TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện với các nhiệm vụ: 1 Tìm hiểu thự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THỊ BÍCH NGA
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ BÍCH NGA
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phạm Gia Trân
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thà nh gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Để hoàn thành được luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn Thầy TS Phạm Gia Trân , người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức và phương pháp làm việc, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện
đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Phòng thương binh lao động và xã hội huyện Vĩnh Cửu, Ban giám đốc công ty Changsing, công ty sản xuất gỗ Minh Thành, công ty sản xuất ván ép Minh Hải, cùng các anh chị công nhân đang làm việc tại quý công ty đã dành thời gian quý báo tận tình giúp đỡ để tôi có thông tin làm cơ sở thực hiện nghiên cứu này
Đồng thời cũng cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Địa lý trường Đại học sư phạm đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn là chổ dựa tinh thần vững chắc, tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài vẫn còn nhiều sơ sót Kính mong quý thầy
cô góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Học viên
Nguyễn Thị Bích Nga
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Bích Nga
Là học viên cao học Khoá 19 chuyên ngành Địa Lý học của trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh niên khoá 2008-2011
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết
luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố
ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Bích Nga
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển
kinh tế xã hội ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện với các nhiệm
vụ: 1) Tìm hiểu thực trạng nguồn lao động của huyện Vĩnh Cửu và khả đáp ứng nguồn lao động cho nhu cầu phát triển kinh tế địa phương; 2) Đánh giá các chương trình nâng cao nguồn lao động đã và đang thực hiện ở huyện Vĩnh Cửu; 3) Đề xuất những đóng góp cho các chương trình hành động của chiến lược xây dựng nguồn lao động chất lượng cao cho giai đoạn 2010-2020 để thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH trên địa bàn huyện
Các dữ liệu sử dụng trong đề tài gồm dữ liệu thứ cấp từ báo cáo và số liệu thống kê do phòng thương binh lao động, phòng thống kế huyện Vĩnh Cửu cung cấp; dữ liệu sơ cấp từ điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu
Nguồn lao động ở huyện Vĩnh Cửu dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nữ chiếm số đông trong cơ cấu lao động tại địa phương, bên cạnh nguồn lao động tại chỗ thì lao động nhập cư cũng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của các công ty trên địa bàn huyện Điều này đòi hỏi lãnh đạo huyện và các chủ doanh nghiệp có chương trình, kế hoạch phù hợp để sử dụng hiệu quả nguồn lực quan trọng này trong phát triển kinh tế
Ở huyện Vĩnh Cửu có sự chuyển dịch lao động trong cơ cấu ngành kinh tế giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
Lao động làm việc tại các công ty chủ yếu là lao động tại địa phương, trong
cơ cấu lao động có sự chênh lệch về giới tính nam và nữ (lao động nữ cao hơn lao động nam) Các doanh nghiệp khi tuyển lao động đều đưa ra giới hạn độ tuổi lao động, nhóm tuổi chiếm số đông là 18- 45 tuổi Giai đoạn 2006-2010 là thời gian số lao động hoạt động trong khu vực 2 tương đối cao, thu nhập cũng tăng lên trung bình khoảng 2,4 triệu/tháng/người
Khởi điểm bắt đầu công việc của phần lớn người lao động là con số zero, nhưng khi được công ty mở khóa đào tạo họ nắm vững và thành thạo công việc rất
Trang 6nhanh (dưới 6 tuần) Sau khi bắt đầu công việc chính thức họ làm việc với thái độ nghiêm túc sẵn sàng tăng ca nếu đơn đặt hàng nhiều; đa số công nhân cho rằng công việc hiện tại không quá tải; khả năng của họ đáp ứng tốt cho việc và hiệu quả rất tốt đạt mức cao
Nhìn một cách tổng thể thì trình độ chuyên môn của công nhân còn thấp, phần lớn người lao động không có bằng cấp chuyên môn nên làm việc tay chân là chủ yếu Để giúp người lao động nâng cao trình độ chuyên môn các doanh nghiệp
đã cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho họ, nhưng chỉ một phần nhỏ- chủ yếu là nhân viên văn phòng tham gia học thêm sau giờ làm việc để bổ sung trình độ chuyên môn, còn phần đông công nhân vì nhiều lí do không tham gia bất kì khóa học nào
Để nguồn lao động huyện Vĩnh Cửu trở thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và sự nghiệp CNH- HĐH, tác giả đưa ra những nhóm giải pháp chính là: tăng cường mạng lưới dạy nghề, đẩy mạnh hệ thống chăm sóc sức khỏe
cho người lao động trong doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, có chế độ đãi ngộ, khen thưởng phù hợp hơn và người lao động cần phát huy hơn nữa tinh thần trách nhiệm của mình trong công việc
Trang 7ABSTRACT
The thesis “Solutions to the Enhancement of Labor Quality for economic Development in Vinh Cuu District, Dong Nai Provinve” owes itself to the following missions: 1 Finding out the labor reality in Vinh Cuu district and the ability to respond to the labor demands for the local economic development; 2 Evaluating programs for labor improvement being implemented in Vinh Cuu district; 3 Making proposals for action plans to produce high-quality labor during the phase 2010-2020 to promote the cause of local industrialization and modernization
Socio-The thesis adopts secondary data from reports and statistics provided by the Department of Labor and War Invalids and the Statistics Department of Vinh Cuu District, and preliminary data gathered from questionnaires and interviews
The human resource at Vinh Cuu district is abundant; however, common and female labor dominates the local labor structure In addition to the local force, immigrant labor also takes an important role in production activities at local companies This fact has required district authorities and business owners to set up appropriate programs and plans for effective utilization of this significant resource for economic development
Vinh Cuu district has seen a labor shift in the economic structure with lower proportion in agriculture, and higher proportion in industry and service
In order for the labor resource in Vinh Cuu district to be the driving force boosting economic development and industrialization and modernization, the researcher has proposed a number of main groups of solutions including: promoting educational activities, reinforcing vocational network, improving public health care, integrating training with labor demands from businesses, adopting proper perk and awarding policies and developing the labor market
Generally, the workers’ professional skills are low, most workers have
