Quá trình hướng dẫn, nâng cao khả năng tự học cho các em học sinh phải được thực hiện xuyên xuốt trong quá trình học tập.. Gi ả thuyết khoa học Nếu xây dựng được hệ thống lý thuyết và b
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Xin chân thành c ảm ơn các thầy cô giáo, và các em học sinh trường THPT
Hu ỳnh Văn Nghệ, Tôn Đức Thắng thuộc tỉnh Đồng Nai; trường THPT Núi Thành,
Tr ần Quí Cáp thuộc tỉnh Quãng Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm
th ực nghiệm sư phạm
Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
để hoàn thành luận văn này
TP H ồ Chí Minh, Tháng 3 năm 2012 Tác gi ả
Tr ần Thị Minh Tình
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
M Ở ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Quan điểm hiện đại về dạy học 7
1.2.1 Hoạt động học hóa học 7
1.2.2 Hoạt động dạy hóa học 8
1.2.3 Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại 9
1.2.4 Xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay 10
1.3 Tự học 10
1.3.1 Khái niệm tự học 10
1.3.2 Các hình thức tự học 11
1.3.3 Năng lực tự học 12
1.4 Phương pháp tự học có hướng dẫn 15
1.4.1 Tự học có hướng dẫn 15
1.4.2 Vai trò của người giáo viên trong việc hướng dẫn HS tự học 17
1.5 Bài tập hóa học 18
1.5.1 Khái niệm bài tập 18
1.5.2 Phân loại bài tập hóa học 19
1.5.3 Tác dụng của bài tập hóa học 20
1.5.4 Vai trò của bài tập trong việc củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển tư duy 21
1.6 Thực trạng tự học của HS trung học phổ thông 22
1.6.1 Tổng hợp kết quả điều tra 22
1.6.2 Phân tích kết quả điều tra 23
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TÀI LIỆU HỖ TRỢ TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN
MÔN HÓA H ỌC LỚP 12 – CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN 26
Trang 52.1 Tổng quan về chương trình hóa học lớp 12 26
2.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng tài liệu tự học 27
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng 27
2.2.2 Qui trình xây dựng 28
2.3 Cấu trúc của tài liệu tự học hóa học lớp 12 29
2.3.1 Phần lý thuyết 30
2.3.2 Phần bài tập 30
2.4 Nội dung của tài liệu tự học hóa học lớp 12 32
2.4.1 Tài liệu TH chương 6: “Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm” 32
2.4.2 Tài liệu TH chương 7: “Sắt và một số kim loại quan trọng” 70
2.5 Sử dụng tài liệu tự học hóa học có hướng dẫn lớp 12 106
2.5.1.Vai trò cuả GV trong việc hướng dẫn HS sử dụng tài liệu 106
2.5.2 Tăng cường năng lực tự học cho học sinh 108
2.5.3 Nâng cao tính tích cực chủ động của học sinh 110
2.5.4 Một số cách hướng dẫn học sinh tự học trên lớp 111
2.5.5 Những lưu ý khi sử dụng tài liệu 112
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 115
3.1 Mục đích thực nghiệm 115
3.2 Đối tượng thực nghiệm 115
3.3 Tiến hành thực nghiệm 115
3.4 Kết quả thực nghiệm 118
3.4.1 Đánh giá về mặt định lượng 118
3.4.2 Đánh giá về mặt định tính 132
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các lớp tham gia điều tra thực trạng 23
Bảng 1.2 Số liệu thống kê phiếu điều tra tự học 23
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm, đối chứng 115
Bảng 3.2 Số HS đạt điểm Xi của các cặp TN và ĐC (bài 1 và 2) 118
Bảng 3.3 Tần suất của các cặp TN và ĐC (bài 1 và 2) 119
Bảng 3.4 Tần suất luỹ tích của các cặp TN và ĐC (bài 1 và 2) 120
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng ở các cặp TN và ĐC (bài 1 và 2) 120
Bảng 3.6 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém (bài 1 và 2) 121
Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích của nhóm TN và ĐC (tổng hợp 2 bài) 124
Bảng 3.8 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém nhóm TN và ĐC (tổng hợp 2 bài) 125
Bảng 3.9 Tổng hợp các tham số đặc trưng của các nhóm TN và ĐC (bài 3) 125
Bảng 3.10 Số HS đạt điểm Xi của các cặp TN và ĐC (bài 3) 126
Bảng 3.11 Tần suất của các cặp TN và ĐC (bài 3) 127
Bảng 3.12 Tần suất luỹ tích của các cặp TN và ĐC (bài 3) 127
Bảng 3.13 Tổng hợp các tham số đặc trưng ở các cặp TN và ĐC (bài 3) 127
Bảng 3.14 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém ở từng cặp TN và ĐC (bài 3) 128
Bảng 3.15 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích của nhóm TN và ĐC (bài 3) 130
Bảng 3.16 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém các nhóm TN và ĐC (bài 3) 130
Trang 8Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của nhóm TN và ĐC (bài 3) 131
Bảng 3.18 Kết quả đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn 133
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Trang Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích BKT số 1 nhóm TN1 và ĐC1 121
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích BKT số 2 nhóm TN1 và ĐC1 121
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích BKT số 1 nhóm TN2 và ĐC2 122
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích BKT số 2 nhóm TN2 và ĐC2 122
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích BKT số 1 nhóm TN3 và ĐC3 122
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích BKT số 2 nhóm TN3 và ĐC3 123
Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích BKT số 1 nhóm TN4 và ĐC4 123
Hình 3.8 Đồ thị đường lũy tích BKT số 2 nhóm TN4 và ĐC4 123
Hình 3.9 Đồ thị đường lũy tích BKT số 1 nhóm TN5 và ĐC5 124
Hình 3.10 Đồ thị đường lũy tích BKT số 2 nhóm TN5 và ĐC5 124
Hình 3.11 Đồ thị tổng hợp đường lũy tích của các nhóm TN và ĐC (bài 1 và 2) 125
Hình 3.12 Biểu đồ tổng hợp phân loại HS của các nhóm TN và ĐC (bài 1 và 2) 125
Hình 3.13 Đồ thị đường lũy tích BKT số 3 của nhóm TN1 và ĐC1 128
Hình 3.14 Đồ thị đường lũy tích BKT số 3 của nhóm TN2 và ĐC2 128
Hình 3.15 Đồ thị đường lũy tích BKT số 3 của nhóm TN3 và ĐC3 129
Hình 3.16 Đồ thị đường lũy tích BKT số 3 của nhóm TN4 và ĐC4 129
Hình 3.17 Đồ thị đường lũy tích BKT số 3 của nhóm TN5 và ĐC5 129
Hình 3.18 Đồ thị tổng hợp đường lũy tích của các nhóm TN và ĐC (bài 3) 130
Hình 3.19 Biểu đồ tổng hợp phân loại HS của các nhóm TN và ĐC (bài 3) 131
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, dân chủ hóa, đại chúng hóa… đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế
giới, tác động đến sự phát triển giáo dục của nhân loại
Trong bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn, được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là: học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau và học để làm người, (Learning to know, learning to do, learning together, learning to be), hướng tới xây dựng một “xã hội
học tập”
Trong quá trình hội nhập hiện nay, mục tiêu giáo dục nước ta cũng thay đổi
để phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực để phát triển đất nước nói riêng và nhu cầu của thế giới nói chung
Trước đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, toàn ngành giáo dục đã và đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, theo phương châm “học suốt đời”
Để làm được điều đó thì phải phát huy tối đa khả năng tự học của học sinh; từng bước rèn luyện tư duy độc lập nhằm tạo ra những lớp người mới năng động sáng tạo, đủ đức lẫn tài, đáp ứng được những yêu cầu của thời đại
Chỉ thị 15/1999/CT, ngày 20/4/1999 của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT cho các
trường Sư phạm đã nêu rõ: “ Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường Sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh ”
Trong suốt quá trình đổi mới, có những thành công đã đạt được nhưng cũng không ít hạn chế vẫn còn tồn tại Một thực tế hiện nay là khả năng tự học của học sinh, sinh viên Việt Nam nói chung so với thế giới vẫn còn ở mức yếu kém Ở các lớp chuyên, lớp chọn năng lực tực học tương đối tốt, nhưng đại đa số bộ phận học
Trang 10sinh còn lại thì chưa được quan tâm hướng dẫn đúng mức để hổ trợ phát triển khả năng tự học cho các em
Quá trình hướng dẫn, nâng cao khả năng tự học cho các em học sinh phải được thực hiện xuyên xuốt trong quá trình học tập Ở lớp 12, nhu cầu tự học của các
em càng cần thiết phải được nâng cao để chuẩn bị tốt nghiệp THPT và thi vào các trường đại học, cao đẳng
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thiết kế tài
liệu hỗ trợ tự học có hướng dẫn môn hóa học cho học sinh lớp 12-chương trình
cơ bản” là một việc làm rất cần thiết
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu
+ Quan điểm hiện đại về dạy học
+ Phương pháp tự học có hướng dẫn về hóa học
+ Tìm hiểu thực trạng TH của học sinh THPT làm cơ sở định hướng cho đề tài
- Xây dựng hệ thống lý thuyết và bài tập tự học có hướng dẫn nhằm củng cố
lý thuyết và nâng cao năng lực tư duy cho học sinh lớp 12 ở các chương:
Chương 6 Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm
Chương 7 Sắt và một số kim loại quan trọng
+ Nguyên tắc, qui trình xây dựng bộ tài liệu
+ Xây dựng bộ tài liệu gồm hệ thống lý thuyết và bài tập TH theo trình tự:
BT có hướng dẫn – Bài tập vận dụng – BT tự KT-ĐG
- Thử nghiệm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của việc sử dụng tài liệu
tự học cho học sinh 12, chương trình cơ bản thông qua thực nghiệm sư phạm
4 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Trang 114.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Việc thiết kế và sử dụng tài liệu hỗ trợ tự học môn hóa học cho học sinh lớp
12 (chương trình cơ bản)
5 Ph ạm vi giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Kiến thức hóa học lớp 12 chương trình cơ bản: chương 6 Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm; chương 7 Sắt và một số kim loại quan trọng
- Về địa bàn: Các trường THPT không chuyên trên cả nước, tập trung ở tỉnh Đồng Nai và Quảng Nam
- Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2010 tập trung ở học
kỳ II của lớp 12
6 Gi ả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống lý thuyết và bài tập tự học nhằm củng cố
và vận dụng kiến thức, sử dụng tài liệu đó một cách hợp lý sẽ góp phần nâng
cao năng lực tự học, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liệu liên quan đến đề tài
- Sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, phương pháp mô hình hoá, phương pháp giả thuyết, khái quát hóa
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, trò chuyện với học sinh nhằm đánh giá khả năng tự học của các
em
- Điều tra thăm dò trước và sau thực nghiệm sư phạm
- Nghiên cứu kế hoạch học tập của học sinh ở các trường THPT
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo lâu năm để hoàn thiện tài liệu tự học Trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục,
Trang 12các GV về kinh nghiệm dạy và học tập
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.3 P hương pháp toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu, các kết quả điều tra và các kết quả thực nghiệm để có những nhận xét, đánh giá xác thực
8 Nh ững đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp học tập tích cực và tổ chức hình thức tự học có hướng dẫn cho học sinh phổ thông
Thiết kế tài liệu tự học, xây dựng hệ thống lý thuyết và bài tập hoá học theo hướng ôn tập củng cố kiến thức và phát triển năng lực tư duy của học sinh Sử dụng
hệ thống bài tập hoá học tự học có hướng dẫn theo chương trình chuẩn hóa học lớp
12 góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa ở trường THPT
*
* *
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lĩnh vực nghiên cứu về thiết kế tài liệu hỗ trợ tự học môn hoá học đã
có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như:
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Khánh: “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức hóa học 12 PTTH”, bảo vệ năm 1998 tại
trường ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Hoàng Hà: “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá hữu cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2003 tại trường ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Kiều Trang: “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá vô cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học
có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2004 tại trường ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)”, bảo vệ năm 2007 tại trường
ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Toàn: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh chuyên hóa học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (phần hóa học vô cơ lớp 12)”, bảo vệ năm 2009 tại trường ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Hà: “Thiết kế tài liệu tự học
có hướng dẫn theo môđun nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa học trường Trung học phổ thông” với giới hạn 2 chương đầu hoá học hữu cơ lớp
12, Bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngà: “Xây dựng và sử dụng tài liệu
tự học có hướng dẫn theo môđun phần kiến thức cơ sở hóa học chung - chương
Trang 14t rình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh”, bảo
vệ năm 2010 tại trường ĐHSP Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Nguyên “Thiết kế tài liệu tự học
có hướng dẫn theo mođun nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa học lớp 11 THPT”, bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP TP Hồ chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Cửu Phúc: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao”, bảo vệ
