Chúng không chỉ truyền dẫn thông tin dưới dạng văn bản mà còn các ứng dụng đa truyền thông khác như hình ảnh, âm thanh, video, các hiệu ứng,…Hơn thế nữa, E-Book lại rất gọn nhẹ, khả năng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, đầu tiên, em xin gởi đến cô Thái Hoài Minh lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất Cô đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài Em cũng xin cảm ơn quý thầy cô trong tổ Phương pháp giảng dạy và toàn bộ các thầy cô, nhân viên trong khoa Hóa trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã cung cấp kiến thức cho em trong suốt bốn năm học
Em xin gởi lời cảm ơn đến cô Lê Như Nguyệt – giáo viên trường THPT Nguyễn Thị Định (quận 8), thầy Lê Minh Xuân Nhị - giáo viên trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (quận 3), quý thầy cô tổ Hóa trường THPT Ngô Quyền (quận 7), quý thầy cô tổ Hóa trường THPT Thủ Đức (quận Thủ Đức) tại thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ em trong quá trình điều tra, khảo sát
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên khoa Hóa học, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hợp tác với em trong quá trình thực nghiệm Cảm ơn anh Phạm Hoàng Huy đã giúp đỡ và truyền đạt kinh nghiệm cho em, các bạn Nguyễn Thị Kim Thoa, Lợi Minh Trang, anh Nguyễn Ngọc Trung đã đồng hành và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, em xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã ủng hộ, động viên, chia sẻ cùng em để em hoàn thành được khóa luận như ngày hôm nay
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012
Lê Thành Vĩnh
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH 7
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11
1.2 Tự học 13
1.2.1 Khái niệm tự học 13
1.2.2 Vị trí, vai trò của tự học 15
1.2.3 Các hình thức tự học 17
1.2.4 Chu trình tự học 17
1.2.5 Nội dung của quá trình tự học 19
1.2.6 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học 21
1.2.7 Đặc điểm tự học của SV ở các trường đại học 22
1.3 Sách điện tử (E-Book) 23
1.3.1 E-Book là gì? 23
1.3.2 Ưu điểm và hạn chế của của E-Book 24
1.4 Giới thiệu một số phần mềm mã nguồn mở để thiết kế E-Book 25
1.4.1 Phần mềm mã nguồn mở là gì? 25
1.4.2 Tiêu chí để chọn phần mềm mã nguồn mở để thiết kế E-Book 26
1.4.3 Một số phần mềm dùng để thiết kế E-Book 27
1.5 Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 30
1.5.1 Vai trò của CNTT trong dạy học hóa học 30
1.5.2 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 32
1.6 Kết quả điều tra về nhu cầu sử dụng E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 36
1.6.1 Đối với SV 36
1.6.2 Đối với GV 38
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG E-BOOK “CÁC PHẦN MỀM TIỆN ÍCH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG” 40
2.1 Giới thiệu về hệ thống các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông đã đề cập trong E-Book 40
2.1.1 Phần mềm vẽ công thức hóa học: ChemSketch 40
2.1.2 Phần mềm thiết kế mô phỏng thí nghiệm 41
2.1.3 Phần mềm soạn bài giảng điện tử: Microsoft PowerPoint 44
2.1.4 Phần mềm trộn câu hỏi trắc nghiệm: McMix 45
2.2 Nguyên tắc thiết kế E-Book “các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 47
2.2.1 Giao diện thân thiện, chặt chẽ, dễ sử dụng 47
2.2.2 Từ ngữ sử dụng phải nhất quán, dễ hiểu 48
2.2.3 Khả năng liên kết 48
Trang 42.2.6 Kiểm tra kỹ từng phần trước khi tiếp tục 49
2.3 Quy trình thiết kế E-Book 50
2.3.1 Phân tích 50
2.3.2 Xây dựng nội dung 50
2.3.3 Thiết kế và xây dựng hình thức cho E-Book 51
2.3.4 Thử nghiệm sản phẩm 51
2.3.5 Thiết kế bìa CD rồi in sao hàng loạt 51
2.3.6 Khảo sát trên diện rộng 51
2.3.7 Đánh giá và hoàn thiện 51
2.4 Sử dụng phần mềm CourseLab 2.4 để thiết kế E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 52
2.4.1 Trang chủ 53
2.4.2 Trang “Vẽ công thức hóa học” 60
2.4.3 Trang “Mô phỏng thí nghiệm” 66
2.4.4 Trang “Bài giảng điện tử” 72
2.4.5 Trang “Trộn câu hỏi trắc nghiệm” 75
2.5 Giới thiệu E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 76
2.5.1 Phần mềm ChemSketch 77
2.5.2 Phần mềm Crocodile Chemistry 79
2.5.3 Phần mềm Microsoft PowerPoint 83
2.5.4 Bài giảng điện tử 86
2.5.5 Phần mềm McMix 88
2.6 Một số hướng sử dụng E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 89
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 91
3.1 Mục đích thực nghiệm 91
3.2 Đối tượng thực nghiệm 91
3.3 Tiến hành thực nghiệm 91
3.4 Kết quả thực nghiệm 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 104
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về sự cần thiết của các phần mềm trong E-Book 93 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về chất lượng phim hướng dẫn trong E-Book 94 Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về mức độ thành thạo khi sử dụng các phần mềm của SV trước khi sử dụng E-Book 95 Bảng 3.4 Kết quả khảo sát về mức độ thành thạo khi sử dụng các phần mềm của SV sau khi dùng E-Book 96 Bảng 3.5 Kết quả khảo sát số tỉ lệ số SV biết sử dụng các phần mềm trước và sau khi dùng E-Book 96
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các giai đoạn của quá trình tự học 18
Hình 1.2 Giao diện phần mềm BB FlashBack Player 28
Hình 1.3 Giao diện phần mềm CourseLab 2.4 29
Hình 2.1 Giao diện phần mềm ChemSketch 40
Hình 2.2 Giao diện phần mềm Crocodile Chemistry 42
Hình 2.3 Mô phỏng thí nghiệm được tạo bởi Microsoft PowerPoint 43
Hình 2.4 Một trang bài giảng được soạn bởi Microsoft PowerPoint 44
Hình 2.5 Giao diện phần mềm McMix 46
Hình 2.6 Sơ đồ cấu trúc E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 53
Hình 2.7 Trang chủ E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” 54
Hình 2.8 Trang chủ E-Book sau khi kích hoạt một biểu tượng 55
Hình 2.9 Thiết kế slide master trong CourseLad 2.4 56
Hình 2.10 Chèn hình ảnh từ một tập tin trong máy tính vào CourseLab 57
Hình 2.11 Chức năng Actions dùng để tạo mã lệnh hiệu ứng cho một đối tượng 58
Hình 2.12 Giao diện chính của trang phần mềm ChemSketch 61
Hình 2.13 Giới thiệu các công cụ của phần mềm ChemSketch 61
Hình 2.14 Giao diện của trang hướng dẫn một số thao tác cơ bản trong ChemSketch 62 Hình 2.15 Chèn đoạn phim ngắn từ một tập tin có sẵn vào CourseLab 63
Hình 2.16 Giao diện chính trang “Mô phỏng thí nghiệm” 66
Hình 2.17 Giao diện chính trang phần mềm Crocodile Chemistry 67
Hình 2.18 Giao diện trang hướng dẫn các thao tác cơ bản trong Crocodile Chemistry 68
Hình 2.19 Slide giới thiệu một số mô phỏng tham khảo 69
Hình 2.20 Chèn “thư viện hóa chất và dụng cụ” vào Courselab 71
Hình 2.21 Giao diện trang nhóm các thao tác làm việc với hóa chất 72 Hình 2.22 Giao diện chính của trang “Bài giảng điện tử”
Trang 8Hình 2.23 Giao diện trang liệt kê các thao tác cần thiết khi soạn bài giảng điện tử bằng
PowerPoint 74
Hình 2.24 Giao diện chính trang “Trộn câu hỏi trắc nghiệm” 75
Hình 2.25 Sơ đồ nội dung phần mềm ChemSketch 77
Hình 2.26 Phim giới thiệu các công cụ trong phần mềm ChemSketch 78
Hình 2.27 Phim hướng dẫn vẽ vòng bixiclo 79
Hình 2.28 Sơ đồ nội dung phần mềm Crocodile Chemistry 80
Hình 2.29 Phim giới thiệu phần mềm Crocodile Chemistry 81
Hình 2.30 Hướng dẫn sử dụng đồ thị trong Crocodile Chemistry 83
Hình 2.31 Sự lai hóa được mô phỏng bằng PowerPoint 84
Hình 2.32 Sơ đồ nội dung phần mềm Microsoft PowerPoint 85
Hình 2.33 Sơ đồ nội dung trang “Bài giảng điện tử” 86
Hình 2.34 Phim hướng dẫn thiết kế ô chữ trong Microsoft PowerPoint 87
Hình 2.35 Sơ đồ nội dung phần mềm McMix 88
Hình 2.36 Đề thi được chuẩn bị từ Word 88
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn tỉ lệ số SV biết sử dụng các phần mềm sau khi dùng E-Book……… ………95
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin (CNTT), mạng lưới Internet đã được phủ khắp thế giới phục vụ cho các nhu cầu đa dạng của con người, giáo dục cũng được phát triển lên một tầm cao mới Học tập trực tuyến (E-learning) và học tập bằng sách điện tử (E-Book) đang dần khẳng định vị trí của mình trong nền giáo dục So với sách
in, E-Book thể hiện ưu thế vượt trội hơn hẳn Chúng không chỉ truyền dẫn thông tin dưới dạng văn bản mà còn các ứng dụng đa truyền thông khác như hình ảnh, âm thanh, video, các hiệu ứng,…Hơn thế nữa, E-Book lại rất gọn nhẹ, khả năng lưu trữ thông tin
đồ sộ, tiết kiệm các nguồn nguyên liệu phục vụ cho in ấn do có khả năng tái sử dụng cao và tạo được những tương tác với giữa người học và máy tính… Nên trong thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay, E-Book đã trở thành công cụ tiện ích quan trọng cho việc học tập của mỗi người
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng dụng trong mọi lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và đời sống Hóa học là một môn học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm nên các phương tiện trực quan như thí nghiệm hóa học, hình ảnh,… là không thể thiếu được Tuy nhiên, do khó khăn nhiều mặt nên những bài giảng hóa học đa phần chỉ nặng nề kiến thức lí thuyết Điều đó làm học sinh (HS) cảm thấy nhàm chán Những nhược điểm đó có thể được khắc phục đáng kể bằng cách ứng dụng CNTT thông qua việc sử dụng các phần mềm trong quá trình dạy học Tuy nhiên, những tài liệu hướng dẫn đa phần là tiếng Anh, nếu có tiếng Việt thì cũng hướng dẫn đơn giản, khái quát nên đòi hỏi người sử dụng tốn nhiều thời gian để nghiên cứu Ở trường đại học – cao đẳng sinh viên (SV) được học cách sử dụng một số phần mềm tuy nhiên thời gian có hạn nên việc có một E-Book hướng dẫn sử dụng các phần mềm là cần thiết
Đó chính là những lí do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “THIẾT KẾ EBOOK –
CÁC PHẦN MỀM TIỆN ÍCH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG”
2 Mục đích nghiên cứu
hiết kế E-Book hướng dẫn sử dụng một phần mềm hóa học hỗ trợ quá trình
Trang 103 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan về một số phần mềm hóa học trong và ngoài nước
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của các phần mềm
- Nghiên cứu về nội dung E-Book, phương pháp thiết kế E-Book
- Thiết kế E-Book
- Khảo sát để đánh giá kết quả của đề tài nghiên cứu
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học hóa học ở
trường phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế E-Book hướng dẫn sử dụng các phần mềm
hóa học phục vụ cho dạy học hóa học ở trường phổ thông
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Xây dựng E-Book hướng dẫn sử dụng một số phần mềm: Chemsketch, Microsoft PowerPoint, Crocodile Chemistry, McMix
6 Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng E-Book đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, thân thiện, trực quan,
sẽ góp phần nâng cao kĩ năng ứng dụng các phần mềm vào quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông cho SV sư phạm hóa học, từ đó khuyến khích việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng dạy học hóa học
7 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phân tích, tổng hợp
- Sử dụng máy tính và các phần mềm tin học để thiết kế E-Book
- Điều tra thực trạng
- Đưa vào sử dụng thử và khảo sát trên số lượng lớn SV
- Tổng hợp xử lý kết quả điều tra, khảo sát theo phương pháp thống kê toán
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp những thành tựu CNTT đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ở hầu hết các ngành học, cấp học Hóa học là một môn học đặc thù đòi hỏi người dạy phải tổ chức một bài giảng thật sinh động, trực quan Chính vì vậy việc ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học là một việc rất cần thiết Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng thành thạo các phần mềm tiện ích phục vụ quá trình giảng dạy ở trường phổ thông Để sử dụng thành thạo, đòi hỏi người dạy không ngừng tìm kiếm, học tập và thực hành Ngày nay,
có khá nhiều lựa chọn cho những người có nhu cầu tìm kiếm tài liệu để học tập như sách, Internet, trung tâm tin học… Nhưng, hiếm có một cuốn sách nào tổng hợp các phần mềm cơ bản cũng như những công cụ cơ bản của một phần mềm hướng vào phục
vụ dạy học hóa học Mặt khác, CNTT & TT (E-learning) với tư cách là một phương
tiện hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy và học Xét về mặt sản phẩm, E-Book phục vụ cho việc học tập hiện nay có các hình thức:
- E-Book với định dạng DOC (Document): Đây là định dạng được tạo ra bởi phần mềm Microsoft Word (nằm trong bộ Microsoft Office của Microsoft), là định dạng đơn giản nhất để lưu trữ một E-Book Định dạng này có thể lưu trữ được chữ, hình ảnh, biểu bảng, đồ thị,… Định dạng DOC có thể được mở và xem bằng Microsoft Word hoặc ứng dụng Writer trong OpenOffice, Kingsoft Office và một số ứng dụng miễn phí, mã nguồn mở với những tính năng không thua kém gì sản phẩm của Microsoft Ngoài ra, cũng có thể dùng các ứng dụng văn phòng trực tuyến như Google Docs, ThinkFree Office, Zoho Office,…
- E-Book với định dạng PDF (Portable Document Format): Một định dạng quen thuộc khác do hãng Adobe Systems Inc dùng ngôn ngữ mô tả máy in PostScript Tập tin PDF có thể được tạo ra nhờ phần mềm Adobe Acrobat và được đọc bởi Acrobat Reader Giống như định dạng DOC, chúng ta cũng có lựa
Trang 12nhanh Ngoài ra còn một số chương trình khác như Inkscape (có phiên bản cho Windows, Mac và Linux), Skim, Apple Preview (dành cho Mac), KPDF, Okular (dành cho Linux),…
- E-Book định dạng PRC (Mobipocket E-Book File) Định dạng E-Book phổ biến và chuyên dụng do E-Book định dạng PRC có thể được đọc trên máy tính
cá nhân và cả điện thoại di động Trên máy tính, E-Book định dạng PRC có thể được đọc bằng Mobilepocket Reader hay FBReader
Điểm giống nhau của các định dạng E-Book trên là tính năng và khả năng tương tác thấp, chúng không khác gì sách in bình thường
- E-Book định dạng HTML (CHM, Compiled HTML Help File) Giống như tên gọi, đây vốn là định dạng để lưu trữ những tài liệu trợ giúp dưới dạng HTML (Hyper Text Markup Language – Ngôn ngữ hiển thị siêu văn bản) được biên soạn và nén lại trong một tập tin duy nhất Một số E-Book HTML có thể được
mở bằng chính trình duyệt Web, một số khác thì phải sử dụng ứng dụng đọc CHM để mở Đây cũng là một trong những định dạng phổ biến nhất của E-Book hiện nay với các tính năng hơn hẳn các định dạng được đề cập ở trên như lưu trữ, cập nhật và sắp xếp tài liệu tốt, dễ truy cập thông tin Tuy nhiên, hầu hết các E-Book hiện nay khá hạn chế về số lượng và chất lượng
- Các Website hỗ trợ tự học hoặc cung cấp một số bài học trực tuyến: Đây là dạng E-learning mang lại hiệu quả to lớn cho người học nên đã phát triển rất nhanh và mạnh trong thời gian qua Được thiết kế dựa trên giao diện HTML do đội ngũ GV, kỹ thuật viên tin học thành viên của website xây dựng và quản lý Tất cả các bài giảng đều hoàn chỉnh, với đầy đủ những thông tin cần thiết, khả năng tương tác cao nhằm đáp ứng cho nhu cầu đa dạng của người học, cho phép học viên tự lựa chọn tốc độ học phù hợp với mình hoặc nhanh chóng học các môn mà họ ưa thích không hạn chế về số lượng, thời gian và khoảng cách Ngoài ra, người học còn có thể tham gia học với cộng đồng mạng và các buổi thảo luận trực tuyến giúp bạn có được những kinh nghiệm học tập toàn diện song song với những kinh nghiệm của phương pháp học truyền thống Công nghệ này cũng giúp tiết kiệm chi phí và tăng tính hiệu quả Tuy nhiên, cách học
Trang 13tập trực tuyến này cũng có một số nhược điểm riêng Trong quá trình học đòi hỏi đường dẫn Internet phải thông suốt và tốc độ truy cập các bài học cần ở mức độ tương đối Nếu có quá nhiều người truy cập vào cùng một thời điểm sẽ gây ra hiện tượng nghẽn mạch cục bộ làm tốc độ truy cập thông tin trở nên vô cùng chậm, gây cảm giác phiền hà và chán nản cho người dùng
Một dạng đặc biệt của loại E-learning này là những E-Book chứa nội dung lý thuyết và bài tập hỗ trợ tự học, có giao diện đẹp và hấp dẫn như một website nhờ thiết
kế dựa trên kỹ thuật đồ hoạ Về nội dung, E-Book không chỉ là những trang chữ mà còn được tích hợp thêm nhiều tiện ích khác như các đoạn phim thí nghiệm, các phần mềm hoá học, các phần mềm thư giãn…Và người sử dụng có khả năng thao tác với các chức năng được định sẵn trong E-Book Thông thường, loại E-Book này được ghi lên 1 đĩa CD–ROM hoặc được tải lên Internet và người học tiến hành cài đặt, sử dụng bất cứ lúc nào với máy tính cá nhân, không đòi hỏi máy phải kết nối Internet
Với những ưu thế kể trên thì loại E-Book này thích hợp để xây dựng một cẩm nang hướng dẫn sử dụng các phần mềm hóa học.Tuy nhiên trên thực tế, người ta chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng các phần mềm chuyên dụng thiết kế những E-Book dạng này cho nội dụng chương trình phổ thông, nhằm mục đích giúp cho HS tự học.Các hướng dẫn sử dụng phần mềm tiện ích phục vụ dạy học hóa học hầu như chưa được tổng hợp lại trong một E-Book Việc hướng dẫn này chỉ dừng lại hướng dẫn cụ thể từng phần mềm trên sách hoặc trên mạng Internet
1.2 Tự học
1.2.1 Khái niệm tự học
Cách chúng ta hơn 2500 năm, Heraclitus – nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại đã
khẳng định: “Giáo dục, dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu người học như người ta rót chất lỏng vào chai, thông qua cái phễu Thực chất giáo dục là thắp lên ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy một con đường, rồi tự mình bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy” Như vậy, từ ngàn xưa, việc tự học đã được coi trọng và chỉ ra như một phương
pháp giúp chúng ta tiếp thu kiến thức một cách chủ động, hiệu quả
Trang 14Tự học, theo nghĩa đơn giản, ta có thể hiểu là tự tìm tòi học hỏi, tức là bạn tự đi tìm kiếm tài liệu, tự đọc, tự tìm hiểu đến khi hiểu mà không cần sự giúp đỡ của thầy cô hay bất kỳ áp lực, sức ép từ một phía nào đó
Nhắc đến tự học, chúng ta không thể nào không nhắc đến Hồ Chí Minh, Người
luôn là một tấm gương sáng về vấn đề này Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình Như vậy, tự học không chỉ đòi hỏi con người phải có tinh thần
tự giác, sự ham hiểu biết mà còn cần phải biết tự mình lên kế hoạch học tập
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học, GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết [21]: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về khái
niệm tự học [12]: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng [18]: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 [10]:“Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành
Trang 15không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục và đào tạo.”
Tóm lại, chúng ta có thể tổng hợp các quan điểm thành một khái niệm chung về
tự học như sau: “Tự học là quá trình con người sử dụng toàn bộ năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, đánh giá, phân tích, tổng hợp…), thể chất, tâm hồn, phẩm chất nhân cách như động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó, có
ý chí, kiên trì, nhẫn nại, sự ham hiểu biết, lòng say mê khoa học…) để tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu những tài liệu, những thông tin để biến những tri thức của nhân loại thành tri thức của riêng mình, để tự phát triển trình độ, khả năng hiểu biết của bản thân.” Bản chất của tự học là biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo Để thực hiện nó, người học cần tìm kiếm sách, tài liệu có liên quan, lập kế hoạch và quyết tâm đạt được mục tiêu
đề ra
Tự học có những đặc điểm sau:
- Tự học có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân
- Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học
- Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Bởi vì SV đại học không phải là những HS cấp bốn Họ cần có thói quen nghiên cứu khoa học, mà
để có được thói quen ấy thì không thể không thông qua con đường tự học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giải
Trang 16- Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
- Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời
Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Ngoài ra, tự học còn giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao thành tích, hoạt động trí tuệ cho SV trong việc hiểu và tiếp thu tri thức mới Tự học với việc nỗ lực, tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lý Trong quá trình tự học, SV sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho SV
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực to lớn cho người học Tự học không chỉ cung cấp cho HS những kiến thức mới, bổ ích mà còn giúp rất nhiều trong công việc sau này khi họ trở thành những người chủ thật sự góp phần xây dựng đất nước
Trang 171.2.3 Các hình thức tự học
Trong quá trình tự học ở THPT, HS có thể hình thành hoạt động tự học dưới nhiều hình thức khác nhau, trong những điều kiện khác nhau Theo PGS TS Trịnh Văn Biều [4], có ba hình thức tự học:
1.2.3.1 Tự học có hướng dẫn trực tiếp
Tự học có hướng dẫn trực tiếp là hoạt động tự học của HS diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV Người học có tài liệu và gặp trực tiếp GV để trao đổi bằng lời nói, chữ viết, cử chỉ… Như vậy, thầy (cô) là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức đạo diễn để trò phát huy những phẩm chất và năng lực của mình như: khả năng chú ý, óc phân tích, năng lực khái quát hóa,…tự tìm ra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Đây là mức độ tự học đơn giản nhất
1.2.3.2 Tự học có hướng dẫn
GV không gặp trực tiếp người học mà hướng dẫn gián tiếp thông qua tài liệu, các phương tiện truyền thông… Người học chỉ được hướng dẫn tư duy, tự phê bình trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Khi tự học bằng hình thức này, người học phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều kiện vật chất để có thể tự ôn tập, củng cố tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của GV hoặc quy định trong chương trình đào tạo của nhà trường Đó là việc
tự học của SV, thực tập sinh, nghiên cứu sinh,… Trong hình thức này, vai trò của khả năng tự học, chủ động của người học là nhân tố quyết định, được nhấn mạnh và đề cao
1.2.3.3 Tự học không có hướng dẫn
Là hoạt động tự học của HS diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở trường không có sự điều khiển của GV Người học tự đọc tài liệu, tự suy nghĩ rút ra kinh nghiệm Ở hình thức này đòi hỏi cao về mặt ham hiểu biết, tích cực, tự giác trong việc chủ động chiếm lấy tri thức của người học
1.2.4 Chu trình tự học
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [18], chu trình học biểu hiện theo 3 giai đoạn:
Trang 18Hình 1.1 Các giai đoạn của quá trình tự học
- Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả,…từ đó chủ
thể có nhu cầu, hứng thú để tìm hiểu Đây là giai đoạn phát hiện vấn đề Định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân Sản phẩm của giai đoạn này mang tính chủ quan, phiến diện, có thể thông tin bị lệch lạc, bị nhiễu Nó sẽ được hoàn thiện ở thời học tiếp theo
- Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Sản phẩm học của giai đoạn (I) mà chủ thế đạt được
bây giờ được thử thách bởi các yêu cầu tự trình bày, trả lời và tranh luận với các bạn
về những mâu thuẫn xuất hiện khi tranh luận Việc này giúp làm sáng tỏ vấn đề, giúp chủ thể chỉnh sửa sản phẩm ban đầu một cách khách quan hơn, hoàn thiện hơn
- Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp
tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học Chủ thể sẽ rút ra kinh nghiệm về cách học, cách tư duy để giải quyết vấn đề Từ đó, chủ thể sẽ tiến bộ một bước trong học tập và sẵn sàng bước vào tình huống học tập mới
Chu trình học là một chu trình liên tục, diễn ra theo hình xoắn ốc mà ở đó điểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác Sau mỗi chu trình kiến thức của người học lại được nâng lên một tầm mới
Tự nghiên cứu (1)
Tự thể hiện (2)
Tự kiểm tra, điều
chỉnh (3)
Trang 191.2.5 Nội dung của quá trình tự học
Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho SV tự học như thế nào để
có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của SV thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho SV
Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học có những điểm chung, thống nhất về cách thức cũng như phương pháp Đó là những vấn đề được xác định như sau:
1.2.5.1 Xây dựng động cơ học tập
Thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là những điểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực lực vì động
cơ học tập lệch lạc Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể khuôn tách thành hai nhóm cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động và chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học Cả hai động
cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong
Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô cùng mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghị lực đủ để chiến thắng chính bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời
Trang 20niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế
hệ trẻ Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác nhau Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ sở những điều kiện tốt từ bên ngoài
1.2.5.2 Xây dựng kế hoạch học tập
Muốn cho việc học đạt được hiệu quả thì việc đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ và lập một kế hoạch cụ thể rõ ràng là một việc làm cần thiết Kế hoạch học tập phải đảm bảo tính hướng đích, từng phần phải rõ ràng và nhất quán Và hơn hết, phải tìm được cái trọng tâm, cái cốt lõi của vấn đề để dành nhiều thời gian, công sức cho nó Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi
1.2.5.3 Tự mình nắm vững nội dung kiến thức
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bề vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động:
• Tiếp cận thông tin: thông tin xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau và từ những
hoạt động trong quá trình nghiên cứu , tự học như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra…Tuy nhiên, cần phải biết chọn lọc thông tin bởi vì không phải thông tin nào cũng chính xác và phục vụ cho vấn đề mình cần tập trung Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn SV rời xa sách và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì nó thỏa mãn trí tò mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững vàng thì giới trẻ sẽ rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách, tâm hồn Đọc sách là phương pháp tự học
rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình
Trang 21tự học Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học
• Xử lí thông tin: Sau khi tiếp cận, chọn lọc thông tin, người học phải biết xử lý
nó thông qua phân tích, đánh giá, tóm lược tổng hợp, so sánh… Đây là một trong những công việc biến tri thức của nhân loại thành tri thức của bản thân Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được
• Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học
để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học… Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết
• Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri
thức hay diễn ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt
1.2.5.4 Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Có nhiều hình thức để kiểm tra, đánh giá kết quả: sử dụng thang đo của GV, bản thân tự đánh giá, thông qua đánh giá của tập thể… Tất cả đều mang ý nghĩa tích cực Từ đó, người học đánh giá được năng lực bản thân, cái gì làm được chưa làm được để khắc phục và phát huy
1.2.6 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học
1.2.6.1 Đảm bảo tính tự giáo dục
Song song với việc tự chiếm lĩnh lấy tri thức, người học cần phải tự hoàn thiện nhân cách Những nhân cách này không chỉ giúp con người trở nên tốt đẹp mà còn phục vụ rất nhiều trong quá trình tự học, đặc biệt là những phẩm chất như: sự tự giác,
Trang 221.2.6.2 Đảm bảo tính khoa học
Bản chất việc tự học là một quá trình lao động khoa học Từ những công việc như phát hiện vấn đề, lập kế hoạch hay tiếp nhận thông tin… đều phải tuân thủ những nguyên tắc khoa học Như vậy , việc học tập mới đảm bảo tính chính xác, kết quả tự học mới thành công
1.2.6.3 Đảm bảo học đi đôi với hành
Tự học không chỉ để củng cố, mở rộng kiến thức mà quan trọng hơn là việc ứng dụng kiến thức đó vào cuộc sống Từ những kinh nghiệm khi thực hành những kiến thức sẽ mở rộng, bổ sung những điều mới mẻ cho kiến thức chỉ học được trên sách vở
1.2.6.4 Nâng cao dần đến mức độ tự giác, tích cực trong quá trình tự học
Như đã nói ở trên, sự tự giác, chủ động trong quá trình tự học đóng một vai trò quan trọng Vì vậy, nguyên tắc này đảm bảo kết quả học tập của SV Kế hoạch có được thực hiện thường xuyên không là do yếu tố này quyết định
1.2.6.5 Đảm bảo nâng cao dần và cũng cố kỹ năng, kỹ xảo
Quá trình tự học không chỉ đơn giản là việc tự tiếp thu lấy tri thức mà nó còn là một quá trình hoạt động thực tiễn, tổng hợp những kỹ năng, kỹ xảo
Năm nguyên tác trên đây có một mối quan hệ gắn bó với nhau Nguyên tắc này
bổ sung và hỗ trợ nguyên tắc khác Chính vì vậy, muốn đạt hiệu quả trong hoạt động
tự học, SV phải biết áp dụng khéo léo đầy đủ cả năm nguyên tắc
1.2.7 Đặc điểm tự học của SV ở các trường đại học
Việc tự học của một SV khác với tự học của một HS phổ thông Học đại học là
đi sâu vào kiến thức chuyên ngành để chuẩn bị cho một nghề trong tương lai Do đó người SV phải trang bị cho mình một kiến thức vững vàng về nghề nghiệp đồng thời phải thêm nhiều hiểu biết khác nữa theo yêu cầu của công việc và cuộc sống Do phương pháp học tập ở trường đại học cơ bản khác với ở trường phổ thông, người học phải tự học là chính, và phải tự mình củng cố, mở rộng kiến thức SV phải tự mình lập
ra kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập Nếu như ở phổ thông, kiến thức cơ bản nằm ở sách giáo khoa, việc học của HS được GV hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng
Trang 23thì SV phải tự tìm và chọn lọc tài liệu cho phù hợp với yêu cầu của mình và phải thật
sự khoa học thì mới đạt được kết quả tốt Thêm vào đó, việc tự học của SV là sự nỗ lực cao, tính tự giác cao hơn của HS SV phải làm chủ thời gian, phương pháp, phải quan tâm đến chất lượng tự học của bản thân để có phương hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của mình
Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, SV cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà
là một mục tiêu quan trọng của học tập Có như vậy thì phương pháp tự học mới thực
sự là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập
1.3 Sách điện tử (E-Book)
1.3.1 E-Book là gì?
Theo wikipedia phiên bản tiếng Anh, E-Book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Hiểu một cách đơn giản, E-Book là sản phẩm “số hoá” của sách in Giống như e–mail (thư điện tử), chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) hay một số loại điện thoại di động thông minh (smartphone) để xem E-Book
Ý tưởng số hoá sách in thành thư viện E-Book được ra đời từ năm 1971 bởi
dự án Gutenburg do Michael S Hart phát triển Các định dạng thường được sử dụng là HTML, PDF, EPUB, MOBI, EXE và Pluckers Ngày nay, các dịch vụ về E-Book phát triển mạnh mẽ, điển hình như Amazon.com cung cấp mỗi năm hàng triệu đầu E-Book cho độc giả toàn thế giới
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi phát triển E-Book theo khái niệm một cuốn sách tham khảo được số hoá, bổ sung hình ảnh, âm thanh, phim thí nghiệm và khai thác mạnh khả năng đồ hoạ, khả năng tương tác làm cho giao diện sách trở nên sinh động, hấp dẫn Sách chỉ được dùng với máy tính với đĩa CD–ROM hoặc có thể chép và cài đặt trực tiếp vào máy tính
Trang 241.3.2 Ưu điểm và hạn chế của của E-Book
Như đã nói ở trên E-Book là sản phẩm “số hóa” của sách in Vì vậy nó có mang những tính năng ưu việt mà sách in thông thường không có được:
- E-Book cung cấp cho người sử dụng tối đa tư liệu nghe nhìn như hình ảnh âm thanh, phim,… thậm chí E-Book còn có thể kèm theo một số tiện ích bằng cách tích hợp thêm một số phần mềm khác Vì vậy E-Book thể hiện kiến thức không đơn thuần chỉ là những bản word khô khan mà bằng nhiều hình thức sinh động, hấp dẫn khác làm cho người đọc thích thú hơn khi tiếp cận nhựng thông tin trong E-Book
- Có thể truy xuất rất nhanh đến các mục, các phần trong E-Book nhờ siêu liên kết (Hyperlinks) Không cần tra mục lục, lật từng trang sách, với E-Book chỉ cần thao tác click chuột chúng ta có thể đến những phần mà mình tìm kiếm
- E-Book rất gọn nhẹ và khả năng lưu trữ cao Với một thiết bị đọc sách hoặc máy tính, ở bất kì nơi đâu có Internet thì bạn có thể tìm và đọc được những sách mình mong muốn
- Người dùng có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, và các thao tác cá nhân hoá tuỳ theo sở thích của người đọc
- Các thiết bị chuyên dụng dùng để đọc E-Book (E-Book reader) ngày càng cải tiến kiểu dáng, cung cấp thêm nhiều chức năng mới giúp cho việc sử dụng E-Book trở nên thuận tiện nhất: cho phép đọc sách trong điều kiện thiếu sáng, cho phép ghi chú, đánh dấu (hightlight) vào đoạn văn bản, lưu vị trí trang hiện hành cho lần đọc kế
- Việc xuất bản E-Book hiện nay được thực hiện khá dễ dàng với các phần mềm chuyên dụng khác nhau Sản phẩm E-Book sau khi xuất bản có định dạng phụ thuộc vào sự lựa chọn của tác giả hoặc phần mềm sử dụng
- Giá thành E-Book rẻ hơn sách in khá nhiều, không bị hư hỏng theo thời gian
- E-Book có thể được sao lưu dự phòng, tái sử dụng nhiều lần hay in ra thành bản
in với sự chấp thuận của tác giả
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, E-Book cũng có một số hạn chế nhất định sau:
Trang 25- Để đọc Book, yêu cầu phải có thiết bị chuyên dụng; đó là máy tính, Book reader, smartphone và trong quá trình chúng hoạt động gây tiêu tốn năng lượng (pin, điện)
E Cần phải có phần mềm tương thích với định dạng E-Book muốn đọc
- Đọc E-Book trên máy tính lâu, có hại cho sức khoẻ đặc biệt là mắt
1.4 Giới thiệu một số phần mềm mã nguồn mở để thiết kế E-Book
thay đổi Như vậy có thể hiểu đơn giản phần mềm nguồn mở là những phần mềm được phân phối một cách tự do kèm theo mã nguồn và người sử dụng được phép sửa đổi những mã nguồn đó theo mục đích cá nhân của mình mà không cần hỏi ý kiến tác giả của nó Trong khi đó đa số phần mềm thương mại không bán kèm theo mã nguồn
Đã có rất nhiều dự án phần mềm nguồn mở thành công, từ hệ điều hành (GNU/Linux, FreeBSD), ứng dụng Internet (Apache, Mozilla, BIND, Sendmail), ngôn ngữ lập trình (GNU C/C++, Perl, Python, PHP), hệ quản trị cơ sở dữ liệu (PostgreSQL, MySQL), ứng dụng văn phòng (OpenOffice) Sau đây là một số tính chất ưu việt của phần mềm nguồn mở:
- Tính kinh tế: Các phần mềm nguồn mở không thu phí đăng kí sử dụng Các chi
phí khác liên quan đến nhân lực, hỗ trợ phần cứng, đào tạo thường thấp hơn rất nhiều so với việc sử dụng phần mềm thương mại
- Tính an ninh: Thông thường phần mềm nguồn mở được phát triển dựa trên các chuẩn mở (open standards) có tính ổn định và độ tin cậy cao
- Tính độc lập: Sử dụng phần mềm mã nguồn mở làm giảm được sự lệ thuộc vào
các nhà cung cấp do các chuẩn mở cũng như mã nguồn được chuyển giao toàn
bộ cho người sử dụng
Trang 26- Tính giáo dục: Mã nguồn chính là những kiến thức, trí tuệ của nhân loại Nắm
được mã nguồn là nắm được những tri thức quý báu đó
- Tính kế thừa: Thay vì xây dựng phần mềm từ đầu, phát triển ứng dụng trên cơ
sở phần mềm nguồn mở là tận dụng được trí tuệ và thành quả của những người
đi trước
Song song với những ưu điểm đã nêu trên, phần mềm nguồn mở cũng có những mặt hạn chế nhất định, cụ thể là:
- Hạn chế về tính kinh doanh: Đa số dự án phần mềm nguồn mở do các chuyên
viên kỹ thuật thiết kế để giải quyết các bài toán kỹ thuật là là chính mà xem nhẹ các bài toán kinh doanh
- Thiếu tính tiện dụng: Các phần mềm nguồn mở thường tập trung vào các tính
năng hoạt động mà ít quan tâm đến tính tiện dụng cho người dùng
Vì vậy để lựa chọn được một phần mềm nguồn mở hợp với nhu cầu cho mỗi cá nhân là một công việc không phải dễ dàng
1.4.2 Tiêu chí để chọn phần mềm mã nguồn mở để thiết kế E-Book
Mỗi E-Book được thiết kế với những mục đích, tính năng khác nhau vì vậy chúng ta cần lựa chọn phần mềm cho phù hợp Hiện nay có khá nhiều phần mềm mã nguồn mở cho chúng ta lựa chọn, mỗi phần mềm có những ưu và nhược điểm riêng Thông thường các phần mềm này sẽ có hướng dẫn trên mạng nên cách tốt nhất để lựa chọn chúng ta nên cài và sử dụng thử Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải tìm hiểu một số thông tin quanh phần mềm mà chúng ta sử dụng, nó bao gồm:
- Tính phổ cập: Tương lai của một hệ thống mã nguồn mở phụ thuộc trực tiếp
vào tính phổ cập của nó Phần mềm nguồn mở càng phổ cập rộng rãi bao nhiêu thì khả năng nó được nâng cấp, hoàn thiện theo thời gian càng nhiều bấy nhiêu
Có thể xác định thông tin này dựa vào số lượng người tải về sử dụng, dựa vào
tính phồ biến cũng như được giới thiệu trên các phương tiện truyền thông của
nó
- Khả năng hỗ trợ các chuẩn mở: Về thực chất có thể nói hỗ trợ các chuẩn mở
chính là thước đo chất lượng của phần mềm nguồn mở Vì thế hệ thống càng hỗ trợ nhiều chuẩn mở sẽ càng có ưu thế hơn về chất lượng cũng như tính phổ cập
Trang 27Đối với E-learning, có hai chuẩn mở phổ cập là chuẩn tái sử dụng nội dung ADL SCORM (Sharable Content Object Reference Model) và chuẩn đóng gói nội dung IMS Content Packaging
- Khả năng bản địa hóa: Phần lớn các hệ thống phần mềm nguồn mở cho phép
dễ dàng bản địa hóa về ngôn ngữ, các đại lượng đo lường, ngày tháng… Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ và việc bản địa hóa sẽ gặp nhiều khó khăn
- Giao diện người dùng: Như đã đề cập, giao diện người dùng là hạn chế của
phần mềm nguồn mở Vì vậy cần chọn những hệ thống mà giao diện cho người
sử dụng (đặc biệt là dành cho học viên) rõ ràng, dễ sử dụng
- Tài liệu hỗ trợ: Các tài liệu hướng dẫn cài đặt, sử dụng và phát triển hệ thống
càng đầy đủ và chi tiết bao nhiêu thì việc sử dụng và phát triển hệ thống càng
dễ dàng bấy nhiêu Đặc biệt cần chú ý đến mức độ hướng dẫn trong phần mã nguồn vì yếu tố này sẽ giúp tiết kiệm nhiều công sức, thời gian cho việc chỉnh sửa cũng như phát triển hệ thống sau này
1.4.3 Một số phần mềm dùng để thiết kế E-Book
1.4.3.1 BB FlashBack Professional Edition 2.6.4
BB FlashBack là phần mềm giúp quay phim màn hình nhanh chóng và dễ dàng Rất hiệu quả cho các phần mềm trình diễn, thuyết trình hay sử dụng trong các bài học và training Các chức năng chính là:
- Quay lại màn hình, cửa sổ hay từng khu vực
- Có thể thêm vào các đoạn text, âm thanh, hình ảnh vào đoạn phim
Trang 28- Dễ dàng chuyển đổi thành file Flash, AVI, WMV, EXE và PowerPoint
Hình 1.2 Giao diện phần mềm BB FlashBack Player
Kết quả tạo ra đoạn phim sắc nét, rõ ràng, không làm ảnh hưởng đến quá trình làm việc của máy Ngoài ra, chương trình còn cho phép định trước chất lượng tập tin
và các tham số để nén tập tin quay được
1.4.3.2 CourseLab 2.4
CourseLab là một phần mềm mã nguồn mở ra đời từ năm 2007 Đây là một công cụ tạo E-learning mạnh mẽ, có khả năng tạo các học liệu điện tử có tính tương tác chất lượng cao và dễ sử dụng
CourseLab được tạp chí ELearning! bầu chọn là công cụ soạn thảo học liệu điện tử tốt nhất năm 2007 (Best Of Elearning! 2007 Award) và tiếp tục được bầu chọn năm 2008 Cho tới nay, Courselab vẫn được đánh giá là một trong 100 công cụ giáo dục hàng đầu thế giới (Top 100 Tools for Learning)
CourseLab khá nổi tiếng và được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên còn khá mới mẻ, chưa phổ biến tại Việt Nam
Trang 29Hình 1.3 Giao diện phần mềm CourseLab 2.4
Một số tính năng CourseLab đang đặc biệt thiết kế nhằm tăng năng suất học tập
và sáng tạo như:
− CourseLab đi kèm với các thiết lập lớn sẵn sàng sử dụng cho mô-đun học liệu điện tử mẫu Chỉ cần chọn mẫu thích hợp cho nhu cầu của bạn để bắt đầu mô-đun mới Người sử dụng có thể tạo mới hay chỉnh sửa các mẫu này một cách dễ dàng và các mẫu sửa đổi có thể được lưu vào thư viện
− CourseLab chứa các đối tượng phức tạp với số lượng khá lớn trong ngân hàng
dữ liệu Những đối tượng này có thể chỉnh sửa để phù hợp với hầu như bất kì thiết kế nào, chỉ bằng cách thêm đối tượng trên trang (slide) và thay đổi các thông số của nó
− CourseLab cho phép sao chép đối tượng bất kì và dán ở nhiều trang trình bày khác nhau hoặc thậm chí toàn bộ mô-đun học tập mà tính năng và thuộc tính của nó không đổi
Trang 30− CourseLab cho phép người sử dụng dễ dàng thiết kế cấu trúc của một mô-đun học tập do không chỉ có giao diện tương tự mà còn được hỗ trợ hầu hết các định dạng và chức năng như phần mềm Microsoft PowerPoint quen thuộc
− CourseLab cho phép xuất bản ngay nội dung chỉ bằng vài động tác nhấp chuột Định dạng của E-learning thành phẩm có thể được xuất bản trên Internet, hệ thống quản lý học tập (LMS), CD –ROM và các thiết bị khác
CourseLab hiện có 2 phiên bản:
− Phiên bản miễn phí CourseLab 2.4 – Có khả sử dụng tất cả các tính năng cơ bản
và nâng cao Tuy nhiên CourseLab 2.4 có hai chức năng bị giới hạn là
“Requires optional Screen Capture Pack” (Chức năng chụp màn hình và ghi âm) và “Requires optional PowerPoint Import Pack” (Chức năng sử dụng dữ liệu từ tập tin PowerPoint)
− Phiên bản thương mại CourseLab 2.6 – Đây là phiên bản tạo E-learning ưu việt dành cho các dự án công nghiệp với các cải tiến và bổ sung mới so với bản 2.4
1.5 Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
1.5.1 Vai trò của CNTT trong dạy học hóa học
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế – xã hội Công nghệ thông tin đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh
tế tri thức và xã hội thông tin
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống con người Sự tác động mạnh mẽ của CNTT lên muôn mặt của đời sống xã hội Giáo dục cũng không nằm ngoài sự tác động đó
CNTT giúp cho GV không những nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường mà còn là một công cụ, phương tiện để làm một cuộc “cách mạng” trong việc đổi mới phương pháp dạy học Không còn lối truyền thụ một chiều, thầy đọc trò ghi
mà CNTT đã làm tích cực hóa quá trình dạy học, mang đến luồng sinh khí mới cho các trường học hiện nay Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương
Trang 31pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho HS các phương pháp học chủ động Các ứng dụng của CNTT đã thực sự trao quyền chủ động học tập cho HS và cũng làm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy học điều khiển nội dung, thì nay các thầy cô chuyển sang giữ vai trò là người điều phối theo kiểu dạy học hướng tập trung vào HS Kiểu dạy học hướng tập trung vào HS và hoạt động hóa người học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự trợ giúp của máy tính và các phần mềm cũng như mạng Internet Với các chương trình dạy học đa phương tiện (multimedia) và được chuẩn bị chu đáo có thể truy cập được nhờ các phương tiện siêu văn bản (hypemedia) giúp cho việc tự học của HS trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn bao giờ hết
Và như UNESCO đã dự báo “Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỷ XXI” Công nghệ thông tin đang ngày càng khẳng định được tính hữu dụng, vai trò, tầm quan trọng to lớn trong mọi phương diện, mọi ngành nghề của cuộc sống trong thời đại ngày nay Với ngành giáo dục, CNTT đã và đang tạo nên cuộc “cách mạng” trong công tác dạy – học Và là “chìa khóa” để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục
Hóa học là một bộ môn khoa học của các biểu tượng, tất cả những nghiên cứu
về chất và sự biến đổi của chúng đều phải được biểu diễn dưới dạng các phương trình phản ứng hóa học, các đồ thị, sơ đồ bảng biểu… Tất cả các biểu tượng đó đều có thể trình bày một cách trực quan nhất nhờ ứng dụng CNTT
Sử dụng máy tính như công cụ dạy học hay như là phương tiện nâng cao tính tích cực trong dạy, học là để khai thác thế mạnh của kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình dạy, học Máy tính có thể mô phỏng những thí nghiệm không thể hoặc không nên
sử dụng trực tiếp trong tiết dạy, cũng không thể hoặc khó có thể nhờ các phương tiện khác để biểu đạt Việc mô phỏng giúp tránh được những nguy hiểm, tránh sự hạn chế
về thời gian, không gian, kinh phí mà vẫn trình diễn tốt giúp người học nhanh chóng nắm bắt kiến thức
Trang 32Máy tính có khả năng lưu trữ một lượng thông tin rất lớn và tái hiện chúng dưới những dạng khác nhau trong thời gian hạn chế, nó có thể dùng như một máy soạn thảo văn bản để chuẩn bị bài giảng, nội dung dạy học… và chỉnh sửa, bổ sung, cập nhập cho bài giảng luôn mới, luôn phong phú và sinh động… Với công cụ bảng tính với những công thức hay chương trình được cài đặt có thể giúp người học trong việc điều tra nghiên cứu… Máy tính có thể hỗ trợ tốt cho người học khác nhau từ người có tài năng đến những người khuyết tật
Máy tính còn cho phép HS học theo những bước riêng của mình, do đó có thể tiết kiệm được nhiều thời gian dạy học trên lớp , tạo nên khả năng cá thể hóa trong học tập của HS Các chương trình dạy học trên máy tính còn tạo điều kiện cho HS tự củng
cố kiến thức mà mình chưa nắm vững Mô phỏng trên máy tính còn giúp HS tự rèn luyện kỹ năng thực hành, làm bài thí nghiệm mà không cần trang thiết bị
Dạy học, xét về hình thức tiến hành là một quá trình truyền thông hai chiều Vì vậy việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và nhằm nâng cao tính tích cự trong dạy học nói riêng là xu hướng của thời đại Sở dĩ như vậy là vì CNTT có những ưu điểm và thế mạnh riêng đáp ứng được những yêu cầu trong dạy và học CNTT không chỉ làm thay đổi nội dung mà cả phương pháp dạy học:
- Có thể làm sinh động, hấp dẫn bài học thông qua hình ảnh, âm thanh,…
- Có thể tiến hành những thí nghiệm trực tiếp trong khi giảng
- Nguồn thông tin đa dạng, phong phú và có cả yếu tố bất ngờ
1.5.2 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Năm học 2008 – 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT–BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 Năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Theo đó, các Sở GDĐT xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Chỉ thị và chỉ đạo các đơn vị, cơ sở giáo dục thuộc địa phương triển khai thực hiện chủ đề “Năm
Trang 33học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin” Các đơn vị, cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ CNTT theo kế hoạch của Sở GDĐT nhằm đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và ứng dụng CNTT một cách thiết thực và hiệu quả trong công tác quản lý của nhà trường
Theo Thông tấn xã Việt Nam, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã được nhiều trường học trong cả nước phát triển để nâng cao chất lượng bài giảng Tính đến năm 2009, đã có 20% GV trung học, 30% trường THPT, 25% trường THCS ứng dụng CNTT Trong đó, từ 2–5% số bài giảng được sử dụng phần mềm dạy học và có ứng dụng CNTT
Ứng dụng CNTT trong giảng dạy, không chỉ phát triển mạnh ở các thành phố lớn mà còn phát triển ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đã góp phần đẩy nhanh tiến trình công bằng trong giáo dục Với sự trợ giúp của CNTT, việc dạy và học đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là các môn xã hội cho những vùng ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin
Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụng vào quá trình dạy học của mình
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, đặc biệt là các phần mềm mã nguồn mở phục vụ cho giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể: Phần mềm văn phòng (OpenOffice.org), thư viện số (Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio), quản lý mạng lớp học (Mythware, i–Talc của Intel),… ngoài ra còn có hệ thống quản lý E-learning (Moodle, Dokeos) và các phần mền đóng gói, tiện ích khác
Kỹ năng ứng dụng CNTT trong giảng dạy của GV cũng có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận Giáo án và bài giảng được soạn thảo và trình chiếu trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được thời gian hơn là các phương pháp dạy truyền thống Những hình ảnh và âm thanh sống động thu hút sự chú ý và gây được hứng thú học tập nơi HS Thông qua việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ, GV có điều kiện làm tăng hoạt
Trang 34nhanh chóng thay đổi cách làm việc và tư duy trong dạy và học của đội ngũ GV và
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình Với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống
sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kỹ năng cho HS
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa
đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền,
áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người – máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và tính hiệu quả của nó
Trang 35- Việc sử dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu
kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector,… còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu;
sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức
để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam”, PGS.TS Đào Thái Lai – chủ nhiệm Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục đã đưa kết luận: Nếu căn cứ vào hoạt động của quản lý, của người dạy và người học thì có 5 mức độ ứng dụng CNTT & TT cơ bản nhất:
- Mức 1: Sử dụng CNTT & TT để trợ giúp GV một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án, in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu,… nhưng chưa sử dụng CNTT & TT trong tổ chức dạy học cụ thể của môn học
- Mức 2: Ứng dụng CNTT & TT để hỗ trợ một khâu trong một công việc nào đó của toàn bộ quá trình dạy học
- Mức 3: Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một vài chủ đề môn học
- Mức 4: Tích hợp CNTT & TT vào quá trình dạy học
- Mức 5: Thay đổi toàn bộ các quan niệm truyền thống, đưa ra một mô hình
trường học mới trong môi trường giàu CNTT & TT: trường học thông minh với
ệc đào tạo bằng E –Learning
Trang 36Căn cứ vào tình hình thực tiễn và những thành tựu nêu trên, có thể nhận định rằng ngành giáo dục phổ thông chỉ đang dừng ở mức 3 Vì vậy, phương hướng phấn đấu và phát triển tiếp theo sẽ tích hợp CNTT & TT vào quá trình dạy học Đồng thời đổi mới dần phương pháp dạy học và xây dựng một mô hình giáo dục hiện đại mới
phù hợp hơn, trong đó việc phát triển và đẩy mạnh sử dụng E-learning trong giáo dục
Về mức độ thường xuyên ứng dụng CNTT trong học tập và giảng dạy, chỉ có 4,88% SV cho biết mình không sử dụng, 69,92% SV cho biết mình thỉnh thoảng sử dụng và còn lại 25,2% SV cho biết mình thường xuyên sử dụng
Từ số liệu trên ta nhận thấy, đa số SV nhận thức được tầm quan trọng của CNTT và có ứng dụng nó trong học tập và giảng dạy Tuy nhiên, khi được yêu cầu liệt
kê các phần mềm mà SV thường sử dụng thì đa số chỉ sử dụng Microsoft Word và Microsoft PowerPoint Cụ thể như sau:
- 78,86% SV cho biết là có sử dụng Word
- 98,37% SV cho biết là có sử dụng PowerPoint
- 27,64% SV cho biết là có sử dụng Crocodile Chemistry
- 38,21% SV cho biết là có sử dụng ChemSketch
- 9,76% SV cho biết là có sử dụng Chemoffice
- 4,48% SV cho biết là có sử dụng McMix
- 1,63% SV cho biết là có sử dụng Chemwin
- 1,63% SV cho biết là có sử dụng Flash
- 0,81% SV cho biết là có sử dụng Chem & Bio Draw
Trang 37Như vậy, mặc dù đa số có sử dụng CNTT nhưng lượng kiến thức về CNTT của
SV là khá ít, số các phần mềm mà các SV có thể sử dụng còn rất hạn chế Vì vậy, các
SV cần phải học tập nhiều hơn nữa các phần mềm để có thể linh hoạt trong việc ứng dụng CNTT vào học tập và giảng dạy Việc nâng cao kỹ năng CNTT đòi hỏi SV không ngừng tìm kiếm, học tập những phần mềm tiện ích phục vụ nhu cầu của bản thân Trong quá trình học tập này, SV cũng gặp không ít những khó khăn Khi chúng tôi khảo sát về những khó khăn mà SV gặp khi học cách sử dụng một phần mềm mới thì được kết quả như sau:
- 25 SV cho rằng khó tìm kiếm tài liệu (chiếm 20,32%)
- 25 SV cho rằng hướng dẫn sử dụng khó hiểu (chiếm 20,32%)
- 69 SV cho rằng không có hướng dẫn chi tiết (chiếm 56,1%)
- 67 SV cho rằng còn hạn chế về mặt ngoại ngữ (chiếm 54,47%)
Như vậy, từ kết quả điều tra trên, chúng tôi rút ra được những kết luận:
Ngày nay, việc tìm kiếm một tài liệu học tập không còn quá khó khăn như trước
do mạng lưới thông tin phát triển và mở rộng từ nhiều nguồn khác nhau Chúng ta có thể học tập từ sách, báo hay mạng Internet… Vì vậy, chỉ khoảng 25 SV cho rằng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu (chiếm 20,32%) Vấn đề vướng mắc ở đây
là việc lựa chọn tài liệu đáng tin cậy, có giá trị do số lượng thông tin quá nhiều Việc này đòi hỏi người học phải biết lựa chọn và chắt lọc những gì cần thiết Vậy nên vẫn
có SV cảm thấy khó khăn khi tìm kiếm tài liệu
Khi có tài liệu học tập rồi thì vẫn còn rất nhiều khó khăn Đầu tiên là vần đề hướng dẫn khó hiểu vì số lượng lớn thuật ngữ chuyên ngành hoặc hướng dẫn quá chi tiết làm rối người học Đa phần các hướng dẫn chỉ dưới dạng văn bản nên không trực quan, làm cho người học khó hình dung và tiếp thu
Mặt khác, hiện nay, rất ít các tài liệu hướng dẫn trên mạng Internet có hướng dẫn chi tiết Đa phần chỉ giới thiệu chung về phần mềm và một số thao tác đơn giản Tuy nhiên, để sử dụng các phần mềm này vào việc dạy học hóa học ở trường phổ thông thì cần những thao tác và kỹ năng nhất định Và điều này thì hiếm có tài liệu nào
đề cập đến
Trang 38Một vấn đề nữa là đa phần hiện nay các tài liệu hướng dẫn chủ yếu là bằng tiếng nước ngoài, do các phần mềm này được nghiên cứu và phát triển ở những tập đoàn ngoại quốc Vậy nên SV chúng ta cũng gặp không ít khó khăn khi học tập do hạn chế về mặt ngôn ngữ Và số lượng mà SV cảm thấy đây là một khó khăn lớn chiếm phần đông (tới 54,47% SV)
Ngoài ra, một số SV còn cho rằng không biết lựa chọn phần mềm nào phù hợp (4,88% SV), không có thời gian để học tập (4,07% SV)
1.6.2 Đối với GV
Để biết thêm về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học từ đó đánh
giá được nhu cầu sử dụng E-Book này, chúng tôi tiến hành khảo sát ở đối tượng thứ hai đó chính là GV ở các trường phổ thông
Chúng tôi tiến hành khảo sát 27 GV ở các trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPT Nguyễn Thị Định, THPT Ngô Quyền, THPT Thủ Đức tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả thu được như sau:
• 100% GV đồng ý rằng ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học là cần thiết
• 70,37% GV cho biết thỉnh thoảng ứng dụng CNTT trong dạy học còn 29,63% GV cho biết thường xuyên sử dụng
Trang 39• Khi học cách sử dụng một phần mềm mới, GV gặp những khó khăn sau:
- 11,11% GV cho là khó tìm kiếm tài liệu
- 25,93% GV cho là không có hướng dẫn chi tiết
- 33,33% GV cho là hướng dẫn khó hiểu
- 33,33% GV cho là hạn chế về ngoại ngữ
Khi được hỏi “Nếu có một E-Book hướng dẫn sử dụng các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông thì quý thầy cô có sử dụng hay không?” thì 100% GV trả lời là có
Tóm lại, từ kết quả mà chúng tôi khảo sát trên SV và GV càng giúp chúng tôi khẳng định được rằng việc xuất bản E-Book “Các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông” là đúng đắn và cần thiết E-Book này không chỉ đáp ứng cho GV và SV nhu cầu nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học mà còn khắc phục được những khó khăn khi họ tiếp cận, học tập một phần mềm mới Do trở ngại về mặt thời gian, chúng tôi chỉ thiết kế và khảo sát chất lượng E-Book này trên đối tượng là SV
Trang 40
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG E-BOOK “CÁC PHẦN MỀM TIỆN ÍCH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG”
2.1 Giới thiệu về hệ thống các phần mềm tiện ích trong dạy học hóa học ở trường phổ thông đã đề cập trong E-Book
2.1.1 Phần mềm vẽ công thức hóa học: ChemSketch
Hóa học là một bộ môn đặc trưng với nhiều công thức phức tạp: công thức phân
từ, công thức cấu tạo… Chính vì vậy việc sử dụng thông thạo một phần mềm vẽ công thức hóa học không phải là nhu cầu mà là một trong những kỹ năng cơ bản mà bất cứ một người GV hóa nào cũng cần ChemSchetch là một phần mềm hỗ trợ khá phổ biến
Hình 2.1 Giao diện phần mềm ChemSketch
Với ChemSketch, chúng ta không chỉ vẽ được những công thức hóa học từ đơn giản đến phức tạp mà nó còn hỗ trợ nhiều công cụ, chức năng hữu ích khác Chúng ta
có thể xem các thuộc tính liên quan đến chất như công thức phân tử, khối lượng phân
tử, thành phần, chiết suất, chỉ số khúc xạ, sức căng bề mặt, khả năng phân cực, tỉ dung đẳng trương, hằng số điện môi…; đọc tên cấu trúc; đọc cấu hình E,Z và R,S; tạo liên kết cho nhận; các dạng hỗ biến; tính đến các đại lượng liên quan đến phản ứng; DNA
và RNA; vẽ obitan; sơ đồ phản ứng; dụng cụ thí nghiệm; hình vẽ thí nghiệm…