1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giá trị nhân sinh của thơ thiền việt nam thời lý – trần xét từ phương diện hình tượng

153 1,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 793,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ thiền Lý - Trần với tư cách là văn học Phật giáo nhưng những sáng tác không chỉ nói đến Đạo đơn thuần mà còn ẩn chứa trong đó những quan niệm về cuộc đời của kiếp nhân sinh.. L ỊCH S

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Mai Ý Nhi

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 7

1 LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 9

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 18

6 Cấu trúc luận văn: 19

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 21

1.1 BỐI CẢNH VĂN HÓA - LỊCH SỬ THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN 21

1.1.1 Khái niệm thời đại Lý - Trần 21

1.1.2 Tình hình chính trị, xã hội thời Lý – Trần 22

1.1.3 Sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo thời Lý – Trần 24

1.1.4 Nền văn học thời Lý - Trần 26

1.2 THƠ THIỀN LÝ - TRẦN 28

1.2.1 Khái niệm “thơ thiền” 28

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản, loại biệt của thơ thiền 30

1.2.3 Khái quát về nội dung và nghệ thuật của thơ thiền Lý - Trần 32

1.3 MỘT SỐ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VÀ PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG THỜI LÝ - TRẦN 34

1.3.1 Một số triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo 34

1.3.2 Phật giáo Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần 37

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NHÂN SINH CỦA HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG THƠ THIỀN LÝ - TRẦN 41

2.1 CON NGƯỜI AN NHIÊN, TỰ TẠI VÌ HIỂU ĐƯỢC QUY LUẬT CỦA CUỘC SỐNG, NHÂN SINH 42

2.1.1 Quan niệm về nhân sinh, vũ trụ của triết lý Phật giáo Thiền tông 42

Trang 5

2.1.2 Cảm nhận sâu sắc của con người về sự tàn phai, biến ảo của cuộc đời

44

2.1.3 Thái độ an nhiên, tự tại của con người vì hiểu được quy luật cuộc sống, nhân sinh 46

2.1.4 Ý thức về sự hữu hạn của đời người, con người cần sống bằng những việc làm có ý nghĩa, tránh lãng phí cuộc đời 53

2.2 CON NGƯỜI SỐNG TRỌN VẸN VỚI THỰC TẠI 55

2.2.1 Trạng thái vô ngôn 56

2.2.2 Trạng thái “quên” 60

2.2.3 Trạng thái bừng tỉnh giác ngộ của tâm thức 63

2.3 CON NGƯỜI MANG VẺ ĐẸP TỰ THÂN 65

2.3.1 Con người với chân tâm trong sáng vô biên 65

2.3.2 Con người với trí tuệ siêu việt và khả năng tự lực, tự cường 75

2.4 CON NGƯỜI YÊU ĐỜI VÀ TÍCH CỰC NHẬP THẾ 77

2.4.1 Tư tưởng “Hòa quang đồng trần”, “Cư trần lạc đạo” 77

2.4.2 Sự thể hiện lòng yêu đời và tinh thần tích cực nhập thế 81

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NHÂN SINH CỦA HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG THƠ THIỀN LÝ - TRẦN 89

3.1 THIÊN NHIÊN CỦA CUỘC SỐNG HIỆN THỰC, BÌNH DỊ TRÊN QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC 89

3.1.1 Thiên nhiên của cuộc sống hiện thực 89

3.1.2 Thiên nhiên dân dã, bình dị 93

3.1.3 Thiên nhiên trên quê hương, đất nước 97

3.2 THIÊN NHIÊN ĐẬM ĐÀ THIỀN VỊ 98

3.2.1 Thiên nhiên xuất hiện “như nó vốn là” 99

3.2.2 Thiên nhiên quấn quýt, chan hòa 102

3.2.3 Thiên nhiên thanh nhã, u tịch 107

3.2.4 Thiên nhiên vừa hư vừa thực 113

CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ NHÂN SINH CỦA HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG THƠ THIỀN LÝ - TRẦN 119

4.1 HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN 119

Trang 6

4.2 HÌNH TƯỢNG THỜI GIAN 139 KẾT LUẬN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 LÝ DO VÀ M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.1 Bất cứ sáng tác văn học chân chính nào cũng đều gặp nhau ở mục đích cuối cùng là phục vụ đời sống con người, làm cho đời sống con người tốt đẹp hơn Thơ thiền Lý - Trần với tư cách là văn học Phật giáo nhưng những sáng tác không chỉ nói đến Đạo đơn thuần mà còn ẩn chứa trong đó những quan niệm về cuộc đời của kiếp nhân sinh Thông qua quan niệm đó của người xưa mà có thể gạn đục khơi trong cho cuộc sống mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn, nhân ái hơn Tìm hiểu giá trị nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần, người viết mong góp phần vào mục đích cao quý đó của văn học

1.2 Thời đại Lý - Trần là tên gọi chung cho sáu triều đại phong kiến Việt Nam đầu thời tự chủ (từ khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938) cho đến cuối đời Hồ, khi giặc Minh sang xâm lược nước ta năm 1418) Trong đó, có hai triều đại Lý và Trần là hào hùng và oanh liệt, rực rỡ và đẹp đẽ nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Trước và sau hai triều đại này, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bị xuống cấp một cách trầm trọng Do đâu có được một thời đại như vậy? Thiết nghĩ nguyên nhân thì có nhiều nhưng không thể bỏ qua yếu tố làm hạt nhân tư tưởng cơ bản Đó chính là “quan niệm sống” đã chi phối đến suy nghĩ và hành động của con người trong thời kì này Và có lẽ thơ ca là cách tương đối hữu hiệu nhất để những thế hệ đi trước không ngại bộc bạch những suy nghĩ, những quan niệm nhân sinh của mình một cách rõ nét Vì thế, tìm hiểu giá trị nhân sinh trong thơ thiền là một việc làm cần thiết nếu chúng ta muốn cắt nghĩa những hiện tượng lịch sử như trên

1.3 Để đến được mục đích chính của đề tài, người viết đã chọn con đường tiếp cận thông qua thế giới nghệ thuật (hình tượng) trong thơ thiền Lý - Trần mà không xét

từ phương diện khác vì như lý thuyết Lý luận văn học đã cho rằng, thể hiện hết ý

Trang 8

tưởng không gì bằng hình tượng và đối với thơ thiền, lý thuyết đó lại càng tỏ ra đúng đắn Nhất là khi không thể diễn đạt kinh nghiệm thiền bằng lời nói hay văn tự thì hình tượng nghệ thuật là phương tiện hữu hiệu chuyên chở cảm xúc thiền và thể hiện thiền ý của tác giả Mặc khác, việc áp dụng những thành tựu lý luận của thi pháp học hiện đại để khám phá văn học viết trong thời kì trung đại là một thử nghiệm khá lý thú và hứa hẹn nhiều triển vọng Thơ thiền Lý - Trần mới nghe qua tưởng chừng như là loại văn học chức năng trong nhà chùa nhưng khi tiến hành tìm hiểu nó dưới ánh sáng của lý luận thi pháp học, ta mới vỡ lẽ ra rằng thơ thiền cũng chứa đựng trong đó một thế giới nghệ thuật hài hòa, bóng bẩy như các bộ phận văn học khác

1.4 Trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, văn học cổ nói chung và thơ thiền nói riêng, học sinh không thích vì cho là khô khan, trừu tượng và khó hiểu Vả lại, việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ thiền đối với một bộ phận giáo viên không phải là một điều dễ dàng, thậm chí rất khó khai thác loại thơ này để làm sao trong thời gian ngắn ngủi tổ chức dạy cho học sinh lĩnh hội đúng nội dung bài thơ Những khó khăn

đó có lẽ xuất phát từ việc chưa nhận thức được cái cốt lõi làm nên sức sống của những bài thơ (Ở đây là bộ phận thơ thiền) Giá trị đích thực ấy không nằm ở giáo

lý khô khan, trừu tượng mà chính ở vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm, những quan niệm sống lạc quan, tích cực của con người một thời Nếu truyền tải được điều ấy, hy vọng người học sẽ cảm nhận được cái hay của mỗi bài thơ và ý thức được tác dụng

tư tưởng hữu ích của mảng thơ này đến bản thân và xã hội Về phía giáo viên cũng

có thể bù đắp được hạn chế về thời gian tiết học câu thúc khi chọn cách giảng về

“điểm”, sẽ tạo sự lan tỏa về “diện”

Trên đây là một vài lý do cơ bản để chúng tôi đến với đề tài “Giá trị nhân sinh của thơ thiền Việt Nam thời Lý - Trần xét từ phương diện hình tượng” Trước một “mỏ quặng” quý hứa hẹn nhiều tiềm năng, luận văn chúng tôi hy vọng có được một vài đóng góp nhỏ bé, nhằm khẳng định giá trị của mảng thơ để lại nhiều dấu ấn trong văn học cổ - bộ phận thơ thiền thời Lý – Trần

Trang 9

2 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Tuy chưa có một công trình chuyên biệt nào dành riêng để khảo sát, nghiên cứu vấn đề “Giá trị nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần” nhưng phương diện hình tượng vốn được coi là một biểu hiện quan trọng của thi pháp nên trong quá trình nghiên cứu các vấn đề của văn học trung đại, các tác giả đều lưu tâm xem xét, đề cập đến nó

2.1 Về hình tượng con người

Vấn đề tìm hiểu con người trong văn học cổ từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong thơ thiền Lý - Trần, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu, bài viết như sau:

- Bài viết Vấn đề con người trong văn học thời đại Lý - Trần của Đoàn Thị

Thu Vân trong quyển Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nguyễn

Hữu Sơn chủ biên, NXB Giáo dục, HN, 1998) đã phân loại bốn phương diện biểu

hiện con người cá nhân trong thơ thiền Lý - Trần là: con người tự do, con người vô ngã, con người vô ý, con người vô ngôn Tác giả kết luận bốn phương diện này đều hướng đến con người vũ trụ

- Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận: Thơ thiền Việt Nam - những vấn

đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật (NXB Đại học quốc gia, HN, 1998) đã đứng trên

tiêu chí về chức năng tôn giáo mà cho rằng, con người trong thơ thiền là con người lưỡng thể, là sự hòa nhập của con người Phật giáo và con người cá nhân

- Nguyễn Công Lý với Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý –

Trần (NXB Văn hóa thông tin, 1997) đã thông qua việc hệ thống lại những quan

niệm về con người của những nhà nghiên cứu trước, rút ra hai hướng tiếp cận nghiên cứu Một là, hướng tiếp cận những phẩm chất Phật giáo trong con người Hai là, hướng tiếp cận những phẩm chất con người cá nhân với cá tính đầy cởi mở, rung động, dạt dào niềm tin, tràn đầy sức sống Qua đó, người viết cũng đã làm nổi

rõ hình tượng thiên nhiên – đất nước, con người – cuộc sống trong văn học Thiền tông như thế nào

