L ịch sử vấn đề Thi ền uyển tập anh là văn bản văn học Phật giáo cổ có giá trị về nhiều mặt, thu hút sự tìm kiếm khám phá của những người làm công tác nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
- Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học, khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
- Xin gửi đến GS.TS Đoàn Thị Thu Vân lòng biết ơn sâu sắc
- Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên tôi trong thời gian vừa qua
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bảo Trân
Trang 4M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: THIỀN UYỂN TẬP ANH TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI VIỆT NAM TH ỜI TRUNG ĐẠI 6
1.1 Vài nét về Thiền uyển tập anh 6
1.2 Vị trí của Thiền uyển tập anh trong văn xuôi Phật giáo thời Lý Trần 13
1.3 Vị trí của Thiền uyển tập anh trong văn xuôi trung đại 17
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU 24
2.1 Cơ cấu nghệ thuật “đại đồng, tiểu dị” 24
2.2 Nghệ thuật kết hợp giữa hành trạng và ngữ lục 29
2.3 Nghệ thuật kết hợp giữa truyện (văn xuôi) và thơ (văn vần) 41
Ch ương 3: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 48
3.1 Hình tượng và vai trò của hình tượng nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tiểu truyện nhân vật 48
3.1.1 Hình tượng 48
3.1.2 Vai trò của hình tượng nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tiểu truyện nhân vật 49
3.2 Bức chân dung con người lý tưởng 49
3.2.1 Vẻ đẹp của con người đạt đạo 49
3.2.2 Vẻ đẹp của con người nhập thế 55
3.2.3 Giá trị nhân văn trong những vẻ đẹp của hình tượng nhân vật 59
3.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật 63
3.3.1 Yếu tố kỳ ảo 63
3.3.2 Thủ pháp tương hỗ 68
3.3.3 Thủ pháp phác diễn 72
Chương 4: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 76
4.1 Vai trò của ngôn ngữ - vai trò của ngón tay chỉ mặt trăng 76
Trang 54.2 Ngôn ngữ hàm súc 80
4.3 Ngôn ngữ vừa giản dị vừa uyên bác 88
K ẾT LUẬN 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 99
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài: “Thiền uyển tập anh – từ góc nhìn văn chương” vì
những lí do sau:
1.1 Lâu đài thơ văn Việt Nam ngày nay được xây nền móng từ xa xưa, trong
đó thơ văn Lý Trần là bộ phận giữ vai trò rất quan trọng Đọc lại văn chương Lý Trần,
trong đó có Thiền uyển tập anh là nhớ câu “ôn cố nhi tri tân” bởi “tân tòng cố xuất”
“N ếu không đọc lại ông cha thì sao biết mình được?
Nếu không tìm về nguồn thì sao biết dòng sông đang chảy từ đâu?
N ếu không có thơ văn Lý Trần thì làm sao có thơ văn Nguyễn Trãi…” [25, 12]
1.2 Nằm trong dòng chảy của văn học trung đại khác, Thiền uyển tập anh mang
tính nguyên hợp văn – sử – triết bất phân Từ một góc nhìn, chúng tôi bóc tách phần
“văn” trong đó để tìm thấy vẻ đẹp văn chương của một văn bản Phật giáo
1.3 Sau một thời gian Phật giáo trượt dài trên con đường suy thoái, những người quan tâm đến Phật học, yêu Thiền mến đạo đang ra sức chấn hưng Phật giáo
Với công trình nghiên cứu này, người viết mong góp một phần bé nhỏ vào sự nghiệp
có ý nghĩa trên
1.4 Trong thời hiện đại, với nền kinh tế thị trường, con người mải miết đua chen chạy theo danh vọng, tiền bạc, địa vị, kiếm tìm cái mới Gánh nặng của những tham vọng đè trên vai dễ làm người ta mất thăng bằng Để vơi đi những căng thẳng tinh thần và tìm lại sự cân bằng cho tâm hồn, con người cũng có nhu cầu quay về nguồn, tìm lại vẻ đẹp xưa trong những giá trị tinh thần mà cha ông để lại
1.5 Chúng tôi viết luận văn này cũng là viết cho chính mình Xứ sở của thiền uyên áo và kì diệu là niềm hấp dẫn và say mê đối với người viết Một quyển sách và
một sự hiểu biết còn nông cạn hẳn chưa đủ để mở lối vào thiền học Trước các bậc
tiền bối, tôi vẫn chỉ là kẻ cầm roi đứng sau đuôi con ngựa Thế nhưng, được đến với thiền, buông bỏ và an lạc cùng thiền, đặc biệt là đến với thiền qua văn chương, thật
biết bao là thú vị
Trang 72 L ịch sử vấn đề
Thi ền uyển tập anh là văn bản văn học Phật giáo cổ có giá trị về nhiều mặt, thu
hút sự tìm kiếm khám phá của những người làm công tác nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học
Những công trình nghiên cứu chuyên biệt về Thiền uyển tập anh:
Từ thế kỷ XX về trước, chỉ có những công trình in, dịch, giới thiệu truyền bản
Thi ền uyển tập anh
Gần đây, xuất hiện hai công trình nghiên cứu rất công phu của Lê Mạnh Thát
và Nguyễn Hữu Sơn Lê Mạnh Thát với cuốn sách Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh
hơn 800 trang, làm rõ vấn đề truyền bản, niên đại, tác giả và phương pháp viết sử truyền thừa của tác phẩm Nguyễn Hữu Sơn với luận án tiến sĩ Khảo sát loại hình tiểu
truy ện thiền sư trong Thiền uyển tập anh đã “góp phần tiếp cận tác phẩm từ góc độ
lo ại hình và tiến hành khảo sát các đặc điểm chung đó trên phương diện loại hình
h ọc”
Những công trình nghiên cứu về văn học Lý Trần trong đó Thiền uyển tập
Trước thế kỷ XX, sách Đại Việt thông sử (thiên Văn nghệ chí) của Lê Quý Đôn,
L ịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú đã đề cập sơ nét về tác giả và nội
dung tác phẩm
Về sau, các sách Thơ văn Lý Trần, Tuyển tập Văn học trung đại… giới thiệu và
trích tuyển tác phẩm Thiền uyển tập anh hoặc các bài thơ của các nhà sư được nhắc
tới trong tác phẩm
Các bài viết: Tìm hiểu thơ văn của các nhà sư Lý Trần (tác giả Kiều Thu
Hoạch, đăng trên Tạp chí Văn học, số 6, năm 1965), Nghĩ về văn học đời Lý (tác giả
Nguyễn Huệ Chi, đăng trên Tạp chí Văn học, số 6, năm 1986), Một vài tìm tòi bước
đầu về văn bản thơ văn Lý - Trần (tác giả Trần Thị Băng Thanh, đăng trên Tạp chí
Văn học, số 5, năm 1972)… xa gần đề cập tới thơ văn của các nhà sư có tên trong tập truyện Công trình nghiên cứu Văn học Phật giáo thời Lý Trần – diện mạo và đặc
điểm của Nguyễn Công Lý đã điểm qua vài nét về đặc trưng thể loại của Thiền uyển
t ập anh
Trang 8Nh ững công trình nghiên cứu về giá trị văn chương của Thiền uyển tập anh
Nguyễn Hữu Sơn với bài viết Tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của Thiền
uy ển tập anh (Tạp chí Văn học, số 4, năm 1992), Nguyễn Tử Cường với bài viết Nghĩ
l ại Phật giáo Việt Nam: Thiền uyển tập anh có phải là văn bản truyền đăng không?
(Tạp chí Văn học, số 1, năm 1997) đã bàn đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm trên nhiều phương diện từ kết cấu, ngôn ngữ đến các chi tiết nghệ thuật Những tư liệu đó
đã cung cấp cái nhìn khái quát về đặc điểm nghệ thuật của tập truyện ký này
Nhìn chung, Thi ền uyển tập anh đã trải qua lịch sử nghiên cứu khá dày dặn
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt tìm hiểu một cách toàn diện và
hệ thống vẻ đẹp của giá trị văn chương trong tác phẩm này
3 Ph ạm vi nghiên cứu
Về tư liệu nghiên cứu: luận văn dùng bản dịch Thiền uyển tập anh của Ngô
Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1993
Về vấn đề nghiên cứu: luận văn tập trung làm rõ giá trị văn chương của tác
phẩm ở các phương diện: kết cấu, hình tượng nhân vật và ngôn ngữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu và mục đích hướng tới của luận văn, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: người viết xác định mỗi tiểu truyện là một hệ thống
nằm trong hệ thống lớn hơn là tập truyện Thiền uyển tập anh, tập truyện này lại được
đặt trong những hệ thống lớn hơn: văn xuôi Phật giáo Lý Trần, văn xuôi trung đại Thông qua chuỗi hệ thống đó, người viết xác định vị trí cũng như tìm hiểu đặc điểm tác phẩm
- Phương pháp thống kê: được dùng để khảo sát số lượng, mật độ xuất hiện của
các yếu tố, đưa ra những chứng cứ cụ thể, chính xác nhằm tăng sức thuyết phục cho
những kết luận được rút ra
- Phương pháp so sánh: đặt đối tượng nghiên cứu vào hệ thống theo các cấp độ,
người viết nhìn nhận vấn đề trong sự đối sánh Từ đó, rút ra được những điểm gặp gỡ,
kế thừa và cả vẻ đẹp riêng của tác phẩm
Trang 9- Phương pháp phân tích – tổng hợp: trên cơ sở những số liệu thống kê, kết
quả có được từ việc so sánh với những đối tượng trong và ngoài hệ thống, thông qua
việc phân tích những vấn đề cụ thể, chi tiết ở từng phương diện (kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ) người viết đi đến tổng hợp thành những kết luận khái quát về giá trị văn chương của tác phẩm
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nâng cao sự hiểu biết của bản thân về văn học Phật giáo
6 C ấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm ba phần:
- Phần dẫn nhập
- Phần nội dung chính
- Phần kết luận
Phần nội dung chính được chia làm bốn chương:
Chương 1: Thiền uyển tập anh trong tiến trình văn xuôi Việt Nam thời trung đại
Chương này nhằm giới thiệu về Thiền uyển tập anh, làm rõ vị trí của Thiền
uy ển tập anh trong tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam thời trung đại và trong
văn xuôi Phật giáo thời Lý Trần
Chương 2: Đặc điểm kết cấu
Trong chương hai, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm kết cấu của tập truyện Đó là sự
kết hợp chặt chẽ giữa hành trạng và ngữ lục, sự kết hợp hài hòa giữa hình thức văn xuôi và văn vần tạo nên sự xâu chuỗi chặt chẽ trong tác phẩm Đặc điểm kết cấu này
là yếu tố thứ nhất làm hiện lên giá trị văn chương của tập truyện
Chương 3: Đặc điểm hình tượng nhân vật
Trang 10Đây là chương quan trọng nhất của luận văn
Chúng tôi làm rõ hai vấn đề cơ bản: vẻ đẹp của hình tượng nhân vật và nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Từ đó, thấy được sức sống của hình tượng nhân
vật từ “người thật việc thật” ngoài đời đến nhân vật trong văn chương
Chương 4: Đặc điểm ngôn ngữ
Trong chương này, chúng tôi làm rõ tính hàm súc, giản dị và uyên bác rất đặc trưng của ngôn ngữ thiền, của văn học Phật giáo thể hiện trong tác phẩm Từ đó thấy được vẻ đẹp văn chương thể hiện qua ngôn ngữ
Trang 11Chương 1:
THIỀN UYỂN TẬP ANH TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI
VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
1.1 Vài nét về Thiền uyển tập anh
1.1.1 Niên đại và tác giả
Thi ền uyển tập anh là tư liệu quý về Phật học, lịch sử, triết học, văn học Tập
sách vẫn được cho là tác phẩm khuyết danh vì các truyền bản hiện còn giữ được không ghi rõ tên tác giả Các nhà nghiên cứu đã tốn biết bao giấy mực để tìm hiểu về
thời điểm ra đời cũng như người có công chấp bút biên soạn quyển sách này Những
bí ẩn như bức màn sương dày đặc bao phủ, tạo nên sức hút cho người ta tìm kiếm
Về niên đại
Việc xác định thời điểm ra đời của tác phẩm đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh
luận Không ai có thể quay lại quá khứ để tìm hiểu những điều mình muốn biết Vì
thế chỉ có thể nghiên cứu qua văn bản tác phẩm và những yếu tố liên quan với các tác
phẩm cùng thời đại
Trong Đại Việt thông sử, bản thư tịch đầu tiên của nước ta, Lê quý Đôn ghi
“Thiền uyển tập anh, một quyển, người đời Trần soạn, ghi tông phái Thiền học và sự tích các nhà sư nổi tiếng ở nước ta từ đời Đường, Tống, trải đến các đời Đinh, Lê, Lý,
Tr ần" [11, 111] Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng có nhận
định không khác với Lê Quý Đôn Ghi chép của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú được các nhà nghiên cứu coi là một trong những cơ sở đáng tin cậy nhất để xác định niên đại của tác phẩm Vấn đề tác phẩm ra đời vào thời Trần hầu như không có tranh luận Tuy nhiên, chứng cớ để xác định thời điểm ra đời đó thật không đơn giản Trần Văn
Giáp đưa ra hai lý do Thứ nhất, các nhà sư trong Thiền uyển tập anh không sống quá
năm 1228 Thứ hai, một số chữ trong tác phẩm được viết theo phép kị húy thời nhà
Trần Chẳng hạn, họ Lý của sứ nhà Tống Lý Giác đã bị chuyển đổi thành họ Nguyễn
Lê Mạnh Thát trong công trình nghiên cứu của mình lại tiếp tục đưa ra những chứng
cứ để làm rõ thời điểm ra đời của tác phẩm Ông đã tìm ra chín sự kiện trùng hợp
giữa Thiền uyển tập anh và Đại Việt sử lược, một tác phẩm ra đời vào thời Trần và bị
Trang 12giặc Minh tịch thu về Trung Quốc trong khoảng những năm đầu của thế kỷ XV, mãi đến thế kỷ XX, các sử gia của ta mới biết đến và sử dụng Chín sự kiện ấy không thấy các sử gia của ta ghi lại hoặc ghi khác đi Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra nhiều chữ kỵ húy khác phải đổi như: càn đổi thành cần (không rõ kỵ tên ai), đạo đổi thành pháp
(kỵ húy Trần Hưng Đạo), diệu đổi thành mậu (tên riêng của mẹ Trần Thái Tông là Lê
Thị Diệu)
Lê Mạnh Thát đã đặt ra vấn đề xác định một mốc thời gian ra đời cụ thể của tác
phẩm giữa chiều dài đăng đẳng của thời nhà Trần (gần 175 năm) Ông căn cứ vào
một câu trong Thiền uyển tập anh, lấy đó làm lý cứ để xác định thời điểm ra đời của
tác phẩm Câu ấy nằm ở truyện về thiền sư Vô Ngôn Thông Cuối truyện, sau khi chép chuyện sư thị tịch, đệ tử thân tín là Cảm Thành hỏa táng, thu xá lợi, xây tháp thờ,
Thi ền uyển tập anh viết: “Thời Đường Bảo lịch nhị niên Bính Ngọ chính nguyệt thập
nh ị nhật, nhị thập bát niên, hựu chí Khai Hựu Đinh Sửu, nhị thập tứ niên, ngã Việt thi ền học tự sư chi thủy” Theo cách phiên âm như trên, câu này có năm vế Vế thứ
nhất, thứ ba và thứ năm rất rõ ràng về nghĩa Vấn đề cần tìm hiểu nằm ở vế thứ hai và
thứ tư, Lê Mạnh Thát cho rằng một số chữ bị viết nhầm Điều này cũng dễ chấp nhận
bởi các văn bản Hán Nôm thời trung đại luôn bị xáo trộn qua thời gian và không gian
bởi những bàn tay sao chép hoặc khắc in Vế thứ hai, nhị thập bát niên là viết nhầm
của lục thập bát niên (lục viết nhầm thành nhị), đó chính là tuổi thọ của thiền sư, thọ
68 tuổi (Năm Mã Tổ mất 788, thiền sư thọ giới được 10 hạ, tức là khoảng 30 tuổi Như vậy tính theo lối phương Đông, năm sinh của ông là 759, đến năm mất 826 quả
đúng 68 tuổi) Phần tiếp theo hựu chí Khai Hựu Đinh Sửu nhị thập tứ niên nhiều khả năng là viết nhầm của hựu chí Khai Hựu Đinh Sửu bách thập nhị niên nghĩa là: lại
đến năm Đinh Sửu Khai Hựu (1337) phàm 512 năm Đây là ảnh hưởng lối viết
Truy ền đăng lục của Đạo Nguyên (đối với những vị tổ chính yếu của Thiền tông, ông
đều tính từ năm mất của họ đến năm ông biên soạn, Cảnh Đức thứ nhất (1004) là bao
nhiêu năm) Nếu theo cách đọc và hiểu như thế, ta biết năm Thiền uyển tập anh ra đời
là 1337 Một kết luận như thế chưa phải là dấu chấm hết cho những cuộc tranh luận Tuy nhiên, những giả thiết của nhà nghiên cứu này là những lý cứ khá xác đáng để ta
Trang 13có thêm minh chứng về năm Thiền uyển tập anh ra đời, với thời điểm được nhiều nhà
nghiên cứu chấp nhận, năm 1337
V ề tác giả
Tác giả của Thiền uyển tập anh hẳn là một người yêu Thiền mến đạo Bởi
không có lòng yêu thiền mến đạo thì họ đã không có ý thức sưu tầm, biên soạn để ghi
lại các tông phái, lịch sử truyền thừa nhà Phật cho đời sau được rõ Hơn nữa, tác giả
có thể cũng là người từng gửi thân chốn am Thiền, thể hiện qua sự hiểu biết sâu sắc
về các nhà sư, các yếu chỉ Thiền tông
Nguồn sử liệu được sử dụng để hoàn thành tập truyện vô cùng phong phú cho
thấy sự hiểu biết sâu rộng của người biên soạn Sách Phật học có thể kể đến Chiếu
đối lục (tác phẩm của Thông Biện và Biện Tài), Nam tông tự pháp đồ (của Thường
Chiếu), Liệt tổ yếu ngữ (của Huệ Nhật) Các tài liệu này đã cung cấp thông tin về tiểu
sử, hành trạng cũng như các cơ duyên thoại ngữ, kệ thị tịch của các vị thiền sư Bên
cạnh đó, người biên soạn còn sử dụng những tư liệu lịch sử xã hội: Sử ký (Đỗ Thiện),
Quốc sử (Đại Việt sử ký của Lê văn Hưu), Tự Ngu tập…và những tư liệu truyền khẩu
thể hiện quan niệm và đánh giá của quần chúng nhân dân Nguồn tư liệu phong phú
ấy góp phần làm nên giá trị của Thiền uyển tập anh và cũng soi chiếu gương mặt
người đã chọn tuyển, góp nhặt để hoàn chỉnh bộ sách: phải là một học giả uyên bác
am tường Nho Phật, Hán Phạn Nhưng điều mà người đọc mọi thời đại luôn trăn trở khi tiếp xúc tác phẩm, đó là: ai là người đã có công chấp bút biên soạn Thiền uyển tập
anh?
Xưa nay các tài liệu vẫn ghi Thiền uyển tập anh là tác phẩm khuyết danh (vì
truyền bản hiện còn không ghi rõ tên tác giả) hoặc cụ thể hơn “do người đời Trần
soạn” (Lê Quý Đôn) Nhưng dường như không ai thấy đủ với câu trả lời đó Gần đây,
các nhà nghiên cứu căn cứ vào các yếu tố cụ thể trong văn bản để xem xét, cho rằng tác phẩm này do một số nhà sư biên soạn trong một thời gian dài Nhà nghiên cứu Lê
Mạnh Thát xác định: “rất có thể Kim Sơn hay Cảnh Huy đã được giao phó một
nhi ệm vụ tương tự, đấy là viết Thiền uyển tập anh”.[52, 101]
Việc xác định ai là người đã biên soạn Thiền uyển tập anh có thể căn cứ vào nội
dung một số tiểu truyện trong tác phẩm Thứ nhất, căn cứ vào tiểu truyện về quốc sư
Trang 14Thông Biện Thiền sư có lời bàn về Phật và Thiền rất sâu, khi hoàng thái hậu, mẹ vua
Lý Nhân Tông hỏi ông:
- Ph ật và Tổ nghĩa thế nào? Ai hơn ai kém? Phật trụ phương nào? Tổ ở thành nào? Đến nước ta từ bao giờ? Việc truyền đạo ai trước ai sau? Mà người niệm tên
Ph ật đạt tâm ấn của Tổ chưa rõ là những ai?
Sư đã trả lời đầy đủ và khúc chiết, rõ ràng
Thứ hai, tiểu truyện sư Biện Tài: “nối pháp tự của Thông Biện quốc sư, từng
vâng s ắc chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục”
Tiếp theo, tiểu truyện sư Thường Chiếu: “Sư từng làm sách Nam tông tự pháp
đồ, một quyển, lưu hành ở đời”
Và cuối cùng, tiểu truyện sư Thần Nghi “Sư (Thần Nghi) hỏi Thường Chiếu:
- Đệ tử theo hầu hòa thượng đã bao năm nay mà chưa biết ai là người đầu tiên truy ền đạo vào nước ta? Xin hòa thượng chỉ giáo cho đệ tử được biết thế thứ các đời truy ền pháp, ngõ hầu cho người học đạo ngày nay được biết nguồn gốc
Thường Chiếu khen sư có lòng khẩn thiết, bèn lấy tập sách Chiếu đối bản (từng được Biện Tài biên sửa thành Chiếu đối lục) của sư Thông Biện và những điều ghi chép v ề các tông phái để phân biệt thế thứ nối pháp của các dòng (tức Nam tông tự pháp đồ) đưa cho xem
Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tý niên hiệu kiến gia thứ 6 (1216) sư đem tập phả đồ của Thường Chiếu trao cho mình truyền lại cho đệ tử là Ẩn Không, dặn rằng:
- Bây gi ờ tuy loạn, ngươi hãy giữ sách này, cẩn thận không để binh hỏa hủy
ho ại thì tổ phong ta sẽ không mai một.”
Phần trích trên là những căn cứ khá xác đáng để giúp xác định tác giả tập sách Căn cứ vào nội dung nêu trên, có thể tạm đi đến kết luận rằng: tác phẩm này đã được Thông Biện thiền sư khởi thảo từ đời Lý, sau đó Biện Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi
lần lượt bổ sung thêm Trải qua một quá trình lâu dài đến thiền sư Ẩn Không là người hoàn tất việc biên soạn cuối cùng
1.1.2 Truy ền bản
Thiền uyển tập anh là một trong những tác phẩm mở đầu cho văn xuôi tự sự thời
trung đại Tác phẩm đã có một bước đi khá dài trên lộ trình văn học Thời gian với
Trang 15những gập ghềnh của nó đã làm đổi thay mọi thứ Đầu thế kỷ XV, giặc Minh ra tay
hủy diệt sách vở của ta, Thiền uyển tập anh nhờ lớp áo nhà chùa mới thoát khỏi bàn
tay đẫm máu ấy Thế nhưng, cát bụi thời gian cũng làm cho nó ít nhiều đổi thay diện
mạo
Thời gian gần nhất được đề cập trong truyện là nửa đầu thế kỷ XIII, trong khoảng những năm 1230 Vì cư sĩ Ứng Vương, người cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông được ghi tiểu truyện làm quan dưới triều Chiêu Lăng Trần Thái Tông (ở ngôi 1225 – 1231) Thiền sư Y Sơn, người cuối cùng của Thiền phái Tì – ni – đa – lưu – chi, mất năm 1213 Như vậy, tác phẩm ra đời sau đó ít lâu, khoảng năm 1337 như đã nói ở trên Từ mốc thời gian đó, người ta có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận
ra sự có mặt của Thiền uyển tập anh trong mối tương quan với các tác phẩm khác
Lịch sử lưu truyền văn bản trải qua một thời gian lâu dài, từ thời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn cho đến ngày nay Tác phẩm lưu truyền dưới hình thức khắc in và chép tay
Đối chiếu Thiền uyển tập anh và Lĩnh nam chích quái, một tác phẩm được cho
là của Trần Thế Pháp viết vào thời Trần, người ta tìm thấy bốn truyện trong Lĩnh
Nam chích quái có n ội dung và cách diễn đạt giống như của Thiền uyển tập anh Đó
là truyện Không Lộ và Giác Hải của thiền phái Vô Ngôn Thông và truyện Đạo Hạnh, Minh Không của thiền phái Tì – ni – đa – lưu – chi Theo nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát, nhiều khả năng Lĩnh Nam chích quái đã chép lại từ Thiền uyển tập anh Thứ
nhất, “cái đầu đề “chích quái” thì khả năng trích dẫn và thu lượm các tiểu truyện từ
nhi ều nguồn khác nhau là một sự thực” Thứ hai, “đọc bốn truyện này, văn phong
c ủa chúng tỏ ra thống nhất với văn phong của các truyện khác trong Thiền uyển tập anh Trong khi đó nếu so với các truyện khác của chính bản thân Lĩnh nam chích quái thì không ăn khớp lắm” [52, 29]
Đời Hồ, giặc Minh mượn cớ “phù Trần diệt Hồ” sang xâm lược Đại Việt
Chúng cướp phá và tiêu hủy mọi sách vở, thư tịch, Thiền uyển tập anh nhờ gắn mình
nơi cửa Phật nên không bị tiêu hủy Người phương Bắc đã thu lấy và dùng một phần
để viết An Nam chí nguyên Trong mục Tiên Thích của sách này có ghi vắn tắt tiểu sử
của 14 vị thiền sư trong đó có 13 vị có tên trong Thiền uyển tập anh “So sánh những
ghi chú c ủa nó về 13 vị ấy, thì trừ Thảo Đường ra, mà Thiền uyển tập anh không có
Trang 16truyện, số còn lại có văn cú hoàn toàn giống với một đoạn trong truyện của những thi ền sư ấy trong Thiền uyển tập anh” [52, 32] Như vậy, An Nam chí nguyên đã lấy
trực tiếp từ Thiền uyển tập anh hoặc gián tiếp từ một nguồn sách nào đó đã sử dụng
Thi ền uyển tập anh
Sang đời Lê, xã hội Đại Việt có sự đổi khác Nho học dần dần được xem trọng
Phật giáo mất dần vị trí độc tôn Tuy nhiên, những người nặng lòng với Phật pháp
vẫn nuôi khát vọng chấn hưng Phật học, nối tiếp con đường mà các thế hệ trước đã
qua Thi ền uyển tập anh đã được trích dẫn trong Tục Việt điện u linh tập của Nguyễn
Văn Chất Sau đó lại được một người “vốn học sách Nho, tham cầu Phật điển” đã
“sửa lại chỗ sai, bổ vào chỗ sót” để Thiền uyển tập anh lại xuất hiện vào triều Lê,
niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) Đây là bản cổ nhất, giá trị nhất hiện còn lại đến ngày nay
Đời Nguyễn, vì muốn xuất bản một bộ sử thiền tông Việt Nam, An Thiền đã góp nhặt viết thêm hoàn thành một bộ 5 quyển (gọi là Đại Nam thiền uyển truyền
đăng tập lục hay Ngự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục), trong đó Thiền uyển tập anh là quyển thượng, đứng đầu bộ sách Khi giặc Pháp sang xâm lược nước ta, bản
chép tay A2767 do trường Viễn Đông bác cổ thuê chép ra đời Chiến tranh qua đi,
hòa bình lập lại, từ đó đến nay, Thiền uyển tập anh nhiều lần được dịch sang chữ
quốc ngữ
Đời sống của Thiền uyển tập anh trong lòng dân tộc thể hiện ước vọng chấn
hưng Phật học và một phần cho thấy phong trào nghiên cứu và học tập lịch sử Phật giáo Việt Nam rất sôi động và khởi sắc Thiền uyển tập anh in bóng trong nhiều tác
phẩm văn xuôi cùng thời Khi sưu tầm và tuyển chọn thơ văn thời Lý Trần, Lê Quý Đôn và nhiều học giả khác đã tuyển và ghi lại thơ ca của các nhà sư có trong tập truyện này
Người viết chưa trả lời được câu hỏi Thiền uyển tập anh có bao nhiêu truyền
bản Chỉ có thể biết được truyền bản xưa nhất ra đời vào thời Trần, năm 1337 và truyền bản xưa nhất hiện còn là bản năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) Thiền uyển tập
anh đã có một bước đi lịch sử khá dài Dù có đôi chỗ bị mất mát, bị thay đổi qua các
Trang 17lần in khắc ghi chép lại nhưng đây vẫn là một trong số rất ít tác phẩm còn lưu lại khá
trọn vẹn truyền bản của nó
1.1.3 Th ể loại
Hệ thống thể loại văn học trung đại rất phong phú và phức tạp Hiện nay chưa
có con số thống kê chính xác số lượng các thể loại văn học trung đại Giữa các thể
loại không có sự khu biệt rạch ròi Nhiều trường hợp, tên thể loại xuất hiện cùng với nhan đề cho nhịp nhàng, cân đối, hoặc thể hiện chức năng, hoặc thể hiện một đặc điểm nào đó của tác phẩm Chính vì thế, các nhà thư tịch học Việt Nam vẫn hết sức lúng túng khi phân loại tác phẩm văn học trung đại Việt Nam căn cứ vào thể loại Người sáng tác nhiều khi tự xác định thể loại cho tác phẩm của mình thông qua tên thể loại đi kèm với tên tác phẩm (Dụ chư tì tướng hịch văn, Thiên đô chiếu, Lâm chung chi ếu, Bình Ngô đại cáo, Văn tế Trương Quỳnh Như,…) Tuy nhiên vẫn có
một số văn bản “lưỡng tính”, không thể căn cứ vào tên gọi để xác định thể loại (vì
phần lớn các tác phẩm trung đại vốn không thuần nhất về thể loại, tên thể loại trong nhan đề chưa hẳn là thể loại vốn có của bản thân tác phẩm) hoặc không thuộc về một
thể loại nhất định Đó là trường hợp của Thiền uyển tập anh
Thi ền uyển tập anh thường được gọi tên theo hai cách Cách thứ nhất, gọi vắn
tắt là Thiền uyển tập anh Cách thứ hai, gọi kèm theo tên thể loại: Thiền uyển tập anh
ngữ lục, Thiền uyển tập anh truyền đăng lục…
“Tr ần Văn Giáp xác định Thiền uyển tập anh ngữ lục là một trong những tài
li ệu lịch sử xưa nhất của Việt Nam Ngô Tất Tố xếp Thiền uyển tập anh vào loại sử truy ện Học giả Dương Quảng Hàm giới thiệu Thiền uyển tập anh trong mục truyện
kí đời Trần Các tác giả Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi xác định sách Thiền uyển tập anh thuộc loại sử truyện Học giả Nguyễn Lang đánh giá Thiền
uy ển tập anh là tài liệu sử cổ nhất về đạo Phật Việt Nam mà chúng ta hiện có Học
gi ả Lê Mạnh Thát xem đây là một cuốn sử nhà chùa Nguyễn Huệ Chi xác định nó là tác ph ẩm ngữ lục thuộc loại tản văn Đinh Gia Khánh xếp Thiền uyển tập anh trong dòng văn học tự sự thời Lý - Trần Nguyễn Tử Cường xác định Thiền uyển tập anh nghiêng về thể loại cao tăng truyện Nguyễn Hữu Sơn xác định Thiền uyển tập anh thu ộc loại hình tiểu truyện Thiền sư Nguyễn Công Lý cho rằng đây là tác phẩm có sự
Trang 18pha tạp, đan xen giữa các thể loại như hành trạng, tiểu truyện, truyền đăng, ngữ
l ục ” [23, 2] Có nhiều ý kiến khác nhau trong cách xác định thể tài tác phẩm như
trên là do đứng ở những góc độ nhìn nhận, đánh giá khác nhau, hoặc căn cứ vào
những tiêu chí cụ thể phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau Hơn nữa, đây là một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt: tôn giáo, triết học, sử học, văn học… nên
có nhiều cách quan niệm về thể tài tác phẩm Từ những ý kiến nêu trên cho thấy, đứng ở góc độ văn chương, tác phẩm được xác định là văn xuôi tự sự, truyện, truyện
ký, tiểu truyện nhân vật, tản văn
Có nhiều yếu tố đóng vai trò làm căn cứ trong việc xác định đặc trưng thể loại
của tác phẩm văn học: chức năng, thể văn, đặc điểm thi pháp… Để khu biệt các thể
loại, văn học dân gian dựa vào chức năng trong khi văn học viết trung đại căn cứ vào
đặc điểm thi pháp Về bản chất nghệ thuật, theo quan điểm của người viết, Thiền uyển
t ập anh mang đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ký, thuộc tiểu loại tiểu truyện
thiền sư, tức truyện kể về cuộc đời, tiểu sử của các thiền sư Đặc trưng đó được thể
hiện trên nhiều phương diện: từ tính chất ghi chép người thật việc thật cho đến kết
cấu, hình tượng nhân vật và ngôn ngữ Đây là một tập truyện ký đậm chất văn
chương Và chỉ cần gọi “Thiền uyển tập anh” là đã đủ thấy vẻ đẹp cũng như màu sắc
văn chương của nó
Người xưa làm văn chương bị chi phối bởi thể loại là chính Một số thể loại văn
học trung đại hiện nay đã vắng bóng trên văn đàn “một đi không trở lại” Riêng truyện ký với tiểu loại tiểu truyện nhân vật vẫn còn thịnh hành Nó vừa là văn vừa là
sử, lưu giữ kho tàng tri thức về các danh nhân
1.2 Vị trí của Thiền uyển tập anh trong văn xuôi Phật giáo thời Lý Trần
Văn học Phật giáo thời Lý Trần là tinh hoa, đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam Văn học Phật giáo thời Lý Trần để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ Đó là nguồn di sản góp phần làm phong phú thêm các thể loại, đề tài cho văn học nước ta Theo thống kê của tác giả Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời
Lý Tr ần – diện mạo và đặc điểm, có 16 thể loại với 471 đơn vị tác phẩm trong đó đời
Lý 179 tác phẩm, đời Trần 292 tác phẩm Nếu lấy tiêu chí phân chia là vần thì: sấm
vĩ, từ khúc, kệ, thơ Thiền, ca, ngâm, phú, minh được viết bằng văn vần; ngữ lục, tụng
Trang 19cổ, niệm tụng kệ, bi, ký, tự, luận thuyết tôn giáo, truyện ký được viết bằng văn xuôi Tuy nhiên sự phân chia đó chỉ mang tính tương đối vì đường biên ranh giới giữa các
thể loại vốn không rạch ròi Một số thể loại thường được phối hợp, gắn kết với nhau như minh, bi ký, ngữ lục và kệ Một số khó phân định thể loại như kệ và thơ Thiền,
ngữ lục và truyện ký… chỉ có thể xác định thể loại khi đứng ở một góc độ nhất định
Thiền uyển tập anh là tác phẩm văn xuôi Thiền uyển tập anh vẫn có tên gọi là Thi ền uyển tập anh ngữ lục bên cạnh những tác phẩm ngữ lục, tụng cổ, niệm tụng kệ,
bi ký, tự, luận thuyết tôn giáo, truyện ký khác Xét về mặt nội dung, nó đúng là ngữ
lục với rất nhiều đoạn thoại vấn đáp về Phật, pháp, tăng, Phật học, Thiền học Lại có
ý kiến cho rằng: đây là văn bản truyền đăng vì ghi lại các thế hệ thiền gia theo thế thứ Nhưng ở khía cạnh khác, nó lại mang đặc điểm của tiểu loại khác (như đã trình bày ở
phần trên) Mỗi góc nhìn, Thiền uyển tập anh lại có một tên gọi thể loại tương ứng
Chính vì thế, đây là tác phẩm gây tranh luận nhiều nhất về vấn đề loại thể của nó Trong khoảng 40 tác phẩm văn xuôi thuộc văn học Phật giáo thời Lý Trần,
Thiền uyển tập anh có vị trí đặc biệt quan trọng Đó là văn bản Phật giáo cổ vào bậc
nhất, có nhiều điểm gặp gỡ với Thánh đăng lục và Tam tổ thực lục vì đó không phải
là những tác phẩm ngữ lục, hay truyền đăng thuần túy Lục vốn là thể loại sử Thực
lục nhấn mạnh tính chất “ghi lại sự thật” hướng đến sự việc Ngữ lục nhấn mạnh
“ghi l ại ngôn ngữ” hướng đến lời nói Thánh đăng nhấn mạnh “ghi lại lịch sử truyền thừa” hướng đến thứ tự các đời nối tiếp nhau Tuy nhiên, nhiều trường hợp, tên gọi
thể loại trong tựa đề chưa thể hiện rõ hết đặc trưng tác phẩm
Ba tác phẩm Thiền uyển tập anh, Thánh đăng lục và Tam tổ thực lục cùng viết
theo lối chép sử biên niên (theo thế thứ các đời, theo sự việc xảy ra trong cuộc đời
mỗi vị, có tầm quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết lý) xét từ bản chất là những bộ
sử chuyên môn về lịch sử Phật giáo thiền tông Việt Nam Mà Phật giáo thiền tông
Việt Nam vào mấy trăm năm ấy giữ địa vị của một hệ tư tưởng chiếm ưu thế, có thể nói là hệ tư tưởng chủ đạo của lịch sử Việt Nam Tam tổ thực lục chép lại tiểu sử của
ba vị tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: đệ nhất tổ Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp
Loa, đệ tam tổ Huyền Quang Thánh đăng lục (Thánh đăng ngữ lục) chép về năm vị
vua – năm vị Phật tử - thiền sư đời Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh
Trang 20Tông, Minh Tông Thi ền uyển tập anh ghi lại tiểu sử của 68 vị thiền sư thuộc ba dòng
phái Vô Ngôn Thông, Tì – ni – đa – lưu – chi và Thiền Thảo Đường Việc ghi chép
lại lịch sử truyền thừa qua các đời theo thế thứ, có yếu tố của văn học chức năng, đóng vai trò quan trọng đối với lịch sử truyền thừa nhà Phật Tác phẩm, do đó, là một pho sử liệu đồ sộ giúp cho các thế hệ sau biết được căn nguyên cội rễ của Phật giáo cũng như những người đã giữ ngọn lửa nhà Thiền và lưu truyền đến ngày nay Với người biên soạn, chủ ý là văn học chức năng, phục vụ cho mục đích tôn giáo
Cả ba tập sách đều có đặc điểm của truyền đăng Thế hệ trước nối tiếp thế hệ sau, người trước truyền cho người sau ngọn đèn Thánh, biểu trưng cho trí tuệ sáng
suốt của người ngộ đạo Những vị được ghi lại tiểu sử trong ba tập sách đều là vua
hoặc thiền sư có công đức lớn trong tu hành giáo hóa, là người truyền lửa để nối tiếp
thế hệ này sang thế hệ kia lưu truyền và phát triển Phật học Tuy nhiên, Thiền uyển
t ập anh có dung lượng đồ sộ nhất viết về 68 vị và không ghi đầy đủ các vị theo thế
thứ, chỉ chọn một số gương mặt anh tú trong vườn thiền Đây là một tập sách nói về các vị thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ XIII, cũng là tài
liệu cổ nhất về đạo Phật Việt Nam mà chúng ta hiện có Thiền uyển tập anh đóng vai trò là người mở đường trong so sánh với Tam tổ thực lục và Thánh đăng lục Tuy là
người mở đường, tuy không ghi chép đầy đủ theo thế thứ, nhưng lại đạt đến đỉnh cao
bởi sự thống nhất về văn phong cũng như bút pháp nghệ thuật
Bên cạnh đó, cả ba đều mang đặc điểm của ngữ lục Đó là những lời nói pháp,
những lời giảng đạo, hay những lời khai thị của các thiền sư về yếu chỉ của đạo Phật, được xuất hiện dưới hình thức chuyện trò, trao đổi, vấn đáp giữa thầy và trò, giữa thiền sư này với thiền sư khác Cấu trúc mỗi truyện trong các tác phẩm gồm hai phần,
phần ghi chép hành trạng của các vị thiền sư và phần ghi chép các lời vấn đáp, đối thoại của các thiền sư với đồng đạo Phần ghi chép hành trạng các Thiền sư thường được bố trí ở đầu và cuối mỗi truyện, chủ yếu sử dụng hình thức ngôn ngữ văn ngôn
Phần ghi chép các câu vấn đáp, những lời bàn luận của thiền sư với một nhân vật xác định như vua, sư thầy, đạo hữu, đệ tử, tăng chúng thường sử dụng vốn ngôn từ nhà
Phật và cả vốn ngôn từ thông tục thường ngày, sử dụng đồng thời hình thức ngôn ngữ văn ngôn và bạch thoại trung đại, đặc biệt còn có các bài kệ, thi ca, thơ viếng tế mang
Trang 21cảm quan Thiền học
Hình thức kết cấu các tác phẩm cũng khá giống nhau Những lời nói, những lời
vấn đáp có khi được diễn đạt bằng hình thức văn xuôi, cũng có khi được diễn đạt
bằng những câu thơ bóng bẩy, giàu hình ảnh sinh động, lối ẩn dụ kín đáo, những nghịch ngữ nhằm thể hiện sự “ngộ đạo” của nhà sư hay nhằm mục đích “truyền đạo”,
“khai thị” cho đệ tử bằng các hình thức gợi mở hoặc đánh mạnh vào tâm thức người
hỏi, người cầu đạo giúp họ giác ngộ, bừng tỉnh, thông tỏ chân lí Các lời vấn đáp thường xoay quanh những vấn đề thuộc lĩnh vực Phật học như Phật tính, Phật tâm, chân như, niết bàn, sinh tử, vô thường, hằng thường, sắc không, nhằm đưa đệ tử xa
bến mê về bờ giác Những lời ấy đúc kết thật ngắn gọn, cô đọng và sinh động những tín điều, giáo lý uyên áo của nhà Phật Mỗi vị thiền sư là một ngọn đèn thắp sáng vườn thiền và họ truyền lại tư tưởng mẫn tuệ cho các thế hệ tiếp sau Khi Phật giáo
thịnh hành và trở thành quốc giáo ở Việt Nam từ thế kỷ X, đã có rất nhiều tác phẩm
ngữ lục Thiền tông ra đời: Thượng sĩ ngữ lục (Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung),
Thạch thất mị ngữ, Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục (Trần Nhân Tông), Đoạn sách lục
(Pháp Loa), Ph ổ Tuệ ngữ lục (Huyền Quang) Trong đó, Thánh đăng ngữ lục, Thiền
uy ển tập anh, Tam tổ thực lục là ba tác phẩm tiêu biểu xét về phương diện giá trị văn
chương và vai trò bảo tồn thơ ca dân tộc
Truyền đăng ghi chép các thế hệ truyền thừa của nhà Phật Ngữ lục ghi chép các
lời truyền dạy của thầy với trò, của đức chí tôn với đệ tử Đây là những thể loại đặc
trưng của văn xuôi Phật giáo Trong Thiền uyển tập anh, có “truyền đăng”, có “ngữ
l ục” nhưng nó không mang tính chất truyền đăng hay ngữ lục thuần túy Đó là những
tên gọi căn cứ vào chức năng tôn giáo của nó
Thời Lý Trần là thời kỳ mà văn học Phật giáo có thành tựu sáng giá nhất, hấp
dẫn nhất Đoạn đường đi càng dài, văn học Phật giáo càng đánh rơi những giáo lý uyên áo để trở nên mềm mại uyển chuyển, gần gũi với đời thường; nghĩa là phương
diện văn chương càng rõ, giá trị văn chương càng đậm Thiền uyển tập anh, Thánh
đăng lục và Tam tổ thực lục là bộ ba tác phẩm có đặc điểm nghệ thuật khá giống
nhau và gần với thể loại truyện ký So ba tác phẩm với nhau, Thiền uyển tập anh là
gần với thể loại truyện ký, tiểu loại tiểu truyện thiền sư hơn cả Nghĩa là nó rời xa văn
Trang 22học chức năng, gần với văn chương nghệ thuật Vẻ đẹp văn chương ấy sẽ được làm rõ trong những chương tiếp theo
1.3 Vị trí của Thiền uyển tập anh trong văn xuôi trung đại
1.3.1 Văn xuôi Việt Nam thời trung đại – quá trình hình thành và phát triển
Từ trước thế kỉ thứ X, thời Bắc thuộc, người Việt đã biết chữ Hán, đi thi, sáng tác văn chương Vì mục đích chính trị, người phương Bắc dạy chữ Hán cho người Nam, từ đó xuất hiện nhiều nhân vật uyên bác, nổi tiếng hay chữ: Lữ Gia, Lý Tiến,
Lý Cầm, Khương Công Phụ, Khương Công Phục,… Sự việc đó đồng thời góp phần làm nảy nở nền văn chương nước Việt Theo Nguyễn Đổng Chi, Lý Tiến đời Hán, Sĩ Nhiếp đời Tam Quốc, Khương Công Phụ đời Đường là ba điểm tựa cho văn học vươn mình lớn dậy Tuy nhiên, số lượng thơ văn ít ỏi, hiện nay hầu như chẳng còn lại
gì, chính là nguyên nhân chưa thể khẳng định được hình dáng của một nền văn học
đã mở đầu từ đấy Dù vậy, đó chính là quá trình lấy đà để chuẩn bị cho bước nhảy vọt trong những thế kỉ tiếp sau
Thế kỉ thứ X được xem là điểm mốc cho sự ra đời của văn học viết dân tộc Nền độc lập dân tộc được xây dựng lại, nền văn hóa được cởi trói khỏi sự nô dịch của người phương Bắc Văn học được xác nhận chủ quyền Nhân tài xuất hiện Văn chương ươm mầm nảy nở Từ đó, hình thành nền văn học trung đại khá rạng rỡ với bước đi lịch sử một nghìn năm
Theo quy luật phát triển của một nền văn học, thơ ca ra đời trước văn xuôi
“Thơ bắt nguồn từ lời ca tiếng hát của nhân dân
t ừ cội nguồn ấy trở thành dòng thác
tr ở thành dòng sông
Có thơ rồi mới có văn xuôi, mặc dầu tiếng nói đầu miệng có trước
l ời ca tiếng hát có sau.” [25, 9]
Ngô Thì Nhậm, trong lời đề tựa tập thơ Tinh sà kỉ hành của Phan Huy Ích, có
viết: “Nước Việt ta là một nước thơ” Câu nói ấy khẳng định vai trò mở đường, thành
tựu rực rỡ của thơ ca, sự đóng góp to lớn của thơ ca trong việc làm phong phú nền văn học nước nhà Trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc, nước ta cũng
xứng danh là một “thi quốc” Tuy nhiên, nếu lấy mốc thời gian là thế kỷ thứ X, thực
Trang 23tế đã chứng minh ở thời điểm đó nước ta đã có cả thơ và văn xuôi Trần Đình Sử cho
rằng: “Văn học trung đại Việt Nam có bước đi khác: ngay từ khi mới ra đời – thế kỷ
th ứ X – dường như cùng một lúc cả thơ và văn xuôi tự sự đều xuất hiện” [13, 20]
Nguyễn Đăng Na cũng đồng quan điểm, rằng do thói quen ngôn ngữ, người ta gọt
giũa văn thành thơ, vừa ra đời văn xuôi đã được thơ hóa “Nhờ thói quen sử dụng văn
bản truyền miệng mang hình thức câu văn ngắn gọn, có nhịp, có vần và thời gian sử
d ụng loại văn bản kiểu đó kéo quá dài khiến người ta dần dần quên đi văn bản thành văn – văn xuôi – ban đầu, để rồi, lại cho rằng, thơ ca ra đời trước văn xuôi Vậy là, đồng thời với quá trình dân gian hóa văn học thành văn thì quá trình văn vần hóa và nhịp điệu hóa văn xuôi cũng diễn ra”.[37, 11] Như vậy, cùng với thơ, văn xuôi đã
xuất hiện từ thời điểm bắt đầu nền văn học trung đại
Dù có kém phần rực rỡ so với thơ, nhưng văn xuôi vẫn có giá trị riêng Với vẻ đẹp riêng của mình, văn xuôi song hành với thơ cùng góp phần hoàn chỉnh bộ mặt
nền văn học dân tộc Tiến trình văn học 10 thế kỷ được chia ra làm bốn giai đoạn, tương ứng với bốn giai đoạn ấy là bốn chặng đường phát triển của văn xuôi Giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV là giai đoạn lấy văn học dân gian và văn
học chức năng làm cơ sở Trong văn xuôi hình thành hai bộ phận văn học chức năng
và văn học nghệ thuật, có quan hệ chặt chẽ với nhau Văn học nghệ thuật tuy phát triển nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi văn học chức năng Các thể loại chủ yếu của văn học chức năng là: hịch, cáo, chiếu, biểu, văn giảng sách, luận thuyết tôn giáo Trong bộ phận văn học chức năng giai đoạn đầu có thể kể đến: Thiên đô chiếu (1010)
của Lý Thái Tổ, Lâm chung chiếu (năm 1128) của Lý Nhân Tông, Hịch tướng sĩ văn (năm 1282) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ
Trung cùng nhiều thư từ ngoại giao, văn bia… ở thời Lý cũng như thời Trần Các sáng tác này nhằm phục vụ mục đích chính trị hoặc tôn giáo Thiết chế phong kiến cùng với tư tưởng tôn giáo là hai giềng mối thống trị xã hội nên các sáng tác cũng tập trung phục vụ cho mục đích ấy của các vương triều Bên cạnh đó, văn xuôi tự sự, với
tư cách là văn học nghệ thuật cũng xuất hiện nhưng còn ít ỏi Đó chỉ là các tuyển tập ghi chép, sưu tầm truyện dân gian, truyện lịch sử Các tác phẩm văn xuôi tự sự có thể xem là văn xuôi nghệ thuật như: Báo cực truyện, Việ t điện u linh tập, Thiền uyển tập
Trang 24anh, Lĩnh Nam chích quái… chỉ là tập hợp những mẩu truyện ngắn từ lịch sử dân tộc
hoặc lịch sử tôn giáo biên soạn thành tuyển tập Chưa có truyện dài Tác giả chỉ là người biên soạn, chưa phải là người sáng tác Văn xuôi tự sự giai đoạn này dù là sơ khai nhưng có vị trí rất quan trọng, nó làm nhiệm vụ đặt nền móng cho văn xuôi trung đại về nội dung và phương thức tư duy nghệ thuật
Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, được đánh dấu bởi bước phát triển của truyện truyền kỳ Thành tựu nổi bật phải kể đến Thánh Tông di thảo (tương
truyền của Lê Thánh Tông) và Truyền kỳ mạn lục (của Nguyễn Dữ) Ngoài ra còn có:
Nam Xương tứ quái truyện (khuyết danh), Ngọc Thanh u minh thần lục (khuyết danh), Nam ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng)… Những tác phẩm này vẫn dùng yếu tố kỳ
ảo làm phương thức chuyển tải nội dung, nhưng đã tiến xa hơn một bước, lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh nghệ thuật
Giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, văn xuôi tiến thêm
một bước với sự xuất hiện của tiểu thuyết chương hồi và ký sự Có thể kể đến: Nam
triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Thiên Nam liệt truyện (chưa rõ
tác giả), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)… Đây là những tác phẩm dài,
phần lớn viết về lịch sử, bao quát một diện rộng lịch sử dân tộc trong thời gian dài
với kết cấu theo lối chương hồi kiểu như Tam Quốc và Thủy hử truyện của Trung
Quốc Bên cạnh đó, những tác phẩm ký sự nổi tiếng như Thượng kinh ký sự (Lê Hữu
Trác), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ và
Nguyễn Án) cũng góp phần nâng văn xuôi tự sự lên một tầm cao mới
Giai đoạn thứ tư, nửa cuối thế kỷ XIX, là nửa thế kỷ chuyển mình sang văn xuôi
hiện đại, đón nhận sự ra đời của những tác phẩm mang dáng dấp tiểu thuyết hiện đại,
trong đó nổi bật nhất là Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản
Với bước đi mười thế kỷ, văn xuôi trung đại khá đặc sắc nhưng hiện nay còn lại
rất ít, một số chỉ còn tên gọi, không còn truyền bản Có nhiều nguyên nhân đưa đến
sự mất mát của thơ văn Trước nhất là do chiến tranh Năm 1406, Minh Thành Tổ
lệnh cho tì tướng: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của
đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở, một mảnh một
ch ữ đều phải đốt hết Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa
Trang 25đến nay thì giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ
ch ớ để còn.” [66, 30] Trong mười thế kỷ đó, biết mấy lần binh lửa can qua nên sách
vở hầu như chẳng còn lại gì Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân khác khiến thơ văn
bị mất mát Với các văn nhân thời ấy, văn chương như thú tiêu dao “…để di dưỡng
tính tình, ch ứ cũng không công bố cho quốc dân đồng lãm, nên những lời châu ngọc của các bậc hiền triết mai một ở chỗ nhà cỏ lều tranh, ngày một hao mòn, khó mà tìm
l ại được…” [64, 7] Một số tác giả (như Trần Anh Tông, Trần Minh Tông), có lẽ
cũng vì đức khiêm tốn, đã cho đốt cháy những sáng tác của mình trước khi mất
Trong di sản còn lại hiện nay, văn vần chiếm số lượng nhiều hơn so với văn xuôi Thứ nhất, do đặc điểm của chữ Hán có nhiều hạn chế cho việc viết và truyền bá
những tác phẩm dung lượng dài trong hoàn cảnh đất nước trải nhiều binh lửa như nước ta nên số lượng tác phẩm văn xuôi ít Chính vì dung lượng dài, khó nhớ nguyên
vẹn văn bản nên khi mất mát một vài phần cũng không thể “trùng san” được Hơn
nữa, công việc sao chép, khắc in văn xuôi trong điều kiện chữ viết và nghề in chưa phát triển khó khăn nhiều so với thơ
Đến nay, phần di cảo chỉ là một hai phần trong muôn vạn nhưng vẫn đủ làm nên
vẻ đẹp riêng của thời kỳ văn học một đi không trở lại Diện mạo văn học Việt Nam không thể hoàn mỹ nếu thiếu đi những giá trị, cái “đẹp xưa” của văn xuôi thời kỳ này
Văn học trung đại Việt Nam phát triển liền mạch trong khoảng mười thế kỷ (từ
thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) để lại khối lượng đồ sộ với hàng ngàn tác gia và tác
phẩm Trong kho tàng phong phú ấy, để hiểu một tác phẩm, như Thiền uyển tập anh
chẳng hạn, cần đặt trong tiến trình văn học trung đại nói chung, văn xuôi tự sự nói riêng với những chặng đường phát triển của nó Đặt trong hệ thống, soi chiếu với
những tác phẩm cùng loại hình (tự sự), thể loại (truyện ký) sẽ giúp ta hiểu và đánh giá
về tác phẩm có căn cứ hơn, thuyết phục hơn
Căn cứ vào hình thức tổ chức ngôn ngữ (vần – đối) người ta chia ra văn vần và văn xuôi Trong bộ phận văn xuôi, chia ra truyện (văn xuôi tự sự) và các loại văn khác (biền văn, tản văn, tạp văn,…) Hầu hết các tác phẩm truyện thiên về văn chương nghệ thuật Hầu hết các thể văn còn lại thiên về văn học chức năng Đối với
Trang 26bộ phận văn học chức năng, chức năng hành chính, tôn giáo, tín ngưỡng phong tục
vẫn là yếu tố thứ nhất Nếu tách rời hoặc bỏ đi chức năng ấy thì giá trị tác phẩm giảm,
mục đích của người viết không đạt được Chất văn chỉ là phần phụ liệu điểm tô, làm đẹp và làm tăng giá trị tác phẩm, như con sóng nương theo mạn thuyền đưa tác giả tới
đích đến mong muốn Đây chỉ bàn đến bộ phận văn xuôi tự sự, mà trong đó có Thiền
uyển tập anh Theo Nguyễn Đăng Na, văn xuôi tự sự có ba thể loại: truyện ngắn, kí
và tiểu thuyết chương hồi Trong thực tế, vẫn có những loại nằm ở điểm giao thoa của
ba loại này Dưới góc độ một tác phẩm văn xuôi tự sự, Thiền uyển tập anh thường
được xếp vào loại truyện ngắn hoặc kí Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất ghi chép người thật việc thật và đặc điểm thi pháp, tác phẩm được xếp vào loại truyện kí, tiểu
loại tiểu truyện thiền sư
Bức tranh toàn cảnh của nền văn học trung đại mười thế kỷ được phân ra làm
bốn giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, văn xuôi có những bước đi khác nhau: từ những sự tích dân gian, những áng văn hành chính, tôn giáo đến truyện truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi, truyện hiện đại
Về thời gian, Thiền uyển tập anh nằm ở gần cuối giai đoạn thứ nhất Giáo sư
Trần Đình Sử đã có một bảng liệt kê các tác phẩm văn xuôi theo trình tự thời gian
như sau: Báo cực truyện (chưa rõ tác giả, thế kỷ XI), Ngoại sử ký của Đỗ Thiện (thế
kỷ XII), phần Ngoại kỷ sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (thế kỷ XIII), Việt điện u
linh tập của Lý Tế Xuyên (nửa đầu thế kỷ XIV), Thiền uyển tập anh ngữ lục (chưa rõ
tác giả, giữa thế kỷ XIV), Tổ gia thực lục (chưa rõ tác giả, nửa sau thế kỷ XIV), Lĩnh
Nam chích quái l ục của Trần Thế Pháp (cuối thế kỷ XIV)
Về nội dung, văn học giai đoạn này tập trung vào việc khẳng định nước Việt là
một quốc gia độc lập, có lịch sử, chủ quyền, lãnh thổ và có tương lai trường tồn
Thi ền uyển tập anh viết về những vị anh tú trong vườn thiền đất Việt, những “nhân
kiệt” của vùng đất “địa linh”, góp một phần vào việc khẳng định nền độc lập của dân
tộc Về nghệ thuật, yếu tố kỳ ảo là đặc trưng của văn học giai đoạn này Thiền uyển
t ập anh sử dụng rất nhiều yếu tố kỳ ảo làm nên vẻ đẹp về nghệ thuật cho tác phẩm,
góp phần thể hiện nội dung
Trang 27Về đề tài, văn học giai đoạn này hướng đến hai mảng đề tài: các sự tích dân gian
và truyện lịch sử với hai phương diện lịch sử dân tộc và lịch sử tôn giáo Từ đó, hình thành hai dòng văn xuôi tự sự viết về nhân vật lịch sử và viết về chuyện quái dị, u,
linh Thi ền uyển tập anh là tác phẩm viết về lịch sử tôn giáo ghi lại lịch sử truyền
thừa nhà Phật ở nước ta từ nguyên thủy đến đầu đời Trần trong khoảng bảy thế kỷ (VI đến XIII) Tuy nhiên, nó lại nằm ở điểm giao thoa của hai dòng văn xuôi tự sự nêu trên Nó vừa có yếu tố lịch sử vừa có yếu tố quái dị, u, linh Trong bức tranh toàn
cảnh của nền văn học với rất nhiều yếu tố pha tạp, nguyên hợp, Thiền uyển tập anh
mang đầy đủ những đặc điểm nổi bật của văn xuôi giai đoạn đầu, đóng vai trò làm
tiền đề cho văn học giai đoạn sau
Trước khi kết thúc nội dung này, người viết có đôi điều lạm bàn về giá trị văn chương trong các sáng tác văn học trung đại, đặc biệt là những sáng tác ở giai đoạn
đầu trước khi đi vào tìm hiểu giá trị văn chương trong một tác phẩm cụ thể, Thiền
uy ển tập anh Từ góc nhìn văn chương, hầu hết các thể loại văn học trung đại, không
một thể loại nào mang được tính chất thuần túy văn học Ngược lại, không có thể loại nào là không thể đạt tới chất văn học do tính thuyết phục cần có của tác phẩm và tài năng văn chương thiên phú của tác giả
Người xưa học chữ là học làm thơ ca từ phú Mỗi lời nói ra là nhả ngọc phun châu, gấm bày vóc giãi Thế nên, dù không có chủ ý làm văn chương, lời nói ra vẫn
đẹp đẽ, bóng bẩy Bình Nùng chiếu của Lý Phật Mã, Thiền nhượng chiếu của Lý Chiêu Hoàng (trên danh nghĩa), Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn,
Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi của Pháp Bảo, An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi ký của Chu
Văn Thường,… tự bản chất là những bài viết nhằm phục vụ mục đích chính trị, tôn giáo Thế nhưng phả trên từng trang chữ là tình cảm, cảm xúc của người lập văn bản
Lập luận chặt chẽ, lại thêm lời lẽ trang trọng trau chuốt, cùng những thơ ca (cổ thi, lời nhân vật hoặc lời người viết có hình thức thơ) là món trang sức tô điểm tạo nên vẻ đẹp văn chương của tác phẩm
Trong Vi ệt Hán văn khảo, Phan Kế Bính khi luận về hai chữ văn chương đã
cho rằng: “văn” là vẻ đẹp còn “chương” là vẻ sáng, văn chương là lời của người ta,
r ực rỡ, bóng bẩy, tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng…”, “văn chương tức là bức tranh vẽ
Trang 28cái cảnh tượng của tạo hóa cùng là tính tình tư tưởng của loài người bằng lời nói
v ậy ” [4, 1] Nếu xét theo quan điểm của Phan Kế Bính thì những sáng tác vốn được
cho là văn học chức năng của người đi trước đều có thể liệt vào hàng văn chương bởi quan điểm, tình cảm rõ ràng của người viết toát ra từ những lời đẹp
Khổng Tử từng nói: “ngôn chi vô văn, hành chi bất viễn” (Lời nói không có
văn chương, thì đạo hạnh không truyền được xa) Những người biết chữ ở nước ta,
những nhà Nho của chúng ta đều từ “cửa Khổng” mà ra, nên ngôn luôn đi cùng với
văn, mỗi lời nói ra đều là “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” vậy Bởi thế nên
khi biên soạn, các tác giả Thiền uyển tập anh cũng đã ít nhiều chú ý đến khía cạnh
văn chương của tác phẩm Chính vẻ đẹp văn chương này đã giúp tác phẩm trở nên bất
hủ với thời gian
Trang 29Chương 2: ĐẶC ĐIỂM KẾT CẤU
Kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm […] Tổ chức
tác ph ẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài
gi ữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm” [17, 156] Kết cấu đóng vai trò quan trọng
trong việc bộc lộ chủ đề, tư tưởng, thể hiện ngụ ý sáng tác của tác giả Kết cấu khiến tác phẩm hiện ra toàn vẹn như một chỉnh thể thẩm mỹ, có “vẻ duyên dáng của sự trật
t ự” (Horacius) Mỗi tác phẩm là một “sinh mệnh” riêng biệt nên kết cấu tác phẩm là
một kiến trúc, một tổ chức cụ thể tương ứng với nội dung cụ thể của tác phẩm Kết
cấu là vô hạn, có bao nhiêu tác phẩm là có bấy nhiêu hình thức kết cấu
Trong lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, kết cấu là yếu tố rất được coi trọng
Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long có nói: “Khê yếu sở tư, chức tại dung tài, ẩn quát
tình lý, ki ểu nhu văn thái” (lối đi phải có đường hướng, điều chủ chốt là phải theo
đường hướng đó mà nhào nặn, cắt sửa, uốn nắn tình lý, trau chuốt văn thái) Lý Ngư khi luận về “khúc” cũng cho rằng “kết cấu là quan trọng nhất” Với bất kỳ thể loại
văn học nào, kết cấu cũng đóng vai trò quan trọng như thế
Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học trung đại là tính quy phạm Đặc trưng này quy định đặc điểm kết cấu thể loại Tác phẩm văn học trung đại thường có
sự cân xứng giữa các thành phần được mô tả nhằm kể việc hoặc thể hiện nhân vật trong tính hoàn tất của nó Tác phẩm văn học trung đại khuôn mẫu trong kết cấu, đặc
biệt là những tác phẩm cùng thể loại Mỗi thể loại có một mẫu kết cấu tương ứng Tuy nhiên, mẫu kết cấu đó chỉ là sự giống nhau về bố cục, hình thức sắp xếp bên ngoài; những yếu tố bên trong vẫn có nét riêng Kết cấu ví như chiếc túi, chiếc túi ấy
phải có kiểu dáng phù hợp với thể loại, thời đại, với “cái chứa đựng bên trong” Kết
cấu là vấn đề hình thức, nhưng bất kỳ một hình thức chân chính nào cũng hàm chứa
trong đó nội dung
2.1 Cơ cấu nghệ thuật “đại đồng, tiểu dị”
Thi ền uyển tập anh là tập truyện về 68 vị thiền sư, trong đó có 67 vị có tiểu
truyện, 39 vị của phái Vô Ngôn Thông và 28 vị của phái Tì - ni - đa - lưu - chi 67
Trang 30tiểu truyện này có dung lượng dài ngắn khác nhau nhưng cùng chung một kiểu cấu trúc Mở đầu truyện giới thiệu không gian, nơi thiền sư tu hành hoặc được thờ tự Từ không gian đó mở ra hình tượng nhân vật thiền sư với các yếu tố: nguồn gốc, xuất thân – hành thiền – hành đạo Truyện khép lại với thời điểm cụ thể lúc sư an nhiên thị
tịch sau khi đọc kệ hoặc dặn dò đệ tử
Thiền uyển tập anh được viết theo lối sử biên niên Các sự việc được sắp xếp
theo trình tự thời gian Mở đầu truyện giới thiệu không gian – vùng đất Phật tôn nghiêm, nơi hành đạo của các thiền sư Từ không gian đó mở ra một con đường hành đạo giống như ta mở cửa chùa để đi vào thế giới tôn nghiêm của đất Phật 67 câu chuyện về cuộc đời của 67 vị thiền sư có kết cấu tương đối thống nhất trên một khung sườn chung Các sự kiện trong cuộc đời thiền sư được sắp xếp theo trật tự tuyến tính,
có thể mô hình hóa như sau:
Không gian
Nguồn gốc – xuất thân Hành thiền Hành đạo
Tịch
Ta có thể tìm hiểu cụ thể qua một số tiểu truyện:
Tiểu truyện của 6 vị thuộc phái Vô Ngôn Thông: Vô Ngôn Thông (tiểu truyện
thứ nhất), Khuông Việt (tiểu truyện thứ năm), Cứu Chỉ (tiểu truyện thứ mười), Thông
Biện (tiểu truyện thứ mười lăm), Bảo Giám (tiểu truyện hai mươi), Tịnh Không (tiểu truyện thứ hai mươi lăm)
TT Thiền
sư
Không gian
Trang 31Quốc)
nghiệp tại chùa Song Lâm
ở Vụ Châu
- Tham vấn sư Bách Trượng
bệnh, gọi đệ
tử đến đọc bài kệ
- Xong, chắp tay mà qua đời
Lị, huyện Thường Lạc
- Bỏ Nho theo đạo Phật
- Thụ giới với thiền sư Vân Phong
- Gọi đệ tử đến đọc bài
kệ
- Xong, ngồi
kiết già mà qua đời
3 Cứu
Chỉ
Chùa Diên Linh
- Họ Đàm
- Hương Phù Đàm, huyện Chu Minh
- Bỏ thế tục
- Thụ giới với sư Định Hương
- Gọi đệ tử đến dạy bảo, đọc kệ
- Xong, qua đời
- Họ Ngô
- Người hương Đan Phương
- Tham vấn thiền học, đắc pháp với thiền sư Viên Chiếu
- Họ Kiều
- Người hương Trung
- Xong, qua đời
6 Tịnh
Không
Chùa Khai
Quốc
- Họ Ngô
- Vốn người Phúc Châu (Trung
- Xuất gia, hành cước về phương Nam
- Đắc pháp với sư Đạo
Huệ
- Gọi tăng chúng đến nói lời vĩnh quyết
Trang 32Quốc) - Ngồi kiết
già mà viên
tịch
Tiểu truyện của 6 vị thuộc phái Tì ni đa lưu chi: Tì ni đa lưu chi (tiểu truyện
thứ nhất), La Quý An (tiểu truyện thứ năm), Vạn Hạnh (tiểu truyện thứ mười), Huệ Sinh (tiểu truyện thứ mười lăm), Pháp Dung (tiểu truyện thứ hai mươi), Viên Học (tiểu truyện thứ hai mươi lăm)
TT Thiền
sư
Không gian
- Người
nước Thiên Trúc, dòng dõi Bàlamôn
- Đi nhiều nơi mong được truyền tâm ấn của Phật, nhưng pháp duyên chưa
gặp
- Sau, đắc pháp với sư Tăng Xáng
- Gọi đệ tử đến dặn bảo
- Xong, chắp tay mà qua đời
2 La Quý
An
Chùa Long Tâm
- Họ Đinh - Đi khắp nơi tham thiền
học đạo nhưng pháp duyên chưa gặp
- Sau, đắc pháp với sư Thông Thiện
- Gọi đệ tử đến dặn bảo
- Xong, sư qua đời
- 21 tuổi xuất gia
- Theo học đạo với sư Thiền Ông
- Không
bệnh, gọi tăng chúng đến đọc bài
kệ
- Xong, sư qua đời
Trang 33kệ
- Tắm rửa,
thắp hương,
lặng lẽ qua đời
5 Pháp
Dung
Chùa Hương Nghiêm
Quốc
- Họ Hoàng
- Người hương Như Nguyệt
- Bỏ Nho theo Phật
- Đắc pháp với thiền sư Chân Không
Sư thị tịch
Căn cứ vào bảng thống kê trên, ta thấy các tiểu truyện đều có cùng một kiểu
kết cấu Các yếu tố: không gian, nguồn gốc – xuất thân, hành thiền – hành đạo, thị
tịch đều có nội dung cơ bản khá giống nhau, chỉ khác nhau ở những chi tiết riêng biệt
gắn liền với cuộc đời riêng của mỗi vị Trong cả tập truyện có 61 lần nhắc đến các
kiểng chùa, am, viện (chỉ tính trong câu mở đầu truyện, giới thiệu không gian) Đó là
những địa danh có thật, một số địa danh hiện nay vẫn còn Con số đó cho thấy sự nở
rộ của Phật giáo nước ta đầu thời phong kiến Đạo Phật phát triển, thịnh hành, chia thành nhiều dòng phái Chùa chiền, am mọc lên khắp nơi từ kinh đô, hương thôn đến
chốn sơn lâm cùng cốc Không gian xác định ở đầu truyện, thời gian xác định ở cuối truyện như đôi cánh nâng hình ảnh con người cụ thể, và đồng thời xác nhận tính chất
“người thật việc thật” của truyện Trong các yếu tố trên, quá trình hành thiền có khác
Trang 34biệt nhiều nhất Có lẽ, Phật giáo rất rộng đường tu, cõi thiền vạn nẻo, mỗi người có
một cách tìm đường khác nhau
Nhìn chung, các tiểu truyện có cấu trúc tương tự, rất ít sai biệt Những sai biệt
là những chi tiết cụ thể gắn liền với từng nhân vật
Cơ cấu nghệ thuật “đại đồng, tiểu dị” giữa các tiểu truyện trước nhất là do các
tiểu truyện cùng loại hình Loại hình tác phẩm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến kết cấu Các truyện này cùng lối kết cấu như thế bởi đều cùng tiểu loại “tiểu
truy ện nhân vật” – tiểu truyện thiền sư Nguyên nhân thứ hai, 68 tiểu truyện nằm
cùng một tập truyện và được các tác giả biên soạn khá thống nhất Hơn nữa, xét về phương diện văn học chức năng đây là tác phẩm sử nhà Phật với lối chép sử biên niên thường gặp Lối chép sử này quy định nội dung ghi chép, ghi lại tiểu sử nhân vật với các yếu tố về xuất thân, hành trạng từ thuở nhỏ đến lúc mất trong không gian cụ thể
với các mốc thời gian nối tiếp nhau
2.2 Nghệ thuật kết hợp giữa hành trạng và ngữ lục
Khi tiến hành khảo sát cấu trúc các tiểu truyện trong Thiền uyển tập anh,
Nguyễn Hữu Sơn đã nhận định: “tiểu sử các thiền sư không tuân theo một tiêu chí
th ật cụ thể, rõ ràng”, “có sự co giãn cách biệt về dung lương và độ dài ngắn”,
“trong khi s ố lớn các tiểu truyện mô tả cuộc đời các thiền sư theo quy trình khá
th ống nhất thì ở một số truyện lại hầu như chỉ là một đoạn lý lịch trích ngang hay như một đoạn sử ký, bình chú vắn tắt.” [44, 26] Từ điểm nhìn bao quát về đặc điểm
của tác phẩm như thế, tác giả xem mỗi tiểu truyện là một đơn vị tác phẩm độc lập, và
“c ấu trúc các tiểu truyện theo từng đoạn đời các thiền sư dường như có truyền thống
t ừ chính cuộc đời đức Phật” [44, 26] với ba giai đoạn quan trọng tiêu biểu: lúc thiếu
thời, khi xuất gia, sau ngày đắc đạo Từ đó, tác giả khảo sát cấu trúc các tiểu truyện thiền sư theo ba giai đoạn của cuộc đời: khi sinh, quá trình hành đạo, sự trở về cõi
Phật Đó là cách nhìn theo cảm quan Phật giáo và theo trục tuyến tính thời gian
Dịch chuyển điểm nhìn, người viết nhìn từ góc nhìn văn chương, bắt đầu từ trung tâm của tác phẩm – chân dung của thiền sư – hình tượng nhân vật Thiền uyển
tập anh chịu ảnh hưởng của thi pháp xây dựng nhân vật văn học dân gian và văn học
trung đại Nhân vật được xây dựng từ hai phương diện cơ bản lời nói và hành động
Trang 35Soi vào tác phẩm, trên chuyến hành trình ba chặng sinh – hành thiền hành đạo – tử, người viết tìm thấy hai phần tương ứng của ngôn ngữ và hành động: hành trạng và
ngữ lục
Đặc điểm hành trạng – các môtip nghệ thuật
Về vị trí, phần ghi chép hành trạng thường được đặt ở đầu và cuối tiểu truyện Đôi khi có một vài chi tiết của hành trạng xen giữa cùng với phần ngữ lục Các yếu tố
của hành trạng như: sự ra đời, họ, hương, quốc tịch, nguồn gốc gia đình, cha mẹ, cơ duyên đến với thiền (phần đầu tác phẩm) quá trình tu học, đắc đạo (thường xen với
ngữ lục), chuẩn bị cho “chuyến đi” nhẹ nhàng, thanh thản (phần kết)
Trong phần viết về hành trạng, hàng loạt môtip xuất hiện đan xen nhau: môtip
sự ra đời kỳ lạ, môtip bỏ tục xuất gia, môtip vân du tầm đạo, môtip tu thiền khổ hạnh, môtip sự gặp gỡ mang tính chất cơ duyên, môtip ngộ đạo,… môtip quy tịch
thiền sư Vân Phong, Ngộ Ấn, Chân Không, Khuông Việt, Viên Chiếu, Pháp Hiền, Sùng Phạm… Sự kỳ lạ đó có thể là các hiện tượng lạ, điềm lạ, giấc mơ lạ khi sinh
hoặc sự lạ hóa về ngoại hình tư chất Yếu tố kỳ lạ gắn liền với phương thức tư duy duyên khởi, tạo sinh kiểu Phật giáo Đó là sự tác nghiệp từ kiếp trước và là nguyên cớ cho sự nghiệp ở kiếp sau Mọi vật hợp tan không phải là vô cớ, tất cả đều có nhân duyên Có duyên thì hợp, hết duyên thì tan Cái nhân ở kiếp trước là cái quả ở kiếp sau Cuối tiểu truyện là môtip quy tịch “một chuẩn mực quy phạm, một lời kết hầu
như không thể thiếu được” [44, 51] Cái chết ở đây được thể hiện như một sự quy hóa
thuận lẽ tự nhiên Chết mà không bệnh (Sư Cảm Thành, Pháp Dung, Viên Thông, Định Huệ,…) Cái chết đã được dự cảm nên thiền sư chủ động tắm gội chay sạch, dặn
bảo đệ tử (Định Hương, Viên Chiếu, Ngộ Ấn,…) Chết trong tư thế thanh thản, an
nhiên “ch ắp tay” “ngồi kiết già”; tâm thế vui vẻ “cười” “cười lớn một tiếng”
“Dường như quan niệm triết học về bản thể tồn tại, sinh – diệt, hữu – vô, thực tướng,
s ắc –không trong cách hình dung kiếp sống “sinh ký tử quy” đã trở thành ấn tượng sâu đậm và chi phối cách bày tỏ thái độ kiểu này” [44, 51] Môtip sự ra đời kỳ lạ
Trang 36xuất hiện ở phần mở đầu trong khi môtip quy tịch xuất hiện ở cuối Đó như là một
chặng đường từ cửa sinh đến cửa tử theo cái vòng đều đặn của bánh xe luân hồi
Trên chặng đường đó, môtip bỏ tục xuất gia được đánh dấu như một bước
ngoặc trên con đường tu hành giáo hóa Sư Vô Ngôn Thông “bỏ gia sản đến thụ
nghi ệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu” Sư Cứu Chỉ “rời bỏ thế tục, tìm đến thụ giới
cụ túc với Định Hương trưởng lão” Sư Quảng Trí “bỏ tục tìm đến tham vấn thiền sư Thi ền Lão” Sư Mãn Giác “dâng biểu xin xuất gia” Sư Bảo Giám “xin thôi việc quan, đến chùa Bảo Phúc ở hương Đa Vân xin xuất gia” Sư Không Lộ “bỏ nghề theo tu hành đạo Phật” Sư Giác Hải “bỏ nghề cũ, cắt tóc đi tu” Sư Thường Chiếu
“từ quan, xuất gia học đạo với sư Quảng Nghiêm” Huệ Sinh, Trí Thiền, Viên Học…
bỏ Nho theo Phật Có nhiều nguyên nhân khiến con người bỏ tục xuất gia Chán nghiệp trường ốc, muốn tìm về thiên nhiên Phật trong sáng, bình lặng, thanh tịnh Chán cảnh thế gian mộng ảo, vinh hoa phú quý rồi cũng tan theo bọt nước, phù du như giấc mộng hồng lâu Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn cả là bởi họ cảm khái trước triết lý nhà Phật Huệ Sinh “tuổi trẻ theo Nho học, nhưng khi rỗi rãi thường nghiên
c ứu sách Phật, chư kinh bách luận không sách nào không đọc Mỗi khi nói đến những điều yếu chỉ trong Phật pháp, ông thường cảm khái rơi lệ” Sư Trí Thiền “nghe
gi ảng kinh Kim Cương đến câu:
Nh ất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán
(T ất cả pháp hữu vi
Như mộng ảo bọt bóng
Như chớp và như sương
Ph ải quan sát như vậy)
Sư bỗng nhiên cảm ngộ than rằng: “Mấy lời nói kia của Như Lai chẳng phải là
l ời nói suông Các pháp ở thế gian này đều là hư ảo không thực, chỉ có đạo mới là thực (…) Nhưng muốn vượt qua nỗi khổ sinh tử, dứt khỏi sự cố chấp hữu vô, ngoài
Trang 37Phật giáo ra thì không thể đạt được.” Thấu suốt được những điều Phật dạy, không
phải là điều ai cũng có thể
ở các nhà sư Sư Thiện Hội “từng vân du nhiều nơi để cầu học yếu chỉ Thiền tông”
Sư Mãn Giác “đeo bình bát đi vân du khắp nơi tìm đạo hữu” Sư Tín Học “một mình
một gậy đi vân du” Sư Hiện Quang “đi vân du khắp chốn tùng lâm tìm thầy học đạo” Sư Viên Học “Sư quanh năm chỉ một manh áo nẹp, đeo bình bát đi du phương khai hóa”,… Những chuyến đi đó nhằm tìm về sự yên tĩnh của cuộc sống tu hành Đó
là những chuyến hành hương về đất Phật Bashô, nhà sư – nhà thơ Haiku nổi tiếng
của Nhật từng có những cuộc du hành dài như thế Ông “phơi thân đồng nội” qua
những “cánh đồng hoang” theo “con đường sâu thẳm” tìm “lối lên miền Ô – ku”…
chuyến hành trình càng dài người hành hương càng thấu triệt về đạo và những bài thơ Haiku thấm đẫm hương thiền cũng “đầy lên trong đãy”
Ngoài ra, còn có môtip tu thi ền khổ hạnh với hình ảnh các nhà sư tọa thiền
lưng không bén chiếu, ăn rau mặc lá,… công phu dày dặn, miệt mài như người nghèo
đào kho báu Môtip ngộ đạo tức thì (đốn ngộ) chỉ nhờ một câu nói của thầy hay sự
im lặng, cú đánh, tiếng hét, hành động “chỉ cây thôi lư”… thể hiện cách quán cơ khá đặc biệt của thiền sư rất khác với lối giáo huấn của Nho gia Những môtip này cũng
xuất hiện trong nhiều tiểu truyện
Các môtip nghệ thuật làm cho phần kể về hành trạng sinh động hấp dẫn, vượt
ra khỏi phạm vi “tiểu sử” đến gần với “truyện tiểu sử” hay nói khác đi nó đã chắp đôi
cánh cho Thi ền uyển tập anh lướt nhẹ tới mảnh đất văn chương
Đặc điểm của ngữ lục – hạt nhân của ngữ lục, kệ thị tịch
Ngữ lục phần nhiều là những lời nói, lời vấn đáp Đó là những lời của thiền sư
với một nhân vật xác định như vua, sư thầy, đạo hữu, đệ tử, tăng chúng bàn luận về phép tu hành, lẽ sinh tử, thuyết giảng về tri thức, Phật pháp, chân tâm, ngũ uẩn Đó
là lời chất vấn nhằm thông tỏ chân lý, lời giảng pháp nhằm khai ngộ và truyền đạo cho đệ tử
Trang 38Ngữ lục thường được bố trí ở phần giữa, trung tâm của tiểu truyện Ngữ lục có
thể xuất hiện trong hình thức độc thoại, như lời sư Cứu Chỉ “Từ nhỏ hiếu học, đọc
kh ắp các sách kinh điển Nho, Phật Một hôm ông gập sách lại, than rằng:
- Kh ổng, Mặc cố chấp cái “hữu” Lão, Trang chìm đắm cái “vô” (không), sách v ở thế tục không phải là phép giải thoát Chỉ có Phật giáo là không chấp không
và có, liễu thoát sinh tử, nhưng phải tu trì giữ giới tinh tiến Lại phải tìm người thiện trí th ức ấn chứng mới được.”
Hay lời tâm nguyện của sư Tín Học, khi đứng trước tượng Phật đốt ngón tay phát nguyện:
- Đệ tử này đã bao kiếp lao khốn trong vòng trần ai Nay xin dứt hẳn không quay l ại nữa
Tuy nhiên, phần nhiều vẫn là lời đối thoại Trong đó, có những cách nói thông
tục, hóm hỉnh, có những lời giảng theo hệ thống, lời lẽ trau chuốt, uyên thâm Chẳng
hạn lời sư Thông Biện giải thích với thái hậu về nguồn gốc và các tông phái Phật Tổ Hay lời sư Bảo Giám thường dặn bảo học trò:
- Mu ốn lên cổ xe truyền đạo của Phật thì phải siêng năng Muốn thành tựu được sự chính giác của Phật thì phải có trí tuệ Cũng như người bắn cung, ngoài một trăm bước thì phải dùng sức để bắn tới nơi, nhưng để trúng đích thì không cần dùng
s ức vậy
Về dung lượng, có những đoạn ngữ lục rất ngắn, một câu hỏi một lời đáp; có
những đoạn rất dài như đoạn đối đáp rất đặc sắc giữa sư Viên Chiếu với học trò, đề
cập tới nhiều vấn đề trọng yếu của giáo lý Thiền tông Về hình thức, những lời vấn đáp có khi được diễn đạt bằng hình thức văn xuôi, cũng có khi được diễn đạt bằng
những câu thơ bóng bẩy, giàu hình ảnh sinh động:
Có v ị tăng hỏi:
- Đi đứng nằm ngồi đều là Phật tâm Vậy thế nào là Phật tâm?
Sư (Đạo Hạnh) đọc kệ đáp:
- Tác h ữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
H ữu không như thủy nguyệt
Trang 39Vật trước hữu không không
(Có thì muôn s ự có
Không thì t ất cả không
Có, không trăng đáy nước
Đừng vướng có không không.)
Người nói vận dụng phép “dẫn thiền nhập thi” để tạo ra những thoại đầu,
những “thiền ngữ thi ca” nhằm giác ngộ người học đạo Các nhà sư mượn thơ để nói thiền, yếu tố thi ca làm cho ngôn ngữ hàm súc, có tác dụng giác ngộ cao Lối nói thơ
đó chịu ảnh hưởng của hình thức thơ thù tiếp và phong cách giao tiếp của giới trí thức ngày xưa, chuộng lối tầm chương trích cú, mài giũa câu văn du dương, hoa mỹ Vì
vậy, tác phẩm không chỉ là tập giáo lý, mà còn là tập thi ca có giá trị văn học
Trong bộ phận thi ca đó, phần hạt nhân chính là những bài kệ thị tịch Trong số
70 bài kệ xuất hiện trong tác phẩm có 38 bài kệ thị tịch của 30 vị thiền sư (các vị Đạo
Huệ, Bảo Giám, Bản Tịnh, Đại Xả, Tịnh Giới, Nguyện Học, Huệ Sinh, Trí Thiền có 2 bài, trừ 1 bài của sư Bảo Giác không có tiểu truyện)
Về nội dung, đó là lời bàn về các vấn đề: hữu – vô, sắc – không, vô tướng –
thực tướng, tứ xà, ngũ uẩn… Đó là kinh nghiệm ngộ đạo, bài học, lời chỉ dẫn về con đường tu mà thiền sư trao truyền cho đệ tử:
Đắc thành chính giác hãn bằng tu
Chỉ vị lao lung trí tuệ ưu
(M ấy ai thành phật ở tu hành
Ch ỉ trói cùm thêm trí óc mình) (sư Bảo Giám)
Đạo vô ảnh tượng
Trang 40Tham dục truất trừ thiên lý ngoại
Hi Di chi lý nh ật bao dung
(Đuổi ngoài nghìn dăm niềm tham muốn
Để lẽ huyền vi chứa ở trong) (sư Trí Thiền)
Mê chi c ầu Phật
Hoặc chi cầu thiền
(Mê, m ới cầu Phật
Ho ặc, mới cầu thiền.) (ni sư Diệu Nhân)
Đó là giọt mật mà con ong đi bao quãng đường, lấy bao nhụy hoa mới có được
Đó là thành quả của cả một đời tu hành của mình
Về hình thức, kệ thị tịch rất cô đọng dưới hình thức thơ, nhằm khai thị cho học trò Bài kệ rất ngắn nhưng cũng cho ta thấy được phong cách khai thị giáo lý độc đáo, khai thị bằng thi ca Hình ảnh giàu sức gợi có tác dụng giác ngộ cao, giúp người cầu đạo bừng tỉnh, thông tỏ chân lí
Về vị trí, kệ thị tịch được đặt ở cuối tác phẩm, như là lời tổng kết cho cuộc đời
tu hành giáo hóa của các vị thiền sư Họ về cõi Phật nhưng tư tưởng còn để lại dẫn
dắt thế hệ sau Đó là ngọn lửa truyền đăng được trao truyền và thắp sáng Hành động
gọi trò đến đọc bài kệ cũng giống như hành động thắp đuốc Những bài kệ này vừa
thể hiện tài năng thi ca, tâm hồn phóng khoáng của các thiền sư đồng thời cũng thể
hiện tài năng của người biên soạn trong việc chọn lựa và sắp xếp các đoạn ngữ lục để
tạo sự chặt chẽ trong tổ chức tác phẩm
Ở Thiền uyển tập anh, ngữ lục đã phối hợp hài hòa với hành trạng một cách tự
nhiên trong mạch truyện dẫn dắt hứng thú của người đọc từ đầu đến cuối:
Một hôm, đệ tử thân cận là Đa Bảo hỏi sư (Khuông Việt):
- Th ế nào là thủy chung của đạo học?
Sư đáp:
- Th ủy chung vô vật diệu hư không
H ội đắc chân như thể tự đồng
(Thủy chung không vật thảy hư không
Hi ểu được chân như, thể ắt đồng.)