năm 2011 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Mai Chi: “Thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT”, bảo vệ năm 2011 tại trường
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải: “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chất lượng cao dùng để dạy học hóa học lớp 12 nâng cao trường THPT”, bảo vệ năm 2011 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thị Hiền: “Biên soạn tài liệu hướng dẫn học sinh tự học môn hóa học lớp 11 THPT”, bảo vệ năm 2011 tại trường ĐHSP TP
Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Huỳnh Phước Hiệp: “Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun nhằm hỗ trợ việc tự học cho học sinh khá – giỏi hóa học lớp 10 THPT”, bảo vệ năm 2011 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Hồng Loan: “Xây dựng bộ đề kiểm tra hỗ trợ việc dạy và tự học môn hóa học lớp 12 THPT”, bảo vệ năm 2011 tại
trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thiện Mỹ: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học lớp 11 nâng cao”, bảo vệ năm 2011 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Như vậy một số đề tài chủ yếu nghiên cứu cho đối tượng là sinh viên các
trường đại học, cao đẳng và học sinh giỏi, HS chuyên.Với đối tượng HS ở trường phổ thông không chuyên, trong đó phần hoá hữu cơ đã được nhiều luận văn nghiên
Trang 15cứu, riêng phần hóa vô cơ các nội dung nghiên cứu chủ yếu xoay quanh việc "xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm", riêng về mảng "hỗ trợ học sinh tự học" vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Do đó để góp phần hoàn thiện nội dung này chúng tôi tiếp tục nghiên cứu mở rộng phần vô cơ và tập trung vào hai chương: "Kim loại
kiềm, kiềm thổ và nhôm" và chương "Sắt và một số hợp chất quan trọng"
1.2 Quan điểm hiện đại về dạy học [28]
1.2.1 Hoạt động học hóa học
Học tập là hoạt động cấp cao của con người Hoạt động học nói chung và hoạt động học hóa học nói riêng đều chịu sự tác động của hai yếu tố: yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan đó là năng lực của bản thân, vốn tri thức đã tích lũy và động cơ học tập Yếu tố khách quan quan trọng là sự tác động của GV, của HS với nhau và các điều kiện vật chất, tinh thần từ bên ngoài Trong hai yếu tố trên, yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định Do đó, hoạt động nhận thức tích cực của HS, thực chất là hoạt động tự học Như vậy, hoạt động TH có tính
chất cá thể hoá quá trình nhận thức
1.2.1.1 Quan điểm hiện đại về học hóa học
Dựa trên quan điểm hiện đại về hoạt động học nói chung, hoạt động học hóa học nói riêng có những quan điểm sau:
Quan điểm 1: Học thực chất là tự học Chỉ có TH mới đem lại kiến thức
vững chắc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đem lại năng lực, phẩm chất mới cho người học và tạo thói quen học tập suốt đời
Quan điểm 2: Học là quá trình hoạt động tự lực sáng tạo của HS cho nên GV
phải tạo tình huống, gợi động cơ đúng đắn, lòng say mê hứng thú học tập thì HS mới tự giác tích cực phát huy hết khả năng học tập
Quan điểm 3: Học phải có sự tương tác HS – HS, HS – GV
Quan điểm 4: “Học đi đôi với hành”, tức là học phải đi kèm với việc vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, thúc đẩy lòng say mê hứng thú học tập, tạo động cơ học tập đúng đắn
Trang 16Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, do đó quan điểm về học hóa học
là luôn đòi hỏi phải có sự tương tác qua lại giữa tri thức hóa học với thực nghiệm,
từ tri thức vận dụng vào thực nghiệm và từ thực nghiệm mang lại tri thức mới
1.2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động học hóa học
Khoa học hóa học vừa là một khoa học thực nghiệm vừa là khoa học lý thuyết Do đó hoạt động học hóa học cũng có những đặc thù riêng của nó
Đối tượng hoạt động học ở đây chính là các hiện tượng hóa học, các qui luật
tự nhiên, các thực thể vật chất tồn tại xung quanh chúng ta, chúng luôn tồn tại trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng Qua hoạt động học tập HS sẽ sử dụng vốn tri thức đã có để tiếp thu và phát hiện tri thức mới được ẩn chứa trong các đối tượng Niềm vui sướng khi chiếm lĩnh tri thức tạo nguồn động lực quan trọng thúc đẩy quá trình nhận thức diễn ra liên tục và do đó tri thức không ngừng được mở rộng
Hoạt động học tập của HS là hoạt động có chủ thể, chủ thể của hoạt động học ở đây chính là các em HS Trong quá trình học tập học đòi hỏi HS phải không ngừng tiếp thu tri thức mới, thực hiện và hoàn thiện một loạt các kĩ năng quan trọng
của hóa học như: viết phương trình phản ứng, quan sát, giải thích các hiện tượng, sử dụng đúng các thao tác thí nghiệm,
Hoạt động học hóa học của HS gắn liền với thực nghiệm và thực tiễn Do đó
để hoạt động học đạt kết quả cao cần có sự tương tác thường xuyên giữa tri thức hóa học với hoạt động thực nghiệm Bên cạnh đó việc vận dụng tri thức vào thực tiễn cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành tri thức mới và tạo động lực thúc đẩy quá trình học tập Do đó GV cần thể hiện tốt vai trò định hướng hành động học tập để quá trình chiếm lĩnh tri thức của HS diễn ra hiệu quả
1.2.2 Hoạt động dạy hóa học
Quan điểm hiện đại về dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng:
Quan điểm 1: Dạy học trước hết là dạy cách học hay nói cách khác là dạy cách thức TH Việc học tập dẫn tới sự chuyển biến chính ở bên trong, cho nên HS không chỉ
ngồi nghe GV mà phải TH, chỉ có TH mới đem lại kết quả GV tổ chức hướng dẫn cho
HS tự lực hoạt động, xây dựng logic kiến thức khoa học, xây dựng tình huống có vấn
Trang 17đề hứng thú lôi cuốn HS vào giải quyết mâu thuẫn, từ đó HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Quan điểm 2: Dạy học một môn khoa học thực chất là dạy cho HS biết làm việc, tìm tòi nghiên cứu, xây dựng kiến thức, rèn luyện kĩ năng đặc thù đồng thời
biết hoạt động theo PP nhận thức của môn khoa học đó Với vai trò người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động nhận thức chiếm lĩnh kiến thức thì GV phải hiểu chính xác, khoa học kiến thức cần dạy, lựa chọn được logic dạy học thích hợp để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức giáo khoa thích hợp, phù hợp với trình độ mỗi đối tượng HS
Quan điểm 3: Tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động tự lực trên cơ sở đó
hình thành kiến thức, rèn kĩ năng, kĩ xảo, thói quen rèn luyện năng lực Tổ chức cho
HS hoạt động trong giờ học theo phương án dự định, đồng thời dự kiến những khó khăn và biện pháp giúp đỡ khi HS không tự lực vượt qua được
