1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ernest hemingway và erich maria remarque những tương đồng và khác biệt trong cách nhìn đại chiến thứ i qua tiểu thuyết

96 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết nghĩ, việc nghiên cứu so sánh hai nhà văn và tác phẩm của họ dưới góc độ về cách nhìn Đại chiến thứ nhất qua tiểu thuyết cũng là một vấn đề thiết thực đối với quá trình nghiên cứu

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Th ị Hoa

ERNEST HEMINGWAY VÀ ERICH MARIA REMARQUE

NHÌN ĐẠI CHIẾN THỨ I QUA TIỂU THUYẾT

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2006

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành c ảm ơn các thầy cô đặc biệt là PGS Lương Duy Trung,

nh ững người thân và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình

th ực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi rất biết ơn TS Nguyễn Thị Anh Thảo, người đã không quản ngại khó khăn, tận tình hướng dẫn và động viên tôi về mọi mặt tinh thần cũng như những

ki ến thức quí báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn

TP H ồ Chí Minh: ngày l0 tháng 11 năm 2006

Người thực hiện luận văn

H ọc viên: Lê Thị Hoa

Trang 5

CHƯƠNG 3:CHIẾN TRANH VỚI NHỮNG GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG

VÀ ĐỜI SỐNG HẬU CHIẾN QUA LĂNG KÍNH NHÀ VĂN0T 56

Trang 6

M Ở ĐẦU

Ai đã đọc văn chương đầu thế kỉ hai mươi sẽ không thể nào quên một bộ phận văn học chống chiến tranh ở thời kì này mà đại diện tiểu biểu là Barbusse, Hemingway và Remarque Đặc biệt, Barbusse là nhà văn đã giương cao ngọn cờ hòa bình, chống chiến tranh đế quốc sớm nhất và có ảnh hưởng rộng lớn Hemingway, Remarque tiếp bước theo Barbusse càng làm cho dòng văn học này thếm phong phú, sâu sắc và đa giọng điệu Tác phẩm của họ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Chân lý luôn là sự vĩnh hằng Con người sinh ra có quyền được sống, yêu thương

và được yêu thương nhưng có những sự thực không hoàn toàn như vậy Có những thời

kì mà chiến tranh đế quốc đã tước đoạt của con người tất cả Đời sống chỉ là khổ đau

viết về Chiến tranh thế giới thứ nhất, người ta lại nhớ đến, Barbusse, Hemingway và Remarque

1.Lý do ch ọn đề tài

Chúng tôi chọn đề tài này vì những lí do sau:

Chiến tranh trong văn học là một vấn đề lớn và có nhiều ý nghĩa thời sự trong

bất cứ thời đại nào Đây cũng là một đề tài mà chúng tôi ấp ủ và thực sự quan tâm trên quá trình tiếp cận văn chương thế giới Ước mơ về một thế giới thanh bình, chúng tôi

nhận thấy việc chọn đề tài này cũng có ý nghĩa nhất định trong việc góp phần kêu gọi lòng yêu chuộng hòa bình và sự thức tỉnh lương tâm con người chống lại những cuộc

Trang 7

chiến tranh phi nghĩa trong tình hình thế giới hiện nay

Ernest Hemingway và Erich Maria Remarque là hai nhà văn lớn của nền văn học

thế giới hiện đại Họ đã có những tác phẩm văn học viết về chiến tranh và số phận con người đi qua cuộc chiến gây dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc trên toàn thế giới

Những tác phẩm ấy đại diện tiểu biểu cho một thời kì và một bộ phận văn học đầu thế

kỉ XX Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu văn chương đã quan tâm đến Heingway và Remarque Đặc biệt là Ernest Hemingway, nhà văn đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học của nhà trường Nhiều tác phẩm của Hemingway và Remarque

đã được dịch sang tiếng Việt và trở nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam

Chiến tranh luôn là vấn đề mang tính thời sự và nhạy cảm Châm dứt chiến tranh

là mơ ước của nhân loại Việc đóng góp tiếng nói của mình thống qua tác phẩm văn chương để chấm dứt chiến tranh là sự góp phần cao quí của các nhà văn Cho nên, tác

phẩm của Hemingway và Remarque đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học

khảo sát ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Thiết nghĩ, việc nghiên cứu so sánh hai nhà văn và tác phẩm của họ dưới góc độ về cách nhìn Đại chiến thứ nhất qua tiểu thuyết cũng là một vấn đề thiết thực đối với quá trình nghiên cứu hai nhà văn này

2.M ục đích yêu cầu

Từ những lí do trên, đề tài nghiên cứu tập trung vào những mục đích sau:

So sánh, đối chiếu những tác phẩm tiểu biểu của Hemingway và Remarque để xác định tinh thần chung mang tính khái quát của một bộ phận văn học thế giới đầu

thế kỉ hai mươi Đó là tinh thần chống chiến đế quốc phi nghĩa và phi nhân bản

Thống qua việc khảo sát tác phẩm, quá trình nghiên cứu sẽ xác tranh định thái

độ, cách nhìn nhận Đại chiến thứ nhất của Hemingway và Remarque Từ đó, đề tài

khẳng định tiểu thuyết của họ có những điểm giống và khác nhau như thế nào về nội dung, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật Đồng thời, luận văn cũng khẳng định tài năng và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn, cho thấy Hemingway và Remarque đã có

những cống hiến cho văn chương thế giới

Cuối cùng, quá trình nghiên cứu đề tài sẽ tạo điêu kiện thuận lợi cho sự cảm

nhận cái hay, giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của mỗi tác phẩm càng thếm sâu

Trang 8

sắc Bởi vì, không có gì phong phú và sinh động bằng việc tìm hiểu, bình giá những

sự việc và hiện tượng bằng cách đặt sự vật, hiện tượng này bên cạnh một sự vật, hiện tượng khác trong mối quan hệ đối sánh, soi chiếu vào nhau Qua đó, những phẩm

chất, giá trị, cái hay và cái đẹp của tác phẩm tự chúng sẽ bộc lộ rõ nét, làm cho việc

nhận thức càng trở nên sâu sắc thống qua hình thức nghiên cứu so sánh văn chương

3.L ịch sử vấn đề

Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đi sâu vào

việc so sánh Hemingway và Remarque trong cách nhìn về Thế chiến thứ nhất ở thể

loại tiểu thuyết Rải rác đây đó, trong những công trình nghiên cứu riêng về mỗi nhà văn và tác phẩm, các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn chung, sự đánh giá sơ bộ cũng như là nhận xét về tiểu thuyết chiến tranh của hai nhà văn này Người ta thường đặt Hemingway bên cạnh Remarque và ngược lại

Carlos Baker, trong công trình nghiên cứu Ernest Hemingway: A Life Story, mục

A Farewell To Arms (tr 1929), đã đặt hai quyển tiểu thuyết A Farewell To Arms và

ALL Quiet On The Westem Front ngang tầm nhau trong việc so sánh mức độ quan tâm

của độc giả đối với tác phẩm văn học ở đề tài chiến tranh thế giới thứ nhất

Công trình nghiên cứu tác giả: Hemingway của Kenneths Lynn (tr 385-386), nhà

nghiên cứu này cho rằng ý định của Hemingway và Remarque là hoàn toàn khác nhau khi viết hai quyển tiểu thuyết về Thế chiến ì Ý định của Remarque trong ALL Quiet

On The Western Front là trình bày số phận của một thế hệ những người lính trẻ tuôi Hemingway thì rất khác Câu chuyện mà ông kế trong A Farewell To Arms không

thực sự là một câu chuyện chiến tranh mà rõ ràng, nó nghiên cứu về sự đào ngũ, sự tách rời lớn khỏi cuộc sống Ý kiến này không hoàn toàn xác đáng Nó chỉ đúng một

phần, một khía cạnh nào đó khi người ta mệt mỏi và chán chường sẽ có ý định từ bỏ

và tách rời Nhưng điêu cơ bản nhà văn muôn nói không hoàn toàn như vậy Sẽ không

đúng nêu như nói A Farewell To Arms không thực sự là một câu chuyện về chiến

tranh Đề cập đến sự khác nhau trong ý định của hai nhà văn khi viết thì sẽ dân đen

những lí giải về sự khác nhau trong cách nhìn của họ là một điều chắc chắn

Còn Maxwell Geismar trong Writers In Crisis (tr 43-45) đã chỉ ra sự khác nhau

ữa Hemingway với Remarque về việc khẳng định cú sốc chiến tranh trong tác phẩm

Trang 9

Remarque nhấn mạnh những cố gắng thuộc tính người một cách có hiệu quả nhiều hơn là Hemingway với sự chấp nhận cứng nhắc đối với tai họa ảnh hưởng lên nghị lực con người Từ đó dẫn đến nghi ngờ tính không thể tránh được trong bối cảnh của Hemingway Ở đây nhà nghiên cứu chú ý đến phẩm chất của con người trong chiến tranh dưới sự nhìn nhận, thể hiện của nhà văn để diễn tả vấn đề sốc chiến tranh theo cách riêng của mỗi nhà văn

Đến James Dews ở The Language Of War, việc so sánh không phải ở khía cạnh

khác nhau nữa mà là sự giống nhau Đối với Hemingway lẫn Remarque, chiến tranh

đã bát đâu một sự khủng hoảng thuộc về ngữ nghĩa Sự khủng hoảng của ý nghĩa dựa trên sự mất niềm tin về khả năng hiệu quả của ngôn ngữ để liên hệ và can thiệp vào

thế giới thực tại hữu hình Nói chung cách nhìn của hai nhà văn này là chính thực tại chiến tranh và sự bạo tàn của nó đã làm cho mọi thứ trở nên không bình thường Ngôn

ngữ cũng thất bại hoàn toàn và trở nên vô nghĩa trong khả năng diễn đạt của nó Ý

kiến này là hoàn toàn xác đáng Khi tiếp cận tác phẩm cụ thể ở từng chi tiết, chúng ta

sẽ thấy rõ vấn đề

Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu có quan tâm đến Hemingway và Remarque dưới góc độ so sánh về đề tài chiến tranh nhưng chỉ là một sự nhắc đến khi nhân tiện bàn về vấn đề chiến tranh trong văn học Cụ thể là Lê Đình Cúc với luận án tiến sĩ

Ti ểu Thuyết Viết Về Chiến Tranh Của Hemingway Nhà nghiên cứu này cho rằng, Mặt

Tr ời Vẫn Mọc (1926) là tác phẩm mở đầu cho một xu hướng mới viết về "thế hệ vứt

đi" Sau nó là tiếp đến một loạt những nhà văn tiểu biểu của những năm hai mươi, ba mươi trong đó có Remarque Tác phẩm của họ phản ánh sự chua chất, cay đắng của cả

một thế hệ thanh niên bị chiến tranh thế giới nghiền nát Họ là nạn nhân và đã bị làm

vật hi sinh trong một cuộc chiến tranh bẩn thỉu (tr.37) Theo Lê Đình Cúc, tác phẩm này không trực tiếp phản ánh sự tàn khóc của chiến tranh như Phía Tây Không Có Gì

L ạ của Remarque nhưng tính chất bi thảm và tác động tiểu cực của chiến tranh vẫn

bao trùm lên số phận của tất cả các nhân vật

Tuy nhiên, với Giã Từ Vũ Khí, Hemingway miêu tả sự tàn khốc và phi lí của

chiến tranh không theo phong cách của Remarque mà tập trung viết sự phi lí của nó được thể hiện qua ý thức và tâm lí của những hình tượng nhân vật chính với những chi

Trang 10

tiết hài hòa Từ đầu đến cuối tác phẩm, người đọc không thấy diện mạo phía "địch",

đối phương của Henry Trong khi đó, ở Phía Tây Không Có Gì Lạ của Remarque sự

tàn khốc của chiến tranh được tác giả chú ý miêu tả ở những hành động và sự ác liệt

của chiến trường, cả một thế hệ thanh niên nước Đức bị đẩy ra làm bia đỡ đạn cho túi

tiền của bọn chủ tư bản Sự sụp đổ tinh thần của những người lính Đức song song với

tốc độ của chiến tranh Điểm giống nhau là, tác phẩm của Hemingway và Remarque đều nói về cuộc chiến tranh không có đối thủ, không có quân địch và không có anh hùng Ý kiến của Lê Đình Cúc rất đáng được chú ý khi nghiên cứu so sánh hai nhà văn này

