài nguyên tỉnh Sóc Trăng tổ chức lớp tập huấn về “Biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của rừng ngập mặn” cho 140 giáo viên, ở các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông của 2 huyện Trần Đề và Cù Lao Dung

Lớp tập huấn đã giúp cho các giáo viên hiểu sâu về môi trường, về biến đổi khí hậu,

và tầm quan trọng của rừng ngập mặn để bổ sung nguồn kiến thức phục vụ giảng

dạy cho học sinh [50]

Từ năm 2008 đến 2010, GTZ đã tổ chức các cuộc thi vẽ tranh trong thanh thiếu niên, học sinh với các chủ đề khác nhau nhằm truyền thông nâng cao nhận

thức trong học sinh và cộng đồng tại tỉnh Sóc Trăng về những tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học, nguồn lợi tài nguyên và môi trường

sống [51]

Năm 2008, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã phối hợp với Phòng Giáo dục tổ chức hội thi tìm hiểu rừng ngập mặn Cần Giờ cho các em học sinh Tiểu học trong địa bàn huyện qua 3 nội dung chính: Phần tự giới thiệu về các hoạt động bảo

vệ môi trường của các trường; phần thi hùng biện và phần tiểu phẩm tự biên có nội dung cũng như đưa ra những giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn

Trang 22

Cần Giờ nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung Qua hội thi, bước đầu đã mang

lại hiệu quả trong việc thực hiên công tác giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ nói riêng và môi trương nói chung cho học sinh tiểu học trên địa bàn huyện [36]

Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ tổ chức hội thi “Sắc xanh rừng ngập

mặn” (2010) dành cho học sinh tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Cần

Giờ Hình thức tham gia dự thi là sáng tác thơ, viết văn về rừng ngập mặn Qua hội thi giúp các em tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của rừng ngập mặn, từ đó nâng cao ý

thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên rừng ngập mặn [37]

Dự án Nâng cao nhận thức bảo vệ rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư được triển khai, thực hiện rất thành công tại xã Tam Thôn Hiệp

và các xã còn lại của Dự án quản lí rừng ngập mặn Cần Giờ Với hình thức lồng ghép tuyên truyền vào các buổi họp ấp, họp tổ ở mỗi xã Qua đó người dân thấy được vai trò, lợi ích, giá trị mà rừng ngập mặn mang lại, từ đó kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường bằng những hành động thiết thực [38]

Năm 2009, Phòng Giáo Dục và Đào Tạo cùng Hội chữ thập đỏ huyện Yên Hưng phối hợp tổ chức hội thi “Hiểu biết về rừng ngập mặn, phòng ngừa và ứng phó thảm họa tại Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh” cho một số học sinh của 06 trường

Tiểu học: Phong Hải, Phong Cốc, Yên Giang, Hiệp Hòa, Hà An và Ngô Quyền Qua hội thi đã gửi thông điệp đến các thầy cô giáo, các em học sinh cùng các bậc phụ huynh nói riêng và người dân trên địa bàn huyện Yên Hưng nói chung hãy bảo

vệ, chăm sóc và giữ gìn hệ thống rừng ngập mặn, nó là “những bức tường thành vững chắc và kiên cố trong công tác ngăn chặn thảm họa bão và lũ lụt” [43]

Phòng Giáo Dục và Đào Tạo phối hợp với Hội chữ thập đỏ Thành Phố Hạ Long (2009) tổ chức hội thi “Hiểu biết về rừng ngập mặn và phòng ngừa, ứng phó thảm họa” (2009) dành cho một số học sinh thuộc 04 trường Tiểu học của Thành Phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh với các nội dung: màn chào hỏi, tiểu phẩm, trắc nghiệm kiến thức và hùng biện Thông qua hội thi nhằm giúp các em hiểu biết về

Trang 23

rừng ngập mặn, bảo vệ và trồng rừng ngập mặn nhằm giảm thiểu những tai họa do tác động của việc thay đổi khí hậu gây ra [44]

Hưởng ứng cuộc thi “Hiểu biết về rừng ngập mặn và phòng ngừa, ứng phó thảm họa” do Hội Chữ thập đỏ phát động, trường tiểu học Cao Xanh-Thành Phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức cho 50 học sinh tham dự dưới hình thức “Rung chuông vàng” (2009) [42]