Quan điểm 4: Tổ chức cho HS trao đổi tương tác thầy - trò, trò - trò là điều
kiện tốt để giúp HS quan sát, phát triển năng lực tư duy và khả năng phối hợp hoạt động
1.2.3 Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại [13]
Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại thể hiện ở ba điểm cơ bản sau đây:
- Chuyển hoá vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất của khoa công nghệ và nghệ thuật Thông qua xử lí sư phạm người ta chuyển hóa những thành tựu này vào mục tiêu, ND, PP dạy học
học Sử dụng tối đa và tối ưu những hệ phương tiện kỹ thuật hiện đại đa kênh,
đa hình vào dạy học
- Từ đó, thiết kế được những hệ dạy học mới, vận hành theo nguyên lý mới,
đó là những hệ dạy học "tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn" thích hợp
Hoạt động dạy hóa học của GV là một hoạt động đòi hỏi phải có PPDH thích hợp Trong đó nổi lên hai đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất: Phải kết hợp thống nhất PP thực nghiệm – thực hành với tư duy
khái niệm, đó cũng là PP học tập có lập luận, trên cơ sở thí nghiệm trực quan
Trang 18Thứ hai: Đối tượng cơ bản của hóa học là chất được cấu tạo bởi những phân
tử vi mô với những qui luật biến đổi mang tính trừu tượng không quan sát được bằng mắt thường nhưng đây lại là những kiến thức hóa học cơ bản HS cần lĩnh hội
Do đó, trong hoạt động dạy hóa học, GV cần phải sử dụng và khai thác tối đa phương tiện kỹ thuật, các mô hình, nhằm phát huy tối đa hiệu quả dạy học
Từ những quan điểm hiện đại về hoạt động dạy – học ta thấy rằng, hoạt động học hoá học và hoạt động dạy hóa học là hai hoạt động nằm trong một thể thống nhất tương tác với nhau hình thành nên PP dạy học hóa học đặc thù
1.2.4 Xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay [7], [58]
Đổi mới PPDH là một trọng tâm của đổi mới giáo dục
Điều 28 của luật giáo dục yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Để thực hiện yêu cầu trên đây, có thể coi việc chuyển từ dạy học lấy GV làm trung tâm của quá trình dạy học sang dạy học lấy HS làm trung tâm (định hướng vào người học), phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS là quan điểm lý luận dạy học
có tính định hướng chung cho việc đổi mới PPDH Trong đó "thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức sẵn có mà là người định hướng, cho HS tự mình khám phá ra chân lý, tự mình tìm ra kiến thức" PP dạy học này coi trọng việc rèn luyện cho HS
phương pháp tự học, HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tham gia tự
đánh giá và đánh giá lẫn nhau
1.3 Tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
Theo GS – TSKH Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm
Trang 19để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử,
xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7 năm 1998 cũng bàn
về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề,
thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”
Như vậy, tự học là một hoạt động trong đó HS phải tự mình chiếm lĩnh tri thức mà không có sự tiếp xúc trực tiếp với GV, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác trực tiếp thầy trò Do đó HS phải tự lực học tập thông qua tài liệu, qua thí nghiệm, qua thực tiễn để chiếm lĩnh kiến thức
Chu trình tự học của học sinh là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Cả 3 thời được thực hiện liên tục và lặp lại đối với từng nội dung tri thức cần chiếm lĩnh
1.3.2 Các hình thức tự học [28]
Có 5 hình thức tự học
* Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lổ hỏng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch TH, không tự đánh giá được kết quả TH của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục TH
* TH trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông
Để giúp HS có thể TH ở nhà, GV cần tăng cường KT-ĐG kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
* TH qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận
Trang 20được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức TH này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
* TH qua tài liệu hướng dẫn: trong tài liệu trình bày cả ND, cách xây dựng kiến thức, cách KT kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được Song nếu chỉ dùng tài liệu TH, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
* Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định, song nếu HS vẫn sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành TH vì thiếu sự hướng dẫn về PP học
Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để khắc phục được những nhược điểm của các hình thức TH đã có này chúng tôi đề xuất một hình thức TH mới: tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là
"tự học có hướng dẫn"
1.3.3 Năng lực tự học [39]
Năng lực TH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, cần phải xác định được các năng lực và trong quá trình dạy học, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó
Các năng lực tự học cơ bản
Cần bồi dưỡng và phát triển năm năng lực tự học cơ bản sau cho HS:
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh
sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi
Trang 21người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết
Trong dạy học truyền thống, theo kiểu “bình quân - đồng loạt”, “thầy đọc – trò chép”, HS hiếm khi tự mình đưa ra những vấn đề mới mà thường lặp lại hoặc phát hiện lại vấn đề đã được GV đưa ra Kiểu học như vậy kéo dài góp phần làm thui chột khả năng tự tìm kiếm, tự phát hiện của HS, trái với quan niệm về việc học
“là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị, bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài” là “một hành trình nội tại, được cắm mốc bởi kiến thức, PP tư duy và sự thực hiện tự phê bình, để tự hiểu bản thân mình” (Jacques Delors-Learing: The Treasure Within, UNESCO, Pari 1996)
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đến với giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề
Trong dạy học quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, trong đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học
Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp,…) từ quá trình giải quyết vấn đề
Trang 22Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng
so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức
Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại
có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động
cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm
rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn
và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình
Trang 23 Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn
luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả hơn
Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của qui trình giải quyết vấn đề đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá HS phải biết được mặt mạnh, hạn chế của mình, cái đúng sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá, HS khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học
Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực TH
ở HS Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực TH, tự nghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn
HS nghiên cứu
1.4 Phương pháp tự học có hướng dẫn
1.4.1 Tự học có hướng dẫn [39]
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động TH cũng phải có mục đích, ND
và PP phù hợp Hình thức TH có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và TH là quan hệ giữa tác động bên ngoài và
hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển,
chỉ có TH của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình
thức TH có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong TH có hướng dẫn, HS
nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV
* Ngu ồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK hóa học thường chỉ trình bày
Trang 24kiến thức mà không có những chỉ dẫn về PP hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi
học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về PP làm việc để vận dụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn TH ngoài việc trình bày ND
kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, KT-ĐG kết quả
* Ngu ồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: theo qui đinh của
Bộ giáo dục đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ 2-3 tiết/
tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu để HS hoàn toàn TH thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian
tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kĩ năng TH cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen TH, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được
nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra PP chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó, thí dụ: nghiên cứu tính chất hóa học của một chất phải làm những gì ? Rèn luyện kĩ năng TH cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được
củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc
giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
Hoạt động TH của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự
lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những
mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học
của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS phải tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian TH, biết huy động các điều kiện, phương tiện
cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự KT, tự đánh giá kết quả hoạt động TH
của chính mình
Như vậy khái niệm TH ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm
Trang 25lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình
và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương
tiện học tập như tài liệu TH có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,
Hình thức tự học có hướng dẫn giúp HS tự học được dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV để tranh thủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng tự học, việc nắm vững kiến thức, rèn luyện năng lực
1.4.2 Vai trò c ủa người giáo viên trong việc hướng dẫn HS tự học [28]
Xét về bản chất quá trình dạy học ở trường THPT là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản: nội dung khoa học; hoạt động dạy và hoạt động học Ba thành tố trên luôn tương tác với nhau theo những qui luật riêng, thâm nhập vào nhau, qui định lẫn nhau để tạo nên những mối quan hệ biện chứng: Dạy-Học ; Truyền thụ-Điều khiển (trong dạy); Lĩnh hội-Tự điều khiển (trong học) Trong các mối quan hệ trên, thành tố thứ ba là nội dung khoa học
Trong TH có hướng dẫn, có sự tương tác thầy trò: uốn nắn, điều chỉnh, KT
sự tự học ở nhà của HS, hướng dẫn cho HS tiếp tục TH Sự có mặt của GV là có sự tương tác với trò để KT thu lượm thông tin ngược, bổ sung thêm những chỗ họ còn lúng túng, hướng dẫn cụ thể để nâng cao kiến thức cho họ, động viên giúp họ tự đánh giá một phần, hướng dẫn họ tự kiểm tra kết quả học tập Quá trình này phù hợp với lí thuyết vai trò của thầy là tổ chức hướng dẫn, có sự tương tác với HS Trong dạy TH có hướng dẫn, GV rèn luyện cho HS một số kĩ năng TH như:
kĩ năng tóm tắt ý chính, kĩ năng tự tra cứu tài liệu GV dành thời gian trên lớp để hướng dẫn một phần ND kiến thức như: cho HS đọc 1 đoạn ngắn, 1 đoạn dài, xây dựng dàn bài khái quát cho từng loại bài học hóa học, sau đó cho họ về TH GV cũng có thể hướng dẫn một số việc ở trên lớp mà HS không thể hoàn toàn tự làm được, ví dụ như làm một số thí nghiệm GV dành một số thời gian để HS thực hiện ngay tại lớp các kĩ năng TH, sau đó họ về nhà TH các bài khác, buổi sau đến lớp HS trao đổi thảo luận kết quả TH ở nhà Lúc đó GV đóng vai trò trọng tài
Trong TH có hướng dẫn, GV vẫn có hai chức năng "truyền thụ" và "hướng dẫn", song khác với hình thức dạy học tập trung là ở đây chức năng "hướng dẫn"
Trang 26phải được phát huy cao độ và chiếm hầu hết thời gian trên lớp, còn chức năng
"truyền thụ" thì chủ yếu được thực hiện gián tiếp thông qua chức năng "hướng dẫn" của GV thể hiện ở việc hướng dẫn HS để họ tự thực hiện có hiệu quả các hoạt động
TH Như vậy ở TH có hướng dẫn, người học thực sự đóng vai trò chủ thể của quá trình nhận thức tích cực, song hoàn toàn không hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của
GV GV đã làm nảy sinh và bồi dưỡng hứng thú học tập, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động độc lập của HS Nói cách khác, GV đã giúp HS hình thành
và phát triển năng lực TH, đây chính là mục tiêu cốt yếu của TH có hướng dẫn
Thảo luận nhóm là một hoạt động TH có hiệu quả Trong hoạt động thảo luận nhóm (hay thực hành thí nghiệm), nhiệm vụ học tập đã được HS nghiên cứu, chuẩn bị và được đưa ra thảo luận trong tập thể tổ, nhóm Tại đây, HS có dịp bộc lộ các mặt mạnh, yếu trong nhận thức bài học thông qua trình bày quan điểm của mình
Trong suốt quá trình tiến hành thảo luận nhóm, GV luôn đóng vai trò là trọng tài, là người cố vấn, dẫn dắt và cũng có khi cùng tranh luận với HS để tăng thêm hứng thú cho họ GV là người kết luận, chốt lại, khẳng định vấn đề đã thảo luận Nếu không có những sự định hướng, hướng dẫn về PP tự học hợp lí và sự bổ sung, khuyến khích, đánh giá, động viên kịp thời từ GV thì HS sẽ rất khó đạt được kết quả cao trong TH, nhất là những HS lớn tuổi trình độ học vấn chưa cao và mới