Trong công trình Văn Học Phương Tây, bài về tác giả Ernest Hemingway, Đặng

Anh Đào khẳng định có một mạch nôi giữa Hemingway với nhiều nhà văn khác sau Đại chiến thứ nhất trong đó có Remarque ở Đức Đối lập với cái phi lí của chiến tranh,

của những quan hệ cách biệt, là tình bạn, tình hữu ái, tình yêu Mô típ này nổi lên như một ốc đảo giữa sa mạc cháy bỏng của chiến tranh, rồi ảo ảnh tình yêu tan vỡ,

những kết thúc không có hậu đều là những dấu hiệu quen thuộc của nhiều tác phẩm

hiện thực chủ nghĩa thời kì này Như vậy, Đặng Anh Đào đã khẳng định có một sự tương đồng đáng kể giữa Hemingway và Remarque trong đề tài chiến tranh và một số

mô típ quen thuộc trong sáng tác của hai nhà văn

Cũng là một sự nghiên cứu so sánh giữa Hemingway và Remarque, bài Sự Tham

D ự Của Nhà Văn Trong Chiến Tranh ở công trình nghiên cứu Ngoài Trời Lại Có Mặt

Tr ời, Vương Trí Nhàn nhận xét rằng cái để lại sâu sắc trong tác phẩm của Hemingway

không phải là những vết thương vật chất mà là những vết thương "trong cõi tinh thần" Ông đã diễn tả tâm trạng cá nhân mà cũng là tâm trạng của những người đương thời

rất thành công trong hai cuốn tiểu thuyết xuất sắc Mặt Trời vẫn Mọc và Giã Từ Vũ

Khí Cũng như Hemingway, Remarque ở Phía Tây Không Có Gì Lạ đã tự nhận mình

"muốn viết về một thế hệ bị chiến tranh giết, tức viết về những người trở thành vật hi sinh, ngay cả khi họ tránh được những loạt đại bác" Theo Vương Trí Nhàn, trong văn

học phương Tây thời kì này mà đặc biệt là ở Phía Tây Không Có Gì Lạ của

Remarque, hình ảnh con người đối mặt với chiến tranh chủ yếu ở dạng nạn nhân, bị chiến tranh làm biến dạng mọi vui buồn, yêu thích, còn hay mất chẳng có ý nghĩa gì

Trang 11

Ngược lại, Hemingway đưa ra hình ảnh con người trong chiến tranh khác hẳn Mặc dù rơi vào hoàn cảnh bi đát nhưng các nhân vật thích nhìn thăng vào chiến tranh, nhận xét và xét đoán về nó Trong khi diên tả những hoài nghi và chán chường của "thế hệ

vứt đi", Hemingway và nhân vật của ông đều không buông trôi Ngoài ra, nhà nghiên

cứu này cũng ghi nhận rằng văn Hemingway rất chậm, có tác dụng giúp chúng ta nhìn

những sự vật đơn giản như phút ban đầu, thức tỉnh tình yêu đối với cuộc sống và Remarque cũng đã làm theo kiểu như vậy

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu có so sánh Hemingway và Remaque trong cách hai nhà văn viết về chiến tranh Song sự đề cập chỉ là những ý kiên thoáng qua, nhân

tiện khi nghiên cứu những vấn đề khác chứ hoàn toàn chưa có một công trình nghiên

cứu chuyên sâu cụ thể vào so sánh cách nhìn Thế chiến I trong tiểu thuyết của hai nhà văn Những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm là: mục đích viết tiểu thuyết chiến tranh của hai nhà văn, cách họ khẳng định cú sốc chiến tranh, ảnh hưởng của nó đến ngôn ngữ hay đề tài chiến tranh và các mô tip

Một cách cụ thể và có hệ thống hơn, luận văn sẽ đề cập đến sự tương đông khác

biệt trong cách nhìn của hai nhà văn Hemingway và Remarque về Thế chiến I thế hiện trên nhiều lĩnh vực: bôi cảnh chiến trường Đại chiến I, con người trong và sau cuộc chiến, ảnh hưởng của chiến tranh đối với những giá trị tinh thần và vật chất cũng như đời sống tình cảm con người Chính vì vậy, luận văn sẽ tiến hành khảo sát sâu hơn vấn

đề cách nhìn Chiến tranh thế giới lân thứ nhất của hai nhà văn Cách nhìn ấy không

chỉ xuất hiện trong các tác phẩm viết trực tiếp về chiến tranh mà cả ở những tác phẩm

đề cập đến ảnh hưởng của chiến tranh trên đời sống hậu chiến Từ đó, luận văn làm rõ cách nhìn của hai nhà văn đối với vấn đề này thống qua những điểm tương đồng và khác biệt giữa họ

4.Ph ạm vi nghiên cứu

Đề tài sẽ được tiến hành trong phạm vi khảo sát bốn tiểu thuyết có liên quan đến

Thế chiến thứ nhất ở nhiều khía cạnh khác nhau Đó là các tác phẩm Giã Từ Vũ Khỉ,

M ặt Trời Vẫn Mọc (Hemingway) và Phía Tây Không Có Gì Lạ, Ba Người Bạn (Remarque)

Bên cạnh bốn tác phẩm nói trên, phạm vi nghiên cứu còn được tiên hành trên các

Trang 12

công trình nghiên cứu, sách, báo có liên quan đến vấn đề chiến tranh trong tiểu thuyết của Hemingway và Remarque

5.Phương pháp nghiên cứu

Từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đã thực hiện đề tài với sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau Đặc

biệt, đề tài có liên quan đến một số phương pháp chủ yếu sau:

• Phương pháp loại hình Do đề tài thuộc lĩnh vực so sánh những hiện tượng văn

học tương đồng và tính khát quát quốc tế của chúng mà cụ thế là các tiểu thuyết của Hemingway, Remarque cho nên việc sử dụng phương pháp loại hình là rất thích hợp Phương pháp này giúp cho việc xác định tính cộng đồng của các tác phẩm cụ thể dựa vào mô tip để phân chia hệ thống những đối tượng và nhóm họp chúng lại Ngoài ra, phương pháp loại hình còn phù hợp để đi tìm sự khác biệt

• Phương pháp hệ thống

Xem các tác phẩm của Hemingway, Remarque như là những hệ thống Phương pháp này chú ý tới các quan hệ phân cấp và quan hệ nhân quả Quan hệ nhân quả sẽ chi phối ở phạm vi một hệ thống các tác phẩm cụ thể của hai nhà văn và chi phối giữa

hệ thống này với hệ thống khác Bốn tiểu thuyết sẽ còn được xem xét trong mối quan

hệ nhân quả với hệ thống xã hội, văn học, nghệ thuật

• Phương pháp xã hội học

Kết họp phương pháp này, đề tài sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa Hemingway, Remarque với xã hội, giữa xã hội với tác phẩm Chú trọng mối quan hệ xã hội, nhà văn - tác phẩm Từ đó, khảo sát quá trình hình thành cách nhìn của nhà văn đối với

cuộc chiến mà họ đề cập đến trong tiểu thuyết

• Phương pháp tâm lí học

Áp dụng vào lĩnh vực tâm lí học sáng tác đề nghiên cứu so sánh nghệ thuật xây

dựng tác phẩm về mặt tâm lí đối với bốn tiểu thuyết của Hemingway và Remarque Đặc biệt là vận dụng phương pháp phân tích tâm lí nhân vật đề từ đó làm rõ các hiện tượng thế hiện quan niệm, cách nhìn của nhà văn trước hiện thực chiến tranh

Trang 13

ra những nét đặc thù trong cách nhìn của hai nhà văn

6.Đóng góp của luận văn

Sự ứng dụng văn học so sánh trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam cũng còn tương đối mới mẽ, đặc biệt là hình thức nghiên cứu so sánh loại hình Với đề tài này, người viết hy vọng sẽ góp một phân tiếng nói, cách thức riêng của mình trong quá trình tiếp cận văn chương thế giới nói chung và việc nghiên cứu hai nhà văn Hemingway, Remarque nói riêng

7.C ấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, mục lục, phụ lục và thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơn ác mộng của chiến trường Đại chiến I

Giới thiệu cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 Từ sau chiến tranh, xuất hiện

một thế hệ mất mát, lạc lõng Hemingway và Remarque là hai đại diện tiểu biểu của

thế hệ này Tuy nhiên, cuộc đời và văn chương của họ có nhiều yếu tố tích cực và tiến

bộ

Chương 2: Cách nhìn Đại chiến thứ I trong tiểu thuyết của E Hemingway và E

M Remarque

Trang 14

Tập trung khảo sát cảnh tượng đời sống chiến tranh và bi kịch của nó trong cách nhìn của Hemingway và Remarque đề xác định sự giống và khác nhau giữa họ về vấn

đề này

Chương 3: Chiến tranh với những giá trị thiêng liêng và đời sống thời hậu chiến qua lăng kính nhà văn

Khảo sát sự đảo lộn các giá trị tinh thần bị gây ra bởi chiến tranh đồng thời tìm

hiểu cách nhìn của hai nhà văn về những hậu quả mà chiến tranh đã để lại một cách

nặng nề lên đời sống con người thời hậu chiến Đối sánh sự giống và khác nhau thống qua cách nhìn đó

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠN ÁC MỘNG CỦA CHIẾN TRƯỜNG ĐẠI

1.1 Chiến tranh thế giói lần thứ nhất

Thế chiến I diễn ra từ năm 1914 đến năm 1918 Đây là cuộc chiến tranh thế giới đầu tiên nổ ra trong phạm vi rộng lớn, lôi kéo tất cả các nước tư bản chủ yếu tham gia Chiến tranh bùng nổ là kết quả tất yếu của qui luật phát triển không đều giữa các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhiều nước tư

bản phát triển sớm đã "yên vị" ở những thuộc địa lớn, thế giới gần như đã chia xong Trong lúc đó, một số nước tuy đi vào con đường tư bản chủ nghĩa muộn hơn, nhưng

do biết phát huy lợi thế riêng của mình và biết đón đầu tận dụng những thành tựu khoa

học kĩ thuật nên đã có những bước phát triển vượt qua các nước tư bản già cỗi Kinh

tế phát triển, những nước này cần có thị trường đề thu mua nguyên liệu và tiêu thụ sản

phẩm, mà thị trường thế giới đã bị chiếm hết Mâu thuẫn gay gắt giữa những nước tư

bản với nhau là không tránh khỏi Chiến tranh tất yếu sẽ bùng nổ, mà những khúc dạo đầu đã lẻ tẻ diễn ra từ cuối thế kỉ XIX và những năm đầu của thế kỉ XX: Chiến tranh

Mĩ - Tây Ban Nha (1898), Chiến tranh Anh -Bôơ (1899 - 1902), Chiến tranh Nga -

Nhật (1904 - 1905) Châu Âu đã hình thành hai khối tư bản một bên là Anh, Pháp, Nga, sau này thếm Nhật và Italia gọi là phe hiệp ước, và một bên là Đức, Áo - Hung, sau thếm Thổ Nhĩ Kì và Bulgaria gọi là phe liên minh Cả hai phe đều ráo riết chuẩn

bị chiến tranh với những mục đích riêng của mình và chờ có cớ phát động chiến tranh

Với sự kiện Thái tử Áo, Franscois Ferdinand bị ám sát tại Sarajevo (Bosnia),

mặc dù Serbia đã chấp thuận hầu hết các điều kiện trong tối hậu thư, nhưng Áo - Hung

vẫn tuyên chiến với Serbia vào ngày 28-7-1914 Sự kiện này đã lôi kéo các nước thuộc hai phe vào cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã nổ ra và kéo dài đến tháng 11-1918 với sự thất bại hoàn toàn của phe liên minh

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là một cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa do các nước đế quốc tiến hành, không chỉ với mục đích phân chia lại thị trương thế giới

mà giới cầm quyên các nước còn nhăm đánh lạc hướng sự chú ý của công nhân đến

Trang 16

những khủng hoảng kinh tế - chính trị ở trong nước, đàn áp giai cấp vô sản, chia rẽ phong trào công nhân, hạn chế sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới

Kể từ năm 1914, quân đội của các quốc gia châu Âu phải đương đầu với cuộc cách mạng kĩ thuật trên chiến trường Những vũ khí chưa được mang ra sử dụng trong

những thập kỉ trước đó - súng trường nạp đạn nhanh, súng máy, súng bắn đạn trái phá

hiện đại - mang lại cho người lính một hỏa lực ở mức độ chưa từng có trước đó và tạo

ra những vấn đề nan giải cho các tổ chức quân sự phương Tây Hơn thế nữa, trong khi chiến tranh xảy ra, thiết giáp, hơi độc, máy bay và một loạt những vũ khí mới dành cho bộ binh, khiến cho các vấn đề chiến thuật trở nên mờ mịt Cho nên hầu hết các sĩ quan thâm niên đều thấy rõ tính sát thương của những vũ khí hiện đại Tổn thất về nhân mạng do cuộc chiến gây ra là điều mà những người sống ở cuối thế kỉ XX khó

thế tưởng tượng nổi Anh quốc có khoảng 700 ngàn quân tử trận; các nước trong khối liên hiệp Anh mất 250 ngàn quân Tổn thất của Ỳ là 500 ngàn, Áo một triệu rưỡi Pháp 1 triệu 300 ngàn và Đức hai triệu quân Tỉ lệ tổn thất của Pháp, Nga, Anh, các

quốc gia trong khối liên hiệp Anh, Áo - Hung và Đức là từ 11 đến 17 phần trăm quân Serb 40 phần trăm, Thổ Nhĩ Kì 30 phần trăm, Romania và Bulgaria là 25 phần trăm

Chỉ có Hoa Kì là có tỉ lệ quân nhân tử trận dưới 5 phần trăm Khoảng 8,4 triệu người

đã chết trong các trận chiến, 7 triệu người bị tàn phế lâu dài và 15 triệu người bị thương nặng Đa số họ đang ở tuổi thanh xuân Chưa kể Nga, Châu Âu có hơn 5 triệu người phải chịu hậu quả chiến tranh như bệnh tật, nạn đói và thiếu thốn Hàng triệu người bị thương vong trong các cuộc đụng độ ở biên giới và bệnh dịch sau chiến tranh

Tổng số thương vong lên đến 60 triệu người, gần một nửa ở Nga, còn Pháp, Đức

và Ý cũng bị thiệt hại nặng nề Trong thảm họa đó, cái không thế đo lường được là nổi

thống khổ và sự xao động về tâm lí con người tác động mạnh mẽ vào đời sống gia đình và xã hội

Chiến tranh đã làm hao tổn sức người, sức của của các nước Để chuẩn bị cho chiến tranh, Đức, Áo - Hung đã chi phí hơn 4000 triệu mác, với 8 triệu quân được tập luyện bài bản Anh, Nga, Pháp còn chi phí nhiều hơn thế, khoảng 4760 triệu mác Chiến tranh thế giới thứ nhất đã lôi kéo 33 quốc gia tham chiến, với mức chi phí quân

Trang 17

sự trực tiếp là 208 tỉ đô la, 74 triệu người được huy động cho chiến tranh để kết cục là

có 8,4 triệu người bị chết trận

1.2 M ột thế hệ bước ra từ chiến tranh

Sau Thế chiến I, ngoại trừ Hoa Kì nổi lên như một siêu cường quốc thì các nước châu Au đã kiệt quệ hoàn toàn, nợ nần chồng chất bên cạnh khủng hoảng kinh tế và cách mạng đe dọa Chiến tranh đã làm lay chuyển những niềm hi vọng trong công

việc, về một châu Âu hòa bình và một thế giới phát triển của tự do, văn hóa, khoa

học

Có thế nói, Đại chiến I đã làm nảy sinh sự thất vọng, chán ngán của xã hội ở các

quốc gia Vấn đề được đặt ra là tại sao lại chiến tranh? Chủ nghĩa anh hùng qua đi trong bùn lầy của những chiến hào Người ta chỉ nhận thấy chiến tranh là vô nghĩa, sự

hi sinh là vô ích, các quốc gia tăng cường sản xuất sự hận thù và dối trá, thổi phồng chiến thắng, đè bẹp phe đối lập và động viên nhân lực

Chính vì vậy, sau Thế chiến I đã xảy ra sự thay đổi về tâm trạng Lí tưởng của con người như đã tàn lụi Con người trong xã hội trở nên mệt mỏi John Doss Passos

đã diễn tả ảo tưởng tan vỡ của Mỹ sau chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết Three

Soldiers ( Ba người lính - 1921) Người lính Mỹ trở về nhà bị chấn động và vĩnh viễn

thay đổi nên họ không bao giờ lấy lại được sự ngây thơ trong sáng của mình

Thế hệ trẻ phương Tây nổi loạn, giận dữ và vỡ mộng với cuộc chiến tàn khốc,

với thế hệ đi trước có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này và với những điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh Những trào lưu tri thức, đặc biệt là phân tâm học của Freud và chủ nghĩa Mác, hướng tới một thế giới quan vô thần đã góp phần vào cuộc

lật đổ những giá trị truyền thống

Trong thời đại đó, dân chúng luôn sống trong tâm trạng trống rỗng và phù phiếm Con người là một nhân vật sống sót trước những xáo trộn và cơn ác mộng trong một thế giới sụp đổ Các thanh niên trí thức thuộc về một thế hệ đã mất và không còn gì ngoài rượu chè và trai gái Hình ảnh của thập niên 1920 là thời kì của

những cuộc theo đuổi khoái lạc vô nghĩa Người ta không thích những khẩu hiệu của

cuộc chiến tranh đã làm cho tinh thần ái quốc và văn hóa xuống dốc

Trang 18

Mặc dù có vẻ ngoài sối động và hiện đại, giới trẻ thập niên 20 vẫn thuộc về "một

thế hệ lạc lõng" - cái tên dùng để chỉ một bộ phận trí thức, nghệ sĩ không chỉ của nước

Mỹ mà của cả châu Âu từ sau Đại chiến I Về nguồn gốc, họ là những nghệ sĩ, trí

thức, những thanh niên từ chiến tranh trở về, mang những chấn thương về tinh thần,

phủ nhận xã hội tư bản Đó là thế hệ thanh niên lớn lên vào những năm tháng của chiến tranh đề quốc Họ đi lính là làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước nhưng cũng mơ

hồ cảm thấy tính chất phi lí của cuộc chiến tranh này và những điều ngang trái khác trong xã hội Sự khủng hoảng tinh thần ngày càng trầm trọng thêm bám riết lấy những thanh niên chán chường, mệt mỏi từ mặt trận trở về Đó là những kẻ "chết ở tuổi 20" Thiếu cơ cấu truyền thống, bền vững về giá trị làm người, người ta đánh mất ý thức về

bản thân Một chỗ dựa gia đình; môi trường xã hội ổn định; ý thức yêu nước; những giá trị đạo đức và sự chiêm nghiệm cá nhân - tất cả những điều đó đã bị chiến tranh

thế giới thứ I và hậu quả của nó làm băng hoại

Thế hệ nhà văn trẻ sau Thế chiến I là những nhà văn có tham gia chiến tranh

hoặc có chứng kiến sự phá hoại tinh thần mà chiến tranh để lại Chiến tranh đã kéo theo sự sụp đổ của những lòng tin, nguyên tắc và quan niệm Nhiều thanh niên chiến đấu dũng cảm nhưng sau khi trở về họ bị vỡ mộng về nền văn minh và nhân loại

Những ai có hứng thú viết văn thì tác phẩm của họ tràn đầy một tinh thần bi quan sâu

sắc Họ không còn có lí tưởng, không thích tình cảm và chẳng buồn quan tâm đến các

vấn đề xã hội Sự đỗ vỡ lí tưởng và nhân cách con người đã tạo nên một "thế hệ vứt đi" (lost generation) trong văn học Con người thuộc "thế hệ vứt đi" không còn niềm tin vào những điều mà thế hệ đi trước đã tin tưởng Song, họ không tìm thấy được nguồn gốc hay nguyên tắc chỉ đạo để thay thế nhũng niềm tin đã dẫn lối cho thế hệ đi trước Những ước muốn của con người thuộc "thế hệ vứt đi" là một giấc mơ không có

thực Nhiều nhân vật của các nhà văn đều phát ngôn cho tư tưởng này Tự do tuyệt đối nhưng để làm gì thì không ai biết Các nhà văn hiện đại quan tâm đến cảnh ngộ của

những người mà sự tự giác trở thành bệnh hoạn và tự do chỉ là sự xấu hổ Cuộc sống

của họ không có mục đích và sự phẫn uất tạo nên thử thách ghê gớm hơn Nhà văn

"thế hệ vứt đi" là những người đã xây dựng nên những mẫu người đó bằng hình tượng văn học

Trang 19

Ngoài những ảnh hưởng kinh tế và chính trị, chiến tranh còn mang lại những ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người Đây cũng là thời kì con người thoát khỏi ảo tưởng Các nhà văn của "thế hệ mất mát" như:

Shenvood Anderson, J Dos Passos, G Stein, E Oneill, Fitzgerald đều sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị dưới ngọn cờ của Hemingway và trào lưu văn học này kéo dài đến cuối thế kỉ XX, lan tỏa sang văn học châu Âu Văn học nhuộm màu bi quan và thất vọng mà đại biểu là thanh niên trí thức trước sự bành trướng và suy đồi

của chủ nghĩa tư bản hiện rõ trong tiểu thuyết, kịch của các nhà văn "thế hệ vứt đi" Scott Fitzerald nói một câu về tâm trạng chung thời đó: "Chúng tôi đã chán ngán

những mục đích cao cả" Người ta chạy theo lối sống đạo đức giả và lố lăng Nhà phê bình có ảnh hưởng nhất trong thời này là Henry L Menken cho rằng đời sống con người là vô nghĩa lí, Sự tiến bộ, dân chủ và tôn giáo chỉ là những ảo vọng trẻ con Nhiều nhà văn của thời đại này đều cho rằng không còn hi vọng gì làm cho thế

giới này khả quan hơn Ái tình thì ngắn ngủi và sa đọa Con người là nạn nhân của số

mạng bạo tàn Trong thế giới hỗn mang như vậy, những cố gắng của con người không

thế chỉnh đốn được mọi việc Các nhà văn thuộc "thế hệ mất mát" không còn ảo tưởng nào về những hình ảnh tươi đẹp của đời sống Họ nhìn xã hội bằng con mắt ưu sầu Hemingway cho rằng không có gì làm cho người ta dễ bị xúc phạm hơn là cứ giữ mãi tâm hồn thơ mộng Ezra Pound viết trong cuốn Patria Mia rằng ông đã xa lánh sự tin tưởng ở một thế giới tươi đẹp, cũng như bà Gertrude Stein đã nói "Chính trị cộng bầu

cử cũng chẳng thay đổi được gì cả", nghĩa là cả hai đều không tin là chính trị có thể

tạo nên một thế giới tốt đẹp Vì có lập trường đó nên họ để hết tâm trí vào nghệ thuật, không màng đến tương lai, lãng quên đi quá khứ Họ là những người có uy tín đối với

một thế hệ đang hoang mang và mất cả phương hướng

Tinh thần bất mãn là luận đề của nhiều nhà văn trong thời kì sau chiến tranh Người ta quan niệm là nên chấp nhận mọi người với tính tình tự nhiên của họ chứ đừng trông mong họ sống một cách cao cả theo lí tưởng của truyền thống Những tư tưởng rối loạn hoang mang đó bao trùm phần lớn tâm trạng của nhiều văn sĩ Văn chương của các nhà tiểu thuyết này chìm đắm trong thất vọng với giọng điệu bi quan

và được diễn tả bằng một tinh thần rối loạn Các nhà văn này đều là những người cảm

Trang 20

thấy mất phương hướng trong đời sống tinh thần

Các nhà văn "thế hệ vứt đi" giữ vai trò chủ chốt trong văn học Mĩ và văn học phương Tây suốt cả thời hậu chiến và làm nên một diện mạo đặc thù của văn học với

những tiểu thuyết gia tiểu biểu như Faulkner, Fitzgerald, Passos

William Faulkner là một nhà văn hết sức bi quan Ông thích thú cái không bình thường và cái kinh khủng: cái chết bay lượn trên không, tiếng nói nhăng nhít của một tên ngu xuẩn, sự điên cuồng và giết chóc, sự hãm hiếp trong hoàn cảnh khủng khiếp

và suy sụp tinh thần Với nhà văn này, người ta bước vào giai đoạn đen tối nhất của văn học Mĩ Thế giới của ông rất đỗi suy tàn Faulkner thường diễn đạt vấn đề bằng

những cơn ác mộng Văn phong của ông có cái đẹp của phong phú và tôi tăm, hâu hét các sáng tác đều có ý nghĩa biểu tượng Song trừ một số trường hợp, sự thiên về

những cái tối nghĩa, thô lỗ, ma quái, nghịch lí và những cái bất ngờ không thể được xem là những giá trị Các sáng tác của Faulkner thấp thoáng màu sắc trừu tượng nhằm khai thác những mặt trái của lương tri Đó là một ý định rời bỏ những vấn đề đạo lí

hoặc không tính đến hiện tượng con người trong xã hội Đôi khi nhà văn chỉ xem xét

những vấn đề ấy một cách gián tiếp hoặc trừu tượng Tất nhiên tác phẩm của ông vẫn

có một ý nghĩa đạo đức và tính thống nhất Tác phẩm của ông kén chọn người đọc, đồ

sộ và kì quái Ở đó đầy tiếng động và cuồng nhiệt với sự phong phú về người và vật

lẫn lộn Trong sự phức tạp và hỗn độn có khi con người biến mất Thế giới là vô tận

nhưng không có trung tâm, mờ ảo và hư vô Đó là thứ văn chương ma quái và nhiều trang rất tối nghĩa vì hình thức quá cô đọng

John Dos Passos, một phần tác phẩm của ông là để nói về chiến tranh và hậu quả

của nó nhưng tác giả lại muốn tước bỏ tất ý nghĩa lớn lao của đó

Passos viết về cuộc chiến tranh của những kẻ buôn vũ khí và cuộc chiến tranh vô ích bởi vì sau đó là cuộc đấu tranh vì tiền lại bắt đầu, cảnh nghèo khổ, những người bị

áp bức, sự đàn áp dã man của cảnh sát, những cuộc bãi công thất bại Tất cả những

hiện tượng đó toát lên ân tượng về sự vô nghĩa của tất cả cuộc sống mà người ta không hiểu nguyên do Trong cách nhìn của nhà văn, sự xáo động của quân chúng hầu

hết là tiếng kêu la của những người say Tác giả không bình luận và giải thích gì

Chẳng hạn, với một cuộc đình chiến ông chỉ nhớ đã trông thấy một chiếc tắc xi hỏng

Trang 21

và những quán cà phê đầy khách thèm khát Nhà văn tố cáo sự xấu xa của xã hội tư

bản nhưng ông không hi vọng nó có thể được cải cách và có một cái gì tốt đẹp hơn sẽ đến Nhà văn mát lòng tin ở tất cả và mọi thứ đều không thế cứu vãn Từ sự tuyệt

vọng về xã hội, ông có quan niệm kì lạ về con người Con người như một sinh vật không tham gia vào cuộc sống của chính mình Do đó, các nhân vật của Passos giống như những người máy không vui, buồn, đau khổ Là nhà văn hiện thực, ông thấy

khắp nơi đau khổ nhưng từ chối không giải thích và bình luận Nhưng chứng kiên

những người cộng sản ở Tây Ban Nha và chủ nghĩa phát xít, con người cá nhân chủ nghĩa ấy đã tìm lại được niềm tin Khi có thiện cảm với cuộc sống gia đình và thoát

khỏi chủ nghĩa khách quan ông có phát biểu ý kiến riêng nhưng bao giờ cũng u buồn

và chán chính trị Passos là người chống đối chiến tranh và có lập trường tiến bộ trước thái độ bảo thủ của chính phủ Song trước những cải cách nhằm giảm bớt căng thẳng kinh tế thì ông lại phản ứng Mâu thuẫn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn ngày càng rõ ràng Ông tuyên bố chỉ tin tưởng và hi vọng ở cá nhân nhưng lại không miêu

tả một cá nhân nào có nhân cách và cuộc sống nội tâm Thời gian đầu, sáng tác của Passos thể hiện sự phủ nhận xã hội Mĩ với bộ ba tác phẩm tiểu biểu là U.S.A (1930-1936) Tuy nhiên, về cuối đời nhà văn thiên về sự chấp nhận bất đắc dĩ trước xã hội

F Scott Fitzgerald được tuyên truyền về lí tưởng, vinh quang và công bằng của

bộ quân phục nên đã gia nhập bộ binh Hoa Kì trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất Song thực tế từ chiến hào châu Âu và nước Mĩ cho thấy nhà văn đã sai lầm và sự háo

hức say mê binh nghiệp đổ vỡ Từ năm 25 tuổi nhà văn đã cảm thấy tấn bi kịch của

thế hệ mình đang đi vào chỗ trống rỗng sau khi đã phá bỏ các qui tắc cũ Bản thân Fitzgerald sau này đã trở thành một kẻ nát rượu và chết sớm Nhà văn gọi văn học mà ông khai sinh là văn học thời đại nhạc Jazz Thứ nhạc này về sau biến tướng dẫn đến khuynh hướng trụy lạc của cả thế hệ thanh niên Mĩ những năm 20 của thế kỉ XX Tiểu thuyết The Side of Paradise báo hiệu tiếng nói của giới trẻ Mỹ và châu Âu sau cuộc

chiến tranh đẫm máu 1914-1918 Nhà văn ghi lại tâm trạng hoài nghi, vô vọng, chán chường của cả "thế hệ vứt đi" bằng sự đập phá thác loạn, vô tổ chức, vô trách nhiệm Tình và tiền là đối tượng và mục tiểu của tuổi trẻ Tình yêu chân chính luôn bị đồng

tiền làm cho tàn lụi là chủ đề chính của tác phẩm và cũng là của đời sống thanh niên

Mĩ những năm 20 Cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông The Beautiful anh Damned tiếp

Trang 22

tục khám phá sự điên cuồng tự hủy hoại mình của con người thời đại ông Những

phẩm chất đặc biệt của Fitzgerald bao gôm một phong cách chói sáng rất thích họp

với chủ đề về sự hào nhoáng cám dỗ Ông gần gũi với Hemingway nhất và có ảnh hưởng đối với các nhà văn thuộc thế hệ sau

Càng đọc các nhà văn nói trên người ta càng cảm giác lún sâu vào nổi bi quan, tuyệt vọng Văn chương của họ rất chán đời với đầy những nạn nhân bất lực, những con người buồn rầu Nhân vật anh hùng rất hiếm hoi song nếu có thì luôn chịu đựng đau khổ và tai họa Đa số họ là những nạn nhân và không có nghị lực để lựa chọn số

phận của mình Mâu nhân vật phổ biến là trộm cướp, vô ý thức, ngốc nghếch và bị lừa

phỉnh Họ cam chịu số phận chứ không dám đòi hỏi hoặc chống đối

1.3.Hai nhà văn "thế hệ mất mát" và tiểu thuyết về Thế chiến I

1.3.1.E Hemingway và E M Remarque

- Nh ững nhà văn đi qua chiến tranh

E Hemingway (1899-1961) là nhà văn sinh ra và lớn lên ở Oak Park thuộc tiểu bang Illinois của nước Mỹ Năm 18 tuôi, ông làm nghê phóng viên

Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nỗ, nhà văn đã tình nguyện tham chiến ở

Ý và bị thương Năm 21 tuồi, Hemingway trở về Mỹ, sau đó sống bằng nghề viết văn

Từ 1920-1930, tác phẩm của Hemingway bao trùm không khí bi quan

Tính bi bịch gắn liền chủ nghĩa cá nhân Tác giả và nhân vật của ông muốn thoát

ra khỏi tình trạng bế tắc do chiến tranh đế quốc gây ra nhưng hoàn toàn vô vọng Tiểu thuyết Mặt Trời Vẫn Mọc miêu tả một lớp thanh niên nghệ sĩ chán chường và sau nó

là hậu quả ghê gớm của chiến tranh Tác phẩm đã gợi lên nhiều cách suy luận và diễn

giải khác nhau về thân phận con người Đến Giã Từ Vũ Khí thì tác phẩm đã tiềm tàng

một ý nghĩa tích cực về hình ảnh con người bắt đầu nhập cuộc Có thế nói, với những quyển sách Mặt Trời Vẫn Mọc và Giã Từ Vũ Khí, thái độ của nhà văn vẫn có những ý

nghĩa tích cực chứ không chỉ là một sự chán chường, phủ nhận Điều này càng thể

hiện rõ hơn trong Chuông Nguyện Hồn Ai Bên cạnh những mặt trái của nó, tác phẩm

là sự lạc quan ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng thấm đượm tinh thần tự do và nhân đạo chủ nghĩa Tất cả những vấn đề trọng đại của xã hội và thời đại đều được đề

Trang 23

cập

Đặc biệt, thái độ phủ nhận của nhà văn đối với chiến tranh thật rõ ràng, dứt khoát trong dịp ông tham gia cuộc chiến tranh Hi Lạp - Thổ Nhĩ Kì, qua các tác phẩm,

những bài chính luận, tiểu luận và bút kí Hemingway đã ủng hộ Barbusse, tán thành

và biểu dương thái độ của nhà văn vô sản Pháp này Ông đã tự gọi mình là một trong

những người tin tưởng vào cách mạng sau Thế chiến I vì cách mạng là con đường thoát khỏi chiến tranh

Hemingway luôn quan tâm và nghĩ đến con người rất nhiều Nhà văn đã từng

viết bài về số phận bị bỏ rơi của hàng trăm cựu chiến binh ở Florida, ủng hộ nên cộng hòa Tây Ban Nha trong thời kì nội chiến vì ông yêu chuộng hòa bình như bất cứ một người nào còn có lương tri vì hạnh phúc nhân loại Ông tham gia sự kiện Tây Ban Nha như một người chiến sĩ và một người bạn của lực lượng chống phát xít Do đó, tác

phẩm viết về chiến tranh của ông vẫn tiêp tục với một tinh thân nhập cuộc và hăng hái

vì chính nghĩa Hemingway đã từng gia nhập vào hàng ngũ những nhà văn tiến bộ của

Mĩ Đối với ông, chủ nghĩa phát xít là sự giả dối do những tên kẻ cướp bịa đặt ra và ông kêu gọi trấn áp bọn chúng, gìn giữ hòa bình Bên cạnh đó, nhà văn cũng nhận

thức được rằng có những cuộc chiến tranh chính nghĩa chông quân xâm lược cần được ủng hộ Ông thoát ra khỏi cảm giác bi quan Từ năm 1937 trở đi, chủ nghĩa lạc quan luôn là điểm tựa trong tác phẩm của nhà văn Vào Đại chiến II, dù sức kém Hemingway vẫn tham gia cuộc chiến theo cách riêng của mình: đi săn tàu ngầm phát xít trên biển Caribê, làm phóng viên mặt trận, tham gia tiến vào giải phóng Pari, dự

cuộc truy quét bọn phát xít ở Đức rồi đưa những cuộc chiến đấu ấy vào tác phẩm Bên

Kia Sông và Dưới Vòm Cây Lá Khi cách mạng Cu Ba bùng nỗ, Hemingway hết sức

ủng hộ và trở thành người bạn thân thiết của Phidel Castro Cùng với một tinh thần như vậy, năm 1960 ông lên tiếng phản đối Mĩ can thiệp vào Việt Nam Cho đến cuối

đời, nhà văn vẫn luôn quan tâm và lo lắng đến các vấn đề của thời đại Tác phẩm Ông

Già Và Bi ển Cả (1952) là đỉnh cao sự nghiệp sáng tác của Hemingway Tác phẩm này

tiếp tục khẳng định quan niệm của ông về cuộc sống – ‘Con người có thể bị tiểu diệt nhưng không thể bị đánh bại’

Cùng là nhà văn thuộc "thế hệ mất mát" viết tiểu thuyết về Thế chiến I như

Trang 24

Hemingway, ở Đức có E M Remarque (1898-1970) Ông xuất thân trong một gia đình Công giáo La Mã tại Osnabruck, thuộc tỉnh Westphalia của miền Tây nước Đức Năm 18 tuổi, Remarque tham gia vào Đại chiến thế giới lần thứ nhất và được phân vào sư đoàn quân dự bị Tháng 6 năm 1917, Remarque bị chuyển đến một đơn vị công binh ở Mặt trận phía Tây Cái chết của những đồng đội bị thương nhưng không được nhìn ngó đến đã khiến cho người lính ây bị đô vỡ hoàn toàn Sau đó, Remarque cũng

bị thương vì mảnh lựu đạn Nhà văn đã học một bài học cay đắng khi nhận ra "chủ nghĩa yêu nước" có thể sẵn sàng bỏ qua bất cứ một cá nhân nào Với Remarque và nhiều chiến binh khác, "trách nhiệm công dân Đức" không còn có ý nghĩa nữa

Phía Tây Không Có Gì L ạ được xuất bản năm 1929, khi chiến tranh luôn ám ảnh

nhà văn cũng như những người lính trở về, nhất là khi họ cố gắng không nghĩ đến nó

nữa Quyển tiểu thuyết đã làm cả thế giới xúc động sâu sắc Năm 1932, Phía Tây

Không Có Gì L ạ được dịch ra 29 thứ tiếng Erich Maria Remarque trở thành một nhà

văn nổi tiếng trên khắp thế giới Cuốn sách đã gây ra cuộc tranh luận ngay trong lòng nước Đức Nhiều người xếp cuốn sách vào ý nghĩa đấu tranh cho hòa bình Đức Quốc

xã phao tin để phá hoại sự nổi tiếng của Remarque Nhà văn nói rõ: "Tôi chỉ bị hiểu

lầm khi người ta cô tình hiểu lầm" Remarque bị buộc phải rời khỏi Đức trong khi sách của ông bị thiêu rụi năm 1933

Năm 1962, Remarque đã khẳng định ông là một người theo chủ nghĩa hòa bình

và luôn săn sàng chiến đấu Sau này, chính quyền Đức đã mời Remarque quay trở lại nước Đức nhưng ông đã không bao giờ quay về nữa mặc dù lòng rất nhớ quê hương