Năm 2009, nhiều trường tiểu học ở Quảng Ninh tham gia cuộc thi “Hiểu biết

về rừng ngập mặn và phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ” Qua cuộc thi, học sinh ở các trường Tiểu học được nâng cao về nhận thức và hiểu biết về rừng ngập mặn và phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ Qua đó, tuyên truyền sâu rộng trong học sinh và nhân dân về tác dụng của hệ sinh thái rừng ngập mặn và công tác phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ dựa vào cộng đồng Từ đó giúp người dân chủ động trong việc bảo

vệ, khai thác và phát huy tiềm năng to lớn của hệ sinh thái rừng ngập mặn [49] Năm 2010, tại Khu bảo tồn thiên nhiên vườn chim tỉnh Bạc Liêu, Ban quản lý

Dự án Quản lý bền vững hệ sinh thái rừng ven biển tỉnh Bạc Liêu phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bạc Liêu tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật gieo ươm cây con

rừng ngập mặn cho 10 trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông được chọn thí điểm tham gia cuộc thi “Chăm sóc vườn ươm rừng ngập mặn” Cuộc thi

“Chăm sóc vườn ươm” được phối hợp tổ chức đã thu hút trên 30 trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, huyện Giá Rai và huyện Đông Hải đăng k ý tham gia Mục đích của cuộc thi này nhằm nâng cao nhận thức của các em học sinh về giá trị của rừng ngập mặn ven biển thông qua hoạt động thực tiễn [35]

1.3 Đặc điểm tự nhiên và xã hội huyện Vĩnh Châu

1.3.1 V ị trí địa lí

Vĩnh Châu là một trong số 11 huyện, thành phố của tỉnh Sóc Trăng Tiếp giáp

tỉnh Bạc Liêu ở phía Tây, phía Bắc tiếp giáp với huyện Mỹ Xuyên và Trần Đề, phía Đông và phía Nam tiếp giáp với biển Đông, với chiều dài bờ biển khoảng 43km

Phần đất liền của huyện có tọa độ địa lí từ 10040’-10080’ độ vĩ Bắc và 1060

05’-106042’độ kinh Đông

Trang 24

Hình 1.1 B ản đồ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

(Ngu ồn: Niên giám thống kê huyện Vĩnh Châu, 2010) [17]

Vùng ven biển của huyện Vĩnh Châu kéo dài từ cửa Mỹ Thanh, một nhánh của sông Hậu đến ranh giới với tỉnh Bạc Liêu Vùng này bao gồm 6 xã và 01thị trấn: Vĩnh Hải, Lạc Hòa, Vĩnh Châu,Vĩnh Phước, Vĩnh Tân, Lai Hòa và thị trấn Vĩnh Châu

1.3.2 Đặc điểm địa hình

Vĩnh Châu là huyện đồng bằng ven biển, địa hình chung không cao, hướng

dốc thấp dần từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, tạo thành những khu trũng giữa các dòng cát Các dạng địa hình chính của huyện gồm:

Địa hình cao: diện tích 3.270ha, chiếm 7,5% ở các khu dân cư và theo trục tĩnh lộ từ xã Lai Hòa đến xã Vĩnh Hải, chủ yếu là dòng cát, tính chất đất là cát-thịt

nhẹ ít bị nhiễm phèn, nhưng vẫn bị nhiễm mặn

Địa hình trung bình: diện tích 15.830ha, chiếm 36,6% phân bố chủ yếu từ xã Lai Hòa đến xã Vĩnh Phước, thời gian ngập nước từ 4-6 tháng

Địa hình thấp: phân bố đều khắp các xã, tập trung nhiều ở phía Bắc xã Vĩnh Châu, Khánh Hòa và Hòa Đông với diện tích 18.420ha, chiếm 39,8%

Trang 25

Địa hình trũng: diện tích 5.300ha, chiếm 12,3% chủ yếu là bãi lầy ven biển, đất ngập nước mặn quanh năm

1.3.3 Đặc điểm khí hậu

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu huyện Vĩnh Châu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 20,080C, cao nhất 280C vào tháng 4 hàng năm, thấp nhất 25,20

C vào tháng 12 - 1 hàng năm

- Lượng mưa trung bình năm 1.846mm

- Gió thay đổi theo hai mùa rõ rệt, gió Đông Bắc từ tháng 12 - 4, gió Tây Nam

từ tháng 5 - 11, tốc độ gió trung bình năm trung bình năm 2,3m/s, mỗi năm bình quân có 30 - 60 cơn giông

Chế độ thủy văn của huyện bị chi phối bởi nước mặn, chịu ảnh hưởng mạnh từ

thủy triều sông Mỹ Thanh, sông Cổ Cò Bạc Liêu bao quanh huyện và biển Đông

Hệ thống sông rạch chính trên địa bàn huyện có sông Mỹ Thanh dài 27km, sông Cổ Cò-Bạc Liêu dài 22,8km, rạch Trà Nho dài 6,8km, rạch Om Trà Nỏ dài 12,8km, rạch Sâu dài 11km, Kênh Trà Niền dài 32,5km, rạch Trà Giao dài 3km,

rạch Xẻo Tre dài 8,5km Ngoài ra, còn có nhiều kênh rạch nhỏ trong nội địa làm nhiệm vụ cấp nước, tiêu xả phèn phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và nuôi

trồng thủy sản

Trang 26

Xâm nhập mặn là đặc điểm quan trọng của chế độ thủy văn trong vùng, vào mùa khô lượng nước xâm nhập vào sâu trong sông và kênh rạch, nguồn thủy triều xâm nhập vào nội đồng chủ yếu qua sông Mỹ Thanh

Nét nổi bậc trong đặc điểm thủy văn của Vĩnh Châu là hầu như không bị ngập

lũ hàng năm, mức triều cao và mạnh [19], [30]

1.3.5 Đặc điểm đất đai

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Vĩnh Châu là 47.339,48ha, chiếm 14,3% diện tích toàn tỉnh Đất do phù sa sông, biển bồi đắp nên độ phì nhiêu cao, mang tính chất mặn phèn, pH = 4,5 - 6 Phân theo tính chất đất, đất đai Vĩnh Châu

có thể chia làm 5 loại như sau:

- Đất cát trung tính: diện tích 3.548ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên, loại đất này nằm ven biển chủ yếu dùng để trồng màu Đất có thành phần cơ giới là cát, độ mùn cao, hàm lượng Clor 0,3%, Sunfat 0,6%, pH = 4,5 - 6; thích hợp để trồng lúa, màu và cây ăn trái

- Đất mặn nhiều: diện tích 8.100 ha, chiếm 18,7% diện tích tự nhiên, phân bố

ở địa hình trung bình của xã Lai Hòa, Vĩnh Châu, Vĩnh Hải Thời gian ngập nước không quá 6 tháng, có tầng canh tác 20 - 30 cm Thành phần cơ giới thịt nhẹ pha cát, độ mặn cao nhưng độ phèn thấp, pH = 4 - 6,5, đất thích hợp trồng một vụ lúa và

một vụ màu

- Đất ngập mặn ven biển: diện tích 5.915 ha, chiếm 12,3% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng địa hình trũng ven biển thuộc xã Vĩnh Tân, Vĩnh Phước, thị trấn Vĩnh Châu, Vĩnh Hải Đất ngập nước biển quanh năm, thành phần cơ giới thịt nặng,

có một ít thành phần cát, hàm lượng Clor 0,3%, pH = 4,5 - 6; là loại đất thích hợp cho trồng rừng đước, mấm, làm muối và nuôi trồng thủy sản

- Đất mặn chua ít: diện tích 12.338 ha, chiếm 26,5% diện tích tự nhiên, phân

bố ở các xã Lai Hòa, Hòa Đông, Khánh Hòa, Vĩnh Hiệp Thời gian ngập nước từ tháng 4 - 6, tầng canh tác 25 - 36 cm Thành phần cơ giới sét 60%, thịt 35%, cát 5%, hàm lượng Clor 0,3%, Sunfat 0,6%, pH = 4,5 - 6; thích hợp trồng lúa và nuôi thủy

sản

Trang 27

- Đất mặn chua nhiều: diện tích 16.465 ha, chiếm 34,8% diện tích tự nhiên, phân bố hầu hết các xã trong huyện nhưng tập trung nhiều là xã Vĩnh Hiệp, Khánh Hòa, Vĩnh Phước Thành phần cơ giới sét 60%, thích hợp trồng lúa và nuôi thủy

vật, phổ biến nhất là Đước đôi, Mấm trắng, Bần chua, Dừa nước, Chà là [30]

Các loài kể trên tạo thành quần thể tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái ven biển, bảo vệ nguồn gen động thực vật quí hiếm vùng đất ngập nước ven biển cũng có một vai trò kinh tế nhất định Song

do việc bảo vệ rừng kém hiệu quả nên tài nguyên rừng có xu thế giảm sút cả về số lượng và chất lượng

Thực hiện dự án bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển Nam

Việt Nam, Từ năm 2000 trở lại đây công tác bảo vệ, cải tạo chăm sóc và trồng rừng

đã có bước phát triển khá Năm 2010 diện tích rừng của Vĩnh Châu là 3.600 ha (trong đó rừng phòng hộ ven biển là 3000 ha), trồng mới cây phân tán được 100.000 cây [30]