TH
1.5 Bài tập hóa học
1.5.1 Khái niệm bài tập
Theo Từ điển Tiếng Việt “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng
những điều đã học”
Nhiều nhà lý luận dạy học đã xếp BTHH vào "Nhóm phương pháp dạy học - công tác tự lực của HS" Giải BTHH là lúc HS hoạt động tự lực để cũng cố và trao dồi kiến thức hóa học của mình BTHH không chỉ cung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi phát hiện của việc tìm ra đáp số Đặc biệt BTHH còn mang lại cho người học
Trang 27một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức Đây là yếu tố tâm lí quan trọng của quá trình nhận thức đáng được chúng ta quan tâm Do vậy BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm
1.5.2 Phân l oại bài tập hóa học [7], [9]
Có nhiều cách phân loại BTHH dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Cụ thể:
Dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Bài tập định tính
- Bài tập định lượng
Dựa vào hoạt động của học sinh khi giải bài tập
- Bài tập lý thuyết (không tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
Dựa vào nội dung hóa học của bài tập
* Bài tập hóa đại cương
* Bài tập hóa vô cơ
* Bài tập hóa hữu cơ
Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập
* Bài tập cân bằng phương trình phản ứng
* Bài tập viết chuỗi phản ứng
Dựa vào phương pháp giải bài tập
* Bài tập tính theo công thức và phương trình
Trang 28* Bài tập biện luận
* Bài tập dùng các giá trị trung bình…
Dựa vào mục đích sử dụng
* Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
* Bài tập dùng củng cố kiến thức
* Bài tập dùng ôn luyện, tổng kết
* Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi
* Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu
Dựa vào phương pháp hình thành kỹ năng giải bài tập
1.5.3 Tác dụng của bài tập hóa học [13]
Bài tập đóng vai trò hết sức quan trọng dạy học phổ thông Sử dụng bài tập
là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học BTHH có
những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt
Tác dụng trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm, định luật đã học, củng cố, đào sâu và mở
rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được
kiến thức vào việc giải bài tập, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, HS sẽ không tập trung nếu chỉ yêu cầu nhắc lại kiến thức
- Thúc đẩy thường xuyên sự vận dụng các kỹ năng kỹ xảo cần thiết về hóa học như cân bằng PTHH, tính toán theo công thức hoá học và PTHH … Nếu là bài
Trang 29tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật
tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy
- Tạo điều kiện để HS phát triển tư duy Vì khi giải những BTHH, HS phải
sử dụng thường xuyên các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, diễn dịch…
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động
sản xuất và bảo vệ môi trường
dụng hướng nghiệp mà không làm nặng chương trình chính khóa
Ngoài các tác dụng trên, BTHH còn được dùng để kiểm tra, đánh giá năng lực của HS
Tuy nhiên, bản thân BTHH chưa thể phát huy được tác dụng tích cực của chúng mà phụ thuộc chủ yếu vào người sử dụng chúng Để phát huy tác dụng của BTHH, ngoài việc chọn lựa kỹ càng, vận dụng đúng chổ, đúng đối tượng còn phải biết cách khai thác mọi khía cạnh của bài toán, phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS khi đó BTHH mới thật sự có ý nghĩa
1.5.4 Vai trò của bài tập trong việc củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển tư duy
Phương pháp củng cố kiến thức phổ biến và hiệu quả hiện nay đó là sử dụng BTHH BTHH có thể được sử dụng dưới nhiều hình thức như: các câu hỏi nhỏ, các
Trang 30câu hỏi trắc nghiệm, một số bài tập định tính hoặc định lượng Việc sử dụng bài tập để củng cố kiến thức giúp HS khắc sâu kiến thức đồng thời tạo hứng thú kích thích HS tham gia vào hoạt động học tập sau một tiết học căng thẳng
BTHH có nhiều mức độ khác nhau, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp,
từ mức độ biết, hiểu đến vận dụng BTHH là một công cụ hiệu quả giúp HS vận dụng các kiến thức đã và đang được học vào những tình huống cụ thể Từ đó giúp
HS vừa khắc sâu kiến thức vừa mở ra những hiểu biết mới, nhất là các dạng bài tập thực tiễn liên quan đến đời sống sản xuất
Trong dạy học hóa học, việc giải BTHH là một trong những hoạt động chủ
yếu để phát triển tư duy cho HS Vì vậy GV cần phải tạo điều kiện để thông qua
hoạt động này thì năng lực tư duy được phát triển, HS sẽ có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng mới
- Tạo ra kết quả học tập mới
Để có được những kết quả trên, người GV cần ý thức được vai trò của việc
giải BTHH, không chỉ đơn thuần tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện khá hiệu
quả để rèn luyện tư duy hóa học cho HS BTHH rất phong phú đa dạng, để giải được BTHH cần phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, … từ đó giúp cho
tư duy HS được rèn luyện và phát triển
Thông qua hoạt động giải bài tập thường xuyên, HS sẽ rèn luyện được ý thức
tự giác trong học tập, nâng cao khả năng TH của bản thân, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của HS lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách toàn diện của HS
1.6 Th ực trạng tự học của HS trung học phổ thông
1.6.1 T ổng hợp kết quả điều tra
Chúng tôi đã tiến hành thực hiện điều tra 598 HS lớp 12 tại 4 trường THPT về tình hình tự học như sau:
Trang 31Bảng 1.1 Các lớp tham gia điều tra thực trạng
Đọc lại bài trên lớp, làm bài tập, chuẩn bị bài mới,
4 Khó khăn
Chưa có tài liệu và phương pháp học tập hợp lí
5 Sự cần thiết
của tài liệu
hướng dẫn TH
1.6.2 Phân tích kết quả điều tra
Các số liệu điều tra cho thấy HS lớp 12 đã xác định đúng vị trí về TH Hầu
hết các em dành thời gian tự học khoảng từ 2 đến 4 giờ Các lý do về điều kiện học
tập như thiếu tài liệu, thời gian học và PP học tập được coi là yếu tố ảnh hưởng đến
TH, đến kết quả học tập của HS Theo kết quả điều tra có 241/598 HS chiếm 40,3% cho rằng thiếu tài liệu học tập, tham khảo; 281/598 HS chiếm 47,0% cho rằng thiếu
sự hướng dẫn cụ thể cho việc học Tuy nhiên theo quan sát của chúng tôi nguyên
Trang 32nhân chính vẫn là các em chưa hình thành được cách thức TH hiệu quả, điều này có
thể do:
- HS thụ động trong học tập do PP dạy học truyền thống lâu đời ở trường phổ thông đã tạo nên cách học lệ thuộc vào thầy, không phát huy được tính tích cực của
HS nên kết quả không cao
- GV giao bài cho HS chuẩn bị nhưng chưa hướng dẫn cách học nên HS lúng túng trong việc TH kiến thức mới hoặc khi vận dụng kiến thức đã học ở các dạng bài tập mới và khó
- HS gặp khó khăn trong việc lựa chọn tài liệu tham khảo Đa số HS cho rằng
việc có tài liệu hướng dẫn HS tự học là điều cần thiết
Thực trạng trên đã nói lên tầm quan trọng của GV trong việc hướng dẫn HS
học tập nói chung và TH nói riêng Để có thể giúp HS tự học hiệu quả cần phải phát huy PPDH hiện đại lấy HS làm trung tâm, đồng thời không xem nhẹ vai trò
của GV trong việc hướng dẫn HS học tập Nội dung học tập GV giao về nhà cho
HS cần phải rõ ràng và có hướng dẫn cụ thể giúp HS có thể TH tự KT-ĐG kiến
thức đạt được từ đó xóa dần cách học thụ động nâng cao TH và đạt được hiệu quả
cao trong học tập
Kết quả điều tra trên đây là cơ sở quan trọng, định hướng cho tác giả đề xuất
việc thiết kế tài liệu hỗ trợ tự học có hướng dẫn cho học sinh lớp 12 Đây cũng là
nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 33TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày một số vấn đề về cơ sở lí luận và
th ực tiễn của đề tài đó là:
1 Cơ sở lý luận về quan niệm hiện đại trong dạy học hóa học, xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn mới đó là phát huy tối đa năng lực TH, tự nghiên cứu, tự thu nhận thông tin của HS một cách hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp
2 Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ dạy học “Tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn” là một hình thức dạy học hiện đại đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực TH của HS, nhất là HS lớp 12 Trên cơ sở làm rõ năng lực TH của HS, vai trò của GV và HS đối với tài liệu TH, từ đó đã đưa ra cơ sở lí luận để thiết kế và biên soạn tài liệu TH có hướng dẫn với ND bao gồm phần lí thuyết và bài tập
3 Vai trò của bài tập với việc củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển năng lực tư duy cho HS làm cơ sở lý luận để thiết kế nội dung tài liệu hỗ trợ HS tự học
4 Tiến hành điều tra thực trạng TH của HS lớp 12 đang học chương trình
cơ bản Kết quả điều tra cho thấy rằng HS lớp 12 rất coi trọng vai trò của TH nhưng hầu hết việc TH chưa có hiệu quả vì vậy rất cần có một tài liệu có hướng
dẫn hỗ trợ các em nâng cao khả năng TH
Những vấn đề nêu trên làm cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng tôi tiến hành thiết kế ND tài liệu TH có hướng dẫn cho HS lớp 12 sẽ trình bày trong chương sau
*
* *
Trang 34CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TÀI LIỆU HỖ TRỢ TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN MÔN HÓA HỌC LỚP 12 – CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN 2.1 Tổng quan về chương trình hóa học lớp 12 [13], [50]
Chương trình hóa học phổ thông được thiết kế theo hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc đồng tâm và nguyên tắc đường thẳng, nhưng về cơ bản chương trình được thiết kế theo nguyên tắc đồng tâm Nội dung chương trình hóa học lớp 12 được thiết kế trên cơ sở kế thừa và phát triển mở rộng kiến thức HS đã được học trước đó
Sách giáo khoa hóa học 12 gồm có 2 phần: hữu cơ và vô cơ gồm 9 chương:
1 Este - Lipit
2 Cacbohiđrat
3 Amin, aminoaxit và protein
4 Polime và vật liệu polime
5 Đại cương về kim loại
6 Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
7 Sắt và một số kim loại quan trọng
8 Phân biệt một số hợp chất vô cơ
9 Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế xã hội, môi trường
Phần hoá học vô cơ lớp 12 chủ yếu nghiên cứu về kim loại PPDH chủ yếu là
xuất phát từ những kiến thức sẵn có và hiểu biết thực tế của HS để dẫn dắt họ khám phá những hiểu biết mới về kim loại
Nội dung giáo trình hoá học kim loại lớp 12 có thể chia thành 2 phần:
- Phần thứ nhất nhằm tìm hiểu vị trí của các kim loại trong bảng tuần hoàn, tính chất vật lí và hoá học chung của kim loại, hợp kim, sự ăn mòn kim loại và điều
Trang 35Việc dạy học phần kim loại ở lớp 12 được tiến hành sau khi HS đã học các lí thuyết chủ đạo ở lớp 10 (cấu tạo nguyên tử; bảng tuần hoàn và định luật tuần hoàn; liên kết hoá học; phản ứng hoá học) Do đó PPDH quan trọng là PP suy diễn: từ vị trí của các nguyên tố kim loại trong bảng tuần hoàn suy ra cấu tạo nguyên tử; từ cấu
tạo nguyên tử của nguyên tố suy ra tính chất hoá học đặc trưng của nguyên tố; dự đoán khả năng phản ứng của nguyên tố kim loại đó với các phi kim, với nước, với dung dịch các axit, với dung dịch muối, Vai trò của thí nghiệm lúc này chủ yếu đóng vai trò kiểm chứng, xác minh cho những dự đoán tính chất dựa trên cấu tạo
của nguyên tử kim loại và của mạng tinh thể kim loại
Những kiến thức về kim loại nói chung về kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm,
sắt nói riêng được học từ lớp 9 và đến lớp 12 được nâng cao và mở rộng thêm
Nội dung, phương pháp dạy từng chương, từng bài phải đáp ứng được yêu
cầu chuẩn kiến thức và kỹ năng tương ứng Quá trình thiết kế tài liệu cũng dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và được trình bày cụ thể ở phần mục tiêu của mỗi chương
2.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng tài liệu tự học
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng
Ở nước ta hiện nay, bộ sách giáo khoa được xem là tài liệu chuẩn GV căn cứ vào nội dung trong sách giáo khoa mà sử dụng các PPDH thích hợp Do đó, khi thiết kế tài liệu hỗ trợ HS tự học chúng tôi cũng bám sát mục tiêu, nội dung sách giáo khoa trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc sau:
1) Đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp về nội dung kiến thức với đối tượng sử dụng tài liệu
Đây là nguyên tắc cơ bản trong quá trình thiết kế tài liệu Nội dung kiến thức của tài liệu được thiết kế trên cơ sở bám sát nội dung sách giáo khoa, phù hợp với đối tượng HS lớp 12, ban cơ bản
2) Đảm bảo tính logic, tính hệ thống của kiến thức
3) Đảm bảo tăng cường, phát huy vai trò chủ đạo của lí thuyết
Lý thuyết đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Trước khi xây dựng
hệ thống BT, chúng tôi tiến hành xây dựng hệ thống lý thuyết Trên nền tảng kiến
Trang 36thức vững chắc cung cấp ở phần lý thuyết HS vận dụng vào việc giải bài tập để củng cố kiến thức và phát triển năng lực tư duy
4) Đảm bảo được tính cơ bản và tính tổng hợp của các dạng bài tập
Các dạng bài tập được xây dựng đa dạng, phong phú Trong đó có những dạng bài tập cơ bản xoay quanh nội dung trọng tâm của bài học và những dạng bài tập tổng hợp yêu cầu HS phải liên hệ các kiến thức, biết tổng hợp khái quát, từ đó năng lực tư duy của HS được phát triển
5) Trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng, có hướng dẫn cụ thể, thể hiện
rõ ND kiến thức trọng tâm, gây được hứng thú cho người học
Hệ thống lý thuyết được xây dựng một cách cô đọng, tóm tắt những nội dung quan trọng nhất Sau phần kiến thức cơ bản của mỗi chương, chúng tôi hệ thống lại những nội dung quan trọng hay những nội dung HS dễ nhầm lẫn giúp các em dễ nhớ đồng thời khắc sâu được nội dung kiến thức
6) Đảm bảo được chức năng giúp học sinh củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển tư duy một cách hiệu quả
Với hệ thống lý thuyết được tóm tắt cô đọng, dễ nhớ và hệ thống BT được
thiết kế từ đơn giản đến phức tạp theo trình tự BT có hướng dẫn - BT tương tự - BT
tự KT-ĐG phát huy được chức năng củng cố kiến thức, giúp HS vận dụng kiến thức
và phát triển tư duy một cách hiệu quả
7) Đảm bảo góp phần bồi dưỡng năng lực TH, sáng tạo cho HS, nâng cao chất lượng dạy học môn hoá học
Tài liệu TH có hướng dẫn được thiết kế một cách có hệ thống Ngoài việc giúp HS tăng cường khả năng TH, tự vận dụng kiến thức, tài liệu còn giúp HS cũng
cố kiến thức một cách vững chắc, từ đó phát triển năng lực tư duy cho các em
2.2.2 Qui trình xây dựng
Qui trình xây dựng bộ tài liệu được thực hiện theo thứ tự các bước sau:
Bước 1 Tiến hành điều tra, tìm hiểu thực tế tình hình TH của HS lớp 12 làm
cơ sở định hướng cho đề tài
Trang 37Bước 2: Đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lý luận và thực
tiễn cho đề tài nghiên cứu
Bước 3: Xây dựng cấu trúc tài liệu
Bước 4: Xác định mục tiêu của mỗi chương
Mục tiêu của mỗi chương được đặt trong mục tiêu chung của chương trình hóa học lớp 12 Đó là những kiến thức trọng tâm và hệ thống các kỹ năng cơ bản phải đạt được trong từng chương Nội dung trong một chương được phân thành những nội dung cụ thể thông qua từng bài học trong chương Xác định mức độ quan trọng của từng nội dung để lựa chọn và phân bố lượng bài tập phù hợp
Bước 5: Tóm tắt lý thuyết từng chương một cách cô đọng, dễ nhớ nhất Bổ
sung những nội dung quan trọng liên quan đến nội dung kiến thức của chương
Bước 6: Tổng hợp một số dạng bài tập cơ bản của từng chương và giới thiệu
phương pháp giải thích hợp
Bước 7: Xây dựng hệ thống BT có hướng dẫn – BT vận dụng – BT tự
KT-ĐG với độ khó tăng dần, phù hợp với từng giai đoạn lĩnh hội của HS và đáp ứng được yêu cầu của đối tượng HS trung bình, khá, giỏi
Bước 8: Lược giải các bài tập để đảm bảo độ tin cậy cao Tiến hành giải chi
tiết các bài khó và phức tạp Giới thiệu cách giải hay, ngắn gọn để giúp HS dễ dàng
tự học
Bước 9: Bổ sung phần kiến thức nâng cao, dành cho những HS khá, giỏi Bước 10: Trao đổi, tham khảo ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp trong nhóm
TNSP
Bước 11: Xây dựng và biên tập tài liệu bước, đầu đưa vào sử dụng
Bước 12: Lập kế hoạch tiến hành TNSP
Bước 13: Tiến hành TNSP
Bước 14: Chỉnh sửa, hoàn thiện tài liệu
2.3 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn môn hóa học lớp 12
Tài liệu hỗ trợ TH có hướng dẫn được xây dựng theo nội dung từng chương Trước khi tiến hành xây dựng nội dung của tài liệu chúng tôi xác định cụ thể mục đích của từng chương theo chuẩn kiến thức và kỹ năng Trên cơ sở mục tiêu của
Trang 38chương chúng tôi tiến hành xây dựng tài liệu gồm hai phần chính: lý thuyết và bài tập
Tuy nhiên trong quá trình học tập, có những phần kiến thức HS dễ bị nhầm lẫn dẫn đến việc hiểu sai nội dung bài học Để khắc phục điều này, chúng tôi đã xây dựng mục “một số vấn đề cần lưu ý”
Nội dung phần bài tập được chia làm bốn mục chính:
- Phương pháp giải một số dạng bài tập thường gặp
- Bài tập có hướng dẫn
- Bài tập vận dụng
- Bài tập tự KT-ĐG
* P hương pháp giải một số dạng bài tập thường gặp
Ở phần này chúng tôi đưa ra một số dạng toán thường gặp trong chương và phương pháp giải ngắn gọn đi kèm với từng dạng tương ứng
Trang 39Trên cơ sở nền tảng kiến thức vững chắc, HS vận dụng vào việc giải bài tập
để củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển năng lực tư duy
Phần bài tập được xây dựng theo hệ thống: bài tập có hướng dẫn - bài tập vận dụng - bài tập tự kiểm tra đánh giá Hầu hết các dạng bài tập cơ bản trong chương điều được đề cập đầy đủ, có cả bài tập lý thuyết và bài toán hóa học
* Bài tập có hướng dẫn
Chúng tôi chọn lọc những dạng bài tập căn bản, khái quát được nội dung trọng tâm của chương và tiến hành giải chi tiết Thông qua các bài tập này HS có thể tham khảo các cách giải ngắn gọn hình thành được phương pháp giải bài tập điển hình cho
từng chương
* Bài tập vận dụng
Thông qua bài tập có hướng dẫn, HS đã có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể tự mình vận dụng vào việc giải các bài tập tương tự và cả những dạng bài tập mới Bài tập ở phần này cũng chứa đựng hai nội dung: lý thuyết và bài toán Ở từng bài tập, có phần gợi ý ngắn gọn đi kèm đáp số, giúp HS có thể tự giải và
tự kiểm tra kết quả, đảm bảo sự tin cậy của bài toán và gây niềm hứng thú học tập cho HS
* Bài tập tự kiểm tra đánh giá
Theo tinh thần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan để tiến hành kiểm tra đánh giá của Bộ GD-ĐT ở kỳ thi tốt nghiệp THPT và TSĐH - CĐ, chúng tôi tiến hành biên soạn bài tập để HS tự kiểm tra đánh giá kiến thức cũng dưới dạng trắc nghiệm khách quan Bài tập ở phần này được thiết kế tổng hợp có cả bài tập lý thuyết và bài toán hóa học Nội dung bài tập xoay quanh nội dung của từng bài đặt trong mối liên hệ với nội dung kiến thức ở các bài khác và chương khác Các câu hỏi trắc nghiệm được chọn lọc kỹ phân theo cấp độ: biết - hiểu - vận dụng, giúp HS
tự kiểm trá đánh giá kiến thức đạt được sau khi nắm vững hệ thông lý thuyết và có được kỹ năng, PP giải bài tập
HS cũng có thể sử dụng bài tập ở phần này để ôn luyện tham gia vào các kỳ thi tốt nghiệp THPT và TSĐH - CĐ do Bộ GD - ĐT tổ chức
Trang 40Như vậy cấu trúc của tài liệu được trình bày theo mẫu sau:
SỞ GD – ĐT TỈNH ĐỒNG NAI TRƯỜNG THPT HUỲNH VĂN NGHỆTÀI LIỆU TỰ HỌC HOÁ HỌC LỚP 12
4 Bài tập tự kiểm tra đánh giá
2.4 Nội dung của tài liệu tự học hóa học lớp 12
2.4.1 Tài liệu tự học chương 6: “Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm”
I MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
1 Ki ến thức
HS biết:
- Vị trí, cấu tạo, tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm
- Tính chất và ứng dụng của một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm
- Phương pháp điều chế và ứng dụng của kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm
HS hiểu:
- Nguyên nhân gây ra tính khử mạnh của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm