1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đóng góp của văn học quốc ngữ ở nam bộ cuối thế kỷ xix và đầu thế kỷ xx vào tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam

238 826 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn này được hình thành nhằm mục đích phác họa dung mạo riêng của văn học quốc ngữ Nam bộ thời kỳ này, với tư cách là một bộ phận của văn học Việt Nam, luôn đi sát các tiến trình củ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ NG ỌC THÚY

ĐÓNG GÓP CỦA VĂN HỌC QUỐC NGỮ Ở NAM

LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Lê Ngọc Thuý

Trang 4

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

PH ẦN DẪN NHẬP 6

1 Ý nghĩa cấp thiết của đề tài 6

2 L ịch sử vấn đề 8

3 Ph ạm vi nghiên cứu của luận án 13

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Đóng góp của luận án 13

CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG - THẨM MỸ, VĂN HÓA NGH Ệ THUẬT 15

1.1 B ổi cảnh lịch sử xã hội 15

1.2 Nh ững tiền đề thẩm mỹ tư tưởng của sự hình thành văn học quốc ngữ Nam bộ cu ối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 17

1.3 Vai trò c ủa chữ quốc ngữ 19

1.4 Phiên âm qu ốc ngữ, biên khảo văn học, ngữ học, dịch thuật 23

1.5 Vai trò c ủa báo chí 49

1.6 Văn học sân khấu Vai trò của cái lương 55

CHƯƠNG 2: VĂN CHÍNH LUẬN VÀ BÚT CHIẾN TRÊN BÁO CHÍ Ở NAM B Ộ TRONG BA THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỶ XX 64

2.1 Hoàn c ảnh ra đời của văn chính luận và bút chiến 64

2.2 Văn chính luận và bút chiến giai đoạn từ đầu thế kỷ đến 1918 67

2.3 Văn chương chính luận sau 1918 Trần Hữu Độ và Nguyễn An Ninh 93

2.4 T ừ tân thư Trung quốc đến tân thư Việt Nam 112

CHƯƠNG 3: TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN Ở NAM BỘ 117

CU ỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 117

3.1 Quan ni ệm về tính hiện đại trong tiểu thuyết vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 119

3.2 V ấn đề xác định tính hiện đại trong các tiểu thuyết và truyện ngắn tiên phong đầu thế kỷ XX 125

3.3 Nh ững vùng đề tài phổ biến Nhận xét về đề tài trong tiểu thuyết và truyện ngắn ở Nam bộ 131

3.3.1 Những vùng đề tài phổ biến 131

3.3.2 Vài nhận xét về những vùng đề tài của tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ 138

3.4 S ự hình thành nhân vật tiểu thuyết Quan niệm nghệ thuật về con người 147

Trang 5

3.4.1 Vài vấn đề về nhân vật văn học - Nhân vật tiểu thuyết 147

3.4.2 Thơ vè thời sự, về nhân vật và sự hình thành cảm hứng về nhân vật tiểu thuyết 149

3.4.3 Một số nét cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuvết Quan niệm nghệ thuật về con người 153

3.5 S ự phát triển của ngôn ngữ văn chương Từ văn xuôi quốc ngữ đến văn xuôi ti ểu thuyết 170

3.5.1 Câu văn quốc ngữ giữa thế kỷ XIX 171

3.5.2 Câu văn quốc ngữ trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX 176

3.5.3 Vài ghi nhận chung 184

PH ẦN KẾT LUẬN 191

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 198

PHẦN PHỤ LỤC 210

Trang 6

PHẦN DẪN NHẬP

1 Ý nghĩa cấp thiết của đề tài

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước đầu hiện đại hóa theo xu hướng tiếp biến những ảnh hưởng của khu vực và tây phương Bắt đầu từ Nam kỳ thuộc Pháp, trong những điều kiện đặc biệt của xã hội, lịch sử, văn học Việt Nam đã đi những bước đầu tiên bằng mảng văn học quốc ngữ xuất hiện sớm nhất ở miền Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tuy mảng văn học này là một hiện tượng văn học sử độc đáo nhưng đã

từng bị bỏ quên, bỏ qua không nhắc đến vì một số ý kiến như:

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi văn học Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng văn học quốc ngữ, thì Nam bộ là một “vùng trắng” Gần như không có sự hiện diện của sinh

hoạt văn chương học thuật

- Nếu có một số các hiện tượng báo chí hoặc văn học, thì chất lượng kém, không phải

là văn chương đúng nghĩa

- Không có giá trị gì đáng kể trong việc đóng góp vào vào quá trình hiện đại hoá của văn học dân tộc trong giai đoạn chuyển từ chữ Nho với phương thức nghệ thuật trung đại sang chữ quốc ngữ với phương thức nghệ thuật hiện đại

Do đó, dù là bộ phận tiên phong trong quá trình hiện đại hoá, văn học quốc ngữ Nam

bộ cuối thế kỷ XIX đầu XX vẫn chưa được chính thức thừa nhận một cách đầy đủ trong các chương trình giảng dạy văn học các cấp Việc đánh giá mảng vần học quốc ngữ ở Nam bộ

buổi đầu có những hiện tượng nêu trên xuất phát từ nhiều lý do: chiến tranh, chia cắt, điều

kiện giao lưu, lưu trữ

Luận văn này được hình thành nhằm mục đích phác họa dung mạo riêng của văn học

quốc ngữ Nam bộ thời kỳ này, với tư cách là một bộ phận của văn học Việt Nam, luôn đi sát các tiến trình của lịch sử dân tộc và đã có những đóng góp nhất định vào quá trình hiện đại hóa Nó có riêng cả một phương thức sáng tác, một sắc thái độc đáo, có đủ chiều rộng và chiều sâu Qua đến nhiều năm về sau, trong tốc độ phát triển của đất nước và trong xu thế

thống nhất về văn hoá, văn học, thống nhất ngôn ngữ viết, thì phong thái văn học phương Nam, cảm hứng phương Nam với sự hiện diện của ngôn ngữ và màu sắc địa phương, màu

Trang 7

sắc dân gian Nam bộ vẫn còn là điều hấp dẫn tạo làm nên sự thành công của nhiều tác phẩm văn chương, nghệ thuật Điều này cho thấy rằng ở một mặt nào đó, văn học miền Nam đã

chứng tỏ bản lĩnh của mình khi đã phát huy và thành công ngay ở cái khía cạnh ban đầu vẫn

bị coi là “điểm yếu”

Điều này gợi nhớ đến trường hợp của văn học Mỹ, một nền văn học vùng đất mới được phối hợp từ nhiều nguồn văn học, từng bị đánh giá thấp bằng khái niệm “nồi hầm

nhừ”, cuối cùng cũng đã tìm được chỗ đứng đáng kể vói tên tuổi của một số nhà văn và tác

phẩm thể hiện được đẩy đủ bản sắc riêng về mọi mặt, đã có những đóng góp đáng kể cho thi pháp tiểu thuyết hiện đại như kết cấu, ngôn ngữ văn chương Bernard Shaw đã phải công

nhận: “Sau cùng nước Mỹ đã sản xuất được một nền văn nghệ riêng, chứ không còn làm

người Châu Âu buồn ngủ bởi những tác phẩm họ bắt chước của người Âu, nhưng không lột được những điều tốt đẹp” [173, 442]

Người lưu dân miền Nam thì có khác Càng xa quê hương, mang thân phận thuộc địa,

họ càng nâng niu truyền thống, càng tích cực chống lại sự đồng hoá về văn hóa của ngoại bang Với phương thức của riêng mình, họ đã làm nên một truyền thống mới trên cái tinh hoa của truyền thống cũ

Khuynh hướng chung của thế giới hiện nay là xoá bỏ các định kiến về văn học khu

vực và tiến đến sự công nhận các giá trị riêng, bản sắc riêng của văn học các dân tộc Văn

học Việt Nam cũng theo những tiến trình tương tự Tính chất khu vực chỉ là một hiện tượng

nhất thời, không thể kéo dài vì nó đi ngược lại với ý chí thống nhất về phương diện phát triển văn hóa, văn học toàn dân tộc trên cơ sở tổng hợp đầy đủ sắc thái chung riêng của mọi

miền đất nước Dân tộc Việt Nam chỉ có một nền văn học duy nhất, và văn học quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một bộ phận trong đó Dù cho đến bây giờ, vẫn chưa có các giáo khoa, giáo trình giảng dạy văn học chính thức trong nhà trường phổ thông

và kể cả đại học giới thiệu một cách đầy đủ các tác phẩm dịch thuật, biên khảo, chính luận, sáng tác xuất hiện trong văn học quốc ngữ miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX như là một trong các bộ phận chính thức của nền văn học dân tộc trong giai đoạn đầu hiện đại hoá, nhưng những nỗ lực phấn đấu sao cho nó được chính thức hội nhập vào dòng lịch

sử văn học Việt Nam, mà “không cần cường điệu, tô điểm hoặc chiếu cố trong việc đánh giá, gạn lọc”, vẫn là điều cần làm Hơn nữa, việc nghiên cứu văn học sử không phải là một

Trang 8

cái gì đó bất biến, cố định, mà luôn luôn là một dòng phát triển sinh động, với yêu cầu vươn

tới những giá trị đích thực Luận văn này được thực hiện trên tinh thần đó

2 Lịch sử vấn đề

Những ý kiến về giá trị thấp của mảng văn học quốc ngữ ở miền Nam đã bắt đần xuất

hiện trên báo chí từ thập niên 30, sau đó là trong một số tác phẩm văn học sử Việt Nam sau

1930 Có thể nêu ra một số sự kiện như sau:

- Trận bút chiến về vấn đề phát âm, chính tả và chữ viết của người miền Nam, phần nào đó cũng là vấn đề “chất liệu văn chương” thể hiện trình độ văn học ở Nam kỳ, bắt đầu

từ bài viết Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ và thế lực của phụ nữ của Phan Khôi đăng trên báo Phụ

nữ tân văn số 28 ngày 7/11/1929 Phan Khôi cho rằng “Thòi Pétrus Ký người ta viết đúng

mặc dù dân chúng có phát âm sai nhưng bây giờ thì ôi thôi loạn, ai muốn viết thế nào thì

viết” Phan Khôi cũng cho rằng trong đó có phần lớn trách nhiệm của nhà văn, nhà báo, vì ông cho rằng có người là trí thức mà viết tên mình cũng sai (Nguyễn Chánh Sắt (không là

Sắc), Đặng Thúc Liêng (không là Liên) Thật ra Phan Khôi không biết đó là một tập quán riêng ở Nam bộ)

- Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng có ý kiến tương tự:

“Càng xuống miền Nam bao nhiêu, càng sai bấy nhiêu Điều đó do ở sự phát âm của người miền Nam Trung kỳ và Nam kỳ phát âm tiếng Việt Nam không đủ giọng bằng người

Bắc kỳ và Trung Kỳ Bởi thế cho nên khi đặt quốc ngữ, chỉ dùng giọng Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ là đủ” [125, 19]

Đây không chỉ là một nhận xét đơn thuần về mặt ngữ học, mà nó sẽ liên quan đến nhiều nhận xét khác về vai trò, giá trị của mảng văn hoá, văn học Nam bộ thời kỳ đầu thế

kỷ Nhưng đã thừa nhận là “chữ quốc ngữ tuy căn cứ vào giọng miền Bắc, nhưng lại bắt đầu được thông dụng, được học tập, được in thành sách, lại là công của đồng bào ta trong Nam

kỳ” [125, 19], thì cũng có nghĩa là đã xác định rằng chữ quốc ngữ đã phát triển mạnh ở đất Nam kỳ Chất liệu chính để sáng tác đã phát triển được, thì không có lý gì tác phẩm lại không có một giá trị nào? Nhưng sau đó, trong phần nói về báo chí Việt Nam thời kỳ đầu, thì theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, chủ yếu chỉ là nhóm Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí ở ngoài Bắc, vì “Đại Việt tân báo và Nông cổ mín đàm lại là những báo chí không có tính cách văn học chỉ đăng rặt những tin vặt, những thông báo của chính phủ,

Trang 9

những bài diễn văn của người đương thời, hay nếu có đăng thơ văn thì cũng chỉ là thơ văn

của độc giả, nhà báo đăng một cách khuyến khích, chớ chưa đáng kể là thơ văn Còn nếu có truyền bá học thuật tư tưởng phương tây, thì truyền bá một cách thấp kém ” [125, 29] Vũ

Ngọc Phan đã kết luận rằng “quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào,

và chú trọng về tư tưởng, là công của các nhà biên tập hai tờ báo ở Bắc Hà: Đông Dương

tạp chí và Nam Phong Tạp chí” [125, 30]

Về phương diện phê bình văn chương quốc ngữ thời kỳ đầu, bên cạnh nhiều nhận định hay (thí dụ như về Hoàng Ngọc Phách và Tố Tâm), Vũ Ngọc Phan cũng chưa kể đến những tác giả tiên phong khác, từ đó ông để lại một ảnh hưởng lớn cho nhiều thế hệ các nhà nghiên

cứu về sau Trong hơn ngàn trang của Nhà văn hiện đại, ông chỉ dành cho Trương Vĩnh Ký

8 trang, Hồ Biểu Chánh 9 trang, với chỉ vài nhận định sơ sài

- Chủ bút báo Nam Phong là Phạm Quỳnh, trong bài Một tháng ở Nam Kỳ (Nam

Phong số 17/1919) đã nhận xét “sinh hoạt văn hóa ở Nam kỳ thì có nhiều hơn Bắc và Trung

kỳ về cái lượng, nhưng còn cái phẩm có xứng đáng với cái lượng không? Cho nên xét các đồng bào ta ở Nam kỳ lục tỉnh hình như có ý trọng cái lượng hơn cái phẩm Đó cũng là một điều khuyết điểm của học giới, báo giới Nam kỳ vậy ”, về sách thì: “các sách quốc ngữ

xuất bản ở Sài gòn không biết bao nhiêu mà kể nếu sưu tầm lại thì được cả một thư viện

nhỏ, những tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời, văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn

là những truyện huyền hoặc quái đản của mấy bác cuồng nho bên Tàu thời xưa ngồi không

bịa đặt ra để khoái trá bọn hạ lưu vô học Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy,

khả kính thay Không trách các tư tuởng quốc dân chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng,

có khi sinh ra việc xuẩn động hại đến cuộc trị an trong xã hội vì đó Ấy là cái tệ các tiểu thuyết cũ của Tàu Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay thì lại càng thậm hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy ”

- Nhà thơ miền Nam Đông Hồ, đã có nhiều thơ đăng trên báo Nam Phong, lần đầu tiên

tiếp xúc với tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng đã từng nêu lên mối ác cảm của mình đối với

thứ văn bạch thoại, “kém chất văn chương” của tác giả (Tạp chí Văn, Sài Gòn 15-4-1967) Nhưng sau đó Đông Hồ đã khẳng định lại “cứ đào sâu về địa hạt này (văn bạch thoại), cứ tìm hiểu về một phương điện này, chúng ta sẽ thấy có nhiều giá trị văn chương ở tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh”

Trang 10

- Dương Quảng Hàm có quyển Việt Nam văn học sử yếu Trong mục lục các chương

của cuốn sách không thấy các tên tuổi ở Nam bộ đã sống và sáng tác trước hoặc đồng thời

với những tác giả được nêu ra Về văn xuôi, học thuật, dịch thuật, thơ ca, quyển sách có nói đến nhiều tên tuổi như Nguyễn Bá Học, Phan Kế Bính, Tương Phó, Hoàng Ngọc Phách,

Nhất Linh, Khái Hưng mà không thấy Trường Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh sắt, Lê Hoàng Mưu, Hồ Biểu Chánh

- Đảo Đăng Vỹ với quyển Lịch trình tiến hoá của văn học và tư tưởng Việt Nam hiện

đại (1937); Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, và đại đa số các giáo

khoa, giáo trình lưu hành ở các trường phổ thông miền Nam trong những thập niên 60, 70 đại đa số đều gần nhau về quan điểm

- Đến năm 1988, trong quyển Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời từ 1900-1930 của

Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng cũng không hề đề cập đến ít nhất là một mảng nào đó của văn học quốc ngữ ở Nam kỳ Chẳng hạn như trong khi viết về phong trào Duy tân đầu thế

kỷ chỉ nhắc đến Bắc kỳ và Trung kỳ [59, 63]

Tuy nhiên, trong tình hình chung, tính từ thập niên 60, ở ngoài Bắc và trong Nam đã

bắt đầu xuất hiện nhiều sách giáo khoa, sách nghiên cứu đã đánh giá, nhận định về mảng văn học này theo cách nhìn mới ở các mặt sau:

- Vấn đề sự hiện hữu của một nền văn học đúng nghĩa

- Vấn đề chất lượng của các bộ phận tạo thành mảng văn học này

- Vai trò và giá trị của nó trong việc đóng góp vào quá trình hiện đại hoá của văn học dân tộc trong giai đoạn đầu thế kỷ XX

Năm 1969, quyển Khi những lưu dân trở lại của Nguyễn Văn Xuân ra mắt tại Sài Gòn,

trong đó đã nêu những luận điểm mới về văn học Nam bộ thời kỳ đầu:

“Tại sao nhắc đến tiểu thuyết phôi thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả

miền Nam khoảng đầu thế kỷ? Trần Chánh Chiếu, Lý Hoàng Mưu (thật ra là Lê Hoằng Mưu), Tân Dân Tử là những tác giả đã thành công lớn ở miền Nam khi chính ở miền Bắc chưa ai biết tiểu thuyết là gì? Không thể nhìn bộ “Chăng cà mum” chẳng hạn bằng con mắt

của người thời nay mà không thấy đó là sự thành công đáng kể của văn học nước nhà, nhất

là về phía quần chúng? Cũng như tại sao nhắc đến Nguyễn Văn Vĩnh mà không nhắc đến

Trang 11

các dịch giả truyện Tàu đầu tiên, những người đã có công dẫn khởi cho văn nghệ miền Nam trong buổi ban đầu?” [176, 11]

Đầu thập niên 70 ỏ Sài Gòn cũng đã xuất hiện một số công trình biên khảo đặt lại nhiều vấn đề như câu văn bạch thoại của Hồ Biểu Chánh không phải là “nôm na mách qué, xuôi tuột”, “hời hợi” mà nó thể hiện cho sự tiến hóa của quốc ngữ trong vùng đất mới Nhiều vấn đề về Hồ Biểu Chánh đã được xem xét, khẳng định lại (Tạp chí Văn, 15-4-1967,

số đặc biệt về Hồ Biểu Chánh)

- Công trình của nhóm Trần Văn Giáp Lược truyện các tác gia Việt Nam tập II xuất

bản tại Hà Nội năm 1972 cũng đã nêu lên một nhận xét thận trọng về văn học quốc ngữ Nam kỳ thời kỳ đầu thế kỷ, đã chú ý đến các tác phẩm đã xuất hiện ở Nam kỳ trước đó của các tác giả như Lê Hoàng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh

- Trong Ti ểu thuyết Việt Nam hiện đại, ở một mức độ nhất định, nhà nghiên cứu Phan

Cự Đệ cũng đã có nhắc đến, Tiền bạc bạc tiền của Hồ Biểu Chánh

Sau khi đất nước thống nhất, nhiều công trình nghiên cứu về văn học Nam bộ cuối thế

kỷ XIX đầu XX đã có những tìm kiếm công phu và đã phân tích, đánh giá văn học quốc ngữ Nam bộ bằng những luận điểm mới mẻ, tiến bộ, và tương đối thống nhất về mặt quan điểm

Có thể kể một số như:

- Công trình H ợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858-1930 của NXB Văn Học, Hà Nội đã đề

cập và xác định bước đầu một số giá trị của mảng văn học công khai ở miền Nam thời đầu

thế kỷ: “Văn học yêu nước và văn học hợp pháp là những đứa con cùng mẹ sống cạnh nhau,

học tập lẫn nhau và thừa hưởng những thành tựu, những tìm tòi, những thu hoạch và phát

kiến của nhau Văn chương hợp pháp có phương tiện hơn, có đất thể nghiệm hơn, đã hoàn thiện nhiều thành tựu mà văn học yêu nước sẽ vận dụng để nói lọt tai một công chúng mới

gồm nhiều tiểu tư sản trí thức, học sinh, thợ thủ công và nông dân” (Trích lời giới thiệu Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858-1930, Huỳnh Lý chủ biên, NXB Văn Học Hà Nội 1984)

- Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930 của nhà nghiên cứu Bằng Giang, NXB Trẻ tp

Hồ Chí Minh, 1992, là một công trình biên khảo nghiêm chỉnh, công phu, với nhiều tư liệu quí giá, đã đặt lại nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng về mảng văn học này Công trình của

Bằng Giang đã nêu ra nhiều tác giả, tác phẩm, nhiều vấn đề, nhiều trường hợp rất cần được xem xét lại, tiêu biểu như trong các bài Ông Trương chẳng qua chỉ là một người làm sách

Trang 12

cho con nít h ọc mà thôi [79, 45], Trương Minh Ký, người đi tiên phong trong văn học dịch Hán Vi ệt [79, 73], Trần Hữu Độ, người mội thời đã làm sổi nổi can trường [79, 200]

Ngoài ra, công trình này còn đưa ra một thư mục đáng tin cậy về văn học quốc ngữ Nam kỳ đầu thế kỷ, bên cạnh việc nêu ra một số trường hợp các tác giả của mảng văn học này đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài chú ý như Trần Hữu Độ (David G Marr nghiên cứu

T ờ cớ mất quyền tự do), Trương Duy Toản (John Shiffer nghiên cứu Phan Yên ngoại sử)

- Nh ững bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới của Bùi Đức Tịnh, NXB tp Hồ

Chí Minh 1993

- Ti ến trình văn học miền Nam của Nguyễn Q Thắng, An Giang 1990

- Văn học Nam bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX, của các tác giả Thành Nguyên, Hoài

Anh, Hồ Sĩ Hiệp Tp HCM 1988

- Năm 1988, tập 2 của Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh ra đời, trong đó có

phần đặc biệt dành cho văn học miền Nam, đã đưa ra một thư mục đáng tin cậy, dồi dào và phong phú về văn học miền Nam thời kỳ bắt đầu hiện đại hoá (Thư mục này được sắp xếp

lại và bổ sung thêm trong lần tái bản 1999 kỷ niệm 300 năm Sài gòn)

Bên cạnh đó, còn có những luận án thạc sĩ, tiến sĩ đã và đang làm về mảng văn học này như:

- Luận án tiến sĩ của Tôn Thất Dụng được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

I năm 1993 với đề tài Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt

ở Nam bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932 Tác giả luận án nêu rõ mục đích “góp

phần đính chính những nhận định chưa thỏa đáng về thể loại tiểu thuyết văn xuôi ở nước ta trong các công trình nghiên cứu trước đây” đồng thời “xác định vị trí và vai trò của tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ trong tiến tình hình thành thể loại tiểu thuyết ở nước

ta, xác định sự đóng góp của tiểu thuyết Nam bộ vào việc cách tân văn học Việt Nam giai đoạn này” (trích tóm tắt)

Đây là một hiện tượng đáng phấn khởi trong quá trình đặt văn học Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào đúng vị trí và giá trị của nó trong sự phát triển của nền văn học toàn dân tộc

Trang 13

3 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Trong 3 vấn đề đã được đặt ra cho văn học quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX (vấn đề sự hiện hữu của một nền văn học đúng nghĩa, xác định các bộ phận cơ

bản của nền văn học này, vai trò và giá trị của nó trong việc đóng góp vào quá trình hiện đại hóa của văn học dân tộc trong giai đoạn đầu thế kỷ XX), vấn đề 1 tương đối đã được làm sáng tỏ Vì thế, luận án này nhằm vào 2 vấn đề sau, là xác định ý nghĩa, giá trị của các bộ

phận cơ bản như biên khảo, dịch thuật, văn học sân khấu 1 Đặc biệt trọng tâm của luận án

là lĩnh vực sáng tác bao gồm văn chương chính luận, tiểu thuyết và truyện ngắn

4 P hương pháp nghiên cứu

Để giải quyết yêu cầu của đề tài, bước đầu tiên là sưu tầm các tư liệu, văn bản về mảng văn học này, gồm những tư liệu đã được công bố và chưa được công bố, sau đó xếp vào

từng loại thể riêng để nghiên cứu đặc điểm, giá trị và những đóng góp của từng thể loại và tác phẩm vào quá trình hiện đại hóa Trong toàn luận văn, có lần lượt phối hợp sử dụng các phương pháp như: phương pháp nghiên cứu hệ thống, như hệ thống thể loại, đề tài, cảm

hứng, hệ thống hình tượng, xung đột, các yếu tố ngôn ngữ, phong cách trong một tác

phẩm hoặc một loạt tác phẩm; phương pháp lịch sử (xem xét các tác phẩm, các trào lưu trong các chiều hướng như: vấn đề phát sinh lịch sử, biến sinh lịch sử ), phương pháp so sánh (so sánh thể loại, đề tài, môtip, tư tưởng, phong cách, trào lưu ) Các phương pháp trên được phối hợp sử dụng trong quá trình phân tích văn học sử, phân tích các hiện tượng văn học, phân tích tác phẩm và các yếu tố của tác phẩm

5 Đóng góp của luận án

Việc nghiên cứu về văn học quốc ngữ miền Nam đầu thế kỷ XX đã từ lâu được tiến hành với nhiều luồng song song Đó có thể là những nhà nghiên cứu đã từng đóng góp nhiều công trình có ý nghĩa như Bằng Giang, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn

1 Còn m ột bộ phận nữa là thơ mới Luận án không đề cập đến vì phong trào cổ vũ thơ mới chỉ xuất

hi ện tại Nam bộ từ sau 1930 trong thời kỳ hoạt động của báo Phụ nữ tân văn (Phụ nữ tân văn ra đời vào tháng 5/1929, bài thơ “Tình già” của Phan Khôi ra đời năm 1932, Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh chính thức

cổ vũ thơ mới vào năm 1933) Tuy thơ mới ở Nam bộ vẫn là một hiện điện đáng kể, nhưng thơ là một lĩnh

v ực rộng lớn và phức tạp, cần có nhữig công trình nghiên cứu riêng.