1.3.6.2 Tài nguyên động vật

Khu vực huyện Vĩnh Châu rất phong phú thành phần giống loài tôm, cá với khoảng 35 loài tôm, cá có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là Tôm thẻ, Tôm sú, Tôm đất, Tép bạc, Tôm gai, Cua biển, …

Vùng ven bi ển là môi trường thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, nhất là các

loài tôm nguyên liệu chế biến xuất khẩu Diện tích thích hợp cho nuôi trồng thủy

sản là 25.000 ha, vùng nuôi nước mặn là 10.000 ha, vùng nuôi nước mặn - lợ 15.000 ha Trữ lượng ước khoảng 20.000 tấn/năm

Hải sản ngoài khơi gồm nguồn lợi cá biển trong vùng (tỉnh Sóc Trăng) khoảng 450.000 tấn (cá nổi 157.000 tấn và cá đáy 293.000 tấn) sản lượng khai thác

Trang 28

cho phép trên 100.000 tấn/năm

Động vật dưới tán RNM ven biển trước đây khá phong phú hiện nay đang sụt

giảm, động vật hoang dã chỉ còn lại các loại chim như: Cò, Diệc … và các loài rắn,

rắn biển, cá, tôm, cua, ốc, sò [30]

1.3.7 Đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội

Các xã ven biển huyện Vĩnh Châu gồm các xã: Vĩnh Hải, Lạc Hòa, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Vĩnh Tân và Lai Hòa Đây là các xã đông dân cư của huyện, với qui mô từ hơn 3000 hộ đến hơn 5100 hộ Cơ cấu dân cư với 3 dân tộc chính là dân

tộc: Kinh, Hoa, Khmer Trong đó dân tộc Khmer chiếm tỉ lệ cao từ hơn 55% đến hơn 75%, chỉ có xã Vĩnh Hải có tỉ lệ dân tộc Khmer chiếm hơn 48% Xã Vĩnh Châu có tỉ lệ dân tộc Kinh thấp nhất chỉ có 4,52%, các xã còn lại từ 17% đến 28%

Tỉ lệ dân tộc Hoa ở xã Vĩnh Tân là 6,68%, xã Lai Hòa là 5,74%, thấp hơn các xã còn lại từ 16% đến hơn 27%

Đời sống của cư dân địa phương còn rất khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn cao, xã Vĩnh Tân có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất 24,96%, xã Vĩnh Hải có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất là 6,76% So với người Kinh và Hoa, các hộ gia đình người Khmer thường nghèo hơn Tỉ

lệ mù chữ còn cao, đặc biệt chiếm nhiều ở dân tộc Khmer, chủ yếu là làm thuê, đánh

Tỷ lệ

h ộ nghèo (%)

T ỷ lệ số dân nữ theo nhóm dân tộc (%) Chưa đi

Ngu ồn: Niên giám thống kê huyện Vĩnh Châu [17]

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ (từ 20 tuổi trở lên) ở 6 xã vùng ven

biển huyện Vĩnh Châu

2.2 Th ời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 12/2010 đến tháng 12/2011

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Xác định tuyến khảo sát

- Xác định tuyến khảo sát: các tuyến khảo sát là các đường đi vào các khu RNM, đường đi khai thác ngoài bãi biển của dân hay đường đi tuần tra của kiểm lâm Mỗi tuyến khảo sát hai lần để chụp ảnh, thu mẫu có đủ hoa và quả thuận lợi cho việc xác định tên khoa học

- Sơ đồ các đường đi chính của tuyến khảo sát được thể hiện ở hình 2.1

- Khảo sát về RNM: khảo sát và đánh giá về thành phần loài TV của RNM các

xã ven biển huyện Vĩnh Châu, chụp ảnh sinh cảnh RNM Khảo sát về tình hình nuôi

trồng và khai thác thủy hải sản của người dân các xã khảo sát, bằng cách trao đổi

với những người trực tiếp khai thác, chụp ảnh khai thác thủy hải sản của người dân vùng RNM Kết quả khảo sát thực địa được tham khảo để xây dựng phiếu điều tra

và bài giảng tập huấn

2.3.2 Phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu và làm tiêu bản

Thu mẫu ngoài thực địa, xử lí và bảo quản mẫu được áp dụng theo phương pháp của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [24]

2.3.2.1 Thu m ẫu ngoài thực địa

Dùng kéo cắt cây cắt một cành dài 30 cm

Đối với cây gỗ, cây bụi: có hoa, quả

Đối với cây leo: chọn 1 đoạn thân cuốn có hoa, quả

Đỗi với cây thân cỏ: lấy cả cây có rễ và hoa Khi cây dài thì gập lại hình chữ z Đối với dương xỉ lá lớn thì lấy lá có túi bào tử

