Về phương pháp dạy học PPDH, chương trình coi khâu đọc và thực hành làm văn là hai trục tích hợp chủ yếu, trong đó đọc là hoạt động tự chiếm lĩnh văn bản của HS, thể hiện được tư tưởng c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn văn
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ nhiều phía, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS TRẦN THANH BÌNH đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong và ngoài Trường Đại học Sư Phạm TP HCM đã hết lòng giảng dạy chúng tôi suốt khóa học
Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐH Sư Phạm TP.HCM, phòng Sau đại học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã đạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn học viên Việt Nam cùng lớp, đặc biệt là bạn Hà Thị
Mỹ Trinh lớp LL& PPDH môn Văn khóa 20 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trường THCS Phoum Ma Je
Di, huyện Xay Phou Thong, tỉnh Sa Van Na Khet, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện để tôi thực nghiệm trong quá trình làm luận văn
Tác giả HATLAVONGSA PHOUMY
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC 13
1.1 Khái niệm phương pháp đọc – hiểu 13
1.2 Vai trò của phương pháp đọc – hiểu 15
1.2.1 Phương pháp đọc - hiểu thay đổi cơ chế dạy học hiện nay 15
1.2.2 Phương pháp đọc - hiểu hình thành kĩ năng đọc - hiểu cho HS 18
1.2.3 Phương pháp đọc - hiểu phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo ở HS 21
1.2.4 Phương pháp đọc - hiểu phát huy tính tự học ở HS 24
1.3 Mô hình thiết kế bài học theo phương pháp đọc - hiểu 26
1.3.1 Xác định mục tiêu bài học 26
1.3.2 Chuẩn bị 26
1.3.2.1.Về phía GV 27
1.3.2.2 Về phía HS 31
1.3.3 Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học 33
1.3 3.1 Ổn định lớp 33
1.3.3.2 Kiểm tra bài cũ: 33
1.3.3.3 Bài mới 34
1.3.3.4 Củng cố và dặn dò 40
Trang 5CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC – HIỂU VÀO DẠY HỌC TÁC PHẨM “ĐẤT NƯỚC LÀO GIÀU ĐẸP” CỦA PHOUMI VONGVICHIT
CHO HS LỚP 8 TRƯỜNG THCS NƯỚC CHDCND LÀO 43
2.1 Khái quát về tác giả PhouMi VongViChit và tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” 43
2.1.1 Về tác giả PhouMi VongViChit 43
2.1.1.1 Con đường đời của PhouMi VongViChit 43
2.1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của PhouMi VongViChit 44
2.1.2 Về tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” 46
2.1.2.1 Vị trí, xuất xứ của tác phẩm 46
2.1.2.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm 46
2.1.2.3 Văn bản “Đất nước Lào giàu đẹp” trong SGK Ngữ văn 8 (nước CHDCND Lào) 47
2.2 Thực trạng dạy học tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit ở trường THCS nước CHDCND Lào 57
2.3 Vận dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit cho HS lớp 8 trường THCS nước CHDCND Lào 58
2.3.1 GV hướng dẫn HS đọc tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit 59
2.3.2 GV hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit 66
2.3.3 Tổng kết bài học “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit 77 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.2 Đối tượng thực nghiệm 80
3.3 Tổ chức thực nghiệm 80
3.4 Giáo án thực nghiệm 81
3.5 Biện pháp đánh giá 94
3.6 Kết quả thực nghiệm 94
Trang 63.6.1 Kết quả bài kiểm tra trước khi tiến thực nghiệm sư phạm 94
3.6.2 Kết quả các bài kiểm tra trong đợt thực nghiệm sư phạm 96
3.7 Đánh giá thực nghiệm 99
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 7Giáo viên Học sinh Đại học Sư phạm Thực nghiệm Đối chứng Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp dạy học Đảng nhân dân cách mạng Lào Văn bản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ở Việt Nam, mục tiêu chung của môn Ngữ văn bậc Trung học cơ
sở (THCS) là bồi dưỡng và nâng cao năng lực ngữ văn cho học sinh (HS) bao gồm năng lực đọc - hiểu các văn bản (VB) thường gặp (văn, thơ, truyện,…), năng lực viết các VB thông dụng và năng lực nói trước công chúng; đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông về văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, ngôn ngữ học, lịch sử văn học, nhằm tạo một phần tích luỹ ban đầu, làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách của HS
Về phương pháp dạy học (PPDH), chương trình coi khâu đọc và thực hành làm văn là hai trục tích hợp chủ yếu, trong đó đọc là hoạt động tự chiếm lĩnh văn bản của HS, thể hiện được tư tưởng coi HS là trung tâm, khác giảng văn chủ yếu nói lên hoạt động của người thầy, coi thầy là trung tâm Vì vậy, xét trên các phương diện cơ bản của chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, đọc – hiểu văn bản là khâu trung tâm của quá trình dạy học Ngữ văn,
và hoàn thiện phương pháp đọc – hiểu tác phẩm văn học là khâu trung tâm của đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Ngữ văn
1.2 Ở Lào, mặc dù nước Lào đang bước vào những chiến lựợc đổi mới
về mục tiêu, chương trình, nội dung cũng như định hướng đổi mới PPDH cho giáo viên (GV) và HS, nhưng qua tổng kết, bên cạnh một số ưu điểm, việc đổi mới vẫn được đánh giá là chưa đồng bộ, nên việc thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra vẫn còn gặp những khó khăn Đa số khó khăn vẫn được quan tâm và bàn luận nhiều nhất là sự mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo với nội dung chương trình đào tạo; giữa PPDH với chương trình Sách giáo khoa (SGK) và nền tảng kiến thức của người học
Qua thực tế dạy học nhiều năm ở trường THCS và thực nghiệm điều tra, tác giả luận văn nhận thấy việc dạy học tác phẩm văn chương ở trường
Trang 9THCS (Lào) vẫn đang tồn tại những khó khăn trên con đường tìm kiếm, đổi mới PPDH sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của HS Từ thực tế đó và từ việc nhận thấy những ưu điểm của
PPDH đọc – hiểu VB văn học trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp đọc – hiểu vào dạy học tác phẩm văn chương ở trường THCS (Lào) với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới PPDH bộ môn Ngữ Văn của nước CHDCND Lào đang còn nhiều bất cập
1.3 Trong những tác phẩm văn học được giảng dạy ở trường THCS
của nước Lào, tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit
chiếm một vị trí khá quan trọng Bài thơ được xem là “mẫu mực cho các nhà thơ Lào trong thế hệ sau về nội dung tư tưởng và nghệ thuật sáng tạo – dùng lời nói” [37, tr.52] Vì vậy, yêu cầu đặt ra khi dạy tác phẩm này là làm sao
cho HS khi đọc xong có thể hiểu và thuộc được bài thơ
Đó chính là những lí do khiến chúng tôi chọn đề tài “Dạy học đọc –
hiểu tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit ở lớp 8
trường THCS nước CHDCND Lào”
2 Lịch sử vấn đề
Đọc – hiểu VB văn học là một PPDH mới, đáp ứng xu thế đổi mới giáo dục hiện nay Ở Việt Nam, phương pháp đọc – hiểu đang được các nhà lí luận
và PPDH Ngữ văn rất quan tâm
Người đầu tiên có nhiều bài viết đi sâu về vấn đề này có thể kể đến là Nguyễn Thanh Hùng Các bài viết của ông được đăng nhiều trên tạp chí Giáo
dục Trong bài “Đọc hiểu văn chương” trên tạp chí Giáo dục số 92, tháng
7/2004, ông đã đưa ra một cách hiểu khá chi tiết về đọc hiểu, theo ông, “đọc -
hiểu không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hóa đồng thời với việc hay động vấn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để
Trang 10lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mỹ và ý nghĩa vấn có của tác phẩm văn chương Đọc - hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn rồi lại quay về với những gì đã đọc để kiểm chứng và đi tìm sự hợp sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu tưởng tượng”
Cũng trong bài viết này, ông cho rằng có 3 dạng đọc: đọc kĩ nghĩa là phải đọc
đi đọc lại nhiều lần, kế đến là đọc sâu, mục đích của đọc sâu là để hiểu những
gì mà nhà văn muốn chuyển tải trong tác phẩm trong mối liên hệ giữa nội dung và hình thức Dạng đọc cuối cùng là đọc sáng tạo Dạng đọc này nhắm
bổ sung nội dung mới làm giàu có về ý ngĩa xã hội và ý vị nhân sinh của tác phẩm Đọc hiểu hiện sự đánh giá và thưởng thức lâu dài tác phẩm
Ở một bài viết khác “Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc - hiểu
văn chương”, tạp chí giáo dục số 100, tháng 11/2004, Nguyễn Thanh Hùng
lại đi sâu làm rõ vấn đề “hiểu” trong văn bản văn chương Ông nhấn mạnh, hiểu văn bản trước hết là hiểu những gì tác giả gửi gắm trong đó, và ông nêu lên 5 nội dung cần hiểu đối với một văn bản văn chương:
- Thứ nhất, khám phá ý nghĩa nội dung chứa đựng trong văn bản Ý nghĩa này do tác giả bày tỏ, biểu lộ trong văn bản
- Thứ hai, hiểu mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả xây dựng tổ chức nên
- Thứ ba, khẳng địch mục đích, ý đồ, nội dung hiện thực, tiền giả định
và sự khái quát hóa của tác giả trong văn bản
- Thứ tư, đánh giá tư tưởng của tác giả
- Thứ năm, sáp nhập, hòa đồng thông tin và tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm phù hợp của người đọc
Bên cạnh vấn đề trên, trong bài viết này, ông còn chỉ rõ “Để quá trình
đọc - hiểu văn bản diễn ra một cách có hiểu quả cần phải tìm ra phương thức trình bày nghệ thuột của văn bản Đặc trưng thể loại và kiểu hình là nền móng để họ phát hiện ra cái mới, cái đặc sắc trong sáng tạo của người viết
Trang 11Từ đó xác định những vấn đề khó hiểu, chưa nắm bắt được rõ ràng chứa đựng trong tác phẩm Sau đó, người đọc lựa tuyển cách đọc nào để có thể tiếp cận dễ dàng, đúng hướng giá trị văn bản, mà lại thu nhận tối đa sự hiểu biết,
sự đánh giá và sự thưởng thức về văn bản”
“Con đường nâng cao hiệu quả đọc - hiểu cho HS”, tạp chí Giáo dục
số 140, kì 2-6/2006, Nguyễn Thanh Hùng đã mở đầu bài nghiên cứu của mình
bằng câu hỏi lớn: “Chúng ta có thể làm gì để nâng cao khả năng đào tạo
trình độ đọc cho HS?” Để trả lời cho câu hỏi mang tính thời sự này, ông đã
đưa ra một vài hướng dẫn để việc đọc của HS có chất lượng hơn Trước hết,
GV cần phải hướng vào sự trải nghiệm và tạo niềm vui cho HS, đồng thời phải đảm bảo việc đọc ấy mang tính khách quan khoa học, nghĩa là chú trọng bản chất của hoạt động đọc và quá trình đọc Bước tiếp theo là giúp HS biết nắm vững hình thức đọc đối với tài liệu và mục đích đọc của bản thân
Như vậy, chỉ ngắn gọn trong ba bài viết nhưng tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ, cụ thể và khái quát về khái niệm đọc - hiểu cũng như cách thức đọc - hiểu trong văn bản Những bài viết này đã đặt nền móng về mặt cơ
sở lí luận, làm tại liệu nghiên cứu hữu ích cho nhiều người
Cùng đăng trên tạp chí Giáo dục, Nguyễn Trọng Hoàn cũng trình bày
một số quan điểm của mình về vấn đề này, trong đó có bài viết “Một số ý kiến
về đọc - hiểu văn bản ngữ văn ở trường phổ thông” Nội dung của bài viết
ngoài việc làm rõ khái niệm đọc - hiểu, ông còn lí giải thêm rằng việc đọc -
hiểu một văn bản tốt sẽ làm cho kĩ năng viết của học sinh phát triển “Thông
qua việc hiểu văn học, người đọc hình thành những cách thể hiện văn bản viết (bài tập làm văn) Chính trong quá trình này, sẽ được củng cố thêm sự hiểu biết về văn bản đã học” Theo ông, đọc - hiểu, nghĩa rộng, bao gồm một quy
trình hoạt động nhằm giải mã tín hiệu ngôn ngữ thông qua việc giao tiếp với văn bản (Tạp chí Giáo dục số 143, kì 1-8/2006)
Trang 12Mở rộng sâu hơn về mối quan hệ giữa đọc - hiểu văn bản với các phân môn khác, Nguyễn Trọng Hoàn lại có một bài viết khác Bài viết có nhan đề:
“Dạy đọc- hiểu văn bản môn ngữ văn Trung học cơ sở” Trong bài viết này,
ông khẳng định một cách chắc chắn ngay từ đầu, “đọc - hiểu văn bản đối với
HS không chỉ là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức phân môn văn học mà còn là đầu mối cho việc vận dụng và liên thông kiến thức đối với các phân môn Tiếng Việt và tập làm văn” Ông cho biết khi chúng ta đọc kĩ văn bản, kết hợp
với việc giải nghĩa, xác định lớp nghĩa cơ sở (nghĩa đen) và nghĩa văn cảnh (nghĩa bóng) của những từ khó không chỉ giúp cho HS hiểu sâu văn bản, tiếp xúc được với thực chất “sinh quyển” của tác phẩm mà còn có ý chuẩn bị kiến thức cho phân môn Tiếng Việt, đồng thời cả phân môn tập làm văn (giúp cho việc dùng từ, ngữ phù hợp vơi văn cảnh của thể loại văn (Tạp chí giáo dục)
Không bàn nhiều về lý thuyết đọc - hiểu như các tài liệu nghiên cứu
khác, trong bài viết “Mới ý kiến về đọc - hiểu văn bản văn học Việt Nam lớp
10 (Chương trình chuẩn)”, trích trên tạp chí Dạy và học ngày nay số 11/2007,
Trần Thanh Bình đã đưa ra một mô hình rất cụ thể về việc giảng dạy tác pẩm văn học Việt Nam lớp 10 theo hướng đọc - hiểu Mô hình ấy có thể được tóm tắt như sau:
+ Đọc - hiểu ngôn từ văn bản
+ Đọc - hiểu hình tượng văn bản
+ Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm tác giả
- Liên hệ
Trang 13Trong mỗi phần và mỗi mục, tác giả không những giải thích rõ ràng về vai trò và nhiệm vụ của từng phần, từng mục mà còn đưa ra rất nhiều dẫn chứng xác thực Chẳng hạn như khi nói đến việc đọc và tìm hiểu chú thích,
tác giả nhấn mạnh: “Đọc và hiểu đúng ngôn từ sẽ làm cơ sở cho hoạt động
khám phá để hiểu văn bản ở những cấp độ sâu sắc hơn” và tác giả dẫn dắt
một số ví dụ trong sách giáo khoa giải thích chưa rõ nghĩa
Trần Thị Hồng Thu cũng đóng góp ý kiến của mình về vấn đề này qua bài “Mô hình đọc - hiểu theo đặc trưng loại thể với việc hình thành và bồi
dưỡng kĩ năng đọc - hiểu văn bản văn chương cho HS THPT” Qua bài viết
này, tác giả đã xây dựng mô hình đọc - hiểu tác phẩm văn chương theo loại
thể Tác giả lí giải về điều này như sau: “Tác phẩm nào cũng tồn tại trong
hình thức một thể loại nhất định và thể loại là phạm trù về chỉnh thể tác phẩm Tác giả sáng tác theo thể loại thì độc giả cũng đọc và cảm nhận theo đặc trưng thể loại đó Việc dạy và học một tác phẩm văn chương cũng phải tôn trọng đặc trưng ấy của tác phẩm” (Tạp chí Giáo dục số 162, kì 1-
5/2007)
Đồng quan điểm với Trần Thị Hồng Thu, Quách Duy Bình có bài viết
“Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản văn học” đăng trên tạp chí Dạy và học
ngày nay số 7/2007, cũng nhấn mạnh việc đọc ngắn liền với đặc trung thể loại
của tác phẩm “Mỗi thể loại cần có phương pháp đọc - hiểu riêng” Và tác
giả đã đưa ra từng phương pháp đọc - hiểu cụ thể:
*Phương pháp đọc - hiểu văn bản thơ:
- Quan sát (từ vựng, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, cú pháp…)
- Diễn giải, giải thích (văn bản có khả năng có nhiều nghĩa)
- Bình giải (có thể bằng thuyết trình)
* Phương pháp đọc - hiểu văn bản truyện hay tiểu thuyết
- Trước khi đọc (quan sát, đưa ra giả thuyết)
- Thăm dò tình huống ban đầu (đọc kĩ những dòng đầu, trang đầu)
Trang 14- Đọc khám phá (nhân vật, đối thoại, mạch tự sự,…)
- Sau khi đọc (phát huy tưởng tượng, sáng tạo)
* Phương pháp đọc - hiểu văn bản kịch:
- Khám phá văn bản (tiếp xúc sơ khởi)
- Thám hiểm văn bản (tiếp xúc kỹ để hiểu tốt hơn)
- Suy nghĩ về văn bản (tự mình khám phá ý nghĩa của văn bản)
- Diễn giải văn bản (xem xét thật chi tiết mang tính thực tiễn theo góc nhìn trình diễn)
Khác với các bài nghiên cứu trên, “Đọc - hiểu thơ trữ tình trong mối
quan hệ với hoàn cảnh cảm hứng tác giả”, Nguyễn Huy quát cho rằng, bên
cạnh việc tìm hiểu về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm thì cũng cần lưu ý đến hoàn cảnh cảm hứng của tác giả khi sáng tác để góp phần hiểu sâu sắc và đánh giá đúng hơn mỗi tác phẩm được học Vì nó có thể diễn tả nội tâm ở những trạng thái và cung bậc khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau (Tạp chí giáo dục số 182, kì 2-1/2008)
Điểm qua một số tại liệu nghiên cứu, nhìn chung phương pháp đọc - hiểu đã thực sự thu hút sự quan tâm của khá nhiều người, mỗi người có một cách lí giải khác nhau cho vấn đề mà mình quan tâm nhưng những tại liệu này gặp gỡ nhau ở một số điểm chung:
- Thứ nhất, làm rõ khái niệm đọc - hiểu
- Thứ hai, khẳng định đọc - hiểu là con đường tối ưu đối với việc giảng dạy hiện nay
- Thứ ba, đề xuất con đường tiếp cận tác phẩm theo phương pháp mới này
Đây là những đóng góp quan trọng góp phần làm thay đổi diện mạo giảng dạy văn học ở nước ta
Tuy nhiên ở Lào, dạy học đọc – hiểu là một PPDH hoàn toàn mới, chưa
có tài liệu và công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về PPDH này Vì vậy,
Trang 15việc vận dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học tác phẩm “Đất nước Lào
giàu đẹp” của PhouMi VongViChit ở trường THCS nước CHDCDN Lào là
một trong những hướng đổi mới PPDH bộ môn Văn học Lào hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu phương pháp đọc – hiểu VB văn học trong nhà trường để thấy được đây là một PPDH tích cực, phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH Ngữ văn hiện nay
- Hệ thống những tài liệu nghiên cứu để trình bày những nét khái quát
về tác giả Phoumi Vongvichit và tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp”
- Khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của
Phoumi Vongvichit ở trường THCS nước CHDCND Lào, thu thập số liệu, chỉ
ra những hạn chế của thực trạng, nguyên nhân và hướng giải quyết
- Vận dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit ở trường THCS nước CHDCND Lào, nhằm phát huy tính tích cực chủ động trong học tập của HS, nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm Ngữ văn ở trường THCS hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả sách, báo, tạp chí, tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan tới dạy học đọc – hiểu VB văn học trong nhà trường
- Những tài liệu, công trình nghiên cứu về tác giả Phoumi Vongvichit
và tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp”
- Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trong giờ giảng văn
ở trường THCS PhoumMaJedi, huyện XayPhouThong, tỉnh SaVanNaKhet (Lào)
Trang 165 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp đọc – hiểu VB văn học trong nhà trường Nghiên cứu chương trình và SGK môn Văn phần bài thơ Tìm hiểu lý thuyết về tích cực hóa và các tích cực trong nghiên cứu môn Văn
Nghiên cứu, thiết kế hoạt động dạy học tác phẩm “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit theo phương pháp đọc – hiểu, phát huy tích cực hoạt động học tập của HS qua các định hướng của GV, tiến hành thực nghiệm
sư phạm tại trường THCS Tỉnh SaVanNaKhet của nước CHDCND Lào, nhằm kiểm tra giả thiết khoa học
6 Phương pháp nghiên cứu
6 1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này thể hiện trong luận văn ở việc phân tích và tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan đến phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học trong nhà trường nhằm xây dựng một cơ sở lí luận vững chắc cho đề tài
Phương pháp này còn thể hiện ở việc thu thập và phân loại các tài liệu
nghiên cứu về tác giả Phoumi Vongvhichit và tác phẩm “Đất nước Lào giàu
đẹp”, từ đó có một cái nhìn khái quát về việc dạy học tác phẩm này ở trường
THCS nước CHDCND Lào
6 2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực tế
- Đối tượng điều tra chính là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS về bài thơ “Đất nước Lào giàu đẹp” của Phoumi Vongvichit ở trường THCS nước CHDCND lào
- Mục đích điều tra là xác định được thực trạng của dạy và học bài thơ này bằng những số liệu từ các phép đo cụ thể, chỉ ra nguyên nhân và hướng giải quyết
6 3 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Trang 17- Thiết kế giáo án dạy học bài thơ “Đất nước Lào giàu đẹp” của
Phoumi Vongvichit theo phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học
- Tiến hành dạy thực nghiệm tại một số lớp 8 ở trường THCS PhoumMaJedi, huyện XayPhouThong, tỉnh SaVanNaKhet (Lào) để kiểm tra hiệu quả của giả thuyết đưa ra
6 4 Phương pháp thống kê
Thu thập các số liệu khảo sát và thực nghiệm, thống kê và xử lí các số liệu đó, nhận xét và rút ra kết luận
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm của phương pháp đọc – hiểu trong dạy học tác phẩm văn chương ở trường THCS, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình dạy học nói chung và phù hợp với đặc trưng của việc dạy học văn nói riêng trên con đường hiện thực hóa luận điểm cơ bản của việc dạy học văn hiện nay: HS là bạn đọc Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng quy trình vận dụng PPDH theo hướng đọc - hiểu, góp thêm tiếng nói mới, cách nhìn mới trong nỗ lực tìm kiếm cách thức đổi mới PPDH hiện nay
- Là tư liệu tham khảo cho sinh viên, GV Ngữ văn trong quá trình học tập và giảng dạy; là cơ hội để tác giả luận văn có thể tìm hiểu, nghiên cứu và trau dồi chuyên môn nghiệp vụ của mình
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
1.1 Kh ái niệm phương pháp đọc – hiểu
Có rất nhiều cách giải thích về khái niệm phương pháp đọc – hiểu
Nguyễn Thanh Hùng trong bài viết “Những khái niệm then chốt của vấn đề
đọc hiểu văn chương” đã lí giải rất rõ ràng và cụ thể rằng: “Đọc – hiểu là một hoạt động của con người Nó không chỉ là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ VB mà còn là hoạt động tâm lí sinh động giàu cảm xúc có tính trực giác và khái qu át trong nếm trải của con người Qua đọc - hiểu sẽ làm xuất hiện kinh nghiệm đọc và sự biến đổi cách thức và chất lượng đọc văn hóa từng người Có thể nói đọc - hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm suy nghĩ của mình vào trang sách Đọc - hiểu không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hóa đồng thời với việc huy động vốn sống, vấn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vấn có của tác phẩm văn chương Đọc - hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn, rồi lại quay trở về với những gì đã đọc để kiểm chứng và đi tìm sự hợp sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu sức tưởng tượng” [12, tr.35] Ông khẳng định cái mới mà phương pháp đọc - hiểu mang
lại chính là “từng bước chuyển hoá việc giảng của một người thành việc đọc
của nhiều người trong quá trình dạy học văn” [12, tr.36]
Cùng nghiên cứu đề tài này, Trần Đình Sử cũng chia sẽ quan điểm của mình qua bài “Đọc hiểu văn bản – khâu đột phá trong nội dung và phương pháp đọc văn hiện nay” Ông nhấn mạnh: “Bản thân văn học nghệ thuật (và nói chung các VB) là sáng tạo ra cho từng người đọc Họ phải tự mình đọc
Trang 20lấy thì hình tượng, cảm xúc từ VB mới dấy lên trong lòng mình Người ta không ai thưởng thức hộ cái đẹp phong cảnh,….cho người khác, cũng không
ai xem hộ một bộ phim, thưởng thức một bài thơ cho kẻ khác,… Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em có thể đọc hiểu bất cứ
VB nào cùng loại Từ đọc - hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ” [30,
VB, phải tìm cái chưa hiểu mới kích thích hứng thú tìm hiểu của HS Hai, những điều mà HS đã hiểu mà cũng nêu vấn đề thì thực vô ích và nhàm chán
Vì thế không đòi hỏi cái gì cũng dạy, cần tập trung vào chỗ HS khó hiểu hay không hiểu, tô đậm hay “lạ hóa” những chỗ ấy tạo thành vấn đề cho học sinh Ba, vận dụng những điều đã cung cấp, đã biết để lí giải chỗ không hiểu
đó Không bao giờ cung cấp sẵn ngay kết quả đọc - hiểu cho HS” [1, tr.15]
Nhìn từ những cách giải thích trên, chúng ta dễ dàng nhận ra giữa chúng có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đều có những nét mới mà phương pháp truyền thống trước đây đã không đề cập đến HS ngày trước cũng được đọc VB nhưng GV ít khi hướng dẫn các em cách đọc như thế nào cho đúng và chính xác nên mức độ hiểu và cảm nhận tác phẩm bị giảm đi đáng kể Phương pháp đọc – hiểu ra đời đã chú trọng đến việc đọc của HS, rèn luyện cho các em cách đọc VB để từ đó có thể hiểu được đây đủ nội dung,
Trang 21ý nghĩa mà tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm Không chỉ dừng lại ở đó, theo phương pháp này HS còn có khả năng đọc – hiểu các VB khác có cùng thể loại với VB đã được học trong nhà trường
Trong bài viết “Môn Văn – thực trạng và giải pháp”, Trần Đình Sử đã
nhấn mạnh một trong ba mục tiêu của dạy học Văn là “rèn luyện khả năng
đọc – hiểu các VB, đặc biệt là VB văn học, một loại VB khó nhằm tạo cho HS biết đọc văn một cách có văn hoá, có phương pháp, không suy diễn tuỳ tiện, dung tục Năng lực đọc được thể hiện ở việc HS tự mình biết đọc, hiểu, nắm được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm” Với những ưu điểm như thế,
phương pháp đọc – hiểu đã đóng vai trò chủ đạo trong dạy học Văn hiện nay
1.2 Vai trò của phương pháp đọc – hiểu
1.2.1 Phương pháp đọc - hiểu thay đổi cơ chế dạy học hiện nay
Khi HS muốn hiểu được tác phẩm thì điều đầu tiên và cũng là bước quan trọng nhất là các em phải tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm đó Như thể có nghĩa là theo phương pháp mới HS phải được chú trọng Điều này thật khác với cách dạy trước đây Trong mấy chục năm qua, nền giáo dục nước ta tồn tại những phương pháp rất cổ hủ, ưu điểm thì ít còn nhược điểm thì nhiều vô
kể trong đó tác hại lớn nhất là tạo ra những con người thụ động, lười biếng trong tư duy Nguyên nhân sâu xa là do nhận thức sai đối tượng của quá trình dạy học Ngày trước họ quan niệm người thầy là trung tâm, là mặt trời của vũ trụ, còn HS chỉ là những thức thể thứ yếu quay xung quanh mặt trời Người thầy vời vị trí độc tôn của mình đã vô tình áp đặt kiến thức cho các em Nói là
“áp đặt” thậm chí là “nhồi nhét” không sai một chút nào bởi vào giai quạn ấy
có mấy khi HS được tự mình đọc tác phẩm Thầy cảm thụ hộ rồi sau đó truyền đạt lại điều đó cho những học trò của mình Do vậy, trong giờ học chỉ tòan thấy thầy thao thao bất tuyệt, còn trò thì chống cằm mà nghe thầy giảng Khi kiểm tra, HS hoàn toàn không được phép nói ra ngoài phạm vi những gì
Trang 22thầy đã giảng Lúc bấy giờ tồn tại một cơ chế dạy học như sau: Nhà văn –
Giáo viên – Học sinh
Phan Trọng Luận có một nhận xét rất chính xác rằng: “Người GV trong
trường hợp này đã thay thế nhà văn và diễn giảng với bạn đọc bằng một “tác phẩm thứ hai” tác phẩm do chính người GV dựng lên theo chủ quan, qua lời thuyết giảng của mình Một khi mối quan hệ giữa tác phẩm và HS bị cắt đứt thì những điều GV rất tâm đặc lại rất xa lạ với HS” [19, tr.115]
Sau này, người ta nhận thấy HS mới là đối tượng chính trong quá trình dạy học thì cơ chế dạy học cũng bắt đầu có sự chuyển dịch để phù hợp với mục tiêu ấy Tuy nhiên, để thực hiện một cách triệt để và toàn diện vẫn là một vấn đề phải bàn nhiều Nhiều GV trên thực tế chỉ thay đổi về mặt hình thức còn về bản chất của quá trình dạy học vẫn không có gì thay đổi so với phương pháp truyền thống cũ Điều đó có nghĩa là GV có chú ý đến mối liên hệ qua lại giữa thầy và trò, nhưng một điều cơ bản vẫn không được giải quyết Đó là
HS vẫn chưa được tiếp xúc với nhà văn thông qua tác phẩm Do vậy, cả hai
cơ chế dạy học trên chưa có quá trình dạy học một cách đích thực Có lẽ vì nguyên nhân trên nên hiện nay những phương pháp này không còn được áp
dụng nữa Phan Trọng Luận nhận xét rằng: “Chừng nào người học chưa được
tiếp xúc với tác phẩm nhà văn chừng đó chưa có hoạt động dạy học văn đích thực” [18, tr.93] Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, thực hiện theo
tinh thần “đổi mới phương pháp giảng dạy”, trong các giờ dạy, GV ít khi sử
dụng phương pháp này nếu không thực sự cần thiết
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, dạy và học được soi sáng bởi nhiều hình thức khác nhau thì lúc này đây, vấn đề người học mới được quan tâm và phát huy một cách triệt để Đến lúc này, HS không chỉ được sống trong bầu không khí thân thiện, cởi mở giữa thầy cô, bạn bè mà còn được là bạn tâm giao với nhà văn
Trang 23Sau đây là mô hình so sánh cụ thể giữa dạy học cổ truyền với các mô hình dạy học mới:
Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu
và lĩnh hội, qua đó hình
thành kiến thức, kĩ năng,
tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; HS tìm
tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
khai thác và xử lý thông tin,… tự
hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Học để đối phó với thi
cử Sau khi thi xong
những điều đã học
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai
Trang 24thường bị bỏ quên hoặc
ít dùng đến
Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
Nội dung Từ sách giáo khoa đến
sách giáo viên
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm bảng tàng, thực tế….gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
Các phương pháp tìm tòi, điều
trà ,giải quyết vấn đề, dạy học
Cơ động, linh hoạt: học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với GV
Phương pháp đọc - hiểu nhìn chung đã áp dụng hiệu quả cơ chế dạy học trên Chính vì vậy, giờ dạy theo phương pháp đọc - hiểu luôn tạo sự thoải mái, sinh động cho HS
1.2.2 Phương pháp đọc - hiểu hình thành kĩ năng đọc - hiểu cho HS
Một trong những hoạt động cơ bản trong cơ cấu dạy và học văn hiện nay là giúp HS “biết đọc” tác phẩm, biết tái hiện hình tượng, nội dung chứa đựng trong tác phẩm, để trên cơ sở đó giúp các em biết phân tích cái hay, cái
Trang 25đẹp của nó Hoạt động này nhằm hai mục đích Một là, giúp cho HS, qua việc
tự mình tiếp xúc với thế giới sáng tạo của văn học mà tiếp thụ những giá trị tinh thần của dân tộc chứa đựng trong đó, để được bồi dưỡng về tâm hồn, tư tưởng; hai là qua đó mà HS được học tập, rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích tác phẩm để sau này, trong suốt cuộc đời có thể tự mình biết đọc, biết tiếp xúc, chiếm lĩnh được kho tàng các giá trị văn học mà trong thời gian học ở nhà trường các em chỉ biết được một số lượng ít ỏi Để đáp ứng được yêu cầu trên, trong suốt quá trình dạy, GV luôn chú trọng, hướng dẫn HS những kĩ năng đọc - hiểu
Đọc là một thao tác trực cảm ngôn từ Ở đây, do tính phi vật thể của ngôn ngữ văn học - việc đọc phải bằng hồi ức, liên tưởng, tưởng tượng làm rõ dần các lớp nghĩa của văn bản Hơn nữa, ngôn từ trong tác phẩm thường không tồn tại ở dạng đơn nhất, ngẫu nhiên mà tồn tại trong kết cấu nghệ thuật
Vì vậy nó có giai điệu tiết tấu hàm chứa giọng điệu của nhà văn Đọc đúng giai điệu, tiết tấu sẽ xác định được giọng điệu đó, xác định được tâm thế và cảm hứng chiếm lĩnh bề sâu của hình tượng tác phẩm Mặt khác, đọc không chỉ là việc làm đầu tiên, đọc còn xuyên thấm trong toàn bộ quá trình phân tích tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung tác phẩm, xuyên thấm trong so sánh khái quát và cả việc làm cuối cùng của giờ học: đọc ngay cả khi làm “luyện tập” để tái hiện một cách sâu sắc nhất, trọn vẹn nhất hình tượng tác phẩm đã cảm nhận được từ các việc làm trên Như vậy, việc đọc có vai trò rất quan trọng trong giờ dạy học văn và GV sẽ trang bị cho HS những cách đọc để việc đọc - hiểu VB của các em hiệu quả hơn
Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ đọc thông, đọc thuộc, không vấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng đọc đúng chỗ là một trình độ Bước thứ hai là đọc kĩ, đọc sâu, biết được cách hành văn, sắp xếp ý, dụng ý trong dùng
từ, ngắt câu, chơi chữ Bước thứ ba là đọc - hiểu thông điệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức độ rất cao Nhưng đọc văn là để cảm, để sống,
Trang 26để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân, cho nên đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất Người đọc phải tìm được cái nghĩa mà người đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái nghĩa ngoài tầm kiểm soát của tác giả
Đó là đọc sáng tạo Như vậy, theo phương pháp mới này, HS sẽ được rèn luyện các kĩ năng đọc từ thấp đến cao Để việc đọc đem lại hiệu quả cao, khi đọc GV hướng dẫn các em đọc kết hợp với thể loại của tác phẩm đó nghĩa là đối với một bài thơ trữ tình, HS sẽ có cách đọc khác với cách đọc của một tác
phẩm tự sự hay nghị luận Chẳng hạn như khi đọc VB “Hịch tướng sĩ” thì
giọng đọc thay đổi tùy thuộc vào nội dung của từng đoạn: có khi đau đớn, có khi tức giận, có khi tiết tha, đằm thắm,… Nếu không phân biệt được điều này,
HS sẽ dễ rơi vào tình trạng hiểu sai nội dung của tác phẩm Nói như vậy không sai một chút nào bởi đọc là chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa kì diệu của tác phẩm văn chương Nếu đọc đúng thì cánh cửa ấy sẽ mở ra còn không thì nó mãi mãi “im ỉm” khóa Việc đọc đúng tác phẩm sẽ dẫn đến hiểu đúng tác phẩm
Phương pháp đọc - hiểu không chỉ dừng lại ở việc rèn luyện kĩ năng đọc cho HS mà thông qua quá trình đọc như vậy còn giúp các em biết cách giải mã tác phẩm Chúng ta đều biết trong tác phẩm luôn chứa đựng những tầng nghĩa khác nhau nhưng không dễ gì có thể nhận ra ngay được điều đó bởi mỗi tác phẩm luôn có những “khoảng cách thẩm mĩ” nhất định Để vượt qua nó, đòi hỏi HS phải nỗ lực không ngừng về mặt nhận thức cũng như về tâm lí, tình cảm của mình Do vậy, trong quá trình dạy học, thông qua hệ thống các câu hỏi, GV sẽ từng bước giúp HS cảm thụ tác phẩm bằng cách khai thác từ hình thức nghệ thuật đến nội dung, bám sát vào câu chữ để từ đó khái quát lên giá trị của tác phẩm Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật của tiếp nhận VB Trong tác phẩm có giá trị, hình thức luôn thống nhất với nội dung Có lẽ không ai diễn đạt sự thống nhất mạnh mẽ này hơn nhà phê
bình người Nga Bêlinxki viết: “Trong tác phẩm nghệ thuât, tư tưởng và hình
Trang 27thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy!” Một chỗ khác ông viết: “khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt vơi nội dung tới mức là nếu tách khỏi nội dung có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung, và ngược lại, tách nội dung khỏi hình thức, có nghĩa là tiêu diệt hình thức” Lí luận Mácxit cũng khẳng định, mối quan hệ thống nhất
đó là hình thức biểu hiện nội dung, hình thức phù hợp nội dung
Nói tóm lại, phương pháp đọc - hiểu sẽ hình thành cho HS những kĩ năng đọc - hiểu để từ đó HS tự mình biết đọc, hiểu, nắm bắt được nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm Đây là một trong những điểm mới mẻ quan trọng mà phương pháp đọc - hiểu đã làm được Nó phù hợp với yêu cầu chung mà bộ giáo dục đã để ra khi giảng dạy bộ môn ngữ văn
1.2 3 Phương pháp đọc - hiểu phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo ở HS
Sáng tạo là đặc tính chung của con người bởi vì đứng trước một vấn đề mới là nào đó, bao giờ con người cũng có nhu cầu tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh nó Những nhu cầu đó trở thành động lực của sự sáng tạo Sáng tạo
là không theo trước một khuôn mẫu nào, tự mình tìm một hướng đi riêng dựa trên kiến thức nền có sẵn Bất kì một ngành nghề nào vũng đều cần đến sự sáng tạo Chính nhờ sự không ngừng sáng tạo của con người mà thế giới ngày càng phát triển Hiểu được tầm quan trọng ấy cho nên ở bất cứ thời đại nào, bất cứ lĩnh vực nào, người ta cũng luôn coi trọng đặc tính này
Trong văn chương, sự sáng tạo rất cần thiết, nó sẽ giúp nhà văn tìm và định hướng cho mình một hướng đi mới, chưa có ai khám phá Do vậy mà mỗi nhà văn đều có một phong cách, một dấu ấn ring Sự sáng tạo không chỉ cần với nhà văn mà còn cần cả với người đọc như chúng ta đã biết, trong tác phẩm văn học, tác giả không nói hết mọi điều mà luôn luôn phải dành cho người đọc “cùng sáng tạo” Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị là một tác
Trang 28phẩm có sức gợi lên trong người thưởng thức sự liên tưởng, tưởng tượng, suy nghĩ,… Trong liên tưởng, tưởng tượng… người thưởng thức phải dựa vào vấn sống của bản thân; bằng cách ấy, người thưởng thức sẽ cùng sáng tạo với tác giả, tái hiện trong tâm hồn mình nội dung tác phẩm Đặc điểm này khiến cho tác phẩm có nội dung vô hạn vì vậy, đọc tác phẩm văn học cũng là một việc
làm cần tính sáng tạo Trong Giáo trình triết học Mác- Lênin, Lênin từng nhấn mạnh: “Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở
những cái có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoan, dự báo tương lai,
có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thiết lí thuyết khóa học hết xúc trừu tượng và khái quát cao Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lí - ý thức của con ngươi mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng ấy”
Đối với HS cũng vậy, các em cũng là một độc giả và như thế trong bản thân các em cũng có sự tích cực, năng động và sáng tạo Theo các nhà tâm lí
và giáo dục học, lứa tuổi từ 12 đến 18 tuổi là lứa tuổi rất năng động, các em rất thích khám phá, thể hiện bản thân và đặc biệt trong trí óc của các em sự tưởng tượng vô cùng phong phú Do đó, sự tích cực, năng động và sáng tạo của các em rất dễ được khơi gợi Dựa vào đặc điểm này nên các nhà giáo dục hiện nay đã áp dụng phổ biến phương pháp này vào trong giảng dạy ở nhà trường hiện nay
Đây là điểm cơ bản để phân biệt giữa phương pháp hiện đại với phương pháp truyền thống Trước đây, theo các dạy cũ, tính sáng tạo của HS không được phát huy Các em chỉ có thể trả lời theo những đáp án sẵn của GV, nếu khác đi sẽ bị xem là không đạt yêu cầu Ngày nay, chặng đường giáo dục đã
có nhiều thay đổi để phù hợp với tình hình đất nước, người ta nhận thấy rằng
GV càng lao vào dạy cho HS và càng ít dành cho các em khả năng tự lực tiếp
Trang 29thu kiến thức, suy nghĩ và hoạt động thì quá trình dạy học càng trở nên kém năng động và ít kết quả Ngược lại, một quá trình dạy học mà trong đó hoạt động nhận thức sôi nổi của HS được kết hợp với lời giảng của GV sẽ đem lại cho sự nắm vững kiến thức và phát triển trí tuệ của HS Usinxki đã từng
khẳng định một cách rất chắc chắn rằng: “Một sự học tập không hề có hứng
thú và chỉ do một sức mạnh bắt buộc thì dù sức mạnh đó bắt nguồn từ một động cơ tốt đẹp - lòng yêu mến thầy giáo- sẽ giết chết tính ham học của trẻ,
mà thiếu nó thì không thể tiến xa được Còn sự học tập dựa trên sự hứng thú
sẽ giúp HS củng cố tính tự chủ và ý chí vì trong học tập không phải mọi điều kiện đều đều lý thú và buộc phải dùng đến sức mạnh của ý chí để lĩnh hội nhiều thứ” Như vậy, kích thích sự say mê học hỏi, sáng tạo là một trong
những điều không thể thiếu trong quá trình dạy học
Trong một tiết dạy văn, GV khơi gợi sự sáng tạo, chủ động, tích cưc cụa học sinh bằng rất nhiều cách Bằng những phương pháp khơi gợi hướng dẫn và để HS tiếp xúc trực tiếp, được khám phá và được thưởng thức “chất văn”, nghĩa là được thể nghiệm, nếm trải và hiểu sâu thêm những việc đời, việc người, việc mình chân thực là đã phát huy chủ thể sáng tạo tích cực trong dạy văn Đồng thời, luôn luôn tạo không khí cởi mở để các em có thể thoải mái trao đổi, tranh luận với nhau về một vấn đề trong tác phẩm Dưới sự hướng dẫn của GV, HS sẽ đi vào những cách hiểu của riêng mình và tích cực chủ động bộc lộ những cách hiểu đó Từ đó HS sẽ rút ra được chân lý và tính tích cực chủ động sáng tạo của từng HS được phát huy một cách tối đa Về
điều này, nhà thơ Tố Hữu của chúng ta đã ví rằng: “Đừng tưởng HS không
biết gì cả Có những điều các em cảm thụ khác thầy Phải khác vì các em là thế hệ mới” và Hoài Thanh cũng có sự đúc kết tương tự: “Mỗi bạn đọc đều có một cuộc sống riêng những điều từng trải riêng và đều xuất phát từ vấn nhận thức, vấn tình cảm riêng mà tiếp thu và phê phán nên ý kiến của bạn đọc nếu được gợi lên được thì rất phong phú”
Trang 30Như vậy, phát huy được tính năng động, tích cựu, sáng tạo ở HS sẽ giúp HS hiểu được tác phẩm một cách sâu sắc hơn, đồng thời, giúp các em cởi
mở, tự tin hơn đối với những cảm nhận của riêng mình về tác phẩm
1.2.4 Phương pháp đọc - hiểu phát huy tính tự học ở HS
Xã hội ngày nay phát triển với tốc độ vô cùng mạnh mẽ, kéo theo đó, kho tàng tri thức nhân loại cũng không ngừng thay đổi, trong khi đó kiến thức của mỗi người thu lượm được thường rất ít do bị hạn chế bởi nhiều nguyên nhân Do đó, để thu hẹp khoảng cách ấy, không có con đường nào khác hơn là
tự học Hiểu được tầm quan trọng đó nên tự học đã được phát động và trở thành phong trào lớn của nước ta Trong nhiều lần họp hội nghị cấp cao, bàn
về giáo dục, tư học là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất Đồng chí Đỗ Mười từng nhấn mạnh trong thư gửi Hội thảo khoa học “nghiên
cứu, phát triển tự học, tự đào tạo được tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998: “Tự
học, tự đào tạo là con đương phát triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau; đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được
m ở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”
Tự học là một khái niệm không còn mới mẻ và xa lạ đối với mỗi người Theo Từ điển tiếng Việt: “Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người
để tích lũy tri thức, kĩ năng và kinh nghiệm lịch sử - xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm kĩ năng riêng
cho cá nhân mỗi người” [ , tr.] Einstin từng nói: “Kiến thức chỉ có được qua
tư duy của con người” Một nhà khoa học Pháp cũng nhận xét rằng: “Văn hóa không nhận được từ ngoài vào mà là kết quả của việc làm bên trong, một việc làm của mình với mình” Mỗi HS ở những thời điểm khác nhau, sống ở
những đất nước khác nhau những tất cả đều có một điểm chung: khát khao tri
Trang 31thức Chính điều đó đã thôi thúc tinh thần không gừng tự học để đạt được đến đỉnh cao ấy
Tự học trong nhà trường khác như thế nào với tự học ở ngoài cuộc sống? Tự học ở ngoài cuộc sống có phạm vi rất rộng, người ta có thể thu nhận nhiều mảng kiến thức khác nhau tùy thuộc vào sự đòi hỏi của cuộc sống, của nghề nghiệp, của bản thân Còn tự học trong nhà trường chỉ qui lại ở phạm vi nhỏ hẹp tức là những kiến thức, những bài học đã được chọn sẵn và đó cũng không phải là con đường tự mày mò một mình mà luôn có sự hướng dẫn, giúp
đỡ của thầy cô Đây cũng là điểm mới mẻ mà hầu hết các phương pháp hiện nay áp dụng
Tự học trong nhà trường còn được thể hiện ở chỗ: các em không chỉ
dừng lại ở nội dung bài học trên lớp mà bên cạnh đó thầy cô sẽ đưa thêm cho
các em những tình huống có liên quan đến bài học để các em có thể nắm chắc
và hiểu sâu hơn kiến thức đã thu lượm được Hoặc cũng có khi các em thể hiện sự tự học của mình bằng cách tự mình đọc - hiểu những tác phẩm ở ngoài chương trình
Quan tâm đến vấn đề tự học của HS là một việc làm cần thiết bởi những kiến thức trong SGK chỉ là những kiến thức cơ bản và có giới hạn, trong khi đó, lượng thông tin từ bên ngoài cuộc sống lại vô cùng phong phú
và đa dạng Do đó, HS cần có phương pháp tự học mới có thể nắm bắt hết được những lượng thông tin ấy
Từ thực trạng của các PPDH cũng như việc nêu lên những ưu điểm của phương pháp đọc - hiểu để một lần nữa khẳng định rằng phương pháp đọc - hiểu là một phương pháp hữu hiệu có thể đem lại sự thay đổi đáng kể trong việc dạy văn nói chung và văn học trung đại nói riêng trong giai đoạn hiện nay vì mục tiêu hướng đến của nó là HS Mọi hoạt động dạy và học của phương pháp này điều xoay quanh HS, tạo mọi điều kiện để HS phát triển toàn diện về mọi mặt Đồng thời, giúp HS làm chủ được bản thân, tự tin, năng
Trang 32động trước cuộc sống nhưng luôn luôn chủ động, tỉnh táo để sàng lọc và thu lượm được những gì tinh túy nhất của tri thức nhân loại
1.3 Mô hình thiết kế bài học theo phương pháp đọc - hiểu
Như trên đã nói, giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại là một công việc khó Cho nên, GV không thể tùy tiện dạy theo cảm hứng hay chủ quan của mình mà cần có sự sắp xép các khâu, các bước cho hợp lí Về trình tự xây dựng bài giảng, phương pháp đọc - hiểu cũng không khác nhiều so với phương pháp cũ nhưng về bản chất thì phương pháp đọc - hiểu đã đem lại nhiều đổi mới đáng kể
mục tiêu của từng bài cũng không nằm ngoài mục tiêu chung đó Mỗi bài học thường chú trọng đến ba mặt sau: nhận thức, tình cảm, kĩ năng Về mặt nhận thức, cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản và trọng tâm Về mặt tình cảm, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, làm cho HS biết yêu cái đẹp, cái thiện; ghét cái ác, cái xấu Về mặt kĩ năng, giúp HS rèn luận kĩ năng vận dụng, thực hành
1.3.2 Chuẩn bị
Như đã trình bày ở những phần trước, cơ chế dạy học hiện nay là sự tương tác nhiều chiều giữa GV, HS và nhà văn (tác phẩm) Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng vào công tác giảng dạy thì lại xuất hiện khá nhiều điều bất
ổn Hoặc thiên về lao động của GV mà xem nhẹ lao động của HS Hoặc coi trọng cảm thụ tác phẩm mà quên mất khâu tổ chức học tập của HS Chính
Trang 33những cách giảng dạy thiên lệch như vậy đã vô hình trung rơi vào phương pháp giảng dạy cũ và như vậy HS vẫn chưa “mê” văn cũng là điều dễ hiểu mặc dù GV đã có nhiều cố gắng Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do GV chưa xác định đúng vai cho của mình và của HS trong quá trình hoạt động dạy học; GV cũng chưa hình dung ra công việc của thầy
và trò một cách cụ thể, rõ ràng Do vậy trước khi tiến hành hoạt động dạy - học trên lớp Điều tối cần thiết là GV cần có một sự chuẩn bị cho bài giảng một cách chu đáo và vạch rõ được nhiệm vụ cho cả thầy lẫn trò
Nghiên cứu VB và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ
những nội dung của bài học VB là phương tiện giao tiếp chính, là chủ đề
chính trong giờ dạy học văn Nếu GV không đọc VB sẽ không biết mình giao tiếp với HS về vấn đề gì Do đó, giờ dạy học văn đương nhiên là thất bại Nói thế có nghĩa là đọc VB là điều không được phép bỏ qua đối với bất kì một GV dạy văn nào Đọc để hiểu những gì được nói đến trong tác phẩm Đọc để biết mình sẽ truyền đạt, định hướng những gì cho HS
Tuy nhiên, nếu chỉ đọc VB thôi thì chưa đủ bởi để sáng tác tành một văn bản, tác giả chiệu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố xung quanh (hoàn cảnh lịch sử xã hội, các tư tưởng, nhận thức thẩm mĩ) Chính vì vậy, để việc giảng dạy chính xác và đem lại hiệu quả cao, GV cần tìm hiểu thêm các tư liệu, tài
liệu có liên quan về tác phẩm Trước khi dạy bài “Truyện Kiều” của đại thi
hào Nguyễn Du, GV nên tìm đọc các tư liệu về thời đại lịch sử mà Nguyễn
Du sống, tác phẩm Truyện Kiều; các tài liệu nói về Truyện Kiều; so sánh
Trang 34Truyện Kiều với VB “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân Việc
đọc thêm như vậy, không những làm tăng vốn kiến thức cho GV mà còn làm cho bài học trở nên phong phú hơn
Sau khi tìm kiếm đầy đủ những thông tin về văn bản, bước tiếp theo là
GV sẽ chuẩn bị những phương tiện dạy học để giúp bài học trở nên sinh động
và ấn tượng hơn
b Thiết kế giáo án
Một khi GV đã đảm bảo đước các bước chuẩn bị chặt chẽ, GV sẽ tiếp tục thiết kế bài học theo hướng đọc - hiểu Thông thường, trên một giáo án thường tuân theo những bước sau:
Trang 35mẻ về HS là chủ thể tiếp nhận sáng tạo trong quá trình học tập đòi hỏi phải có
sự linh động, sáng tạo vì giữa GV, HS và nhà văn thông qua tác phẩm vô cùng đa dạng Hơn thế nữa, tác dụng qua lại giữa bạn đọc với tác phẩm cũng
vô cùng sinh động thì làm sao có thể dùng một khuôn cứng nhắc của một kiểu cấu tạo giờ dạy cho bất cứ một tác phẩm văn chương nào, một bài văn nào Mặc dù vậy, trong chúng ta cũng không ai đồng tình với lối dạy tùy tiện, tự do không theo bất cứ một khuôn mẫu nào Nhưng chúng ta lại thấy rằng hơn bất
cứ môn học nào, trong môn văn, việc giảng dạy cần tạo được phóng khoáng,
ít cứng nhắc nhất Tác phẩm văn chương là một sinh mệnh cực kì đa dạng, còn HS là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng, mọi công thức khuôn sáo, máy móc trong giảng dạy một tác phẩm văn chương đều không thích hợp với bản chất đa dạng, sáng tạo của lao động phân tích và tiếp nhận văn
chương Trong công trình Lí luận dạy học hiện đại của Hồ Ngọc Đại mang
tên “Bài học là gì?” và sau đó được Phan Trọng Luận định hướng trở lại
trong cuốn Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở phổ thông (tập 1): “Bản
thiết kế giờ học không phải là một đề cương nội dung cần truyền đạt qua lời diễn giảng của GV Nội dung cốt lõi, cơ bản, chính yếu của một thiết kế gời học tác phẩm văn chương bao gồm hai thành tố hữu cơ Một là, những tình huống học tập được đặt ra từ nội dung khách quan của tác phẩm phù hợp với trình độ và đặc điểm tiếp nhận tác phẩm văn chương của lớp học, hai là, song song, ứng với nội dung trên là một hệ thống thao tác được GV sắp xếp hợp lí nhằm hướng dẫn HS từng bước xử lí để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm một cách sáng tạo Do đó, tạo được ở từng chủ thể HS một sự tự phát triển toàn diện” [22, tr.30]
Giáo án phải thể hiện rõ các nhiệm vụ và cách thức tiến hành của GV
và HS để chiếm lĩnh tác phẩm Do vậy, khi xây dựng giáo án, GV cần phải hết sức cẩn trọng từ khâu đặt câu hỏi đến những dự kiến làm việc của GV và
HS Có như thế hoạt động ở trên lớp mới đạt hiệu quả
Trang 36c Một số điểm cần chú ý khi xây dựng giáo án
Thứ nhất là câu hỏi:
Các câu hỏi phải đảm bảo nội dung kiến thức yêu cầu của bài học
Hệ thống câu hỏi phải bám sát mục đích yêu cầu, kiến thức trọng tâm bài học
Câu hỏi phải có tính hệ thống và theo trình tự hợp lí, khoa học Các câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng, liên tưởng của HS và đặc biệt là phù hợp với đối tượng của từng lớp dạy Nếu lớp yếu mà GV đưa ra câu hỏi khó, các em sẻ dễ nàn lòng, ngược lại, đối với những lớp giỏi mà câu hỏi dễ thì các em lại nảy sinh tâm lí ỷ y
Các câu hỏi GV hỏi trên lớp và các câu hỏi GV cho học sinh chuẩn
bị ở nhà phải có mối quan hệ với nhau, tránh tình trạng HS soạn bài một đàng GV nêu câu hỏi một nẻo
Nội dung câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và trực tiếp, tránh những câu hỏi đánh đố HS Các câu hỏi rối rắm, tối nghĩa và
có cấu trúc phức tạp dễ làm HS nhầm lẫn và cũng loại trừ những câu hỏi có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Câu hỏi phải gợi mở để tìm tòi vấn đề, phải đạt được mục đích kích thích sự cảm thụ của HS với tác phẩm gây được những phản ứng bên trong của HS Không nên đưa ra những dạng câu hỏi mà chỉ yêu cầu HS trả lời có hoặc không
Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mĩ, đặc biệt
là tác động đến trực giác của HS Ở dạng câu hỏi này GV phải biết chọn lựa những chi tiết nghệ thuật đặc sắn, có tác dụng thẩm mĩ cao
Thứ hai là các hoạt động của GV và HS :
Trang 37 Những hoạt động của GV chỉ mang tính chất hướng dẫn, gợi mở để học sinh tự mình khám phá vấn đề chứ không được làm thay, cảm thụ thay HS
Những yêu cầu đối với HS phải rõ ràng, trọng tâm và làm rõ mục tiêu bài học
Hoạt động dành cho HS phải đa dạng, phong phú và thể hiện rõ tính chủ động, tích cực, sáng tạo
Thứ ba là phần ghi bài trên lớp :
Nội dung bài học thể hiện những kiến thức trọng tâm mà HS cần nắm được và cũng là kiến thức được lưu lại nơi HS Cho nên, phần ghi bảng cũng rất quan trọng Nó phải đảm bảo những yêu câu sau :
Nổi bật nội dung chính của bài
1.3.2.2 Về phía HS
Như đã nói, hiệu quả giảng dạy chỉ thực sự thành công khi có sự kết hợp giữa thầy và trò Khi bản thân đứng trước một tác phẩm văn chương biết mình cần phải làm gì thì cũng phải hình dung cả công việc của HS nữa Nếu
HS chuẩn bị bài tốt, các em sẽ tham gia xây dựng bài tích cực và cũng nhờ vậy khả năng tiếp thu bài học trên lớp của các em sẽ cao, ngược lại, các em
sẽ nghe như “vịt nghe sấm” Nhấn mạnh về tầm quan trọng của vấn đề này,
GS Phan Trọng Luận đã nói: “ Việc chuẩn bị một bài văn chu đáo trước khi đến lớp đối với HS có ý nghĩa quan trọng trong việc lĩnh hội trên lớp Quá trình chuẩn bị bài văn vừa là quá trình gạn lọc những ấn tượng ban đầu để
Trang 38tiếp cận hình tượng, tính cách, để lĩnh hội chủ đề tác phẩm, vừa là chuẩn bị
cơ sở cho sự tiếp thu lời giảng của thầy giáo ” [21, tr.197] Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn rất nhiều GV xem nhẹ điều này bởi một tâm lí là làm như vậy sẽ không tạo được sự hớp dẫn nữa vì cái gì chúng xem qua thì chúng sẽ hoàn toàn không còn háo hức, cũng có khi sợ các em có những ấn tượng lệch lạc khi tự mình đọc tác phẩm Do đó, khi dặn dò các em chuẩn bị bài mới thường rất qua loa, đó chỉ là dấu hiệu xem như đúng với lịch trình mà giáo án đã đề ra và kết thúc bài học Kết quả cuối cùng của tình trạng này là
GV nỗ lực hết mình trong khi đó HS “chơi” và không biết đến nhiệm vụ cần phải chuẩn bị cho bài tiếp theo là gì
Việc HS cần chuẩn bị bài trước khi đến lớp rất quan trọng, nó sẽ giúp các em chuẩn bị được tâm thế, sẵn sàng đón nhận kiến thức mới cho buổi học tiếp theo Đồng thời, các em sẽ tích cực, chủ động để tham gia vào buổi học
đó Tuy nhiên, GV cũng nên căn cứ vào khả năng của từng lớp để đưa ra những yêu cầu cho phù hợp, tránh tạo tâm lí căng thẳng đối với các em
Một bài soạn của HS thường thể hiện những công việc sau:
- Thứ nhất, HS cần đọc văn bản thật kĩ, sau đó tập giải thích những từ khó ở trong bài và tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
- Thứ hai, các em xác định thể loại của VB xem VB đang đọc thuộc thể loại gì Những dấu hiệu nào để nhận biết điều đó Đối với tác phẩm van xuôi, học sinh cần phải tóm tắt được tác phẩm
- Thứ ba, nêu cảm nhận chung sau khi đọc xong VB Chi tiết nào, hình ảnh nào hoặc nhân vật nào để lại trong lòng ấn tượng sâu sắc nhất
Hiệu nay, có nhiều hình thức giúp HS chuẩn bị bài Có thể là phiếu học tập, trong đó GV ghi rõ các yêu cầu, nội dung để học sinh chuẩn bị Cũng có thể HS chuẩn bị bài bằng cách soạn các câu hỏi đọc - hiểu trong SGK Dù hình thức nào chăng nữa, các câu hỏi mà GV yêu cầu phải đảm bảo được tính trọng tâm của bài và quan trọng hơn nữa là khi đến lớp, GV không được quên
Trang 39khâu kiểm tra công việc chuẩn bị của HS GV đừng nên coi thường công việc này Kiểm tra việc soạn bài của các em sẽ khiến các em hiểu rằng giáo viên quan tâm, tôn trọng công sức mà mình đã bỏ ra và cũng là để cho các em thấy được việc soạn bài là cần thiết và như thế cũng giám bớt được tình trạng chép sách giải hay soạn qua loa, chiếu lệ của HS
Nói ngắn gọn lại, bước chuẩn bị trước khi đến lớp của cả GV và HS sẽ góp phần thành công rất lớn đến tiến trình hoạt động trên lớp GV soạn giáo
án kĩ, chuẩn bị đầy đủ về mặt chuyên môn, phương tiện dạy học sẽ giúp GV thêm tự tin khi đứng giảng Về phía HS, các em sẽ có tâm lí đón nhận kiến thức mới một cách chủ động và như vậy, khi lên lớp, các em tham gia xây dụng bài tốt hơn Thầy và trò trọng giờ học tác động qua lại với nhau sẽ làm nên một tiết học thú vị, hấp dẫn và lôi cuốn
1.3.3 Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học
1.3.3.1 Ổn định lớp:
Thông thường, giai đoạn này ít chiếm thời gian nhất trong giờ dạy nhưng giáo viên cũng cần cho học sinh biết đã vào giờ học để học sinh biết gạt bỏ những mối bận tâm bên ngoài và chuẩn bị tâm thế tốt trước khi tiến hành dạy và học Tuy nhiên, GV không nên tạo căng thẳng ở những giây phút này mà nên tạo sự thoải mái, cởi mở cho các em Có như vậy, các em mới cảm giác yên tâm và hoạt động một cách tích cực trong giờ học
1.3.3.2 Kiểm tra bài cũ:
Trước đây, sau khi lớp được ổn định, thông thường giáo viên sẽ kiểm tra bài cũ bởi tâm lí rằng kiến thức cũ là tiền đề của kiến thức mới, không nhớ được bài hôm trước thì bài mới ngày hôm nay sẽ tiếp thu rất kém thậm chí không đạt được kết quả Suy nghĩ như vậy không có gì sai nhưng chúng ta hãy nhìn lại thực chất của vấn đề Trong một bài học, kiến thức cũ và mới
nhiều khi đan xen với nhau Ví dụ như khi dạy bài Hịch tướng sĩ của Trần
Quốc Tuấn, sau khi tìm hiểu xong thể loại của văn bản này, GV có thể
Trang 40hỏi: “Xét về kiểu văn, hịch và chiếu khác nhau như thế nào?” Để trả lời được
câu hỏi này, bắt buộc HS phải nhớ lại thể chiếu mà các em đã được học trong văn bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn Sau đó, các em sẽ so sánh chúng với
nhau để tìm ra sự khác biệt Như vậy, qua câu hỏi này, GV có thể kiểm tra được kiến thức đã học của HS Nói như vậy để một lần nữa khẳng định mọi cấu trúc giờ dạy luôn linh hoạt và thay đổi tùy theo bài học và đối tượng HS
1.3.3.3 Bài mới
a Giới thiệu bài mới: Đây là bước đầu tiên và được xem là khá quan
trọng trong tiến trình lên lớp của GV Tuy nhiên, cho đến nay một số GV vẫn còn xem nhẹ thậm chí là bỏ qua khâu này vì họ quan niệm bước này không quan trọng, nó sẽ làm mất nhiều thời giờ của giáo viên Quan niệm như vậy là hoàn toàn sai lầm vì lời giới thiệu bài chính là con đường dẫn đắt HS chuẩn bị tâm thế để bước vào thế giới của tác phẩm Do vậy, không có lời vào bài, con đường nối giữa HS và tác phẩm sẽ gặp ít nhiều khó khăn GV có lời giới thiệu bài hay, hớp dẫn sẽ kích thích trí tò mò, sự háo hức trong lòng các em để từ
đó tạo cho các em có một động thái tích cực đối với một tác phẩm sắp được học GS Phan Trọng Luận cũng từng khẳng định tâm quan trọng của lời vào
bài trong luận điểm: Lời vào bài không phải chỉ nhằm tạo những rung động
ban đầu mà có khi lại đặt vấn đề cho một tình huống văn học có khả năng khêu gợi hứng thú tìm hiểu của HS [18, tr.232]
Ví dụ, để giới thiệu bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến có thể
kể viết: Tình bạn là một trong số những đề tài có truyền thống lâu đời của lịch
sử văn học Việt Nam Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến là một bài thơ thuộc lại hay nhất trong đề tài tình bạn và cũng thuộc loại hay nhất trong thơ Nguyễn khuyến nói riêng, thơ Nôm Đường luật nói chung Trong tiết học hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về bài thơ này