Phía Tây Không Có Gì L ạ là cuốn tiểu thuyết hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ

nhất Ngoài ra, Remarque còn có những tác phẩm tiểu biểu như: Đường Trở về, Ba

Người Bạn, Khải Hoàn Môn, Một Thời Để Yêu Và Một Thời Đe Chết, Bóng Tối Thiên Đường

Qua sự nghiệp sáng tác của Remarque, ta thấy nhà văn có một tấm lòng yêu thương, cảm thống với nỗi đau của con người và tha thiết mong cho họ hạnh phúc Nhà văn vô cùng đau xót trước những sự thật tàn khốc của hai cuộc Đại chiến thế giới

Do đó, ông đã dùng tác phẩm văn chương đề lên án những tội ác do giới cầm quyền

của nước mình gây ra

Trang 25

Xuyên suốt các tác phẩm của Remarque là tính nhân đạo sâu sắc, là tiếng nói

chống lại những cuộc chiến tranh phi nghĩa Tác phẩm của ông đã bóc trần bản chất tàn bạo, những cảnh địa ngục mà chiến tranh đã đưa lại khiến cho người đọc cùng đau xót với nỗi đau của nhà văn Đau xót bao nhiều, họ càng căm phẫn bấy nhiều trước

những cuộc chiến tranh ấy Có thể nói, những tiểu thuyết chống chiến tranh của Remarque luôn mang tính thời sự bởi tác phẩm của ông luôn là tiêng nói góp phân đâu tranh vì một thế giới hòa bình

Hemingway và Remarque là những nhà văn có trách nhiệm trước cuộc sống Bên cạnh đó, cuộc đời các nhà văn này còn có cùng chung bi kịch với hàng triệu người chịu nhiều đau khổ trong chiến tranh thế giới Họ nhìn thấy những mặt trái của

xã hội tư bản, đấu tranh chống lại nó Với những tiểu thuyết về Chiến tranh thế giới

thứ I, Hemingway và Remarque đã đi rất xa trên con đường nhận thức chân lí Các nhà văn đã vận động đến giai đoạn có ý thức tìm hiểu và lí giải nguồn gốc của chiến tranh tội ác Các nhân vật của họ cũng có khả năng nhận thức bản chất của cuộc chiến tranh này Viết Giã Từ Vũ Khí và Phía Tây Không Có Gì Lạ, Hemingway và

Remarque trở thành mối đe dọa của đất nước Tác phẩm của họ có tiếng vang lớn và được nhiều độc giả hâm mộ đến nổi khiến cho các nhà cầm quyền phải cấm đoán Nhìn chung, sự nghiệp văn học của Hemingway và Remarque có một bước phát triển liên tục làm cho họ khác với những người đương thời sống trong sự tuyệt vọng sâu sắc Họ muốn vươn lên trên cái bi đát, cái phi lí vững tin vào bản thân và viết vì

một tương lai tốt đẹp hơn Chính vì vậy mà hai nhà văn rất quan tâm đến các vấn đề

xã hội và chính trị Họ nhận thấy con người không thể sống trơ trọi với chủ nghĩa cá nhân Họ cũng không thể sống cho riêng mình mà phải nghĩ đến người khác Nếu Faulkner thiên về nhãn quan bi đát thì ở họ là sự khẳng định mang tính chất đạo lí Cũng như Fitzgerald, Hemingway và Remarque trở thành người phát ngôn cho thế hệ mình Song, thay vì vẽ ra sự cám dỗ chết người như Scott Fitzgerald đã làm, Hai nhà văn này viết về chiến tranh, cái chết và "thế hệ lạc lõng" của lớp người sống sót bi quan, yếu thế sau chiến tranh để thức tỉnh con người trong thời đại ấy Nhân vật của

họ không phải là những người mơ mộng mà thường mang những vết thương chí mạng

và không còn ảo tưởng gì cả

Trang 26

Ý thức, thái độ phủ nhận chiến tranh của Hemingway và Remarque được hình thành sớm và ngày càng phát triển Cùng với đề tài chiến tranh là tình yêu và thân

phận con người Ba chủ đề này quyện vào nhau lên án chiến tranh phi nghĩa và xã hội

tư sản một cách sâu sắc Đặc biệt, sự phản kháng chiến tranh đế quốc là đặc điểm quan trọng trong tinh thần của hai nhà văn Những tình cảm của họ là rất nhân bản và

với ý nghĩa này Hemingway và Remarque thuộc về nhân loại Có thể nói, Hemingway

và Remarque là hai đại diện tiểu biểu cho cả "thế hệ vứt đi" không chỉ của nước Mĩ

mà của cả châu Âu từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Bóng dáng văn chương

của họ còn kéo dài đến sau Thế chiến II Song, đây không chỉ là đại diện cho một lóp người chán chường, phủ nhận mà từ tác phẩm của họ đã toát lên ý nghĩa phức tạp và lành mạnh hơn

"Thế hệ vứt đi" của Hemingway và Remarque là thế hệ bị giày vò bởi chiến tranh và là thế hệ không thể hòa nhập vào thời đại mình Họ không thể là con người truyên thống song cũng không là con người của những giá trị xã hội được hình thành sau chiến tranh Họ mang một quan niệm riêng về triết lí nhân sinh, đấu tranh cho

cuộc đời bằng những chiêm nghiệm của chính bản thân Cả Hemingway và Remarque

đã từng tham chiến khi tuổi đời chưa đến hai mươi, chứng kiến cảnh bom đạn dữ dội

hủy hoại cuộc sống từng ngày, những cái chết bi thảm không mục đích và bản thân hai nhà văn cũng đã chịu nhiều vết thương trên thân thế Họ trở về thất vọng và cay đắng,

cả hai người cùng với thế hệ mất mát và lạc lõng của mình Cho nên sau này, trên

những áng văn chương các nhà văn đã sáng tạo hình tượng nhân vật mang điểm nhìn

của người lính đã kinh qua chiến trường, thấu hiểu nỗi đắng cay và thống khổ của thân

phận con người trong chiến tranh đế quốc đề nói về chiến tranh, để đưa ra một cách nhìn chân xác với cảm xúc tận đáy lòng Tất cả những điều đó xuất phát từ chỗ đứng, góc nhìn của người lính thời Đại chiến I

Lập trường, quan điểm xã hội của Hemingway và Remarque còn được thể hiện ở

chổ hai người lính Đức và lính Mĩ ấy sau chiến tranh đã viết những tiểu thuyết về chiến tranh làm xôn xao dư luận với tinh thần phản chiến mạnh mẽ của nó Hemingway đã rời Mĩ sang Pari sống và viết, ròi lại đến Cuba và kết thân với nhà lãnh đạo Phidel Castro của Cuba, đất nước được xem như đối đầu của chủ nghĩa tư bản

Trang 27

Hoa Kì Bản thân Remarque vì đã viết những tiểu thuyết về Đại chiến I cũng bị bọn phát xít vu khống và buộc tội Nhà văn buộc phải rời bỏ nước Đức để sang Mĩ, Thụy

Sĩ định cư Các tác phẩm của ông đã lần lượt ra đời nói về nỗi đau thân phận con người bằng tiếng nói của lương tri chống lại chiến tranh, chống những nỗi bạo tàn đe

dọa hủy diệt đời sống của toàn nhân loại

Đại chiến thứ nhất là một trong những cuộc chiến cực kỳ đẫm máu trong lịch sử,

nó đã trở thành đề tài lớn của nhiều tác phẩm văn chương trên thế giới Khi chiến tranh xảy ra, dù thắng hay bại mỗi bên tham chiến đều nhận lấy những hậu quả nặng

nề Đó là điều không tránh khỏi Tình trạng chiến trường trong Thế chiến I còn đáng

sợ hơn rất nhiều lần khi người ta lần đầu tiên sử dụng một hình thức chiến tranh hiện đại với rất nhiều vũ khí tối tân, có sức sát thương lớn mà từ trước đến bấy giờ chưa

từng có Bên cạnh đó, Đại chiến thứ nhất là một cuộc chiến tranh vô nghĩa, tranh giành quyên lợi của những nước đế quốc Vì thế, chiến trường châu Âu đã trở thành cơn ác mộng kinh hoàng cho những ai đã từng bước chân vào đó Bắt đầu từ những chiến hào đầy bom đạn, con người của thời đại Hemingway, Remarque bước vào trang tiểu thuyết với tất cả hình hài và tâm trạng, với tất cả những suy tư về lẽ sống và cái chết Hai tiểu thuyết gia Hemingway và Remarque đã từng đề cập đến vấn đề này

một cách sâu sắc qua những tác phẩm tiểu biểu: Giã Từ Vũ Khí, Mặt Trời vẫn Mọc

(Hemingway), Phía Tây Không Có Gì L ạ, Ba Người Bạn (Remarque) Đây được xem

là những tác phẩm văn học chống chiến tranh đế quốc một cách mạnh mẽ nhất Số

phận con người đi trong cuộc chiến hét sức dữ dội Hemingway và Remarque, hai nhà

tiểu thuyết ở hai quốc gia khác nhau, thậm chí đối đầu nhau trên những trận tuyến của

Thế chiến I đã có cùng một tiếng nói chung, đại diện cho tiếng nói của nhân loại tiến

bộ, yêu chuộng hòa bình

1.3.2.Ti ểu thuyết tiểu biểu về Thế chiến I

Henry là một người lính Mỹ tình nguyện tham chiến trong quân đội Ý Anh làm nhiệm vụ ở đội Hồng thập tự, chuyên chở thương binh từ chiến trường về các trạm

cứu thương và bệnh viện

Trong chiến tranh, Henry đã gặp gỡ và yêu cô y tá Catherine nhưng ngay sau đó

Trang 28

anh bị thương nên được đưa về tuyến sau điều trị Câu chuyện tình tiếp diễn từ đây Catherine nhận nhiệm vụ y tá theo chăm sóc Henry trong bệnh viện Mỹ ở Milan Kết

quả của tình yêu là nàng có mang Càng tham gia chiến tranh lâu dài, Henry và đồng đội càng nhận thấy mình là những thằng ngốc, cuộc chiến này vô nghĩa, phi lí và độc

cô độc và có lẽ không còn biết sẽ làm gì với cuộc đời mình nữa

giữa những cuộc tình với nhiều người đàn ông khác để lấp chỗ trống mà lòng luôn

khắc khoải, tuyệt vọng

Bret, Jack và toàn bộ bạn bè của họ sống hội hè, phù phiếm một cách buông thả cho qua đi thời gian của một thời đầy thất vọng và mất niềm tin vào lẽ sống Với họ,

những thú vui câu cá, xem đâu bò, la cà quán sá, rượu chè vô tận là niềm an ủi của

cuộc đời Song cuộc vui nào rồi cũng tàn, lễ hội đấu bò ở Tây Ban Nha cũng chấm

dứt Mỗi người bạn lại tiếp tục ra đi trên những con đường riêng Chỉ còn lại Bret và Jack cùng với nỗi đau của một tình yêu dang dở và thấy đời vô nghĩa

Trang 29

Phía Tây Không Có Gì L ạ (Remarque)

Paul và bảy người bạn học cùng lớp bị người ta thuyết cho phải đi lính trong quân đội Đức thời kì Đại chiến I Những người lính Đức hầu hét còn rất trẻ, đang ngồi

ghế nhà trường hoặc vừa rời khỏi trường học, chưa hiểu gì về cuộc sống, thậm chí chưa có người yêu bao giờ Song họ bị buộc phải cầm súng ra trận vì nước Đức tham chiến, vì những mĩ từ như: tình yêu tổ quốc, danh dự của nước Đức, tinh thần dân tộc,

sự chiến thắng Đặc biệt là thầy giáo, gia đình, người thân cùng thời đều khuyên khích con em họ ra trận Nhưng lần đầu tiên đối diện chiến trường dưới làn bom đạn,

họ nhận ra mình đã sai lầm Và trong suốt cuộc chiến, binh lính ý thức sâu sắc đây là

cuộc chiến tranh phi nghĩa, nó chỉ phục vụ cho quyên lợi của một thiểu số người mà

rất nhiều người phải chết một cách vô nghĩa và phi lí

Cho nên cuộc sống đối với họ chỉ còn là nỗi kinh hoàng đẫm máu và mặc cảm

tội lỗi Họ vừa là nạn nhân vừa là kẻ sát nhân Những người lính ấy không còn biết làm gì với cuộc đời mình nữa, mất niềm tin, hi vọng Lòng tin vào những điêu tót đẹp đã bị lường gạt Kinh nghiệm về chiến trường ít ỏi nên lính Đức đã hi sinh rất nhiều, hàng ngàn con người phải gục ngã một cách đáng thương xót

Nước Đức thất bại nặng nề, nước Đức không còn người đề tham chiến cũng như không còn sức lực Paul cùng những người bạn đồng lứa đã hi sinh hâu hét Đặc biệt, Paul đã ngã xuồng trong một ngày mặt trận hoàn toàn im tiếng súng, anh ngã xuống vì

hậu quả của hơi độc với cái chết bình thản Đó là kết cục cuối cùng khi con người ta

đã mất tất cả, không còn gì đề mất nữa

Ba Người Bạn (Remarque)

Quyển tiểu thuyết chủ yếu đề cập đến bộ ba chiến hữu Kôêster, Lenz và Robby

Họ là những cựu binh Đức trở về sau chiến tranh Mỗi người có một giấc mơ cho tương lai: giảng viên đại học, nhạc sĩ, bác sĩ Nhưng từ cuộc chiến trở về, trong họ đã

có sự đỗ vỡ lớn Đó là mất niềm tin vào cuộc đời và ám ảnh bởi chiến tranh vô nghĩa

và phi nhân tính

Cùng với ba cựu binh này còn có hàng loạt người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau cũng phải gánh chịu hậu quả chiến tranh Để kiếm sống, Koester mở xưởng

Trang 30

sửa chữa ôtô và làm việc cùng với hai chiến hữu ngày trước Cuộc sống khó khăn nên

họ phải làm thêm nhiều nghề: đánh đàn trong tiệm cà phê, lái tác xi, buôn bán ô tô cũ

Rồi một ngày Robby gặp và yêu Pat Cô gái không may mắc bệnh lao phổi nặng

do suy dinh dưỡng ở thời kì bắt đầu lớn mà lại thiếu ăn trước và sau chiến tranh Ba người bạn tìm mọi cách đề lo lắng, chạy chữa cho cô gái nhưng vô vọng, cô đã chết vì

thổ huyết Lenz bị bắn chết trên đường bởi bọn khủng bố mang mầm mống phát xít Robby chứng kiến cái chết đau đớn của người yêu và bạn Lenz, tâm hồn anh trống

rỗng vì sự mất mát quá lớn Về phía Koester, anh đã bán xưởng, bán xe và không còn

gì để mất nữa

Trang 31

CHƯƠNG 2: CÁCH NHÌN ĐẠI CHIẾN THỨ NHẤT TRONG

2.1.Thế chiến I trong tiểu thuyết Hemingway

Câu chuyện của nhân vật mang điểm nhìn trong Giã Từ Vũ Khí vô cùng bi đát

Trung úy Henry rời bỏ nước Mĩ xa xôi sang Ý tham chiến vì những ảo tưởng sai lầm

về chiến tranh Anh tưởng mình sẽ tham gia làm một cuộc tiểu diệt thần ác, vì danh dự

của nước Mĩ và vì tình yêu tổ quốc Lòng hăng hái ấy còn được sự ủng hộ bởi chính ông nội của anh Thỉnh thoảng, ông lại gửi thư cho Henry gồm tin tức gia đình, tiền

bạc, một vài mẫu báo cắt và những lời động viên yêu nước Điều ấy có nghĩa là vẫn có

một luồng tư tưởng ủng hộ cuộc chiến này ngay cả ở thế hệ cha ông đi trước Theo

họ, tham chiến là yêu nước, là đóng góp tiếng nói của dân tộc mình qua cuộc chiến tranh, vì danh dự của nước Mỹ Nhưng chân lý đã không được tìm thấy trên chiến trường để rồi người trong cuộc phải nói lời vĩnh quyết với chiến tranh sau rất nhiều đổ

vỡ

Henry tình nguyện tham chiến và đã hoàn toàn thất bại trong sự tình nguyện ấy Song trường họp của anh lính sa ruột trong tác phẩm lại càng thê thảm hơn Anh đã bị

sa ruột trước chiến tranh mà vẫn phải nhập ngũ Mặc dù cố tìm cách làm cho bệnh

trạng nặng hơn, anh vẫn không thoát khỏi guồng máy chiến tranh Người lính ấy đã tháo đai đỡ cho ruột sa hơn nhưng người ta vẫn không để xe cứu thương chở, không cho vào bệnh viện vì nghi là giả vờ Dù anh ta cố ngã, lấy đá đập vào đầu cho chảy máu tự gây thương tích cho thân thể cũng không ăn thua Người đọc có thế thấy, binh lính trong cuộc chiến này không cần phải ra trận để có thể bại trận mà họ đã thất

bại ngay từ khi dứt ra khỏi quê hương đề xung vào quân ngũ Họ đã bị tấn công ngay

từ đầu, những con người khốn khổ ấy

Sự thất bại của người lính còn thế hiện ở kỳ phép vô vị của Henry ngay đoạn mở đầu tác phẩm Đồng thời, Hemingway cũng sử dụng chi tiết này để diễn tả tâm trạng con người trong cuộc chiến Suốt kì nghỉ phép, Henry đi đến nơi quyện đầy khói thuốc

của những quán rượu Tâm hồn anh trống rỗng, đơn độc trong những đêm gian phòng

Trang 32

quay cuồng trong cơn say và phải nhìn vào tường để thấy nó dừng lại Kì nghỉ phép như thời gian để chiêm nghiệm một hiện thực điên đảo trong những đêm say mèm,

nằm trong giường thấy cuộc đời trống rỗng với những ý tưởng lo lắng, bất an tồn tại trong đầu

Không riêng gì Henry, cuộc sống của Rinaldi bạn thân thiết với anh cũng tương

tự Nêu không có chuyện bất thường, vị bác sĩ ây có lẽ đã sống hạnh phúc và có ích cho đời Nhưng đi trong chiến tranh, Rinaldi thừa nhận: "trận giặc này giết chết mình roi" Nó chỉ đề lại một cảm giác chán nản vô phương

Không thế nào chạy trốn, anh sống nhưng cảm giác như mình đã chết ở tâm hồn Càng làm việc của một bác sĩ quân y anh càng cảm thấy nó vô ích Rinaldi chỉ còn

biết lao vào rượu chè và gái Song, thứ nào cũng đầy nguy hại Nó đốt cháy cuộc đời trên ngọn lửa dẫn đến hoang tàn

"Chiến tranh này thật là khủng khiếp" và người ta muốn uống thật say đề tìm

niềm vui trong chất cay, để lấy lại tinh thần phấn chấn mà họ đã mất Đó là bi kịch, là

sự dằn vặt của lương tri con người trong một thời đại bát hạnh Rinaldi bi quan đến

nỗi đã nghĩ: "Chúng ta sinh ra với tất cả những gì chúng ta có và chúng ta không bao

giờ thay đổi cả Chúng ta không bao giờ được thêm cái gì mới cả" Đó chính là tư tưởng bi đát mà thời đại đã tạo ra và ám ảnh Nhưng suy cho cùng, họ còn có thế mong điều gì khác hơn nêu trên từng năm tháng phải chứng kiến cảnh các dân tộc xô vào chém giết nhau một cách phi lí Mà có riêng gì Rinaldi, cả cha tuyên úy cũng tương tự như thế tuy nhiên ở một mức độ trầm tĩnh hơn Cha cũng cảm thấy mệt mỏi

vì tất cả trong cuộc chiến tranh đến nỗi không muốn nghĩ đến chiến tranh nữa Người

ta không tin vào chiến thắng nhưng cũng không muốn nghĩ đến thất trận, một tình thế

tiến thoái lưỡng nan Mọi người đều chán chường và kiệt quệ vì chiến tranh: linh mục, Rinaldi, Henry, thiếu tá chỉ huy đơn vị và nhiều người khác nữa thuộc tầng lớp sĩ quan

giờ đây cũng hiểu ra vấn đề Theo thiếu tá, "cuộc chiến tranh này từ tệ biến thành nguy ngập" và ông chán đến nỗi nếu có cơ hội đi xa chiến trường thì sẽ không trở lại

Với Hemingway, người lính có thể là những nông dân bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương, đồng ruộng Họ biết cuộc chiến này là phi nghĩa nhưng đâu cưỡng lại được

Hoặc giả một số khác tình nguyện tham chiến trong rất nhiều ảo tưởng nhưng sau khi

Trang 33

va vào thực tế chiến trường mới vỡ mộng hoàn toàn Song, họ không thể thoát khỏi chiến tranh

Theo cách nhìn của Hemingway, cuộc chiến tranh này là một lò sát sinh lớn bởi

sự vô nghĩa và qui mô hủy hoại của nó Có điều khác biệt ở đây là thịt chỉ dùng để chôn đi mà thôi Mặt trận Bainsizza trong một đêm mưa gió, thương binh ùn lên ở

trạm cứu thương, cảnh tượng thế lương của máu và cái chết phơi bày Chỉ có chiến tranh mới hủy diệt một cách không thương tiếc sinh mạng con người nhiều đến thế Trong bối cảnh cuộc tấn công ở thượng nguồn sống, các bác sĩ phải làm việc tận lực,

"tay áo xán lên tận vai và người vấy đầy máu đỏ như những tay đồ tể" Thương vong nhiều đến nỗi thương binh được khiêng tới liên tục, người ta không còn đủ cáng cho người chết và người bị thương nữa Hay sau một trận tấn công, những chiếc xe cứu thương được chất đầy thương binh

Chiến tranh làm cho con người ta quen dần với sự nhẫn tâm, kể cả đối với những người cùng chiến tuyến Nếu binh lính không chết giữa chiến trường, bệnh viện sẵn sàng cho thương binh trở lại tiền tuyến ngay khi vết thương còn chưa lành hẳn với trường hợp của Henry Tàn nhẫn hơn, khi có cuộc rút lui, người ta không phải cố gắng đưa thương binh đi hết mà có thế bỏ mặc họ ở lại khi đối phương tràn qua Bên cạnh

đó, sự thiếu thốn lương thực, thực phẩm cũng là vấn đề nan giải và tàn nhẫn đối với binh lính Họ không bao giờ được ăn no, chỉ chưa đến nỗi phải chết đói với những bữa

ăn bất thường! Ở chiến tuyến, các đoàn quân được ăn đầy đủ nhưng những đoàn quân

yểm trợ phải chịu đói Lương thực vẫn dồi dào nhưng binh sĩ thiếu thốn thức ăn do

bọn hậu cần bán bớt thực phẩm Trong cách nhìn của Hemingway, tham nhũng và trục

lợi vẫn xảy ra giữa chiến tranh Có lẽ, đó cũng chính là một trong những lí do muôn đời khiến cho chiến tranh tồn tại

Sự vô nghĩa của chiến trường còn được Hemingway nhấn mạnh ở hàng loạt điều phi lí khác Trong một trận rút lui, quân Ý giật một cây cầu con chẳng quan trọng gì ở thượng nguồn sống và đề lại gần đường lớn một chiếc cầu để bọn Đức ngang nhiên tràn qua Trong khi thất trận, quân Ý còn nguy hiểm hơn cả lính Đức Những lần đi sát quân Đức, đội Hồng thập tự Ý không ai bị sao cả nhưng Aymo phải chết vì đạn của tàn quân Ý là điều vô cùng nghịch lí Đặc biệt, quân cảnh Ý kết án tử hình các sĩ quan

Trang 34

với tội đào ngũ trong khi đã có lệnh rút lui từ trên xuống Bản thân Henry cũng bị kết

án mặc dù anh là lính Mĩ tình nguyện Henry đã mục kích sự rút lui của đạo quân Ý và

sự tiến lên của quân Đức, suýt bỏ mạng vì trận chiến này như nhưng vẫn xem nó như

một vở hài kịch Cho nên, quyết định chấm dứt và tự giải thoát bằng con đường đào ngũ là quyết định cuối cùng Anh không muốn làm diễn viên trong vở hài kịch đó nữa Hemingway đã dùng ngòi bút mỉa mai sâu sắc khi sử dụng các chi tiết này đề nói lên cái phi lí mà nguy hại của chiến tranh

Không còn nhiều ảo tưởng lãng mạn và hào hùng trong chiến tranh như người ta

vẫn thường thấy trong những quyển sách xưa cũ Nhiều người ngốc nghếch và ngây thơ về chiến tranh ở buổi ban đầu nhưng sau đó đã nhận những vết thương chí tử Đó

là hình ảnh người yêu đầu của Catherine muốn ra trận và đã tử thương Bản thân cô y

tá ngày ấy cũng có ước mơ rồ dại về những hình ảnh kiêu hùng, lãng mạn từ cuộc chiến Nàng mơ một ngày nào đó người yêu sẽ vào bệnh viện của mình với một vết thương, một cuộn băng quấn ngang đầu hay một viên đạn trên vai Một điều gì đấy đẹp đẽ! Nhưng sự thực trần trụi của cuộc chiến tranh này đã mở mắt cho nhiều người

với rất nhiều ngây thơ, ảo tưởng

Tác phẩm của Hemingway là một hiện thực trần trụi bao trùm Thời tiết mưa và các loại bệnh dịch hoành hành, những bệnh hết sức tầm thường: bệnh dịch, thổ tả đã làm cho khoảng bảy ngàn chiến binh quân Ý phải bỏ mạng mà chưa cần một trận đánh đấm nào Còn lại là những bệnh tê cóng nẻ, vàng da, lậu, những vết thương tự gây ra, sưng phổi và hạ cánh cam cứng và mềm Hay như trường hợp của Henry, bị thương khi đang ăn pho mát và anh chỉ xem đó là một tai nạn chứ không có gì là anh dũng thì người ta lại tung hô Đây là giọng điệu mỉa mai của nhà văn để nói lên cái hư danh phù phiếm mà nguy hại của cuộc chiến Gái ở Cova sắp phục Henry sát đất, họ nghĩ Henry đã giết hai trăm tên Áo và một mình chiếm được cả hầm Chưa hết, người ta còn đồn đại rằng trong lúc bị thương Henry đã cõng nhiều người Song, tất cả chỉ là

bịa đặt Trần trụi hơn, người ta cho Henry là người may mắn khi bị thương ngay từ đầu vì cuộc chiến ngày càng trở nên ác liệt hơn và như thế là thoát chết Đối với Henry, cuộc chiến này như một vở hài kịch vô nghĩa lí Các mệnh lệnh không chính xác và luôn mâu thuẫn nhau Chẳng hạn, sư đoàn yêu cầu phòng thủ trong khi quân

Trang 35

đoàn bảo rút lui Cho nên, người lính thấy bất mãn với chỉ huy và xem cuộc chiến này không khác gì trên màn ảnh Lính tráng còn quá nhỏ tuổi Những chiếc mũ phần lớn đều quá to và chụp xuống tận mang tai của người đội Lính lái xe cứu thương chỉ toàn

là thợ máy, tất cả họ đều oán ghét chiến tranh

Song, cũng có những kẻ ham muốn chiến tranh để tư lợi Đó là trường hợp của Ettore tham gia chiến tranh vì lương bổng, chức vụ và cấp bậc, huân chương Hắn thuộc loại người hùng, quá tự phụ và hiếu thắng, là kẻ hám danh lợi và muốn tìm cái

lợi trong chiến tranh Ettore là người Ý đang phục vụ trong quân Ý nhưng lại muốn chuyển sang quân đội Mĩ vì lương cao Thật mỉa mai thay, trong khi đó Henry là người Mĩ lại phục vụ trong quân đội Ý ngay từ khi Mĩ còn chưa tham chiến Theo cách nhìn của Hemingway, vì loại người này mà người ta gây chiến Chiến tranh mang lại lợi nhuận cho bọn người buôn bán vũ khí, quản lí khách sạn, hậu cần hay

những chủ quán rượu kinh doanh giây tờ giả cho quân nhân đào ngũ

Trong bối cảnh chiến trường của Giã Từ Vũ Khí, tình đồng đội thân thiết có thể

được xem là một thứ tình cảm tốt đẹp còn sống sót giữa chiến tranh Tình cảm ấy vô

tư và đơn giản như khi ai cũng muốn giới thiệu cho Henry một chỗ đi nghỉ phép thật

tốt ở quê hương mình hay một vùng đất đẹp mà họ từng biết đến Ai cũng mong muốn Henry vui và hạnh phúc như thể đó là kì nghỉ của chính họ Trong tác phẩm, Henry

hiện ra giữa nhóm lính lái xe Hồng thập tự như một người anh lớn Khi cuộc tấn công

bắt đầu, Henry sẵn sàng lao mình qua lưới đạn dày đặc để mang thức ăn cho họ Mặc

dù vết thương rất nặng ở chân nhưng trung úy vẫn cố gắng chăm sóc Passini Trong chiến tranh, người lính luôn đối diện với cái chết Mỗi sự ra đi của đồng đội là một

nhất dao cứa tâm hồn người ở lại Đang khi rút lui sau trận Captoretto, nhóm Hồng

thập tự mất người đồng đội Aymo thân thiết Người lính ấy rất có trách nhiệm và hết

mực yêu thương đồng đội Anh là người mà trước cuộc lui quân, trong khi mọi người

đi ngủ đã tự nguyện thức suốt đêm nhóm lửa và bắc lên đó một ấm nước để sửa soạn

bữa ăn cho bạn bè Sự quên mình ấy đã được làm với ý muốn đơn giản để mang lại

thức ăn nóng sốt cho đồng đội khi thức dậy Đĩa mì do anh chế biến có ý nghĩa biết bao trước khi lên đường lui quân Bên cạnh một số ít những kẻ sợ chết bỏ rơi đồng đội, vẫn còn đó tình cảm thủy chung, son sắt giữa những người lính Piani nhất định ở

Trang 36

lại cùng Henry mặc dù đã biết "không còn gì mà tin tưởng vào chiến tranh nữa" Anh không nỡ rời bỏ một người lính nước ngoài đã đầu quân trong quân đội Ý Anh đã cùng Henry đi suốt chặng đường gian khổ của cuộc lui quân cho đến khi Henry phải

nhảy xuống dòng sông cuộn xiết tránh cái chết từ những loạt đạn của quân Ý

Chiến tranh đã hủy hoại tình yêu và những người tình là một âm hưởng vô cùng xót xa của Giã Từ Vũ Khí Người ta không ngoa khi cho rằng chuyện tình Henry,

Catherine lồng trong bối cảnh chiến tranh ở Giã Từ Vũ Khí là câu chuyện tình của một

lứa đôi Romeo và Miet thời hiện đại Tình yêu ấy rất đẹp, Hemingway đã dùng nhiều trang trong kết cấu tác phẩm để đề cập đến nó nhưng cuối cùng mỗi người tình đi về

một chốn xa xôi Nàng về cõi chết còn trung úy Henry lầm lũi đi trong mưa mà có lẽ cũng không biết về đâu khi tất cả đều tan vỡ trong đó có tình yêu Người yêu đầu của Catherine cũng tử thương trong trận Somme Mối tình thứ hai của nàng với Henry không thế cưới nhau dù người ta khao khát Điều phi lí là: "Hàng ngày biết bao trẻ ra đời, ai cũng có con cả Đó là chuyện tự nhiên" vậy mà hoàn cảnh chiến tranh không cho phép nàng thực hiện thiên chức làm mẹ Catherine phải làm đủ mọi cách, uống đủ

thứ thuốc nhưng vô ích Chiến tranh đã ngăn trở hạnh phúc trọn vẹn Catherine và Henry phải lén lút trong bệnh viện, họ không được tự do yêu nhau Cuối cùng, Henry

phải ra tiền tuyến, nàng ở lại một mình mà chưa biết sẽ về đâu Catherine đã mặc cảm

và nghĩ câu chuyện của họ là tội lỗi Nàng cao quí và thánh thiện biết bao! Người phụ

nữ ấy mặc cảm nhưng vì chiến tranh nên đành phải chấp nhận cảnh ngộ, tình yêu không thể đàng hoàng lúc này như người ta ao ước Chiến tranh đã khiến họ xa nhau, Catherine chua chát nhận ra: "chúng ta không bao giờ được ở nơi nhà của chúng ta lâu

cả" Sau này khi quyết định từ giã chiến trường, Henry nghĩ đến Catherine như một

cứu cánh mà tình yêu là điểm tựa nhưng mong ước đó đã không thành Nó vỡ tan như

một bong bóng xà phòng đẹp, mong manh và đầy ảo tưởng Catherine chết khi sinh con, tất cả chấm dứt sau những điều đã trải qua: đổ vỡ của mối tình đầu cũng bởi chiến tranh, những lo lắng, mặc cảm tội lỗi trong tình yêu với Henry, cố gắng làm mọi cách để phá thai, cuộc trốn chạy sang Thụy Sĩ và nỗi sợ hãi những cơn mưa Tất cả

đã chấm dứt mà chiến tranh là ngọn nguồn hết thảy Henry còn lại một mình trơ trọi trên đất Thụy Sĩ, có lẽ anh sẽ không còn biết đi đâu và làm gì nữa sau một kết cục bi đát như vậy

Trang 37

Cuộc chiến tranh đang diễn ra không có nghĩa lí gì cả Không riêng gì lính tráng

mà dân chúng cũng đã nhận thấy điều đó Cũng như ở Đức, dân Pháp đang trong tình

trạng kiệt quệ và nổi loạn Người ta phải thí quân lính để chặn dân chúng lại Những

cuộc biểu tình chống chiến tranh và những cuộc bạo động ngày càng trâm trọng hơn

Cuộc di tản mà Hemingway miêu tả trong Giã Từ Vũ Khí thật sự khốn khổ không

khác gì ở Phía Tây Không Có Gì Lạ Người ta đi chung với chó, gà, vịt, ngỗng, xe đủ

loại Đàn bà con gái khổ sở, hãi hùng Giống như tiểu thuyết của Remarque, Giã Từ

Vũ Khí vẫn là hình ảnh nông dân, phụ nữ, trẻ em với đùm túm, công kênh và lo âu, vất

vả trên cuộc rời bỏ quê hương, vườn ruộng để đi lánh nạn Bao nhiều tai nạn ụp xuống đầu dân chúng Chưa hết, nếu chẳng may một người lính đào ngũ bị phát hiện thì nguy

hiểm không chỉ riêng anh ta mà phiền lụy cả gia đình

Trong tác phẩm, chiến tranh như là một định mệnh dù người ta có trốn chạy cũng không thoát khỏi Áp lực của nó đè nặng, bao trùm lên mọi thứ, trên tình yêu và trên số phận con người

2.2.Th ế chiến I trong tiểu thuyết Remarque

Ở tiểu thuyết Phía Tây Không cỏ Gì Lạ, Paul và bạn bè đã gia nhập quân đội vì

tổ quốc Đức Niềm tin ấy được nhồi nhét và nuôi dưỡng bởi một thế hệ người lớn

tuổi: cha, thầy giáo, những người xung quanh, nhà cầm quyền Mười tám tuổi, họ bị

thầy giáo Kantorek thuyết giảng và khuyến dụ tình nguyện đi lính vì danh dự, lòng can đảm, tình yêu tổ quốc cho đến khi cả lớp phải theo lão ta đến sở mộ binh xin

nhập ngũ Tất cả tình nguyện vì cái gì không ai thắc mắc Thời bấy giờ có hàng ngàn Kantorek và họ cũng không có lỗi Họ tin là mình đã làm những điều tốt đẹp Có một Joseph Belm do dự không muốn đi nhưng cũng bị thuyết phục để trở thành người đầu tiên ngã xuống trong bọn họ Những người lính ấy không còn con đường nào khác Tinh thần sai lệch thời bấy giờ không cho phép người ta lẫn trốn Ngay cả bố mẹ anh cũng cho anh hèn nhất nếu không ra trận, tất nhiên điều đó không phải tất cả mà đa số

là như thế Người ta không tưởng tượng được những gì có thế xảy ra tiếp đó Đáng lẽ

những người thanh niên ấy được sống một cuộc sống tốt đẹp và đúng đắn hơn nhưng

họ đã bị kích động và lôi kéo đến địa ngục của chiến tranh Trận pháo kích đầu tiên đã

vạch ra chổ lầm lẫn của họ và làm đổ sụp quan niệm về mọi sự trên đời mà người ta

Trang 38

đã nhồi nhét cho Người lính chỉ cảm thấy một nỗi cô đơn khủng khiếp giữa chiến hào khi họ không có điểm tựa nào trong lúc tiến hành cuộc chiến này Họ đã bị lừa dối và

phản bội bởi chính những con người trên tổ quôc Đức Ra trận, họ nếm trải thế nào là đắng cay, nỗi sợ hãi và vinh quang vô ích bên cạnh lòng căm thù sự độc ác của chiến tranh Cuộc chiến ấy không phục vụ một lợi ích chân chính nào cho dân tộc và nhân loại mà nó chỉ là công cụ đề thỏa mãn quyền lợi của một thiểu số giai cấp thống

trị, cầm quyền và bọn người thừa cơ làm tiền từ chiến tranh Nó đã hủy diệt đời sống con người một cách đau thương nhất

Ngoài thế hệ những người lính trẻ tuổi, quân đội còn có sự hiện diện của những người nông dân ra trận ở một lứa tuổi lớn hơn Họ là những kẻ bị tách rời khỏi gia đình, công việc, tình yêu xứ sở mà không sao cưỡng lại được Tiểu biểu là Detering

chỉ nghĩ đến nông trại và vợ con, trong một ngày hoa đào rực rỡ đã nhớ quê hương tha thiết nên từ bỏ chiến trường Anh đã bị giết chết vì nỗi nhớ, tình thương không đúng

chỗ đó bởi tay súng của những người cùng chiến tuyến Nhưng thử hỏi người ta có nên tiếp tục chiến đấu cho một cuộc chiến tranh vô nghĩa nữa không khi mình đã nhận

thức rõ điều đó, khi phải hi sinh tất cả những điều tốt đẹp, có ý nghĩa đối với đời sống cho một điêu vô nghĩa

Nếu như những người lính lớn tuổi hơn có vợ con, công việc, niềm vui để tạo nên một hậu phương mà chiến tranh không thế xóa nhòa thì những người lính trẻ ở lứa

tuổi đôi mươi như Kropp, Muller, Leer và Paul mọi thứ rất mơ hồ Họ chỉ có những người bạn cùng chí hướng, một số có bạn gái, một chút hăng hái, vài sở thích và môi trường quân ngũ Cuộc sống của họ không vượt qua những điều đó và không còn lại

gì Họ trở nên những mảnh đất hoang tàn Theo cách nhìn của Remarque, từ trường

học những chàng trai trẻ bị kích động và đi đến doanh trại Ở đây, họ học được rằng không việc gì phải bận tâm trừ những điều vớ vẩn: cái bàn chải đánh giày, cách chào Đây là giọng điệu mỉa mai của nhà văn khi nhìn hiện thực quân đội Chính vì vậy,

những thanh niên trẻ trung, tràn đầy nhiệt huyết đều bị đánh gục Lính tráng bất mãn

với chỉ huy, quân đội và hoàng đế Quan hệ giữa lính với người huấn luyện không tốt

dẫn đến họ bị hành hạ khắc nghiệt do những ân oán cá nhân Người ta nghiêm khắc đến nổi lính ngã bệnh Nhưng sự khác nghiệt và thiếu tính người ấy lại rất tốt cho lính

Trang 39

Bởi vì nếu không như vậy, họ sẽ bị phát điên khi phải đi ra một chiến trường tàn bạo

và phi nhân tính như chiến trường Đại chiến I

Tên quyển sách đã dịch đầy mỉa mai, chua chát Phía Tây Không Có Gì Lạ - chỉ

có máu chảy và xương phơi, hàng núi người chết chồng chất lên nhau nêu không phải cho vào những hầm chôn tập thể và thương binh đầy ắp trong các quân y viện khi họ còn chút cơ may sống sót Bạo lực đầy rẫy, những cảnh tượng chết người hàng loạt và rùng rợn Chuyện ấy trở nên "không có gì lạ" giữa một thời đại bạo tàn

Mở đầu quyển tiểu thuyết, đại đội của Paul ra tiền tuyến thay phiên đơn vị bạn Đúng vào ngày cuối cùng trở về hậu tuyến, họ đã bị pháo binh Anh làm thiệt hại nặng

nề Sự khốc liệt và đau thương của chiến trường được thể hiện ở chi tiết vô cùng tàn

nhẫn Phía sau mặt trận năm dặm, binh lính được nghỉ ngơi và ăn uống no đủ Khẩu

phần tăng gấp đôi, kể cả thuốc lá vì đại đội hai có một trăm hai mươi người chỉ còn lại

tám mươi! Hình ảnh bạo lực chiến tranh đầy rẫy ở Phía Tây Không Có Gì Lạ của

Remarque :

Nhiều người có kiểu xung phong chỉ bằng lựu đạn và xẻng Cái Xẻng mài sắc là

một thứ vũ khí thuận tiện và lợi hại hơn nhiều Không những nó có thế cắm phập vào

yết hầu quân địch, mà nhất là còn có thể quật những nhát hết sức mạnh Đặc biệt, nếu quai một nhát chéo góc khoảng giữa cổ và vai, nó có thế xả đến tận ngực như chơi Nhiều khi lưỡi lê mắc ngập vào vết thương, phải đạp mạnh vào bụng tên địch rồi mới rút ra được, trong lúc ấy rất có thể chính mình cũng bị một nhát [50, tr.l 17]

Thực ra, những người yếu bóng vía không nên đọc những đoạn như vậy, đặc biệt

là thanh thiếu niên vì hình ảnh ấy quá bạo lực và sức kích động của nó không thể lường trước Song, đây cũng là một thực tế chiến trường man rợ mà nhà văn đã diễn tả theo cách của mình Dưới góc nhìn của Remarque, chiến tranh và cái chết ghê rợn gắn

liền nhau, những cái chết mà có lẽ người ta ít có can đảm mô tả nhất, có sức ám ảnh ghê gớm nhất Với Remarque, chiến tranh là một nguyên nhân của cái chết hàng loạt

phức tạp và ác liệt Trong bối cảnh ấy, hàng nghìn lính Đức non nớt, không biết đánh đấm chỉ biết đi tới và để cho bị bắn gục Chiến hào, nhà thương và nấm mồ công cộng

là nơi tất yếu đang đợi người lính ngoài ra không có gì khác Đó là chiến tranh đối với cách nhìn của Remarque trong khi quân đội Đức đã thất thế một cách bi thảm

Trang 40

Sự chết chóc đầy rẫy khiến người trong cuộc cũng trở nên vô tâm và chai sạn trước cái chết của con người Bác sĩ quân y dửng dưng trước cái chết của thương binh

Họ sẵn sàng cắt rời chân khi thấy chúng bị thương và thậm chí người ta đưa những thương binh nặng vào ngay nhà xác Việc thiếu chăm sóc đã dẫn đến cái chết của rất nhiều binh lính Không riêng gì bác sĩ mà bản thân người lính cũng buộc phải trở nên chai sạn trước cái chết của đồng đội Kemmerich chết, Muller háo hức thừa kế đôi giày và hớn hở khao Paul món xúc xích tuyệt hảo Trước sự ra đi đau đớn và nặng nề

của bạn, Paul vẫn phải cố lạnh lùng và thích nghi để sống: hít một hơi thật sâu, cảm

thấy gió thoảng trên mặt ấm áp và dễ chịu, ý nghĩ về những cô gái, những bông hoa,

những đám mây trắng và thèm ăn uống Tất cả điều đó là sự thích nghi đau đớn của người lính giữa chiến trường

Phía Tây Không Có Gì L ạ hoàn toàn vắng bóng chủ nghĩa anh hùng và những

người hùng trong chiến đấu mà chỉ đề cập đến những may rủi trên chiến trường Sự

sống là may mắn thoát chết chứ không phải do phẩm chất mưu trí hay anh hùng Sự

thực, không một người lính nào có một nghìn cái may mắn để còn sống sót nhưng mỗi người lính đều tin mình sẽ gặp may Sự may rủi ấy đã giúp Paul thoát trong khi hai cái

hầm bị sập ngay sau anh vừa đi ra Bên cạnh đó, hình ảnh người lính hiện ra với

những chi tiết ếét sức đời thường, với những nhu cầu chính đáng và đơn giản nhất mà không hề được thỏa mãn: ăn, ngủ, học hành, việc làm và vợ con Tất cả bị đẩy vào

cuộc chiến Họ chủ yếu xuất thân từ tầng lớp dân nghèo Không hề có hình ảnh những người hùng hay các chiến binh dũng cảm trong quyển sách của Remarque Khi ra đi,

họ chỉ là những người lính tầm thường nhăn nhó hoặc hớn hở nhưng khi đến địa đầu

mặt trận họ bỗng trở nên một thứ người ngợm, tính người còn lại rất ít mà chủ yếu là

bản năng sinh vật lấn át do nỗi sợ hãi cái chết gây nên Bản năng sinh vật đã thức dậy,

dẫn dắt và che chở họ khỏi tầm chết chóc khi nghe tiếng gầm của trọng pháo Họ lao mình xuống đất, nằm rạp xuống hố tránh những mảnh đại bác tóe ra Điều này hoàn toàn bản năng mà không hề có sự chi phối của ý thức Ở Phía Tây Không Có Gì Lạ,

tinh thần binh lính xuống thấp Trận tuyến như một cái lồng mà người ta chỉ còn biết năm chờ một điều gì đó xảy ra Đối phương của nước Đức vô cùng hùng mạnh với đầy đủ máy bay, xe tăng, súng bắn lửa mới Tình trạng hoảng loạn tâm thần xảy ra

với tân binh Nhiều người có ý định ra khỏi hầm đề tự sát hoặc đầu hàng và họ đã bị

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Albéres, R.M (2003), Cu ộc phiêu lưu tư tưởng của văn học Âu Châu thế kỷ XX1900 - 1959 , Vũ Đình Lưu dịch, Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu tư tưởng của văn học Âu Châu thế kỷ XX1900 - 1959
Tác giả: Albéres, R.M
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003
2.L ại Nguyên Ân (1999), 150 thu ật ngữ văn học, Nxb Đại Học Quốc Gia, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thu ật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia
Năm: 1999
3.Lê Huy B ắc (sưu tầm và giới thiệu) (2002), Phê bình và lý lu ận văn học Anh - M ỹ (TI) , Nxb Giáo D ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và lý luận văn học Anh - Mỹ (TI)
Tác giả: Lê Huy B ắc (sưu tầm và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
4.Lê Huy B ắc (1999), Ernest Hemi ngway Núi băng và Hiệp sĩ , Nxb Giáo d ục, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ernest Hemingway Núi băng và Hiệp sĩ
Tác giả: Lê Huy B ắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
5.Lê Huy B ắc (1998), Ki ểu nhân vật trung tâm trong tác phẩm của Hemingway , Lu ận án tiến sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu nhân vật trung tâm trong tác phẩm của Hemingway
Tác giả: Lê Huy B ắc
Năm: 1998
6.Lê Huy B ắc (1997), Đối thoại và độc thoại nội tâm của Hemingway , T ạp chí Văn Học, (7), tr. 57 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại và độc thoại nội tâm của Hemingway
Tác giả: Lê Huy B ắc
Nhà XB: T ạp chí Văn Học
Năm: 1997
7.Lương Ngọc Bính (1995), Văn học Đức chống phát xít: những vấn đề mỹ học và thi pháp, Nxb Giáo D ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Đức chống phát xít: những vấn đề mỹ học và thi pháp
Tác giả: Lương Ngọc Bính
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1995
8.Lưu Văn Bổng (chủ biên) (2001), Văn học so sánh lý luận và ứng dụng , Nxb Khoa H ọc Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh lý luận và ứng dụng
Tác giả: Lưu Văn Bổng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 2001
9.Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp ti ểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway, Nx b Đại học quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2003
10.Lê Đình Cúc (2004), Tác gi ả văn học Mỹ thế kỷ XVIII - XX , Nxb Khoa H ọc Xã H ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả văn học Mỹ thế kỷ XVIII - XX
Tác giả: Lê Đình Cúc
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 2004
11.Lê Đình Cúc (1999), Ti ểu thuyết của Hemingway , Nxb Khoa H ọc Xã Hội, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết của Hemingway
Tác giả: Lê Đình Cúc
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 1999
12.Lê Đình Cúc (1984), Ti ểu thuyết viết về chiến tranh của Hemingway , Lu ận án phó ti ến sĩ khoa học ngữ văn, Viện Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết viết về chiến tranh của Hemingway
Tác giả: Lê Đình Cúc
Năm: 1984
13.Chevalier, J. Gheerbrant, A. (1997), T ừ điển biểu tượng văn hóa thế giới , Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier, J. Gheerbrant, A
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
14.Nguy ễn Văn Dân (1998), Lý lu ận văn học so sánh , Nxb Khoa H ọc Xã Hội, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu ận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa H ọc Xã Hội
Năm: 1998
15.Đỗ Ngọc Diệp (chủ biên) (2003), M ỹ -Âu- Nhật: văn hóa và phát triển , Nxb Khoa H ọc Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ỹ -Âu- Nhật: văn hóa và phát triển
Tác giả: Đỗ Ngọc Diệp
Nhà XB: Nxb Khoa H ọc Xã Hội
Năm: 2003
16.Vũ Dzũng (biên soạn) (1998), Nh ững tác phẩm lớn trong vãn chương thế gi ới, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác phẩm lớn trong vãn chương thế giới
Tác giả: Vũ Dzũng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
17.Nguy ễn Đức Đàn (1996), Hành trình văn học Mỹ, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình văn học Mỹ
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 1996
19.Phan Quang Định (1997), Cu ộc đời sôi động đam mê của Hemingway , Nxb Van Ngh ệ, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cu ộc đời sôi động đam mê của Hemingway
Tác giả: Phan Quang Định
Nhà XB: Nxb Van Nghệ
Năm: 1997
20.Hà Minh Đức, Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận, T(2) , Nxb Đại học và Trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận
Tác giả: Hà Minh Đức, Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
21.Hà Minh Đức (chủ biên)... (2002), Lý lu ận văn học , Nxb Giáo D ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu ận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo D ục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w