Trang 30

2.3.2.2 Phương pháp xử lý mẫu và làm tiêu bản

Mẫu thu được xử lý sơ bộ ngoài thực địa bằng cồn 60o

và các mẫu này được

bảo quản trong túi nilon kín

Sau đó mẫu được ép vào giấy báo cho phẳng Cắt tỉa bớt các lá sâu nhưng

chừa lại cuống lá và lật mặt dưới của một lá lên để khi mẫu khô có thể thấy được cả

mặt trên và mặt dưới của lá Đối với lá hay hoa của mẫu mọng nước nên ép thêm

giấy thấm để mẫu không bị dập

Đặt khoảng 10 - 15 mẫu vào cặp giá gỗ, dùng dây buộc chặt rồi đem phơi khô Lưu ý, sau vài giờ lấy mẫu ra đảo mẫu trong ra ngoài và ngược lại

Sau khi mẫu khô được tẩm độc bằng cách ngâm mẫu vào dung dịch CuSO4: 20g và cồn 700: 1.000 ml trong 10 phút Sau đó vớt mẫu ra và ép vào giấy báo rồi đem phơi nắng hay sấy lại cho khô

Mẫu sau khi sấy khô và tẩm độc được khâu bằng chỉ vào giấy bìa cứng khổ 30

x 40 cm có dán nhãn

Xác định tên khoa học của các mẫu thực vật

Dựa vào các tài liệu định loại thực vật để xác định tên khoa học của các mẫu thu được

+ Cây c ỏ Việt Nam (2003) của Phạm Hoàng Hộ

+ C ẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam (1997)

của Nguyễn Tiến Bân

+ Botany mangrove (1996) của Tomlinson

Sắp xếp các loài thực vật theo Brummit (1992)

Trang 31

Hình 2.1 Sơ đồ đường đi chính của các tuyến khảo sát

Ghi chú: chỉ đường đi chính của các tuyến khảo sát

2.3.3 Thu th ập và phân tích tài liệu

Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu là rất quan

trọng trong việc định hướng kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu Các tài

liệu được thu thập bao gồm: các tài liệu liên quan đến RNM, tài liệu về giáo dục môi trường và giáo dục cộng đồng, tài liệu về RNM huyện Vĩnh Châu, số liệu thống

kê của huyện và số liệu về phụ nữ của các xã khảo sát

2.3.4 Phương pháp tập huấn

2.3.4.1 Chu ẩn bị phiếu phỏng vấn

Gồm phiếu thông tin cá nhân (phụ lục 1), và phiếu thăm dò hiểu biết RNM (phụ lục 2)

Các câu hỏi điều tra tập trung vào những vấn đề sau:

+ Môi trường sống, sự phân bố của RNM

+ Hiểu biết về thực vật, động vật, đa dạng sinh học RNM

Trang 32

+ Vai trò của RNM, nguyên nhân làm suy thoái RNM, hậu quả và hướng giải quyết

Sử dụng phiếu thăm dò hiểu biết RNM nhằm mục đích so sánh sự thay đổi

nhận thức, thái độ đối với RNM của phụ nữ ở các xã khảo sát trước và sau khi tập

huấn

2.3.4.2 Ti ến hành phỏng vấn, điều tra và tập huấn

Đối với những phụ nữ không biết chữ sẽ sử dụng hình thức phỏng vấn trực

tiếp; những phụ nữ biết chữ sẽ điền vào phiếu điều tra (cùng nội dung với phiếu

phỏng vấn)

Tiến hành 3 đợt điều tra và tập huấn:

Đợt 1: từ 12 - 15 tháng 10 năm 2011 tại xã Vĩnh Châu và xã Vĩnh Hải

Đợt 2: từ 18 - 21 tháng 10 năm 2011 tại xã Lai Hòa và xã Vĩnh Tân

Đợt 3: từ 27 - 29 tháng 10 năm 2011 tại xã Lạc Hòa và xã Vĩnh Phước

Số phụ nữ điều tra, phỏng vấn ở các xã như sau:

ít nhất 3 ngày, thống kê để chọn ra những chị không biết chữ

Tổ chức tập huấn giáo dục cho các chị phụ nữ ở các xã đã chọn tại Nhà Cộng đồng, hoặc nhà dân

Chuẩn bị nơi trưng bày:

Các tiêu bản động vật RNM (cua, tôm, cá)

Bộ mẫu khô thực vật RNM

Trang 33

- Ảnh chụp về động, thực vật RNM

- Một số poster về RNM

- Bandrol dài 4m x 0,5m

Vào đầu buổi tập huấn, bandrol được treo trong phòng tập huấn

Các mẫu vật, tranh ảnh được trưng bày trong lúc giảng viên tập huấn

Các hoạt động trong buổi tập huấn:

- Giới thiệu mục đích buổi tập huấn

- Tiến hành làm phiếu điều tra lần 1

(Đối với các chị không biết chữ được phỏng vấn trước

buổi tập huấn)

- Xem phim rừng ngập mặn

- Giải lao, xem các mẫu, hình chụp sinh vật RNM

- Giáo dục về rừng ngập mặn theo nội dung biên soạn

- Tiến hành làm phiếu điều tra lần 2

(Đối với các chị không biết chữ sẽ do các chị Hội phụ nữ

30 phút/người

5 phút

2.3.5 Ph ương pháp xử lí số liệu

Dùng toán thống kê, sử dụng phần mềm Excel 2003 và Stagraphic Sgplus 3.0

để xử lí các số liệu điều tra

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Hi ện trạng về rừng ngập mặn của huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

3.1.1 Thành ph ần loài thực vật

Kết quả điều tra cho thấy ở vùng RNM huyện Vĩnh Châu có 60 loài cây ngập

mặn thuộc 28 họ, trong đó có 29 loài cây ngập mặn chính thức, bổ sung vào danh

lục thực vật tỉnh Sóc Trăng 5 loài cây ngập mặn chính thức: Sam biển (Sesuvium

portulacastrum), B ần ổi (Sonneratia ovata), Côi (Scyphiphora hydrophyllacea),

Mái dầm (Cryptocoryne ciliata) và Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) [27]

Bảng 3.1 Thành phần loài cây ngập mặn chính thức của huyện Vĩnh Châu

Phylum1 Polypodiophyta Ngành Dương xỉ

Fam.1 Pteridaceae H ọ Ráng

1 Acrostichum aureum L Ráng đại Ven b> 1,5 m, nước lợ - mặn ờ, đất sét, ngập triều cao

2 A speciosum Willd Ráng đại thanh Ven b> 1,5mờ đất sét, ngập triều cao , nước mặn Phylum2 Magnoliophyta Ngành Mộc lan

Class Magnoliopsida Lớp Mộc lan

Fam.2 Acanthaceae Họ Ô rô

3 Acanthus ebracteatus Vahl Ô rô (hoa trắng) Đấ2m, nước lợ t bùn sét, ngập triều 1,5 –

4 A ilicifolius L Ô rô (hoa tím) Đất bùn sét, ngập triều 1,5 –

2m, nước mặn

Fam.3 Aizoaceae H ọ Rau đắng

5 Sesuvium portulacastrum L Rau sam biển Đất cát, sét, ngập triều trên 2m, nước mặn, rất mặn

Fam.4 Avicenniaceae Họ Mấm

6 Avicennia alba Blume Mấm trắng Đất bùn mềm, ngập triều < 0,5m, nước mặn

Trang 35

(1) (2) (3) (4)

7 A marina (Forssk.) Vierh Mấm biển Đất sét - sét chặt, ngập triều > 1,5m, nước mặn - rất mặn

8 A officinalis L Mấm đen Đất sét chặt, ngập triều > 2m, nước mặn

Fam.5 Bignoniaceae Họ Đinh

10 Lumnitzera racemosa Willd Cóc trắng Đất sét, ngập triều > 2m, nước mặn

11 Lumnitzera littorea (Jack.)

Voigt

Đất sét, ngập triều 2m, nước

mặn Fam.7 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu

12 Excoecaria agallocha L Giá Đất sét chặt, ngập triều > 2m,

nước lợ - mặn

Fam.8 Meliaceae Họ Xoan

13 Xylocarpus granatum Koen Xu ổi Đất sét, ngập triều > 1m, nước lợ - mặn

Fam.9 Rhizophoraceae Họ Đước

14 Bruguiera cylindrica (L.)

Blume Vẹt trụ Đất bùn chặt, sét, ngập triều 1 - 2m, nước mặn

15 B gymnorrhiza (L.) Lamk Vẹt dù Đất bùn chặt, sét, ngập triều 1 -2m, nước mặn

16 B parviflora (Roxb.) W &

Arn ex Griff

Vẹt tách Đất bùn mềm, sét, ngập triều

1,5 - 2m, nước mặn

17 B sexangula (Lour.) Poir Vẹt đen Đất sét - sét chặt, ngập triều > 2m, nước lợ

18 Ceriops tagal (Perr.) C.B

20 Rhizophora apiculata Blume Đước đôi Đất bùn mềm, sét, ngập triều 1-2m, nước lợ - mặn

21 R mucronata Poir in Lamk Đưng, Đước bộp Đất bùn mềm, sét, ngập triều

1-2m, nước mặn

Trang 36

23 Sonneratia alba J.E Smith Bần đắng Đất bùn mềm, ngập triều < 0,5m, nước mặn - rất mặn

24 S caseolaris (L.) Engl Bần chua Đất bùn mềm, ngập triều < 0,5m, nước lợ

25 S ovata Bak Bần ổi 1 - Đất bùn mềm, sét, ngập triều 2m, nước mặn

Fam.12 Sterculiaceae Họ Trôm

26 Heritiera littoralis Dryand Cui biển Đất sét, ngập triều > 2m, nước mặn

Class Liliopsida L ớp Hành

27 Cryptocoryne ciliata Wydler Mái dầm Đất bùn mềm, ngập triều > 1,5m, nước lợ

Fam.14 Arecaceae Họ Cau

28 Nypa fruticans Wurmb Dừa nước, Dừa

Trong thành phần loài cây ngập mặn chính thức ở huyện Vĩnh Châu có 2 loài

hiếm gặp đó là Bần ổi và Cóc đỏ (loài Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) là loài cây có

tên trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007, ở cấp VU) Theo cán bộ Hạt kiểm lâm của

huyện, người dân vào RNM chặt cây Cóc đỏ Gốc cây này được cán bộ Hạt kiểm

lâm đem về trồng phục hồi

Trang 37

Hình 3.1 Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) đang được trồng phục hồi tại Hạt

ki ểm lâm huyện Vĩnh Châu 3.1.2 Các qu ần xã thực vật rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn huyện Vĩnh Châu thuộc khu vực ven biển Đông từ cửa sông

Mỹ Thanh, tiếp giáp với huyện Trần Đề (có khoảng 862ha RNM chủ yếu là Bần chua), đến ranh giới tỉnh Bạc Liêu Huyện có khoảng 526 ha rừng tự nhiên (thuộc

xã Vĩnh Hải) và 3.074ha rừng trồng ngập mặn Như vậy hệ sinh thái RNM huyện

VC chủ yếu là rừng trồng kể từ năm 1977 đến nay, theo kế hoạch trồng rừng của Chính phủ và của các tổ chức nước ngoài tài trợ RNM phân bố ở các xã Vĩnh Hải,

Lạc Hòa, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Vĩnh Tân, Lai Hòa và thị trấn Vĩnh Châu

Sự hợp thành của các họ cây quan trọng như họ Đước (Rhizophoraceae), họ

Mấm (Avicenniaceae), họ Bần (Sonneratiaceae), họ Cau (Arecaceae), họ Bàng (Combretaceae) đã hình thành nên các quần xã thực vật ở RNM Vĩnh Châu

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba): mọc tiên phong ở bãi bồi đất bùn mềm nước mặn Trong quần xã còn có Bần trắng (Sonneratia alba), Mấm biển (Avicennia

marina)

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba), Đước đôi (Rhizophora apiculata):

được hình thành ở nơi đất bùn chặt bị ngập triều vùng ven biển nước mặn Ngoài ra

còn có các loài Dà (Ceriops sp.), M ấm đen (Avicennia officinalis)…

Trang 38

Hình 3.2 Qu ần xã Mấm trắng – Đước đôi ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu

- Quần xã Sam biển (Sesuvium portulacastrum), Dệu biển (Alternanthera

sessilis), C ỏ san sát (Paspalum vaginatum): hình thành ở nơi đất cao, khô, chỉ bị

ngập khi triều cường, chúng sinh trưởng cùng với các loài như Chà là (Phoenix

paludosa), L ức (Pluchea indica)

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba), Bần chua (Sonneratia caseolaris), ở

vùng ven cửa sông, mọc hỗn giao cùng với Dừa nước (Nypa fruticans), Ôrô (Acanthus ilifolius), Cóc kèn (Derris trifolia)

Hình 3.3 Qu ần xã Bần chua - Mấm trắng

- Quần xã Đước đôi (Rhizophora apiculata): là quần xã rừng trồng có diện tích

lớn, phát triển trên vùng đất ổn định hay trong đầm tôm, ruộng muối Đây là loại

quần xã chiếm ưu thế của vùng RNM ven biển huyện Vĩnh Châu, nhất là ở những

Trang 39

nơi RNM không còn dãy liên tục, diện tích nhỏ như ở một số nơi của xã Vĩnh Hải, Vĩnh Phước và Vĩnh Tân

Hình 3.4 Qu ần xã Đước đôi

- Quần xã Giá (Excoecaria agallocha), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa), Đước đôi (Rhizophora apiculata): phân bố trên vùng đất cao, sét chặt, ít ngập triều,

ở nơi cao hơn có thể mọc xen với Tra (Threspecia populnea), Lức (Pluchea indica)

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba), Giá (Excoecaria agallocha): hình

thành ở nơi đất thấp, ngập triều, dưới tán là Ôrô (Acanthus ilifolius), ngoài ra còn có

Mấm đen (Avicennia officinalis)

Hình 3.5 Qu ần xã Mấm trắng - Giá - Ôrô

Trang 40

- Quần xã Lức (Pluchea indica), Muống biển (Ipomoea pes caprae): phân bố

nơi bãi cát khô hoặc ướt dọc bãi biển, chỉ ngập khi triều cường, có thể mọc hỗn giao cùng với Đậu cộ (Canavalia obtusifolia), Cóc kèn (Derris trifolia), Ráng đại (Acrostichum aureum)

- Quần xã Dừa nước (Nypa fruticans) : phân bố dọc theo kênh rạch nước lợ, có

khi mọc thuần loại hay hỗn giao với Bần chua (Sonneratia caseolaris), Lức (Pluchea indica), M ấm trắng (Avicennia alba), Mái dầm (Cryptocoryne ciliata)

Hình 3.6 Qu ần xã Dừa nước ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu

Trên các đầm nuôi tôm chúng tôi còn gặp rãi rác các loài Cóc trắng

(Lumnitzera racemosa), B ụp tra (Hibiscus tiliacus), Giá (Excoecaria agallocha)

3.2 M ột số đặc điểm về mẫu (phụ nữ) điều tra

Kết quả điều tra về trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập bình quân/ngày

của các chị ở các xã ven biển huyện Vĩnh Châu được trình bày ở bảng 3.2

Về thành phần dân tộc: phụ nữ là dân tộc Khmer chiếm tỉ lệ cao 77,71%, kế đến

là dân tộc Hoa với 13,3%, phụ nữ dân tộc Kinh có tỉ lệ thấp 8,96%

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. B ản đồ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 1.1. B ản đồ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (Trang 24)
Hình 2.1. Sơ đồ đường đi chính của các tuyến khảo sát - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 2.1. Sơ đồ đường đi chính của các tuyến khảo sát (Trang 31)
Hình 3.1. Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) đang được trồng phục hồi tại Hạt - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 3.1. Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) đang được trồng phục hồi tại Hạt (Trang 37)
Hình 3.6.  Qu ần xã Dừa nước ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 3.6. Qu ần xã Dừa nước ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu (Trang 40)
Hình 1. Tiêu b ản khô loài A:  Pulchea indica, B: Acanthus ebracteatus, - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 1. Tiêu b ản khô loài A: Pulchea indica, B: Acanthus ebracteatus, (Trang 106)
Hình 3. Đước đôi -  Rhizophora apiculata - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 3. Đước đôi - Rhizophora apiculata (Trang 107)
Hình 2. D ừa nước -  Nypa fruticans - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 2. D ừa nước - Nypa fruticans (Trang 107)
Hình 5. Cóc tr ắng -  Lumnitzera racemosa - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 5. Cóc tr ắng - Lumnitzera racemosa (Trang 109)
Hình 2. Bu ổi tập huấn được sự quan tâm của chính quyền địa phương - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 2. Bu ổi tập huấn được sự quan tâm của chính quyền địa phương (Trang 110)
Hình 3. Ph ụ nữ làm bài khảo sát lần hai - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 3. Ph ụ nữ làm bài khảo sát lần hai (Trang 111)
Hình 4. Gi ải lao xem album hình về ĐV, TV RNM - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 4. Gi ải lao xem album hình về ĐV, TV RNM (Trang 111)
Hình 5. Treo poster tuyên truy ền về RNM - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 5. Treo poster tuyên truy ền về RNM (Trang 112)
Hình 6. Xem phim v ề RNM - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 6. Xem phim v ề RNM (Trang 112)
Hình 7. Ph ụ nữ tham gia tập huấn - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 7. Ph ụ nữ tham gia tập huấn (Trang 113)
Hình 8. K ết thúc buổi tập huấn - giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn cho phụ nữ sống ở vùng ven biển huyện vĩnh châu   tỉnh sóc trăng
Hình 8. K ết thúc buổi tập huấn (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w