Trang 14

Trung, Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Hoài Anh ; hoặc nhóm nghiên cứu như Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh Một luồng quan trọng nữa là các luận án tiến sĩ, thạc sĩ của các nghiên cứu sinh chung quanh mảng văn học này Các công trình nghiên cứu của các tác giả

hoặc các nhóm tác giả trên đều đã nghiên cứu về từng bộ phận của mảng văn học quốc ngữ

miền Nam Tuy nhiên cho đến nay cũng chưa có một công trình nào trình bày mảng văn học này như một hệ thống mang tính chất văn học sử gồm các phần cấu tạo tương đối đầy đủ bao gồm biên khảo, địch thuật, văn học sân khấu, văn chính luận, sáng tác tiểu thuyết và truyện ngắn Luận văn này trước hết hướng về ý nghĩa văn học sử để bước đầu có cái nhìn toàn cảnh về một giai đoạn văn học với một số các thể loại cơ bản làm thành một hệ thống

đã có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình hiện đại hoá của văn học dân tộc Ngoài ra, không chỉ dùng lại ở góc độ văn học sử, luận văn cũng nêu ra ý nghĩa, giá trị đóng góp riêng

của từng phần về các phướng diện thể hiện đời sống văn hoá, tinh thần, nhận thức thẩm mỹ, quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc sống cũng như ý nghĩa của một số hiện tượng đặc biệt về văn chương, văn tự, ngôn ngữ, nghệ thuật ở Nam bộ thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX

Trang 15

CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG - THẨM

MỸ, VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

1.1 Bổi cảnh lịch sử xã hội

Nền văn học quốc ngữ ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã được hình thành

ra trong thời kỳ miền Nam rơi vào vòng thuộc địa qua nhiều chặng đường xâm lăng của

thực dân Pháp Tính từ khi đồn Kỳ Hoà thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông (1862) rồi thu tóm hết cả 6 tỉnh Nam kỳ 1 (1867), cho đến hoà ước Patenôtre 1884 thì Việt Nam hoàn toàn mất hết độc lập chủ quyền Từ đó đã dẫn đến nhiều biến chuyển quan trọng trong xã hội Nam kỳ

Thống đốc dân sự đầu tiên Le Myre de Villers đã thành lập Hội Đồng thành phố Sài Gòn, Hội đồng quản hạt Nam kỳ với đại đa số là người Pháp Việc cai trị được thực hiện đồng loạt với việc khai thác Hiện tượng lịch sử nổi bật của thời kỳ này là các cuộc nổi dậy

của nghĩa quân miền Nam dưới sự chỉ huy của các tướng lãnh không phục mệnh triều đình, các quan lại, sĩ phu yêu nước như Hồ Huân Nghiệp ở Mỹ Tho, Trương Định ở Gò Công,

Trần Thiện Chánh và Lê Huy, Cai tổng Là cùng đề đốc Nguyễn Văn Tiến ở Bình Chánh, cần Giuộc, Rạch Kiến Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc chính là để

ca ngợi những tấm gương hy sinh anh dũng của những nghĩa quân đó Tuyệt đại đa số nhân dân không hợp tác với chính quyền địch Có nhiều nơi họ tự tay đốt hết nhà cửa, vườn tược Không có điều kiện đi theo nghĩa binh thì cũng đi “tị địa” ra khỏi “đất quỉ” (vùng bị Pháp chiếm) Nguyễn Đình Chiểu đã tị địa về Cần Giuộc khi Pháp chiếm Sài Gòn Thực dân Pháp

bằng mọi cách đàn áp các cuộc khởi nghĩa của thời kỳ đầu, với nhiều cách như dùng sức

mạnh quân sự, sử dụng Việt gian, trong đó có các tên khét tiếng như Huỳnh Công Tấn, Trần

Bá Lộc

1 Năm 1834, thành Gia Định được đổi tên làm Nam kỳ gồm sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Tên Nam kỳ được dùng cho đến thời Pháp thuộc Tên Nam bộ là tên quen dùng, để chỉ vùng đất xưa là phủ Gia Định, Trấn gia Định, thành Gia Định và Nam kỳ lục tỉnh Theo lời tựa

“Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ”, Huỳnh Lứa chủ biên, NXB tp Hồ Chí Minh 1981, trang 15

Trang 16

Năm 1885 đã nổ ra cuộc khỏi nghĩa 18 thôn Vườn Trầu, chiếm Hóc Môn, giết việt gian Đốc Phủ Ca Cuộc khỏi nghĩa kết thức bằng 14 án tử hình của thực dân Pháp dành cho

những người yêu nước Đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn liên tiếp hai cuộc khỏi nghĩa nữa vào năm 1913 và 1916 Khi phong trào Cần Vương, đa số dưới hình thức khởi nghĩa quân sự

vừa tàn lụi, thì phong trào Duy Tân được dấy lên ở cả ba miền Người Việt Nam đã nhận ra

thế yếu của mình trong cuộc chiến đấu vũ lực không ngang sức, phải chuyển qua hình thức đấu tranh khác Riêng ở Nam kỳ, khi bước vào thời kỳ thuộc địa thi hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp trên các mặt kinh tế, văn hóa xã hội và chính trị là thích hợp hơn cả Năm 1903 cụ Phan Bội Châu đã đến vùng Thất Sơn Châu Đốc để gặp gỡ một nhà sư họ

Trần và kiểm điểm lực lượng Cần Vương ở miền Nam còn sót lại, và cũng đã gặp các nhà duy tân ở Nam kỳ thời đó như Đặng Thúc Liêng ở Sài Gòn, Nguyễn Thần Hiến ở Cần Thơ Phong trào Đông Du được mở đầu bằng chuyến đi Nhật của cụ Phan Bội Châu năm 1905

Sau khi Ai cáo Nam k ỳ phụ lão được phổ biến thì phong trào này đã phát triển rất mạnh mẽ

Khoảng 1907-1908, trong con số du học sinh cả nước ước khoảng 200, thì Nam Kỳ đã chiếm hết 100 [83, 253] Nhiều phương tiện truyền thông đại chúng cổ vũ cho phong trào này như các tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn Nhiều nhân sĩ trí thức, các nhà báo, nhà văn đã tham gia phong trào như như Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng, Lương Khắc Ninh Các phong trào trên đã thể hiện một bước trưởng thành trong ý

thức của nhân dân Nam kỳ về mối tương quan giữa dân tộc và thế giới trên con đường giải phóng đất nước

Sài Gòn và các trung tâm lớn của Nam kỳ từ từ được đô thị hoá, kéo theo sự xuất hiện

của tầng lớp tư sản và tầng lớp thợ thuyền, công nhân Tầng lớp tư sản Nam kỳ thời kỳ này

chỉ mới là số ít, hiếm người Việt Nam làm giàu được ngay trên đất nước của mình trong lãnh vực doanh thương, và còn rất vất vả trong cuộc cạnh tranh với các thế lực kinh tế của Chà và, Tây, Tàu Nền kinh tế khai thác thuộc địa của Pháp đã tỏ ra hoạt động có hiệu quả

cảng Sài Gòn được mở năm 1860, và Giác công nghiệp liên quan đều được chú ý phát triển như nghề đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay lúa Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, nhất là ở những trung tâm quan trọng như Sài Gòn, Chợ Lớn Nhưng tất cả đều ở trong tay của Tây và Tàu Người Việt Nam đã nhận thức ra rằng việc phát triển kinh tế Nam kỳ, xây dựng nhà máy, cầu cống, đường xá, tất cả chỉ nhằm mục tiêu khai thác chứ không phải vì “khai hóa” Hệ quả tất yếu của chính sách thực dân về mặt chính trị và kinh tế

là đã gây ra một sự phân hóa sâu sắc trong các tầng lớp xã hội ở Nam kỳ Ngoài số bồi bếp,

Trang 17

thông ngôn, lưu manh, thì trí thức nho học hoặc tây học chịu hợp tác như trường hợp Tôn

Thọ Tường nói chung là ít Khi buộc phải hợp tác, hoặc phải chịu sự lãnh đạo của thực dân

để hoạt động công khai thi thường đó là những trường hợp phức tạp, có khi mang nhiều tính

bi kịch như trường hợp Trương Vĩnh Ký, hay trường hợp các nhà trí thức trong làng báo Nam kỳ đầu thế kỷ XX Chính đây là một trong những lý do đã tạo ra một cái nhìn dè dặt,

nếu không nói là nghi ngờ giá trị của nền văn hóa, văn học miền Nam thời kỳ thuộc Pháp này

Còn tầng lớp vô sản và giai cấp công nhân tại chỗ cũng có con đường phát triển của

nó Tên tuổi Tôn Đức Thắng không phải chỉ nổi tiếng là lá cờ chống chiến tranh xâm lược trên Hắc Hải năm 1919, mà còn gắn liền với những họat động đầu tiên của công nhân Nam

kỳ như tổ chức Công hội ra đời năm 1921 ở Sài Gòn, cuộc bãi công của công nhân Bason

1925 đòi Pháp phải thực hiện các yêu sách về lương bổng, giờ làm việc, chống sa thải

Cuộc bãi công được nhân dân ủng hộ, và đã chấm dứt thắng lợi [82, 281]

Như vậy, nói chung về mặt lịch sử thời kỳ từ cuối XIX chuyển sang đầu XX, miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn Gia Định đã dần dần trở thành một trung tâm chính trị quan trọng

của Việt Nam, với một sắc thái quốc tế khá rõ nét do nhiều ảnh hưỏng được du nhập từ mọi phía như phong trào công nhân và vô sản từ Nga Xô Viết với cách mạng Tháng Mười, cách

mạng phản đế và phản phong ở Trung Hoa, phong trào canh tân ở Nhật Bần, hoặc nhiều học thuyết chính trị khác như chủ nghĩa Tam dân, chủ nghĩa dân chủ đại nghị Âu Tây [82, 276] Bên cạnh bạo động vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị ngày càng có nhiều màu

sắc đa dạng như công khai, bí mật, biểu tình, các chính đảng, các khuynh hướng cách mạng,

cải lương Các giai cấp, các tầng lớp, các tổ chức chính trị đều muốn thể hiện các chương trình hành động về chính trị, xã hội, văn hóa của mình Trong đó, nổi bật nhất vẫn là ý chí giành lại độc lập tự do, thể hiện trên mọi bình diện sinh hoạt của dân tộc lúc bấy giờ

1.2 Những tiền đề thẩm mỹ tư tưởng của sự hình thành văn học quốc ngữ Nam

bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX theo nhiều phương thức như cách tân dần dần văn học truyền thống theo kiểu phương tây, hoặc gấp rút

hiện đại hóa văn học Việt Nam qua con đường tiếp nhận trực tiếp văn học Pháp Nói cách khác, đó là quá trình chuyển biến từ tiệm tiến đến nhảy vọt Tiến trình hiện đại hoá của văn

học quốc ngữ miền Nam đã diễn ra bằng tất cả các phương thức trên và đồng thời thể hiện

Trang 18

khá đầy đủ những nét lớn của quá trình hiện đại hoá của văn học Việt Nam nói chung (sau giai đoạn đặt nền móng ở miền Nam, sẽ đạt đến thắng lợi hoàn toàn trong thời gian tiếp theo

và Đông du, với những tân thư Việt Nam (bằng chữ Hán như Văn minh tân học sách của nhóm Đông kinh nghĩa thục ở miền Bắc), đặc biệt bằng quốc ngữ đã xuất hiện rất sớm và

rất phong phú trên báo chí miền Nam trong thập niên đầu thế kỷ Ngoài ra, cũng thấy có sự

tiếp nhận cảm hứng nhân đạo, nhân văn truyền thống trong mảng văn chương sáng tác ở

miền Nam (truyện ngắn, tiểu thuyết)

Khi Nho học bước vào giai đoạn cuối mùa trong xã hội giao thời, nền tảng tư tưởng tinh thần và phong cách của văn chương cũ được đổi thay cho phù hợp vói khúc quanh lịch

sử mới, trở thành xu hướng cách tân dần dần văn học truyền thống (Phan Bội Châu tượng trưng cho tư tưởng yêu nước của nhà Nho trong giai đoạn mới, Tản Đà tiêu biểu cho xu hướng của các nhà Nho tài tử) Xu hướng này sẽ chấm dứt ở cả hai mặt hình thức và nội dung trong quá trình hiện đại hóa văn học ở miền Bắc sau năm 1932 Nhưng ở miền Nam,

do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nó vẫn còn những biểu hiện rất phức tạp Xu hướng nhà Nho tài tử không nhiều Ngược lại, ảnh hưỏng Nguyễn Đình Chiểu còn tỏ ra rất sâu đậm trong quá trình hiện đại hóa, từ đó có thể hiểu tại sao xu hướng đạo lý còn tồn tại khá lâu trong

tiểu thuyết và truyện ngắn, tiêu biểu nhất là trường hợp Hồ Biểu Chánh Do hiện đại hóa

sớm nên văn học quốc ngữ Nam bộ một mặt còn gắn bó với phong cách văn chương cổ (văn

biền ngẫu, phong cách ngôn từ truyền thống); mặt khác lại có những cách tân bước đầu rất đáng kể trong việc xây dựng một phong cách ngôn ngữ văn chương không theo con đường qui phạm, mà chú trọng tính chân thực, sinh động, đặc biệt là giữ bản sắc địa phương của lời

ăn tiếng nói hàng ngày

Trang 19

Học tập văn học phương Tây, gấp rút hiện đại hóa các bình diện hoạt động khác nhau

của văn học Việt Nam là con đường thứ hai, cũng là con đưòng dẫn đến sự toàn thắng của văn học quốc ngữ hiện đại Xu hướng này đã xuất hiện sớm nhất ở miền Nam trong lĩnh vực biên khảo, địch thuật hoàn toàn theo phương pháp tây phương (thời Petrus Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của), tiếp theo là trong lĩnh vực sáng tác (tiểu thuyết Thầy Lazaro

Phi ền ra đời năm 1887) Bên cạnh đó, hình thức truyền bá văn chương mới cũng phổ biến

sớm nhất ở miền Nam (nhà in, nhà xuất bản, truyện đăng báo, tổ chức các cuộc thi viết tiểu thuyết ) Trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử miền Nam, việc tiếp nhận ảnh hưởng Tây phương trong văn học quốc ngữ là một quá trình phức tạp và tế nhị Thái độ của văn chương

miền Nam đối với cái cũ và cái mới không ồ ạt, quyết liệt (thay đổi triệt để về đề tài, cảm

hứng, thể loại, ngôn ngữ văn chương), mà những dấu hiệu hiện đại hóa diễn ra một cách ôn hòa trong cả hai phương thức vừa nêu, thể hiện trong quá trình cách tân và chuyển đổi sâu

sắc về cảm hứng và đề tài sáng tác, bên cạnh các yếu tố khác như ngôn ngữ văn chương, cách xây dựng nhân vật

Văn học quốc ngữ Nam bộ còn ra đời trong nhận thức về mối quan hệ giữa Việt Nam

với thế giới và các nước trơng khu vực Văn học quốc ngữ Nam bộ đã dần được hình thành trong những cao trào cách mạng, cao trào văn chương hướng về mục đích canh tân đất nước

và hiện đại hóa văn học, với một cơ cấu như sau:

- Các bộ phận có liên quan đến sự phát triển của văn học như dịch thuật văn học Đông Tây, báo chí, cải lương (với tư cách là văn học sân khấu)