Trang 10

- Tác giả Lê Thị Ngọc Hạnh trong luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa nhân văn và tư

tưởng giải thoát trong thơ thiền Lý Trần (2003) đã nêu ra các cặp đối sánh như sau:

con người nhân văn - con người và Phật tính thường hữu trong tâm; con người tự do

cá nhân - con người vô ngã; con người trần tục - con người đời, đạo không hai Vậy

là xuất hiện thêm hai khái niệm: con người đời, đạo không hai và con người Phật tính thường hữu

- Tác giả Lê Thị Thanh Tâm trong bài viết Con người hành hương trong thơ

thiền Lý - Trần và Đường Tống (khoavanhoc – ngonngu.edu.vn) đã đề cập đến hình

tượng con người hành hương như một phát hiện khá mới mẻ Ở đấy là con người với hành trình lên núi cao, con người với những chuyến tiêu dao, chơi đùa, con

người với chiếc thuyền trên sông nước, con người tìm kiếm

Qua các công trình trên, các tác giả đều thống nhất với nhau một điểm rằng, con người trong văn học Phật giáo thời Lý - Trần là con người đầy bản lĩnh, con người vô ngã, con người vô ngôn, tự do, hòa nhập vũ trụ Đồng thời, đó cũng là con người hòa quang đồng trần, tùy duyên, tùy tục, biết kết hợp đạo với đời, vào đời hành đạo một cách tích cực

Các cách phân loại như vậy đều dựa trên nguyên tắc, tiêu chí riêng và giới hạn sự phân loại ấy trong một phạm vi tham chiếu nhất định Ví dụ: tiêu chí về triết học Thiền tông (vô ngã, vô ý, vô ngôn, tự do…); tiêu chí về chức năng tôn giáo (con người Phật giáo và con người cá nhân); tiêu chí về đối sánh trào lưu văn học với đặc điểm nội dung thể loại (chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng giải thoát…); tiêu chí về mỹ học Phật giáo (con người hành hương…)

2.2 Về hình tượng thiên nhiên

Một số công trình sau có đề cập:

- Luận án tiến sĩ Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế

kỉ thứ XI đến thế kỉ thứ XIV của tác giả Đoàn Thị Thu Vân (1995) đã nghiên cứu

một cách khá tổng quát về các phương diện đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền như ngôn ngữ thơ, hình tượng con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể thơ, cách miêu tả, thể hiện và giọng điệu, kết cấu…, trong đó có hình tượng

Trang 11

thiên nhiên Theo tác giả, thiên nhiên trong thơ thiền Lý - Trần được miêu tả theo hai xu hướng: mang ý nghĩa trực tiếp và mang ý nghĩa biểu tượng Thiên nhiên mang ý nghĩa trực tiếp là thiên nhiên sinh động, nên thơ, gợi cảm của con người đời thường, đồng thời cũng chứa cảm hứng thiền, tâm trạng thiền, mang ý vị thiền do được nhìn qua con mắt của thiền gia Thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng là thiên nhiên dùng để nói lên một số quan niệm của triết lý Phật giáo Thiền tông… Qua kết quả khảo sát một cách nghiêm túc, tác giả cũng đã đưa ra những luận cứ về những thi liệu được sử dụng nhiều khi miêu tả thiên nhiên như tần suất xuất hiện và tất nhiên theo đấy là dụng ý nghệ thuật của người sáng tác

- Nguyễn Công Lý trong chuyên luận Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền

t ông thời Lý - Trần (NXB Văn hóa thông tin, 1997) cũng đã dành một số trang viết

để nói lên cảm nhận của mình về thiên nhiên - đất nước trong văn học Thiền tông thời Lý - Trần Cùng một nhận định với tác giả Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Công

Lý cho rằng: “…thiên nhiên trong thơ họ được sử dụng như một phương tiện miêu

tả, một văn cảnh tượng trưng cho những thế lực siêu nhiên, trừu tượng của triết lý nhưng phần cảm xúc thường ẩn sau những nhận xét nghiêm trang về tôn giáo” [24,

102] Bên cạnh đó “…thiên nhiên còn được tác giả miêu tả dường như có vẻ gần

gụi với con người hơn, hay nói khác đi thi nhân tìm đến với tạo vật với những xúc động, rung cảm đích thực là của con người phàm trần…” [24, 107] Ngoài hai kết

luận phổ biến thường gặp ở các nhà nghiên cứu là thiên nhiên - đối tượng thẩm mỹ đích thực và thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng, bài viết trên đề cập đến một đặc điểm khác của thiên nhiên trong thơ thiền là thiên nhiên gắn liền với đất nước, cuộc sống của con người Việt Nam

- Ngoài ra, mảng “thiên nhiên mang ý nghĩa trực tiếp” mà cũng là “đối tượng thật sự để chiếm lĩnh và miêu tả” còn được khai thác sâu hơn qua một số bài viết

như: Cảm hứng thiền trong thơ thiên nhiên đời Trần của tác giả Trầm Thanh Tuấn (Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 710); Trần Nhân Tông - Cảm hứng thiền trong thơ của tác giả Phạm Ngọc Lan (Tạp chí Văn học, số 4, năm 1992); Trần Nhân Tông

giữa cảnh đời hư thực của tác giả Nguyễn Phạm Hùng (Tạp chí Nghiên cứu Phật

Trang 12

học, số 4, năm 1998)… Các bài viết trên đã chứng minh được cảm quan thiền trong cách cảm nhận thiên nhiên của các thiền gia Đó là kết luận về cảnh sắc thiên nhiên lung linh, huyền ảo, mơ hồ được tạo dựng nên bởi sự đối lập giữa thực và hư, giữa sắc và không, giữa hữu và vô…tạo cảm giác về sự hiện hữu, vô thường của vạn vật trong cái hằng thường của bản thể vô cùng

2 3 Về hình tượng không gian

- Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần - Diện

mạo và đặc điểm (NXB Đại học quốc gia, TP HCM, 2002) cũng nhiều lần nhắc đến

hình tượng không gian trong văn học Phật giáo nhưng nhìn chung cách đánh giá về không gian này vẫn mang tầm bao quát cao và chưa đi vào từng đối tượng cụ thể

- Đoàn Thị Thu Vân trong luận án Tiến sĩ Khảo sát một số đặc trưng nghệ

thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỉ XI - thế kỉ XIV (năm 1995) đã nêu lên những đặc

trưng cơ bản của không gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần Vì giới hạn cho phép của luận án, tác giả chủ yếu khai thác mảng không gian mang cảm hứng thiền chứ chưa đi sâu phân loại, đánh giá từng kiểu không gian nghệ thuật khác Tác giả kết luận không gian trong thơ thiền Lý - Trần thường là một không gian bao la, thoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ, nó biểu tượng cho cái đại ngã tuyệt đối vô biên mà con người luôn hướng tới hội nhập Không gian ấy luôn hàm chứa sự vận động vô cùng, sự đối lập giữa cái vô cùng lớn lao và cái vô cùng nhỏ bé, khi đó con người muốn đưa tâm mình hòa nhập vào vũ trụ lớn lao để sống trọn vẹn trong nó, đó chính

là thế giới tâm linh bát ngát, trong lặng, không mùi vị của thiền gia Ngoài ra, còn

có không gian thể hiện bản chất, qui luật vận động của vũ trụ mà trong đó vạn vật luôn tương tác và hòa điệu Cuối cùng, tác giả khẳng định không gian trong thơ thiền là không gian mang tính triết học, không gian của những cảm thức tâm linh

- Lê Trí Viễn trong công trình Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (NXB

TP.HCM, 2001) đã nhận định về không gian trong thơ thiền Lý - Trần như sau:

“K hông gian trong đó (thơ thiền Lý - Trần) thường là một không gian bao la, kho áng đạt, trong trẻo và lặng lẽ…Nhưng không gian đó không chỉ có bao la, lặng

lẽ mà còn có sự thống nhất biện chứng giữa cái vô cùng lớn lao với cái vô cùng nhỏ

Trang 13

bé, cái vô hạn với cái hữu hạn” [44, 96] Như vậy, nhận xét của Lê Trí Viễn khá

tương đồng với quan điểm của Đoàn Thị Thu Vân Tuy nhiên, việc đi sâu phân tích toàn bộ không gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần như một đối tượng tìm hiểu

chính thì chưa được đề cập Cũng trong công trình này, tác giả thừa nhận “Thơ

thiền đã thể hiện quan niệm ấy (quan niệm về không gian và thời gian) hết sức tốt đẹp và nghệ thuật” [44, 96]

- Ngoài ra, không gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần cũng được nhiều

lần đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các quyển Tuyển tập 40 năm Tạp chí

V ăn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học và tuổi trẻ … Các tác giả không chủ ý đi vào nghiên cứu không gian mà thông qua tìm hiểu

nghệ thuật của một tác phẩm tiêu biểu, phong cách sáng tác của một nhà thơ nào đó, hoặc phê bình bình luận về một bài thơ hay, so sánh nghệ thuật giữa thơ thiền Việt Nam với thơ thiền Trung Quốc hay Nhật Bản…Các học giả đã liên hệ, dẫn chứng một vài câu thơ hàm chứa không gian để khẳng định cho lời nhận định của mình

Do đó, không gian nghệ thuật cũng chỉ được thể hiện một cách rời rạc, đơn lẻ và thiếu một hệ thống hoàn chỉnh

2.4 Hình tượng thời gian

- Đầu tiên phải kể đến công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt

Nam của tác giả Trần Đình Sử (NXB Giáo dục,1999) Trong công trình này, tác giả

đã dành hơn bốn trang viết để nói về thời gian trong thơ trung đại nói chung với các nội dung như: mô hình chung của thời gian, thời gian vũ trụ bất biến, thời gian con người Tác giả đã xác lập được các khái niệm thời gian như sau: Thời gian vũ trụ bất biến trong thơ từ thế kỉ X - XVII; Vô thời gian trong thơ thiền - loại thời gian

“bất biến, thường trụ bởi vì không sinh không diệt” [31, 197]; Thời gian lịch sử

trong thơ tương quan với thời gian vũ trụ - kiểu thời gian được không gian hóa với

“tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấu tích” [31, 204]; và cuối cùng là thời

gian con người với nỗi buồn thương u uất cá nhân Tác giả đã phát hiện và lý giải vấn đề tương đối chặt chẽ Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của công trình khá rộng nên tác giả chỉ dừng lại ở bốn trang viết cho vấn đề này với mức độ khái quát

Trang 14

- Trong công trình Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, tác giả Lê Trí

Viễn (NXB TP.HCM, 2001) cũng đã đề cập đến một số biểu hiện của thời gian

trong thơ ca trung đại Việt Nam như: “thời gian tuyến tính trôi chảy không ngừng,

một qua không trở lại” [44, 19]; “thời gian chu kỳ đi rồi quay trở lại chứ không đi mất” [44, 19]; “thời gian không trống rỗng trừu tượng mà chất chứa một nội dung

cụ thể” [44, 19]; “Thời gian nhuốm màu thiêng liêng và đạo đức” [44,19] Tuy

nhiên, trong khuôn khổ một bài giảng đại học, tác giả cũng chỉ khám phá những biểu hiện có sức khái quát nhất mà chưa đi sâu phân tích các dẫn chứng Tuy nhiên, vấn đề đặt ra giúp người đọc có thể hình dung những nét tiêu biểu nhất của văn học

trung đại, làm cái “nền” để trên cơ sở đó, có thể đi tìm những nét đặc trưng một cách sâu hơn, rõ hơn trong một triều đại văn học cụ thể

- Trong chuyên đề bài giảng cao học Thơ Thiền Việt Nam thời Lý - Trần,

khảo sát từ góc độ nghệ thuật, tác giả Đoàn Thị Thu Vân đã đề cập đến vấn đề này

Với khoảng một trang viết, tác giả chuyên đề cố gắng truyền tải một cách cô đọng những đặc điểm về thời gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần với những biểu

hiện cơ bản sau: Một là, thơ thiền đề cập đến “Thời gian hiện thực của trần thế vô

cùng ngắn ngủi và chóng vánh” [42, 14] Hai là, tác giả thơ thiền “đặc biệt đề cao thời gian hiện tại, chủ trương sống cho trọn vẹn cái “giây phút này” [42, 14] Ba

là,“thời gian vĩnh hằng nằm trong thời gian chuyển động” [42, 15] Bốn là “thời gian đóng vai trò cột mốc cho một bước ngoặt của tâm thức, đánh dấu sự đổi khác giữa sau và trước” [42, 15] Cuối cùng thời gian trong thơ thiền “thường là mùa thu, ban đêm (với trăng sáng, gió trong và hơi đêm mát lạnh) Đó là thời điểm của

sự hòa điệu giữa con người và vạn vật, vũ trụ” [42, 15] Chuyên đề giúp người đọc

phần nào nắm rõ những đặc trưng cơ bản của vấn đề thời gian trong thơ thiền Lý - Trần Vấn đề được tác giả trình bày dưới dạng những luận điểm cơ bản cùng với các dẫn chứng tiêu biểu Trên cơ sở đó, có thể khám phá một vấn đề cụ thể ở một mức

độ sâu hơn

- Ở cấp độ các bài báo, tạp chí, các tác giả cũng quan tâm đến vấn đề này, tuy

chưa sâu rộng và chuyên biệt mà chỉ là các hiện tượng riêng biệt, đơn lẻ

Trang 15

Bài viết “Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần” của tác giả Nguyễn Phạm

Hùng (Tạp chí Văn học, số 4, năm 1983), thời gian cũng được đề cập đến qua một

số phương diện như: Ở thời thịnh Trần là “những cảm xúc thơ về một quá khứ vô

cùng vinh quang và đầy chiến thắng” [17, 166]; “Cảm xúc trữ tình của các thi sĩ cùng gặp nhau trong sự hồi tưởng lại những chiến công của cha ông trên sông Bạch Đằng” [17, 166]; thời vãn Trần thì “thời gian được phản ánh trong thơ co giãn theo tâm trạng con người Ngày vui thường qua nhanh mà nỗi buồn sao đằng đẵng” [17, 170]; Trong thơ Phạm Nhân Khanh, Trần Nguyên Đán, thời gian “buồn

bã, nặng nề như cuộc đời vô vị trôi đi” [17, 170]; Trong thơ Nguyễn Tử Thành thì

“nghe tiếng thời gian đang tan theo những giọt mưa đêm xuân trong một sự nuối tiếc đến tuyệt vọng” [17, 171]

Trong bài viết Huyền Quang và những trang đời nhiều huyền thoại, những

vần thơ nhiều hàm nghĩa (Tạp chí Văn học, số 3, năm 1994), tác giả Trần Thị Băng

Thanh, cũng đã đề cập đến kiểu thời gian tồn tại trong tác phẩm Huyền Quang Đó

là kiểu thời gian chất chứa nhiều tâm sự trễ nãi, buồn chán Tất nhiên thơ ông có niềm vui những nỗi buồn vẫn là cái đọng lại sâu sắc hơn cả Trong nỗi cô đơn ngập

tràn, nhà thơ đã “phó mặc cho ngày tháng cứ trôi đi chậm chạp còn con người thì

gần như trở nên vô cảm hoặc “lười biếng” ngay cả với công việc hàng ngày của tăng chúng” [38, 78]

Ở một bài viết khác - Trương Hán Siêu và tư tưởng nghệ thuật thời Lý - Trần

(Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2, năm 1996), tác giả Nguyễn Phạm Hùng cũng tìm thấy hai kiểu tư duy tiêu biểu trong thơ văn Trương Hán Siêu nói riêng và thơ văn Lý - Trần nói chung, đó là kiểu tư duy hướng ngoại thời thịnh Trần và tư duy

hướng nội thời Vãn Trần Ở kiểu tư duy thứ hai, tác giả tìm thấy “cảm giác trống

vắng, hiu quạnh, hẫng hụt của con người khi quá khứ huy hoàng đã đi qua” [16,

391], “ là lời cảnh tỉnh con người trước sự suy thoái của xã hội, nhắc nhở con người không được quên quá khứ huy hoàng …” [16, 392]

Trên đây là một số công trình, bài viết có liên quan đến phương diện hình tượng mà cũng là các yếu tố thuộc về mặt hình thức của thơ thiền Lý - Trần Một

Trang 16

điều hiển nhiên là bất cứ một hình thức nào cũng đều gắn với một nội dung nhất định Thơ thiền Lý - Trần vốn là thơ tư tưởng Cốt lõi tư tưởng thơ thiền chính là quan niệm về cuộc sống của triết lý Phật giáo Thiền tông Đây cũng chính là lý do

để cắt nghĩa cho cái lý của hình thức, cho sự xuất hiện những đặc trưng của thế giới nghệ thuật trong thơ thiền Vấn đề này quan trọng nên không thể bỏ qua; tuy nhiên, trong quá trình khảo sát hình tượng, các tác giả cũng chỉ mới điểm qua chứ chưa trình bày một cách có hệ thống và chuyên sâu, còn rời rạc, lẻ tẻ Có chăng thì cũng chỉ dừng lại ở cấp độ xem “quan niệm về nhân sinh của triết lý Phật giáo Thiền tông” thể hiện như thế nào qua phương diện hình tượng thơ mà chưa rút ra “ý nghĩa tích cực của quan niệm sống ấy đến con người (giá trị nhân sinh)” Đây cũng chính

là vấn đề trọng tâm luận văn cần đi sâu, tìm hiểu

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Do luận văn đi sâu tìm hiểu “Giá trị nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần” nên đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bài thơ thiền được sáng tác trong thời đại

Lý - Trần, bao gồm 192 bài thơ thiền trong quyển Thơ văn Lý - Trần, tập I (1977)

và Thơ văn Lý - Trần, tập II (1988) của Viện Văn học, NXB Khoa học xã hội, HN

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn cũng chính là mục đích đề tài cần hướng đến

Đó chính là tìm hiểu “giá trị nhân sinh” của thơ thiền Lý - Trần được gửi gắm qua phượng diện hình tượng thơ (xét từ phương diện hình tượng) Như vậy, để làm nổi bật trọng tâm của đề tài này, người viết phải đi sâu khảo sát vào phương diện hình tượng để tìm thấy đặc trưng riêng của thế giới nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần

Từ đặc trưng thế giới nghệ thuật này, người viết rút ra được quan niệm nhân sinh của triết lý Phật giáo Thiền tông đã chi phối và ảnh hưởng thế nào đến cách cảm nhận về thế giới của con người thời đại Trong khả năng có thể, người viết chỉ ra ý nghĩa tích cực của quan niệm nhân sinh ấy đến cuộc sống của con người như là một bức thông điệp màu xanh mà các nhà thơ thiền để lại cho mai hậu

Trang 17

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa vào những yêu cầu được vạch ra phía trên, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện đề tài:

4.1 Phương pháp tập hợp, khảo sát tư liệu

Thơ thiền Lý - Trần hầu hết được sáng tác bằng chữ Hán và viết theo thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngũ ngôn tứ tuyệt), một số ít được viết theo thể thơ cổ phong hoặc bốn chữ Do sử dụng loại văn tự và thể thơ cũ nên thơ thiền khá xa lạ với những người ít hiểu biết hoặc không hiểu biết về Hán học Vì vậy, có không ít tác giả tham gia dịch nghĩa và dịch thơ cho thơ thiền, tuy nhiên, chỉ tinh thông Hán học sẽ vẫn chưa đủ nếu không am hiểu Thiền học và điều tất yếu dẫn đến là xuất hiện những bản dịch không tương đồng nhau Để thực hiện

đề tài, người viết sử dụng phương pháp này tiến hành trên 192 bài thơ thiền trong

hai tập đầu của tổng tập Thơ văn Lý - Trần Sau đó, tiến hành khảo sát trên từng bài

thơ, tập hợp và bước đầu thống kê, phân loại chúng dựa vào bốn phương diện: con người, thiên nhiên, không gian, thời gian

4 2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Nhằm làm nổi bật những vấn đề xoay quanh phương diện hình tượng, người viết đã tiến hành đi sâu phân tích các tư liệu vừa được khảo sát và phân loại Trong mỗi một phương diện hình tượng, người viết cố gắng tìm ra đặc điểm chung dựa vào căn cứ tần suất xuất hiện Từ đó, có những kết luận có thể quy thành luận điểm mang tính chất đặc trưng riêng Trong quá trình trình bày cho mỗi một luận điểm, chúng tôi đã chọn lọc dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm Bên cạnh đó, người viết có ý thức hướng đến về mặt nội dung nên chọn phương pháp “trình bày kép” - song song với mỗi một luận điểm về hình tượng là một ý nghĩa về nội dung của hình tượng đó (Hình tượng - Giá trị nhân sinh của hình tượng)

4 3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để làm nổi bật hơn giá trị về nội dung tư tưởng toát ra từ mỗi hình tượng, trong quá trình phân tích và chứng minh, người viết cũng đã vài lần sử dụng so

Trang 18

sánh, đối chiếu về một số vấn đề thuộc phạm vi tư tưởng ý thức có liên quan Thông qua việc so sánh đó mà người viết có cơ sở vững chắc hơn để khẳng định vấn đề

4 4 Phương pháp hệ thống

Sau khi tiến hành tổng hợp, phân tích vấn đề, người viết đã xâu chuỗi những luận điểm thành một hệ thống hoàn chỉnh, sao cho vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học của kết cấu, vừa đảm bảo tính chuẩn xác và hợp logic của nội dung Từ tiểu kết của từng phần, người viết cũng chú trọng xây dựng kết luận chung thật bao quát và đầy đủ cho toàn luận văn

Ngoài ra luận văn cũng đã kết hợp sử dụng một số phương pháp liên ngành

bổ trợ khác để làm nổi bật vấn đề: phương pháp văn hóa lịch sử, phương pháp trực cảm tâm linh… Vì thơ thiền là một loại thơ mà nội dung tư tưởng có liên quan mật thiết với các vấn đề tôn giáo, triết học, thiên về kiểu tư duy tổng hợp, trực cảm tâm linh, nên nếu chỉ dùng phương pháp phân tích duy lý đôi khi không thể nắm bắt được cái “thần”, cái bản chất của đối tượng vì thế phương pháp trực cảm cũng là một phương pháp được sử dụng trong đề tài, nhất là ở cấp độ suy nghiệm về giá trị nhân sinh toát ra từ mỗi một phương diện thơ

Thật ra, việc phân chia, liệt kê các phương pháp như trên chỉ có tính tương đối Trên thực tế, các phương pháp luôn được vận dụng trong thế kết hợp, đan xen nhau trong quá trình trình bày Tất cả đều nhằm mục đích giải quyết tốt nhất những yêu cầu, mục đích mà đề tài đã đặt ra

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

5.1 Chọn phạm vi tham chiếu là phương diện hình tượng, luận văn đã xác lập nên một hệ thống hình tượng đầy đủ và chuyên sâu, bổ sung thêm vào bức tranh toàn cảnh thế giới nghệ thuật của thơ thiền Lý - Trần mà trước đó các công trình nghiên cứu đã đặt những viên đá nền tảng Đặc biệt, ở hình tượng thiên nhiên, luận văn đã

đi theo hướng riêng, không phân chia hai xu hướng phổ biến là thiên nhiên mang ý nghĩa trực tiếp và thiên nhiên mang tính chất biểu tượng mà khái quát những đặc trưng nghệ thuật thành những luận điểm rõ ràng chứ không đi vào phân tích, cảm

Trang 19

nhận từng tác phẩm rời rạc, lẻ tẻ như các công trình đi trước Đóng góp này hi vọng đem đến ít nhiều cảm nhận mới mẻ, thú vị cho người đọc

5.2 Xuất phát từ quan niệm, cách nhìn nhận về cuộc sống (quan niệm nhân sinh)

mà con người trong thơ thiền có những cảm quan nghệ thuật rất riêng, không giống với bất kì một cảm quan nghệ thuật nào của các tác giả ở những bộ phận thơ khác Thông qua đặc trưng của thế giới nghệ thuật này, luận văn truyền tải những ý niệm

về cuộc đời, về kiếp nhân sinh của các bậc tiền nhân theo quan điểm của triết học

Phật giáo Thiền tông qua mỗi hình tượng Đồng thời, luận văn cũng khẳng định giá trị tích cực của quan niệm nhân sinh ấy trong việc hướng con người đến cuộc sống lạc quan, tốt đẹp (giá trị nhân sinh)

5.3 T iếp cận phương diện hình tượng trên tiêu chí về mối quan hệ giữa văn học và

đời sống (giá trị nhân sinh) là hướng đi khá mới của luận văn, không trùng khớp với các tiêu chí tiếp cận hình tượng mà các nhà nghiên cứu đi trước đã vạch ra Với đóng góp này, hi vọng có thể phát hiện thêm vẻ đẹp phong phú của thế giới nghệ thuật thơ thiền Lý – Trần và đi đến được chiều sâu cao quí về mặt nội dung của bộ phận văn học ấy

6 C ấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được cấu trúc thành 4 chương:

Chương 1 – Những vấn đề chung

Ở chương này, người viết tìm hiểu một số vấn đề chung nhằm tạo nên một nền tảng bao quát trước khi đi vào phần trọng tâm của đề tài Bao gồm ba vấn đề cơ bản sau: Bối cảnh văn hóa – lịch sử thời đại Lý - Trần, thơ thiền Lý – Trần, một số triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo và Phật giáo Thiền tông thời Lý – Trần

Chương 2 – Giá trị nhân sinh của hình tượng con người trong thơ thiền

Lý – Trần

Trong chương này, người viết đi vào chứng minh giá trị nhân sinh của triết lý Phật giáo Thiền tông qua nhân cách cao đẹp của con người trong thơ: an nhiên, tự tại; sống trọn vẹn với thực tại, mang vẻ đẹp tự thân với chân tâm trong sáng vô biên

và trí tuệ siêu việt, yêu đời và tích cực nhập thế

Trang 20

Chương 3 – Giá trị nhân sinh của hình tượng thiên nhiên trong thơ thiền

Lý – Trần

Chương này đi vào tìm hiểu giá trị nhân sinh của triết lý Phật giáo Thiền tông được thể hiện như thế nào qua hình tượng thiên nhiên trong thơ thiền Lý – Trần Có hai luận điểm chính về hình tượng thiên nhiên là thiên nhiên của cuộc sống hiện thực, bình dị trên quê hương đất nước và thiên nhiên đậm đà thiền vị Song song với mỗi một luận điểm chính, người viết đã rút ra những giá trị nhân sinh

Trang 21

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 B ỐI CẢNH VĂN HÓA - LỊCH SỬ THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN

Văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống Văn học không gì khác hơn là cái nhìn thẩm mỹ, là hình tượng thẩm mỹ về cuộc sống, con người nói khái quát hơn là thời đại Hiện thực cuộc sống có được phản ảnh một cách chân thực hay không, có được thăng hoa hay không là nhờ vào tài năng và tâm huyết của người nghệ sĩ Một điều hiển nhiên là có hiểu những chất liệu tạo nên văn thơ mới có thể hiểu được văn thơ Thơ văn Lý – Trần không nằm ngoài quy luật ấy Vì thế, trước khi đi vào nội dung chính của đề tài, thiết nghĩ không thể không đề cập đến bối cảnh lịch sử - xã hội của thời đại như là nền tảng sinh thành nên văn học của thời đại ấy

1.1.1 Khái ni ệm thời đại Lý - Trần

Nhắc đến khái niệm “thời đại”, chúng ta nghĩ ngay đến một khoảng thời gian tương đối dài, gồm một, hai hay nhiều triều đại (thời phong kiến), được tạo nên bởi

sự kết hợp cùng một lúc của nhiều yếu tố Tuy nhiên, đó phải là sự kết hợp chặt chẽ, sâu sắc và hữu cơ với nhau để tạo nên một nét chung làm nền tảng xuyên suốt cả thời đại ấy

Hơn một ngàn năm nô lệ phong kiến phương Bắc (111 TCN - 938 SCN), với ý chí ngoan cường, bền bỉ đấu tranh, với ý thức độc lập, tự chủ, hễ có cơ hội là dân tộc ta vùng dậy đấu tranh, đánh đuổi kẻ thù, giành lại nền độc lập, tự chủ dù còn ngắn ngủi Phát huy truyền thống đó, mùa đông năm 938, bằng mưu lược tài ba, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự chủ Từ cái mốc lịch sử này, đất nước ta trải qua các triều đại: Ngô (939 - 967); Đinh (968 - 980); Tiền Lê (980 - 1009); Lý (1009 - 1225); Trần (1225 - 1400); Hồ (1400 - 1407) và mấy năm đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào thời Hậu Trần (1407 - 1418) Như vậy, thời đại Lý - Trần không chỉ đơn thuần là bao gồm hai triều đại Lý và Trần mà được xem như một giai đoạn lịch sử kéo dài ngót 500 năm với những thành tựu tổng hợp

Trang 22

của các triều đại Trong đó, có hai triều đại Lý và Trần là xứng đáng và tiêu biểu hơn cả về nhiều phương diện nên các nhà nghiên cứu gọi chung cho cả giai đoạn lịch sử này là “thời đại Lý - Trần” Thời đại này nằm gọn trong khoảng thời gian giữa hai lần Bắc thuộc cuối đời nhà Đường và đầu nhà Minh Điểm chung xuyên suốt tạo nên thời đại này là nền độc lập tự chủ được củng cố, chế độ phong kiến thịnh đạt, một ý thức hệ tư tưởng riêng biệt được hình thành và phát triển, các lĩnh vực khác đều đạt được những thành tựu to lớn

1.1.2 Tình hình chính tr ị, xã hội thời Lý – Trần

Sau khi giành lại nền độc lập chủ quyền từ tay giặc xâm lược phương Bắc sau gần ngàn năm Bắc thuộc, đập tan mộng xâm lăng của nhà Tống và tiến hành mở rộng biên thùy Đại Việt về phương Bắc, triều đình tập trung chăm lo cho đời sống nhân dân, củng cố bộ máy cầm quyền, tạo điều kiện phát triển kinh tế sản xuất bằng hàng loạt chính sách về đê điều, thuế má, ruộng đất, phục hưng văn hóa, khôi phục những giá trị tinh thần truyền thống Đồng thời cũng khôn ngoan tiếp nhận, chuyển hóa và dung hợp những tinh hoa văn hóa tư tưởng từ bên ngoài truyền vào Nhờ những nguyên nhân đó, đời sống của nhân dân no đủ về vật chất và thoải mái, rộng

mở, dễ chịu về tinh thần Vì vậy, thời đại Lý - Trần đã trở thành thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến tự chủ Đại Việt

Mặc dù đời sống tư tưởng, tinh thần của nhân dân thời kì này khá thoải mái, ba

hệ thống tư tưởng Nho, Phật, Đạo đã có sự dung hoà với nhau, cùng với văn hoá

truyền thống của dân tộc, chúng đều có điều kiện phát triển, nhưng nhìn chung, Phật giáo phát triển thịnh đạt hơn và có nhiều đóng góp hơn cho công cuộc phục hưng và phát triển mọi mặt của đất nước, cụ thể là Phật giáo Thiền tông Bởi lẽ, lúc này Phật giáo có sự ảnh hưởng sâu rộng và tác động mạnh mẽ đến mọi phương diện của đời sống xã hội; từ vua quan đến thứ dân, từ đường lối chính trị đến bản sắc văn hoá

đều ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo

Con người sống trong thời đại này cũng là những con người đầy hào khí Đó

là những con người tự tin, phấn khởi, hừng hực khí thế và giàu lòng yêu nước Hơn

Trang 23

nữa, cũng có những con người hết sức đặc biệt, làm vua mà từ bỏ ngai vàng dễ dàng như trút bỏ chiếc giày rách, tin dùng tuyệt đối con của kẻ từng thù nghịch với mình, coi ngôi vua như là của chung anh em thân tộc cùng nhau cai trị; làm tôi lấy trung nghĩa làm đầu, gạt hiềm khích riêng qua một bên, cùng nhau đoàn kết chăm lo cho vận mệnh đất nước; làm nhà sư mà phóng khoáng, chê bai lối tu hành khổ hạnh, giễu cợt những kẻ cầu Phật cầu thiền, chủ ý không thích đi theo lối mòn của Như Lai; làm anh hùng tài giỏi lãnh đạo nhân dân nhiều lần đánh tan bọn giặc xâm lược lớn mạnh hung hăng mà cả thế giới khiếp sợ… Nhiều nhà sư đã tham gia vào công việc triều chính, kề vai sát cánh với nhân dân trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành chủ quyền dân tộc, xây dựng xã hội đầy tình thương và lòng từ bi Đó là một minh chứng hết sức vững chắc cho thấy tinh thần nhập cuộc, “hòa quang đồng trần” (hòa cùng ánh sáng lẫn cùng bụi bặm) của các thiền sư thời Lý - Trần Thời đại đó đã sản sinh ra những con người có nhân cách cao đẹp, đáng kính phục: nhân thứ, anh hùng, dũng liệt, khoan dung, rộng mở… Hình ảnh những con người đó đã phản ánh đúng và đầy đủ diện mạo tinh thần của thời đại

Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần - Diện

mạo và đặc điểm đã rút ra một số đặc điểm cơ bản của thời đại này như sau: “Một, thời đại Lý - Trần là thời đại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thống nhất cộng đồng Hai, thời đại Lý - Trần là thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước

Ba, đây là thời đại khoan giản, an lạc, nhân thứ, rộng mở và dân chủ” [22, 61 -

70]

Nhìn chung, ở thời đại này, tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đều có những thành tựu to lớn đáng khâm phục Điều đáng nói hơn, chính thời đại này đã tạo nên một khí thế hào hùng, một tinh thần tự tin, hăm hở và ý chí hết sức mạnh mẽ Có thể khẳng định rằng, đây là thời kì cực thịnh của tư tưởng Việt Nam

Trang 24

1.1.3 S ự phát triển hưng thịnh của Phật giáo thời Lý – Trần

Nói đến thời đại Lý - Trần, người ta còn nói đến sự tác động tích cực của Phật giáo Phật giáo thời này rất hưng thịnh và ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, chi phối từ những sinh hoạt vật chất đến tinh thần (phong tục, tập quán) Có thể nói, Phật giáo đã giữ một địa vị cực kỳ quan trọng trong buổi đầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cũng như đã chi phối mạnh mẽ đến văn học, tạo nên một dòng văn học Thiền tông sẽ đề cập đến phần sau

Phật giáo do Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra cách đây hơn 2500 năm tại Ấn

Độ Phật giáo truyền vào nước ta từ những năm đầu công nguyên Từ những năm đầu thế kỉ X đến nửa sau thế kỉ thứ XIV, Phật giáo như là quốc giáo của nước nhà,

số người xuất gia và tại gia tu Phật ngày càng đông Từ vua quan, hoàng tộc đến thứ dân đều một lòng mộ đạo Thời này, phần lớn trí thức đều là tăng lữ Họ vừa chăm sóc đời sống tinh thần, vừa góp công vệ quốc, kiến quốc

Một vấn đề đặt ra là tại sao Phật giáo trong thời điểm ấy lại phát triển

rực rỡ đến vậy? Hòa thượng Thích Phước Sơn trong bài nghiên cứu Nhìn khái quát

Phật giáo đời Trần (Tạp chí Văn học, số 4, 1992) đã đưa ra những lý do khá thuyết

phục, có cơ sở để lý giải vấn đề này Tác giả đã chỉ rõ những điều kiện khách quan

và chủ quan tạo nên một thời điểm lịch sử rực rỡ như vậy Sự tích cực ủng hộ của

chính quyền, sự đương đà cường thịnh của đất nước là hai yếu tố chính khiến cho một tôn giáo mang bản chất nhập thế hành động như đạo Phật hẳn nhiên phải phát triển rực rỡ Đi sâu hơn, người viết đã tìm ra được nguyên nhân chủ yếu, cái cốt lõi làm cho đạo Phật phát triển mạnh mẽ vẫn là những tiềm năng nội tại của Phật giáo như: nhân tài xuất hiện đông đảo, tinh thần nhập thế tích cực, tinh thần thống nhất Phật giáo, tinh thần độc lập, tự chủ, tinh thần thiền giáo nhất trí, tinh thần viên dung nhất quán, tinh thần thâu hóa sáng tạo, tinh thần tự tín, tự cường và cuối cùng đi đến

kết luận: Đó là những yếu tố: “…kết tinh thành một thời kỳ Phật giáo vẻ vang trong

lịch sử nước ta”

Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống xã hội: Nói đến Phật giáo thời kì

này phải chú ý đến tinh thần “hòa quang đồng trần” của các thiền sư trong đời sống

Trang 25

tu hành Đó là tư tưởng dấn thân nhập cuộc, không xa rời chính sự, là quan niệm sống “tùy tục” phóng khoáng Tư tưởng đó giúp nhà tu hành không quay lưng lại với thời cuộc mà còn tích cực tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc Nhiều nhà sư trở thành quốc sư, cố vấn chính trị cho vua, được đặc biệt ân sủng, trọng thị Có lúc, nhà sư còn được cử làm sứ giả, đại diện cho quốc thể để nghênh tiếp sứ thần Trung Quốc Do đó, tiếng nói của họ đối với đời sống chính trị, xã hội, văn hóa có ý nghĩa rất lớn và cũng dễ hiểu tại sao nhiều hoàng thân quốc thích, giới quí tộc, quan lại triều đình lại say mê và sùng bái đạo Phật đến như vậy Đó là chưa

kể, ngay từ những buổi đầu, nhà chùa còn là nơi dạy chữ cho mọi người, nơi đầu tiên có những nhà trí thức tinh thông Hán học, biết sáng tác thơ ca, sấm kệ Từ đó,

có thể suy rộng ra, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, tinh thần hào phóng, sảng khoái, rộng mở của thời đại; sự phát triển thịnh đạt của triều đại phong kiến không thể không có sự tác động và ảnh hưởng của tư tưởng cứu khổ cứu nạn, từ bi bác ái, bình đẳng khoan hòa của đạo Phật, mà trong đó các nhà sư là những sứ giả tiêu biểu

Tinh thần Phật giáo thời Lý - Trần ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân lúc bấy giờ Phật giáo đi đến đâu được nhân dân ủng hộ đến đấy, chùa tháp tự viện mọc khắp nơi, khói hương nghi ngút bốn mùa, những cuộc thuyết pháp giảng đạo của các danh sư luôn chật ních người tham dự, nhiều

thắng cảnh đẹp có sự hiện diện của chùa chiền, nhiều lễ hội dân gian gắn liền với Phật giáo Đặc biệt, đạo Phật là nguồn cảm hứng vô tận để dân gian thêu dệt nên hàng loạt những truyện truyền kì, huyền thoại, truyền thuyết đậm màu sắc tín ngưỡng tâm linh; nhiều bài ca dao về đề tài đạo Phật cũng xuất hiện trong thời kì này… Nói như vậy để thấy được sức ảnh hưởng của đạo Phật đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân mạnh mẽ và sâu sắc đến mức nó đã trở thành máu thịt và gắn liền với phong tục tập quán của dân tộc

Trong thời Lý - Trần, nền mỹ thuật Việt Nam thấm đượm triết lý Phật giáo

Thiền tông (Chùa Một Cột, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian, tháp Báo Thiên, tháp Bình Sơn, tháp Linh Tế…) với biết bao hình tượng, phù điêu, hoa văn tinh xảo

Trang 26

Hàng loạt các công trình kiến trúc nổi tiếng của nước ta đều có liên quan hay gắn liền với nhà chùa, tiêu biểu là “An Nam tứ đại khí” Nhiều pho tượng Phật là thành quả của những nghệ nhân dân gian với bàn tay khéo léo và bộ óc thẩm mĩ, cho đến nay vẫn còn được người đời sau trầm trồ khen ngợi và thán phục

Có thể khẳng định rằng, Phật giáo thời kì này tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội Sự tác động đó diễn ra theo hướng tích cực, lợi ích cho quốc gia dân tộc Càng về sau, Nho giáo càng chiếm vị thế cao trong triều đình, các nhà sư trở về với vị trí thật đúng của mình, ảnh hưởng của Phật giáo có ít nhiều giảm sút đối với đời sống xã hội, tuy nhiên, sự rung động và âm vang của nó trong lòng người dân Việt Nam là không hề thay đổi

kì này ra đời hàng loạt những tác phẩm mang tính “văn - sử - triết bất phân”: Thiền uyển tập anh, Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, Hương Hải thiền sư ngữ lục, Khóa hư lục, Tam tổ thực lục, Kế đăng lục, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái…Ngoài ra còn có hàng loạt sáng tác của nhiều tác giả khác Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây chỉ là phần nhỏ nhoi còn biết đến trong số lượng đồ sộ các tác phẩm được sáng tác trong thời Lý - Trần

Trang 27

Nguyễn Công Lý trong công trình: Văn học phật giáo thời Lý Trần - Diện

mạo và đặc điểm [22, 70 - 82] đã vạch ra một số đặc điểm cơ bản của nền văn học

thời kì đầu này như sau:

 “ Một là, văn học Lý - Trần hình thành trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng có thể nói là nặng nề bởi nhiều yếu tố ngoại lai, đặc biệt là yếu tố Hán nhưng cố gắng vận động để phát triển theo hướng dân tộc hóa” Tác giả đã dẫn ra những phương

diện văn học chịu sự ảnh hưởng Trung Quốc sau thời gian thống trị cả ngàn năm: ngôn ngữ văn tự, thi liệu văn liệu, điển cố điển tích, thể loại, tư tưởng học thuyết Tuy nhiên, văn học Lý - Trần cũng đã cố gắng vận động và phát triển theo hướng dân tộc hóa: sáng tạo và sử dụng chữ Nôm trong sáng tác, sử dụng đề tài, thi liệu văn liệu của Việt Nam, nội dung phản ánh tâm tư tình cảm, cuộc sống, tinh thần của người Việt Nam

 “ Hai là, văn học Lý - Trần đã vận động và phát triển trên cơ sở ý thức dân tộc, kết hợp với cảm hứng thời đại, mở ra một dòng văn học yêu nước trong văn chương Việt Nam” Tác giả chỉ ra biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước trong văn

học Lý - Trần là lý tưởng trung quân Khi đất nước hòa bình thì con người có ý thức

tự cường, tự tôn dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước hòa bình hạnh phúc, yêu giống nòi, non sông gấm vóc, nền văn hóa dân tộc Khi Tổ quốc bị xâm lăng thì căm thù quân giặc, quyết chiến chống kẻ thù, bảo vệ chủ quyền dân tộc, biết ơn và

ca ngợi những anh hùng xả thân vì nước Bằng hàng loạt những tác phẩm của thời

kì này như Thiên đô chiếu của Lý Thái tổ, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt,

Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Cảm hoài của Đặng Dung,… các tác giả đã minh chứng hùng hồn cho lòng yêu nước nồng nàn của toàn dân tộc

 “ Ba là, văn học Lý - Trần đã hình thành những giá trị nhân bản, trong đó lòng nhân ái, nhân đạo trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn chương” Tác giả

nêu lên biểu hiện của giá trị nhân bản ở hai cấp độ: xây dựng, giải quyết mối quan

hệ giữa con người với vũ trụ, tự nhiên (vũ trụ quan) và mối quan hệ giữa con người

Trang 28

với con người, với cuộc sống (nhân sinh quan) Lần đầu tiên, vị trí, chỗ đứng và giá trị của con người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội được nhận thức khá hoàn chỉnh

Tác giả kết luận văn học thời kì này “phát triển với một lực lượng sáng tác

khá đông đảo, thể loại khá phong phú với gần như đa số các thể loại của văn học trung đại, nội dung văn học súc tích, đa giọng, đa sắc thái, thể hiện rõ bản sắc dân tộc, đậm tính nhân văn và giàu lòng yêu nước”

1.2 THƠ THIỀN LÝ - TRẦN

1.2.1 Khái ni ệm “thơ thiền”

Phân biệt giữa “thơ” và “thiền”: Thiền là thuật ngữ Phật giáo, thơ là thuật

ngữ Văn học nghệ thuật Hai thuật ngữ tưởng chừng cách xa nhau về lĩnh vực ấy lại

có một sự hòa điệu hết sức mạnh mẽ Sự hòa điệu ấy bắt nguồn từ những điểm tương đồng của hai yếu tố này trên nhiều phương diện

 Thứ nhất, “thiền” và “thơ” đều thuộc về hình thái ý thức của con người

 Thứ hai, cả “thơ” và “thiền” đều có sự hướng nội sâu sắc, có sự thể hiện nội tâm nhạy bén, đòi hỏi người lĩnh hội phải đạt được trạng thái tĩnh lặng, trầm tư, tập trung cao độ khi tiếp nhận

 Thứ ba, cả hai đều cần đến một loại ngôn ngữ “ý tại ngôn ngoại”, không phải lúc nào cũng diễn đạt hết tất cả ý nghĩ tâm tình, thậm chí chủ trương không bày

tỏ hết tất cả ý nghĩ tâm tình; mà luôn có những khoảng ẩn giấu cần thiết đề người khác khám phá, nhiều lúc đó là phần cốt lõi và quan trọng nhất mà người diễn đạt muốn nói tới Vì vậy, “thiền” và “thơ” đều coi trọng sự diệu ngộ, phát hiện, chiêm nghiệm sâu sắc để rút ra chân lý cho riêng mình Vì những lẽ đó, ta dễ dàng hiểu vì sao khi diễn đạt sự giác ngộ bản thể, phát biểu chân lý cuộc sống, quán chiếu các hiện tượng xảy ra xung quanh mình, các thiền sư thường hay dùng thơ kệ để diễn đạt, ngâm họa, xướng vịnh

Trong bài thơ Vịnh núi Lô Sơn, Tô Thức thể hiện quan niệm về quan hệ giữa

thơ” và “thiền”: “Thiền đạo với thi ca là đồng hay khác, chớ nên nghi ngờ mà tra

Trang 29

hỏi; hãy quên đi những sự phân biệt ta và người, cuối cùng, anh với tôi hãy mở cánh cửa bắc, ngẩng đầu nhìn lên ba mươi sáu ngọn núi xanh” Như vậy, theo Tô

Thức, “thơ” và “thiền” khác và giống như thế nào không quan trọng, và không nên phân biệt làm chi, điều cốt yếu là hãy tìm xem chất thơ của thiền và thấy thiền thể hiện ở trong thơ như thế nào

Trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử đã

trích ý kiến của tác giả Đàm Chiêu Văn ở Trung Quốc như sau: “Giá trị chủ yếu

của thơ thiền là ở phương diện văn hóa, triết học” [31, 169] Nhận định trên là

đúng, tuy nhiên, sẽ chưa đủ nếu chúng ta phủ nhận đi giá trị văn học của thơ thiền Trần Đình Sử cũng trong công trình trên nêu lên những tính chất của thơ thiền:

“Thơ thiền, xét như một loại thơ, nó phải có ba tính chất: một là truyền đạt được cách cảm nhận thế giới của thiền học, sự nhận thức về huyễn ảo và chân như, có thế nó mới là thiền Hai là bộc lộ được vẻ đẹp vủa thế giới và tâm hồn, như thế nó mới là thơ Những tác phẩm nặng về tính chất một thì ít chất thơ Những tác phẩm nặng về tính chất thứ hai làm thành nét độc đáo của thơ thiền Thứ ba, thơ thiền là thơ của tầng lớp tăng lữ cấp cao, tầng lớp trí thức đặc biệt, không giống với tình cảm Phật giáo dân gian” [31, 170 ]

Trong dòng văn học Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần, thơ thiền là một luồng chảy độc đáo nhất và mạnh mẽ nhất Mạnh mẽ như thế nào thì chúng ta có thể hình dung được dựa vào số lượng tác giả tham gia sáng tác và tác phẩm được sáng tác trong thời kì này, cộng với những nội dung sâu sắc mà nó truyền đạt Còn độc đáo nhất thì có lẽ ở chỗ lần đầu tiên trong văn học Việt Nam có sự hòa nhập cao độ đến mức gần như tuyệt đối như vậy giữa thơ ca và triết học tôn giáo Chúng ta thật khó xác định rằng, thơ thiền là loại kinh kệ phục vụ trong nhà chùa, trong giới tu hành hay đây là những tác phẩm mang đầy đủ những đặc trưng của sáng tác văn học Có lẽ hiểu ở khía cạnh nào cũng đúng, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng đây

là một hiện tượng độc đáo khó có thể lặp lại trong lịch sử văn học dân tộc

Vậy “thơ thiền” là gì? Nguyễn Công Lý trong công trình Bản sắc dân tộc

trong văn học Thiền tông thời Lý - Trần đã định nghĩa như sau: “Văn học Thiền

Trang 30

tông là một dòng văn học, một khuynh hướng văn học được sáng tác dưới hệ ý thức

tư tưởng - triết học phật giáo Thiền tông” [24, 25]; Nguyễn Phạm Hùng trong

chuyên luận và thơ tuyển: Thơ thiền Việt Nam - những vấn đề tư tưởng và nghệ

thuật cho rằng: “Thơ thiền là thơ của các nhà sư và của những người không đi tu nhưng am hiểu và yêu thích phật giáo, hình thức trực tiếp hay gián tiếp dùng hình ảnh và ngôn ngữ nhà phật, nội dung trực tiếp hay gián tiếp nêu lên một triết lý thiền, một bài học thiền, một cảm xúc hay một tâm trạng thiền khi nhận thức và giải minh thế giới” [18, 30]

1.2.2 Nh ững đặc trưng cơ bản, loại biệt của thơ thiền

Về tác giả và độc giả: Tác giả thơ thiền chủ yếu là thiền sư, hay đó là các cư

sĩ tại gia, vua chúa, quan lại, quý tộc trong cung đình tôn sùng Phật giáo và am hiểu triết lý thiền, nhìn thế giới bằng cái nhìn đầy chất thiền Những sáng tác của họ hoặc thuần túy thuyết giảng giáo lý nhà Phật, hoặc ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng và cảm quan Phật giáo Trong các tác phẩm của mình, họ thể hiện cái nhìn thế giới và con người một cách khoáng đạt và siêu thoát, thế nhưng vẫn mang đậm một tinh thần nhập thế mạnh mẽ, tích cực Nếu Phật giáo chủ trương xuất thế, thoát tục để

cầu đạo thì các thiền gia thời Lý - Trần lại tích cực nhập thế, không phủ định thực tại, tất nhiên cũng phải thừa nhận rằng mức độ nhập thế của các thiền gia có giảm dần theo sự diễn biến của thời gian do vị thế ngày càng lên cao của Nho giáo Nếu Thiền tông chủ trương “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm” thì các thiền gia thời này lại sáng tác thơ ca, kệ cú để giáo huấn đệ tử, chiêm nghiệm triết lý tu hành Nếu đạo Phật chủ trương trở về với tự tâm, diệt bỏ lục căn lục trần thì các nhà sư khi trở về với tự nhiên lại thích ca ngợi cảnh đẹp núi rừng, hoa cỏ, thậm chí có bài miêu tả thiếu nữ xinh đẹp ngồi thêu áo… Tư tưởng phóng khoáng đó của các thiền sư cộng với những ảnh hưởng của triết học Lão - Trang đã trở thành những chiếc dùi trống làm cho thơ thiền thời kì này vang ra không biết bao nhiêu thanh âm trong trẻo, tươi mới đến lạ lùng, và lẽ dĩ nhiên, sự tươi mới này được rút ra khi đối chiếu với thơ thiền của các nước khác Chính vì lẽ đó, nhiều học giả cho rằng không ít bài thơ nếu

Trang 31

thay đổi tựa đề hoặc tên tác giả thì người đọc sẽ ngộ nhận đó là những bài thơ vịnh cảnh thông thường Thế nên, càng về sau, thơ thiền cũng đậm chất trữ tình và đậm dấu ấn bản ngã hơn Đây là đặc trưng quan trọng của thơ thiền Lý - Trần so với thơ thiền Đường - Tống của Trung Quốc hay thơ thiền Nhật Bản Còn độc giả của thơ thiền ban đầu chủ yếu là các nhà tu hành, là tăng chúng, là các đồ đệ cầu học đạo

Về sau này, độc giả thơ thiền còn là đông đảo những người không phải tu hành, nhưng yêu mến và ngưỡng mộ đạo Phật, có nhu cầu nhận thức cuộc sống, nhận thức nghệ thuật bằng những rung động của tâm linh Thiền học

Thơ thiền được viết bằng kiểu ngôn ngữ vô ngôn, vì thế chú trọng đến tính trực giác Đối với thiền, ngôn ngữ được xem là lừa dối và sai lạc để thấu hiểu

chân lý Chính vì thế, thơ Thiền có cách “mã hoá” và “giải mã” thông tin đặc biệt Việc “mã hoá” nghệ thuật được xem là khá phong túng và tự do Những bài “Kệ ngộ giải” ghi lại giây phút “bừng vỡ giác ngộ tâm phật” của nhà tu hành, có thể được thực hiện bởi lời phát biểu trực tiếp về các phạm trù triết học Phật giáo, bằng lời giải thích trực tiếp và cụ thể của tư duy duy lý, tư biện, hoặc cũng có thể được phát biểu gián tiếp qua những hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống sinh động mà nhà tu hành bất ngờ nắm bắt được trong cuộc sống với dáng vẻ tự nhiên, trong trẻo nhất

Nó rất trực giác và trực cảm Tuy nhiên, do triết lý thiền thì hữu hạn trong khi cái dùng để tượng trưng thì vô hạn nên sự lý giải triết lý thiền không bền vững, nhất quán mà luôn nhiều màu nhiều vẻ Đó là chưa kể với các nhà sư khác nhau, sự ngộ giải khác nhau, vốn hiểu biết khác nhau và cách thể hiện khác nhau thì việc diễn đạt

là vô cùng phong phú Do đó, không có một chiếc chìa khóa chung để giải mã thơ thiền mà cần phải có sự trải nghiệm, nhưng cũng cần hiểu rằng cùng một triết lý thì cách lý giải thường ít nhiều có một sự tương đồng nào đó Nói như vậy để thấy rõ tầm quan trọng của trực giác trong việc lãnh hội yếu chỉ thiền học và trong việc tiếp nhận thơ thiền Như vậy, mục đích của thơ thiền là ghi lại sự giác ngộ thiền lý, nhưng không phải bao giờ nó cũng phát ngôn trực tiếp cho tư tưởng thiền mà thường mượn hình ảnh của thế giới vật chất để thể hiện Vì thế có rất nhiều bài thơ thiền rất sinhđộng, giàu hình ảnh, âm thanh và màu sắc

Trang 32

Tóm lại, đặc trưng quan trọng nhất của thơ thiền là thể hiện cảm xúc thiền, triết lý thiền thông qua việc tác giả phát biểu, ngộ giải, bàn luận về mọi

sự vật, hiện tượng trong cuộc sống Muốn biết một bài thơ có phải là thơ thiền hay

không cần phải xem kĩ bài thơ ấy có thể hiện cảm xúc thiền và triết lý thiền hay không Nói cách khác, tiêu chí để phân biệt thơ thiền và các loại thơ khác là đặc điểm có hay không thể hiện thiền ý Có bài thơ cùng một lúc thể hiện nhiều triết lý

thiền, có bài chỉ thể hiện một triết lý thiền, cũng có bài mang hơi hướng thiền nhưng không xác định rõ thể hiện triết lý gì của Thiền tông Tuy nhiên, việc xác định chất thiền trong thơ quả không phải là một điều dễ dàng nếu ta không có sự am hiểu thiền học và một trực giác nhạy cảm để nhận ra triết lý thiền Đó cũng là một nguyên nhân khiến cho thơ thiền nhiều lúc khó tiếp nhận

1.2.3 Khái quát v ề nội dung và nghệ thuật của thơ thiền Lý - Trần

1 2.3.1 Về nội dung thơ thiền

Trước nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập, giới thuyết:

- Nguyễn Phạm Hùng trong luận án Tiến sĩ Vận dụng quan điểm thể loại vào

nghiên cứu văn học Việt Nam (năm 1995) đã chia thơ thiền gồm hai nội dung sau:

 Thơ thiền thiên về triết lý: Nòng cốt của nó là những bài kệ và cả những bài thơ trực tiếp phát biểu về triết lý và quan niệm thiền

 Thơ thiền thiên về trữ tình: Đó là những bài thơ mang những yếu tố thiền

về tư tưởng, cảm xúc, tâm trạng

- Đoàn Thị Thu Vân trong luận án Tiến sĩ Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của

thơ thiền từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ thứ XIV (năm 1995) cho rằng: Thơ thiền là

những bài thơ của các tác giả là thiền sư hoặc không phải là thiền sư nhưng hâm mộ thiền, có nghiên cứu và hiểu biết về thiền, sáng tác theo những nội dung sau:

 Trực tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông Đó là những bài kệ

 Gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông

Trang 33

 Bày tỏ cảm xúc mang ý vị thiền trước cái đẹp của thiên nhiên,con người

và cuộc sống hoặc bày tỏ trạng thái tâm tư giác ngộ chân lý, miêu tả cái đẹp vi diệu bên trong tâm hồn con người

- Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần - Diện

mạo và đặc điểm (NXB Đại học quốc gia, TP.HCM, 2002) ở phần khảo sát các thể

loại đã gom kệ và thơ thiền thành một nhóm thể loại, rồi lại phân chia chúng thành

4 loại như sau:

 Loại thứ nhất là kệ: trực tiếp trình bày giáo lý, tư tưởng nhà Phật

 Loại thứ hai là kệ được thi vị hóa (hay còn gọi là thơ triết lý) thể hiện triết

lý nhà Phật thông qua ngôn ngữ lung linh, đầy hình ảnh đẹp và gợi cảm, giàu chất thơ

 Loại thứ ba là thơ mang cảm hứng thiền học: là những bài mang cảm xúc trữ tình nhưng nội dung có đề cập đến tâm, Phật, sinh tử, niết bàn

 Loại thứ tư là thơ tức cảnh sinh tình, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của thiền

sư đối với cái lung linh, mỹ lệ của ngoại cảnh thông qua cảm quan thiền học

Qua đây, ta thấy rằng, nội dung thơ thiền có hàm nghĩa tương đối rộng và có tính chất mở Có thể tổng hợp lại như sau:

- Thứ nhất, đó là những bài kệ, bài thơ hoặc trực tiếp hay gián tiếp trình bày, thuyết giảng những giáo lý, tư tưởng nhà Phật, những yếu chỉ Thiền tông

- Thứ hai, đó là những bài thơ miêu tả ngoại cảnh, bày tỏ cảm xúc, tâm trạng thông qua cảm quan thiền học

1.2.3.2 Về hình thức nghệ thuật

Từ ngữ: từ ngữ trong thơ thiền là lớp từ ngữ nhà Phật, các điển tích, điển cố,

các hình ảnh thơ ca gắn bó với Phật giáo

Cú pháp: Thơ thiền sử dụng một tần số cao các mẫu câu nhất định như câu nghi vấn và câu phủ định khiến lời thơ có tác dụng như sự quát, thét, đánh, phản vấn, truy bức…vì đấy là công cụ nghệ thuật để ngộ đạo và truyền đạo mà sự ngộ đạo và truyền đạo trên tinh thần Phật giáo “đốn ngộ” vốn rất chú trọng tính độc lập, sáng tạo của người tu hành, tính tự chủ và tự quyết của họ

Trang 34

Các biện pháp tu từ: cũng như thơ ca thời trung đại khác, thơ thiền rất chú

trọng sử dụng các tượng trưng, ước lệ, ẩn dụ, so sánh… nhằm làm cho hình ảnh thơ

ca thêm sinh động, phong phú Song, khác các loại hình thơ ca khác, thơ thiền đã đem đến cho tượng trưng, uớc lệ, ẩn dụ, so sánh những phẩm chất riêng biệt Tượng trưng ước lệ trong thơ ca Nho giáo thường hướng đến cái chung, hướng tới cộng đồng thẩm mỹ bằng những hình ảnh có sẵn theo qui ước như: tùng, cúc, trúc, mai, long, ly, quy, phượng…còn tượng trưng, ước lệ trong thơ thiền là những hình ảnh thẩm mỹ cá biệt Nó phong phú, sinh động vì đó là những hình ảnh tức thời, bộc phát mà họ bất ngờ nắm bắt được chứ không phải là hình ảnh đã chuẩn bị sẵn Nó làm nên cái đẹp của thơ thiền hay chính là cái đẹp của bản ngã riêng biệt từng thi sĩ Thi sĩ thiền mượn thiên nhiên để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, thể hiện bản

ngã của mình Cái bản ngã ấy của thi nhân có khi lại “vút cao trên một đỉnh núi, khi

trầm lắng dưới một dòng sông, khi vi vu trong tiếng tù và rúc gió, khi sảng khoái trong một tiếng kêu dài, khi lộng lẫy trên một sắc hoa, màu lá, khi trong trẻo trong tiếng oanh kêu, quyến luyến trên cánh bướm, ấm áp khí dương xuân Hay êm đềm trên con thuyền của ngư ông giữa trời nước mênh mông, phẳng lặng…” [18, 65]

1.3 M ỘT SỐ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VÀ

PH ẬT GIÁO THIỀN TÔNG THỜI LÝ - TRẦN

1.3.1 M ột số triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo

Thơ thiền là dòng văn học được viết dưới ánh sáng của tư tưởng triết lý Phật giáo Thiền tông Để hiểu được giá trị nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần thiết nghĩ không thể không tìm hiểu một số triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo Thiền tông như là một cơ sở tư tưởng nền tảng

Theo từ điển Tiếng việt (1)

, Nhân sinh ( ) hiểu theo nghĩa chiết tự từng từ tố:

“Nhân” là người, “sinh” là sự sống “Nhân sinh” là sự sống của con người Trong văn học nghệ thuật, xuất hiện hai xu hướng: “nghệ thuật vị nhân sinh” – chủ trương nghệ thuật phải gắn liền với đời sống xã hội, phải phục vụ con người và “nghệ thuật

(1) Nhiều tác giả, Từ điển Tiếng việt, NXB Khoa học xã hội, HN, 1988; (2) Đào Duy Anh, Từ điển Hán –

Việt, NXB TP.HCM,1989

Trang 35

vị nghệ thuật” – chủ trương người nghệ sĩ sáng tác vì nghệ thuật đơn thuần tức vì cảm hứng bản thân mà sáng tác chứ không phải sáng tác vì xã hội và con người Từ

đó, chúng ta có khái niệm về “nhân sinh quan” là “quan niệm thành một hệ thống về

cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích sống của con người”

Theo từ điển Hán - Việt (2)

, “Nhân sinh” chính là đời người “Nhân sinh nghệ thuật chủ nghĩa” là “cái thuyết chủ trương cho nghệ thuật phải lấy nhân sinh làm mục đích” Từ đó, dẫn đến khái niệm: “nhân sinh quan” chính là “cái quan niệm của

người ta đối với đời người Cái cách người ta xem đời người như thế nào”

Theo q uan niệm của người viết, “nhân sinh” chính là quan niệm về cuộc

sống, sự sống tồn tại xung quanh con người Đây là phạm trù thiên về khía cạnh triết lý, phân biệt với các khía cạnh khác như khía cạnh đạo đức (nhân đạo), khía cạnh văn hóa (nhân văn) “Giá trị nhân sinh” là giá trị về sự sống của con người Giá trị ấy thể hiện ở những phương diện tích cực của một quan niệm sống nhằm hướng đến một cuộc sống có ý nghĩa Con người đứng trên quan điểm - triết lý sống

ấy mà mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời, cho cuộc sống con người

Thơ thiền còn được gọi là thơ nhà chùa, mang đậm tư tưởng của triết lý Phật giáo Thiền tông Đây là cơ sở để đi đến khẳng định rằng: quan niệm của con người

về cuộc sống, về sự sống chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc và toàn diện quan niệm nhân sinh của Phật giáo Thiền tông Từ đó, Giá trị nhân sinh thể hiện rõ nét trong tư tưởng và hành động sống tích cực của các thiền sư, trong các hình tượng thơ ca về thiên nhiên, về cuộc sống và con người Đây cũng chính là trọng tâm của đề tài sẽ được làm rõ ở phần sau

Theo quan niệm của Phật giáo, mỗi một tôn giáo đều có một quan niệm

riêng về triết lý nhân sinh Đạo Phật - với tư cách là một tôn giáo - học thuyết lớn,

có ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới cũng đã có một giáo lý đồ sộ về nhân sinh của mình Đi sâu vào triết lý nhân sinh Phật giáo là một công việc của một nhà Phật học, của mỗi một phật tử vì đây là phần rất quan trọng của bất cứ một tôn giáo, một triết học nào Vì thế, ta không thể không đề cập tới một số triết lý nhân sinh cơ bản

Trang 36

Phật giáo vì từ các triết lý này, mọi vấn đề xảy ra với con người đều được giải thích tường tận

Thuyết nhân quả (nghĩa gốc là hạt - trái): có ý nghĩa là trồng hạt nào thì cho

quả ấy, không thể có một sự việc phát sinh mà không do một hoặc nhiều nguyên nhân nào đó tác động đến Có lẽ, những quan niệm “gieo nhân nào gặt quả ấy”,

“gieo gió gặt bão”, “ở hiền gặp lành”…của ông cha ta có sự tương đồng rất lớn, thậm chí có điểm xuất phát từ triết lý này của đạo Phật Từ đó, mọi khổ đau vui buồn của con người đều được đức Phật giải thích: “Hãy xem kiếp này ta có được những gì để biết kiếp trước ta đã làm gì, và hãy xem kiếp này ta đã làm gì để biết kiếp sau ta được những gì” Nghĩa là việc thiện ác ta làm trong hiện tại sẽ cho những quả báo tương ứng ở tương lai

Bổ sung hoàn chỉnh cho thuyết nhân quả là thuyết thập nhị nhân duyên (12

nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử) Thập nhị nhân duyên được xem là những yếu tố có vai trò tác động để nhân trở thành quả, giống như những yếu tố đất, nước, ánh sáng, gió, khí hậu…tác động đến hạt giống để hạt giống đó biến thành cây trái Và thập nhị nhân duyên là yếu tố đóng vai trò như một nguyên nhân để giải thích vì sao một hạt có thể cho nhiều quả

và ngược lại, có khi hạt giống đó chẳng cho quả nào

Nhắc đến Phật giáo không thể không nhắc đến thuyết luân hồi Nếu Nho

giáo và Đạo giáo ít đề cập đến việc sống chết của con người, có hay không thế giới bên kia nào đó tồn tại xung quanh cuộc sống con người…thì Phật giáo đã giải thích khá cặn kẽ vấn đề này thông qua thuyết luân hồi Luân hồi (luân: bánh xe, hồi: trở lại): được mô tả giống như vòng quay của bánh xe, hết vòng này đến vòng khác Triết lý này chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết - bàn Theo đạo Phật, kiếp sống hiện tại như một mắc xích mà hai đầu dây xích không thể nào xác định được vì nó

là vô thuỷ vô chung Ở mỗi mắc xích đó, con người sẽ mang một thân xác nhất định tuỳ theo tội lỗi hay phước đức mình gây tạo, còn nếu nghiệp lực gây tạo quá nặng

Trang 37

nề thì thần thức sẽ sinh về cảnh giới tương ứng để chịu quả báo Do đó, chúng sinh

sẽ luân hồi mãi nếu không tu hành cầu giải thoát

Thuyết vạn pháp giai không có nguồn gốc từ kinh Bát Nhã Theo kinh này,

tất cả mọi sự vật, sự việc đã, đang và sẽ tới; mọi thứ hữu hình, ngay chính thân mạng này, bản thể này… cũng đều “không” hết Đây không có nghĩa là cái “không” kiểu hư vô chủ nghĩa mà là cái “chân không diệu hữu”, nghĩa là cái không chân thật nhất chính là cái có vi diệu, “không thể nghĩ bàn” Do đó, đạo Phật chủ trương tu hành để trở về cái không chân thật đó, nhờ vậy mới mong được giải thoát

Tồn tại bên cạnh thuyết vạn pháp giai không, thuyết vạn vật vô thường có ý

nghĩa bổ sung hoàn chỉnh, làm rõ hơn cho những vấn đề dễ hiểu sai của học thuyết này Vạn vật vô thường có nghĩa là mọi thứ đều luôn vận động biến đổi vô cùng, không có sự vật nào là trường tồn, bất biến, miên viễn Do đó, mọi sự vật đều không phải là cái hằng thường, hay thực chất là không tồn tại Đạo Phật chủ trương tu hành giác ngộ bản thể, trở về với cái hằng thường bất biến sẵn có trong mỗi con người, vượt ra khỏi cảm thức và ràng buộc về không gian và thời gian trong kiếp sống hiện tại

1.3.2 Ph ật giáo Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần

Trên đây là những triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo nói chung làm nền tảng tư tưởng và đường lối tu hành cho những nhà sư và cư sĩ cầu đạo Các học thuyết đó du nhập vào nước ta khá trọn vẹn và dễ dàng hoà hợp với văn hoá tư tưởng và tập quán của người Việt Thiền tông Việt Nam cũng tiếp thu đầy đủ hệ thống tư tưởng này, biểu hiện nổi trội nhất là ở hai thuyết: Vạn pháp giai không và

Vạn vật vô thường Các nhà sư thời Lý - Trần dường như gạt ra ngoài những quan niệm rối rắm về nhân quả, luân hồi, thập nhị nhân duyên mà chú trọng ở việc giác ngộ lẽ vô thường của vạn vật để trở về với cái bản thể “chân không diệu hữu” sẵn

có trong mỗi con người và cảm nhận được những giây phút giác ngộ thiêng liêng Điều đó chứng tỏ quan niệm nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần chịu ảnh hưởng của quan niệm nhân sinh Phật giáo Tuy nhiên, để có được một quan niệm nhân sinh

Trang 38

tươi sáng, tích cực phải xuất phát từ nhiều yếu tố chứ không đơn thuần là bản thân nội tại của thế giới quan Phật giáo Chúng ta thấy tông phái tiếp nhận tinh thần này chính là Thiền tông Việt Nam Đây lại là một đạo thiền đầy sức sống Thành quả đó

có được là do hai tư tưởng cơ bản của Thiền học Việt Nam thời kỳ này mang lại

Thứ nhất là tư tưởng “Hoà quang đồng trần” (tức hòa cùng ánh sáng, lẫn

cùng bụi bặm) Triết học Phật giáo Thiền Tông Việt Nam thời Lý - Trần mà tiêu biểu là “thiền ba phái” ở thời Lý, “thiền một phái” ở đời Trần và sau đó là “thiền phục hưng” thời Lê - Nguyễn đều lấy tư tưởng trên làm cơ sở chi phối đến hành động sống của người tu hành trong thời kỳ này Một đặc điểm nổi bật của tư tưởng này là quan điểm sống “tùy tục” Quan điểm này làm cho người tu hành không câu chấp ở những giáo lý gò bó, những công thức, nguyên tắc của các giới luật mà hành đạo và đạt đạo trong tinh thần tự do, tự tại, tự lực, tự cường nên Thiền học Việt Nam không xa rời thực tiễn, không quay lưng lại với cuộc đời mà trái lại vào đời hành đạo một cách tích cực Đó là một đạo thiền đầy sức sống, mang bản sắc văn hóa riêng nên Phật giáo trong thời kì này không phải là thứ thuốc phiện ru ngủ mà trở thành thuốc bổ, nuôi dưỡng tâm hồn con người trong cố kết cộng đồng, trong chống xâm lược, xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho có “quá nửa dân trong nước

đi tu”, song lại là chống xâm lăng vẻ vang và xây dựng tổ quốc hào hùng như thời đại Lý - Trần là một minh chứng tiêu biểu Nhìn chung, Thiền nhưng đã đi vào đời sống, phản ánh đời sống, phục vụ đời sống Tư tưởng trên dẫn đến những kết quả

mà nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận Thơ thiền Việt Nam –

những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999)

đã chỉ ra như: Sự nhập thế của các nhà sư (tiêu biểu là các tín đồ Phật giáo đời Lý);

sự tùy tục trong đời sống đạo (giúp cho nhà tu hành có điều kiện gắn bó với tổ quốc

và nhân dân) hay tạo nên những tác phẩm nghệ thuật vừa siêu thoát, bay bổng, vừa hiện thực trần thế (thơ thiền)

Thứ hai là tinh thần “tam giáo đồng nguyên” Tinh thần ấy biểu hiện cụ

thể ở những phương diện sau:

Trang 39

 Sự hội nhập của Phật giáo và Đạo giáo: Ở đấy, tư tưởng “phóng nhiệm” của Đạo học đã hội nhập với tư tưởng “hoà quang đồng trần”, với quan điểm “ưng

vô sở trụ nhi sinh kì tâm” của Phật giáo tạo nên một thái độ thẩm mỹ và một thế giới quan độc đáo của con người thời quá khứ trong nhìn nhận và giải minh thế giới Thực tế lịch sử đã có những nhà sư vừa tu Phật, vừa tu Đạo như: Dương Không Lộ, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Hiện Quang…Thơ ca của họ vừa

mang màu sắc thiền, vừa có hình bóng Đạo giáo Bài thơ Tán Giác Hải thiền sư

thông h uyền đạo nhân đã thể hiện khá rõ điều đó Ở đây, thần tiên với Phật cùng

sống bên nhau, cùng được tôn trọng như nhau Trong bài thơ Truy tán Vạn Hạnh

thiền sư, Lý Nhân Tông cũng ca ngợi cái thông tuệ cả “tam tế” của Vạn Hạnh, đó

cũng là sự thông tuệ cả “tam giáo” của nhà sư này

 Sự hội nhập Nho - Phật: Đây là sự hội nhập mang tính chất hiển nhiên, chúng ta biết rằng tất cả các thiền sư - thi sĩ đều học chữ nho, tiếp xúc với sách vở, văn hoá Nho giáo trước khi xuất gia tu hành Một bộ phận khá lớn các nhà tu hành

đã trải qua cuộc đời làm quan, làm nho sĩ, thậm chí có khi làm vua Vì vậy, dấu ấn Nho giáo tất yếu xâm nhập vào trong thơ thiền của họ Biểu hiện ở đây trước hết là truyền thống thi ca nói chí, ghi tình, miêu tả thiên nhiên hay đời sống đạo, vốn là thói quen trước thuật của nhà nho Ta cũng thấy ở đây những giá trị thiết thực, cụ thể, đới tục của quan niệm Nho giáo trong nhiều bài thơ nói về đời sống Phật giáo

Và đặc biệt trong rất nhiều bài thơ thiền, các thi sĩ thiền đã sử dụng rộng rãi các điển tích, điển cố, các hình ảnh, từ ngữ, những nhân vật, sự kiện, những so sánh ẩn

dụ, tượng trưng … có nguồn gốc trong các sách vở Nho gia và quen thuộc với mỹ học Nho giáo

Qua đây, một lần nữa chứng minh sự rung cảm thẩm mỹ tương hợp với thơ

ca của các nhà Nho hay các Đạo gia Điều đáng quý ở đây là con người thời quá khứ đã rất có ý thức bằng sáng tạo nghệ thuật, cố gắng đưa các tư tưởng tôn giáo, triết học rất khác nhau này tiến xích lại gần nhau trong tinh thần hoà hợp tôn giáo, hoà hợp dân tộc, thống nhất cộng đồng, để xây dựng một nền văn học nghệ thuật của chung cho mọi người

Trang 40

Tóm lại, Phật giáo truyền vào Việt Nam như một hạt giống gặp mảnh đất

màu mỡ, thích hợp nên đã nảy nở và phát triển nhanh chóng mà cao điểm là Phật giáo Thiền tông Lý - Trần và quan niệm nhân sinh của Phật giáo thật sự có ý nghĩa tích cực khi đó là quan niệm nhân sinh của triết lý Phật giáo Thiền tông thời Lý – Trần

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w