DANH M ỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN 1 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 39 2 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh 43 3 Các yếu tố màu sắc cùng xuấ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Sương Mai
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Với sự làm việc nghiêm túc của bản thân và sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình
của thầy cô, gia đình, bạn bè, luận văn này đã được hoàn thành
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Đặng Ngọc Lệ, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô, những người đã chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu; xin chân thành cảm
ơn phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Người viết đã nỗ lực hết mình để hoàn thành luận văn Tuy nhiên, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 9
Chương 1: Tổng quan về thành ngữ, tục ngữ 10
1.1.1 Khái ni ệm thành ngữ, tục ngữ 10
1.1.2 Khái quát thành ng ữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc 14
Chương 2: Từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếngViệt (so sánh với tiếng Anh) 33
2.1 Nguồn ngữ liệu 33
2.1.1 S ố lượng khảo sát 33
2.1.2 Nh ận xét chung 33
2.1.3 Nh ận xét về trường hợp thành ngữ trong tục ngữ 33
2.2 Nhận xét về từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 35
2.2.1 Tên, t ần số xuất hiện và khả năng kết hợp của từ chỉ màu sắc trong thành ng ữ, tục ngữ tiếng Việt (So sánh với tiếng Anh) 35
2.2.2 Nghĩa sở thị của từ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 50
Trang 42.3 Tiểu kết 53
Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (so với tiếng Anh) 54
3.1 Những giá trị biểu trưng về con người 54
3.1.1 Đối tượng 54
3.1.2 Thu ộc tính, tính chất 67
3.1.3 Tr ạng thái, tâm trạng 83
3.1.4 Tình tr ạng sức khoẻ 91
3.1.5 Th ời vận 96
3.2 Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng xã hội 101
3.3 Những giá trị biểu hiện của từ chỉ màu sắc về hiện tượng tự nhiên 109
3.4 Tiểu kết 116
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 131
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
1 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 39
2 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh 43
3 Các yếu tố màu sắc cùng xuất hiện trong cả hai ngôn ngữ 47
4 Sự trùng hợp trong phạm vi biểu vật của một số YTMS
trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh
52
5 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối
tượng trong TNTN tiếng Việt
55
6 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi đối
tượng trong TNTN tiếng Anh
63
7 Khoảng trống biểu trưng của YTMS trong TNTN tiếng
Anh so với tiếng Việt (phạm vi đối tượng)
66
8 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Việt thuộc phạm vi thuộc tính, tính chất bên ngoài
68
9 Tên và tần số xuất hiện của YTMS biểu trưng cho
thuộc tính bên trong trong TNTN tiếng Việt
74
10 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Anh thuộc phạm vi thuộc tính, tính chất
78
11 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Việt thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng
83
12 Tên và tần số xuất hiện của cặp màu tham gia biểu trưng
cho trạng thái, tâm trạng của con người trong cấu trúc ẩn
dụ hóa đối xứng
85
13 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Anh thuộc phạm vi trạng thái, tâm trạng
86
14 Khả năng biểu trưng của YTMS về phạm vi trạng thái,
tâm trạng trong TNTN tiếng Việt và tiếng Anh
90
Trang 715 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Việt thuộc phạm vi tình trạng sức khỏe
91
16 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Anh thuộc phạm vi tình trạng sức khỏe
93
16 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Việt thuộc phạm vi thời vận
96
17 Tên và tần số xuất hiện của YTMS trong TNTN tiếng
Anh thuộc phạm vi thời vận
20 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự
nhiên trong TNTN tiếng Việt
110
21 Tên và tần số xuất hiện của YTMS thuộc phạm vi tự
nhiên trong TNTN tiếng Anh
113
Trang 8DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 2.1: Tỷ lệ xuất hiện của các nhóm màu trong
TNTN tiếng Việt và tiếng Anh
45
2 Hình 2.2: Tỷ lệ các yếu tố màu sắc cùng xuất hiện trong
TNTN của cả hai ngôn ngữ
47
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển và trong xu thế đổi mới, hội nhập của đất nước, vấn
đề bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm sâu sắc, nhất là trong giai đoạn hiện nay
Tuỳ theo góc nhìn, văn hoá và bản sắc văn hoá của dân tộc được nghiên cứu trong
mối quan hệ liên ngành khác nhau, trong đó có mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá Mối quan hệ này ngay từ đầu đã được đông đảo giới nghiên cứu trên toàn thế
giới quan tâm và nhìn nhận khác nhau: như Humboldt với lý thuyết Ngôn ngữ và
linh h ồn dân tộc; E Sapir và Whorf với quan niệm về tính tương đối ngôn ngữ
(linguistic relativity), mà Carroll đã gọi là giả thuyết Sapir - Whorf; và cả những giả thuyết của Weisberger và Tiber, Boas, Kroeber…
Những vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ngày càng được xem xét ở diện rộng hơn nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi Thật sự ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó với nhau, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, không chỉ là công cụ để tư duy mà còn là quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực bằng mã ngôn ngữ
Để làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, việc nghiên cứu lớp thành
ngữ và tục ngữ, một trong những đơn vị cấu thành và chứa đựng văn hoá, là điều đáng được chú ý Đặc trưng văn hoá của dân tộc không chỉ thể hiện qua những quan
niệm về nhân sinh, về thế giới và kinh nghiệm đúc kết trong thành ngữ, tục ngữ mà
nó còn thể hiện thông qua những hình ảnh biểu trưng, những tính chất, sắc thái của hình ảnh mang biểu tượng Và thông qua thế so sánh đối chiếu với dân tộc khác, ta
mới nhận ra được nét đặc trưng riêng biệt và những điểm tương đồng trong cách tri
nhận và phân cắt thực tại giữa các cộng đồng thông qua mã ngôn ngữ
Ngôn ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc, do đó, xuất phát từ những cứ liệu ngôn
ngữ mang đậm dấu ấn văn hoá dân tộc, ta có thể giả định rằng có sự khác nhau đáng
Trang 10kể về đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chính vì thế người viết đã chọn đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt
qua thành ng ữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh)
2 M ục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến những mục đích sau:
- Tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hoá dựa trên cứ liệu là thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và góp phần làm rõ vấn đề hàm nghĩa văn hoá thể hiện qua ngôn ngữ
- Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của người Việt dựa trên cứ liệu là thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc, trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Anh
3 L ịch sử vấn đề:
Bàn về vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa, có nhiều khuynh hướng khác nhau Chẳng hạn như E.B Tylor (1871) nghiên cứu về văn hoá nguyên thuỷ, V.Ia Prop bàn về Folklore và thực tại, V.M Rodin (1998) tìm hiểu các trường phái văn hoá học thế giới, R Lado (1957) tìm hiểu ngôn ngữ học qua các nền văn hoá Và dưới góc độ liên ngành, vấn đề bản sắc văn hoá của dân tộc cũng đang được giới nghiên cứu quan tâm Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong mối quan
hệ với ngôn ngữ cũng đáng được chú ý
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa và theo Wardhaugh có thể quy thành ba điểm chính: thứ nhất là cấu trúc
của một ngôn ngữ quyết định cách nhìn thế giới của người nói ngôn ngữ đó; thứ hai
là văn hóa của một dân tộc tìm thấy sự phản ánh trong ngôn ngữ mà họ sử dụng; và
thứ ba là không có mối quan hệ nào cả giữa ngôn ngữ và văn hóa
Về quan niệm thứ nhất có thể kể đến các nhà ngôn ngữ Đức: Humboldt, Weisberger và Triber, các nhà ngôn ngữ Mỹ: Boas, Sapir và Whorf Với lý thuyết
của mình, Humboldt cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh hình thành nên tinh thần, ông
Trang 11nhấn mạnh vào khả năng sáng tạo ngôn ngữ trong đầu từng người nói, lời nói của
con người là tinh thần của họ, tinh thần của họ là lời nói của họ Còn L.Weisgerber công nhận rằng ngôn ngữ trong bất kì trạng thái nào cũng tạo nên một thế giới quan
trọn vẹn; mỗi ngôn ngữ gắn với một dân tộc và mỗi ngôn ngữ thể hiện một quan
niệm về thế giới và dĩ nhiên thế giới được bộc lộ một cách khác nhau
Sapir và Whorf quan niệm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá có thể được tóm tắt như sau: ngôn ngữ quyết định tư duy và quá trình nhận thức của con người, quyết định văn hoá và hành vi xã hội, thế giới quan và toàn bộ bức tranh thế
giới xảy ra trong ý thức Như vậy theo họ, văn hoá và tư duy lệ thuộc vào ngôn
ngữ, Sapir đã từng nói ngôn ngữ là “chỉ dẫn cho hiện thực xã hội” và là “chỉ dẫn
mang tính bi ểu trưng cho văn hoá” (Dẫn theo Stern 1983) Còn Whorf thì đưa ra ví
dụ sống động về cách mà người Eskimo diễn đạt khác nhau cho một từ “snow”
(tuyết) Ngoài ra, Whorf còn cho rằng việc nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của các ngôn ngữ sẽ dẫn đến những hiểu biết sâu sắc về văn hoá
Về khuynh hướng đề cao vai trò của văn hoá có thể kể đến Malinowski Tác
giả cho rằng văn hoá đóng một vai trò rất quan trọng, “ngôn ngữ nhất thiết có
ngu ồn gốc từ hiện thực của nền văn hoá” và “không thể giải thích nó được nếu không quy chi ếu liên tục vào những ngữ cảnh rộng hơn của phát ngôn bằng lời”
(Dẫn theo Stern, 1983)
Ngược lại với hai quan điểm trên, đại diện cho quan điểm thứ ba có thể tính
đến quan điểm trong công trình “Cấu trúc và chức năng trong xã hội nguyên thuỷ”,
Radcliffe - Brown cho rằng dù có một mối quan hệ nào đó rất tổng quát giữa cấu trúc xã hội và ngôn ngữ, nhưng không có mối quan hệ trực tiếp giữa những đặc trưng của cấu trúc xã hội của một cộng đồng và ngôn ngữ mà cộng đồng đó nói
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu không có nhiều ý kiến trái ngược như vậy
Hầu như những ai quan tâm nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ đều khẳng định mối quan hệ nhất định nào đó giữa chúng nhưng theo những khuynh hướng khác nhau
Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá như Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Lai, Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu, Lý Toàn Thắng, Đào Thản,
Trang 12Trần Trí Dõi, Nguyễn Đức Tồn, Phạm Đức Dương, Nguyễn Văn Nở,… Một số nhà văn hoá có đề cập đến ngôn ngữ như Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng…
Tuy đã có nhiều hướng, nhiều kết quả nghiên cứu về văn hoá, đã có những công trình đề cập đến các biểu hiện của văn hoá trên nhiều phương diện, nhưng việc làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ, đặc biệt là trên dẫn liệu tục ngữ và thành ngữ thì đang còn là một vấn đề cần phải được phân tích và hệ thống hoá một cách đầy đủ và toàn diện hơn
Khi bàn đến sự thể hiện của văn hoá, người ta nói đến những biểu hiện của văn hoá qua các phương tiện khác nhau như: qua âm thanh, màu sắc, hình khối, đường nét, và nhiều phương tiện biểu hiện khác Một trong những phương tiện quan trọng để tìm hiểu văn hoá, giải mã văn hoá là ngôn ngữ: ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ trong sáng tác dân gian… Các công trình khoa học cũng đã ít nhiều nói đến vấn đề này Các hướng nghiên cứu gồm:
Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ thi pháp học: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ (Phan Thị Đào, 2001; Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp (Nguyễn Thái Hòa) Từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá: Thành ngữ tiếng Việt nhìn từ góc độ bản sắc văn hóa
dân tộc (Nguyễn Xuân Hòa), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao người Việt (Nguyễn Nhã Bản, 2005)… Nhiều công trình nghiên
cứu văn hoá từ góc độ ngôn ngữ: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá (Nguyễn Tài Cẩn, 2005), Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hoá (Nguyễn
Quang, 2008), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Nguyễn Đức Tồn, 2002)…
Bên cạnh những khuynh hướng nghiên cứu, những công trình trên còn nhiều bài
viết, luận văn, luận án liên quan đến vấn đề, có thể kể đến một số công trình và bài
viết:
- Với đề tài “Ngữ nghĩa của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh
v ới tiếng Anh)”, Nguyễn Thị Bảo đã làm rõ ngữ nghĩa văn hoá của từ ngữ chỉ động
vật trong thành ngữ tiếng Việt trong thế so sánh với tiếng Anh
Trang 13- Nguyễn Thanh Tùng nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn
hoá c ủa nhóm từ chỉ động thực vật trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) (luận án
Tiến sĩ) Thông qua cứ liệu là nhóm từ chỉ động thực vật của cả tiếng Việt và tiếng Anh, người viết đã tìm ra được những nét đặc trưng ngôn ngữ văn hoá tương đồng
và dị biệt trong tiếng Việt so với tiếng Anh
- Với đề tài “Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể
người trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Nguyễn Thị Phượng đã
xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, trên cơ sở là những thành ngữ có
chứa bộ phận cơ thể người của tiếng Việt và tiếng Anh, và phân tích được những đặc trưng ngôn ngữ văn hóa đặc trưng trên cứ liệu tiếng Việt trong thế so sánh với
tiếng Anh
Còn về vấn đề nghiên cứu tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng
Việt có nhiều công trình, có thể kể đến một số bài viết và công trình sau:
- Trần Thị Thu Huyền có bài viết “Hoa cỏ và màu sắc trong thành ngữ tiếng
Anh và tiếng Việt”, Ngôn ngữ và đời sống, số 12, 2001 Không dẫn ra nguồn và số
lượng ngữ liệu, tác giả chỉ nêu ra những nhận xét mang tính khái quát từ những điểm tương đồng về hình thức đến những điểm tương đồng và dị biệt trong nhận
thức của hai dân tộc về “màu sắc, hoa, cỏ” trong thành ngữ - tục ngữ Ưu điểm của
bài viết là không những nêu ra được những điểm tương đồng của thành ngữ tục ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh có chứa “hoa”, “cỏ”, “màu sắc” cả về vần điệu và thủ pháp
ngữ nghĩa và một vài điểm đồng nhất trong nhận thức của cả hai dân tộc thông qua
ý nghĩa biểu trưng của nó mà còn thấy được những điểm dị biệt trong nhận thức do
xuất phát từ hai nền văn hóa khác nhau Tuy nhiên những nhận xét rút ra chưa được phân tích và chứng minh đúng mức nên bài viết chỉ dừng lại ở những luận điểm mang tính nhận xét chung chung Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định: qua mảng từ
ngữ này ta có thể hiểu thêm về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa của hai dân
tộc Nhưng cách hiểu như thế nào thì chưa được tác giả phân tích rõ trong toàn bài
viết
Trang 14- Trong bài viết “Vài nét đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu
sắc”, Ngôn ngữ và đời sống, số 6, 2006, từ việc khẳng định từ vựng của một ngôn
ngữ là nơi bộc lộ rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc, Lê Thị Vy đã bước đầu chứng minh đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong việc chọn ý nghĩa biểu trưng của màu sắc trong từng nền văn hóa Từ đó tác giả nêu lên mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại khách quan, ngôn ngữ và văn hóa Ngôn ngữ là công cụ cấu trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan; giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan
hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau Nhưng tác giả lại nêu ra một luận điểm cần phải bàn luận thêm: cách cảm nhận và hệ thống
từ vựng chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ thực sự đã ủng hộ cho giả thuyết Sapir - Whorf về mối quan hệ qua lại giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa Nhìn chung bài
viết chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản, chưa đi sâu vào từng biểu hiện cụ thể
- Trịnh Thị Minh Hương có công trình “Tính biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc
trong ti ếng Việt” (Luận văn Thạc sĩ NNH), 2009 Dựa trên cứ liệu là các văn bản
thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương, người viết đã nêu bật được ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt Bên cạnh đó, người viết còn dành
một chương để so sánh ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh, dù ngữ liệu thành ngữ dẫn ra không nhiều nhưng người viết
đã nêu được một số điểm tương đồng và khác biệt trong cách tri nhận về các nhóm màu và hàm nghĩa biểu trưng được thể hiện trong từ ngữ chỉ màu sắc trong phạm vi
hoạt động là thành ngữ Với mục đích hướng vào tính biểu trưng của từ chỉ màu
sắc, nên người viết không đi sâu vào bình diện ngôn ngữ văn hóa của từ, cũng như chưa đi vào nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa văn hóa của thành ngữ tục ngữ Với số
liệu thành ngữ hạn chế và hạn định trong một chương, dù đã nêu được cơ bản
những điểm tương đồng và dị biệt trong tính biểu trưng của màu sắc nhưng người
viết chưa khái quát và đi sâu phân tích cách tri nhận màu sắc cũng như sự tương đồng và khác biệt về đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của hai dân tộc
Trang 15Những bài viết và công trình nghiên cứu trên là những cơ sở trực tiếp cho người
viết thực hiện đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt qua thành ngữ, tục ngữ có
t ừ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng của luận văn, người viết chỉ tìm hiểu những đặc trưng ngôn
ngữ - văn hóa của từ chỉ màu sắc chính danh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trong thế so sánh với tiếng Anh
Về phạm vi nguồn ngữ liệu, người viết dựa vào các tài liệu sau:
- Thành ng ữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam (Việt Chương) [6, 7]
- T ục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên) [14]
- T ục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên chủ biên) [15]
- Thành ng ữ và tục ngữ tiếng Việt (Vũ Dung chủ biên) [17]
- T ừ điển tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Đức Dương) [19]
- Kho tàng t ục ngữ người Việt, tập 1 và tập 2 (Nguyễn Xuân Kính) [45, 46]
- T ừ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân) [49, 50]
- T ừ điển tục ngữ thế giới (Gerd de Ley (Lê Thành dịch)) [51]
- Thành ng ữ tiếng Việt (Nguyễn Lực chủ biên) [54]
- Thành ng ữ tiếng Việt (Nguyễn Lực) [55]
- T ục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan) [66]
- T ừ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) [67]
- T ừ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông (Nguyễn Như Ý) [101]
- T ừ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên) [103]
- Thành ng ữ tục ngữ Việt Nam (Du Yên) [104]
- T ừ điển thành ngữ - tục ngữ Việt - Anh tường giải (Bùi Phụng) [68]
- Thành ng ữ trong tiếng Anh (Lê Thành Tâm, Lê Ngọc Phương Tâm) [71]
- Oxford dictionary of English idioms (Cowie A.P., Mackin R., Mc Caig I.R)
[108]
- The Oxford encyclopedic English dictionary (Judith Pearsall, Bill Trumble)
[110]
Trang 16- English idioms (J Seidl and W McMordie) [111]
- A dictionary of American idioms (Maxine Tull Boat, John Eward Gates)
[113]
- English idioms in use (Michael McCarthy, Felicity O&Dell) [114]
- Idiom - Dictionary for leaners of English [117]
- The idiom of the people (Reeves, James) [118]
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - miêu tả: Người viết tìm ra những thành ngữ, tục
ngữ có chứa những từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh, sau đó thống
kê số lượng từ chỉ màu sắc trong từng ngôn ngữ Từ ngữ liệu đó, người viết thống
kê và xác định tần số xuất hiện của từng màu cụ thể trong thành ngữ và tục ngữ của hai ngôn ngữ
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích ngữ nghĩa cũng như nghĩa
biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ - văn hoá của hai ngôn ngữ thông qua đặc trưng văn hoá ngôn ngữ của từ chỉ màu sắc và của thành ngữ, tục ngữ
Phương pháp hệ thống: Khi tập hợp các từ chỉ màu sắc, người viết sắp xếp chúng theo những tiêu chí nhất định về ý nghĩa biểu trưng và khả năng kết hợp
Kết hợp với những phương pháp trên, người viết còn đưa ra giả thuyết: Xuất phát từ hai loại hình văn hoá khác nhau, văn hoá người Việt thì gắn liền với nền sản
xuất nông nghiệp còn văn hoá Anh thì gắn liền với du canh du cư… từ đó hình thành nên những đặc trưng tư duy khác nhau, nên người viết đưa ra giả thuyết về tính khác biệt đáng kể trong cách vận dụng màu sắc trong thành ngữ, tục ngữ và cả trong cách mỗi cộng đồng tư duy và gửi gắm yếu tố văn hoá trong đó Giả thuyết đó
sẽ được kiểm chứng dựa trên cứ liệu thực tế Cách giải thích và kết luận của luận văn đều dựa trên những cứ liệu thu thập được
Trang 176 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
- Đóng góp vào việc tìm hiểu những khác biệt về ngôn ngữ do đặc trưng văn hóa, tư duy quy định
- Cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về bản sắc văn hóa của hai dân tộc và góp
phần trực tiếp vào việc giảng dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài và ngược
lại
Trang 18Chương 1:
T ổng quan về thành ngữ, tục ngữ
1.1 Khái quát v ề thành ngữ và tục ngữ
1.1.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, tục ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, do đó
việc xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ là một công việc khó khăn Tùy theo góc nhìn mà thành ngữ, tục ngữ được hiểu bằng những nội hàm khác nhau Ngay dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, thành ngữ, tục ngữ cũng được xem xét và kiến
giải khác nhau… Người viết chỉ đề cập đến quan niệm thành ngữ, tục ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ tán thành để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
1.1.1.1 Khái ni ệm thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trong tiếng Việt, thành ngữ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian đến các nhà ngôn ngữ học Dưới góc độ ngôn ngữ
học, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ thuộc cụm từ cố định Và theo “Từ điển giải
thích thu ật ngữ ngôn ngữ học”: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên kh ối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với
t ổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [100, tr 271]
Trong bài “Góp ý ki ến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú đã
quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói
khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động.” [92, tr.39]
Nguyễn Văn Mệnh trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành
ng ữ tiếng Việt” quan niệm: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn Chúng là
nh ững ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế.” [58, tr.12]
Nguyễn Thiện Giáp thì định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa
c ủa nó không được tạo thành từ các ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó Ngay cả khi nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cụm
Trang 19t ừ đó… Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành t ố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương
v ới một từ cá biệt…” [26, tr.391]
Tóm lại, có thể hiểu một cách cơ bản, thành ngữ là cụm từ cố định có tính
chất gợi hình, nghĩa của thành ngữ là nghĩa của toàn khối, nó là sự miêu tả một hình ảnh, một hành động, một tính chất hoặc một trạng thái Nó mang chức năng định danh chứ không nêu lên một thông báo
Đối với thành ngữ tiếng Anh, nó cũng mang những điểm cơ bản tương tự như thành ngữ tiếng Việt nói riêng và thành ngữ của các ngôn ngữ trên thế giới nói
chung Trong công trình “English idioms”, J Seidl và W McMordie quan niệm:
“thành ng ữ có thể định nghĩa là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” [108] (An idioms can be defined as a number of words
which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings
of each word) Còn các tác giả trong “English idioms in use” cũng cho rằng: “thành
ng ữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” [111] (Idioms are fixed of expressions
whose meaning is not immediately obvious from looking at the individual words in the idiom)
Trong tiếng Anh, thành ngữ có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khác nhau Một thành ngữ có thể có cấu trúc mang tính có quy tắc hoặc không có quy tắc, thậm chí
là không đúng câu trúc ngữ pháp Sự rõ ràng về nghĩa của thành ngữ không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp” Chẳng hạn:
- Hình thức bất quy tắc, nghĩa rõ ràng như trong give some to understand, do
some proud, do the dirty on some one…
- Hình thức có quy tắc, nghĩa mơ hồ như have a bee in one’s bonnet, cut no
ice, bring the house down…
- Hình thức bất quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong be at large, go great guns, be
at dangers drawn…
Trang 20Theo hai tác giả này thì thành ngữ tiếng Anh đa số là thuộc nhóm có quy tắc nhưng nghĩa không rõ ràng Họ cũng cho rằng không thể thay đổi bất kì thành phần nào trong thành ngữ, chỉ trừ một vài thành ngữ có biến thể Ví dụ trong thành ngữ
eat one’s word (rút l ại lời đã nói) thì không thể nói eat one’s sentences hoặc
swallow one’s word…
Còn John Saeed thì định nghĩa: thành ngữ được xem như những từ tập hợp
lại để trở nên gắn liền với nhau đến khi chúng trở thành một kết cấu bền vững (“Idiom” as words collocated that became affixed to each other until metamorphosing into a fossilised term) [Dẫn theo Wikipedia] Các tác giả “Từ điển
thành ng ữ tiếng Anh” (English idiom - Longman) cho rằng thành ngữ là cụm từ mà
nghĩa của nó khác với nghĩa của từng từ riêng biệt cộng lại (a group of words that have a different meaning from the usual meaning of the separate words)
Tóm lại, cũng như thành ngữ tiếng Việt, thành ngữ tiếng Anh là một cụm từ mang chức năng định danh, gợi hình, mà nghĩa của nó không phải là tổng cộng ý nghĩa của từng từ trong thành ngữ đó và nó đa dạng về cấu trúc
1.1.1.2 Khái ni ệm tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
Từ điển bách khoa Wikipedia đã định nghĩa về tục ngữ:
Một câu tục ngữ (từ tiếng La tinh: proverbium) là một câu đơn giản và cụ thể được nhiều người biết đến và lặp đi lặp lại, nó thể hiện một sự thật, dựa trên ý nghĩa thông thường hoặc kinh nghiệm thực tế của nhân loại Chúng thường mang nghĩa ẩn
dụ (A proverb (from Latin: proverbium) is a simple and concrete saying popularly
known and repeated, which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity They are often metaphorical)
Tục ngữ của các dân tộc trên thế giới đều có những điểm tương đồng Tuy vậy,
do đặc điểm tâm lý dân tộc khác nhau và các ngôn ngữ không giống nhau nên tục
ngữ của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng của nó
Hoàng Trinh trong “T ừ kí hiệu học đến thi pháp học” đã từng nhận xét rằng:
“Ngay m ột số nhà tục ngữ học vào loại hàng đầu cũng phải thừa nhận là không
m ột định nghĩa nào có thể cho phép xác định rõ ràng như thế nào là một câu tục
Trang 21ng ữ” [91, tr.173] Do đó, người viết sẽ không đi sâu vào tìm hiểu, phân tích định
nghĩa khoa học về tục ngữ mà chỉ dẫn ra một số cách hiểu và những đặc trưng cơ
bản của tục ngữ
Theo T ừ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996): Tục ngữ là “Câu nói
ng ắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri
th ức của một dân tộc Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp” [100, tr 329]
Nguyễn Thái Hòa trong “Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp” đã quan
niệm: “Tục ngữ là những phát ngôn hình thành trong lời thoại hằng ngày Đó là
nh ững đơn vị lời nói nhưng tồn tại trong ký ức của cộng đồng như là một đơn vị ngôn ng ữ, nói như J Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”” [35, tr.48]
Đối với tục ngữ tiếng Anh, Wikiquote định nghĩa như sau: Tục ngữ thường
được định nghĩa như những cách diễn đạt ngắn về một kinh nghiệm phổ biến
Những nỗ lực để cải thiện định nghĩa phổ quát cũng không mang lại một định nghĩa chính xác hơn Những kinh nghiệm, tri thức thường ở dạng những kiến thức chung
về thế giới hoặc lời khuyên, đôi khi gần với thái độ đối với hoàn cảnh (Proverbs are popularly defined as short expressions of popular wisdom Efforts to improve on the popular definition have not led to a more precise definition The wisdom is in the form of a general observation about the world or a bit of advice, sometimes more nearly an attitude toward a situation)
Alan Dundes đứng trên quan niệm cấu trúc định nghĩa: “Tục ngữ là một
phát ngôn chuyên bi ệt mang tính truyền thống chứa đựng ít nhất một thành tố miêu
t ả, thành tố miêu tả chứa đựng một phần đề và một phần thuyết” (A proverb is a
traditional propositional statement consisting of at least one descriptive element, a descriptive element consisting of a topic and a comment) [106, tr.180]
Tóm lại, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, dù ngắn cách mấy, tục ngữ cũng là một câu thể hiện một ý nghĩa trọn vẹn, nghĩa của câu tục ngữ là nghĩa kết
hợp của từng từ cấu tạo nên nó Ý nghĩa của câu tục ngữ có thể là một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, hay một lời khuyên, một lời phán đoán, phê bình…Về
Trang 22mặt hình thức, tục ngữ thường có vần điệu, có cấu tạo là một câu hoàn chỉnh và nó
có thể bao chứa cả thành ngữ, hoặc được cấu tạo nên bằng những thành phần chức năng là thành ngữ Về mặt chức năng, nó mang tính thông báo một nhận định, một kinh nghiệm hay một kết luận về một khía cạnh nào đó của thế giới quan
1.1.2 Khái quát thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc
1.1.2.1 Khái quát về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh
Màu sắc là biểu hiện phức tạp nhất của nhận thức và cảm thụ thị giác Nó là đối tượng của hàng loạt các ngành khoa học và kỹ thuật khác nhau Vật lý nhận biết
nó như là dải ánh sáng có tần số và biên độ khác nhau Hóa học coi nó là sản phẩm
của những chất màu nhất định Quang học coi nó là biểu hiện của phổ ánh sáng Nghề in coi việc in màu là kỹ thuật thực hiện các cách chồng màu để có màu gần
với sự thật… Đối với ngôn ngữ học, việc nhìn nhận màu sắc lại là một vấn đề khác đáng được quan tâm
“Màu s ắc là đặc tính giác quan của thị giác con người Màu sắc có được do ánh sáng quang ph ổ tác động vào mắt bằng các trực giác quang phổ của cơ quan
h ấp thụ ánh sáng” (Wikipedia)
Màu sắc trong tiếng Việt được các nhà từ điển học và các nhà nghiên cứu
tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau
T ừ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa về màu sắc:
1 Các màu, không kể trắng và đen (nói khái quát)
2 Tính chất đặc thù: nghệ thuật đượm màu sắc dân tộc
Không chú trọng đến thuộc tính vật lý của màu sắc, Đào Thản định nghĩa:
“Màu s ắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới
v ật chất, mà thị giác của con người có thể nhận biết được.” [72, tr.11]
Màu sắc (colour) trong tiếng Anh cũng tương tự, được định nghĩa bằng
những đặc trưng khác nhau
Màu sắc được xét đến trong luận văn không phải màu sắc với những đặc tính
vật lý được xét, hay đặc tính hóa học, quang phổ cụ thể…mà là màu sắc trong ngôn
Trang 23ngữ học Do đó, có thể chấp nhận định nghĩa về màu sắc của Đào Thản để làm cơ
sở cho luận văn
Màu sắc được thể hiện bằng danh từ và tính từ trong hệ thống từ loại Trong
đó tính từ chỉ màu sắc được sử dụng rộng rãi hơn cả Và trong luận văn này, từ ngữ
chỉ màu sắc được đề cập đa số cũng là tính từ
Khi đi vào định nghĩa màu sắc cũng như từng màu cụ thể, trong luận án Phó
tiến sĩ “Đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại”, Chu Bích Thu đã dẫn
ra những cách định nghĩa và giải thích màu sắc của các nhà nghiên cứu Tác giả nêu
ra rằng các nhà từ điển thường giải thích nghĩa của chúng theo lối trực quan Chẳng
hạn “vàng” được định nghĩa là “có màu như màu của nghệ, của hoa mướp” Trong
đó nổi bật là nhà nghiên cứu người Nga Ю CTeпaHoB, tác giả này cho rằng nghĩa
của các từ biểu thị màu (và mùi, vị) được xác định bằng một chỉ dẫn đơn giản các đối tượng được biểu thị
Còn A.H ШpaMM cũng cho rằng không có cách định nghĩa khác đối với các đơn vị này Cấu trúc ngữ nghĩa của các từ biểu thị màu (và mùi, vị) có ba nghĩa
vị:
1 Có
2 Màu (mùi, vị) nào đó
3 Màu giống với màu của X (trong đó X là vật đại diện mang đặc trưng rõ nhất
có ở tính từ đang được xét)
Ngoài ra, tác giả công trình “Việt Nam - Đông Nam Á - Ngôn ngữ và văn
hóa ” cũng đưa ra quan niệm về tên gọi các màu như sau: “Muốn truyền đạt đặc
trưng của một vật người ta buộc phải so sánh với vật khác có cùng một nét và khu
bi ệt với vật khác ở một nét khác, giống như người ta xây dựng định nghĩa Có thể đen lúc đầu là quạ, từ nóng là lửa Sau sử dụng biện pháp kết hợp: muốn nói đen người Việt nói “đen như quạ”, muốn nói nóng phải nói: “nóng như lửa”… Sau đó các khái ni ệm màu sắc, hình thức, độ lớn… ra đời Tên màu sắc bắt nguồn từ tên
g ọi những vật có màu sắc ấy Hoa hồng - màu hồng, cây huyết dụ - màu huyết dụ, hoa đào - màu đào.” [20, tr.113] Cách giải thích này chưa thuyết phục vì nó chỉ có
Trang 24thể đúng trong giai đoạn sau của ngôn ngữ - giai đoạn tạo ra các đơn vị ngôn ngữ
một cách có lý do
Tương tự, trong tiếng Anh, các màu cũng được các nhà từ điển học định nghĩa dựa vào nghĩa sở thị, tức theo lối trực quan và chọn đối tượng dẫn xuất tiêu
biểu nhất Ví dụ từ điển Oxford định nghĩa “blue” (xanh da trời) như sau: coloured
like clear sky… và “green”: coloured like grass…
Sự phân biệt và nhận thức về màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh có nhiều khác biệt và nhìn chung trong các ngôn ngữ khác nhau, người ta chia dải màu, ghi
nhận các sắc độ, màu sắc khác nhau Vì vậy hệ thống tên gọi màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng và của các ngôn ngữ trên thế giới nói chung là khác nhau
Tìm hiểu về sự khác nhau đó, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu
thể hiện rõ vấn đề Trong văn học, ta đã từng biết đến thi sĩ vĩ đại người Đức Goethe đã có bộ sách lý luận về màu sắc và đôi khi tác giả còn đề cao bộ sách này hơn cả những tác phẩm văn học khác của ông và Ph O Runge đã cống hiến rất lớn trong việc hệ thống hóa màu sắc Dưới góc độ ngôn ngữ học, B Berlin và P Kay
trong “Basic colours in term” đã thống kê và nhận xét về màu sắc cơ bản của các ngôn ngữ Trên cơ sở khảo sát thực tế 78 ngôn ngữ khác nhau, hai nhà nghiên cứu
đã kết luận: mọi ngôn ngữ cũng có ít nhất hai từ chỉ màu đen và màu trắng, có ba từ thì có thêm màu đỏ, có bốn từ thì có thêm màu xanh lá hoặc vàng, có năm từ thì thêm cả màu xanh là và vàng, có sáu từ thì thêm màu xanh da trời, có trên bảy từ thì
có thêm màu tím, hồng, da cam, xám hoặc hỗn hợp những màu này Từ những kết
luận trên, ta nhận thấy rằng, hệ thống màu cơ bản, màu phụ trong mỗi ngôn ngữ là khác nhau Vì vậy số lượng từ chỉ màu sắc nói chung của các ngôn ngữ không
giống nhau, sự ghi nhận và cách gọi tên màu sắc cũng khác nhau
Trong hệ thống màu sắc của tiếng Anh: trắng, đen, đỏ, xanh lá cây, vàng,
xanh nước biển, nâu, tím, hồng, da cam, xám là những màu cơ bản trong khi trong
tiếng Việt, các màu sắc cơ bản được biết đến không có màu xanh da trời, xanh lá
cây, da cam Vì th ế khi nói đến màu xanh của bầu trời, tiếng Anh dùng blue sky,
Trang 25còn màu xanh c ủa cỏ thì là green grass; trong khi đó tiếng Việt chỉ sử dụng duy
nhất là xanh, và để biểu thị màu xanh của sự vật gì thì tiếng Việt dùng thêm định
ngữ để biểu thị: xanh da trời, xanh lá cây… Trong tiếng Việt, xanh là màu cơ bản còn xanh da tr ời, xanh nước biển, xanh lá cây… chỉ là màu phụ, màu sắc phái sinh
Việc gọi tên và phân biệt nhóm màu ở cả hai ngôn ngữ có khác nhau Chu Bích Thu [85] đã từng dẫn ra cách phân biệt nhóm màu dựa vào nội dung của các nét nghĩa trong các cấu trúc nghĩa của tính từ chỉ màu sắc như sau:
1 Nhóm màu cơ bản: đen, trắng, đỏ, vàng, xanh Những tên gọi này mang tính
võ đoán và nghĩa của chúng được xác định bằng cách so sánh với màu của vật đại
diện
2 Nhóm biểu thị màu chuyển tiếp như tím, xám, lam, ghi, be, hồng, hung, tía,
l ục, ve… nghĩa của chúng được xác định qua các từ biểu thị màu cơ bản và có thể
thuyết minh thêm bằng cách so sánh với màu của vật đại diện
3 Tính từ biểu thị màu phái sinh từ những danh từ chỉ vật đại diện, tên gọi của
nhóm màu này có lý do: g ụ, chàm, dà (đà), đào, huyền, mun, nâu, sồng, bạc Nghĩa
của các từ này được xác định qua so sánh với màu của vật đại diện Vật đại diện do chính danh từ gốc biểu thị
Mỗi màu sắc trong hệ thống có những đặc điểm sở thị và biểu trưng khác nhau Cùng chỉ màu đen nhưng ngựa đen được gọi là ngựa ô, mèo đen là mèo mun, chó đen là chó mực
Đối với tiếng Anh, việc phân biệt màu sắc có sự khác biệt Như đã nói, số lượng màu và sự phận loại màu chính, màu phụ, màu phái sinh trong cả hai ngôn
ngữ khác nhau Tiếng Anh có 11 màu cơ bản: đen, trắng, đỏ, xanh lá, vàng, xanh da
trời, nâu, da cam, hồng, tía và xám Dù thuộc nhóm màu cơ bản hay phụ, hệ thống
màu sắc tiếng Anh thường thuộc hai nhóm: nhóm màu trừu tượng và nhóm màu
mang tính miêu tả Trong đó, đen, trắng, vàng, xanh lá nâu và xám, nâu sẫm
(maroom), đỏ tươi (magenta) là những từ ngữ chỉ màu sắc mang tính trừu tượng Màu th ịt cá mồi (salmon), hồng (rose), màu vàng nghệ (saffron), màu hoa tử đinh hương (lilac), hồng (pink), purple (tía) là những màu miêu tả Tên gọi của màu
Trang 26hồng và tía được bắt nguồn từ tên của những sự vật trong thực tế khách quan, hồng
bắt nguồn từ tên loài hoa, tía thì chỉ một loại thuốc nhuộm Riêng màu da cam,
chàm (indigo), tím (violet) thì khó xác định là tên gọi có trước hay sự vật khách quan có trước Đa số những màu phụ trong tiếng Anh là nhóm màu miêu tả những
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Để tạo ra lớp từ ngữ chỉ màu sắc phái
sinh, người Anh có thể đặt trước từ ngữ chỉ màu sắc một yếu tố phụ như sẫm (deep,
dark ), nhạt (light, pale), sáng (bright); để tạo ra một màu gần giống với màu cơ bản nhưng ở mức độ nhẹ hơn, người Anh sử dụng hậu tố “-y”, “-ish”, hoặc kết hợp sử dụng hai màu (brown black, reddish - purple,…)
Cũng cần phân biệt từ đồng âm với những từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và
tiếng Anh
Trong tiếng Việt, hiện tượng đồng âm, trùng nhau về ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa của hai hay nhiều đơn vị ngôn ngữ khác nhau, là một hiện tượng thường gặp trong hệ thống từ vựng Hệ thống các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt cũng có nhiều trường hợp đồng âm, qua khảo sát, chúng tôi liệt kê được một số trường hợp như sau:
Hồng Hồng (tính từ): Lớn (trong hồng phúc)
Xanh Xanh (danh từ): Dụng cụ làm bếp
Trong tiếng Anh, hiện tượng đồng âm đa dạng và phức tạp hơn vì tiếng Anh
là ngôn ngữ biến hình Qua khảo sát chúng tôi cũng liệt kê được một số trường hợp sau:
Trang 27Tên màu Từ đồng âm
Brown (nâu) Brown: đồng xu đồng / phi (hành)
Blue (xanh da trời) Blue: hay chữ
Green (xanh lá cây) Green: rau / lừa bịp (động từ) (từ
lóng)
Pink (hồng) Pink (Tạo ra tâm thanh tiếng gõ…)
1.1.2.2 Đặc điểm của thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc
Thành ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh chiếm một số lượng khá lớn Nhóm thành ngữ này mang đầy đủ đặc điểm của thành ngữ và trong
đó có một hay một vài yếu tố ngôn ngữ chỉ màu sắc Màu sắc ở đây có thể thuộc nhóm màu chính hay nhóm màu phụ hoặc nhóm màu phái sinh
Thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh không thuộc một cấu trúc nhất định
Đối với thành ngữ tiếng Việt, nhóm thành ngữ có từ chỉ màu sắc có thể thuộc
cấu trúc so sánh như Đen như cột nhà cháy, mặt vàng như nghệ, trắng như ngà…
Hoặc có thể thuộc loại thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng: bầm gan tím ruột, gạo trắng
nước trong, da mồi tóc bạc, đầu đen máu đỏ, giấy trắng mực đen… Hay thuộc loại
ẩn dụ hóa phi đối xứng: đói xanh xương, mặt sắt đen sì…
Đối với thành ngữ tiếng Anh, nhóm thành ngữ có từ chỉ màu sắc thường được phân thành một loại riêng biệt và nó cũng thuộc những nhóm thành ngữ được phân loại theo những đặc trưng khác nhau Nó có thể thuộc nhóm thành ngữ so sánh
(as white as a sheet, as brown as a berry, as red as blood,… ), hay thuộc trong
những nhóm thành ngữ có quy tắc, bất quy tắc
Trang 28Thành ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh thường được phân loại thành
một nhóm riêng bởi đặc trưng có màu sắc của nó Nhưng trong tiếng Việt thì không, hay nói cách khác cách phân loại thành ngữ của tiếng Việt dựa vào nội dung hay
cấu trúc là chủ yếu, còn trong tiếng Anh, ngoài hai cách phân loại trên, thành ngữ còn được phân ra theo các nhóm dựa trên thành phần mà chúng chứa đựng, ví dụ:
colour idioms, body idioms, …
Đối với tục ngữ cũng tương tự, nhóm tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng
Việt và cả tiếng Anh bên cạnh những nét tương đồng phổ quát thì chúng đều mang nhiều đặc trưng khác nhau cả về cấu trúc và cách phân loại Khác với thành ngữ có
từ chỉ màu sắc, màu sắc thường tham gia trực tiếp vào việc thể hiện ý nghĩa của thành ngữ, màu sắc trong tục ngữ cũng mang tính biểu trưng đặc thù nhưng để biểu trưng ý nghĩa của tục ngữ, phải qua một tầng nghĩa thứ hai Nghĩa là để hiểu một câu tục ngữ có từ chỉ màu sắc, ta thường tìm hiểu biểu trưng cụ thể của màu sắc,
của những hình ảnh cụ thể trong cụm từ (hay trong thành ngữ, nếu trong tục ngữ
chứa thành ngữ) sau đó ta mới khái quát lên ý nghĩa (biểu trưng) của cả tục ngữ Nhiều từ chỉ màu sắc đi vào thành ngữ trở thành yếu tố, hình ảnh biểu trưng trung tâm, ví dụ: bật đèn xanh, vàng như nghệ, đỏ như máu, hoặc là một vế của vấn đề
cần khái quát, ví dụ: giấy trắng mực đen, đỏ mặt tía tai, đỏ lòng xanh vỏ…
1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa - văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ
1.2.1 M ối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Thuật ngữ “văn hóa” có nguồn gốc từ chữ Latin cultus xuất hiện từ thời cổ
đại có nghĩa là trồng trọt Về sau, theo phương thức ẩn dụ, ý nghĩa của từ ấy được
mở rộng ra Nhưng thực chất từ văn hóa trong các ngôn ngữ khác nhau đều có nhiều
nghĩa Và có thể hiểu một cách cơ bản nhất: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị
v ật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
th ực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường
xã h ội.” [88, tr.34]
Trang 29Văn hoá là nền tảng xã hội, là động lực thúc đẩy dân tộc phát triển Văn hoá thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống Các phương thức biểu hiện, lưu giữ và truyền đạt văn hoá rất phong phú và đa dạng Trong số đó, nổi bật và tiêu biểu là phương thức ngôn ngữ biểu đạt văn hóa Nếu hiểu một cách cơ bản văn hoá là những giá trị vật chất và tinh thần, có tính biểu trưng và tồn tại lâu đời do con người tạo ra, thì dân tộc nào cũng có văn hoá, cộng đồng nào cũng có văn hoá Có những giá trị văn hoá mang tính hằng thể chung cho cả nhân loại, lại có những giá trị văn hoá mang tính đặc thù, chỉ có ở cộng đồng này mà không thấy rõ ở cộng đồng kia
và ngược lại Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính là đặc trưng văn hoá Sự khác biệt tạo ra đặc trưng; ở phạm trù văn hoá, đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc trước hết được minh định dựa trên sự khác biệt giữa văn hoá dân tộc này với văn hoá dân tộc khác
Có thể hiểu, đặc trưng văn hoá là những nét trội về một hay một số mặt nào
đó của văn hoá một dân tộc hay một cộng đồng Những nét trội này làm thành các giá trị văn hoá cơ bản, tiêu biểu, có tính bền vững, cùng với các giá trị khác, chúng làm thành nền văn hoá Như vậy, đặc trưng văn hoá của một dân tộc chính là những giá trị tiêu biểu về tinh thần và vật chất mà dân tộc đã tích lũy trong quá trình lịch
sử, nó có tính bền vững, có ý nghĩa lâu dài, có giá trị khu biệt Có như thế, đặc
trưng văn hoá mới làm thành bản sắc văn hoá Tìm hiểu văn hoá dân tộc chính là tìm hiểu cái bản sắc ấy, tức cũng là xác định nét khác biệt
Như đã nói, đặc trưng văn hóa dân tộc được lưu giữ và truyền tải bằng những hình thức khác nhau trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng thể hiện văn hoá
“Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con người… Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc - tất cả để lại dấu
ấn tài tình trong mỗi âm thanh” (W Humbold; dẫn theo 1; tr.203) “Ngôn ngữ đã chứa đựng trong mình toàn bộ di sản văn hoá của các thế hệ trước, xác định hành
vi của những con người hiện tại, trong một mức độ nào đó, ngôn ngữ còn làm tiền
Trang 30đề cho con người trong tương lai, có nghĩa chính ngôn ngữ sản sinh và sáng tạo ra
co n người” (M Kheydegger, dẫn theo 1; tr.203) Vì lẽ đó “Ngôn ngữ vừa là điều kiện tồn tại, vừa là sản phẩm văn hoá nhân loại, bởi vậy, trong mọi nghiên cứu về ngôn ngữ nhất thiết phải coi chính văn hoá cũng là đối tượng của mình.”(Vinocua,
1960) Nhưng ta cũng cần thấy rằng, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt
và lưu giữ văn hóa, mà nó còn là sản phẩm văn hóa của nhân loại giống như những
sản phẩm văn hóa khác như E D Sapir đã từng khẳng định: “Ngôn ngữ là sản
phẩm văn hóa mà không phải là thực thể chức năng.” [Dẫn theo 5, tr.51] Nguyễn
Văn Chiến trong “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” cũng quan niệm:
“Ngôn ngữ nói chính xác hơn là một hiện tượng văn hóa Văn hóa có ngoại diên lớn, trong khi đó, ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn, nhưng có nội hàm rộng hơn Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau.” [5, tr.51]
Điều đó cũng có nghĩa là mọi nghiên cứu về văn hoá cũng không thể không nghiên cứu chất liệu ngôn ngữ Tất cả những gì con người tạo ra đều có tính văn hoá, đều có dấu ấn của ngôn ngữ, vậy giải mã văn hoá có thể căn cứ vào nhiều thông số, nhưng chiếc chìa khoá rất quan trọng, để có thể giải mã văn hoá của dân
tộc, đó chính là ngôn ngữ của dân tộc ấy
Tóm lại, ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Ngôn ngữ
là phương tiện truyền tải, lưu giữ và phản ánh bộ mặt văn hóa đặc trưng của dân tộc Ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng hàng đầu mang sắc thái dân tộc rõ ràng nhất Và ngược lại, đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc lại ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngôn ngữ dân tộc
1.2.2 Ng ữ nghĩa văn hoá của từ
Trong “Ti ến tới xác lập vốn tự vựng văn hóa Việt”, Nguyễn Văn Chiến cho
rằng có thể chia lớp từ vựng của một ngôn ngữ thành hai loại: từ vựng mang hàm nghĩa văn hóa và từ vựng thông thường Sự khác biệt giữa từ vựng văn hóa và từ
vựng thông thường là ở chỗ từ vựng văn hóa mang thông điệp văn hóa dân tộc; từ
vựng văn hóa có mối quan hệ với văn hóa dân tộc, bao gồm văn hóa vật chất, văn
Trang 31hóa tinh thần, có khi là sự phản ánh trực tiếp văn hóa, có khi là biểu trưng của văn hóa Từ vựng văn hóa cũng có khi là các từ ngữ có mối quan hệ sâu xa với văn hóa,
ví dụ các từ ngữ xuất hiện từ các điển tích văn hóa hay các từ xuất hiện trong tôn giáo Trong khi từ vựng thông thường không có những đặc điểm trên, chúng chỉ có
ý nghĩa thuần túy
Nghĩa của từ là sự phản ánh hiện thực khách quan nhưng thông qua nhận
thức của chủ thể với tư cách là đại diện của một cộng đồng văn hóa nhất định Do
đó, dù là hiện thực khách quan nhưng thông qua những lăng kính khác nhau, cho nên ý nghĩa của từ ngoài những đặc điểm chung mang tính nhân loại, nó còn mang
những đặc điểm riêng chỉ có trong một cộng đồng văn hóa nhất định Những đặc điểm riêng trong ý nghĩa của từ có thể là những thông tin về điều kiện tự nhiên, địa
lý, lịch sử, sinh hoạt đời sống, cơ cấu xã hội, kinh nghiệm… của cộng đồng bản
ngữ Nguyễn Đức Tồn đã dẫn ra ý kiến rất đúng của các nhà nghiên cứu Nga: “Mặc
dù là quy lu ật chung phản ánh hiện thực khách quan của những người bản ngữ thu ộc ngôn ngữ (văn hóa) khác nhau, trong hệ thống ý nghĩa không thể không phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của hành động được tiến hành bằng công cụ và của
s ự giao tiếp Bởi ngôn ngữ có chức năng: “là hình thức tồn tại của kinh nghiệm lịch
s ử xã hội, mà mỗi dân tộc có kinh nghiệm lịch sử - xã hội riêng của mình cho nên
t ất yếu rằng trong cấu trúc ý nghĩa của từ có thành tố văn hóa – lịch sử Chúng ta
có th ể nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử - xã hội nói riêng, lịch sử tư tưởng nói chung
c ủa một dân tộc thông qua ý nghĩa của từ, qua lịch sử ngôn ngữ của dân tộc ấy”
[88, tr.25]
Đó là chức năng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ
1.2.3 Ng ữ nghĩa – văn hoá trong thành ngữ và tục ngữ
Vốn từ vựng của một dân tộc không chỉ truyền tải thế giới khách quan thông qua lăng kính cộng đồng, mà nó còn chứa đựng yếu tố văn hóa Trong đó, có thể nói
lớp thành ngữ, tục ngữ là một trong những yếu tố mang đậm dấu ấn văn hóa nhất
của một dân tộc Dân tộc nào cũng có kho tàng tục ngữ, thành ngữ, thể hiện những quan điểm về thế giới, về nhân sinh và kinh nghiệm… Thông qua đó yếu tố văn hóa
Trang 32được bộc lộ Vì thành ngữ, tục ngữ bao giờ cũng gắn với những điều kiện lịch sử
nhất định của một cộng đồng nhất định
Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, yếu tố văn hóa được thể hiện không
chỉ trong lớp nghĩa liên tưởng của từ, vì mỗi dân tộc có cách tư duy liên tưởng khác nhau về một hình ảnh, một vấn đề nhất định; mà còn thể hiện trong lớp nghĩa trung tâm của từ Trong thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc cũng vậy, nhưng không chỉ
có yếu tố màu sắc thể hiện yếu tố văn hóa cả về nghĩa trung tâm và nghĩa liên tưởng, nghĩa biểu trưng, mà còn có những yếu tố chuyển nghĩa khác mang tính văn hóa Và một lần nữa tổng hòa những hình ảnh mang biểu trưng đó, được khái quát lên thành một “hình tượng biểu trưng” “một kinh nghiệm, ý nghĩa mang giá trị văn
hóa” mang cách tư duy riêng của một cộng đồng nhất định
Đối với thành ngữ, nét nghĩa văn hóa được biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Trước hết là hiện tượng một ý niệm được diễn đạt bằng những hình tượng khác nhau trong mỗi thành ngữ của các nước khác nhau Hay nói cách khác, trong
lớp từ vựng, nghĩa liên tưởng của từ ở mỗi dân tộc khác nhau Cùng một hiện tượng, một vấn đề, một ý niệm nhưng lại được tư duy liên tưởng khác nhau Ví dụ
để biểu hiện sự giận dữ, người Việt thường dùng hình ảnh biểu trưng: Căm gan tím
ru ột còn người Anh thì thường sử dụng a black look …
Và cũng vì lý do đó nên ngược lại một số thành ngữ của các dân tộc trên thế
giới mang nhiều thành phần từ vựng giống nhau nhưng lại khác nhau về ý nghĩa
Người Việt thường dùng hình ảnh “sang sông” để chỉ người con gái đi lấy chồng, nhưng ngược lại, cũng là hình ảnh “sang sông” (to cross river) nhưng người Anh lại
biểu trưng cho “cái chết” Hay cùng màu trắng, nhưng bên cạnh những điểm tương
đồng thì mỗi dân tộc lại cũng truyền tải những ý nghĩa khác nhau khi đi vào thành
ngữ, tục ngữ Người Việt thường dùng màu trắng để tượng trưng cho sự tang tóc,
đau thương, còn người Anh thì dùng màu trắng để nói sự vô hại (a white lie, white
elephant)
Trang 33Trong tục ngữ, ngữ nghĩa văn hóa của từ cũng tương tự như vậy Mỗi hình ảnh mang văn hóa trong thành ngữ, tục ngữ cũng được truyền tải theo những cách
biểu trưng mang đặc trưng dân tộc
Nghĩa văn hóa của thành ngữ, tục ngữ, không chỉ tập trung ở những hình ảnh
nhất định, mà còn bao trùm toàn bộ thành ngữ, tục ngữ Tục ngữ chứa đựng những kinh nghiệm, quan niệm về thế giới, về nhân sinh, những hình ảnh để biểu hiện
những quan điểm đó mang yếu tố văn hóa và hơn nữa cả những kinh nghiệm, quan
niệm đúc kết ấy cũng là văn hóa của cộng đồng
Do đó khi đi vào phân tích đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa qua thành ngữ tục
ngữ, người viết không dừng lại ở những hình ảnh chuyển nghĩa đặc trưng trong thành ngữ, tục ngữ… mà còn chứa đựng trong cả những quan niệm của toàn bộ câu thành ngữ, tục ngữ đó Chẳng hạn khi nói đến câu tục ngữ “Anh khố son bòn anh
kh ố nâu” thì trước hết, hình ảnh “khố son”, “khố nâu” thể hiện hai đối tượng khác
nhau thông qua phương thức chuyển nghĩa hoán dụ: “khố son” là hình ảnh tượng trưng cho đối tượng là người giàu có, “khố nâu” là hình ảnh tượng trưng cho đối
tượng là người nghèo khổ, bình dân Sau đó, khái quát từ hai hình ảnh đó cùng với
những thành tố khác của toàn câu tục ngữ, ta được ý nghĩa của câu tục ngữ, một triết lý nhân sinh trong xã hội cũ
1.3 Bi ểu trưng của thành ngữ, tục ngữ
1.3.1 Khái ni ệm biểu trưng
Claude Lévi - Strauss khi nghiên cứu nhân loại học ở các sự kiện văn hóa thì cho rằng: “mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu
tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh t ế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…” [Dẫn theo 8, tr 23 (phần mở đầu)] Các
biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của nền văn hóa ở những đường nét cơ bản
nhất Đó là một thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt do nó qui tụ nhiều tính dường như đối lập nhau: vừa biểu hiện, vừa tiềm ẩn, vừa công khai, vừa bí mật, vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa rõ ràng, vừa mông lung… sự tác động, các mối quan hệ giữa thế giới
biểu tượng và thế giới con người, nhưng ý nghĩa hàm ẩn mà biểu tượng khơi gợi ra
Trang 34như một quy ước thẩm mỹ của cộng đồng… là những vấn đề lý thú có thể lý giải được nhờ vào những lập luận của tư duy logic
Biểu tượng (symbole: tiếng Pháp; symbol: tiếng Anh) là một khái niệm rất quen thuộc và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, nó có nguồn gốc từ tiếng Latin (symbolus) nghĩa là dấu hiệu Ở Việt Nam thuật ngữ này được dịch là biểu trưng
hoặc biểu tượng
Từ điển văn liệu của Long Điền Nguyễn Văn Minh có chép một câu chuyện về
mảnh gương - khá tiêu biểu cho cách hiểu về biểu tượng như đã nói: “Nguyên về
đời Xuân Thu bên Trung Quốc, Lạc Dương công chúa cùng chồng chạy loạn, lúc
bi ệt nhau, đập tấm gương soi làm hai mảnh, mỗi người giữ một mảnh, dặn nhau cứ ngày thượng nguyên (rằm tháng giêng) đem gương vỡ ra chợ rao bán, nếu hợp hai
m ảnh lại mà in như tấm gương thì gặp nhau Đời sau thường dùng điển cố đó để nói lúc phân ly c ủa hai vợ chồng hay hai tình nhân.” [Dẫn theo 22] Chiếc gương là
biểu tượng, là một dạng thức dùng cái này để nói cái kia, dùng cái hiện hữu để nói cái vô hình
Trong “T ừ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, tác giả cũng nêu lịch sử của biểu
tượng như sau: “Khởi nguyên, biểu tượng (symbole) là một vật được cắt làm đôi,
m ảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai m ảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ cũ, tình
b ạn ngày trước Ở người Hy Lạp thời cổ đại, biểu tượng còn là dấu hiệu để cha mẹ
nh ận ra con cái bị lưu lạc” [8, tr 23 (phần mở đầu)]
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này
Dưới góc độ tâm lý - ngôn ngữ, Howard Gardner cho rằng: “Một biểu trưng là
b ất kì thực thể nào (vật chất hay trừu tượng) có thể chứa nghĩa hoặc có thể quy chi ếu sang thực thể khác… được sử dụng (và được diễn giải) như là đại diện cho
m ột loại thông tin nào đó (vật thay thế có chứa nghĩa)… biểu trưng còn gửi đến mọi người những biểu nghĩa quan trọng như một trạng thái tinh thần, một tình cảm, một
gi ọng điệu…” [Dẫn theo 20, tr.99]
Trang 35Còn các nhà từ điển học thì lại có những quan niệm:
Nhà từ điển Pháp Andre Lalande định nghĩa: biểu tượng là cái biểu hiện một
cái gì khác căn cứ vào một tương ứng loại suy, còn nhà từ điển Petit Larousse, 1981
cho rằng: biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh bằng con vật sống động hoặc bằng
đồ vật nó biểu hiện một ý trừu tượng, nó là hình ảnh của một sự vật hay một điều gì
đó
T ừ điển Tiếng Việt giải thích biểu trưng “là biểu hiện một cách tượng trưng
và tiêu bi ểu nhất” [67, tr.66] “Từ điển Oxford Advanced Leaner (7 th edition) định nghĩa: biểu trưng là biểu tượng của thứ gì đó Từ điển Từ Hải (Trung Quốc) thì định nghĩa biểu trưng là dùng sự vật cụ thể biểu hiện các ý nghĩa trừu tượng nào đó.” [Dẫn theo 43, tr.15]
Theo “T ừ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”: biểu trưng (symbol) là
“ký hi ệu mà nội dung khái niệm do nó biểu đạt được biết dựa vào tri giác suy luận
t ừ chính bản thân cái đặc trưng, cái thuộc tính của bản thể và hình thái cấu tạo của nó.” [100, tr.30]
Còn Jacques Pohl thì dường như đồng nhất những dấu hiệu mang tính không
có lý do với biểu trưng: “Biểu trưng nói chung là một vật kích thích được liên kết
v ới những đối tượng nào đó một cách võ đoán.” [91, tr.84]
Wallace L Chafe cho rằng: “Biểu trưng là khi một cái gì đó trong thế giới tư
tưởng và khái niệm biến thành một cái gì đó có khả năng trở thành cái cầu bắc qua cái v ực ngăn cách vật phát và vật thu.” [9, tr.28]
John Lyons phân tích: Một sự vật được coi là tín hiệu (sign) của một cái khác được gọi là biểu trưng Nhờ sự hiện diện của những tín hiệu mà người khác có thể suy đoán nghĩa biểu thị Khi đó biểu trưng (symbol) được xác lập
Theo Enrich Fromm [25] biểu trưng (tượng trưng) có ba loại: tượng trưng mang tính chất tập quán; tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên và tượng trưng phổ
biến Theo đó, tượng trưng mang tính chất tập quán là ngôn ngữ sử dụng hằng ngày
Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của loại tượng trưng này không có mối quan
hệ nội tại Tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thế
Trang 36Với tư cách là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Chất
liệu biểu trưng là cái nằm ngoài, vật mà nó biểu trưng lại nằm sâu trong nội tâm Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng để diễn đạt kinh nghiệm nội tại, nó hầu như
là sự thể nghiệm cảm quan đó; nó là một vật nào đó do ảnh hưởng của thế giới vật
lý tác động đến chúng ta Ngôn ngữ biểu trưng là một loại ngôn ngữ như sau: thế
giới bên ngoài là biểu trưng cho thế giới nội tại là biểu trưng cho linh hồn và tâm linh
Trong công trình “Tìm hi ểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)”, Nguyễn Đức Tồn đã
quan niệm: “Biểu trưng là lấy một sự vật và hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính
ch ất tượng trưng ước lệ một cái gì đó mang tính trừu tượng Đó là một hiện tượng khá ph ổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánh quan niệm ngây thơ dân gian c ủa một tộc người khi được cố định hóa trong ngôn ngữ Khi một sự vật,
m ột hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ được gợi lên trong ý thức người bản
ng ữ sự liên tưởng khá bền vững” [88, tr.285]
Hoàng Trinh trong “T ừ kí hiệu học đến thi pháp học” cho rằng: “Biểu trưng
là m ột sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái ở bên ngoài, theo m ột quan hệ ước lệ, tức là võ đoán (không tất yếu) giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài” [91, tr.84-85] và “Trong văn học, biểu trưng là một loại
kí hi ệu mang tính chất một hình thể từ ngữ như ẩn dụ, hoán dụ, phóng dụ…” [91,
tr.89]
Trong “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã đề cập đến biểu
trưng ở tầng sâu hơn là biểu trưng nghệ thuật: “Nguồn gốc của ngôn ngữ không có
gì khác chính là s ự sử dụng những yếu tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào
m ục đích thẩm mĩ Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những yếu tố,
nh ững chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thành hình
th ức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông thường của những yếu tố ngôn từ được sử dụng Ta gọi là ý nghĩa biểu trưng ngh ệ thuật” [3, tr.12]
Trang 37Tóm lại, dù hiểu dưới góc độ nào, ta cũng có thể khẳng định rằng biểu trưng (biểu tượng, tượng trưng) là thông qua cái A để nói cái B dựa vào sự tương đồng hay tương cận, hay dùng một vật, một biểu thức ngôn ngữ nào đó có hình thức, có đặc tính thích hợp để gợi ra sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó, và biểu tượng chính là hình ảnh tượng trưng Và thật sự, dù được thể hiện bằng nhiều quan
niệm khác nhau nhưng biểu tượng vẫn chưa thoát khỏi sự minh định của các phương thức chuyển nghĩa mà đặc biệt là ẩn dụ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri
Trong “T ục ngữ Việt Nam”, khi đề cập về nghĩa của tục ngữ, Chu Xuân Diên
viết: “… trong vốn tục ngữ của người Việt, bên cạnh những câu có một nghĩa-
nghĩa đen, còn có rất nhiều câu có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng” [14, tr 142
- 143] Còn Đỗ Bình Trị thì cho dùng khái niệm “đơn nghĩa” và “đa nghĩa”: “…
t ục ngữ có thể chia làm hai loại cơ bản: loại đơn nghĩa và loại đa nghĩa Những câu t ục ngữ thuộc loại đơn nghĩa là những câu chỉ có thể hiểu theo “nghĩa đen””
[90, tr 378 - 379]
Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa có thể chia thành hai loại: loại thứ
nhất gồm những câu vừa được hiểu theo nghĩa đen, vừa có thể (và thường) được
hiểu theo “nghĩa bóng”… loại thứ hai gồm những câu chỉ được dùng theo “nghĩa
bóng”… Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa chiếm tỉ lệ hơn hẳn so với những câu đơn nghĩa
Ngoài ra, còn có tác giả đề cập đến một loại nghĩa thứ ba: nghĩa khái quát
Có thể kể đến một số tác giả như Nguyễn Đức Dân, Phan Thị Đào, Triều Nguyên
Trang 38Nguyễn Đức Dân trong bài viết “Đạo lí trong tục ngữ” đã nhắc đến nghĩa
này và nêu ra quá trình tạo ra ý nghĩa khái quát là dựa trên cơ sở suy luận chặt chẽ Nguyễn Đức Dân cũng cho rằng nghĩa của thành ngữ được khái quát lên từ nghĩa đen của nó, chính là nghĩa biểu trưng Nếu như nghĩa của tục ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của một câu thì nghĩa của thành ngữ được hình thành qua nghĩa biểu trưng của cụm từ Đồng thời, các yếu tố trong thành ngữ cũng có giá trị
biểu trưng
Còn Phan Thị Đào trong “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ” cũng nêu ra tục ngữ có
ba nghĩa: nghĩa đen, nghĩa bóng (nghĩa hình tượng) và nghĩa khái quát Về ý nghĩa khái quát, tác giả viết: “… ta có những câu tục ngữ mà ở đó mỗi vế tồn tại như một
ti ền đề mang ý nghĩa khái quát cao, còn kết đề là một phán đoán mang ý nghĩa khái quát cao hơn, nhưng không tồn tại trên văn bản mà được rút ra từ tư duy của người
ti ếp nhận.” [21, tr 22]
Triều Nguyên cũng cho rằng tục ngữ có ba loại nghĩa
Nhưng thực chất việc phân giới giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa khái quát chưa thật sự rõ ràng, cách mà các tác giả dẫn ra về cơ chế tạo nghĩa khái quát cũng
tương tự như cơ chế tạo ra ý nghĩa biểu trưng Như Triều Nguyên đã viết: “Nghĩa
khái quát được rút ra trên cơ sở những hình ảnh, khái niệm cụ thể của câu tục ngữ, sao cho ý nghĩa được rút ra phải bao hàm ý nghĩa của câu tục ngữ.” [63, tr.11] Nó
không khác gì với ý nghĩa biểu trưng
Vận dụng một trong những cách hiểu về biểu trưng, tác giả Bùi Khắc Việt
trong “V ề tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt” cho rằng biểu trưng thể
hiện ở chỗ từ “hình ảnh hoặc sự vật cụ thể được miêu tả trong tự nhiên là nhằm nói
v ề ý niệm khái quát” [95, tr.27] và do đó tính biểu trưng theo tác giả khác với tính
hình ảnh Ông dẫn ra quan niệm của V G Jacker, cơ sở của tính hình ảnh là sự
cảm thụ đồng thời hai bức tranh một bức tạo nên nghĩa bóng của từ hoặc của thành
ngữ, một bức tương ứng với nghĩa đen, nghĩa gốc của nó Nghĩa đen là nghĩa cơ sở,
từ đó phát sinh ra nghĩa bóng, nghĩa bóng là sự phản chiếu của nghĩa đen Khái
Trang 39niệm biểu trưng rộng hơn khái niệm tính hình ảnh Do sự vật hoặc tính hình ảnh có
một số phẩm chất nào đó chung với điều nó biểu hiện
Còn Đỗ Hữu Châu xem tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa của một số thành ngữ: “ngữ cố định lấy vật thực việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm,
tính ch ất, hoạt động, tình thế phổ biến, khái quát… Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà
ng ữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức
t ạp hơn một khái niệm đơn” [4, tr.2]
Phan Xuân Thành thì cho rằng: “tính biểu trưng ở đây được hiểu là nghĩa
sâu xa được bộc lộ thông qua ý nghĩa thường gặp của mỗi yếu tố trong thành ngữ Thông thường một thành ngữ có vài yếu tố có tính chất biểu trưng cao, như chìa khóa c ủa thành ngữ, mà theo đó, giải mã được chúng thì cũng đồng thời hiểu được nghĩa tổng hòa của cả tổ hợp chứa chúng” [74, tr.36] Theo đó, tác giả chia biểu
trưng thành biểu trưng đơn giản và biểu trưng phức tạp, biểu trưng trực tiếp và biểu trưng gián tiếp Biểu trưng đơn giản thường gặp ở những thành ngữ so sánh ước lệ
như: trắng như ngà, chậm như rùa… Còn với biểu trưng phức tạp, các yếu tố cấu
tạo bao giờ cũng tiềm ẩn tri thức dân gian sâu sắc chẳng hạn từ lửa trong nóng như
l ửa Biểu trưng gián tiếp thể hiện ở tính nhiều bậc trong biểu trưng ngữ nghĩa
Chẳng hạn trong thành ngữ nhạt phấn phai hương (chỉ sự tàn phai nhan sắc theo
tuổi ngày một già của người phụ nữ) thì hương, phấn trước tiên được coi là phấn
hương của hoa, rồi bông hoa mới là cái biểu trưng cho người phụ nữ
Trịnh Đức Hiển thì quan niệm: “Thành ngữ là loại đơn vị từ vựng có lượng
nghĩa đôi Hai nghĩa ấy gần như song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở, là gốc; nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng nhờ vào sự hình thành của quá trình bi ểu trưng hóa.” [34, tr.62]
Có nhiều cách hiểu khác nhau về biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ Tiếp thu những ý kiến trên, chúng tôi quan niệm dù thành ngữ, tục ngữ có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng nhưng nếu xét về mặt vận dụng thì TNTN chỉ có một nghĩa, nghĩa thành ngữ, tục ngữ hay có thể gọi là nghĩa vận dụng Cả nghĩa đen và nghĩa bóng của thành ngữ, tục ngữ đều chứa yếu tố văn hóa nhưng tập trung chủ
Trang 40yếu và tiêu biểu nhất là ở nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ Biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, như đã nói không chỉ tập trung ở những hình ảnh mang tính tượng trưng, mà nó còn thể hiện trong tổng hòa mối quan hệ của các thành tố ngôn ngữ, cả ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ
Chính vì cách hiểu như vậy, cho nên người viết tập trung chủ yếu vào nghĩa
biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ để nêu bật đặc trưng văn hóa và sự khác biệt ấy qua hai ngôn ngữ khác nhau Hơn thế nữa, cũng chính quan niệm như trên nên
người viết tập trung vào “biểu trưng” đặc trưng của thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ
màu sắc: biểu trưng của yếu tố ngôn ngữ chỉ màu sắc và biểu trưng mang tầng bậc
thứ hai nghĩa biểu trưng của cả thành ngữ, tục ngữ Nghĩa biểu trưng ấy được hình thành thông qua các phương thức chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ) Từ những nghĩa phái sinh thông qua các phương thức chuyển nghĩa ấy, dần dần ý nghĩa đó trở nên
bền vững và trở thành ý nghĩa biểu trưng Trong quá trình nghiên cứu, người viết
tập trung tìm hiểu phương thức mà YTMS tham gia biểu trưng cũng như ý nghĩa
biểu trưng mang tính văn hóa đặc thù dân tộc
1.4 Ti ểu kết
Ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau Với tư cách là một trong những yếu tố chứa đựng văn hóa bậc nhất của lớp từ vựng của một dân tộc, thành ngữ, tục ngữ đáng được nghiên cứu, xem xét Và nội dung văn hóa trong lớp thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc, không chỉ thể hiện qua nghĩa biểu trưng của
những yếu tố mang màu sắc, mà còn được thể hiện qua nghĩa biểu trưng, nghĩa ẩn
dụ của thành ngữ, tục ngữ về cuộc sống và cách tri nhận của cộng đồng về một vấn
đề nhất định trong cuộc sống