- Bộ phận sáng tác là thành phần chính thức với văn xuôi chính luận, bút chiến bằng

chữ quốc ngữ trên báo chí xuất hiện sớm nhất trong cả nước Đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các mặt trên trong ý nghĩa là những bộ phận mở đường tiến vào một bước ngoặt quan trọng của văn học Việt Nam Đó là giai đoạn xây dựng

nền văn học quốc ngữ của thời kỳ hiện đại

1.3 Vai trò của chữ quốc ngữ

Sau nhiều thế kỷ vay mượn chữ Hán, người Việt Nam luôn hướng về khát vọng có một

thứ chữ riêng để làm phương tiện xây dựng nền văn học dân tộc Vì thế, dù có muộn, nhưng khái niệm “chữ ta” cũng đã xuất hiện chính thức kể từ Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm

Trang 20

thi t ập Sau đó, nhiều kiệt tác văn chương bằng “quốc ngữ Nôm” đã xuất hiện, đánh dấu

những thành tựu lớn của văn chương Trung đại Việt Nam

Không giống như chữ Nôm, “quốc ngữ La tinh” được phát sinh từ con đường tôn giáo

từ bên ngoài vào Buổi sơ khai nó chỉ là công cụ phục vụ cho việc truyền đạo của các giáo sĩ tây phương đến Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XVII, chia làm hai giai đoạn phát triển: 1620 -

1626 và 1631-1648 [31, 20- 39]

Giai đoạn 1: Dấu tích của quốc ngữ thời kỳ này đại đa số được tìm thấy trong các thư

từ viết tay mà các giáo sĩ dòng Jésuites gửi về La mã để báo cáo về tình hình truyền đạo

Hiện nay còn tìm thấy khá nhiều loại thư từ này như: bảng tường trình hàng năm của linh

mục João Roiz gửi về cho La mã năm 1621, bản tường trình của linh mục Gaspar Luis

1621, tài liệu viết về xứ Đàng trong của linh mục Cristoforo Boni 1621 Một loạt các tài liệu

viết tay khác như: của giáo sĩ Alexandre de Rhodes năm 1625, của Gaspar Luis năm 1626,

của Antonio de Fontes năm 1626, của Francesco Buzomi năm 1626 [31, 24-38]

Chữ quốc ngữ lúc này chỉ xuất hiện dưới hình thức các địa danh, các thuật ngữ tôn giáo mà các giáo sĩ dùng mẫu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt, chen lẫn trong các thư từ, tài liệu viết bằng tiếng Ý, tiếng Bồ, tiếng Pháp, chẳng hạn là địa danh như Digcham ( Dinh Chàm); Quinhin (Qui Nhơn); là tên người, chức vụ như Ondedóc (ông Đề đốc), onghe Chiêu (Ông Nghè Chiêu); hoặc các thuật ngữ tôn giáo như: nhít la khấu, khấu la nhít (nhất

là không, không là nhất), Xán tí (Thượng đế), Thienchu (Thiên chúa), Nguoc huan (Ngọc Hoàng)

Giai đoạn 2: Có những tài liệu của Đắc Lộ viết từ 1631-1647 ghi chép về tinh hình truyền giáo ở Đàng Ngoài, cùng nhiều tư liệu của các giáo sĩ khác Đặc biệt tài liệu của Gaspar d’Amaral năm 1632 và 1637 đã cho thấy chữ quốc ngữ đã viết khá hơn Đắc Lộ nhiều Amaral còn soạn một cuốn tự điển Việt Bồ La (Diccionário ananmita- pottugués - latim) trước khi Đắc Lộ soạn từ điển của ông Sở dĩ nó ít được biết đến vì Amaial đã qua đời trước khi kịp ấn hành Trong lời tựa cho lần xuất bản tự điển Việt Bồ La (Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm) năm 1651, Đắc Lộ có thừa nhận ông đã tiếp nhận công khó của Amaral và Barbosa [31, 65]

Trong giai đoạn 2, chữ quốc ngữ đã phong phú hơn với rất nhiều địa danh, tên người, thuật ngữ trong các lĩnh vực, ngoài những từ rời, có khi là cả câu cả đoạn, đặc biệt trong các nghi thức rửa tội Thí dụ: Blai có ba hồn bãy uiá (Trai có ba hồn bảy vía); Chúa Bloy ba

Trang 21

ngôy nhấn danh (Chúa Trời ba ngôi, nhân danh); Tau rữa mãi nhân danh Cha, ùa con, uà spirito Santo (Tao rửa mày nhân đanh cha và con và thánh thần)[31,72, 73]

Ngoài tự điển Việt Bồ La và quyển Giáo lý (Cathechỉsmiis) của Đắc Lộ, năm 1759 còn

có những văn bản chữ quốc ngữ viết tay của hai người Việt Nam Đó là thư của thầy giảng Igsico Văn Tín và đặc biệt là tập Lịch sử nước Annam (tên do người nghiên cứu đời sau đặt

dựa theo nội dung của nó) viết tay của Bentô Thiện viết tại Thăng Long năm 1659 Tuy không dài, nhưng nhưng văn bản này thể hiện được nhiều điều như trình độ phát triển chữ

quốc ngữ thời đó và sự hiểu biết của tác giả về lịch sử, xã hội Việt Nam Cuối thế kỷ XVII còn có Philippê Bỉnh, một tu sĩ Việt Nam lưu trú tại Lisbonne đã để lại hàng nghìn trang

quốc ngữ viết tay khá lưu loát [83, 141]

Sang thế kỷ XIX, còn hai lần chỉnh lý chữ quốc ngữ với từ điển Bê hen (1772) và từ điển Ta be(1838) Sự phát triển chữ quốc ngữ do mục tiêu tôn giáo sau đó bị gián đoạn trong

suốt một thời gian đài cho đến khi nó trở thành một vấn đề thời sự nóng bỏng của người

Việt Nam, trước hết ở Nam kỳ Đó là khi thực dân Pháp đã chiếm được Nam kỳ làm thuộc địa, với những chính sách cai trị cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục Đó cũng là lúc mà người dân Nam kỳ thức tỉnh, đã có nhiều thái độ khác nhau đối với chữ quốc ngữ

Lần nữa, thứ chữ này lại trải qua một giai đoạn thăng trầm trước khi nó trở thành một công

cụ sắc bén phát triển văn hóa văn học và canh tân đất nước về nhiều mặt, trước hết là ở miền Nam rồi đến toàn quốc

Về mặt hành chánh, sau khi chiếm được Nam kỳ, Pháp đã liên tiếp đưa ra một loạt các thông tư, nghị định như nghị định 22-2-1869 về việc chỉ được phép dùng chữ có mẫu tự La tinh trong công văn giấy tờ; nghị định 6-4-1878 công bố việc cưỡng bách sử dụng chữ quốc

ngữ trong giấy tờ hành chánh, tuyển dụng công chức; nghị định 23-7-1879 “thiết lập tiền thưởng cho các công chức, nhân viên chứng minh được là mình biết tiếng Annam” (quốc

ngữ); thông tư 28-10-1879 về việc bãi bỏ chữ Nho và dùng mẫu tự Latinh trong thư từ chính

thức; các nghị định 17-3-1879, 14-6-1880 qui định nền học chánh mới dựa trên chữ Pháp và

Trang 22

quốc ngữ; nghị định 14-6-1880 về việc thiết lập các trường làng, trường tổng, việc thưởng

tiền cho các giáo viên dạy được quốc ngữ

Khác với lĩnh vực hành chánh, việc cưỡng bức sử dụng chữ quốc ngữ trong giáo dục

có phức tạp hơn vì gặp phải nhiều phản ứng của người dân khi họ thấy ý đồ dùng chữ quốc

ngữ để tiến hành việc xoá bỏ nền tảng văn hóa văn học cổ truyền dựa trên Nho học, cắt đứt người Việt Nam với truyền thống cũ Nền học vấn bằng chữ quốc ngữ song hành với chữ Pháp lúc đó một mặt không đáp ứng được những nhu cầu đức dục mà nền học vấn cũ còn đang có sức hút rất mạnh, mặt khác, nó cũng chưa đáp ứng nổi nhu cầu về trí dục Nó chưa được là một nền giáo dục xuất phát từ dân tộc, được dân tộc chấp nhận nên chưa được người Việt Nam ủng hộ [172, 35-47] Việc cưỡng bức học chương trình mới bị người đương

thời coi là một gánh nặng nên đã có trường hợp con nhà giàu bỏ tiền “thuê” con nhà nghèo

đi học và đi Tây thay thế mình Nhiều trí thức Việt Nam xuất thân từ các gia đình có nền

tảng học thức đều bắt đầu bằng con đường Nho học (Trương Vĩnh Ký đã học chữ Nho đầu

tiền, 12 tuổi mới theo đạo Thiên Chúa và được đào tạo Tây học Các tên tuổi như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Đặng Thúc Liêng chỉ chuyển sang tây học trong giai đoạn sau, là thời điểm toàn quốc phát động các phong trào Đông du, Duy tân)

Trong khoảng nửa sau cho đến cuối thế kỷ XIX, dù trong một hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo, ở Nam kỳ đã nổi lên một hiện tượng văn hóa văn học độc đáo Đó là thời kỳ nở rộ

của các tác phẩm biên khảo, dịch thuật, phiên âm quốc ngữ, công trình ngữ học, và kể cả sáng tác văn chương của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn

Trọng Quản Tuy rằng một mặt nó chưa là một phong trào toàn dân, đồng đều trong xã hội, nhưng mặt khác phong trào ấy cũng đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của chữ quốc

ngữ về mặt trình độ tinh luyện, chứng tỏ rằng người trí thức Việt Nam đã phân biệt được kẻ thù và công cụ của kẻ thù, đã biến quốc ngữ thành một công cụ đắc lực trong việc mang lại

một bộ mặt mới, một sức tồn tại mới cho sinh hoạt văn hóa văn học dân tộc

Đầu thể kỷ XX, các phong trào Đông Du, Duy Tân lan trằn khắp ba miền Nam Trung

Bắc với mục tiêu canh tân đất nước để cứu nước Chữ quốc ngữ với đặc tính dễ học bắt đầu được những nhà yêu nước duy tân chú ý sử dụng để truyền bá tân học đến quảng đại quần chúng nhân dân, đồng thời có thể hô hào đấu tranh cách mạng Riêng ở miền Nam, bên cạnh

một số báo chí thân Pháp không đáng kể, thì số báo chí yêu nước và có tinh thần dân tộc đã

Trang 23

đẩy mạnh việc sáng tác văn chương quốc ngữ Lần thứ hai, phong trào sử dụng chữ quốc

ngữ vào mục tiêu văn hóa văn học lại nổi lên, bên cạnh các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã

hội hướng về đấu tranh giành độc lập Vì có quy mô toàn dân với đủ mọi tầng lớp, đủ mọi trình độ nên chữ quốc ngữ thời kỳ này không thể có một diện mạo chững chạc như thời của Pétrus Ký, dễ gây ấn tượng về một sự sa sút, đình đốn Nhưng ít nhất nó đã cũng đã thể hiện được tính hiệu quả cao của chữ quốc ngữ trong việc thay đổi hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân trong xu thế tích cực Mặt khác, nó cũng nói lên một cách đầy đủ và sâu sắc cách nghĩ về mối quan hệ giữa phát âm và ký âm phản ánh trung thực giọng nói địa phương của người miền Nam trước khi quốc ngữ được thống nhất trên toàn quốc về chính tả

và ngữ pháp như hiện nay Nam bộ đã là một nơi thử nghiêm, thực hành việc xây dựng nền văn học bằng chứ quốc ngữ với đầy đủ các bộ phận nghiên cứu và sáng tác, đặt nền tầng cho

sự phát triển rực rỡ của văn học quốc ngữ trong phạm vi toàn quốc ở các giai đoạn tiếp theo

1.4 Phiên âm quốc ngữ, biên khảo văn học, ngữ học, dịch thuật

1.4.1 Phiên âm các truy ện Nôm, phổ biến nhất là các truyện thơ có tác giả hoặc

khuyết danh ra quốc ngữ là một phong trào được rộ lên bắt đầu từ ngay sau khi Pháp chiếm Nam kỳ, thi hành chính sách thực dân về văn hóa (giai đoạn 1) cho đến thập kỷ 20, 30 ở

miền Nam (giai đoạn 2) Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (ấn bản 1999) đã có một thư mục phong phú về hoạt động này Quan sát thư mục có thể rút ra một số nhận định như sau:

- Trong phạm vi ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX và mấy năm đầu của thế kỷ XX, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phan Đức Hòa là những tên tuổi tiên phong Có thể kể đến các tác phẩm phiên Nôm ra quốc ngữ sớm nhất trong phạm vi cả nước

của Trương Vĩnh Ký như Kim Vân Kiều truyện (1875), Lục súc tranh công (1884), Lục Vân

Tiên truy ện, Phan Trần truyện (1889); của Phan Đức Hoà với Nhị độ mai 1884; Nguyễn

Hữu Thoại với Văn Doãn diễn ca (1896); Lương Khắc Ninh với Sãi vãi (1901); Huỳnh Tịnh

của với Quan Âm diễn ca (1903) và Trần Sanh diễn ca (1905), Chinh phụ ngâm, Bạch Viên

Tôn Các, Tho ại Khanh Châu Tuân, Chiêu Quân cống Hồ (1906) Việc phiên Nôm và xuất

bản các truyện Nôm dưới hình thức quốc ngữ còn kéo dài cho đến sang hai thập niên đầu

của thế kỷ XX Việc này tuy lúc đầu đã được thực dân Pháp coi như là một trong những phương án “bình định” Nam kỳ một cách mềm dẻo về mặt văn hóa tinh thần Nhưng trong quá trình diễn tiến của nó, người Việt Nam đã không coi nó là một phong trào nhất thời Nó

Trang 24

đã kéo đài trong nhiều năm, tồn tại song song với nền biên khảo văn học, ngữ học, dịch thuật và sáng tác bằng chữ quốc ngữ

Sang những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, hình thức nghe thơ, nói thơ (quần chúng không biết chữ hay thưởng ngoạn văn chương bằng nghe, nhìn) đã dần nhường bước cho hình thức đọc khi chữ quốc ngữ đã trở thành phổ biến Việc phiên Nôm đã đáp ứng được

một nhu cầu lớn của thời đại Nó đã đem lại một sức sống mới và một hình thức tồn tại mới cho các truyện Nôm vốn rất được yêu thích trong dân gian Hình thức đọc cũng là một cách trau giồi quốc ngữ hữu hiệu, đưa quốc ngữ đi sâu vào đời sống, chuẩn bị cho những mục tiêu to tát hơn sau này

1.4.2 D ịch thuật là một hoạt động thể hiện ý thức phát triển mối giao lưu giữa các nền

văn hoá văn học Tuy lịch sử dịch thuật ở Việt Nam đã bắt đầu khi bộ Tứ Thư được dịch từ

chữ Hán sang chữ Nôm đuổi triều đại Hồ Quý Ly [118, 56], sau đó rải rác một số trường

hợp như bản dịch Chinh phụ ngâm từ Hán ra Nôm, nhưng hoạt động dịch thuật gần như chỉ

được chính thức là một sinh hoạt học thuật sau khi chữ quốc ngữ đã thịnh hành Cho dù ở bề ngoài, nền dịch thuật, biên khảo ở Nam kỳ thuộc Pháp hình như đã bắt đầu từ một chủ trương cai trị mà chính một sử gia Pháp đã xác nhận: “tất cả những gì mà ông Trương Vĩnh

Ký dịch từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ đều không có một mục đích nào khác hơn là làm cho người Nam chấp nhận các mẫu tự latinh thay vì dùng chữ Hán” 1 Và cứ như thế, trong nhiều mâu thuẫn, dằng co mang tính chất lịch sử giữa dân tộc và thực dân, giữa hiện đại và truyền thống, giữa chí hướng, sứ mệnh và thân phận, mảng biên khảo, dịch thuật ra đời Nó

thể hiện cá cái ngặt nghèo lịch sử lẫn sức sống dân tộc Quan sát các thư mục đã được thiết

lập và công bố, tập hợp từ Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh và Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ của tác giả Bằng Giang, có thể nhận xét bước đầu như sau:

- Về dịch gồm có dịch kinh sách Hán văn, gồm ca kịch sách, truyện Tàu, dịch Pháp văn ra quốc ngữ Điểm qua bản thư tịch có thể thấy sự xuất hiện của nhiều tác phẩm dịch có

niên đại sớm nhất nước Năm 1875, Trương Vĩnh Ký đã địch Đại Nam quốc sử diễn ca của

Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát ra quốc ngữ; bản dịch Trung Dung, Đại Học 1881, Minh

Tâm B ửu Giám 1893, Tứ thư 1889, Tam Tự kinh 1884 Trương Minh Ký dịch Kinh Thi đăng

1 Theo “Un savant et un patriote Cochinchinois: Petrus Trương Vĩnh Ký”, trang 48 Sài Gòn 3èm edition, Nguy ễn Văn Của, 1927

Trang 25

trên Gia Định báo, Tiểu học gia ngôn diễn nghĩa 1889, Trị Gia cách ngôn 1895, Ca từ diễn

nghĩa (Kho tàng thơ ca Trung Hoa) 1896 Cũng như việc phiên Nôm, dịch Hán cũng được

kéo dài cho đến cả hai thập niên đầu của thế kỷ XX với rất nhiều dịch giả khác

Phần dịch truyện Tàu phức tạp hơn, rất nhiều dịch giả với nhiều truyện, tuồng tích thuộc, cả hai dòng bình dân và bác học như Tam quốc, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc (bản

dịch Tam quốc chí đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện ở miền Nam, đăng trên Nông Cổ Mín đàm

năm 1901), các tuồng có “tích” trong Tam quốc, Thủy Hử Đặc biệt có bản dịch tuồng San

Hậu (tuồng Việt Nam, có 8 bản dịch của 8 tác giả)

- Dịch Pháp văn ra quốc ngữ với các bản dịch xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam như

Truy ện Phan sa dịch ra quốc ngữ 1884, trong đó dịch 16 ngụ ngôn của La Fontaine; Tê lê

m ặc phiêu lưu ký 1887 của Fénelon khởi đăng trên Gia Định báo từ năm 1885; Truyện nhi đồng Francinet cũng đăng trên Gia Định báo từ 1885, Phú bằn truyện diễn ca 1896, Robinson trên hoang đảo 1886 (tác phẩm của Daniel Defoe, Anh, có lẽ được dịch từ bản

tiếng Pháp) của Trương Minh Ký Việc dịch thuật này được tiếp nỗi với nhiều tên tuổi của

thế kỷ sau như Trần Chánh Chiếu với Tiền căn báo hậu (Le Comte de Monte Cristo) 1907;

Ba chàng ng ự lâm (Les Trois Mousquetaires) 1914; Đỗ Quang Đẩu với 30 tác phẩm dịch

của La fontaine, Nguyễn Ngọc Ẩn dịch thơ Pháp đăng trong các báo Đặc biệt là Nghìn lẻ

m ội đêm cũng đã được du nhập rất sớm vào miền Nam Trên đây chỉ nêu các tác phẩm dịch

có ý nghĩa mở đầu về niên biểu mà thôi, nếu liệt kê ra đầy đủ thì còn rất nhiều

Các lu ồng ảnh hưởng Đông Tây trong dịch thuật

Ảnh hưởng Trung Hoa: Suốt nhiều thế kỷ, các tài năng lớn của văn học Việt Nam

thường dấu đi khía canh sáng tạo của mình, thường chỉ nhận là “cảo thơm lần giở trước đèn” hay “trước đèn xem truyện Tây Minh” Trong lĩnh vực sáng tác, nền văn học trung đại

Việt Nam thể hiện rất rõ những đặc điểm quan trọng trong qua trình giao lưu này qua các

hiện tượng như “tập cổ, vay mượn, biến đổi, xâu chuỗi các chủ đề, biện pháp nghệ thuật, cốt truyện có sẵn.” [139, 189] Tuy nhiên, bản sắc Việt Nam vẫn được gìn giữ, cải biên, ứng tác

mới là điều quan trọng nhất, có khi dẫn đến những sáng tạo thực sự, như các trường hợp Truyện Kiều, bản dịch Chinh Phụ Ngâm

Sau thời kỳ Trương Vĩnh Ký dịch các sách kinh điển Trung Hoa ra quốc ngữ, đầu thế

kỷ XX là thời kỳ các truyện Tàu, từ các danh tác cho đến những tác phẩm “hạng hai” được

dịch ồ ạt Còn ở lĩnh vực sân khấu, các “tuồng Tàu” (có nội dung là các tích truyện trong

Trang 26

truyện Tàu) được phổ biến, được quần chúng hưởng ứng nhiệt tình Một thế hệ dịch giả hùng hậu xuất hiện, trong đó những người nổi tiếng và có uy tín hơn cả là Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt (hai dịch giả trùng tên nhưng họ viết tên mình mỗi người một khác), Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư Chỉ kể riêng một mình Nguyễn Chánh Sắt, đã có một công trình dịch khá đồ sộ: Tây Hớn, Đông Hớn, Tam quốc chí, Chung Vô Diệm, Ngũ hổ bình tây, Anh hùng náo tam môn giai, Mạnh Lệ quân, Nhạc Phi, Thập nhị quả phụ, Chinh Tây [145, 136]

Ở mặt hình thức, sự phổ biến các truyện Tàu trong thời kỳ này là một hiện tượng xem

chừng rất mâu thuẫn, vì dường như nó đã cản trở khuynh hướng và nhu cầu hiện đại hóa

Nhưng tại sao nó vẫn tồn tại, và còn được dân chúng nhiệt tình tiếp nhận? Vì kém nhận

thức, vì có những thị hiếu thấp kém, dễ dãi? Hoặc chỉ là trò tiêu khiển của “bọn hạ lưu vô

học”?

Rất nhiều các nhà nghiên cứu đã nói về cái thị hiếu đặc biệt này của quần chúng miền Nam1 luc đó Nói chung các lý giải tương đối thống nhất, dựa vào các đặc điểm về lịch sử, địa lý, xã hội, kinh tế, văn hoá tinh thần, cá tính, tâm lý của người miền Nam Tư tuởng đạo đức luân lý trong các truyện Tàu, tuồng Tàu được tiếp nhận rất dân chủ và uyển chuyển Người chết vì nổi dậy chống vua cũng được yêu mến không kém gì người chết vì phò vua Người ta yêu mến các trung thần Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Tử Long nhưng còn ngưỡng

mộ những anh hùng nổi loạn Tống Giang, Tiều Cái, Lâm Xung, Võ Tòng nhiều hơn thế

Sự xâm chiếm ồ ạt của các yếu tố tiêu cực từ văn minh phương Tây đã khiến người

Việt Nam nhận thức ra nhu cầu bảo vệ truyền thống Truyền thống ấy liên hệ mật thiết với Nho học Nhưng thứ Nho học mà người lưu dân miền Nam gìn giữ trên con đường khai phá không phải là thứ Nho học kinh điển, được ban bố từ tầng lớp thống trị hay Nho gia

“chuyên nghiệp”, mà là thứ Nho học được nhận thức từ quảng đại quần chúng nhân dân Họ

chỉ tiếp nhận những nhân tố thực tế và tích cực cho đời sống tinh thần của mình, đồng thời

1

Ch ẳng hạn như các tác giả: Vũ Hạnh trong bài “Nghĩ về hiện tượng ham đọc các truyện Trung Hoa

c ủa người Sài Gòn”, Tạp chí Văn, Sài Gòn 1973, chuyên đề “hiện tượng sách dịch” trang 29, Nguyễn Văn Xuân “Khi nh ững lưu dân trồ lại” trang 97, Nguyễn Văn Trung, “Truyện Tàu và tâm tư người lưu dân” trong

“Lục Châu Học” chưa xuất bản

Trang 27

phù hợp vói những đặc điểm về nhân sinh, cá tính, sinh hoạt của cộng đồng người đi khai phá, trong đó có những điểm đột phá mạnh mẽ vào các thành lũy Nho giáo chính thống mà truyện Tàu là một trong những nơi biểu hiện mạnh mẽ nhất

Trung hiếu, nhân nghĩa, cương thường được tiếp nhận qua truyện Tàu đã trở thành thứ đạo lý trước hết mang giá trị phổ biến và muôn thuở, để trở thành một thứ nhân sinh quan chung của cá cộng đồng Câu chuyện “Nhạc Phi giết Tần cối” [167, 51] là một trong những giai thoại tượng trưng cho cái nhân sinh quan chung đó Con người Nam bộ bất kể tuổi tác,

giới tính, trình độ đều nhập thân vào những yêu ghét, khát vọng đầy chất lý tưởng mà truyện Tàu đã mang lại cho họ, sống với nó và có thể chết vì nó 1 Hơn nữa, lòng yêu mến

mảnh đất do mình khai phá, tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt dễ dẫn đến một tình cảm yêu nước rất cụ thể, chứ không phải là lòng trung quân mơ hồ, ước lệ và mê muội Đoạn sau đây trong tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa (1926) của Hồ Biểu Chánh đã thể hiện quan niệm về luân

lý trong tâm hồn người miền Nam qua cuộc “tranh luận tư tưởng” giữa ông cha vợ Đàm Tự

Chấn và chàng con rễ Đặng Thế Hùng, khi Thế Hùng quyết chí ra đi theo cuộc nổi loạn của

Lê Văn Khôi để chống lại triều đình:

- “Té ra mày quy ết chí hả? lếu, lếu lắm !

- Thưa cha, làm việc nghĩa mà sao lại gọi rằng lếu?

- Nghĩa gì? làm giặc, làm giả, làm phản, làm nghịch mà mày còn nói làm nghĩa Nghĩa

v ới ai? Mình là con dân trong nước, nhờ có vua chúa mới no cơm ấm áo Nay mày trở lòng theo quân ng ụy mà thù nghịch với vua, sao mày còn dám xưng là nghĩa? Nghĩa đâu tao chưa thấy, mà bây giờ tao thấy mày bất nghĩa rồi

Th ề Hùng muốn cãi với cha vợ mà anh ta nhắm thấy có cãi rồi cũng vô ích, nên lắc đầu ngó chỗ khác, không thèm nói nữa

1 “Nhạc Phi đâm Tần Cối”, truyện được kể trong Ngàn năm bia miệng của Huỳnh Ngọc Trảng Truyện

k ể có một bà lão sau khi đi xem tuồng “Nhạc Phi” về thì lâm bệnh nặng, không ai hiểu vì sao Thầy thốc hỏi con cháu thì được biết trước đố bà có xem vở “Phong Ba đình”, kể tích Nhạc Phi, một danh tướng thời Nam

T ống đã bị gian thần Tần Cối hãm hại Bà xem xong ngã bệnh Thầy thuốc bèn mời đoàn hát tới diễn lại vỏ này, s ửa đổi kết cục, cho Nhạc Phi giết Tần cối Xem xong bà lão khỏi bệnh.

Trang 28

Đàm Tự Chấn bèn nói tiếp ráng:

- Tao không hi ểu mày ở đời này mà học sách ở đời nào ở đâu, nên tính làm những chuy ện kỳ cục quá Bây giờ để tao hỏi mày một tiếng, mày tính đi lên thành Gia Định xin làm quân lính cho Lê Văn Khôi đặng đánh với binh tướng của vua có phải hôn?

- Thưa phải

- Mày làm như vậy là mang ba điều bất nghĩa: thứ nhứt mày nghịch với vua, trái nghĩa quân th ần, thứ hai mày làm ngụy gây hóa đến tao, mày lỗi niềm phụ tử, thứ ba mày bỏ vợ con thơ, mày lỗi niềm phu phụ Mày là đứa có học, tao nói ít mày phải hiểu nhiều

- Thưa cha, cha cho phép con nói ba điều ấy cho cha nghe?

- Mày mu ốn nói giống gì thì mày nói, xin phép xin tắc mà làm gì Vậy chà mày cãi lẽ

om sòm đó mày xin phép ai?

- Thưa cha, đạo quân thần há con lại chẳng biết hay sao Nhưng mà con xin nói vắn

t ắt lời này: Hễ làm vua mà không biết trọng nghĩa của tôi thì tôi phạt, chẳng còn biết ai là quân ai là th ần mà gọi là phản nghịch

- H ừ, lời nói vô quân vô phụ dữ Vậy chớ mày quên câu: “Quân xử thần tử thần bất tử

b ất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu rồi sao ?

- Thưa đó là câu của người nịnh hót nhà vua, họ đặt ra mà làm cho ám muội lòng dân đặng tiện bề cai trị chớ có ích chi mà phải làm theo

- Bây gi ờ nó cãi tới thánh hiền nữa chà.”

Nhân vật Thế Hùng cũng đã nói lên tâm hồn và suy nghĩ chung của người Nam bộ về nhân vật lịch sử này, một cái nhìn rất xa lạ vói tư tưởng Nho học kinh điển:

“Ông Khôi toan làm đại nghĩa, sao lại kêu là đồ Nguỵ? Phàm đứng (đấng) anh hùng,

s ự nên hư, còn mất có sá gì Mình muốn luận phải quấy thì xét sở hành mà thôi, cần gì xét

s ự kết quả Ví dầu ông Khôi không thành công đi nữa, danh thơm tiếng tốt của ông cũng rọi đến đời đời, con cháu ngày sau nó cũng khen cái giận anh hùng của ông lắm chớ Người nghĩa sĩ lo là lo tròn danh tiết, chớ có lo chỉ sự mất còn

Đêm ấy Thế Hùng to nhỏ với vợ hay rằng Lê văn (Văn) Khôi dã truyền hịch chiều mộ anh hùng đặng báo nghĩa cho quan tả quân và tru diệt tham quan ô lại Các nghĩa sĩ trong sáu t ỉnh ai ai cũng ra đầu quân, quyết giúp Lê văn (Văn) Khôi mà chống cự với binh triều,

Trang 29

cho rõ m ặt anh hùng đất Gia Định Những anh em bầu bạn của chàng đã đi hết rồi; chàng

tr ở về đây là để từ giã vợ con đặng xông vào nước lửa”

Cả giới trí thức, học giả cũng thừa nhận “truyện Tàu dạy tôi nhiều điều xử thế nên nên tôi gọi nó là một nghệ thuật chứ chẳng phải chơi Ngoài ra, truyện Tàu còn đầy gương tốt, là

một vùng rừng thật lớn, một biển sâu và rộng, khai thác không bao giờ đến mức cạn cùng” (Vương Hổng Sển, Thử xem truyện Tàu), cho dù “các nhà phê bình văn học cổ điển Trung

quốc không bao giờ chịu đành cho nó một chỗ đứng trong lịch sử văn học văn học chính

đi “hành hiệp giang” hồ rày đây mai đó Màu sắc triết lý, suy tưởng có khi nặng về bi quan hoài nghi thường thấy nơi một vài giai đoạn trong văn học vùng đất cũ bị lấn át, nhường chỗ cho cái dáng vẻ mạnh khoẻ, lạc quan và sự xác tín đối với các giá trị đạo lý mang đậm tính nhân bản của văn học vùng đất mới, một nền văn học của hành động Khi thực tế phũ phàng ngày càng lấn át yếu tố tưỏng tượng, mơ mộng trong đời thường, đặc biệt là cuộc đời của người lao động bình dân, thì truyện Tàu bù đắp cho người ta cái đó Người thưởng ngoạn truyện Tàu không chỉ đừng lại ở những gì họ đã tiếp nhận Trí tưởng tượng dành cho họ

những phút giây tuyệt vời khi họ có thể lý giải, sắp xếp lại cuộc đời, cuộc đời trong tiểu thuyết và kể cả cuộc đời thực theo như ý mình hiểu và lòng mình mong muốn Do đó, sau truyện Tàu chính bản, còn thêm nhiều truyện phát sinh của đời sau như loại Tam quốc ngoại

tmyện, các truyện Hậu Nhạc Phi (trong đó người đời sau hư cấu việc con cháu Nhạc Phi trả

thù Tần Cối) Có khi từ cảm hứng trong truyện Tàu, người ta thể hiện khát vọng thay đổi và hoàn thiện con người để đem lại cho họ cái khả năng thực hiện những sứ mệnh lớn lao

(chuy ện Điêu Thuyền thay đầu đỗi mật” 1

Trang 30

Mặt khác, truyện Tàu còn có một đặc sắc riêng là chất nhân loại của nó Truyện kiếm

hiệp không phải chỉ là một “đặc sản” của Trung quốc, Việt Nam hay các nước Đông Á, mà

nó cũng gần gũi với các truyện hiệp sĩ của văn học trung cổ tây phương Những truyện như

vậy ở bên Tây hay bên Tàu tuy có khác nhau về phong cách, cá tính sinh hoạt, nhưng rất

giống nhau về màu sắc lý tưỏng và đặc biệt là ảnh hưỏng của nó đối với người xem Từ các truyện Hiệp sĩ bàn tròn, Hiệp sĩ Lanceot của văn học Trung cổ Pháp, truyện Hiệp sĩ Ivanhoe

của Anh cho đến Don Quichotte của Tây Ban Nha, tất cả đều hội tụ trong bản thân mình

những cái đáng yêu nhất cũng như những gì đáng phàn nàn nhất về một lối sống đậm chất lý tưởng, nhưng càng ngày càng trở thành lạc loài trong xã hội phát triển Ngày nay, ở các nước phương tây không phải là không còn các sản phẩm văn học nghệ thuật có tinh thần

kiếm hiệp, vì con người có bao giờ ngừng ước mơ và tưởng tượng? Tuy nhiên, nó tồn tại ở

những hình thức hiện đại hơn Đó là các thám tử, thanh tra cũng tài giỏi, “xuất quỷ nhập

thần” trong việc chống lại cái ác như Shylock Home của Anh, Maigret của Pháp, Catani của

Ý Đặc biệt như nhân vật Pagini trong tác phẩm Văn phòng ám sát của J London, một nhà

văn Mỹ đã từng theo chủ nghĩa xã hội và luôn luôn bị ám ảnh về những cái gì vĩ đại, lớn lao Ông đã tạo ra một “sát thủ” có một nền luân lý riêng của mình, “văn võ song toàn”: giỏi quyền thuật, biết Juđo, lại rấr “trí thức”: đọc Shakespeare, Spencer, Nietszch, biết “thiên văn địa lý”, biết lợi dụng thủy triều để chiến thắng trong một cuộc đọ sức với kẻ thù

Hiện tượng yêu thích truyện Tàu, nói đúng hơn là yêu thích chất lý tưởng của truyện Tàu cũng đã xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới Năm 1689, người Nhật đã dịch “Tam

quốc” Và cho đến nay, đã có tới 20 bản dịch xuất hiện tại quốc gia này Ngay cả Úc, Canada cũng đã phát hành “Tam quốc diễn nghĩa” Điều này đã khẳng định rằng người Việt Nam không hề có một thị hiếu “thấp kém”, mà ngược lại, đã sớm biết vượt qua cái tinh thần

lệ thuộc, đã biết chọn lọc, khám phá, thưởng thức và yêu mến cái đẹp, cái lý tưỏng, cũng như những giá trị nhân bản, nhân văn

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dịch quyển sách “Cách dạy làm tướng” tương truyền

do Khổng Minh, một nhân vật nửa lịch sử nửa huyền thoại soạn ra Quyển sách này có tất cả

to b ằng nắm tay để thế vào cho Điêu Thuyền, đem lại cho nhân vật này vẻ đẹp và lòng dũng cảm Theo "Đọc báo giùm bạn”, Kiến thức ngày nay số 123,1993, tr 108-110.

Trang 31

36 chương, gồm nhiều vấn đề, nội dung chủ yếu là đạo lý làm người và nghệ thuật dùng binh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch tác phẩm này năm 1941, sau khi ra chỉ thị tổ chức đội

tự vệ vũ trang ở Cao Bằng dưới nhan đề mới là “Cách huấn luyện cán bộ quân sự” Hồ chủ

tịch viết:

“Ông Khổng Minh dùng những bài này để huấn luyện cho quân sĩ cách đối đãi người, cách xét việc Những điều đó thì cán bộ chính trị và các cán bộ khác đều phải hiểu và thực hành thì mới tiến và thành công Vậy anh em cán bộ bất kỳ phụ trách ngành nào cũng nên nghiên cứu cuốn sách nhỏ này” [46, 57]

Điều này cho thấy ngay trong một cuộc chiến tranh đầy màu sắc hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã không quên những giá trị đã gắn bó thiết thân và rất hợp với nhân tâm, đạo lý Việt Nam, có nhiều sức thuyết phục với người Việt Nam trong tâm tình dân tộc để nâng cao khả năng chiến đấu

Hiện nay, trong giai đoạn đổi mới của đất nước, vấn đề ảnh hưởng của Nho học và sự phát triển của các quốc gia Đông Nam Á trong vùng ảnh hưởng Nho học đã được đặt ra Nhiều nhà nghiên cứu đã tiếc rằng có một thời, chủ trương “đánh đổ phong kiến” được hiểu

một cách quá đơn giản, đã xóa nhòa đi nhiều giá trị tích cực của Nho học vốn vẫn còn là

một trong những yếu tố tư tưởng cội nguồn của người Á châu, trong đó có Việt Nam Có thể

hiện đại hóa, dân tộc hóa tư tưỏng này một cách khéo léo, dùng nó làm động cơ thúc đẩy ý

thức công dân, tinh thần tự trọng, hết mình trong cương vị của mình, trách nhiệm đối với xã

hội, lòng trung tín và nhân ái giữa người và người Trong đại hội quốc tế về Khổng phu tử tổ

chức tại Moskva năm l991, nhà triết học Hàn Quốc Pat Wun Tekou đã phát biểu: “Bầu không khí kính trọng nhau và hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng, tinh thần lạc quan, những nét tiêu biểu đối với Nam Triều Tiên hiện giờ đều bắt nguồn từ tư tưởng của minh triết Khổng Nho Chính những tư tưởng của triết gia lỗi lạc đó đã tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chắp cánh cho tốc độ tăng trưởng mau chóng của đất nước tôi” [39, 94], [181, 3]

Cuối năm 1991, tại Yokohama đã tiến hành Hội nghị về Nho giáo trong các nước có ảnh hưởng Hán học Gần một thập kỷ nay, các học giả ở Nhật và các nước rất quan tâm đến vai trò của Nho giáo trong công cuộc phát triển ở Nhật và các nước Châu Á khác, đặc biệt là các nước trong khu vực Hán hóa (Le Monde sinisé) Giáo sư Michio Morishima cũng có

những ý kiến về vấn đề này trong quyển Tại sao Nhật Bản thành công? Why has Japan

Trang 32

succeded?) xu ất bản năm 1982 Nhà nghiên cứu Léon Vandermeersch cũng viết quyển Thế

gi ới Hán hoá mới (Le nouveau monde sinisé) xuất bản tại Paris năm 1986 Các quyển sách

trên đã lý giải nguyên nhân sự phát triển của các nước trong khu vực Hán hóa, hiện đang có nhiều triển vọng theo kịp hoặc có thể vượt qua các nước Bắc Mỹ và Tây Âu đã phát triển Các nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước như Nguyên Thanh, Nguyễn Quang, Đào Phan, Phan Văn Các, Quang Đạm đã đề cập và phân tích về nhân tố Khổng giáo trong quá trình hình thành tư tưởng và nhân cách của chủ tịch Hồ Chí Minh Phát biểu của giáo sư Trần Văn Giàu về quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh đổi với Nho giáo tại hội nghị Yokohama rất được chú ý, trong đó, ông nêu ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho

rằng chủ yếu của đạo Nho là đạo đức học Quan niệm này phù hợp vơi sự giải thích về

những phẩm chất Nho giáo thấm nhuần trong tổ chức và ứng xử của con người, góp phần vào sự thành công của Nhật Bản, Nam Triều Tiên và các nước châu Á phát triển khác [181,3]

Tất nhiên, tất cả những sự kiện trên trước hết đều mang một ý nghĩa tham khảo và suy

ngẫm, nhất là trong giai đoạn mà đổi mới để đi lên là một nhu cầu bức xúc của Việt Nam Người ta đã đặt lại câu hỏi “tại sao Việt Nam không có Minh Trị Thiên Hoàng” [79, 304], xét trong mối tương giao về thời gian, số phận lịch sử và tiềm năng phát triển của Việt Nam

với các nước trong cùng khu vực, đặc biệt là Nhật Bản; hoặc “Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, mở cửa hay đóng cửa?” [127, 100] để suy ngẫm về giá trị của những bài học quá khứ Trường hợp Việt Nam, cũng theo tác giả Lâm Vinh thì “những nhà nghiên cứu Việt Nam cũng như các nước, không ai không chủ trương tiếp thu không sàng lọc, không đổi mới

những di sản của học thuyết Khổng Tử Nhưng một dân tộc đã từng theo đạo Khổng lại không nuôi dưỡng vun trồng làm sâu rễ, bền gốc của những gì mà cha ông để lại, cũng sẽ không lường được hết mất mát thiệt thòi Đây cũng là một bài học từ Nhật Bản”

Cách tiếp nhận các quan điểm tư tưởng và đạo đức Trung Hoa trong văn học quốc ngữ Nam bộ là một sự kiện có ý nghĩa trong quá trình hiện đại hóa, dân tộc hóa các giá trị ngoại lai, mà hiện tượng truyện Tàu chỉ là một trong những hình thức biểu hiện cụ thể Ngoài ra, cũng nên kể đến một hệ quả đáng chú ý nữa là sự xuất hiện một cách đầy ý thức của một

loại hình tiểu thuyết vẫn được gọi là “dã sử” hay “ngoại sử” của Nguyễn Chánh Sắt, Minh Kiên, Tân Dân Tử Tuy còn dùng ít nhiều ngôn ngữ văn chương cổ nhưng mặt khác, nhà văn lại dùng nhân vật và sự kiện Việt Nam để thể hiện cái tinh thần độc lập, không muốn lệ

Trang 33

thuộc mãi vào cảm hứng Trung Hoa, mà đề cao những nhân vật xứng đáng của lịch sử nước nhà, gây niềm tin nơi giá trị của dân tộc, chứng minh rằng dân mình không thua kém những

kẻ mà mình tôn phục” [146, 19]

Ảnh hưởng Tây phương, nhất là Pháp thể hiện nhiều trong lĩnh vực dịch thuật,

phóng tác và một số sáng tác Các nhận định khác nhau về ảnh hưởng này trong khuôn mặt chung của văn học quốc ngữ miền Nam khá phức tạp

Mối giao lưu văn hóa giữa phương tây với Việt Nam nói chung xảy ra muộn, trong

một hoàn cảnh không thuận tiện cho một nền tảng quan hệ chủ động, tự giác, dễ đi vào lòng người [153, 560] như mối quan hệ giữa văn học Việt Nam với ba luồng tư tuởng Nho Phật Lão “Bắt đầu bằng tôn giáo và thương mại, sự dính líu của phương tây ở Việt Nam lan dần sang lĩnh vực chính trị” với “sự cấu kết giữa giáo hội và các cường quốc tư bản phương tây

để bành trướng chủ nghĩa thực dân và Kitô giáo ra khắp thế giới” [153, 552] Ở bình điện tư tưởng tinh thần, những sản phẩm văn hóa tinh thần của phương tây cũng không có nhiều thuận lợi trong buổi đầu đến với Việt Nam Chẳng hạn như trường hợp Thiên chúa giáo, với

“tính chất ngoại quốc gồm cả hình thức đến nội dung, từ lễ nghi, nghệ thuật đến lối sống, tín ngưỡng Đạo công giáo có vẻ rất tây, từ câu kinh Latinh đến kiểu kiến trúc giáo đường, đến quan niệm về con người và vũ trụ Nó đối lập từng điểm với các tín ngưỡng đã có ở Việt Nam một cách toàn diện” [153, 561]

Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của lịch sử, phương tây cũng đã đem tới những thay đổi quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam ở các mặt văn tự, ngôn ngữ, báo chí và đặc biệt là văn học Văn học quốc ngữ ở miền Nam đã tỏ ra có cách xử lý riêng đối vối những khác biệt này trong quá trình tiếp nhận văn học tây phương, đặc biệt là văn

học Pháp

Từ ấn tượng Nam kỳ là thuộc địa, đã dễ dàng đi đến cái nhìn về một thứ giao lưu văn hoá nô lệ trong suốt một thời kỳ dài Phong trào hiện đại hóa theo phong cách tây phương trong văn chương Việt Nam chỉ được “tính tuổi” chính thức từ 1932 trở về sau, cho đến khi

một thư mục của văn học quốc ngữ ở Nam kỳ được thiết lập với các bằng chứng hiển nhiên cho thấy sự tiếp nhận văn học Pháp đã đến sớm nhất qua các tác phẩm dịch đã xuất hiện ở Nam kỳ từ nửa sau thể kỷ XIX

Trong giai đoạn đầu, chỉ một số ít tác phẩm văn học được giới thiệu, như Robison trên

hoang đảo (truyện Anh, bản tiếng Pháp), một số tác phẩm của La Fontaine, rải rác những

Trang 34

truyện nhi đồng, truyện ngắn Đầu thế kỷ XX mới bắt đầu xuất hiện Tiền căn báo hậu (Le Comte de Monte Cristo), Ba chàng ng ự lâm (Les trois mousquetaires) doTrần Chánh Chiếu

dịch Không có ai dịch thơ Lamartine, Musset, văn của Chateaubriand, cũng không giới thiệu hoặc cổ võ cho các trường phái Thi sơn, Tượng trưng, hay Siêu thực (chỉ được tiếp

nhận trong văn học phía Bắc sau 1932) Vậy người miền Nam đã lựa chọn theo một tinh

thần như thế nào?

Trước hết, phải kể đến yếu tố ngẫu nhiên, có thể do hoàn cảnh lịch sử mà người ta

chưa có cơ hội giới thiệu hoặc thấy chưa cần giới thiệu (văn hóa, văn học Đông Phương chiếm đa số trong sự nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký chứ không phải là văn học hay

tư tưởng tây phương) Xét về mặt ý nghĩa, những tác phẩm được chọn dịch thường phản ánh

những hoàn cảnh cũng như những quan điểm nhân sinh, đạo đức có phần gần gũi với hoàn

cảnh và tâm tình con người miền Nam thời kỳ này Ngụ ngôn của La Fontaine có chất lý trí mang đậm tính nhân dân, quân bình, cân đối và sáng suốt hơn các học thuyết thuần tuý sách

vở Lý trí đó được dùng để giải thích, phán đoán những sự kiện thực tế của cuộc đời thường,

những vấn đề của con người, những mối quan hệ và những ưu tư của họ Télémaque dư ký

là một truyện phiêu lưu, với các biến cố, thử thách để làm những bài học sinh động cho con người khi phải dấn bước vào những cuộc phiêu lưu trên vùng đất lạ và đấu tranh để tồn tại

Ti ền căn báo hận, Ba chàng ngự lâm là “kiếm hiệp Tây”, thích hợp vói tâm tình người Nam

bộ khi đó còn nhiều luyến tiếc đối với những hình tượng anh hùng, luyến tiếc một thứ công

lý hiển nhiên để phán xét con người, để cuối cùng cái thiện được khẳng định Do có nhiều

chỗ phù hợp với những quan niệm về nhân sinh, phù hợp với khí chất và nền đạo lý của người Nam bộ nên các tác phẩm đó trên đã được lựa chọn đầu tiên

Trong các thập niên sau, chủ yếu việc dịch Pháp văn còn hướng vào các mục tiêu kinh

tế, xã hội, chính trị, hướng về phong trào duy tân (dịch báo chí nhiều hơn văn chương) Do

vậy đã gây ấn tượng là “không có gì đáng kể” khi nó không có thời gian cũng như hứng thú

để dành cho các trào lưu thơ ca nổi tiếng của Pháp, nhất là những trào lưu nặng về chất nghệ thuật và suy tưởng đã gặp ngay đất sống khi du nhập vào phía Bắc vốn có khuynh hướng

hiện đại hóa từ con đường của trí thức tây học nhiệt tình với những trào lưu nghệ thuật mới

Nếu ở phần dịch thuật Trung Hoa đã không còn bóng dáng của “thiên triều”, thì bóng dáng của “mẫu quốc” trong các tác phẩm dịch Pháp văn cũng đã phai nhạt ngay thời kỳ đầu

Trang 35

Các tiêu chuẩn đạo lý cũng được biên cải lại theo truyền thống Việt Nam Các câu thơ tây đều được dịch qua làn điệu dân tộc nhuần nhuyễn

Văn học Pháp là một nền văn học thiên về chất bác học, suy tưởng nhưng cũng đầy

chất duy cảm Đó là quê hương của nhiều trào lưu văn hóa có tầm cỡ nhân loại, nhiều trường phái văn học đã từng làm nên bộ mặt của văn học châu Âu hiện đại Tuy nhiên, trong

bản thân văn học Pháp, các yếu tố dân gian, bình dân đa phần xuất hiện trong các thời kỳ đầu (Thời kỳ anh hùng ca, văn học Trung cổ, văn học Phục hưng) đã nhanh chóng hội nhập

lại thành một dòng duy nhất sau một loạt các công trình chấn hưng, thống nhất và hoàn

chỉnh ngôn ngữ Pháp đã hoàn tất rất sớm vào thế kỷ XVII Vì thế nên trong văn học Pháp, khái niệm “phân dòng” (bác học và bình dân) không phải là một vấn đề quan trọng, và càng không phải là một tiêu chí phân định các giá trị văn học, văn chương Văn học quốc ngữ

miền Nam trước hết đã tiếp nhận từ văn học Pháp cái tinh thần hài hoà, bình đẳng đó Từ

đó, đã xuất hiện tính dân chủ, tính đại chúng, tính thực tiễn trong phương thức sáng tác, lưu hành, truyền bá, và đặc biệt là tính độc lập trong quá trình tiếp nhận văn học phương tây

M ột xu hướng tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trong ba thập niên đầu của thế kỷ XX, việc dịch thuật văn học Pháp đã trở thành phổ

biến ở miền Nam, gắn liền và phát triển song song với lĩnh vực sáng tác của các nhà văn Phóng tác là một hình thức được nhiều người lựa chọn

Trên báo Lục Tỉnh Tân văn ở Nam kỳ số 32, ra ngày 25-1-1908 có đăng một bài viết

ngắn tựa đề “Chuyện mang tiếng oan” của Trần Chánh Chiếu, phóng tác từ truyện ngắn

“Đêm Nô en” [132, 126] của Guy de Maupasssant Thử làm vài đối chiếu sau đây:

“Chuyện mang tiếng oan” có cốt truyện gần gũi với truyện ngắn “Đêm Nô en” Nhân

vật chính Henri Templier được đổi thành Lâm Hữu H Sự việc cũng như nhau, cả hai đều bị

một đám đông hồ đồ nhận lầm là tình nhân của một thiếu phụ có mang rồi bị phụ bạc, và là cha của đứa trẻ ra đời ngay sau đó, đều bị vướng mắc vào một oan ức khó giải bày, và cùng

phải nhận trách nhiệm nuôi nấng đứa bé không phải con mình

Tuy nhiên, giữa nguyên tác và bản phóng tác lại hoàn toàn khác nhau về cách xây

dựng hình tượng và tính cách nhân vật Henri Templier của Guy de Maupassant tiếp cận với

thế giới qua cái nhìn bi quan, hoài nghi về cuộc sống, nhất là vào thời điểm của câu chuyện,

là một mùa đông với “cái rét giết người nghèo ngoài đường phố Sông Xen đóng băng,

Trang 36

nh ững hè đường lạnh giá thẩm thấu qua đế giày, làm tê cóng những bàn chân, thế gian như đến mức sáp vỡ vụn ra” Anh ta là chỉ một viên chức nhỏ, không giàu có, chỉ có một gang

tay ngăn cách với cái đói và cái lạnh, tuy lúc nào cũng phải cố gắng làm việc cật lực Không

chỉ đối đầu với cái nghèo, Henri Templier còn phải đối phó vói nỗi cô đơn của một viên

chức không giàu và do đó không vợ Nỗi cô đơn đó càng tăng thêm trong một đêm giáng sinh lạnh lẽo, phải vùi đầu và công việc trong lúc “cái ý nghĩ về những thú dao chơi ở Paris,

nh ững vang động từ ngoài vọng tới, cuộc sửa soạn bữa ăn đêm của những người ở phòng bên c ạnh” Henri Templier cuối cùng đã cho chuẩn bị một bữa ăn Anh ta lại ra ngoài để tìm

một người đàn bà đồng hành cho một đêm tiệc Nô en, và chỉ cho một đêm ấy mà thôi Anh

“la cà đi dạo, vào các chốn ăn chơi, hỏi han, chọn lựa theo sở thích mình” Anh ta chọn

được “một cô nàng đồ sộ, núng nính”, “bộ ngực tuyệt đẹp, bụng ngỗng đẫy đà béo múp”,

"cô ta có nhan s ắc kiều diễm, làm tôi đến ngạc nhiên, và thân hình mập mạp làm lòng tôi xao xuy ến, rạo rực"

Còn Lâm Hữu H của Trần Chánh Chiếu là một thanh niên “làm việc ở sở tàu buôn, 23

tu ổi, chưa có vợ, ở đậu bạt với anh em bạn” Nhân vật này không gợi cho ta cảm giác bị

“bào mòn” vì đời sống vất vả thường thấy của giới viên chức nhỏ trong truyện ngắn của Guy de Maupassant Ngược lại, đây là một thanh niên hướng thượng, có ý chí phấn đấu

Ban ngày đi làm, tối về nhà lo nấu sử xôi kinh” Cuộc sống tẻ nhạt âm thầm không làm cho

Lâm Hữu H rơi vào ăn chơi trụy lạc như trường hợp của Henri Templier ở trên “Việc huê

nguy ệt không hề biết tới, đều (điều) cờ bạc chàng léo (đến) lại gần Ai hà rông hà rổi mặc

ai, M.H (monsieur H) c ứ giữ bề ăn học”

Câu chuyện của Lâm Hữu H cũng xảy ra vào lúc nửa đêm, nhưng không phải là một đêm đông khắc nghiệt, một mặt thôi thúc những bản năng xác thịt, một mặt đưa đến cái nhìn

u ám ảm đạm về cuộc đời như đêm Nô en của Guy de Maupassant Trần Chánh Chiếu đã

lựa một không gian miền Nam mưa thuận gió hoà, dễ đưa đến những cảm xúc quân bình và

nhân đạo Đó là “một đềm kia trăng thanh gió mát, bèn hứng cảnh mái nhắc ghế ra sân sau

mà ng ồi, là có ý trước thừa lương sau lại chiêm nghiệp việc đời Đồng hồ nhà thờ nhà nước

đã sang canh, gõ 12 tiếng thanh thao tợ kiểng đổ” Gần nhà trọ của Lâm Hữu H có một

phụ nữ có mang ở trọ

Henri Templier kết thúc bàn tiệc và bắt đầu cái giường, rất hài lòng vì cô gái tròn trĩnh (thật ra đang có mang mà anh ta chẳng nhận ra) đã chọn được cho qua đêm Nô en Số phận

Trang 37

“làm cha bất đắc dĩ của Henri Templier và của M H đều bắt đầu bằng tiếng rên của người

phụ nữ chuyển dạ Nó làm cho Henri kinh hoàng, phát hiện “thì ra cổ ta đẻ”, và làm cho M

H “b ỗng chút thoạt nghe tiếng rên than Chàng bèn dừng chơn lóng tai nghe cho rõ Bên căn phố nọ có tiếng ỷ ôi than khóc Tánh nam nhi thấy vậy động lòng liền sẽ đến coi cho

bi ết” Chi tiết chung giũa hai truyện là sự ngộ nhận của người chung quanh, của một đám

đông hồ đồ và sẵn sàng hiểu sự việc một cách đơn giản nhất Cả hai nhân vật đều bị đẩy vào

thế phải nhận lấy trách nhiệm, tuy thực sự chẳng phải của mình Điểm khác nhau cơ bản

giữa nguyên tác và phóng tác nằm ngay trong thái độ tiếp nhận vấn đề của hai nhân vật Henri Templier mang tư tưỏng hoài nghi, bi quan, với cái nhìn u ám về cuộc đời và

niềm tuyệt vọng đối với những ưóc mơ hướng về cái đẹp, cái thiện Nhân vật này đã được Guy de Maupassant ký thác vào đó những ấn tượng của ông về một cuộc sống vô tình, tàn

nhẫn, với những trò xỏ lá của định mệnh hay giáng vào những kẻ vốn đã không lấy gì làm may mắn lắm trong cuộc đời Giữa anh ta và cô gái qua đường không hề có sự han hỏi nào

Họ bắt đầu bàn tiệc và chính nàng cũng nói “hãy quên tất cả đi" Họ chỉ muốn qua một đêm

đông lạnh lẽo, chứ không đi tìm sự thông cảm và hiểu biết Còn nhân vật trong bản phóng

tác M H đã biết được hoàn cảnh của một người phụ nữ lỡ làng, “nay mang mểnh thân này

cô độc, còn tình nhân nó bạc như vôi Đến gần ngày mãn nguyệt khai huê, mụ không có thu ốc thang cũng chẳng” Henri Templier thì cực chẳng đã phải đứng ra lo Anh ta thấy

mình bị vướng vào việc lôi thôi, tốn kém và đáng nguyền rủa, nhất là khi người phụ nữ sau sinh nở, không còn múp míp hấp dẫn, “cô ta trở thành gầy đét còm róm như con mèo ốm ấy

Tôi đã tống cái của nợ ấy ra khỏi nhà, nó cứ rình dò tôi ngoài phố, nấp kín một chỗ để nhìn tôi qua, bu ổi tối khi tôi đi ra thì chặn tôi lại, hôn tay tôi, quấy rầy tôi, làm tôi muốn phát điên lên được” Đó là một kinh nghiệm cay đắng của Henri Templier về hậu quả của phút

giây hứng thú, anh ta tự trừng phạt mình bằng cách từ đó về sau sẽ không bao giờ ăn réveillon nữa

M.H cũng bị vuông vào cảnh “oan hởi oan Sáng ra cả chợ đều hay Con chờ cha việc

ấy dã đành, không ăn mắm cớ sao khát nước? M H chối ngược chối xuôi, song hàng xóm cũng đề án đại” Nhưng ý tưởng “kiến nghĩa bất vi vô dõng dả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” c ủa M H đã dẫn đến đoạn kết có hậu của bản phóng tác khác xa nguyên tác: “Cách

m ột tháng nàng ấy đỏ da thắm thịt, bèn bồng con đến tạ ơn kia”, và “Ai nghĩ quấy mặc ai, xin th ầy nghỉ mẹ yếu con thơ đừng bỏ

Trang 38

M H nuôi cô ấy đã ba năm, con nay biết chạy”, mà “chẳng hề khi nào có lòng gì trái,

c ứ giữ nghĩa đệ huynh”, đúng với lòng mong muốn của người viết truyện là “khá khen cho người có dạ nghĩa nhơn, nêu gương tốt đời đời biêu (bêu) tạc”

Guy de Maupassant sáng tác không nhằm ý đồ đạo lý, mà ông chỉ muốn tái hiện một

cuộc sống khắc nghiệt, cay đắng, tàn nhẫn và vô tình, gần như không có chỗ cho cái đẹp, cái thiện, cho tình yêu Những thứ đó nếu có xảy ra trong cuộc đời thi dễ bị khoác vào mình

một dáng dấp lố bịch Giọng điệu trong “Đêm Nô en” là giọng châm biếm, tự trào Còn Trần Chánh Chiếu mượn câu chuyện mang tiếng oan để thể hiện một cảm hứng hoàn toàn khác,

có giọng đồng tình, chia xẻ Đây là một khuynh hướng khá phổ biến trong sự tiếp nhận văn chương tây phương hồi đầu thế kỷ nơi những nhà văn am hiểu tây học ở miền Nam, thể hiện qua các tác phẩm mà họ phóng tác từ văn học Pháp

Khi phong trào sáng tác tiểu thuyết phát triển rầm rộ ở Nam kỳ, một sổ tiểu thuyết có nguồn gốc phóng tác của Hồ Biểu Chánh trong 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XX như Vậy mới

ph ải, Chia tàu Kim Quy (1922), Cay đắng mùi đời (1923), Ngọn cỏ gió đùa (1926) cũng là

những trường hợp điển hình trong thái độ tiếp nhận văn học Pháp của người Việt Nam đầu

thế kỷ XX Khi phóng tác, cảm quan tích cực, nhân đạo dựa trên đạo lý Việt Nam đã làm cho họ thay đổi khá nhiều nét trong đề tài, cốt truyện, trong kết thúc truyện hoặc ngay trong tính cách nhân vật

Khi phóng tác vở Le Cid của Corneiile ra truyện thơ Vậy mới phải (1912) [146, 160],

Hồ Biểu Chánh đã thay đổi kết thúc của mối tình bị dằng xé giữa hiếu và tình Nhiều chi tiết

trong Le Cid có m ột khoảng cách rất lớn với bản phóng tác Vậy mới phải Nếu Rorigue luôn

luôn canh cánh bên lòng nỗi:

Thù cha, danh d ự, tình yêu

L ớn lao nghĩa vụ, yêu kiều duyên tơ

thì Chimène cũng bị dằng xé không kém giữa hiếu và tình Nàng một mực xin vua giết Rodrigue, lại dùng chính thân mình làm phần thưởng cho kẻ ra tay đấu gươm với người yêu,

trả mối thù giết cha Nhưng ngay lúc đó nàng vẫn còn rất nặng tình với Rodrigue:

Hãy chi ến đấu giải thoát em khỏi điều hẹn ước Hãy th ắng trận này mà chiến phẩm là Chimène

Trang 39

Thôi, chàng đi, nói lời xong mà hổ thẹn với mình

Dù vậy, tất cả mọi mâu thuẫn đó xem như được giải quyết thỏa đáng Tình cảm công dân dưới sự chi phối của quyền lực quân chủ tập trung được thắng thế, nên Rodrigue và Chimène phải bỏ qua tất cá những mối thù để kết hôn theo lệnh của vua Câu chuyện hiếu

và tình được giải quyết êm đẹp nhờ chiến công của Rodrigue dẹp giặc giữ gìn bờ cõi, nhờ sự can thiệp của quyền lực nhà vua, là tiếng nói tập trung của quyền lợi của đất nước, cũng là

tiếng nói của lý trí Trên cách nhìn đó, Chimène chỉ cần “hãy phó thắc cho thời gian, lòng

qu ả cảm của ngươi và quân vương của ngươi", và "đợi một năm để lau dòng nước mắt"

Tình cảm công dân cuối cùng đã điều khiển tình cảm của nhân vật và dẫn đến những quyết định đúng với những nguyên lý của chủ nghĩa cổ điển Pháp

Nhưng trong Vậy mới phải Lệ Bích (Chimène) rất nhất quán trong tình cảm và hành

động cũng như trong các quyết định của mình:

Tâu r ằng: thù bất cộng thiên Lòng nào mà n ỡ kết duyên cho đành Thà li ều một thác cho người hiển vang

Hồ Biểu Chánh chỉ giữ lại cốt truyện, thay đổi cảm hứng chủ đạo và do đó ông thay đổi kết thúc Đạo lý Việt Nam thay thế những nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển, rất rạch ròi

giữa hiếu và tình trong trường hợp cụ thể này Lệ Bích tự tử vì không thể chấp nhận việc kết hôn với kẻ giết cha mình, cho dù đó là người có công với đất nước Còn Thanh Tòng (Rodrigue) thì dấn thân đi vào nơi trận mạc hiểm nguy coi như để báo ơn chung, đền tội riêng Mối tình của họ dang dở và Hồ Biểu Chánh cho rằng “vậy mới phải”

Ng ọn cỏ gió đùa cũng mô phỏng cốt truyện, giữ nguyên cảm hứng nhân đạo, thể hiện

lại trọn vẹn cuộc đời gian truân của các nhân vật Hồ Biểu Chánh còn giữ lại được cả cái

“thần” của nhân vật trong vài chi tiết (nhân vật chính Lê Văn Đó, con của Lê Văn Đây, lột đúng tinh thần của cái tên tộc của Jean Valjean thưở nhỏ là “Voilà Jeann” 1 ) Nhưng mặt khác, có chỗ ông giảm nhẹ đi để đừng tổn thương đến thuần phong mỹ tục Việt Nam Ánh

1 Chương “Jean Valjean”, Bản dịch Những người khốn khổ của nhóm Lê Quí Đôn, NXB Văn Học 1986.

Trang 40

Nguyệt (Fantine) trong Ngọn cỏ gió đùa không phải là một cô gái giang hồ, mà chỉ đi làm

nghề đơn ca kiếm sống Cuộc tình duyên giữa Ánh Nguyệt và Từ Hải Yến (Tolomiette) không phải là một chuyện trăng gió qua đường như trong nguyên tác, mà là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, cho đến khi Hải Yến làm quan, thay lòng đổi dạ Ông giữ lại khá hoàn

chỉnh cảm hứng và phong cách sử thi của Những người khốn khổ trong việc dành trọng tâm

cho việc tái hiện những vấn đề của lịch sử và số mệnh của nhân dân Nhưng để Việt Nam hóa không gian nghệ thuật, ông đã khéo léo tìm một bối cảnh lịch sử có ý nghĩa phù hợp,

gần gũi với bối cảnh lịch sử của nguyên tác Cuộc khởi nghĩa của phe Cộng hòa năm 1832

chống lại nền quân chủ Pháp được thay thế bằng cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình quân chủ Việt Nam lức đó đang đầy dẫy tiêu cực Nhà quí tộc bảo hoàng Gilenormand thành ông bố vợ Đàm Tự Chấn mù quáng với lý tưởng phong kiến lạc hậu, lỗi

thời Thiếu tá Pontmercy theo tư tưởng cộng hòa trở thành nhân vật Thế Hùng hưởng ứng

cuộc nổi loạn của Lê văn Khôi, “dấn thân vào nơi nước lửa” chống lại bọn thống trị phong

kiến tham tàn Hồ Biểu Chánh đã xử lý rất tốt trong việc chuyển dịch những cảm hứng lịch

sử, giữ được chính xác cái thần thái của cảm hứng đó trong khi ông vẫn dân tộc hóa nó một cách uyển chuyển, tự nhiên

Trường hợp phóng tác Le Comte de Monte Cristo ra Chúa tàu Kim Quy có khác hơn

một chút Cốt truyện được giữ lại về cơ bản Thủ Nghĩa (Dantès) là một người lương thiện

bị vu oan đi tù biệt xứ, nhờ cơ may giàu có trở về và giải quyết những chuyện ân oán Tuy nhiên cảm hứng chủ đạo có thay đổi ít nhiều, từ cảm hứng “báo thù rửa hận” với những tình

tiết đẫm máu gay cấn của nguyên tác, bản phóng tác thiên về ý tưởng nhân quả, luân lý nhiều hơn Hiện tượng này không phải xảy ra lần đầu trong cách tiếp nhận văn học Pháp ở Nam kỳ đầu thế kỷ XX Nhan đề Tiền căn báo hậu nhấn mạnh đến yếu tố hậu quả tự đến hơn là việc chủ động trả thù Thủ Nghĩa trong “Chúa tàu Kim Quy” khi trở về thi cũng chỉ

cơ bản làm cái việc đền đáp, tác hợp cho những người có ơn với mình chứ không báo thù theo kiểu có sắp xếp, dự mưu như Dantès Trong nguyên tác, những kẻ thù Danglas, Fernand, Villeford phải “mắt đền mắt, răng đền răng” đúng như sắp xếp của Dantès Còn trong bản phóng tác, hậu quả mà Trần Tấn Thân, Lý Thiên Hùng phải gánh chịu hầu hết do

bản thân chúng vì làm ác mà tự chuốc lấy

Ở phía Bắc, văn học Pháp cũng được du nhập vào khá sớm Năm 1918 có truyện Sống

ch ết mặc bay của Phạm Duy Tốn trên báo Nam Phong số 18, phóng tác từ truyện ngắn “Ván

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh, Thành Nguyên, H ồ Sĩ Hiệp (1988), Văn học Nam bộ từ đầu đến giữa th ế kỷ XX , NXB tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nam bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX
Tác giả: Hoài Anh, Thành Nguyên, H ồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: NXB tp HCM
Năm: 1988
2. Hoài Anh (1997), Trương Duy Toản với cuốn truyện làm viên gạch lót đường cho văn học quốc ngữ , T ạp chí Văn tp Hồ Chí Minh số 72, tr. 72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Duy Toản với cuốn truyện làm viên gạch lót đường cho văn học quốc ngữ
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1997
3. Hoài Anh (1997), Phú Đức , người mở đầu cho thế loại tiểu thuyết võ hiệp trình thá m trong văn học hiện đại, Văn tp HCM số 73, tr. 84-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Đức, người mở đầu cho thế loại tiểu thuyết võ hiệp trình thám trong văn học hiện đại
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1997
4. Hoài Anh (1997), Nguy ễn Trọng Quản , người đầu tiên viết truyện bằng chữ qu ốc ngữ, Văn số 70, ừ. 75-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Quản, người đầu tiên viết truyện bằng chữ quốc ngữ
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1997
5. Hoài Anh (1998), Tân Dân T ử, người mở đầu cho thể loại tiểu thuyết lịch sử trong văn học Nam bộ, Văn số xuân, tr. 97-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Dân Tử, người mở đầu cho thể loại tiểu thuyết lịch sử trong văn học Nam bộ
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm