hiện đại hóa nền văn học Việt Nam nói chung, tiến trình văn học Nam bộ đầu thế kỉ XX nói riêng không thể không điểm qua sự góp mặt của các nhà văn giai đoạn này, trong đó có sự đóng góp
Trang 1
B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN QUANG NGHIỆP TRONG QUÁ
LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2
B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÓNG GÓP CỦA TRẦN QUANG NGHIỆP TRONG QUÁ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Cao Thị Xuân Mỹ, Nhà nghiên
cứu văn học đã tạo cảm hứng để tôi thực hiện đề tài này, Người Thầy luôn nhiệt tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô thuộc khoa Ngữ văn trường Đại Học
Sư Phạm TP Hồ Chí Minh và khoa Ngữ văn – Báo chí trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn đã hỗ trợ và tham gia giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học;
Tập thể Lớp Văn học Việt Nam khoá 18 (2007-2010) đã gắn bó, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Cô Trần Thị Ngoạn – con gái nhà văn Trần Quang Nghiệp – đã cung cấp các hình ảnh, tư liệu quý về nhà văn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Xin cám ơn gia đình đã hết sức tận tụy, giúp đỡ và hỗ trợ tôi để tôi có điều kiện hoàn thành tốt luận văn của mình
Cuối cùng, cho tôi xin được nói lời tri ân tất cả
Người thực hiện luận văn
PHẠM THỊ PHƯƠNG LINH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
M ỤC LỤC 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 6
1.Lí do chọn đề tài 6
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới thuyết một số khái niệm 13
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Đóng góp của luận văn 17
7 Giới thiệu kết cấu của luận văn 18
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HÓA, TIỀN ĐỀ CỦA CU ỘC ĐỜI - SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TRẦN QUANG NGHIỆP 19
1.1 Bối cảnh xã hội – văn hóa Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX 19
1.1.1 Nh ững biến động của xã hội Nam bộ 19
1.1.2 Nh ững thay đổi về văn hóa Nam bộ 20
1.2 Đời sống văn học Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX: 25
1.2.1 Đội ngũ sáng tác 26
1.2.2 Quan ni ệm sáng tác 27
1.2.3 Di ễn trình của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XX 28
1.3 Tiểu sử và sự nghiệp văn chương Trần Quang Nghiệp 30
1.3.1 Ti ểu sử nhà văn 30
1.3.2 S ự nghiệp văn chương 34
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN NGẮN TR ẦN QUANG NGHIỆP 38
2.1 Phơi bày những mặt trái của xã hội Nam bộ đầu thế kỉ XX 38
2.1.1 S ự băng hoại đạo đức gia đình 38
2.1.2 Thói đời điên đảo 43
2.2 Đề cao đạo lý làm người 50
CHƯƠNG III: NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN QUANG NGHIỆP 56
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Trần Quang Nghiệp 56
Trang 53.1.1 Xây d ựng nhân vật chỉ bằng một vài nét tiêu biểu về ngoại hình, tiểu sử 57
3.1.2 Xây d ựng tính cách nhân vật thông qua hành động và tình huống truyện 60
3.1.3 Kh ắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật 64
3.2 Người kể chuyện – Những dấu hiệu hiện đại từ trong truyền thống 68
3.3 Cốt truyện và kết cấu - Sự giao thoa giữa cũ và mới 72
3.3.1 C ốt truyện 72
3.3.2 K ết cấu 79
3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 81
KẾT LUẬN 86
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 89
Trang 6những thử nghiệm đầu tiên cho nền văn học này, đặt cột mốc quan trọng để chuẩn bị cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam GS.TS Trần Hữu Tá đã từng nhận
định:“Công cuộc hiện đại hóa nền văn học dân tộc là cả một quá trình gồm nhiều
ch ục năm, trong đó cần ghi nhận vai trò đi tiên phong mang ý nghĩa đột phá thuộc
v ề các nhà văn Nam bộ” [66, tr.42] Tuy vậy, việc thẩm định lại giá trị của văn học
Nam bộ gặp rất nhiều khó khăn, kéo dài GS.TS.Đoàn Lê Giang cũng cho rằng: “Từ sau năm 1945 văn học quốc ngữ Nam bộ có một thời gian khá dài bị giới nghiên cứu, phê bình quên lãng, ít được ai nhắc tới, hoặc chỉ được biết tới với vài ba gương mặt
n ổi bật: Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh”[19, tr.7] Khoảng 15 năm trở lại đây, nhờ nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu muốn tìm lại “hòn máu bỏ rơi”
(chữ dùng của Bùi Đức Tịnh) mà việc nghiên cứu giới thiệu văn học Nam bộ đã tiến
một bước đáng kể, cung cấp nhiều tư liệu quý báu cho những ai quan tâm đến lĩnh
vực này Tuy nhiên, các tài liệu và công trình nghiên cứu này phần lớn mang tính
chất bao quát, hoặc tập trung vào những nhà văn nổi tiếng mà bỏ khuyết nhiều tác giả tuy không thật sự nổi trội nhưng lại có vai trò là người mở đường cho văn học quốc
ngữ Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỉ XX
Văn học Nam bộ như mảnh đất xa xôi, hẻo lánh vừa mới được khai hoang, từ
những “nhát cuốc” đầu tiên đã phát hiện những “khoáng sản” rất có giá trị và còn ẩn
chứa trong đó rất nhiều “mỏ quặng” nhưng vì nhiều lí do chúng ta chưa khám phá hết được Hơn nữa lớp bụi thời gian ngày càng che phủ làm cho việc tìm tòi, phát hiện, nghiên cứu nền văn học này ngày càng khó khăn Thiết nghĩ, nghiên cứu công cuộc
Trang 7hiện đại hóa nền văn học Việt Nam nói chung, tiến trình văn học Nam bộ đầu thế kỉ
XX nói riêng không thể không điểm qua sự góp mặt của các nhà văn giai đoạn này, trong đó có sự đóng góp khá quan trọng của Trần Quang Nghiệp, một trong những cây bút tiên phong trong địa hạt truyện ngắn lúc bấy giờ Vậy Trần Quang Nghiệp đã đóng góp gì cho quá trình hiện đại hóa văn học Nam bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung? Sự nghiệp văn học của ông như thế nào? Vị trí của ông ra sao? Để trả lời
những câu hỏi trên cùng với lòng kính trọng, ngưỡng mộ tài năng và nhân cách của ông, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đóng góp của Trần Quang Nghiệp trong quá trình hi ện đại hoá truyện ngắn Nam bộ đầu thế kỉ XX” Qua đó, chúng tôi muốn làm
sáng rõ vai trò và đóng góp của Trần Quang Nghiệp trong tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỉ XX nhất là ở mảng truyện ngắn
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự nghiệp văn chương của Trần Quang Nghiệp tương đối nhiều (7 tiểu thuyết,
45 truyện ngắn) nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu trọn vẹn về chúng Trong thư viện các trường đại học cũng như các tỉnh, thư mục về Trần Quang Nghiệp
rất ít, chỉ có một vài tác phẩm Điều này đã khiến cái tên Trần Quang Nghiệp tỏ ra xa
lạ với những người trẻ tuổi yêu thích văn chương
Nghiên cứu về văn học quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỉ XX, có những công trình
“nặng kí” như:
+ Bằng Giang (1974), Mảnh vụn văn học sử, NXB Chân Lưu, Gài Gòn
+ Bùi Đức Tịnh (1975), Đóng góp của văn học miền Nam, những bước đầu
c ủa báo chí, tiểu thuyết và thơ mới, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn
+ Bằng Giang (1992), Văn học quốc ngữ Nam kỳ 1865 – 1930, NXB Trẻ,
Trang 8Trong các công trình nêu trên, cái tên Trần Quang Nghiệp vẫn chưa thấy được
nhắc đến
Mãi đến năm 1998, trong “Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam b ộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, NXB.Văn nghệ, TP.HCM, Cao Thị Xuân
Mỹ đã công bố 8 truyện ngắn gắn liền với tên tuổi của Trần Quang Nghiệp Từ đây,
độc giả mới biết đến Trần Quang Nghiệp Dành một khoảng thời gian dài để đọc và chép tay những truyện ngắn của ông được lưu giữ tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM, Cao Thị Xuân Mỹ đã đánh giá rất cao truyện ngắn của ông: “Các biện pháp tu t ừ được sử dụng có nghệ thuật cách dẫn truyện sáng tạo, chặt chẽ kết cấu
b ỏ lửng bất ngờ gây được cảm giác thú vị, tạo chiều sâu cho tác phẩm”, “Trần Quang Nghi ệp là một trong những cây bút viết truyện ngắn nổi tiếng ở Nam kỳ thời đó”
Cao Thị Xuân Mỹ trong quá trình chuẩn bị cho luận án tiến sĩ tại trường Đại
học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, vào những năm 1999-2000 đã phối hợp với
GS TS Mai Quốc Liên cho ra mắt bộ sách hai tập Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỉ
XX, Trung tâm Quốc học và NXB.Tổng hợp TP.HCM Bộ sách này đã in lại một số tác phẩm có giá trị của một số tác giả tên tuổi như Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Nguyễn Bửu Mộc, Lê Hoàng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình
và đã công bố thêm 8 truyện ngắn mới của Trần Quang Nghiệp Một năm sau, năm
2001, đề tài luận án tiến sĩ của Cao Thị Xuân Mỹ, Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết
Vi ệt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX được bảo vệ Công trình này khảo sát
cả quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam trên cả hai miền Nam Bắc, chứ không
chỉ riêng Nam bộ Luận án đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về tiểu thuyết quốc ngữ Nam bộ Ở phần phụ lục tác giả cung cấp cho người đọc danh mục các tiểu thuyết
tiếng Việt xuất bản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX đến năm 1932 với số tác giả tiểu thuyết ở cả miền Nam lẫn miền Bắc lên đến 322 người, trong số đó có Trần Quang Nghiệp
Năm 2004, Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, NXB Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh do Nguyễn Kim Anh (chủ biên) ra đời Công trình này đã
giới thiệu khái quát văn học Nam bộ cũng như tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của một số
Trang 9tác giả như : Hồ Biểu Chánh, Trương Quang Tiền, Trần Quang Nghiệp, Huỳnh Thị
Bảo Hòa, Bửu Đình Đối với trường hợp của Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Kim Anh
đã khẳng định: “Trần Quang Nghiệp rất giỏi nắm bắt những chi tiết có giá trị, rất
gi ỏi nhìn ra những mâu thuẫn, khiếm khuyết, bất toàn ở trái tim và đầu óc mỗi con người Không lý thuyết dài dòng, cũng không răn dạy đạo đức một cách lộ liễu, Trần Quang Nghi ệp bám vào những chi tiết và tình tiết của cốt truyện để chuyển tải cho độc giả những lời giáo dục luân lý nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ cảm Cầm bút cùng thời
v ới rất nhiều nhà văn, giữa sự ồn ào, náo nhiệt của một văn đàn mới khởi phát và đang phát triển mạnh mẽ, Trần Quang Nghiệp đã chọn cho mình một đường hướng riêng b ằng những đoản thiên tiểu thuyết châm biếm, hài hước, giàu tính trí tuệ Đường hướng đó hẳn là một cách thế để Trần Quang Nghiệp gây dựng cho mình một
s ự nghiệp văn chương đủ sức góp mặt với đời”
Đến năm 2005, “Vài nét về đoản thiên tiểu thuyết của Trần Quang Nghiệp”
của TS Cao Thị Xuân Mỹ đăng trên tạp chí khoa học trường ĐHSP TP HCM đã
khái quát những đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Trần Quang Nghiệp TS Cao Thị Xuân Mỹ khẳng định: “Văn phong Trần Quang Nghiệp dí dỏm, duyên dáng, tính tri ết lí cao – thường ẩn sau những tiếng cười…Với cái nhìn sắc sảo tinh t ế, với cách diễn đạt mang phong cách rất riêng Trần Quang Nghiệp đã nắm bắt
và ph ản ánh từng khía cạnh của những vấn đề đang làm cho xã hội đổi thay, phức
t ạp một cách chân thực sống động Bên cạnh đó, giọng kể của truyện thường rất khách quan – ít Tây phương – ít gợi ý hoặc bày tỏ thái độ của chính mình, tác giả để nhân v ật tự hành động theo quy luật, theo logic cuộc sống làm tăng thêm giá trị cho các tác phẩm”
Năm 2006, trong Tập tham luận hội nghị khoa học: Văn học quốc ngữ Nam bộ
cu ối thế kỉ XIX – 1945, trường Đại Học KHXH&NV có hai bài viết đáng chú ý Thứ
Xuân Mỹ Bài viết này đã tóm tắt những nét chính về cuộc đời Trần Quang Nghiệp kèm theo những nhận xét ngắn gọn về các truyện ngắn của ông như: Ai đành phụ nghĩa, Tủi phận thuyền quyên, Nông nỗi vì đâu, Tấm hình của ai, Đi coi hát mất
v ợ Thứ hai là “Người ơi Người! Giờ ở phương nào?” của cô Trần Thị Ngoạn
Trang 10(nguyên là giáo viên Ngữ văn trường THPT Võ Thị Sáu, đồng thời là con gái nhà văn
Trần Quang Nghiệp) Những cột mốc quan trọng được đề cập trong bài viết này như:
“M ột thời trai trẻ – Cuộc sống ở quê – Cậu Năm nhà văn – Thời cuộc đổi thay – Định cư ở Sài Gòn – Thầy Năm bóng bàn Nam Việt – Cha và con – Những năm cuối đời” đã phác họa gần như toàn vẹn chân dung nhà văn Trần Quang Nghiệp Với lòng
kính trọng, cô Trần Thị Ngoạn đã viết về Cha của mình: “Tính cha tôi hiền hòa, thâm
tr ầm và có óc khôi hài nên truyện ngắn của người thường chứa nhiều kịch tính bất
ng ờ mà hợp lí, lại mang ý nghĩa triết lí nhân văn sâu sắc Với duyên văn nghệ, một
m ặt cha tôi đã tìm được “một nửa của mình”, và cuộc tình ấy, trải qua bao biến thiên
c ủa thời cuộc, đã bền chặt hơn nửa thế kỷ Mặt khác, với bao tâm huyết dồn trong
m ột thời gian sáng tác cách nay đã hơn 70 năm, cha tôi cũng đã phần nào đóng góp
m ột ít công sức mình vào sự phát triển của văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX” Đây
là hai bài viết đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu cho chúng tôi khi viết về tiểu sử của nhà văn Trần Quang Nghiệp
Bước đầu tìm hiểu về Trần Quang Nghiệp, có thể khẳng định TS Cao Thị Xuân Mỹ và Nguyễn Kim Anh là những người đặt vấn đề cho việc nghiên cứu Trần Quang Nghiệp Với vai trò là một trong những người khơi nguồn cho việc tìm hiểu
văn chương Trần Quang Nghiệp, TS Cao Thị Xuân Mỹ cho rằng:“Truyện ngắn của
Tr ần Quang Nghiệp hấp dẫn, linh hoạt, ngòi bút sắc sảo” và nếu xét về phương diện
phản ánh xã hội thì truyện ngắn của ông là “một dạng xã hội ba đào kí của miền Nam”[50, tr.77] Nguy ễn Kim Anh nhận xét: “Một trong rất ít người đã đưa được
di ện mạo chân thực của đoản thiên tiểu thuyết vào trong những sáng tác của mình là Trần Quang Nghiệp Những đoản thiên tiểu thuyết cuả ông là những truyện ngắn
hi ện đại rất gần với cách viết của nhà văn Nguyễn Công Hoan”[3, tr 710]
Từ đó đến nay có nhiều công trình nghiên cứu có nhắc tên Trần Quang Nghiệp,
hoặc đề cập cuộc đời, hoặc truyện ngắn của ông, lượng đề cập có thể ít hoặc nhiều, có
thể chi tiết hoặc không Chúng tôi xin ghi nhận lại như sau:
Năm 2001, Trong Luận án tiến sĩ: Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam bộ
cu ối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, ĐH SP
Trang 11TP.HCM, Lê Ngọc Thúy đã nhận định thoáng qua về một số truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp: “Trời phật công bình, Gặp người khách quí, Ai muốn làm giàu đã bắt đầu mang giọng điệu tường thuật khách quan kiểu truyện ngắn hiện thực Pháp, nhưng cũng không hoàn toàn châm biếm hay phê phán thuần túy, mà ẩn sau đó vẫn
là sự đề cao những nguyên tắc đạo lý phổ biến trong cuộc sống con người”
Năm 2002, trong Văn xuôi những năm 20 (thế kỉ XX) – Phòng chờ cho bước chuy ển giai đoạn sau 1932 , TCVN, số 5, GS Phong Lê đã nhận xét rất ngắn gọn về trường hợp của Trần Quang Nghiệp: “Trần Quang Nghiệp là một trong những nhà
văn tiêu biểu của văn xuôi Nam bộ, bút lực dồi dào, viết đến 3 trường thiên tiểu thuyết và 18 đoản thiên trong thời gian ngắn” Tuy nhiên, số lượng tác phẩm của
Trần Quang Nghiệp mà GS Phong Lê đưa ra chưa chính xác
PGS TS Đoàn Lê Giang (2006), Văn học quốc ngữ Nam bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945 – thành tựu và triển vọng nghiên cứu, TCNCVH, số 7, đã lí giải tại sao văn
học quốc ngữ ở Nam bộ bị bỏ quên Đồng thời tác giả bài viết đã liệt kê một cách đầy
đủ những công trình nghiên cứu có giá trị về văn học Nam bộ từ năm 1975 trở về sau
và công bố đã sưu tầm được 26 truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp
Năm 2006, Ths Trương Thị Linh với luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu sự ra đời của
n ền văn học mới qua một số báo chí và tạp chí Nam bộ đầu thế kỉ XX (thập niên 20)”, Trường KHXH&NV TP HCM, đã khảo sát toàn bộ tiểu thuyết, truyện ngắn,
phê bình văn học trên bốn tờ báo: Nam kỳ kinh tế báo, Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Tân th ế kỉ Qua đó khẳng định những đóng của tiểu thuyết, truyện ngắn và
phê bình văn học của bốn tờ báo đối với nền văn xuôi quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỉ
XX Ths Trương Thị Linh đã nhìn nhận “Trần Quang Nghiệp đã rất xuất sắc với
nh ững lát cắt hiện thực một cách sinh động, chi tiết, khôi hài khi phản ánh, tái hiện được không khí xã hội bấy giờ” Vì phạm vi khảo sát hẹp (với 13 truyện ngắn của
Trần Quang Nghiệp) nên công trình này vẫn chưa thể bao quát hết toàn bộ đặc điểm các truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp
Năm 2009, trên Văn nghệ Tiền Giang số 35 ngày 31.08.2009 có đăng tải bài
viết “Một số nhận xét về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Trần Quang Nghiệp”
của giáo viên Ngữ văn Trầm Thanh Tuấn (Trường THPT Long Hiệp, huyện Trà Cú,
Trang 12tỉnh Trà Vinh) Qua phân tích một số truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp trên hai
phương diện nội dung và nghệ thuật, tác giả bài viết này đã nhận xét: “Đọc truyện
ng ắn của Trần Quang Nghiệp, chúng ta có cảm giác như đang nhìn thấy một con người đang khúc khích cười trước những biểu hiện tha hóa trong tính cách của con người trước những đổi thay lớn lao của xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ (nh ững giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mài mòn) Tuy chưa đạt được thành công như những truyện ngắn hiện thực trào phúng
c ủa giai đoạn văn học 1930 - 1945 nhưng tác phẩm của Trần Quang Nghiệp cũng manh nha nh ững yếu tố thể hiện những bước đầu mò mẫm của truyện ngắn Việt Nam trên bước đường hiện đại hoá”
Năm 2010, Nhân vật trong truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỷ XX
trên http://www.vanchuongviet.org, Ths Bùi Túy Phượng cho rằng:“Một số tác giả
n ổi bật là Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình, Công Bình, Thúc Anh, Khổng Lồ, Vũ Văn Đang, Thái Bình Dương…trong thập niên 1920 – 1930, giai đoạn trưởng thành và phát tri ển của truyện ngắn Nam bộ”
Gần đây nhất, trong“Đặc điểm truyện ngắn Trần Quang Nghiệp (1907 – 1983)” được in trên TCNCVH, số 6 – 2010, qua khảo sát những phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Trần Quang Nghiệp như: người kể, hình thức kết cấu và ngôn
ngữ, Th.s Trần Văn Trọng (Viện văn học) đã khẳng định :“Trần Quang Nghiệp, một trong s ố không nhiều cây bút truyện ngắn nổi bật ở Nam bộ những năm cuối thập niên 20 đầu thập niên 30 của thế kỉ XX Những cách tân, đổi mới trong hình thức kết
c ấu tác phẩm cũng như nghệ thuật kể chuyện đã chứng tỏ sự đóng góp của Trần Quang Nghiệp nói riêng và của các nhà văn quốc ngữ Nam bộ nói chung vào quá trình hi ện đại hóa văn học Việt Nam Nhận diện lại truyện ngắn của Trần Quang Nghi ệp cũng là bước khởi đầu chúng tôi góp phần phục hưng lại vị trí xứng đáng của
n ền văn học quốc ngữ Nam bộ”
Có thể vì nhiều lí do khách quan mà các công trình nghiên cứu vừa nêu trên
hoặc chỉ mới nhắc đến cái tên Trần Quang Nghiệp hoặc chỉ khảo sát một phần trong
số các truyện ngắn của ông nhưng có một điểm chung là đều ghi nhận những đóng góp nhất định của Trần Quang Nghiệp đối với nền văn xuôi quốc ngữ Nam bộ đầu
Trang 13thế kỉ XX đặc biệt ở mảng truyện ngắn Đó là những phát hiện có giá trị giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến quý báu của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cố gắng trong khả năng của mình sẽ hoàn thành những nghiên cứu khởi đầu về nhà văn Trần Quang Nghiệp nhất
là ở mảng truyện ngắn
3 M ục đích nghiên cứu
Qua luận văn, chúng tôi muốn làm sáng tỏ vị trí và đóng góp của Trần Quang Nghiệp đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn Nam bộ đầu thế kỉ XX
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới thuyết một số khái niệm
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những đóng góp về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Trần Quang Nghiệp trong quá trình hiện đại hoá truyện
ngắn Nam bộ đầu thế kỉ XX
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ khảo sát với 45 truyện ngắn sưu tầm được của Trần Quang Nghiệp Trong đó có 17 truyện được in trong hai công trình nghiên cứu của TS Cao
Thị Xuân Mỹ: Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam bộ cuối thế
thế kỉ XX, Trung tâm Quốc học và NXB Tổng hợp TP.HCM , 1999-2000 Và 28
truyện được TS Cao Thị Xuân Mỹ và chúng tôi sưu tầm được trên các báo Đông Pháp th ời báo, Thần chung, Công luận
4.3 Giới thuyết một số khái niệm
4.3.1 Khái ni ệm “truyện ngắn” và “đoản thiên tiểu thuyết”
Trong buổi đầu của truyện quốc ngữ ở Nam bộ, không có ranh giới rõ rệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết Những nhà văn Nam bộ đầu thế kỉ XX chưa phân biệt một cách rạch ròi hai khái niệm này như chúng ta ngày nay Một tác phẩm đăng 1 – 2 số báo họ cũng gọi là tiểu thuyết Chẳng hạn, Thời sự tiểu thuyết : Trời gần (L.N.T, Thần Chung, số 34, 4.3.1929), Hột ngọc kim cương của ông Quận Công (tiểu thuyết,
Trần Thanh Kiểm dịch, Đông Pháp thời báo, số 247, 6.2.1924), Hai cái rương (tiểu
Trang 14thuyết, Trần Thanh Kiểm dịch, Đông Pháp thời báo, số 248, 9.2.1924) Lúc khác,
một tác phẩm đăng 10 – 20 số báo người ta cũng gọi là đoản thiên tiểu thuyết Chẳng
hạn : Bạn hiền khó kiếm (Bửu Đình, Đông Pháp thời báo, đăng từ số 12, 4.6.1923 đến số 21, 27.6.1923, gần mười số), Gia thất tan tành (Hồ Văn Hiến, Đông Pháp thời báo, s ố 1 đến số 11), Gan ruột anh hùng (Viên Hoành, Đông Pháp thời báo, đăng từ
số 289, 20.5.1925 đến số 306, 1.7.1925, liên tiếp 18 số)
Dần về sau, có nhiều ý kiến nhìn nhận về tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết
rạch ròi hơn Trên mục phụ trương văn chương của tờ Đông Pháp thời báo số 752 ra
ngày 4-8-1928 có bài viết của tác giả T.D với nhan đề bàn về đoản thiên tiểu thuyết Tác giả T.D nhấn mạnh: “Đoản thiên với trường thiên khác nhau bởi dài hay ngắn,
ấy mới là phần hình thức thôi; còn khác nhau về tinh thần nữa, mà phần này lại
tr ọng yếu hơn, một bài tiểu thuyết ngắn độ vài ba trang giấy, song ở trong nếu không
có cái tinh th ần của nó thì cũng không đáng gọi là đoản thiên tiểu thuyết được Cái tinh th ần của tiểu thuyết đoản thiên, khi đem so với trường thiên thì mới thấy
Đại để: trường thiên tả phần nguyên, còn đoản thiên chỉ tả phần lẻ Tả phần nguyên nghĩa là chung cả, hoặc sự biến động của một thời kỳ, như “Tam quốc chí”
ho ặc về phong tục của một xã hội như “Những người khốn nạn” (Les mise1rales)
ho ặc về thân thế một người như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều Tả phần lẻ là chỉ chú ý vào m ột sự gì đó mà phô bày nó ra cho hết vẻ, như “Nước đời lắm nỗi”, tả sự ăn hiếp
c ủa một anh chồng; “Sống chết mặc bây”, tả một sự không biết thương dân của một ông quan” Đoản thiên tiểu thuyết đích thực theo T.D “vì nó ngắn cho nên cảm động người ta nhạy hơn, vì chuyện tả một sự, cho nên cảm động người ta mạnh hơn”
Cách sử dụng thuật ngữ đoản thiên tiểu thuyết rõ ràng là chịu ảnh hưởng của
quan niệm văn học Trung Quốc truyền thống (chia tiểu thuyết thành ba loại: đoản thiên ti ểu thuyết (còn được gọi là kỳ quan), trung thiên tiểu thuyết (truyện vừa) và trường thiên tiểu thuyết tức một thiên truyện dài (có khi còn được gọi là diễn nghĩa)
Đề tài của đoản thiên tiểu thuyết thường là khai thác những truyện cổ kim từ đó răn
dạy con người theo lành, bỏ ác, sống nhân nghĩa, đối nhân xử thế đúng đạo, đúng đời Các tờ báo nổi tiếng ở miền Nam bấy giờ đặc biệt : Thần Chung, Công luận báo, Đông Pháp thời báo, Phụ Nữ Tân Văn, Lục Tỉnh Tân Văn, Nam Phong Tạp
Trang 15Chí…dành h ẳn một chuyên mục dành riêng cho đoản thiên tiểu thuyết Chuyên mục
này được đông đảo giới văn nghệ sĩ chuyên và không chuyên thời bấy giờ quan tâm, tham gia sáng tác rất nhiệt tình Đây cũng là nơi thử sức, bước đầu tạo được tên tuổi
của một số cây bút: Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Trần Quang Nghiệp, Thức Anh, Thanh Nhàn, Vũ Văn Đang…
Có thể nói thuật ngữ đoản thiên tiểu thuyết được sử dụng phổ biến những năm
đầu thập niên 20 thế kỉ XX Cho đến tận những năm đầu thập kỉ 30 của thế kỉ XX, khái niệm này vẫn được sử dụng rất rộng rãi Qua cách gọi đoản thiên tiểu thuyết, các
nhà văn thời bấy giờ đã đề cập đến một trong những đặc điểm của thể loại truyện
ngắn là dung lượng hay độ dài ngắn của tác phẩm và xem đó là tiêu chí xác định tiểu thuyết và truyện ngắn Mặt khác, việc sử dụng thuật ngữ đoản thiên tiểu thuyết trong
giai đoạn này không chỉ định danh một thể loại văn xuôi được viết theo kiểu mới mà còn cho thấy rằng những yếu tố về mặt lịch sử cũng như đội ngũ sáng tác đã có tác
động lớn đến việc đặt tên Xét ở một góc độ nào đó chúng ta ngầm hiểu đoản thiên
ti ểu thuyết tương đương truyện ngắn Ngày nay danh xưng đoản thiên tiểu thuyết lại không được sử dụng rộng rãi như khái niệm truyện ngắn, một phần vì cách gọi truyện
ng ắn đơn giản, ngắn gọn, nghĩa cô đọng hơn, phần khác cách gọi này nhằm dễ dàng
phân biệt với thể loại tiểu thuyết Từ bây giờ chúng tôi sẽ thay thuật ngữ đoản thiên
ti ểu thuyết bằng thuật ngữ truyện ngắn cho phù hợp với cách định danh theo như giới
nghiên cứu hiện nay thường dùng
Để có một cái nhìn thống nhất hơn, toàn diện hơn về truyện ngắn, chúng tôi
khảo sát một số khái niệm truyện ngắn trong các cuốn: Từ điển văn học(bộ mới nhât),
150 thu ật ngữ văn học tất cả coi truyện ngắn là một: “Thể tài tác phẩm tự sự cở
nh ỏ”, và “thường được viết bằng văn xuôi”, đề cập hầu hết các phương diện của đời
sống con người và xã hội Điểm chung cơ bản đó là sự giới hạn về dung lượng của truyện ngắn và thích hợp với người tiếp nhận “đọc nó liền một mạch không nghỉ ”
Từ những khái niệm trên, theo chúng tôi, các yếu tố như nhân vật, người kể chuyện,
cốt truyện, tình huống, kết cấu, được coi là cơ bản khi tìm hiểu thể loại này Đây cũng là vấn đề trọng tâm của luận văn khi tìm hiểu truyện ngắn Trần Quang Nghiệp
4.3.2 Khái ni ệm “Quá trình hiện đại hoá văn học”
Trang 16Ở Việt Nam cũng như ở các nước chậm phát triển khác, sự hiện đại hoá văn
học thường trải qua hai quá trình: một là, quá trình hiện đại hoá đồng nghĩa với công nghiệp hoá, nghĩa là hiện đại hoá bắt kịp với nền văn minh công nghiệp; hai là, quá trình hiện đại hoá để cập nhật với thế giới, tức là bắt kịp với trình độ của nền văn minh hậu công nghiệp Quá trình thứ nhất có tính lịch sử, là giai đoạn đầu của quá trình thứ hai, nhưng điều đặt biệt ở nước ta là hai quá trình này được tiến hành đồng
thời chứ không tiến hành tuần tự
TS Đỗ Lai Thúy đã tóm tắt các giai đoạn hiện đại hóa của văn học Việt Nam
như sau: “Thứ nhất, văn học Việt Nam từ khi tiếp xúc với văn học phương Tây, có thể nói, b ắt đầu quá trình hiện đại hóa Hai mươi năm đầu là giai đoạn ảnh hưởng, hỗn dung…T ừ 1932 đến 1945 là giai đoạn văn học Việt Nam phát triển tương ứng trên cơ
s ở tổng hợp Đông – Tây, có những thành tựu rực rỡ, mà đỉnh cao của nó là phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết, kịch nói Bởi vậy giai đoạn này của văn học Việt Nam, hiện đại hóa gần như trùng khít với phương Tây hóa…Từ năm 1946 trở lại đây, hiện đại hóa không còn trùng khít v ới Tây hóa nữa…mà có nhiều con đường đi đến hiện đại hóa…đó là đa dạng hóa, đa phương hóa” [71, tr.69]
Vậy có thể hiểu Quá trình hiện đại hoá văn học là quá trình làm thay đổi theo
hướng tích cực những quan niệm của nền văn học cũ để hình thành quan niệm mới về
xã hội, con người, cuộc sống từ đó chi phối việc thay đổi thể tài, nội dung, tư tưởng văn học Với cách này thì cuộc sống trong văn học dần dần phức tạp, đa dạng và nhiều màu sắc như cuộc sống thực Và để thể hiện nó thì thể loại, phương pháp sáng tác, tiêu chuẩn thẩm mỹ cũng phải kịp thời thay đổi theo Kết quả của quá trình này là
nền văn học đã thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại để xác định một hệ
thống thi pháp mới để có thế nắm bắt, phản ánh một cách chân thực và sinh động cái
đa dạng, muôn hình muôn vẻ của đời sống hiện đại Quá trình hiện đại hoá đồng thời cũng là quá trình trong đó các xu thế dân tộc hoá, dân chủ hoá đóng vai trò những định hướng liên tục và ổn định So với văn học trung đại, nền văn học Việt Nam hiện đại thực sự trở thành một nền văn học dân tộc, với nghĩa đầy đủ của từ này Mặt khác cũng chỉ đến giai đoạn hiện đại, tinh thần dân chủ vốn sẵn có trong văn chương các
thế kỷ trước, mới được hoàn thiện Vậy quá trình hiện đại hóa văn học là một bước
Trang 17tiến lớn lao, là xu hướng tất yếu của văn học Việt Nam thế kỉ XX và cả những thế kỉ sau nữa Theo GS.TS Lê Ngọc Trà thì “Quá trình hiện đại hóa văn học xuất phát từ nhu c ầu sáng tạo nội tại của văn học, từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi
c ủa công chúng và từ kết quả của sự giao lưu văn hoá giữa các quốc gia, các dân tộc” [74, tr 56]
Đặt vào bối cảnh chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn
này, theo chúng tôi: hi ện đại hoá truyện ngắn là sự thay đổi về cách viết của các nhà văn để từ đó có đổi mới về đề tài, nhân vật, cốt truyện, kết cấu, tình huống truyện, cách hành văn làm cho thể loại này thực sự phát huy những thế mạnh ưu trội về thể
lo ại của nó Để đạt được điều này cần phải có sự phát triển mang tính kế thừa, học
hỏi và tiếp thu có chọn lọc của đội ngũ các nhà sáng tác truyện ngắn để văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng dần dần mang những đặc điểm và tính chất của truyện
ngắn hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: là phương pháp quan trọng đánh giá đúng ý nghĩa của tác
phẩm trong một giai đoạn lịch sử nhất định
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: đi sâu vào phân tích các truyện ngắn của
Trần Quang Nghiệp trên bình diện nội dung và nghệ thuật…từ đó đưa ra những kết
luận quan trọng về sự nghiệp sáng tác của ông
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Giúp người viết nhìn những sáng tác của ông đặc biệt là truyện ngắn trong mối tương quan với nền văn học Việt Nam hiện đại
- Phương pháp so sánh: so sánh đặc điểm truyện ngắn Trần Quang Nghiệp và một
số truyện ngắn của các tác giả cùng thời
- Phương pháp thống kê: Sắp xếp, liệt kê các đặc trưng tương tự nhau của các tác
phẩm thuộc phạm vi nghiên cứu luận văn, nhằm xác lập diện mạo của chúng
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài “Đóng góp của Trần Quang Nghiệp trong quá trình hiện đại hoá truyện ngắn Nam bộ Đầu Thế kỉ XX”, luận văn góp phần làm sống lại chân dung một
nhà văn tài hoa, độc đáo của Nam bộ đầu thế kỷ XX, đồng thời khẳng định các giá trị
Trang 18mà nhà văn đã đóng góp cho quá trình phát triển của văn xuôi Nam bộ nói chung và truyện ngắn Nam bộ nói riêng
7 Giới thiệu kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu (16 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (8 trang),
Ph ụ lục (44 trang), phần nội dung chính của luận văn (83 trang) được trình bày theo
ba chương:
Chương I: Bối cảnh xã hội – văn hóa, tiền đề của cuộc đời – sự nghiệp văn chương
Trần Quang Nghiệp (23 trang)
C hương II: Giá trị hiện thực trong truyện ngắn Trần Quang Nghiệp (23 trang)
C hương III: Những nét độc đáo trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Trần Quang
Nghiệp (37 trang)
Trang 19CHƯƠNG I: BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HÓA, TIỀN ĐỀ CỦA CUỘC ĐỜI - SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TRẦN QUANG NGHIỆP
1.1 B ối cảnh xã hội – văn hóa Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX
1.1.1 Những biến động của xã hội Nam bộ
Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nam bộ đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Cùng chung số phận lịch sử của cả nước, tại vùng đất phía Nam này, con người cũng phải đón nhận biết bao biến động, đổi thay dữ dội trong cuộc sống Đó là sự đổi thay diễn ra từng phút, từng giờ Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer
và Albert Sarraut đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng Kinh tế hàng hóa phát triển đã đẩy mạnh thông thương, thành thị ngày càng phát triển Sài Gòn và Chợ Lớn là hai trung tâm diễn ra quá trình đô thị hoá nhanh chóng nhất Dân số đô thị ngày càng đông, đời sống thành thị ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp khác hẳn trước kia: công nhân, nhà buôn, nhà báo, thầy giáo, ký lục, thầu khoán, học trò… Trong số đó không ít người bằng mưu mẹo, mánh khóe mà trở nên giàu có, số khác lại trở thành anh bồi, anh xe, vú em, thậm chí thành gái điếm, ăn xin, cướp
giật… Vì thế tầng lớp tiểu tư sản đặc biệt dân nghèo chiếm ưu thế và ngày càng đông
đảo, làm đời sống xã hội Nam bộ vô cùng rối ren, phức tạp “Năm 1863, dân số cả Sài Gòn – Gia Định chỉ mới gần hai vạn thì đến năm 1929 đã có trên ba mươi vạn người; trong đó gần một nửa là những người lao động chân tay” [4, tr.21]
Đời sống thành thị với đủ hạng người, đủ mọi tầng lớp đua nhau Tây hóa
Những nhà hát lộng lẫy, những quán ăn sang trọng, những quán trà thanh lịch… đua nhau xuất hiện Chính sự náo nhiệt, lôi cuốn của nhịp sống thành thị đã khiến không
ít người lầm đường lạc lối Trong cuộc mưu sinh vất vả, người ta tính toán, chạy vại, mánh khóe này nọ để kiếm tiền Đời sống thành thị luôn luôn động và biến đổi Cũng
vì thế mà xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều quan hệ khác trước và nhiều chuyện khác trước
Tóm lại, nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian không dài so
Trang 20với lịch sử phát triển của Nam bộ Nhưng trong khoảng thời gian đó xã hội Nam bộ chuyển mình mạnh mẽ sang hướng tư sản đồng thời kéo theo các mặt khác phát triển: thay đổi thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế; thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lực các lực lượng bảo thủ, tạo điều kiện cho cái mới – sau khi đã phát triển, biến hoá – có điều kiện từ thành thị tràn về nông thôn, chi phối sự phát triển theo kiểu xã hội hiện đại Xã hội Nam bộ gồng mình thay da đổi thịt từng phút từng giây, một cuộc đổi thay dâu bể “Trong cuộc đổi thay như vậy – một cuộc đổi thay
mà b ất cứ cuộc bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh – xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều chuyện khác trước Cuộc sống tràn ra ngoài luân thường và nhân tình th ế thái, trở thành một cuộc sống xã hội cụ thể, đa dạng và sôi động Sự êm
ấm của hạnh phúc gia đình không giữ chân được con người; tình làng xóm không giữ chân được chàng trai sau lũy tre xanh Bước ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, yên lặng,
h ọ hàng, làng mạc người ta bị dòng xoáy của xã hội hiện đại cuốn đi, lắm lúc quá đà,
đi chệch hướng lúc nào cũng không hay biết” [14, tr.84]
Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà có viết: “Văn học hôm nay sẽ còn lại với mai sau không ph ải chỉ như bức tranh hiện thực về số phận con người mà còn là kí ức về bộ
m ặt tinh thần của xã hội chúng ta ” [74, tr.52] Truyện ngắn Trần Quang Nghiệp
phần nào đã minh chứng cho điều đó Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, truyện ngắn Trần Quang Nghiệp xuất hiện rất nhiều những nhân vật thành thị cùng những vấn đề nóng hổi về nhân tình thế thái trong xã hội mới đầy biến động
1.1.2 Những thay đổi về văn hóa Nam bộ
1.1.2.1 Chữ quốc ngữ
Đầu thế kỉ XX, cùng với những biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội, đời
sống văn hóa cũng có những nét mới đáng kể Yếu tố đầu tiên quan trọng tác động tích cực đến sự phát triển của văn học Nam bộ giai đoạn này là sự phổ biến chữ quốc
ngữ của chế độ thực dân nửa phong kiến
Về phía nhân dân ta, lúc đầu chữ quốc ngữ bị bài bác bởi nó bị xem là thứ chữ
của quân cướp nước nên không dễ gì thay thế chữ Hán và Nôm được Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thành thị và sự xuất hiện ngày càng nhiều những tầng lớp
Trang 21xã hội mới, chữ quốc ngữ dần dần được công chúng làm quen và thực sự thừa nhận vào thập niên đầu của thế kỉ XX Đặc biệt ở Nam kỳ, việc truyền bá chữ quốc ngữ qua phong trào Minh Tân đã khiến người ta không còn bàn nên hay không nên học
chữ Quốc ngữ nữa mà thứ chữ này được khẳng định là chữ ta, hồn trong nước và
được chính các bậc thâm niên trong nền Hán học cổ động tích cực nhất như Trần Quý Cáp, Nguyễn Phan Lãng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trương Vĩnh Kí…Chính việc truyền bá chữ Quốc ngữ làm cho dân ta có điều
kiện tiếp thu những văn minh, học thuật mới Qua chữ quốc ngữ họ làm giàu ngôn
ngữ mẹ đẻ bằng nhiều nguồn kiến thức, ra sức gìn giữ và trau dồi nó bởi họ biết rằng
những ai “chối chữ quốc ngữ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình” [57, tr.30]
Có thể nói chữ Quốc ngữ ảnh hưởng tích cực đến sự ra đời và phát triển của văn xuôi nước ta Với sự phát triển nhanh chóng, chữ quốc ngữ đã khiến câu văn tiếng
Việt có nhiều đổi mới, đồng thời việc sáng tác văn chương chữ quốc ngữ cũng giúp cho chữ quốc ngữ ngày càng diễn đạt tinh tế hơn cuộc sống, tâm tư tình cảm của con người Từ chữ quốc ngữ mà báo chí cùng với thơ, văn xuôi hiện đại đã làm chủ văn đàn, vươn lên trình độ đỉnh cao, đạt được những tha2NH tựu to lớn cho suốt cả thế kỉ
Chữ quốc ngữ trở thành công cụ hữu ích thực hiện nhiều nhiệm vụ lịch sử trong công
cuộc canh tân đất nước, hiện đại hoá văn học dân tộc, mở ro65nggiao lưu, hội nhập
với văn hóa và văn học Tây Âu
Ghi chú: Chữ quốc ngữ được Trần Quang Nghiệp vận dụng rất điêu luyện trong những sáng tác của mình Tuy nhiên, vì ở giai đoạn đầu do chưa có tính thống
nhất trong việc sử dụng chữ quốc ngữ nên đôi lúc ông có những từ dùng không đúng chính tả Qua khảo sát 4 tờ báo: Công Luận, Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Lục
T ỉnh Tân Văn chúng tôi thấy sai lỗi chính tả là tình hình chung của thời kì này chứ
không riêng gì Trần Quang Nghiệp Có lẽ trong quá trình in ấn, sắp chữ, có thể một
số từ đã bị sai chính tả hoặc thiếu dấu Để hiểu đúng ý nghĩa của từ và câu trong văn
bản, trong lúc trích dẫn dẫn chứng, chúng tôi đã chỉnh sửa lỗi chính tả và thêm dấu
một số từ ngữ
1.1.2.2 Báo chí và ngh ề in, xuất bản
Một hiện tượng văn hóa khác cũng góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy
Trang 22quá trình hiện đại hóa văn học đó là sự ra đời của báo chí Có thể khẳng định, báo chí đóng vai trò quyết định đối sự hình thành và phát triển của văn học Nam bộ Những năm đầu thế kỉ XX, báo chí ra đời được xem là hiện tượng cực kì mới mẻ trong đời
sống người dân Nam kỳ lục tỉnh, là một trong những dấu hiệu của xã hội hiện đại, bởi đây là nơi công khai trao đổi, bàn luận những thông tin có liên quan đến chính trị, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước Kể từ khi tờ báo bằng chữ quốc ngữ La tinh đầu tiên
xuất hiện ở miền Nam (Gia Định báo – 1865) thì tiếp theo đó hàng chục tờ báo ra đời như: Nhật trình Nam kỳ (1883), Bảo hộ Nam Dân (1888), Thông loại khóa trình
(1888), Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo ( 1892), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đại Việt Tân Báo (1905), Nhật Báo Tỉnh (1905), Lục Tỉnh Tân Văn
(1907), Đăng Cổ Tùng Báo (1907), Nam kỳ Địa Phận (1908), Đông Dương tạp chí (1913), Trung B ắc Tân Văn (1915), Tân Đợi Thời Báo (1916), Công Luận Báo (1916), Nam Trung Nh ật Báo (1917), Nam Phong Tạp Chí (1917)…; và đến năm
1930, riêng ở Nam Kỳ đã có hơn 50 tờ được phát hành
Nguyên nhân khởi phát của báo chí là do thực dân Pháp cần một thứ vũ khí tinh thần để cổ động, tuyên truyền cho “tân trào”, cho “công cuộc khai hóa” nhưng
một điều chúng không ngờ tới là dân ta lại dùng chính vũ khí của thực dân để chống
lại bọn thực dân Người dân An Nam đã dùng báo chí để truyền bá tư tưởng yêu nước, đăng tải nhiều kiến thức mới nhằm mở mang văn hóa dân tộc
Nhờ có báo chí mà văn học quốc ngữ ở nước ta mới được phổ biến và phát triển rộng khắp Thời đó, báo chí chỉ là nơi để đăng những thông tư, nghị định của nhà cầm quyền để phổ biến cho dân chúng Thỉnh thoảng nếu có thì chỉ là những tin
cá, gạo, lúa, án mạng từ tòa…chứ chưa có tin tức về chính trị, xã hội Để thu hút độc
giả các tờ báo đã cho đăng những tác phẩm văn học dịch từ phương Tây, Trung Quốc
và sáng tác của những nhà văn trong nước Hầu hết các tờ báo thường xuyên dành
một khoảng lớn cho các bài liên quan đến văn học thuộc các loại: dịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ…dưới dạng nhiều kỳ Báo chí lúc này làm cho đời sống văn hóa và văn học cực kì sôi động, phong phú Nó là nơi các tác giả văn nghệ buổi đầu làm quen với cách viết hiện đại, tư duy hiện đại Họ có điều kiện rèn luyện câu văn, trau
dồi ngòi bút của mình qua những bài viết, bài dịch thuật Báo chí cũng là nơi thể
Trang 23nghiệm những thể loại văn học mới: thơ, văn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học Không phải những tác phẩm văn chương mà báo chí chính là phương tiện đầu tiên
phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ ở Việt Nam Báo chí là nền tảng nảy sinh văn học
quốc ngữ Nam bộ Báo chí phát triển hình thành một đội ngũ nhà báo kiêm nhà viết văn chuyên nghiệp đồng thời hình thành một lớp công chúng có nhu cầu thẩm mĩ và
thị hiếu mới và có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của xã hội
Mỗi tờ báo lúc này rất quý hiếm bởi đâu phải ai cũng có tiền để mua Các tờ báo được chuyền tay nhau giúp mọi người nắm bắt được nhiều thông tin, nhiều nguồn kiến thức quan trọng trong đời sống, là món ăn tinh thần không thể thiếu Mọi người hồi hộp chờ đợi kì báo mới để được theo dõi phần tiếp theo của một tiểu thuyết, được đọc một truyện ngắn hấp dẫn hay cùng nhau bàn luận về một sự kiện chính trị nóng hổi nào đó Báo chí trở thành món hàng béo bở trong kinh doanh Từ chính báo chí mà văn chương trở thành một nghề để nhà văn mưu sinh, lập nghiệp Báo chí tuy
chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng nó có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với sự phát triển của xã hội đặc biệt đã giúp đời sống văn hóa và văn học tiến một bước rất dài trong tiến trình phát triển và hội nhập với thế giới
GS.TS Trần Hữu Tá đã từng nhận định: “Báo chí quả là bà đỡ mát tay cho văn học” [65, tr.40] Thật vậy, nhờ báo chí mà các nhà văn Nam bộ có điều kiện thử
sức và phát triển tài năng của mình và cũng nhờ báo chí mà độc giả biết đến họ, trong
đó có trường hợp của Trần Quang Nghiệp
Do nhu cầu tiếp nhận văn hóa, văn học của công chúng ngày càng nhiều, báo chí ngày càng phát triển Để đáp ứng kịp thời cho việc xuất bản báo chí, ngành in và
xuất bản ra đời và nhanh chóng được hiện đại hóa Năm 1862, nhà in đầu tiên tại Nam kỳ ra đời ở Sài Gòn Nếu trước kia, văn chương là món ăn tinh thần cao cấp của
tầng lớp trí thức quý tộc thì nay nó đã trở thành món ăn bình dân phổ biến của rất nhiều đối tượng trong xã hội Vì vậy, số lượng người đọc sách báo ngày càng đông,
và để đáp ứng kịp thời nhu cầu của họ, nhiều nhà in, nhà xuất bản hàng năm đã in ấn
ra hàng trăm văn phẩm đủ mọi thể loại để tung ra thị trường Mặt khác khi sách báo phát hành được công chúng tìm đọc thì viết văn thực sự trở thành một nghề kiếm
sống trong xã hội Vì vậy đòi hỏi nhà văn phải đâu tư nhiều hơn cho tác phẩm để thu
Trang 24hút độc giả Lúc này, ở Nam kỳ đội ngũ nhà văn ngày càng hùng hậu, xuất hiện
những tên tuổi được nhiều người yêu mến như: Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh,
Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Nguyễn Bửu Mọc, Việt Đông, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiệp, Sơn Vương, Tuấn Anh, Bửu Đình…Họ đã cho ra đời nhiều tác phẩm phong phú, đa dạng về cả hình thức lẫn nội dung, tạo được sức cuốn hút hấp dẫn
Nguyễn Chánh Sắt, ngoài ra còn có cả Hoa kiều, chủ tiệm kim hoàn, thương gia, nhà buôn sách và sửa xe đạp, thư ký nhà nước…[45, tr 239]
Việc dịch thuật cũng chú ý đến văn xuôi nhiều hơn, đặc biệt là truyện ngắn,
tiểu thuyết, khác với truyền thống xem trọng thơ ca trước kia Điều này thể hiện một quan niệm văn học mới – phản ánh hiện thực đời sống xã hội hơn là minh giảng cho
những bài học giáo điều khô khan, cứng nhắc Nhu cầu của thị dân cũng là điều khiến các dịch giả đặc biệt quan tâm Chú ý đến chức năng giải trí, quan tâm đến công chúng bình dân nên các dịch giả đã phiên dịch nhiều loại tiểu thuyết anh hùng, phiêu
lưu mạo hiểm, kiếm hiệp Ngay cả Nam K ỳ địa phận, một tờ báo Công giáo cũng có
phụ trương đăng những tiểu thuyết phiêu lưu, mạo hiểm nhằm giúp độc giả giải trí,
“giải buồn” như tên một mục của tờ báo Tiểu thuyết của A Dumas rất được dịch giả Nam Bộ ưa chuộng Le Comte de Monte Cristo của A Dumas đã được cả Hồ Biểu
Chánh và Lê Hoằng Mưu phóng tác Về truyện Tàu, loại tiểu thuyết anh hùng như La Thông t ảo Bắc, Ngũ hổ bình Tây, Càng Long hạ Giang Nam chiếm số lượng rất lớn
ở Nam Bộ do phù hợp với tâm lý di dân của dân Nam Loại thứ hai là loại tiểu thuyết
kiếm hiệp như Phong kiếm xuân thu, Giang hồ nữ hiệp, Hậu Hán tam hợp bảo
ki ếm,… cũng được dân Nam ưa chuộng
Dịch thuật ra đời có một ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của
Trang 25văn xuôi quốc ngữ Nam bộ Trước hết, thông qua các bài dịch thuật, các dịch giả cũng như độc giả được tiếp cận những tri thức mới về văn học Đông Tây kim cổ,
những trào lưu văn học, triết học của thế giới hiện đại Việc tiếp thu ấy giúp các nhà văn thay đổi cách cảm, cách nghĩ; học tập được các thể loại mới, các phương pháp nghiên cứu mới…; độc giả văn học được tiếp xúc và làm quen với những sáng tác
của văn học nước ngoài, từ đó thay đổi dần thị hiếu thẩm mỹ để tiếp nhận những tác
phẩm văn chương thuộc nhiều thể loại văn học khác nhau của nhiều nước khác nhau
mà trước đó trong đời sống văn học chưa từng có cơ hội tiếp xúc
Văn học dịch ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã phản ánh một nghịch lý của văn học Nam Bộ thời kỳ này Sớm tiếp xúc với phương Tây, văn học Nam Bộ vừa có những cách tân mới mẻ, táo bạo mang tính tiên phong vừa lại chưa tách khỏi hẳn những ảnh hưởng sâu đậm của văn học Trung Quốc Tuy nhiên ý thức hướng ngoại, chú trọng chức năng giải trí và quan tâm đến công chúng, đặc biệt là công chúng bình dân là cơ sở để văn học Nam Bộ, đặc biệt là văn xuôi sớm có những
bứt phá, cách tân trên con đường hiện đại hoá, sớm có những thành công và nhanh chóng được đông đảo độc giả ủng hộ Đây là một bước đi đáng ghi nhận trong bước đường hiện đại hóa của văn học dân tộc Từ bước dịch thuật – phóng tác này, các nhà văn đã rèn luyện tay nghề viết văn, nắm bắt kỹ thuật viết truyện ngắn, tiểu thuyết của nước ngoài, đặc biệt là của phương Tây, để sau này trở thành những nhà văn tiên phong của nền văn học mới Như vậy ở Nam Bộ, về xu hướng dịch thuật, các loại
tiểu thuyết và truyện ngắn được dịch nhiều hơn bởi chúng phù hợp với thị hiếu và
hấp dẫn độc giả bình dân
Tóm lại dịch thuật xuất hiện là một trong những nhân tố quan trọng có tác động rất lớn đến quá trình hiện đại hoá văn học Dịch thuật ra đời tạo điều kiện cho báo chí và xuất bản phát triển, góp phần làm phong phú thêm từ ngữ tiếng Việt (chuẩn bị chất liệu ngôn từ – từ ngữ và ngữ pháp – cho sự ra đời của văn học mới, là
bước chuyển về chất để văn học đi từ phạm trù trung đại sang hiện đại
1.2 Đời sống văn học Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX:
Những tiền đề về xã hội, văn hoá là bước ngoặt đột biến trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân Nam kỳ lục tỉnh, thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa
Trang 26của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỉ XX
Có thể nói, giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là giai đoạn đầu tiên của lịch sử văn
học Quốc ngữ Nam bộ, nền văn học này đã có kế thừa mang tính chất tiên tiến tích lũy từ từ chứ không phải một sớm một chiều mà có được, nhất là về mặt văn học nghệ thuật Song song đó là cuộc cạnh tranh giữa “thủ cựu bài tân” – “đả cựu nghinh tân” đang diễn ra rất quyết liệt Có nhiều sự kiện văn học, nhiều tác giả, tác phẩm đánh dấu từng bước của quá trình đấu tranh, phát triển và tranh chấp giữa văn học cũ
và mới trong một giai đoạn có tính chất giao thời mà ở đó tồn tại hai lực lượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm văn học Không những vậy, ở chính mỗi bản thân nhà văn, tác phẩm cũng có sự pha trộn giữa truyền thống và hiện đại Đây là giai đoạn phôi thai trong cuộc chuyển giao những tinh hoa, những cái tích cực của văn
học cũ cho văn học mới Đây là giai đoạn văn học có nhiều biến chuyển lớn lao, là
nền văn học mới khai sinh còn chịu nhiều thử thách, sàng lọc của lịch sử
Những năm đầu thế kỉ XX, văn học quốc ngữ Nam bộ có những thay đổi biến chuyển lớn lao ở các mặt:
1.2.1 Đội ngũ sáng tác
Có thể nói rằng, tầng lớp trí thức nửa Tây học nửa Hán học, trí thức Tây giữ vai trò khá đặc biệt về lĩnh vực văn hóa và văn học Họ mang trong mình những nét
rất riêng của thời đại:
Th ứ nhất là đa số các nhà văn Nam bộ đầu thế kỉ XX đều xuất thân là học sinh
đầu tiên của các trường Pháp Việt ở Nam kỳ: Trần Chánh Chiếu xuất thân từ College D`Adran, Nguyễn Chánh Sắc có bằng tiểu học Pháp Việt, Lê Hoằng Mưu chưa học
hết bậc trung học Pháp Việt, Phú Đức tốt nghiệp trường sư phạm, Nguyễn Thành Long giáo học tại Cần Thơ, Bửu Đình học sinh quốc học Huế, Sơn Vương tốt nghiệp
tiểu học, Trần Quang Nghiệp tốt nghiệp trung học Pháp college Mỹ Tho…Tầng lớp này dù xuất thân từ những hoàn cảnh gia đình khác nhau nhưng về cơ bản đều có một
nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội nhanh chóng thay đổi Họ có điều kiện để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội và họ cũng có nhu cầu thể hiện tâm tư tình cảm của mình về những vấn đề đó Họ chọn văn chương
Trang 27là mảnh đất để thể hiện tài năng và để lập thân, coi trọng bản thân và luôn có ý thức trau dồi nghề nghiệp Họ chịu khó học hỏi, có chí cầu tiến, luôn muốn làm mới mình, làm mới văn học nước nhà Họ sáng tác văn chương bằng cả niềm say mê nhiệt huyết
Họ căng hết tất cả giác quan để cảm nhận cuộc sống hiện đại đang thay đổi từng phút,
từng giờ và thể hiện những điều đó cho mọi người cùng chia sẻ thông qua lăng kính
cảm nhận của riêng mình
Th ứ hai là trước khi trở thành nhà văn họ đều hoạt động trong lĩnh vực báo
chí Một số là những cây bút năng nổ cộng tác thường xuyên với các báo Huỳnh Thị
Bảo Hòa, Phan Thị Bạch Vân, Bách Ngọc (Khổng Lồ), Trần Quang Nghiệp Một số
là chủ bút các báo đồng thời là những nhà báo có nghề: Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản, Trương Hoằng Mưu, Nam Đình Nguyễn Thế Phương…
Th ứ ba là đa số các nhà văn tuổi đời còn rất trẻ: Nguyễn Trọng Quản, năm 22 tuổi (1887), cho ra mắt tác phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền; Trương Duy Toản năm
22 tu ổi, ra mắt U tình lục; Phú Đức, năm 23 tuổi, viết Câu chuyện canh trường và được đăng trên Trung Lập Báo; Sơn Vương, năm 22 tuổi, bắt đầu viết sách và bán sách, cho ra đời hàng chục tác phẩm, gọi là “đoản thiên tiểu thuyết”, Nguyễn Chánh
khi còn rất trẻ - 20 tuổi (1927) với truyện ngắn đăng báo đầu tiên là Ai Đành phụ
nghĩa Sau đó, ông viết hơn 45 truyện ngắn và 6 tiểu thuyết trong 5 năm (1927 –
1932), những tác phẩm này đều được đăng báo và in thành sách…
Đa số họ đều là những nhà văn, nhà báo tài hoa, đầy nhiệt huyết, đau đáu trong lòng nỗi niềm muốn xây dựng một nền quốc văn vững mạnh, đầy tính nhân bản
1.2.2 Quan niệm sáng tác
Những quan niệm mới mẻ về văn học được nảy nở và tích luỹ dần từ chính đời
sống văn học 20 năm đầu thế kỉ XX cùng với sự hỗ trợ và ảnh hưởng ngày càng
mạnh của văn học phương Tây Do vậy, quan niệm sáng tác của những nhà văn Nam
bộ đầu thế kỉ XX tập trung vào hai nội dung chính:
Th ứ nhất là khuynh hướng đạo lí vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sáng tác của
Trang 28các nhà văn Nam bộ thời kì này Mục đích là bảo vệ đạo lý cương thường, nhằm nêu gương, thuyết phục hay răn dạy con người trong thời buổi “củi quế gạo châu” Đạo lí
đó để răn dạy con người nhưng phải xuất phát từ đời sống thực, hợp thời hợp thế chứ không cứng nhắc như trong văn học trung đại
Thứ hai là song song với chức năng tải đạo, chức năng giải trí được đặt lên
hàng đầu Bởi vì, độc giả bấy giờ đa số là dân thị thành Đứng trước cuộc sống bon chen cám dỗ của xã hội mới, họ cần sống thực, cần hiểu rõ, hiểu kĩ cuộc sống với đầy
đủ những cung bậc, trạng thái của cảm xúc Vì vậy, những tác phẩm văn học bấy giờ
phải gây được những cảm giác mới lạ, hứng thú, tò mò và thật sự có ý nghĩa đối với
họ Chính vì yêu cầu này, ở giai đoạn mò mẫm thử nghiệm ban đầu, văn chương Nam
bộ đã cố gắng hoàn thành tốt vai trò xã hội – đáp ứng thị hiếu công chúng đương thời – mà không chú ý lắm đến việc phải sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ điêu luyện như văn học miền Bắc Cộng với việc các tờ báo trả nhuận bút
những sáng tác được đăng khiến văn học trở thành một nghề trong xã hội Nhà văn
viết không phải mua vui, thưởng ngoạn hay lưu lại cho con cháu, “cất vào danh sơn”
mà họ viết vì cuộc sống mưu sinh áo cơm ghì sát đất (Nam Cao) Do vậy, để thu hút
độc giả, họ phải viết những tác phẩm mang tính thời sự và gần gũi với công chúng độc giả đương thời
1.2.3 Di ễn trình của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XX
Các giai đoạn hình thành và phát triển của truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Phương Lựu cho rằng “chịu sự tác động của ba nguồn ảnh hưởng chính: truyền thống văn học dân gian Việt Nam, truyền thống văn học trung đại Việt Nam và Trung
Qu ốc (nhất truyền thống truyền kỳ như Truyền kỳ mạn lục, Liêu trai chí dị …) và truy ền thống văn xuôi Pháp (nhất là thế kỷ XIX) và phương Tây” [ 46, tr 77]
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, truyện ngắn Nam Bộ tạm chia làm ba giai đoạn như sau:
Th ứ nhất là giai đoạn phôi thai
Đầu thế kỷ XX, trên các báo quốc ngữ ở Nam Bộ đã xuất hiện những tác phẩm còn mang dấu vết của kiểu truyện kể đơn giản, chưa gia công nhiều trong kỹ thuật
Trang 29viết Bùi Đức Tịnh đã nhìn nhận đó là “những bài theo lối chuyện đời xưa, chuyện kể dân gian” Theo l ối này, ở miền Nam có Chuyện hai anh khùng; Chuyện anh hà tiện
(Trần Phục Lễ - 1903); Làm khôn cả Phồn sinh dại (1903); Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn (1902) của Nguyễn Chánh Sắt; Chuyện mượn đày tớ (Nguyễn Phương
Chánh – 1903)
Th ứ hai là giai đoạn trưởng thành và phát triển
Đây là giai đoạn mà song song với sự phân hóa ngày càng phức tạp của xã hội
thời nửa phong kiến, là sự nảy sinh của nhiều biến chuyển phức tạp với nhiều tình
cảnh khác nhau của con người và cuộc sống, tạo nên một thực tại phong phú, với tính
chất “có vấn đề” của nó không thể phủ nhận được Đây chính là điểm kích thích truyện ngắn vượt qua những ngụ ngôn và ẩn dụ dân gian để đến với những cảm hứng sáng tạo mới mẻ đầy màu sắc thời đại, với sở trường của nó phản ánh từng mảng nhỏ
của thực tại cuộc sống và sự nở rộ của các truyện ngắn đã làm nên một bức tranh ghép sinh động của buổi giao thời
Một số tác giả nổi bật của giai đoạn này là Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình, Công Bình, Thúc Anh, Khổng Lồ, Vũ Văn Đang, Thái Bình Dương, … trong thập niên 1920 – 1930
Riêng trường hợp Trần Quang Nghiệp, những truyện ngắn đặc sắc của ông đều
ra đời trong khoảng thời gian này Phần lớn chúng có những cách tân cả về phương
diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
Thứ ba là giai đoạn hội nhập
Cuối thập niên 1930 sang thập 1940, truyện ngắn Nam Bộ đã hội đủ các tiêu chí về nội dung và nghệ thuật của thể loại truyện ngắn hiện đại về phương diện Bên
cạnh đó, một bộ phận nhà văn Nam Bộ đã hoà nhập cùng cuộc kháng chiến giành độc
lập tự do nên cảm hứng truyện ngắn thời kỳ này càng nhiều màu sắc phong phú, từ
cảm hứng chiến tranh đến cảm hứng đời thường Những năm từ 1940 trở về sau, nhiều tên tuổi nổi tiếng của truyện ngắn Nam Bộ như Phan Ngọc Hiển, Phi Vân, và
thời gian không lâu là Sơn Nam, Trang Thế Hy, … Truyện ngắn của lớp nhà văn này
vẫn giữ được bản sắc Nam Bộ, gắn bó với chất liệu ngôn ngữ Nam Bộ và biến nó thành ngôn ngữ của văn chương Đến đây, có thể nói rằng ngôn ngữ văn chương
Trang 30trong truyện ngắn Nam Bộ đã đạt đến độ trưởng thành, song song đó là cảm hứng Nam Bộ đã hoà nhập vào cảm hứng dân tộc, cảm hứng lịch sử, thời đại
Từ những điều vừa trình bày, chúng tôi thấy văn học quốc ngữ Nam bộ giai đoạn đầu thế kỉ XX không phong phú ở đỉnh cao mà ở khả năng phát triển, tính đa
dạng và biến đổi liên tục Đó là lượng cần phải có cho tiến trình hiện đại hóa văn học
ở bước đầu để dần dần về sau thành chất tạo nên những thành tựu rực rỡ cho văn học
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Những biến động về mặt xã hội, văn hóa chính là tiền đề cho sự ra đời của
Trần Quang Nghiệp Trong lòng cái nôi ấy, văn chương của ông được ươm mầm, khai sinh, thừa nhận và phát triển
1.3 Ti ểu sử và sự nghiệp văn chương Trần Quang Nghiệp
1.3.1 Tiểu sử nhà văn
Trần Quang Nghiệp (1907 – 1983) không có bút danh ngoài tên thật, người làng Bình Thạnh, xã Bình Cách, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang)
Trần Quang Nghiệp là người hiền lành, điềm đạm, tinh tế và rất có duyên ăn nói Ông
xuất thân trong một gia đình điền chủ tân học có tiếng ở Mỹ Tho lúc bấy giờ Cha là Ông Trần Quang Xuân (còn gọi là ông Phủ Xuân hay Phủ Cầm), là người có tính tình vui vẻ, bặt thiệp, thích đi đây đi đó, có tư tưởng tiến bộ muốn canh tân đất nước Mẹ
là Bà Dương Thị Quý, có nhan sắc, tính tình nghiêm nghị, mực thước, con cháu ai cũng nể sợ Tuy đứng hàng thứ tư trong sáu anh chị em nhưng người làng thường hay
gọi Trần Quang Nghiệp là “Cậu năm – nhà văn”
Thuở nhỏ, Trần Quang Nghiệp được học hết ban Trung học Pháp tại trường College Mỹ Tho Sau đó, ông lên Sài Gòn sinh sống và học tập Lúc bấy giờ người anh cả là Trần Văn Thủ sắp hoàn tất chương trình học ở Pháp, chuẩn bị về nước thì lâm bệnh nặng và qua đời Mất mát quá lớn này khiến Trần Quang Nghiệp bỏ dở dự định ra Hà Nội học tiếp, về quê an ủi cha mẹ già, phụ quản lí ruộng đất, nhà cửa và
lập gia đình
Vào những năm 1928 – 1929 – 1931, Trần Quang Nghiệp có nhiều đoản thiên
tiểu thuyết được liên tục đăng trên các báo Công Luận, Thần Chung, Đông Pháp thời
Trang 31báo… được công chúng yêu thích và hâm mộ trong số đó có cô Nguyễn Thị Nhàn - con gái của ông Nguyễn Đăng Khoa (còn gọi là ông Tế Sáu) ở Phú Đức (Mỹ Tho)
Khi người mai mối cho biết người coi mắt mình là Trần Quang Nghiệp - nhà văn bấy lâu nay mình ngưỡng mộ, cô Nhàn đã vui mừng ưng thuận
Giữa năm 1931, ông “coi mắt vợ”.“Người dân tại rạch Ông Đa, xã Phú Đức,
n ằm ở cực Nam Mỹ Tho, bỗng thấy một chiếc thuyền lạ cập bến dưới chân cầu Lên
b ờ đầu tiên là một người đàn ông trung niên mặc quốc phục, đội khăn xếp đen, quần
l ụa trắng, áo dài gấm bông chữ thọ xanh thẫm, chân mang giày Gia Định bóng ngời Người thứ hai vận âu phục nỉ xám, mũ “phớt” nâu, giày tây khua lộp cộp, tay cầm
“can”, bước đi mạnh mẽ Theo sau là hai người phụ nữ trạc ngoài 40, trang phục sang tr ọng và nền nã với áo dài the bông ép, khăn hoa lụa choàng quanh cổ, chân mang hài cườm, tay che dù dầm Hai người cười sánh bước ngang nhau Đi sau cùng,
n ổi bật trên nền đất nâu mát rượi bóng dừa, là một chàng trai trẻ, vận âu phục trắng, tay c ầm nón “fléchet” cũng màu trắng, vẻ mặt trang nghiêm” Người dân trên bến tò mò:
- Nghe nói hôm nay có nhà văn gì đó bên chợ Mỹ Tho qua “coi mắt” cô Nhàn…”[54, tr 2]
Thấy cô Nhàn đẹp người đẹp nết, giỏi thêu thùa nấu nướng, lại yêu thích văn chương, ông liền đồng ý lấy làm vợ Mùa thu năm sau (1932), Trần Quang Nghiệp cưới cô Nguyễn Thị Nhàn Văn chương đã góp phần bắt nhịp cầu cho mối lương duyên hạnh phúc của ông Họ sống với nhau được 5 mặt con Tất cả đều có nghề nghiệp ổn định và thành danh (xem phụ lục, tr 147)
Cuộc sống trong một gia đình điền chủ thời bấy giờ rất đầy đủ, sung túc Tại căn nhà của mình ở xã Bình Cách, Trần Quang Nghiệp dành hẳn một phòng mà ông
gọi là phòng văn để lưu giữ những quyển sách yêu thích và những sáng tác đầu tay
của mình vào đó Trần Quang Nghiệp rất yêu thích văn chương và đọc sách “Hàng tháng người đều mua sách vở cho chúng tôi đọc thêm Tủ sách gia đình đầy ắp những chuy ện hay Từ các truyện Việt Nam mới xuất bản, truyện cổ điển Trung quốc, truyện Pháp, đến các quyển Thằng Khờ, Tội ác và hình phạt (Dostoevsky); Chiến tranh và hòa bình (Lep Tolstoi) c ủa các nhà văn Nga….Có cả loại sách “học làm người” dịch
Trang 32của nước ngoài Cha bảo tất cả chúng tôi phải đọc” [54, tr 22]) Thời gian này, bên
cạnh viết văn, Trần Quang Nghiệp còn là một tay vợt bóng bàn kì cựu Những lúc
rảnh rỗi, ông thường đánh bóng cùng vợ con và bè bạn
Cuộc sống gia đình thanh bình và hạnh phúc cho tới năm 1944 Vào năm này, phong trào Việt Minh bắt đầu rầm rộ khắp Nam bộ Nhằm ngăn chặn ảnh hưởng và
sự lớn mạnh của phong trào này ở Nam kỳ nhất là Mỹ Tho, thực dân Pháp bắt đầu điều lính về huyện lỵ các tỉnh trong đó có xã Bình Cách Chúng nổ súng thị uy, đốt phá làng mạc Nhà của Trần Quang Nghiệp bị đốt cháy tan hoang, bao nhiêu sáng tác tâm huyết của ông trở thành tro bụi
Tình hình chiến sự càng bất an, gia đình ông đành bỏ ruộng vườn, tản cư ra thị
xã Mỹ Tho tá túc nhà người quen Năm 1946, cả gia đình quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp Để sinh sống trong giai đoạn này, ông và mấy chị em chung nhau mở một
cửa hàng bán xe đạp tại góc đường Mac Mahon và Bonard (Nam Kỳ Khởi Nghĩa và
Lê Lợi ngày nay), việc kinh doanh rất thuận lợi Một năm sau (1947), ông mua 1000m2 mẫu đất ở đường Frères Guillerault cạnh nhà thờ Huyện Sĩ (nay là Tôn Thất Tùng – Quận I) Ông mở nước quán giải khát ngay trên đất nhà, đặt thêm chiếc bàn
“ping pong” để những ai yêu thích có thể đến đó uống nước và chơi một vài hiệp với
bạn bè, dần dà có tiếng, được nhiều người tìm đến Sau đó ông xây dựng trên phần đất của mình câu lạc bộ bóng bàn mang tên Nam Việt, cái tên “Thầy Năm bóng bàn Nam việt” cũng từ đó mà ra đời Đó là câu lạc bộ thể thao rộng lớn đầu tiên của người Việt ở đất Sài Gòn Từ đây, ông khởi đầu niềm đam mê thứ hai trong đời mình: bóng bàn Trong vai trò huấn luyện viên, ông dồn hết tâm huyết của mình cho môn
thể thao này Những thành tích mà con cháu và các danh thủ xuất thân từ lò “bóng bàn Nam Việt” đạt được thật đáng nể: Mai Văn Hòa vô địch Việt Nam năm 1952, vô địch Châu Á 1953; Trần Văn Đức vô địch Châu Á năm 1953; Trần Thị Kim Ngôn (con gái Trần Quang Nghiệp) vô địch Á châu năm 1960; Trần Quang Nhường (con trai Trần Quang Nghiệp) đoạt chức vô địch giải học sinh – sinh viên toàn miền Nam năm 1962…Cũng trong thời gian này, Trần Quang Nghiệp không sáng tác nữa Bút nghiệp của ông đã dừng lại từ đó “ Suốt thời gian tản cư rồi định cư ở Sài Gòn, tôi không th ấy cha viết truyện nữa Cái thời trẻ trung lãng mạn đã qua…Hơn nữa, người
Trang 33cũng không xem sáng tác là cái nghiệp của cả đời mình Duy chỉ một lần, vào khoảng
cu ối thập niên 60, đại lý xe máy Lambretta ở Sài Gòn tổ chức thi thơ Cha tôi đã gởi bài và đoạt giải về thơ” [54, tr 14])
Tất nhiên, ngọn lửa đam mê văn chương vẫn chưa tắt hẳn, nên cuối thập niên 50, khi được mời, ông đã hợp tác với một hãng phim viết phụ đề Việt ngữ cho nhiều phim nước ngoài
Bàn thêm về trường hợp dừng bút của Trần Quang Nghiệp Trần Quang Nghiệp sáng tác để thể hiện nỗi niềm của mình trước nhân tình thế thái trong thời
buổi rối ren, phức tạp và một khi không muốn viết nữa thì ông ngừng cầm bút “ngay
tắp lự” Điều này không chỉ với Trần Quang Nghiệp mà nhiều nhà văn Nam bộ cũng như vậy, họ không xem văn chương là nghiệp để lập thân nên không gắn bó lâu dài
Đó là điều đáng tiếc cho văn học Nam bộ đầu thế kỷ XX, thiết nghĩ, nếu còn tiếp tục sáng tác có lẽ diện mạo của một nhà văn như Trần Quang Nghiệp sẽ khác nhiều và
diện mạo văn xuôi Nam bộ đầu thế kỷ XX cũng không như thực tại!
Vào 13 giờ ngày 3/4/1983, trong lúc nằm trên đi – văng đọc sách, ông bị nhồi
máu cơ tim và ra đi rất thanh thản “Lúc ấy một tay người đặt trên ngực, một tay buông xuôi như vẫn đang cầm quyển tiểu thuyết Cả nhà cứ nghĩ là ông đang nằm đọc sách Có ai ngờ…” (Ghi theo lời kể của cô Trần Thị Ngoạn)
Cuộc đời Trần Quang Nghiệp rất độc đáo và thi vị, có thể xem ông là người
“văn võ song toàn” Hiếm có nhà văn nào cùng thời làm tốt hai việc viết văn và chơi
thể thao như Trần Quang Nghiệp Ở mảng văn chương, ông đã tạo dựng được cho mình tên tuổi nhất định Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có, ông có điều
kiện đi nhiều, tiếp xúc nhiều, biết nhiều từ đó tiếp thu được những tư tưởng mới lạ,
tiến bộ và đưa chúng vào trong sáng tác của mình Trong giai đoạn văn học quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỉ XX, Trần Quang Nghiệp được xem như một hiện tượng lạ Ở
mảng thể thao, ông là một trong những người có công gây dựng phong trào bóng bàn
thời kì đầu ở Sài Gòn Chỉ tiếc là hai việc này được ông tiến hành ở hai giai đoạn khác nhau của cuộc đời nếu không, với việc vận dụng những trải nghiệm phong phú
ở lĩnh vực thể thao vào trong sáng tác, ông đã có thể cho ra đời những tác phẩm hấp
dẫn, lôi cuốn hơn cho hậu thế
Trang 341.3.2 Sự nghiệp văn chương
Cầm bút trong thời gian ngắn - 5 năm (từ 1928 đến 1932), Trần Quang Nghiệp
đã để lại số lượng tác phẩm rất ấn tượng: 45 truyện ngắn và 6 tiểu thuyết (Xem phần
phụ lục) Tác phẩm đăng báo sớm nhất của Trần Quang Nghiệp là truyện ngắn Ai đành phụ nghĩa trên Đông Pháp thời báo số 683-684 ra ngày 16 và 18-2-1928, còn
tiểu thuyết được viết sớm nhất là Giọt lệ hồng nhan - viết 1927, đăng báo 1928 và
xuất bản thành sách 1931
1.3.2.1 Truy ện ngắn
Phần lớn được đăng ở: Công luận báo, Đông pháp thời báo, Thần Chung Số
lượng tác phẩm mà chúng tôi khảo sát là 45 truyện, trong đó:
+ 17 truy ện ngắn được TS Cao Thị Xuân Mỹ sưu tầm và in lại trong hai công
7 Lòng người khó biết ( Tên gọi
khác Con c ủa ai?)
Báo Th ần Chung – số 120
Trang 3512 Ông tơ cắt cớ Tập Hai bó giấy
+ 15 truy ện ngắn được TS Cao Thị Xuân Mỹ dành thời gian dài chép tay từ
bản vi phim của Thư viện Khoa học tổng hợp TP Hồ Chí Minh và chưa được công
bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào Được sự đồng ý của TS Cao Thị Xuân Mỹ, chúng tôi trích dẫn một số truyện ngắn của ông ở phần phụ lục tr 132
725
+ Ngoài ra trong quá trình sưu tầm tài liệu, chúng tôi đã tìm thêm được 13
truy ện ngắn khác của Trần Quang Nghiệp:
Trang 36STT Tên tác ph ẩm Ghi chú
Tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 3 tờ Công luận báo, Đông pháp thời báo, Thần Chung còn thiếu rất nhiều số Các tờ báo này vẫn còn nằm rải
rác ở Thư viện Khoa học tổng hợp Hà Nội Nếu truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp được sưu tầm đầy đủ ở cả hai thư viện trên, con số có thể vượt ngoài 50 truyện
1.3.2.2 Ti ểu thuyết
Gồm 6 tiểu thuyết:
1 L ửa tình, NXB Đức Lưu Phương, SG 1931, phỏng tác từ tiểu thuyết Les
Amants de Venise ( Đôi tình nhân thành Venies) của M Ze1vaco (1860-1918)
2 Bi ển cả thuyền con, NXB Đức Lưu Phương, SG 1931
3 Gi ọt lệ hồng nhan, NXB Đức Lưu Phương, SG 1931
truyện ngắn La morte (Người đã khuất) của Guy de Maupassant (1850-1893)
5 Cù lao thanh th ủy, Công luận báo từ số 2185 – 5/10/1931 đến số 2226 –
24/11/1931
Trang 376 Trên đường thiên lí, sách quảng cáo thuốc của nhà thuốc Thiên Hòa Đường,
1932
Trần Quang Nghiệp là một con người đặc biệt, có tâm và có tài Ông viết truyện nhanh, nhiều và hay và đã tạo dựng được một chỗ đứng nhất định trong làng văn, làng báo Nam bộ đầu thế kỉ XX Với phong cách độc đáo và lối hành văn mới
mẻ, truyện của ông thu hút rất nhiều độc giả, các nhà in nhanh chóng cho in thành sách kèm theo các mẫu quảng cáo để phổ biến rộng rãi hơn Ông trở thành nhà văn tên tuổi của văn học quốc ngữ Nam bộ với tuổi đời rất trẻ
Xã hội Nam bộ những năm đầu thế kỉ XX đã sinh ra hiện tượng Trần Quang Nghiệp Vậy Trần Quang Nghiệp đã đóng góp gì cho sự nghiệp phát triển văn học Nam bộ nói chung, quá trình hiện đại hóa truyện ngắn Nam bộ nói riêng? Vấn đề
trọng tâm này sẽ được triển khai đầy đủ ở chương II và II
Trang 38CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN NGẮN
TRẦN QUANG NGHIỆP
2.1 Phơi bày những mặt trái của xã hội Nam bộ đầu thế kỉ XX
Trong xã hội mới, nửa thực dân nửa phong kiến, đồng tiền càng có sức mạnh
và quyền lực nhất định Nó mang đến hạnh phúc cho con người nếu con người tạo ra
nó từ sự chính nghĩa, nhưng nó cũng có thể làm sa ngã hoặc huỷ hoại một nhân cách khi ai đó tôn sùng nó hơn tất cả mọi điều khác trong cuộc đời Cái giá phải trả cho sự
mù quáng trước quyền lực của đồng tiền là đánh mất bản thân, tình thân, tình yêu Đó
là những thứ mà đồng tiền không bao giờ có thể mua lại được Sự lên ngôi của đồng
tiền trong các mối quan hệ gia đình, đồng loại đã làm tha hóa, biến chất của đủ mọi
hạng người, đủ mọi tầng lớp trong xã hội và được Trần Quang Nghiệp phản ánh một cách sinh động, chân thực trong những truyện ngắn của mình
2.1.1 Sự băng hoại đạo đức gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Từ bao đời nay, gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc, nơi ươm mầm và gắn kết những giá trị văn hóa tinh
thần của dân tộc Thế nhưng, trước những đổi thay nhanh chóng của thời đại, những
biến chuyển của xã hội, các giềng mối thiêng liêng nhất trong tình cảm gia đình giờ không còn nguyên vẹn như xưa nữa
2.1.1.1 Trong đạo nghĩa Vợ - Chồng
Cổ nhân có câu “phu thê nghĩa trọng tình thâm” nhằm đề cao đạo nghĩa vợ
chồng; no ấm, giàu sang thì cùng hưởng thụ; khó khăn, bệnh tật, cơ hàn thì cùng gánh vác, sẻ chia Thế nhưng, không ít người khi có chút ít tiền của trong tay nên dễ dàng thay đổi tâm tính, đánh mất bản thân và các giá trị sống tốt đẹp khác Họ se sua, học đòi ăn chơi mà quên đi nghĩa vụ, bổn phận đối với gia đình
Thầy ba Long (Nông nổi vì đâu?) làm việc ở một hãng buôn lương khá cao
Viện cớ mở rộng đường giao thiệp với mấy vị thương gia ở Sài Gòn, lục tỉnh, thầy nói dối vợ con là đi tập đánh tennis, bi-da Sáng sớm Thầy đi làm, chiều đánh tennis,
Trang 39tối đánh bi-da Hôm nào bạn bè rủ rê đánh chén Thầy đi khuya lắc khuya lơ mới về,
bỏ mặc vợ con đợi chờ mỏi mòn Mà nào có phải siêng năng luyện tập thể dục thể thao gì cho cam, chẳng qua là Thầy viện cớ để đi đánh bài, hóng mát, tắm suối nước nóng… với nhân tình Vì thói trăng hoa, Thầy lừa dối vợ con bằng lí lẽ khó chấp
nhận:
“Cô nói n ếu tốn kém như vậy còn chơi làm chi, thầy trả lời cũng hay, làm cho cô không r ầy được Thầy nói thầy ốm yếu nhờ thể thao mới ăn được ngủ được, thân thể tráng cường làm việc mới nổi, tuy tốn hai ba chục mà lợi được gần hai trăm nếu cô
s ợ tốn mà không cho thầy chơi thì thầy ăn không vô, ngủ không thẳng giấc, ốm o gầy mòn làm sao làm vi ệc cho nổi mà nuôi cô Hễ ốm o gầy mòn thì có khi cũng chết; hay
là cô mu ốn thầy chết đặng cô lấy chồng khác… Buổi chiều thầy đánh tennis buổi tối
ở không, thầy nói buồn, thầy đi đánh bi-da Thầy với cô rằng đánh bi-da vui lắm,
th ầy đánh mau giỏi, thầy ham lắm, cho nên bữa nào cũng đi khuya lơ khuya lắc mới
v ề” [89]
Không chỉ có thầy Ba Long, chàng Tống Ngọc (Tủi phận thuyền quyên) cũng
không kém cạnh gì Cưới vợ được ba năm, Tống Ngọc bắt đầu trở mặt Lấy lí do đi
dự tiệc này tiệc nọ, mấy ngày đầu Tống Ngọc còn về nhà, dần dần đi cả đêm không
về Khuyên nhủ mấy Tống Ngọc cũng không nghe còn hắt hủi vợ con ra mặt Bao nhiêu tiền của làm được, Tống Ngọc tiêu xài hoang phí, cung phụng cho nhân tình,
bỏ mặc vợ con đói khổ phải đi vay đi mượn người khác Tệ bạc hơn, hắn còn dắt nhân tình về nhà, âu yếm ngay trước mặt vợ mình Khi đã hết tình cạn nghĩa, Tống
Ngọc thú thật là mình không còn yêu vợ nữa và cho phép cô đi lấy chồng khác Sau
đó, hắn dọn đồ về ở hẳn với vợ bé, để ngườ vợ gầy yếu một mình, tay ẳm con, tay xách vali bắt xe đò về Đà lạt xin tá túc nhà cha mẹ ruột
Thầy ba Long và Tống Ngọc đều có điểm giống nhau Lúc đầu, họ đều là người nghiêm chỉnh, mực thước, yêu vợ thương con vô cùng Từ khi đi làm, nhu cầu công việc phải và được tiếp xúc với nhiều điều mới lạ, trong túi có tiền, cả hai mới
bắt đầu thay đổi tâm tính, tệ bạc với vợ con và trở thành kẻ ăn chơi trác táng Cả hai đều là những con người thiếu ý chí, bản lĩnh khi đứng trước sự cám dỗ của tiền tài, địa vị và danh vọng
Trang 40Tủi phận thuyền quyên làm người đọc nghĩ ngay tới truyện Ôi ái tình của Công bình được đăng trên Công luận báo số 501 ra ngày 2-5-1922 Ôi ái tình kể về Thầy
V.D, vốn là Thầy giáo dạy giỏi ở trường làng, vì chán cuộc sống nghèo khổ nên cùng
vợ con lên thị thành lập nghiệp Khi đã có chút ít tiền của trong tay, thầy V.D bỏ vợ con chạy theo ả gái điếm Về sau khi vợ đau buồn mà tự tử, thầy V.D cũng hóa điên
mà chết theo vợ
Từ đó cho thấy trong xã hội đang “đô thị hóa” ấy có khối kẻ đam mê của lạ,
sẵn sàng chà đạp lên ân tình đạo nghĩa để thõa mãn dục vọng Nguyên nhân chính vì người đàn ông vẫn chưa kịp thoát khỏi ảnh hưởng của tình trạng năm thê bảy thiếp
của chế độ phong kiến Với họ, một gia đình êm ấm, hạnh phúc thôi không chưa đủ
Họ muốn hưởng cho trọn mọi lạc thú trần gian Có người vì thấy bạn bè ai cũng thế nên học đòi cho khỏi cái tiếng là cù lần; có người mới có ít tiền trong tay đã vung ra
ăn chơi cho bằng bạn, bằng bè; có người vì tâm lí hưởng lạc mà ra sức lập phòng nhì, phòng ba… Thầy ba Long, Tống Ngọc, thầy V.D là số ít trong trăm ngàn những đức ông chồng đang đang đứng trước những thay đổi nghiệt ngã của xã hội buổi giao thời
đó
Không chỉ có người chồng, cả người vợ - vốn được xem là biểu tượng của sự
tận tụy, chung thủy - cũng thay đổi Trong xã hội mới, chồng đi làm, vợ ở nhà chăm
lo việc bếp núc và nuôi dạy con cái Cổ nhân có câu: “nhàn cư vi bất thiện”, những người vợ ở nhà được chồng đi làm về đưa nhiều tiền bắt đầu se sua ăn diện, đi đây đi
đó tiếp xúc với nhiều người nên thay lòng đổi dạ Điển hình là người vợ (Lòng người khó bi ết) “cắm sừng” chồng ngay trong nhà mình Trong khi chồng đi làm đi làm, cô
vợ ở nhà tằng tịu với anh Chà (ở đậu trong nhà) và có mang Ngày sinh gần kề, cha
mẹ chồng già yếu lặn lội từ quê xa lên chăm sóc, cô im lặng không nói gì Chồng
chạy tới chạy lui lo lắng từng miếng ăn giấc ngủ, cô vợ thản nhiên chấp nhận xem đó
là nghĩa vụ của chồng Khi “nghe trong phòng con nít khóc tu oa, thầy mừng quá dắc cha mẹ vào mừng cháu Ba người bước vô chưng hửng đứng sựng lại mà có mình
th ầy mặt mày ngơ ngác hơn hết đoạn thầy Hai Minh mỡ miệng nói nhỏ: Không phải con tôi mà! Ch ị vợ day qua nhìn con rồi lại day lại nhìn chồng mà nói: Vậy chớ ai nói là con mình bao gi ờ đâu?” [53, tr.131] Câu nói tỉnh rụi của chị vợ bất giác làm