no qualifications at all As a result, they mainly engage in manual work To
Trang 8help employees improve their professionals, businesses have tried
to create favorable conditions for them, but only a small fraction, mainly office workers participate classes after work to supplement their professional level Most workers for many reasons do not join any classes yet
To help the labor force of Vinh Cuu district become a driving force for economic development and industrialization and modernization for economic development and industrialization and modernization, the author offers group solutions as follows: to strengthen vocational training network, promote medical care system for workers in the enterprises, linking training employers to the needs of businesses, treatment regimes must be more rewarding and the employees need to further develop a sense of responsibility in therir work
To help the labor force of Vinh Cuu district become a driving force for economic development and industrialization and modernization for economic development and industrialization and modernization, the author offers group solutions as follows: to strengthen vocational training network, promote medical care system for workers in the enterprises, linking training employers to the needs of businesses, treatment regimes must be more rewarding and the employees need to further develop a sense of responsibility in therir work
Trang 9DANH M ỤC BẢNG BIỂU
2.1 Dân số, lao động và cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thời kỳ
2.4 Số lao động được đào tạo chuyên môn thời kì 2005 – 2010
2.5 Phát triển công nghiệp huyện Vĩnh Cửu thời kỳ 2005- 2010
3.6 Độ tuổi lao động của người lao động phân theo loại hình công ty
3.7 Giới tính của người lao động phân theo loại hình công ty
3.8 Loại hình lao động phân theo loại hình công ty
3.9 Thời gian bắt đầu làm việc của công nhân phân theo loại hình
công ty
3.10 Thu nhập trong tháng của công nhân phân theo loại hình công ty
3.11 Ý kiến của công nhân về tăng ca phân theo loại hình công ty
3.12 Ý kiến của công nhân về thời gian nắm vững công việc phân
theo loại hình công ty
3.13 Ý kiến của công nhân về quá tải công việc phân theo loại hình
công ty
3.14 Ý kiến của công nhân về khả năng đáp ứng công việc phân theo
loại hình công ty
3.15 Hiệu quả công việc phân theo loại hình công ty
3.16 Bằng cấp chuyên môn của công nhân phân theo loại hình công ty
3.17 Ý kiến của công nhân về việc công ty tạo điều kiện nâng cao tay
nghề cho người lao động phân theo loại hình công ty
Trang 103.18 Ý kiến của công nhân về việc học thêm sau giờ làm việc phân
theo loại hình công ty
3.19 Ý kiến của công nhân về chăm sóc sức khỏe phân theo loại hình
3.22 Ý kiến của công nhân về mức độ yêu thích công việc phân theo
loại hình công ty
3.23 Ý kiến của công nhân về dự dịnh chuyển đổi công việc phân
theo loại hình công ty
24 Kế hoạch đào tạo lao động theo trình độ học vấn
25 kế hoạch đào tạo lao động hàng năm
26 Nhu cầu vốn cho đào tạo nguồn lao động
27 Danh mục các công trình giáo dục đầu tư xây mới giai đạon
Trang 11DANH M ỤC BẢN ĐỒ - BIỂU ĐỒ - HỘP
Bản đồ 1: Bản đồ hành chánh tỉnh Đồng Nai
Biểu đồ,
hộp
3.1 Độ tuổi lao động của người lao động phân theo loại hình công ty 48 3.2 Giới hạn tuổi lao động phân theo loại hình công ty 51 3.3 Thời gian bắt đầu làm việc của công nhân phân theo loại hình
3.8 Ý kiến của công nhân về dự dịnh chuyển đổi công việc phân
theo loại hình công ty
74
3.4 Trình độ người lao động không đáp ứng đủ yêu cầu tuyển dụng 61
Trang 12M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 10
DANH MỤC BẢN ĐỒ - BIỂU ĐỒ - HỘP 11
MỤC LỤC 12
MỞ ĐẦU 14
1 Lý do chọn đề tài 14
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 17
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 19
4.1 Các quan điểm nghiên cứu 19
4.1.1 Quan điểm hệ thống 19
4.1.2 Quan điểm tổng hợp 19
4.1.3 Quan điểm bền vững 19
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 20
4.2.3 Phương pháp nhập và xử lý số liệu bảng hỏi 20
4.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp đánh giá 20
5 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 21
6 Giả thiết nghiên cứu 22
7 Ý nghĩa thức tiễn và ý nghĩa của khoa học của đề tài 23
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 25
1.1 Các khái niệm cơ bản 25
1.2 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển KT – XH hiện nay 29
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĨNH CỬU 34
2.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
Trang 13Chương 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NGUỒN NHÂN LỰC Ở
HUYỆN VĨNH CỬU 57
3.1 Thông tin chung 58
3.2 Đặc điểm công việc 66
3.3 Trình độ chuyên môn và nâng cao tay nghề của người lao động 73
3.4 Quyền lợi người lao động 78
3.5 Chuyển đổi công việc trong thời gian tới 83
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LAO ĐỘNG 86
4.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của huyện Vĩnh Cửu 86
4.2 Đánh giá về giải pháp phát triển nguồn nhân lực của huyện Vĩnh Cửu 91
4.3 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của công ty 92
4.4 Đánh giá về giải pháp phát triển nguồn nhân lực của công ty TNHH Changsing 95
TÓM TẮT VÀ KIẾN NGHỊ 99
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤC LỤC 108
Trang 14độ tăng trưởng nhanh chóng của nhiều nước công nghiệp mới: Hàn Quốc, Đài Loan, các nước ASEAN và Trung Quốc đều phần lớn nhờ vào nguồn nhân lực (NNL) có chất lượng cao Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chương trình mang tính chất chiến lược về đầu tư và phát triển con người của riêng mình hướng theo một nguyên tắc chung là đặt con người vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội,
sự thừa nhận vai trò quan trọng và quyết định của nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội vừa mang ý nghĩa bước ngoặt của tư duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng mới cho tất cả các nước Sự thành bại của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội ở mỗi nước đang tùy thuộc vào những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy nhân tố con người “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo
ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước “ ( trích Bộ Luật Lao Động)
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằm phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải huy động mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và từ nước ngoài), bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …) Trong các nguồn này thì nguồn nhân lực là quan trọng, quyết định các nguồn lực khác Việt Nam là một trong
Trang 15những nước có dân số đông, NNL khá dồi dào nhưng trình độ của người lao động chưa cao nên cần có một chiến lược lâu dài, với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc và kết hợp với sự hỗ trợ của các nước trên thế giới để tiến kịp trình
độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến Thực hiện tư tưởng vĩ đại của chủ tịch
Hồ Chí Minh: "Lấy sức ta mà giải phóng cho ta, phải tri thức hóa Đảng, tri thức hóa dân tộc tiếp tục tri thức hóa công nông, cả nước là một xã hội học tập, phát huy truyền thống những ngày mới giành độc lập năm 45 cả nước học chữ, cả nước diệt giặc dốt, cả nước diệt giặc đói Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học như đã nắm lấy ngọn
cờ dân tộc" Đảng đã khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc
con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.” Chính vì vậy trong các kỳ
đại hội Đảng ta luôn khẳng định “CNH-HĐH đất nước phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nòng cốt cho sự phát triển nhanh và bền vững” Không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, NNL có chất lượng cao còn có ý nghĩa trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như bất bình đẳng, đói nghèo, các vấn đề về môi trường, và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt thì nguồn nhân lực đóng vai trò ngày càng quan trọng Do vậy, phát triển NNL có chất lượng cao, có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2003), là một yếu tố then chốt nhằm phát triển kinh tế bền vững, nhất là trong điều kiện nước ta đã gia nhập WTO thì điều đó càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt và hết sức cấp thiết
Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, phát triển công nghiệp có bước đột phá, đầu tư vào địa bàn tỉnh tăng mạnh (Dự thảo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Cửu giai đoạn 2010 - 2020) Đồng Nai là một trong những tỉnh có nhiều thuận lợi
về phát triển công nghiệp, hiện toàn tỉnh có 29 khu công nghiệp (với tổng diện tích
Trang 16hơn 9.076 ha) đã được phê duyệt và đi vào hoạt động Có được những thành tựu đó
do nhận thức sâu sắc, đầy đủ yếu tố con người trong phát triển là yếu tố có tính quyết định Bởi lẽ, con người là chủ thể sáng tạo của cải vật chất và tinh thần, chủ thể của sự phát triển lịch sử Nắm bắt được yếu tố quyết định của NNL chất lượng cao đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà, ngày 21 tháng 7 năm 2005 vừa qua, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai đã nhất trí tán thành việc ban hành Nghị quyết số 51/2005/NQ-HDND7 “Về Phát triển nguồn nhân lực phục vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến 2020” có sự thay đổi căn bản và toàn diện về chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của quá trình đô thị hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế tri thức Đề án phát triển nguồn nhân lực được phê chuẩn bao gồm 6 chương trình: Chương trình đào tạo lao động kỹ thuật cao phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; Chương trình đào tạo sau Đại học; Chương trình đào tạo cán bộ nữ; Chương trình đào tạo bổ sung nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị; Chương trình đào tạo bồi dưỡng năng khiếu; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ, kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt và đào tạo phiên dịch Phát huy và sử dụng con người
và người tài đòi hỏi phải gắn liền với việc đảy mạnh đổi mới trên nhiều phương diện – về lâu dài là đổi mới toàn diện cả thể chế và xã hội
Huyện Vĩnh Cửu là một trong số mười một đơn vị hành chính của tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên và diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất tỉnh Vĩnh Cửu có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là lĩnh vực quốc phòng và bảo vệ tài nguyên rừng, môi trường nước cho hồ Trị An- nguồn nước chính cho Biên Hòa, Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu Từ một huyện chủ yếu sản xuất nông nghiệp là chính nhưng những năm gần đây, một lượng lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển đổi mục đích sử dụng, nông dân phải chuyển đổi nghề để bảo đảm cuộc sống Trước tình hình đó, Thủ tướng đã có Chỉ thị 11/2006/CT-TTG yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có định hướng quy hoạch, kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp,
chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết
Trang 17việc làm cho người lao động ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp Mặc dù, có lợi thế nằm gần thành phố Biên Hòa (một trong những đỉnh của tam giác kinh tế năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), nhưng do thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và sự phân bố lao động không đều ở các xã trong huyện, cũng như trong cơ cấu các ngành kinh tế nên Vĩnh Cửu vẫn là huyện nghèo Do vậy, việc nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động là rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Vĩnh Cửu trong tương lai, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Cửu khóa VIII đã đề ra Nghị quyết thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ trong năm 2010” với các mục tiêu quan tâm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển, khai thác những
tiềm năng, lợi thế của huyện và sự giúp đỡ của tỉnh để đảm bảo nền kinh tế phát triển với tốc độ cao theo định hướng công nghiệp, dịch vụ và nâng cao tính hiệu quả, tính bền vững trong phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản” Đó là lí do tôi
thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động phục vụ phát
triển kinh tế xã hội ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” Khi nghiên cứu đề tài sẽ
trả lời các câu hỏi như: thực trạng nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế tại huyện Vĩnh Cửu hiện nay như thế nào? Trình độ, kĩ năng tay nghề của người lao động đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ở địa phương chưa? Các giải pháp gì được thực hiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực? Kết quả nghiên cứu được sử dụnglàm tài liệu tham khảo cho sinh viên và các nhà nghiên cứu, bên cạnh đó sẽ đóng góp thông tin hữu ích cho các cơ quan chức năng trong lập chính sách, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1 Mục đích ngiên cứu đề tài
Tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực của huyện Vĩnh Cửu và khả đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển kinh tế địa phương
Đánh giá các chương trình nâng cao nguồn nhân lực đã và đang thực hiện ở huyện Vĩnh Cửu
Trang 18Đề xuất những đóng góp cho các chương trình hành động của chiến lược xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn 2010-2020 để thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH trên địa bàn huyện
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện tốt các nội dung nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung giải quyết một
số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Tổng quan có chọn lọc NNL của huyện về quy mô, chất lượng, trình độ tay nghề,…
Phân tích thực trạng NNL lấy đại diện ở ba công ty đang hoạt động ở huyện Vĩnh Cửu thông qua việc điều tra, thống kê và xử lí số liệu
Tìm hiểu những định hướng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm chiến lược xây dựng NNL chất lượng cao để thúc đẩy phát triển kinh tế ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng nguồn nhân lực tại huyện Vĩnh Cửu Trong đó, bao gồm công nhân đang tham gia sản xuất ở ba công ty TNHH Changsing, Minh Thành và Minh Hải trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu; Các chương trình nâng cao nguồn nhân lực đã và đang thực hiện ở huyện Vĩnh Cửu
3.2 P hạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về trình độ học vấn,
trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề của người lao động, các chương trình nâng cao chất lượngnguồn nhân lực
Về không gian: tiến hành nghiên cứu tại ba công ty đang hoạt động ở xã
Thạnh Phú của huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Trang 19Về thời gian: Các số liệu được sử dụng để nghiên cứu trong đề tài từ năm
khoảng 10 năm trở lại đây (2000- 2010)
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các qua n điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Địa lý học nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên, thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, giữa tự nhiên với kinh tế xã hội, giữa các yếu tố kinh tế xã hội với nhau Vì vậy khi nghiên cứu vấn
đề giải pháp nâng cao chất lượng NNL để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Vĩnh Cửu cũng được xem là một hệ thống các mối quan hệ giữa các yếu tố địa lý với nhau
4.1.2 Quan điểm tổng hợp
Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế, quyết định các nguồn lực khác Khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi luôn luôn tìm hiểu, phân tích, đánh giá, tổng hợp các nhân tố lấy đó làm
cơ sở để đưa ra các giải pháp phù hợp trong chiến lược xây dựng NNL chất lượng cao để thúc đẩy phát triển kinh tế ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
4.1.3 Quan điểm bền vững
Các cơ quan chức năng ở từng địa phương, từng quốc gia luôn quan tâm việc
đi tìm các giải pháp nâng cao chất lượng NNL để phát triển KT – XH, làm sao vừa đạt hiệu quả cao về kinh tế vừa đảm bảo sự phát triển bền vững và phải đặt trong mối quan hệ giữ gìn và bảo vệ môi trường, sinh thái, có sự kết hợp tự nhiên với xây dựng tổ chức hoạt động sản xuất trong huyện
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2 1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trang 20Dữ liệu thứ cấp: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng
các báo cáo và số liệu thống kê từ phòng thống kê của huyện như: số lượng lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế; trình độ học vấn của người lao động; những báo cáo chiến lược về nguồn nhân lực của huyện Vĩnh Cửu Ngoài ra, số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan ban ngành thuộc huyện Vĩnh Cửu, gồm
phòng thương binh – lao động – xã hội, Ban Dân tộc
Dữ liệu sơ cấp: dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra, khảo sát bằng bảng
hỏi nhằm thu thập các thông tin và cơ sở dữ liệu cần thiết để làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng nguồn lao động trình độ học vấn, kĩ năng của người lao động, công việc hiện tại và tương lai đang làm việc tại ba loại hình công ty trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phỏng vấn sâu để thu thập thông tin của các chuyên gia và lãnh đạo đại diện các công ty đang hoạt động trên địa bàn huyện (xem phụ lục)
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập và ổng hợp từ các nguồn tài liệu: tạp chí, báo cáo khoa học và các công trình nghiên cứu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
4.2.3 Phương pháp nhập và xử lý số liệu bảng hỏi
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để nhập và phương pháp thống kê mô tả
để xử lý kết quả điều tra Mục tiêu nhằm mô tả thực trạng và kiểm chứng các giả thuyết của đề tài
4.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp đánh giá
Đối với dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích, tổng hợp đánh giá và đưa ra các nhận định về hiện trạng NNL đang tham gia hoạt động ở huyện Vĩnh Cửu, các chương trình chính sách về lao động hiện nay đang thực ở huyện Vĩnh Cửu và của các công ty trên đại bàn huyện…
Trang 215 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho CNH, HĐH nói riêng, trong những năm gần đây đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu:
Vương Quốc Được (1999), “Xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đề xuất các giải pháp nâng cao nguồn nhân lực tại thành phố Đà nẵng nhằm cung cấp một nguồn nhân lực có chất lượng cao; trình độ chuyên môn, kĩ năng nghiệp vụ vững vàng cho sự nghiệp CNH – HĐH ở thành phố
Đà Nẵng
Phạm Minh Hạc (1996), “Vấn đề phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, nhả xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngày nay không thể chỉ đơn thuần một chiều hiểu theo nghĩa phát triển lực lượng lao động như lâu nay thường làm: mở thêm các trường, các cơ
sở đào tạo nghề, cải tiến nội dung dạy, đổi mới chính sách lao động tiền lương, cải tiến công tác công đoàn, phổ biến kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, vân vân… Đây chỉ là một khía cạnh nhất định của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực đối với những bộ phận nhất định người lao động trong cộng đồng dân cư của đất nước Mà phải nhìn thẳng vào thực tế xã hội nào thì nguồn nhân lực nấy
Đoàn Văn Khải (2005), “Nguồn nhân lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”, nhà xuát bản Lý luận chính trị, Hà Nội Đất nước đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có nhưng thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất những cơ hội đang đến, thậm chí có nguy cơ khó vượt qua những thách thức, kéo
dài sự tụt hậu nước ta đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế so
sánh dựa trên lao động giá rẻ và tài nguyên, môi trường chuyển sang tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người Song nước ta đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân lực, sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, năng lực quản lý hẫng hụt nhiều mặt
Trang 22Nguyễn Công Toàn (Tạp chí Triết học 5/1998), “Mấy suy nghĩ về phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Xây dựng được con người như thế nào thì sẽ hình thành một quốc gia và xã tắc như thế Con người tự giác thường là yếu tố quyết định nhất thay đổi xã hội và quốc gia nó đang sống, sự thịnh suy của một quốc gia gắn liền với những điều mang tính nguyên lý này Tất cả đều nằm trong tổng thể của cộng đồng xã hội, từng người đều phải được đào tạo, phát triển và có điều kiện để tự phát triển Phải làm tất cả mọi việc để từng người tìm được chỗ đứng và đứng đúng chỗ của mình, chịu sự sàng lọc tất yếu của cuộc sống
Ngoài ra các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản, tạp chí Quản lý kinh tế Nhưng nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên, chủ yếu là đề cập nhiều đến nguồn nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp, các tỉnh, thành phố lớn, chưa có công trình nào đề cập đến việc phát triển nguồn nhân lực làm cơ sở cho việc thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH của một huyện còn có rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất nghèo nàn, xuất phát điểm kinh
tế ở trình độ thấp như huyện Vĩnh Cửu Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này ở đây vẫn còn là vấn đề mới và ít được nghiên cứu
6 Giả thiết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở huyện Vĩnh Cửu đang cần nhu cầu về NNL – một lực lượng lao động có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế trong xu thế cạnh tranh và hội nhập Nhưng công tác đào tạo nghề nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng cho người lao động còn nhiều hạn chế, NNL phần lớn là lao động phổ thông, không có bằng cấp chuyên môn
Giả thuyết nghiên cứu 2: Chính sách đào tạo NNL và dự báo nhu cầu lao
động của các công ty hiện nay gắn với nhu cầu thực tế biến động của xã hội, với định hướng sử dụng lao động và việc làm Do vậy, đã tạo NNL cần cần thiết, ổn định và bổ sung theo từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu thực tế của công ty
Trang 23Giả thuyết nghiên cứu 3: Nhu cầu nâng cao trình độ tay nghề, mở rộng
tri thức không những chỉ là do yêu cầu của sản xuất mà còn là nhu cầu xuất phát từ chính bản thân người lao động muốn có cơ hội thăng tiến và phát triển, muốn có một vị trí xứng đáng trong xã hội, muốn nâng cao chất lượng
cuộc sống Do đó việc nâng cao chất lượng NNL điều đó tạo điều kiện tốt cho việc phát triển sản xuất
7 Ý nghĩa thức tiễn và ý nghĩa của khoa học của đề tài
7 1 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở huyện nhà hòa vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Khi hoàn thành đề tài này có thể đóng góp ý kiến với các ban ngành về những mặt còn tồn tại trong chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã và đang thực hiện Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở huyện Vĩnh Cửu, đồng thời còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khi nghiên cứu vấn đề có liên quan
7 2 Ý nghĩa khoa học
Học thuyết X được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960 (học thuyết quản trị nhân lực phương Tây), đó là kết quả của việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ Học thuyết X đưa ra giả thiết có thiên hướng tiêu cực về con người như sau: lười biếng
là bản tính của con người bình thường, họ chỉ muốn làm việc ít, họ thiếu chí tiến thủ, không dám gánh vác trách nhiệm, cam chịu để người khác lãnh đạo Từ khi sinh ra, con người đã tự coi mình là trung tâm, không quan tâm đến nhu cầu của tổ chức, bản tính con người là chống lại sự đổi mới, họ không được lanh lợi, dễ bị kẻ khác lừa đảo và những kẻ có dã tâm đánh lừa
Trang 24Từ những giả thiết về bản tính con người của học thuyết X cho thấy, con người không phải là động lực, nhân tố quyết định sự phát triển nền kinh tế của một đất nước, con người thụ động, không đổi mới để phù hợp với hoàn cảnh xã hội
Sau khi nghiên cứu, đề tài đóng góp thông tin điều chỉnh lại cho lí thuyết trên, đó là: con người là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững, nguồn nhân lực luôn có chí cầu tiến, ham học hỏi phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp hổ trợ cho công việc của mình, thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống
Ngoài ra, đề tài sẽ bổ sung các thông tin minh họa thực tiễn cũng như so sánh cho các nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam nói chung
và khu vực phía Nam nói riêng
Trang 25Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Các khái n iệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm lao động
Theo giáo trình Tổ chức lao động khoa học: Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thoả mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực: Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực
đang được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau:
Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX – 07 thì: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế
và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…”
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Như vậy, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực một cách ngắn gọn
là nguồn lực con người
Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển của xã hội Nguồn nhân lực khác với các
Trang 26nguồn lực khác ở chỗ nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố về thiên nhiên, tâm lý xã hội và kinh tế Có thể nói nguồn nhân lực là một khái niệm khá phức tạp và được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất
nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)
Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng Khi nghiên cứu nguồn nhân lực ta phải chú ý đến hai mặt đó
1.1.3 Phân loại nguồn nhân lực
Tuỳ theo từng giác độ nghiên cứu có thể phân loại nguồn nhân lực như sau:
a Căn cứ vào sự hình thành nguồn nhân lực thì nó được phân thành 3 loại:
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Nguồn nhân lực đang hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế): bao gồm những người thuộc nguồn nhân lực sẵn có trong dân số hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người cũng trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì những lý do khác nhau mà họ không tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế (ví dụ như sinh viên mới tốt nghiệp, phụ nữ sinh con, bộ đội xuấ ngũ; )
Trong đề tài tập trung nghiên cứu về nguồn nhân lực đang hoạt động
Trang 27b Căn cứ vào vai trò, vị trí của người lao động, nó được phân thành 3 loại:
Nguồn nhân lực chính: bao gồm những người lao động nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Nguồn nhân lực phụ: bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động, và lại phân thành nguồn nhân lực phụ trên tuổi (nam từ 61đến 65 tuổi, nữ từ 56 đến 60 tuổi) và nguồn nhân lực phụ dưới tuổi (tuổi từ 12 đến 14)
Nguồn nhân lực bổ sung: dựa vào 3 nguồn chính là lực lượng quân đội hết nghĩa vụ, lực lượng hợp tác lao động với nước ngoài, học sinh, sinh viên
1.1.4 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể
hiện mối quan hệ giữa các yếu tố câu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực liên quan chặt chẽ đến trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Trong phạm vi một tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trình độ phát triển của tổ chức đó Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
a Sức khoẻ và đạo đức
Sức khoẻ cần được hiểu là trạng thái thoải mái cả về thể chất, tinh thần
và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là sự phát triển bình thường của cơ thể không có bệnh tật Sức khoẻ là sự kết hợp hài hoà giữa thể chất và tinh thần Trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp tình trạng sức khoẻ nguồn nhân lực được đánh giá dựa vào các chỉ tiêu như chiều cao cân nặng, mắt, tai, mũi, họng, thần kinh tâm thần, tuổi tác, giới tính Ở tầm vĩ mô ngoài các chỉ tiêu trên người ta còn đưa ra một số chỉ tiêu khác như tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tử vong của trẻ em… Một nguồn nhân lực có chất lượng cao phải
là một nguồn nhân lực có trạng thái sức khoẻ tốt
Năng lực phẩm chất người lao động là một chỉ tiêu mang tính định tính khó có thể lượng hoá được Chỉ tiêu này được xem xét thông qua các mặt ý thức, thái độ
Trang 28người lao động đối với công việc, đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức, khả năng làm việc, ý chí tinh thần của người lao động Năng lực phẩm chất tốt biểu hiện
một nguồn nhân lực chất lượng cao
b Trình độ học vấn
Trình độ văn hoá của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trình độ văn hoá thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như:
• Số lượng người biết chữ, không biết chữ
• Số người tốt nghiệp tiểu học
• Số người tốt nghiệp trung học cơ sở
• Số người tốt nghiệp trung học phổ thông
Trình độ văn hoá là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển của doanh nghiệp
Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vân dụng một cách nhanh chóng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất kinh doanh
c Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nào đó Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định
Có nhiều chuyên môn khác nhau và trong mỗi chuyên môn đó lại có thể chia thành các chuyên môn nhỏ hơn Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng
để chỉ trình độ của những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành về công việc nhất định Trình độ kỹ thuật được hiểu thông qua các chỉ tiêu:
Trang 29• Số lao động đã qua đào tạo và lao động phổ thông
• Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng
• Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong mỗi tập thể người lao động
1.2 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển KT – XH hiện nay
Mối quan hệ giữa NNL với phát triển kinh tế thì nguồn nhân lực luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế
Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất Còn C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất, chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên" ( Power Shift-Thăng trầm quyền lực- Avill Toffer)
1.2.1 Ch ất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng tới kết quả của quá trình sản xuất lao động
Cho dù doanh nghiệp là một doanh nghiệp sản xuất hay một doanh nghiệp thương mại thì kết quả mong muốn của quá trình lao động cũng vẫn là lợi nhuận mà
nó mang lại
Đối với doanh nghiệp thương mại, dù họ kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ thì vấn đề vẫn là phải bán cho được nhiều sản phẩm và phải có lãi Một điều rất quan trọng đối với các doanh nghiệp này là phải có được chữ tín, phải có thái độ thanh lịch đáng mến và phải có tài khéo léo trong giao tiếp Đó là những yêu cầu
Trang 30phải có để đi tới kết quả tốt đẹp, và lẽ dĩ nhiên điều đó có quan hệ chặt chẽ với chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm cũng như năng suất lao động Xét về chất lượng sản phẩm, ngoài sự ảnh hưởng của máy móc thiết bị ra nó còn phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề của người lao động cũng như thái độ của họ đối với công việc Cùng với sự phát triển của sản xuất, nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng, sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều hơn và đặc biệt chất lượng ngày càng cao hơn Điều đó, chỉ có thể có được do nguồn nhân lực có trình độ cao sản xuất ra,
khi một doanh nghiệp áp dụng một dây truyền công nghệ hiện đại với máy móc thiết bị mới, nó đòi hỏi sự chuyên môn hoá cao và khả năng làm việc tận tâm của người lao động Xét về năng suất lao động có thể thấy rằng, cùng một điều kiện làm việc như nhau năng suất lao động ở nơi có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ hơn hẳn ở nơi có chất lượng nguồn nhân lực thấp hơn
Nói tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra kết quả của quá trình lao động trong mọi doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn thành công thì điều đầu tiên là phải giúp các cá nhân trong doanh nghiệp nhận thức được ý nghĩa của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng của nó đối với chính bản thân họ Từ đó, vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ xuất phát từ nhu cầu sản xuất nữa mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con người, điều đó sẽ tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất kinh doanh là việc lập ra một hệ thống chính thức gồm các vai trò nhiệm vụ mà con người có thể thực hiện, sao cho họ có thể cộng tác một cách tốt nhất với nhau để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Để việc tổ chức sản xuất tồn tại có ý nghĩa với mỗi cá nhân, nó phải có những điều kiện như: phải
Trang 31liên kết những mục tiêu xác đáng của doanh nghiệp mà nó được chỉ ra khi lập kế hoạch, phải có một ý đồ rõ ràng về những công việc hay hoạt động chủ yếu có liên quan, phải có một phạm vi có thể hiều được về sự tự quyết hay quyền hạn sao cho người thực hiện nhiệm vụ này hiểu được rằng họ có thể được làm những gì để hoàn thành công việc
Công tác tổ chức như là việc thực hiện các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, là việc giao phó cho mỗi cá nhóm cho một người quản lý với quyền hạn cần thiết để giám sát công và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết ngang và dọc trong cơ cấu của doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức cần phải được thiết kế để chỉ ra
rõ ràng rằng ai sẽ làm việc gì và ai có trách nhiệm trong kết quả nào để loại bỏ những trở ngại đối với việc thực hiện do sự lầm lỡ và không chắc chắn trong việc phân công công việc gây ra và để tạo điều kiện cho các mạng lưới ra quyết định và liên lạc phản ánh, hỗ trợ cho các mục tiêu của doanh nghiệp
Nói tóm lại, bản chất của công tác tổ chức là những người cùng làm việc phải những vai trò nhất định Mặt khác, những vai trò mà mỗi người phải thực hiện phải được xây dựng một cách có chủ đích để đảm bảo rằng những hoạt động cần thiết sẽ được thực hiện và để đảm bảo rằng các hoạt động này là phù hợp với nhau, sao cho con người có thể làm việc một cách trôi chảy, có hiệu quả và có kết quả trong các nhóm
Như vậy, nói tới tổ chức sản xuất là nói tới con người và công tác này thành công tới mức nào còn phụ thuộc phần lớn vào bản thân mỗi con người đó mà trong một tập thể nó được hiểu là chất lượng của một nguồn nhân lực
1.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ làm cho công tác quản lý lao động được dễ dàng và hiệu quả
Quản lý con người trong doanh nghiệp được gọi là quản trị nhân lực, đây là hoạt động trung tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh Quản lý lao động thường là nguyên nhân của sự thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất
Trang 32kinh doanh của doanh nghiệp Đó là các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng thúc đẩy, phát triển và duy trì một lực lượng lao động làm việc có hiệu quả
Thông thường, nói tới quản lý lao động là ta nới tới sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp lên toàn bộ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có tính tới sự tác động qua lại của các hệ thống khác, nhằm đạt mục tiêu chung của hệ thống (doanh nghiệp) đặt ra một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất trong một môi trường đầy biến động
Sự thành công của công tác đó bị ảnh hưởng nhiều bởi chất lượng nguồn nhân lực mà họ quản lý Hơn nữa, bản thân chủ thể quản lý muốn nhìn thấy trước sự thành công, ít nhất họ cũng phải tuyển chọn cho mình một đội ngũ phù hợp ngay từ đầu, sau đó là phải tính đến việc nâng cao nó lên cho theo kịp sự phát triển của thời đại Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng nguồn nhân lực có vai trò lớn đối với việc quản lý nguồn nhân lực
1.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò lớn trong việc tạo ra bầu không khí văn hoá tốt lành trong doanh nghiệp
Mỗi cơ quan tổ chức đều có bầu không khí văn hoá, nó điều khiển các thành viên của mình nên cư xử như thế nào Trong mọi tổ chức có những hệ thống hoặc khuôn mẫu của các giá trị, các biểu tượng, nghi thức, thực tiễn, tất cả đều phát triển theo thời gian Những giá trị được chia sẻ này xác định, ở một mức độ lớn, những điều mà nhân viên thấy và xác định xem họ nên đáp ứng với thế giới của họ như thế nào Khi đối phó hay trực diện với vấn đề khó khăn thì văn hoá của tổ chức sẽ giới hạn những điều mà nhân viên sẽ làm bằng cách gợi ra một phương thức đúng để tổng hợp, xác định, phân tích và giải quyết vấn đề
Mỗi quốc gia có nền văn hoá của mình và mỗi công ty cũng có bầu không khí văn hoá của công ty Nó là bầu không khí xã hội và tâm lý xí nghiệp Nó được định nghĩa như là một hệ thống các giá trị, các niềm tin và thói quen được chia xẻ trong phạm vi một tổ chức, tác động vào cấu trúc chính quy tạo ra chuẩn mực, hành
vi
Trang 33Chúng ta cần phải xây dựng một bầu không khí văn hoá của công ty vì nó ảnh hưởng đến sự hoàn thành công tác trong khắp tổ chức và hậu quả là ảnh hưởng đến sự thoả mãn của công nhân viên, cũng như ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của công ty
Bầu không khí văn hoá của công ty tiến triển và hình thành từ các tấm gương của cấp quản trị cao cấp, chủ yếu nảy mầm từ những gì họ làm chứ không phải từ những thứ họ nói Những yếu tố khác cũng tác động tạo ra văn hoá của một hãng
Ba yếu tố sau đây có một ảnh hưởng đặc biệt đến khung cảnh tâm ký của một công
ty đó là: truyền thông, động viên và phong cách lãnh đạo Các yếu tố khác như các đặc tính của tổ chức, tiến trình quản trị, cơ cấu tổ chức của công ty và phong cách quản trị cũng như giúp hình thành nên văn hoá công ty
Lẽ dĩ nhiên, một bầu văn hoá không khí tốt lành cũng không phải là cái gì khác mà chính yếu tố con người sẽ được lợi, kể cả chủ doanh nghiệp lẫn những thành viên trong doanh nghiệp Và tất cả những yếu tố tạo thành bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp và do đâu mà nó lại có được vai trò lớn lao đó? Câu trả lời không mấy khó khăn Hẳn vậy, vai trò thì đã rõ ràng rồi, còn nguyên nhân để có được vai trò đó trước hết là nhờ những tấm gương của cấp quản lí cao cấp trong doanh nghiệp, sau đó là nhờ chất lượng của nguồn nhân lực hay giá trị của các thành viên cấu thành nguồn nhân lực với những đặc điểm về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc và sinh hoạt của họ
Trang 34Chương 2: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĨNH CỬU
2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 35Nhất, phía đông giáp huyện Định Quán và Thống Nhất, phía tây giáp huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương
Huyện có 12 đơn vị hành chính gồm: thị trấn Vĩnh An và các xã Trị An, Thiện Tân, Bình Hòa, Tân Bình, Tân An, Bình Lợi, Thạnh Phú, Vĩnh Tân, Phú Lý, Mã
Đà, Hiếu Liêm
Tổng diện tích tự nhiên là 1.091,99 km2, chiếm 18,52% diện tích tự nhiên Đồng Nai Dân số đến năm 2005 là 108.476 người Trên địa bàn huyện có nhiều thành phần dân tộc sinh sống Chiếm số lượng nhiều nhất là người Việt, kế đến là người Hoa, Nùng, Chơro, Stiêng, Mạ…
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần các trung tâm đô thị lớn: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và thành phố Biên Hòa với các tuyến đường giao thông nội – thủy quan trọng, có nhiều cảnh quan đặc sắc… Vĩnh Cửu có nhiều lợi thế phát triển công nghiệp, dịch vụ du lịch, là một trong những nơi có khả năng thu hút đầu tư, có triển vọng phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đóng vai trò khá quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Lịch sử hình thành
Vĩnh Cửu nguyên là tên của một thôn (làng) thuộc xã Tam Hiệp thuộc quận Châu Thành tỉnh Biên Hoà Nơi đây, những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, có nhiều người yêu nước hoạt động cách mạng Năm
1946, trại du kích Bình Đa mở tại đây để huấn luyện cho lực lượng vũ trang Biên Hòa Lúc bấy giờ, địa bàn Vĩnh Cửu còn là rừng rậm, trở thành một trong những căn cứ của cách mạng Địch tấn công, càn quét, đốt phá làng Vĩnh Cửu lập vành đai trắng để bảo vệ cho khu vực Bình Trước (Biên Hòa)
Năm 1948, Uỷ ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ quyết định chia quận Châu Thành tỉnh Biên Hòa thành hai đơn vị gồm thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu
Trang 36Thị xã Biên Hòa gồm: xã Bình Trước có 5 khu nội ô và 8 ấp vùng ven là Tân Lân, Lân Thành, Lân Thị, Phước Lư, Vinh Thạnh, Bàu Hang, Đồng Lách, Sông Mây (từ chợ Biên Hòa lên đến Trảng Bom)
Huyện Vĩnh Cửu gồm các xã Hiệp Hòa, Tam Hiệp, Bửu Hòa, Tân Vạn, Hóa
An, Tân Hạnh, Bình Trị, Tân Hiệp, Tân Phong, Bửu Long, Tân Thành, Bình Hòa, Bình Ý, Bình Thạnh, Tân Triều, Bình Phước, Lợi Hòa, Bình Long, Thiện Tân, Đại
An, Tân Định Như vậy, địa giới của huyện Vĩnh Cửu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp khá rộng, bao gồm một số đơn vị hành chánh mà ngày nay thuộc cấp phường, xã của thành phố Biên Hòa
Trong thời kỳ chống Mỹ, tình hình chiến trường có nhiều biến động, có những thay đổi nhưng huyện Vĩnh Cửu trên cơ bản vẫn bao gồm các xã địa bàn trên Sau khi đất nước thống nhất, huyện Vĩnh Cửu được thành lập Một số thay đổi hành chánh diễn ra trong tình cảnh chung của địa phương về cắt chuyển, sát nhập Huyện Vĩnh Cửu mở rộng thêm lên hướng bắc, tiếp nhận thêm một số đơn vị hành
chánh thuộc Tân Phú trước đây
Từ sau năm 1975, huyện Vĩnh Cửu có những mốc thay đổi: huyện Vĩnh Cửu gồm 13 xã (1976 - 1985), thị xã Vĩnh An gồm 2 phường và 8 xã (1985 - 1994); huyện Vĩnh Cửu (1994 nay) theo Nghị định 109/ CP ngày 29/8/1994
Vùng rừng núi của huyện Vĩnh Cửu gắn liền với căn cứ địa kháng chiến Chiền khu Đ Trong hai cuộc kháng chiến, Chiến khu Đ là căn cứ địa cách mạng, là hậu phương quan trọng của miền Đông Nam Bộ, là địa bàn đứng chân, hoạt động, lãnh đạo của Xứ Uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, Khu uỷ miền Đông…Từ trong lòng chiến khu Đ là nơi thành lập nhiều đơn vị quân giải phóng miền Nam, là bàn đạp để lực lượng vũ trang cách mạng tấn công kẻ thù Chính quyền Sài Gòn đã từng đặt Chiến khu Đ là mục tiêu tìm diệt vì “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất” nhưng chiến khu Đ vẫn tồn tại Từ chiến khu Đ, lực lượng cách mạng đã làm nên những chiến thắng vang dội: La Ngà, Trảng Bom, Nhà Xanh, Phước Thành, Đất Cuốc, Phước Long, Long Bình… và mở những hước tấn công trong chiến dịch Hồ
Trang 37Chí Minh lịch sử tiến về Sài Gòn, giải phóng miền Nam Hiện nay, trong quy hoạch phát triển huyện Vĩnh Cửu có những bước chuyển mạnh mẽ với nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
2.1.3 Địa hình
Có hai dạng điạ hình chính
Địa hình đồi, phân bố tập trung ở khu vực phía Bắc diện tích tự nhiên 83.351ha, chiếm 77% tổng diện tích toàn huyện Cao nhất là ở khu vực phía bắc khoảng 340m, thấp dần về phía nam và tây nam, ở khu vực giữa khoảng 100 -120m, khu vực phía nam khoảng 10-50m Diện tích có độ dốc <30 chiếm 17,1%, từ 3-80
chiếm 33,8%, từ 8 – 150 chiếm 22,6%, trên150 chiếm 4,2% Dạng địa hình này
thích hợp phát triển nông lâm nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng
Địa hình đồng bằng, diện tích 5.994 ha chiếm 5,5% diện tích, nơi thấp nhất
là 1-2m Địa hình khá bằng phẳng thích hợp phát triển nông nghiệp vì nền đất hơi yếu không thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng
2.1.4 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là hệ thống sông Đồng Nai Lưu lượng trung bình 312m3/s, lưu lượng tháng cao nhất là tháng 9 là 1.083m3/s nguồn nước sông Đồng Nai hiện được tích trong hồ Trị An có diện tích trên 32.000ha, dung tích 2,542 tỷ m3 với mục đích chính là thủy điện Ngoài ra, còn có hồ Bà Hào, hồ Mo Nang
Nhìn chung nguồn nước mặt trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu khá phong phú được sử dụng vào mục đích nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Nhưng do ảnh
hưởng của địa hình nên việc sử dụng nguồn nước này vào sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế hiện nay hệ thống tưới bơm từ nguồn nước sông Đồng Nai mới tưới được khoảng 10% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện
Nước ngầm của huyện khá phong phú nhưng phân bố không đồng đều có khả năng khai thác ở độ sâu từ 10 – 15m nước mạch và 30 – 35m là nước ngầm
Trang 38Trữ lượng tĩnh đạt 788.800m3, tổng trữ lượng 1.090.000m3/ngày Chất lượng nước tốt với tổng khoáng hóa 0,007 – 0,6g/l thuộc loại nước nhạt có chứa bicarbonat-natri và có hàm lượng sắt cao Hiện đã được khai thác để sử dụng cho sinh hoạt và tưới cho khoảng 191 ha
Mưa tập trung theo mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm trên 85% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm Lượng bốc hơi trung bình 1.100 – 1.300mm/năm, mùa khô lượng bốc hơi thường chiếm 64% - 67% tổng lượng bốc hơi cả năm gây nên tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về chế độ ẩm trong mùa khô (các tháng cuối mùa)
Trang 39Chất lượng đất
Độ dốc, đất tương đối bằng phẳng (<30) chiếm 29,33%; đất ít dốc (3-80
) chiếm 41,03%, đất dốc (5 – 80) chiếm 24,81%, đất rất dốc chiếm 4,84% Vì vậy trong quá trình sử dụng cần có biện pháp chống rửa trôi và xói mòn đất
Tầng dày, đất có tầng dày rất mỏng (<30cm) chiếm 57,25%, đất tầng mỏng
(30 – 50cm) chiếm 9,53%, dất tầng dày trung bình (50 – 70cm) chiếm 7,40%, đất có tầng dày khá (70-100cm)chiếm 0,05%, đất có tầng dày rất sâu (>100cm) chiếm 25,87%
Kết hợp cả hai yếu tốt độc dốc và tầng dày thì đất có khả năng phát triển nông nghiệp chỉ chiếm 20 -25% tổng diện tích đất tự nhiên Địa bộ phận còn lại thích hợp phát triển lâm nghiệp
Độ phì, đất phù sa có độ phì cao nhất thích hợp với nhiều loại cây trồng; kế
đến là đất dỏ badan; các loại đất còn lại có độ phì thấp Đất có tầng dày dưới 30cm
có độ phì rất thấp
2.1.7 Tài nguyên khoán g sản
Kim loại quý, phát hiện được 5 mỏ và điểm khoáng sản nhưng chỉ tồn tại ở dạng sa khoáng, phân bố chủ yếu trong khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu
Nguyên vật liệu xây dựng, gồm:
Đá xây dựng tự nhiên, phổ biến là đá badan có ít anđehite ở phía tây nam của huyện, đặc biệt là phiến đá Thiện Tân, Tân An có khả năng khai thác làm vật liệu xây dựng kết hợp với làm vật liệu nhẹ Trữ lượng 99,62 triệu m3
Sét gạch ngói, nguồn sét làm gạch ngói phong phú và phân bố rộng, khu vực
có triển vọng đều nằm ở khu ruộng lúa và đất canh tác của dân: xã Thạnh Phú, Thiện Tân, Tân An, Bình Lợi Trữ lượng 17,55 triệu m3
Cát xây dựng, hiện nay cát được khai thác trong trầm tích của sông Đồng Nai tập trung từ thác Trị An đến Bình Hòa (khoảng 20km) trữ lượng 0,2 – 0,5 triệu m3
Trang 40Nếu được khai thác phù hợp với khả năng bồi lắng hàng năm thì có thể khai thác lâu dài Tuy nhiên, việc khai thác cát trên sông Đồng Nai hiện chưa được quản lí tốt đang gây sạt lở một số đoạn bờ sông
Nguyên liệu phụ xi măng, gồm Puzellan ở Vĩnh Tân trữ lượng khoảng 17 triệu tấn Nguyên liệu Laterit ngoài sử dụng làm gạch không nung, làm đường… hiện đang được sử dụng làm nguyên liệu phụ gia trong sản xuất xi măng có nhiều ở Tân An với trữ lượng khoảng 3,24 triệu m3
Đá vôi, đá vôi được lấy trong các phiến chứa vôi được dùng làm phân bón Được phát hiện ở hai xã: Tân An và Trị An trữ lượng dự tính 200.000 m3
Các loại khoáng sản khác: Kaolin, vật liệu san lấp…
2.1.8 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
Vĩnh Cửu là một trong những huyện có tài nguyên rừng phong phú nhất tỉnh Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung Diện tích 74.412ha chiếm 68,1% diện tích tự nhiên, trong đó có khoảng 62.037ha nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên
và di tích Vĩnh Cửu (toàn bộ là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng), còn lại 12.374ha đất rừng sản xuất chủ yếu là rừng tràm của các tổ chức kinh tế và của dân trồng để khai thác gỗ làm nguyên liệu giấy
Tài nguyên động thực vật đa dạng về chủng loại và nhiều về số lượng cá thể trong loài Theo kết quả điều tra của Phân viện điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, Viện sinh thái- tài nguyên sinh vật và Viện nghiên cứu NTTS II (2008 – 2009) ghi nhận:
Về thực vật, có 1.314 loài thuộc 582 chi, 153 họ và 88 bộ Xác định được 6
loài thực vật đặc hữu của Đồng Nai: Cù đèn Đồng Nai, Lát hoa Đồng Nai; Ngâu Biên Hòa; Bướm bạc Biên Hòa, hạ đệ, xú hương Biên Hòa Có 2 loài hiếm được phát triển là Vấp họ Bứa và Thông tre thuộc họ kim giao, cây dược liệu có 103 loài