Nghiên cứu văn học tầm căn qua sáng tác của Phùng Ký Tài là một cách làm sáng tỏ một phần văn hóa Trung Quốc và những đặc điểm của một dòng văn học ít được biết đến, cũng là cách đưa độc
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Nhung
ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC TẦM CĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Nhung
ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC TẦM CĂN QUA SÁNG TÁC C ỦA PHÙNG KÝ TÀI
(ROI TH ẦN, GÓT SEN BA TẤC, ÂM DƯƠNG BÁT QUÁI)
Chuyên ngành: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Mã số: 60 22 30
LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH PHAN CẨM VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Ngữ Văn, phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự trân trọng sâu sắc đến cô, TS Đinh Phan Cẩm Vân – người đã gợi ý và rất nhiệt tình giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đã giảng dạy và cung cấp cho tôi những kiến thức quý giá trong suốt những năm học tập tại trường
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, ủng hộ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện
luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2012
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công
bố trong một công trình khoa học nào
Tác giả
Đinh Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 2
L ỜI CAM ĐOAN 3
M ỤC LỤC 4
D ẪN NHẬP 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 L ịch sử vấn đề 8
3 Ph ạm vi đề tài 11
4 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn 11
CHƯƠNG 1: VĂN HỌC TẦM CĂN VÀ PHÙNG KÝ TÀI 13
1.1 Dòng văn học tầm căn 13
1.1.1 Khái niệm “tầm căn” và văn học tầm căn 13
1.1.2 Nguyên nhân ra đời 17
1.1.3 Đặc điểm của văn học tầm căn 23
1.2 Phùng Ký Tài – người miệt mài đi tìm văn hóa 32
1.2.1 Nhà văn, họa sĩ, nhà văn hóa Phùng Ký Tài 32
1.2.2 Bộ ba “quái thế kì đàm” 36
CHƯƠNG 2: THIÊN TÂN – CẢM HỨNG TRONG “QUÁI THẾ KÌ ĐÀM” 42
2.1 Đôi nét về vùng đất lịch sử - văn hóa Thiên Tân 42
Trang 62.1.1 Thiên Tân thời kỳ trước những năm 1860 42
2.1.2 Thiên Tân từ 1860 trở đi 45
2.2 Thiên Tân – nơi “tầm căn” của Phùng Ký Tài 48
2.2.1 Đề tài, chủ đề 48
2.2.2 Thế giới nhân vật 52
2.1.3 Chất liệu văn hóa dân gian 68
CHƯƠNG 3: CẢM HỨNG VỀ NHỮNG BIỂU TƯỢNG MANG TÍNH QU ỐC GIA TRONG “QUÁI THẾ KỲ ĐÀM” 79
3.1 Bím tóc 79
3.1.1 Nguồn gốc hình thành 79
3.1.2 Hình ảnh bím tóc trong tác phẩm Roi thần của Phùng Ký Tài 82
3.2 Gót sen – t ục bó chân của phụ nữ Trung Quốc 87
3.2.1 Chân bó và quá trình hình thành 87
3.2.2 Bàn chân bó trong “Gót sen ba tấc” của Phùng Ký Tài 89
3.3 Văn hóa âm dương và tục lưu truyền của gia bảo trong Âm dương bát quái 98
3.3.1 Quan niệm của người Trung Quốc về âm dương 98
3.3.2 Sự biến hóa của âm dương bát quái trong tác phẩm của Phùng Ký Tài 101
K ẾT LUẬN 107
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 109
PH Ụ LỤC 1 117
PH Ụ LỤC 2 122
Trang 7PH Ụ LỤC 3 127
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lí do ch ọn đề tài
Trung Quốc là một đất nước có truyền thống lâu đời về văn hóa và văn
học Cùng với sự biến đổi của xã hội, văn học cũng không ngừng thay đổi với
sự phong phú hơn về đề tài, thể loại hay cách biểu hiện Nhất là từ sau Cách
mạng văn hóa, nhiều dòng văn học đã xuất hiện Có thể kể tới dòng văn học
vết thương, văn học phản tư, văn học cải cách, văn học tiên phong,… Và cũng không thể không kể đến dòng văn học tầm căn
Khi nhắc tới khoảng thời gian Trung Quốc vừa bước ra khỏi Cách
mạng văn hóa và bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, người ta thường nhấn
mạnh và tìm hiểu dòng văn học vết thương, văn học phản tư nhiều hơn bởi sau Cách mạng văn hóa, các nhà văn được tự do ngôn luận, tự do sáng tác Họ
viết về những nỗi đau, được mất của bản thân, bày tỏ thái độ của mình với các
vấn đề của đất nước mà họ đã được chứng kiến,… Dòng văn học này có một
lực lượng sáng tác rất đông đảo với nhiều tên tuổi nổi tiếng Nhưng ít ai biết
rằng, bên cạnh đó còn có một dòng văn học miệt mài đi tìm những cái xưa cũ, tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc – văn học tầm căn
Văn học tầm căn là một trong năm trào lưu chính của văn học Trung
Quốc khoảng hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX Văn học tầm căn giúp người đọc khám phá những điều mới mẻ ở những vùng đất mới và những nét văn hóa truyền thống dân tộc mà ta chưa biết đến hoặc đã vô tình lãng quên qua cái nhìn của con người hiện đại Ở Trung Quốc, văn học tầm căn được chú
trọng nghiên cứu nhưng ở Việt Nam, thuật ngữ văn học tầm căn có lẽ còn khá
xa lạ với nhiều người Chính vì vậy, tìm hiểu về văn học tầm căn với những đặc điểm của nó cũng là cách góp thêm một cái nhìn để hoàn chỉnh hơn bức
Trang 9tranh văn học sôi động của một trong những quốc gia giàu truyền thống nhất phương Đông này
Trong dòng tiểu thuyết phong vị đô thị của văn học đương đại thời kỳ
mới ở Trung Quốc, nhánh tiểu thuyết “phong vị Thiên Tân” chiếm một bộ
phận quan trọng Thiên Tân nằm ở phía Đông Bắc, là thành phố cảng vào loại
lớn nhất ở Trung Quốc Nơi đây, sắc thái văn hóa bản địa hết sức phong phú
và cũng là nơi chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa phương Tây Phùng Ký Tài
là người Thiên Tân Ông tự đặt cho chính mình phải viết cho ra “cái vị Thiên Tân chính cống” Để thực hiện điều đó, Phùng Ký Tài đã chọn viết về những
di tích văn hóa thể hiện ở “người nhàn, việc tạp, chuyện lạ” cuối đời Thanh, đầu đời Dân quốc Sáng tác của Phùng Ký Tài vừa mang tính chất khám phá,
thể hiện và lí giải văn hóa Trung Quốc, vừa mang tính chất “phê phán tính
xấu của dân tộc”, đưa đến cho người đọc một cái nhìn mới Đó cũng chính là
điều văn học tầm căn hướng tới Bộ ba tiểu thuyết Roi thần, Gót sen ba tấc,
Âm dương bát quái thể hiện được điều đó Ngay từ tên gọi tác phẩm đã đậm
đặc chất văn hóa Bộ ba tác phẩm khi ra đời đã gây tiếng vang lớn trên thi đàn văn học Trung Quốc và được coi là tiêu biểu cho dòng văn học tầm căn Nghiên cứu văn học tầm căn qua sáng tác của Phùng Ký Tài là một cách làm sáng tỏ một phần văn hóa Trung Quốc và những đặc điểm của một dòng văn
học ít được biết đến, cũng là cách đưa độc giả đến gần hơn với một trào lưu
lớn của văn học Trung Quốc Xuất phát từ mong muốn đó, chúng tôi đã chọn
Trang 10Hàn Thiếu Công bàn về Gốc của văn học Ở đó, Hàn Thiếu Công đã viết:
Văn học có gốc rễ, gốc rễ của văn học cần phải bắt sâu vào thổ nhưỡng văn hóa truyền thống của dân tộc Rễ mà không sâu tất lá khó tươi tốt Vì vậy, một tác giả trẻ ở Hồ Nam đã đi tìm và đưa ra câu trả lời cho vấn đề là “tầm căn” 1
[71] Sau đó, năm 1985, Hàn Thiếu Công cho ra đời truyện ngắn Bố,
bố, bố và được coi là tiêu biểu của tiểu thuyết văn học tầm căn Ở Việt Nam, văn học tầm căn xuất hiện trong bài giới thiệu Hàn Thiếu Công và “Từ điển
Mã Ki ều” nhân dịp xuất bản cuốn Từ điển Mã Kiều của công ty sách Nhã
Nam; đồng thời xuất hiện với tư cách là một thuật ngữ, một khái niệm qua
cuộc phỏng vấn với dịch giả Trần Đình Hiến về nhà văn Mạc Ngôn hay cuộc
phỏng vấn với nhà văn – TS Nguyễn Thị Bích Hải của trường Đại học Sư
phạm Huế về những điểm tương đồng giữa văn học Trung Quốc hiện đại và
văn học Việt Nam hiện đại Dịch giả Đình Hiến nói: Lịch sử văn học Trung
Quốc đương đại có một giai đoạn gọi là “văn học vết thương”, tức là cho phép người viết nói ra tất cả, nói không kiêng dè gì Nhưng sau đó, khi đã đủ
độ thì họ biết dừng lại để chuyển sang “văn học tầm căn” hướng về bản thể
[66] Trong bài phỏng vấn, tác giả Nguyễn Thị Bích Hải nhắc tới: “Văn học
t ầm căn” là một sự “trở về” tìm lại những nhân tố tích cực trong mấy ngàn năm văn hóa để làm điểm tựa cho việc xây dựng một “nền văn học hiện
th ực xã hội chủ nghĩa” mang màu sắc Trung Quốc [65]
Tháng 1 năm 2012, luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu dòng văn học tầm căn Trung Quốc của học viên Phan Thị Trà trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã trình bày một cách rõ ràng hơn
về dòng văn học này Trong luận văn, tác giả đã tìm hiểu khái quát về văn
học tầm căn, một số tác gia tiêu biểu như Hàn Thiếu Công, Phùng Ký Tài,
1 Nguyên văn: “文学有“根”,文学之“根”应深植于民族传说文化的土壤里,根不深,
Trang 11Mạc Ngôn, Giả Bình Ao Đồng thời tác giả luận văn cũng trình bày rất cụ
thể hai phần “Văn học tầm căn dưới ý thức tự ngã dân tộc” và “Văn học
tầm căn dưới góc nhìn huyền thoại” mà tác giả cho rằng đó là hai nội dung chính của văn học tầm căn
Độc giả Việt Nam có lẽ đã rất quen thuộc với những tác giả như Giả Bình Ao, Mạc Ngôn, Vương An Ức hay Hàn Thiếu Công,… nhưng có lẽ còn khá xa lạ với Phùng Ký Tài Một phần bởi sáng tác của Phùng Ký Tài không quá nhiều như các nhà văn khác và cũng bởi sáng tác của ông không phải là
những đề tài phổ biến Chính vì vậy, những bài viết về Phùng Ký Tài rất hiếm
Năm 2002, bài viết Văn học đương đại Trung Quốc: Các nhà văn trẻ dồn sức sáng tác văn xuôi trên báo Sài Gòn giải phóng có đề cập tới tác giả
Phùng Ký Tài nhưng cũng chỉ là một đoạn văn ngắn có tính chất giới thiệu cây bút trẻ, đồng thời nói lên mục đích sáng tác của Phùng Ký Tài “thông qua
sự biến thiên của văn hóa để nói về sự biến thiên của xã hội” Năm 2005, trên website của báo Người lao động đăng tác phẩm Cửu vạn trên núi của ông
Truyện ngắn viết về nét độc đáo và cái nhìn rất lạ trong công việc của “cửu
vạn” (những người gánh hàng lên núi cao) nhân dịp tác giả lên chơi núi Thái
Sơn năm 1983 Năm 2007, trên nguyệt san Công giáo và dân tộc số 146,
xuân Đinh Hợi có in một truyện ngắn của tác giả Phùng Ký Tài Đó là tác
phẩm Vợ cao chồng lùn do Lê Anh Minh dịch Bản dịch cũng giới thiệu sơ
qua về tác giả Phùng Ký Tài và một số tác phẩm tiêu biểu của ông Tác giả Phùng Ký Tài cũng được giới thiệu ngắn gọn trong phần đầu của bộ ba tác
phẩm Roi thần – Gót sen ba tấc – Âm dương bát quái Ngoài ra, tên tuổi của
Phùng Ký Tài còn xuất hiện trên một số website với tư cách là một nhà văn,
một họa sĩ, một nhà hoạt động văn hóa
Những bài viết Phùng Ký Tài và những tác phẩm của ông đã hiếm,
những bài viết về văn học tầm căn lại càng hiếm Việc nghiên cứu văn học
Trang 12tầm căn qua sáng tác của Phùng Ký Tài ở Việt Nam là một vấn đề còn bỏ
trống
3 Ph ạm vi đề tài
Tác phẩm của Phùng Ký Tài được in thành sách ở Việt Nam chỉ có Roi
th ần, Gót sen ba tấc, Âm dương bát quái Vì vậy, trong luận văn này, chúng
tôi sẽ nghiên cứu một vài đặc điểm của văn học tầm căn thông qua bộ ba tác
phẩm nói trên cả về phương diện nội dung và nghệ thuật dựa trên văn bản
dịch Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi sẽ so sánh, liên hệ với một số tác phẩm khác của Phùng Ký Tài và của một số nhà văn khác để làm nổi bật thêm vấn đề cần nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn
Trong quá trình viết bài, chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phê bình huyền thoại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp xã hội học
- Phương pháp văn hóa – văn học
Về bố cục luận văn: Luận văn gồm các phần: phần dẫn nhập, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Trong đó phần nội dung là
phần chính
Ph ần dẫn nhập: giới thiệu những vấn đề khái quát về lí do người viết
chọn đề tài, những công trình nghiên cứu trước đó về tác giả và tác phẩm, giới
hạn phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn để người đọc tiện theo dõi
Trang 13Phần nội dung: gồm ba chương:
Chương 1: Văn học tầm căn và Phùng Ký Tài
Ở chương này, chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm, nguyên nhân ra đời, đặc điểm chủ yếu của dòng văn học tầm căn Tác giả Phùng Ký Tài lại gắn liền
với văn học tầm căn nhưng ít ai biết đến Vì vậy, chúng tôi muốn giới thiệu sơ lược đôi nét về tác giả và tác phẩm để người đọc có thể nắm bắt sơ lược đồng
thời làm tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề sau
Chương 2: Thiên Tân – nguồn cảm hứng trong “quái thế kỳ đàm”
Thiên Tân là vùng đất giàu lịch sử, văn hóa của Trung Quốc, là nguồn
cảm hứng của rất nhiều nhà văn Thiên Tân trong sáng tác Phùng Ký Tài có tính chất “tầm căn”, mang nhiều điểm khác biệt Chúng tôi sẽ khai thác làm rõ
vấn đề trên các phương diện đề tài, chủ đề, nhân vật, một số chất liệu văn hóa dân gian được khai thác
Chương 3: Cảm hứng về những biểu tượng văn hóa mang tính
qu ốc gia trong “quái thế kỳ đàm”
Sáng tác của Phùng Ký Tài vừa đề cập đến một số biểu tượng văn hóa
có tính chất truyền thống lâu đời của đất nước Trung Hoa vừa thể hiện được cái nhìn riêng của con người hiện đại Đó là cách nhìn về gót sen, tóc bím, tục lưu truyền gia bảo Ở chương 3, chúng tôi sẽ tập trung khai thác vấn đề này
Ph ần kết luận: Nêu những đóng góp của luận văn và đề xuất hướng
nghiên cứu tiếp
Tài liệu tham khảo: Những tài liệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Trung
Quốc chúng tôi có sử dụng để viết luận văn
Ph ụ lục: Gồm ba phụ lục về bài viết và hình ảnh liên quan đến vấn đề
cần nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1: VĂN HỌC TẦM CĂN VÀ PHÙNG KÝ TÀI
1.1 Dòng văn học tầm căn
1.1.1 Khái ni ệm “tầm căn” và văn học tầm căn
Theo Từ điển Hán Việt, “tầm” (尋) là động từ, nguyên nghĩa gốc là tìm,
dựa vào; “căn” (根) là danh từ, nguyên nghĩa gốc là rễ cây Sau này, người ta dùng từ “căn” để nói về phần dưới, phần gốc của vật thể và từ “căn” cũng có nghĩa là “gốc, nguồn, nền tảng”
Vậy có thể hiểu “tầm căn” có nghĩa là tìm về với cái gốc rễ, tìm về với nguồn cội
Trong khoảng 25 năm cuối của thế kỉ XX, văn học Trung Quốc phát triển với nhịp độ rất nhanh với sự “gối sóng” của năm trào lưu chính (TS Nguyễn Thị Bích Hải): văn học vết thương, văn học phản tư, văn học cải cách, văn học tầm căn, văn học tiên phong [66] Nhưng thực ra giữa các dòng văn học này có sự phát triển song song
Nói về văn học vết thương, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Trung
Quốc, GS Chúc Ngưỡng Tu giải thích:
Dân t ộc nào cũng có những trang sử vẻ vang, nhưng đồng thời cũng có những vết thương của mình Vết thương đó có thể nặng hay nhẹ, chỉ có dân tộc đó thấu hiểu được những đau khổ do vết thương mang t ới Cách mạng văn hóa Trung Quốc đã mang lại bao nhiêu đau
kh ổ, bi kịch cho bao nhiêu người Người ta phải nghĩ lại, không phải để lên án hay khóc lóc mà để rút ra bài học để ngăn ngừa những việc tương tự trong tương lai Ở Trung Quốc dòng văn học về vấn đề này được gọi là “dòng văn học thương tích” (hay “văn học vết thương” –
người viết) [67]
Đồng thời cũng theo Giáo sư:
Trang 15Lật lại bài học quá khứ không phải để gây thù hằn, mâu thuẫn hay để than khóc; mà để rút ra bài học Phải nhìn thẳng vào quá khứ
để định hướng tương lai Không thể né tránh “vết thương” bởi đơn
gi ản, dù thế nào, nó là một phần của lịch sử [67]
Có thể nói, những năm sau Cách mạng văn hóa, bước ra từ chính những
vết thương của dân tộc mình, một bộ phận lớn các trí thức và nhà văn đã có
thể tự do bày tỏ ý kiến, quan niệm của mình về các vấn đề được – mất của xã
hội, không phải để ủy mị, mà để nhìn nhận lại, đứng lên và đi tiếp Tác giả tiêu biểu có thể kể đến: Vết thương của Lư Tân Hoa, Ôi (Phùng Ký Tài), Tôi phải làm thế nào (Trần Quốc Khải), Mãi mãi là mùa xuân (Thẩm Dung), Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ,…
Văn học phản tư là sự “suy ngẫm lại” về những nguyên nhân dẫn đến
“vết thương” sâu nặng trong tâm hồn dân tộc, tưởng như một “trò đùa”
ngẫu nhiên của lịch sử, nhưng thực ra nó có nguyên nhân sâu xa từ trong văn hóa truyền thống và tâm linh của con người (TS Nguyễn Thị Bích Hải) Dòng văn học phản tư cũng xuất hiện gần như đồng thời hoặc sau một chút
so với văn học vết thương Hay nói chính xác hơn, văn học phản tư ra đời là
kết quả tất yếu của sự phát triển văn học vết thương Nếu như văn học vết thương nặng về phơi bày những đau khổ trong thời động loạn, thì văn học
phản tư hướng tới việc suy nghĩ, nhìn nhận lại những vấn đề mang tính lịch
sử - xã hội của khuynh hướng “tả khuynh” từ năm 1949 trở lại Các tác phẩm tiêu biểu cho dòng tiểu thuyết này là: Ký ức của Trương Huyền Đăng, Câu chuy ện bị cắt xén sai (Như Chí Quyên), Cây lục hóa, Một nửa đàn ông là đàn bà (Trương Hiền Lượng), Hồ điệp (Vương Mông), Thị trấn Phù Dung
(Cổ Hoa),…
Hầu như song song với hai dòng văn học trên là dòng văn học cải cách Đặc điểm chủ yếu của tiểu thuyết cải cách là: 1) Nhiệt liệt ủng hộ cải cách,
Trang 16hô hào cải cách, cố gắng theo kịp bước chân của thời đại, phản ánh kịp thời
tiến trình cải cách; 2) Phản ánh sự thay đổi của xã hội; con người trong cải cách, phản ánh những hi vọng, những thất vọng cùng những vấp váp, bàng hoàng lo âu của mọi người trong quá trình cải cách; 3) Sáng tạo ra được một
số “anh hùng thời đại” trong công cuộc mở đường, cải cách Một số tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học này là: Kiều xưởng trưởng nhậm chức (Tưởng
Tử Long), Tam thiên vạn (Kha Vân Lô), Bức tường bị vây (Lục Vân Phu), Thanh âm mùa xuân (Vương Mông), Trăng núi không hiểu chuyện thầm kín (Chu Khắc Cần),…
Trong khi đó, các nhà văn của dòng văn học tiên phong lại chú trọng nhiều hơn đến việc thử nghiệm trong văn học Họ quan tâm đổi mới phong cách, ngôn ngữ, đề tài, cốt truyện, nghệ thuật trần thuật… Họ nhấn mạnh đến vai trò của tưởng tượng trong quá trình sáng tác để văn học thực sự là sản
phẩm của nghệ thuật hư cấu chứ không phản ánh hiện thực đơn thuần Dòng văn học này yêu cầu nhà văn “phải có thái độ trung thực, cởi mở và tự nhiên trong sáng tác, tránh tình trạng rập khuôn, máy móc và sáo mòn trong tư duy, sáng tạo nghệ thuật” [18; tr.120] Trào lưu này chịu ảnh hưởng của phái
“Tiểu thuyết mới” và “Tiểu thuyết hiện đại phương Tây” Các sáng tác tiêu
biểu có thể kể đến: Đời người (Lộ Diêu), Câu chuyện phạm nhân Lý Đồng chuông (Trương Nhất Cung), Sống (Dư Hoa), Đèn lồng đỏ treo cao (Tô
Đồng),…
Văn học tầm căn là một dòng văn học xuất hiện vào khoảng những năm
80 của thế kỷ XX khi mà cải cải cách mở cửa, những giá trị văn hóa của phương Tây tràn vào có nguy cơ làm vỡ những giá trị văn hóa, đạo đức,
thẩm mỹ truyền thống
Văn học tầm căn là dòng văn học tìm về với cội nguồn dân tộc Theo
họ - những tác gia của dòng văn học này, văn học đương đại Trung Quốc từ
Trang 17lâu đã bị phương Tây lãng quên và điều đó làm tổn thương đến lòng tự hào dân tộc của những cây bút chân chính Các nhà văn thuộc trường phái “tầm căn” chủ trương tìm về nguồn cội, gốc rễ của văn học truyền thống mấy nghìn năm xa xưa của dân tộc Trung Hoa, với hy vọng mang những giá trị văn học truyền thống của Trung Quốc đến với thế giới phương Tây Dựa vào
nền văn hóa dân gian của dân tộc, các tác giả của dòng văn học này đã tìm tòi, khám phá và đưa ra những nhận định, những nhìn nhận mới của mình về
những nền văn hóa xưa đó Tác phẩm Người trên Cát Xuyên giang của Lý
Hàng Dục trích đăng trên tạp chí Tháng Mười năm 1983 có thể coi là tác
phẩm đầu tiên và tiêu biểu của dòng văn học này Tuy nhiên phải đến bài
luận nổi tiếng Gốc rễ của văn học (Hàn Thiếu Công), người ta mới có cái
nhìn đầy đủ hơn về dòng “văn học tầm căn” Hàn Thiếu Công viết:
Văn học có gốc rễ, gốc rễ của văn học cần phải bắt sâu vào thổ nhưỡng văn hóa truyền thống của dân tộc Rễ mà không sâu tất lá khó tươi tốt [71]
Như vậy, có thể thấy rất rõ ràng, các nhà văn của phái “tầm căn” chủ trương dựa vào văn hóa dân tộc để tìm cảm hứng và mạch nguồn cho sáng tác Gốc của văn học tuy dựa trên văn hóa nhưng không phải mang ý nghĩa toàn bộ nền văn hóa Các nhà văn thuộc phái này, mà đại diện tiêu biểu là Hàn Thiếu Công, cho rằng “văn hóa truyền thống Trung Quốc chia thành hai
bộ phận “quy phạm” ở thành thị và “bất quy phạm” ở làng quê Họ cho rằng, trong văn hóa truyền thống, nên khẳng định và phát huy hơn nữa phần tinh hoa văn hóa “bất quy phạm” đang tồn tại trong phong tục tập quán ở những nơi xa xôi hoang dã, trong truyền thuyết, dã sử, trong tư tưởng Đạo gia và triết học Thiền tông; còn đối với văn hóa “quy phạm” đã được thể chế hóa
lấy học thuyết Nho giáo làm nòng cốt, thì giữ thái độ từ chối, phủ định, phê phán” [8, tr.6] Mong muốn của các nhà văn phái “tầm căn” là vừa khám phá
Trang 18lại vừa phủ nhận, đưa ra những phán đoán và nhận thức mới đối với nền văn hóa dân tộc để từ đó có cái nhìn phản tỉnh xã hội hiện đại Có lẽ vì thế mà họ
rất coi trọng Lỗ Tấn, coi Lỗ Tấn là người khai sáng
Văn học tầm căn từ khi ra đời đã được rất nhiều thế hệ ưa thích và có
một số lượng lớn các tác giả Ngoài Lý Hàng Dục, Hàn Thiếu Công, ta còn
có thể kể đến những tên tuổi nổi tiếng như Giả Bình Ao, Vương An Ức, A Thành, Phùng Ký Tài, Mạc Ngôn, Trịnh Nghĩa, Đặng Hữu Mai, Lục Văn Phu, Trương Thừa Chí, Trịnh Vạn Long, Trần Kiến Công,… với một loạt
những tác phẩm như: Bố bố bố, Nữ nữ nữ, Từ điển Mã Kiều, Sông Nam núi Bắc (Hàn Thiếu Công); Ba vua của A Thành; Tiểu bào trang của Vương
An Ức; Na ngũ, Yên Hồ (Đặng Hữu Mai); Thụ giới của Uông Tăng Kỳ;
H ắc tuấn mã (Trương Thừa Chí); Roi thần, Gót sen ba tấc, Âm dương bát quái của Phùng Ký Tài;
1.1.2 Nguyên nhân ra đời
Trước hết, văn học tầm căn ra đời xuất phát từ lịch sử và xã hội, sự
du nh ập văn hóa phương Tây vào Trung Quốc trong thời mở cửa và
là cần thiết và trí thức phải kết hợp với công nông “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” là phương châm lâu dài của Đảng, phải mạnh tay “phóng” cho
mọi người dám phát biểu, dám phê bình, dám tranh luận Thế là trong chỉnh,
Trang 19ngoài phê, bao nhiêu cuộc tọa đàm, bao nhiêu buổi sinh hoạt tổ nhóm để nghe
ý kiến của quần chúng được tổ chức Cuộc chiến đấu chống hữu khuynh mở
rộng đến các huyện, các khu, nhà máy, hầm mỏ Nhiều đồng chí trung trinh, nhiều bạn bè hợp tác đã lâu dài với Đảng, nhiều trí thức tài năng, nhiều thanh niên nhiệt huyết… bỗng nhiên bị truy chụp, đấu tố đã trở thành kẻ thù, bị hãm
hại suốt đời, làm cho nhà nước tổn thất không biết nhường nào Chính quyền cho rằng địa chủ mại bản, phần tử hữu khuynh bị đánh đổ cùng bè lũ phản động và tư sản dân tộc đang tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa với phần tử trí
thức của họ đều thuộc về bóc lột, chỉ có công nông là lao động
Đại cách mạng văn hóa là một giai đoạn hỗn loạn xã hội và tình trạng
vô chính phủ ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa diễn ra trong 10 năm từ năm
1966 – 1976, gây tác động rộng lớn và sâu sắc lên mọi mặt của cuộc
sống chính trị, văn hóa, xã hội Cuộc cách mạng này đã làm thay đổi quan
niệm xã hội, chính trị và đạo đức của quốc gia một cách sâu sắc và toàn diện
Cuộc cách mạng này được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng Theo các nhà xã hội học, cách mạng Văn hoá “không gì khác hơn là một chiến dịch nhằm phá sạch tất cả văn hoá truyền thống và đức tin của người dân Trung Quốc” Chiến dịch này đã dẫn đến những thảm trạng vô luân như con cái đánh đập và thậm chí giết cha mẹ mình, học sinh lăng mạ và giết bỏ thầy cô giáo, thanh niên đàn áp người già Nhiều người bị “nộp” cho giới chức Trung Cộng (Đảng cộng sản Trung Quốc)
để trở thành món đồ bị chà đạp nhân phẩm ngay nơi công cộng “Giết” thậm chí đã trở thành một tiêu chí để xem một cá nhân có trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc hay không Tình cảnh đại loạn
xảy ra khắp nơi, và một số nơi diễn ra công khai hoạt động “ăn thịt người”
“Thế giới bên ngoài chỉ cảm nhận một góc nhìn hời hợt của bạo lực”,
Trang 20Kenneth Lieberthal, một học giả nghiên cứu Trung Quốc, viết, “khi những xác người đã bị xé nát, nhiều cái không có đầu, trôi nổi trên sông Trân Châu, Hương Cảng.” Ước tính có khoảng 7,73 triệu người đã bị chết và bị giết trong mười năm Cách mạng văn hóa
Phong trào chống “phái hữu” và cách mạng văn hóa đã làm bao nhiêu giá trị văn hóa dân tộc bị đảo lộn, thậm chí bị phá bỏ Cùng với điều đó là
những ảnh hưởng của sự du nhập văn hóa phương Tây vốn có từ trước đến
thời kì cải cách mở cửa lại càng thêm sôi sục, nóng bỏng Những thành tựu văn hóa, khoa học, kĩ thuật, sự du nhập những phát minh mới của phương Tây
đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy người Trung Quốc Từ đó, họ hình thành thói quen sùng bái phương Tây quá mức mà coi nhẹ truyền thông dân tộc, coi dân tộc mình là lỗi thời, chậm tiến bộ,… Hoặc có một bộ phận thứ hai là sợ hãi, ra sức phủ nhận những tiến bộ của văn minh phương Tây, coi đó là những
thứ kì quái làm mê hoặc con người Vì vậy rất cần có những nhận thức đúng đắn, đúng mức và phù hợp với cái mới Và con người thường có thói quen nhìn vào quá khứ để tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại Chính vì vậy sau cách mạng văn hóa, ý thức khôi phục lại những giá trị văn hóa đã bị đảo
lộn dâng lên mạnh mẽ Những năm 80 ở Trung Quốc nổi lên một phong trào
gọi là “phong trào về nguồn” Phong trào này dâng cao trong nước trước khi
những lá cờ đầu của nền văn học này chính thức phát huy
Văn học tầm căn ra đời còn do sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện
th ực huyền ảo Châu Mĩ Latinh mà đại diện tiêu biểu là G.G Marquez
Châu Mĩ Latinh là một khu vực hỗn tạp dân tộc, gồm người Anh-điêng, người da đen châu Phi và dân ở các nước châu Âu di cư sang Kết cấu những tộc người này đã làm cho các đô thị hiện đại xuất hiện ở châu Mĩ Latinh cùng tồn tại với các bộ lạc nguyên thủy, sắc thái kì dị, thần bí bao trùm lên châu lục Kết cấu dân tộc này cũng là một trong những điều kiện làm nảy sinh chủ
Trang 21nghĩa hiện thực huyền ảo Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là trường phái văn học hình thành và phát triển trong khoảng những năm 40 đến những năm 50 của thế kỉ XX Thế kỉ XX là thế kỉ liên tục nổ ra hai cuộc đại chiến thế giới, cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, nguy cơ kinh tế thế giới của
chủ nghĩa tư bản, đại cách mạng Mêxicô, những sự kiện này không chỉ mang đến thế giới phương Tây mà còn thức tỉnh quần chúng nhân dân châu Mĩ
Latinh, họ nhận thấy lợi ích của các nước châu Mĩ Latinh là thống nhất trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột của nước ngoài, bảo vệ quyền lợi dân tộc, đây chính là bắt đầu hình thành “ý thức châu Mĩ Latinh” Nó kích thích nhiệt tình sáng tác của các nhà văn châu Mĩ Latinh
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo “kế thừa truyền thống chủ nghĩa hiện thực trong văn học châu Mĩ Latinh, kiên trì phản ánh cuộc sống hiện thực ở châu lục, đồng thời lại có đặc trưng phi hiện thực chủ nghĩa, hấp thu truyền thuyết thần thoại trong văn hóa Indian cổ đại làm phong phú thêm nội dung biểu hiện của tác phẩm; hơn nữa lại còn có đặc trưng phản hiện thực chủ nghĩa, tiến hành hàng loạt những thí nghiệm phản truyền thống, tuân theo nguyên tắc phi lí tính” [49] Đây cũng chính là điều mà chúng ta nhìn thấy rất
rõ trong “văn học tầm căn” của Trung Quốc
Trong sáng tác, nó “kết hợp việc truy tìm hiện thực và hình tượng ảo, hoặc biến hiện thực thành thần thoại, hoặc biến hiện thực thành mộng ảo, mộng cảnh, hoặc trong cuộc sống hiện thực cấy ghép sự vật mang sắc thái mộng ảo làm tăng sức biểu hiện cho tác phẩm” [49] Tất cả những điều này đều là “đặt hiện thực vào trong vùng khách quan với hoàn cảnh và không khí huyền ảo, gia tăng miêu tả tường tận, nỗ lực khoác lên hiện thực cái áo huyền
ảo kì quặc, nhưng từ đầu đến cuối không hề tổn hại đến bản chất của hiện thực” [49] Trên phương diện kết cấu, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phá vỡ trật tự tự nhiên của chủ quan và khách quan làm cho không gian, thời gian
Trang 22xếp đặt loạn xạ, đan xen thần thoại và hiện thực, thực cảm và huyễn cảm, người và quỷ, phần lớn dùng thủ pháp nghệ thuật tượng trưng, ám thị, so sánh, thay thế… trong sắc thái mung lung, huyền ảo, thần bí bao hàm nội dung đa
dạng Trăm năm cô đơn của G.Marquez xuất bản năm 1967 được coi là tác
phẩm kinh điển của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, vì tác phẩm này “không chỉ tái hiện lịch sử hơn 100 năm của làng Macondo, mà từ những góc độ khác nhau phản ánh hiện thực xã hội và diễn biến lịch sử của Columbia và toàn bộ châu Mĩ Latinh, tính hiện thực rất cao” [49]; bộ tiểu thuyết này còn “vận dụng thủ pháp nghệ thuật của chủ nghĩa huyền ảo, làm cho hiện thực và kì ảo, sự kiện con người và hình tượng kì dị, tập tục và thần thoại kết hợp với điềm báo, cảm ứng, người chết có thể sống lại, mưa hoa từ trên trời xuống, tấm thảm có thể bay, thiếu nữ có thể lên trời, tác phẩm kì quái, mơ hồ khó hiểu” [49] Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng tác của Marquez đã trở thành những quy phạm kết hợp kì diệu của tinh thần dân tộc và nền văn minh hiện đại nước ngoài
M ột nguyên nhân không thể không kể đến là sự phát triển của chính văn học, ý thức dân tộc và sự tìm tòi của các nhà văn
Xã hội phát triển không ngừng làm cho những lĩnh vực khác cũng phải phát triển theo Văn học cũng không nằm ngoài quy luật ấy Văn học là “kết tinh của một quan hệ xã hội nhiều mặt” Đặc biệt thời thế thay đổi (đối tượng
phản ánh thay đổi) thì văn học phải nhanh chóng và kịp thời phản ánh những
biến đổi đó bởi chức năng của văn nghệ là gắn với đời sống Vì vậy, các nhà phê bình và nghiên cứu lí luận cho rằng văn học ít nhiều có tính lịch sử Đồng
thời, chúng ta cũng thấy rằng, bản thân văn học cũng phải luôn tiến bộ không
ngừng, tức là phải luôn đổi mới, tìm tòi những phương pháp và cách thức mới
để biểu đạt, tránh sự sáo mòn Điều này đúng bởi chức năng của văn học cũng
phải gắn liền với quy luật phát triển của chính văn học và sự sáng tạo “Tác
Trang 23phẩm văn học là tấm gương khách quan về tầm vóc tiếng nói nghệ thuật, chiều sâu phản ánh, trình độ nghệ thuật, tài năng sáng tạo” [26, tr.241]
Có thể thấy rằng, văn học tầm căn ra đời là một lẽ tất nhiên theo yêu
cầu của xã hội Hiện thực xã hội như chúng ta đã nói ở trên là vô cùng cấp bách và cần thiết có một dòng văn học vừa có thể phản ánh những đổi thay
của xã hội, vừa tôn vinh những giá trị đúng đắn của văn hóa truyền thống lại
vừa giúp con người có thể tỉnh táo nhìn nhận những cái chưa phù hợp, yêu
cầu cần có một sự đổi thay để phù hợp hơn Những dòng văn học trước đó như văn học vết thương, văn học phản tư, văn học cải cách ít nhiều đã nói được một khía cạnh nào đó trong các nội dung trên Văn học tầm căn ra đời
có thể coi là một kết quả tất yếu, vừa là sự kế thừa lại vừa là sự sáng tạo Chính nhà văn Phùng Ký Tài cũng mong muốn “thông qua sự biến thiên của văn học để thấy được sự biến thiên của xã hội” [36] Còn Giả Bình Ao thì
“vẫn kiên trì mô tả cuộc sống xã hội hiện thực” với mục đích “nhằm thử phản ứng bộ mặt thật của thời đại này” Bởi “dù có viết tiểu thuyết cách nào, thì vẫn là đang sống trên mảnh đất Trung Quốc, đối mặt với khung cảnh lớn của hiện thực xã hội, nhà văn không thể né tránh điều này” [55]
Để làm được điều đó đòi hỏi các nhà văn tầm căn ngoài việc nhạy bén với cái mới còn phải tìm cho mình một lối viết riêng Cũng là tái hiện hiện thực, nhưng các nhà văn tầm căn không tái hiện một cách đơn giản mà họ còn tìm cho mình những cách biểu đạt phong phú Đó là dùng những gì của quá khứ để lí giải hiện tại Trong các tác phẩm của các nhà văn tầm căn, chúng ta
dễ dàng nhận thấy những cách viết mang đậm yếu tố tượng trưng, siêu thực, những hình ảnh méo mó, dị dạng, ngôn ngữ địa phương,… Tất cả đòi hỏi ý thức sáng tạo không ngừng nghỉ của các tác giả
Như vậy, có thể thấy văn học tầm căn ra đời do nhiều nguyên nhân Có nguyên nhân chủ quan, có nguyên nhân khách quan nhưng có thể thấy sự xáo
Trang 24trộn trong lối sống bị ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây là nguyên nhân chính cho sự ra đời của dòng văn học này
1.1.3 Đặc điểm của văn học tầm căn
Với mục đích dựa vào văn hóa truyền thống để làm nền tảng cho sáng tác nên điều dễ nhận thấy về nội dung, các tác phẩm của văn học tầm căn chính là sự xem xét nền văn hóa dân tộc Điều này được thể hiện qua việc
kh ảo sát một số vùng đất, một số phong tục quốc gia; đồng thời đi tìm nguyên nhân sâu xa để lí giải những nguồn gốc đó
Hàn Thiếu Công cho rằng: “Sự hội tụ của các nền văn hóa khác nhau,
cộng với những trang lịch sử bi hùng của các dân tộc, chính là động lực
thúc đẩy việc ra đời của những tác phẩm kì hoa dị quả” [71] và “Nếu như
cắt bỏ truyền thống, lạc mất khí mạch, chỉ là chuyển dịch các chủ đề và
thủ pháp của nền văn học trong nước, thì đó cũng chỉ là dòng nước không
có nguồn, rất khó có cơ hội phát triển” [71] Nhà văn Phùng Ký Tài cũng đã
viết: “Lịch sử lâu đời của chúng ta đã nuôi dưỡng và kết tinh thành tinh hoa văn hóa, đặc biệt là những cái lừng danh, vang dội - Từ những danh thành, danh trấn, danh phố, danh nhân, danh tác, cho đến phần mộ của những danh nhân sau khi qua đời và cả những nhân vật chính trong các tác phẩm nổi tiếng, cho đến ngày nay đều được liệt vào danh sách di sản các loại văn hóa… đều đang bị phai mờ, cần phải được làm mới, và thậm chí là có thể phá bỏ để làm
lại, lại tả rồng vẽ phượng, lại mang vàng đeo bạc, lại kẻ mắt tô môi, để làm
mới với đời” [74] Nói như vậy để thấy rằng, việc tìm hiểu, bám rễ sâu vào văn hóa dân tộc để khám phá, lí giải văn hóa dân tộc là một việc làm vô cùng
cần thiết
Gần đây các nhà văn trẻ “đã bắt đầu biết nhìn nhận đến mảnh đất dưới chân họ đang đứng, quay trở lại ngày hôm qua của dân tộc, xuất hiện rất
Trang 25nhiều giác ngộ văn học mới” (Hàn Thiếu Công) Giả Bình Ao là một nhà văn tinh thông về văn hóa truyền thống Trung Hoa Tiểu thuyết Thương Châu
của ông mang đậm sắc thái văn hóa Tần Hán, “thể hiện sự tìm hiểu kĩ lưỡng”
của nhà văn đối với địa lý, lịch sử, dân tình của Thương Châu, tự sáng tạo bố
cục, mở rộng những phạm vi mới, ranh giới mới Còn tác phẩm Tần xoang
được xây dựng từ trong thế giới mộc mạc, quê mùa Tần Xoang là tên của một dòng ca kịch địa phương có niên đại từ đời Tần và nó vẫn được người nông dân ở cao nguyên Bắc Thiểm Tây ưa thích Hơn nữa, đối với thế hệ người cũ ở Thiểm Tây, Tần xoang đã thấm sâu vào ý thức và tượng trưng cho tinh thần của vùng đất này và người dân nơi đây Tất cả những điều này đã được thể hiện và khám phá qua ngòi bút của Giả Bình Ao với tình yêu vô bờ bến của tác giả với cuộc sống nông thôn
Cùng đề tài về ca kịch và nông thôn, Mạc Ngôn lại chọn cho mình vùng đất Cao Mật với điệu hát Miêu xoang nổi tiếng Mạc Ngôn đã từng nói rằng làng quê là báu vật của ông Giới phê bình văn học thì phong cho ông danh hiệu cao quý “vị hoàng đế khai phá trời đất của làng Đông Bắc Cao Mật” và Mạc Ngôn đã “biến vùng Cao Mật quê ông thành một khái niệm văn học” Có thể nói, chỉ đến Mạc Ngôn, hơi hướng nồng nặc của vùng đất quê đã được moi ra từ “chiếc bao tải rách” của cái làng Đông Bắc, Cao Mật ấy Trong Đàn hương hình, hai hệ thống âm thanh đầy ám ảnh cứ trở đi trở lại Đó là tiếng
tàu hỏa chạy hàng trăm năm trên con đường sắt Giao Tế cổ lỗ Loại âm thanh thứ hai là hí kịch Miêu xoang thịnh hành và “từng giáo hóa tâm linh” người dân vùng Đông Bắc Cao Mật Miêu xoang là làn điệu trầm bổng, ai oán thê lương “Loại này hát giọng ai oán, rất buồn, nhất là vai nữ, hoàn toàn là tiếng than khóc của những người phụ nữ bị áp bức” (Mạc Ngôn) Ở vùng Đông Bắc Cao Mật, “gần như di truyền”, bất kể già trẻ nam nữ, ai không cần học mà cũng biết hát Miêu xoang Đưa hai âm thanh này vào tác phẩm, Mạc Ngôn đã
Trang 26thể hiện một sự tiếc nuối giá trị văn hóa của một vùng đất ngày nay đang dần
bị lãng quên Có một sự giống nhau giữa Mạc Ngôn và Giả Bình Ao là hai nhà văn này đều cho rằng, chính sự phát triển của cuộc sống hiện đại đã làm cho những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của những vùng quê bị mai một dần Hơi khập khiễng nhưng chúng ta cũng có thể liên hệ tới nhà văn Nguyễn Tuân của Việt Nam – một người luôn tiếc nuối nên luôn luôn đi tìm quá khứ vàng son của dân tộc
Ngoài Giả Bình Ao, Mạc Ngôn chúng ta cũng thấy tiểu thuyết Người trên Cát Xuyên giang của Lý Hàng Dục mang “khí vận của nền văn hóa Ngô Việt” [71] hay Hàn Thiếu Công với vùng đất xa xôi của bản Kê Đầu “nằm trên núi kề sát mây, chỉ cần ra khỏi nhà là mọi người đã lọt vào cõi mây rồi” [8; tr.17], với văn hóa Mã Kiều; Phùng Ký Tài với văn hóa Thiên Tân,… Qua
cuộc sống của các nhân vật trong tác phẩm, trước hết bao giờ người đọc cũng
bắt gặp nét đẹp, lạ trong truyền thống Trung Hoa cùng phương thức truyền
thống biểu đạt cái đẹp, cái lạ đó
Theo E.Henriotte, “văn hóa là cái gì còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” Nhưng không phải tất cả
những gì thuộc về văn hóa đều phù hợp và có giá trị Các nhà văn “tầm căn” không chỉ tái hiện các vùng đất lịch sử văn hóa truyền thống mà còn tiến hành
loại bỏ những căn bệnh của nền văn hóa truyền thống, phê phán những tập tục
xấu của người dân trong nước Trên cơ sở đó để phục hồi ý thức thẩm mỹ truyền thống, đưa ra một nhận định mới, lựa chọn những giá trị mới Đây là điều mà trước đó Lỗ Tấn cũng băn khoăn suy nghĩ rất nhiều
Trong lời nói đầu của cuốn sách Cội nguồn văn hóa Trung Hoa, các nhà
nghiên cứu cho rằng: “Văn hóa truyền thống Trung Quốc vốn là sự nối kết
bản sắc văn hóa của đại gia đình các dân tộc tại Trung Quốc qua các thời đại,
Trang 27đó là sự kết hợp giữa lịch sử và hiện đại Tuy rằng văn hóa truyền thống và văn minh hiện đại không đồng nhất nhưng cũng không hoàn toàn đối lập nhau
Dù tích cực hay tiêu cực thì truyền thống nằm ngay trong hiện tại và hiện tại bao gồm cả truyền thống Do đó để xây dựng xã hội hiện đại hóa mang màu
sắc Trung Quốc không chỉ cần phải biết đến văn hóa truyền thống mà còn
phải hướng nó tới sự hợp lí, phê phán và kế thừa” [12; tr.9] Đồng thời phải
“hiểu rõ truyền thống văn hóa, phân biệt tinh hoa với những cái không có giá
trị” [12; tr.9] Cái nhìn rất tỉnh táo và hiện đại này có lẽ là cội nguồn cho
những thành công của Trung Quốc không chỉ trên lĩnh vực văn học
Mạc Ngôn xác định mình “đã thực hiện một sự chống chọi có tính thụt lùi và một kiểu văn hóa rất Trung Quốc với tư thế của một nhà văn tiên phong” [50] Đọc Đàn hương hình, người đọc dễ nhận thấy sự ngu muội của
người dân Trung Quốc thông qua thái độ thích thú khi xem hành hình Họ
xuất hiện không chỉ để xem và sợ mà còn để tôn vinh tài nghệ của những tên đao phủ giết người và cũng gián tiếp cổ vũ cho cách thức cai trị vô nhân tâm
của triều đình phong kiến Trung Quốc Hình ảnh của những tên đao phủ có lẽ
là minh chứng cho sự thành công của triều đình Đại Thanh với việc làm cho người dân mông muội, dốt nát thành công cụ bất tự giác của chúng Ta chợt
nhớ tới trước đây trong tá phẩm Thuốc, Lỗ Tấn đã thể hiện một cách xuất sắc
tâm lí ngu muội của những người dân khi xem hành hình những người chiến
sĩ cộng sản Cũng là tâm lí vừa sợ hãi, vừa thích thú, vừa phấn khích Không
chỉ thế, Mạc Ngôn còn miêu tả công việc của Triệu Giáp thành công đến
mức “khiến cho hành động dã man vô nhân đạo đang ở đỉnh cao của sự thể
hiện chuyển dần sang sự thức tỉnh say mê.”
Đọc truyện ngắn Bố, bố, bố của Hàn Thiếu Công, ta không khỏi sợ hãi vì
giữa đám hơi khói bốc nghi ngút kia “người lớn đều biết trong nồi đang luộc
Trang 28một con lợn, ngoài ra còn có một cái xác của quân bên kia, tất cả đều được
chặt thành miếng và cho vào nồi luộc” [8; tr.59] Họ chọc được cái gì thì lấy cái đó chia cho già trẻ gái trai “Mọi người không cần biết mình đang ăn thịt
gì nhưng tất cả đều phải ăn” [8; tr.60] Mọi người trong bản ai cũng phải ăn vì
họ là con cháu bản Kê Đầu, cùng chung mối thù giặc, sống chết cùng nhau
Rồi chuyện tế thần Cốc – vốn là lệ cũ của làng “phải giết một ông con trai,
chọn người có mái tóc rậm nhất, rồi chia thịt cho cho chó ăn Giết đến nhà nào thì gọi nhà đó lên làm lễ cầu mùa màng bội thu” [8; tr.40] Đây là những quan niệm rất ấu trĩ và rất đáng sợ của người dân bản Kê Đầu
Hình ảnh người phụ nữ với số phận nhỏ bé của họ luôn là một vấn đề trở
đi trở lại nhiều lần trong văn học Trung Quốc Ngày xưa, Đức Khổng Tử từng nói: “Duy nữ nhân dữ tiểu nhân nan dưỡng dã” (Chỉ có đàn bà và kẻ tiểu nhân
là khó dạy bảo) Ngay cả Khổng Tử cũng có ý coi thường phụ nữ, xếp họ cùng với hạng tiểu nhân trong xã hội Ở Từ điển Mã Kiều, Hàn Thiếu Công
một lần nữa cho ta thấy được điều đó qua cách gọi tên phụ nữ của người dân
Mã Kiều “Người Mã Kiều và những vùng xung quanh rất thiếu từ xưng hô
với phụ nữ có quan hệ thân tộc họ hàng, phần lớn dùng lối xưng hô với nam nhưng phía trước thêm chữ “tiểu” để phân biệt” [9; tr.44] Ví dụ như “tiểu ca”
là chị gái, “tiểu đệ” chỉ em gái, “tiểu thúc”, “tiểu bá” là để chỉ cô, “tiểu cữu”
là dì em mẹ,… Phụ nữ ở đây đã bị “vô danh hóa”, “họ thường ẩn mình sau
những bộ đồ nam tính hóa, mặc quần ống rộng thùng thình hoặc cái áo bông thô kệch để che đi đường cong nữ tính của mình” [9; tr.46] Ngay cả những gì thuộc về tự nhiên được tạo hóa ban tặng, người phụ nữ ở đây cũng coi như
một vấn đề tội lỗi Quan niệm “trọng nam khinh nữ” một lần nữa được tái
hiện rõ và đáng để chúng ta suy nghĩ và thấy rằng đó là một điều không đúng
cần phải được loại bỏ
Trang 29Không chỉ ở Hàn Thiếu Công, ta còn bắt gặp nỗi bất hạnh của người phụ
nữ trong các sáng tác của Phùng Ký Tài Hương Liên, thím ba Đổng Thu Dung và những cô gái sống, làm việc cho nhà họ Đồng trong Gót sen ba tấc
là những người phụ nữ như vậy Hương Liên phải lấy một anh chồng dở điên
dở tỉnh, bị đánh đập suốt ngày Đổng Thu Dung xinh đẹp, hiền lành phải lấy anh chồng có bệnh tim, ba năm sau về chầu Diêm Vương Từ đó, nàng sống cùng con gái đến hết đời ở nhà họ Đồng Vấn đề coi thường người phụ nữ là
một vấn đề đáng lên án, nhất là trong xã hội hiện đại Tái hiện những điều này trong sáng tác của mình, các nhà văn tầm căn muốn tỏ một thái độ phê phán
để người phụ nữ được nhìn nhận đúng vị trí của mình trong xã hội
Đọc Phế đô của Giả Bình Ao, người đọc không khỏi ngạc nhiên vì có
thể thấy ở chốn kinh kỳ xưa, một thời đã là kinh đô hưng thịnh, là trung tâm kinh tế và văn hóa của Trung Hoa trung đại, mặc dù đã bị lãng quên một thời gian dài và cho đến khi nền kinh tế thị trường ùa vào, làm thay đổi đời sống kinh tế và xã hội của mọi loại người nơi đây, nhưng dường như chưa hề làm biến đổi được cái máu háo danh của quân tử Tàu từ thời cổ đại mà đại diện là
những người trí thức “Trong Phế đô chưa thấy ai chết vì lợi mà chỉ chết vì
danh” [52]
Trong ý thức thẩm mỹ, các tác gia văn học tầm căn đều khẳng định tinh
thần nghệ thuật đối với dân tộc, xem trọng những kinh nghiệm thẩm mỹ đối
với truyền thống, làm sống lại những ý thức thẩm mỹ, mở ra một vận mệnh
mới và hứng thú vốn có của dân tộc cung cấp cho nền văn học thời kỳ mới
Ta có thể tìm thấy ở đó “sự đơn giản trang nghiêm của Giả Bình Ao, thâm
trầm bi tráng của Trịnh Nghĩa, mạnh mẽ và giàu trí tưởng tượng của Trương
Thừa Chí” [72], Trịnh Vạn Long “đề cao sự hào hùng, khí chất và sức mạnh
tự nhiên của những nam tử vùng thôn dã” [72], Hàn Thiếu Công mang một
Trang 30tâm thái ngậm ngùi về những cái xưa cũ của tổ tiên, Phùng Ký Tài thì mang đậm khí chất của vùng Thiên Tân,…
Các nhà văn “tầm căn” đã biết dùng ngòi bút đánh sâu vào tâm lý văn hóa dân tộc, từ trong tâm thái hiện thực nhân sinh, khai thác những điều lắng
cặn trong lịch sử, tìm tòi và giải phẫu phê phán những bệnh căn trong nền văn hóa Trung Quốc để từ đó đưa đến một cái nhìn đúng đắn cho những gì là giá
trị trong văn hóa dân tộc Đây là một tâm thế cần có của con người trong xã
hội hiện đại
Để thể hiện nội dung đó, các nhà văn “tầm căn” đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Trước hết, bởi đây là những tác phẩm tìm về với văn hóa dân tộc nên có thể thấy rõ, không gian mang đậm dấu ấn địa phương Đó
có thể là vùng núi cao heo hút, quanh năm mây phủ như trong tác phẩm Bố,
bố, bố hay Từ điển Mã Kiều của Hàn Thiếu Công Điều dễ nhận thấy ở đây là
một không gian âm u, huyền bí, tách hẳn với cuộc sống ồn ào ngoài kia mà ở
đó, hình như dấu vết của cuộc sống nguyên thủy vẫn còn tồn tại Đó cũng có
thể là không gian nông thôn buồn tẻ, lặng lẽ như trong một số sáng tác của
Mạc Ngôn, Giả Bình Ao mà dấu ấn của văn hóa truyền thống, của cuộc sống dân gian xưa kia như các điệu hát, cách ăn mặc hay cả cách suy nghĩ cũng còn
rất đơn giản Đó cũng có thể là không gian thành thị như thành phố Thiên Tân trong sáng tác của Phùng Ký Tài mà ở đó có sự pha trộn giữa những cái mới
mẻ, tân tiến và những cái cổ hủ, lạc hậu Trong những không gian rộng lớn đó, chúng ta lại thấy những không gian nhỏ hẹp hơn như không gian của từng gia đình, từng dòng tộc Vậy sự khác biệt về không gian trong các tác phẩm của văn học tầm căn với các dòng văn học khác là gì? Văn học tầm căn cũng có
những không gian như các dòng văn học khác nhưng không gian ở đây mang đậm sự âm u, huyền hoặc, thậm chí ma quái, có lúc chúng ta cảm thấy đó là ững không gian của thời kì xa xưa khi vũ trụ còn hỗn mang như trong các
Trang 31tác phẩm thần thoại Có lẽ điều này ảnh hưởng bởi chính cách viết của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh
Về thời gian, đặc điểm nổi bật là đôi khi trong các tác phẩm của văn học
tầm căn, thời gian đã trở nên không rõ ràng, trì trệ, hư hư ảo ảo, pha lẫn cả quá khứ, hiện tại và tương lai, thậm chí trong một số tác phẩm, nhân vật còn không có ý thức về thời gian Thời gian vật lí và thời gian tâm lí nhiều khi cứ đan xen nhau và dường như không đi theo đường thẳng Thời gian trong một
số tác phẩm được đánh dấu bằng sự lớn lên của lớp người này và sự già đi của
lớp người kia nhưng nó cứ trôi qua một cách bình lặng đến mức người ta không hề nhận ra Cũng như Cu Bính trong Bố, bố, bố, người dân trong bản
Kê Đầu thậm chí còn chẳng biết nó đã bao nhiêu tuổi rồi, còn mẹ nó thì lúc nào cũng nói nó mới chỉ có mười ba tuổi Đôi khi thời gian được tính theo tâm trạng, cảm nhận nên có sự đan xen chồng chéo, khi nhanh khi chậm bởi cùng một lúc nhân vật có thể hồi tưởng về quá khứ, quay về suy nghĩ ở hiện
tại,… Có khi người ta còn chẳng ý thức được thời gian bây giờ là thời đại nào
“niên hiệu Tuyên Thống năm thứ mấy” hay “năm Dân quốc” (Gót sen ba tấc),
có khi thời gian lại là một cái gì đó không cụ thể “đến cuối tháng ba năm X” (Quê cũ, tập truyện – Giả Bình Ao),…
Về ngôn ngữ, trong các tác phẩm của văn học tầm căn có sự pha trộn
giữa nhiều kiểu ngôn ngữ Có ngôn ngữ địa phương “quê mùa” và ngôn ngữ toàn dân tồn tại trong lời ăn tiếng nói hàng ngày và trong cả những câu thơ,
lời hát, bài vè trong dân gian; lại có những ngôn ngữ mang đậm dấu ấn của
từng kiểu nhân vật, nhiều khi đó là thứ ngôn ngữ tạp dị, không rõ ràng Ví dụ, người Mã Kiều không gọi đàn ông khỏe mạnh là “hán tử” mà gọi là “dã tử”,
“dã nhân”; không nói “đồng tông, đồng tộc, đồng bào” mà gọi là “anh em cùng nồi”; gọi vợ trước, vợ sau là “vợ nồi trước”, “vợ nồi sau”;… hay người
Trang 32Thiên Tân gọi những kẻ thích “vác tù và hàng tổng” là “nhạ nhạ”,… Ở một số nhân vật khác, ngôn ngữ gần như là một kiểu bị biến dạng, thậm chí nhân vật còn không thể nói rõ được Ví dụ cu Bính trong sáng tác của Hàn Thiếu Công
suốt đời chỉ nói được hai từ là “bố” và “mẹ chó”,… Đưa những chi tiết này vào trong tác phẩm, phải chăng các nhà văn “tầm căn” trước hết muốn lưu giữ
lại những cái độc đáo của ngôn ngữ trong văn hóa dân gian từng vùng để lưu truyền đến đời sau, một mặt thể hiện sự xung đột và va chạm về văn hóa giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn
Ngoài ra, nhân vật và rất nhiều các chất liệu dân gian khác cũng được sự
dụng trong sáng tác của các nhà văn “tầm căn” Nhân vật có nhiều loại người,
từ những người dân nông thôn đến những người dân thành thị, từ trẻ nhỏ tới
cụ già, từ thế hệ này đến thế hệ khác, có nhân vật bình thường nhưng cũng có
những nhân vật dị thường với những suy nghĩ và tâm lí khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Các chất liệu văn hóa dân gian đặc trưng của từng vùng miền đặc biệt được sử dụng nhiều như các lời kinh, kệ, thiền, các câu đối, bùa chú; các loại hình nghệ thuật như ca kịch, Miêu xoang, Tần xoang; các phong tục
tập quán như lễ hội, đền thờ, tục ma chay, cưới hỏi, thậm chí cả các phong tục
cổ hủ như ăn thịt người,…
Như vậy, nội dung của văn học tầm căn có thể quy vào hai vấn đề lớn: sự tái hiện nền văn hóa dân tộc trên nhiều khía cạnh và sự nhìn nhận một cách đúng đắn những giá trị văn hóa đó trên cơ sở của việc vận dụng ngôn ngữ, các
chất liệu dân gian, thời gian, không gian và nhân vật Có lẽ vì thế mà văn học
tầm căn mang ý nghĩa “phản xạ tư tưởng” và có một hình thức khác lạ với
những dòng văn học khác Một lần nữa, người đọc có thể khám phá sự tồn tại
và bí mật của dân tộc Trung Quốc được tái hiện và phát triển trong giai đoạn
Trang 33lịch sử mới, trong không gian rộng lớn hơn và trong dòng chảy lâu dài của
thời gian
1.2 Phùng Ký Tài – người miệt mài đi tìm văn hóa
1.2.1 Nhà văn, họa sĩ, nhà văn hóa Phùng Ký Tài
Phùng Ký Tài là nhà văn “tất nhiên” và “ngẫu nhiên”! “Tất nhiên” và
“ngẫu nhiên” đều do hoàn cảnh xã hội đem lại
Nhà văn đương đại Trung Quốc Phùng Ký Tài sinh năm 1942 tại thành
phố cảng Thiên Tân, nguyên quán huyện Từ Khê, tỉnh Chiết Giang Ông nổi
bật với chiều cao một mét chín mươi hai Từ thuở nhỏ, ông đã yêu thích mỹ thuật, văn học, âm nhạc, các hoạt động thể thao Năm 1960, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, nhờ tầm vóc cao lớn, ông tham gia đội bóng chuyền rồi sau đó chuyển sang làm giáo viên dạy mỹ thuật, chuyên vẽ theo lối cổ Thời gian này ông công tác tại Hội Nghiên cứu hội họa Truyền thống Trung Quốc
tại Thiên Tân Từng là họa sĩ nên dấu ấn hội họa trong tác phẩm của Phùng
Ký Tài rất rõ nét Ngoài ra, Phùng Ký Tài có tình cảm rất sâu đậm với nghệ thuật dân gian và phong tục địa phương nên dành mối quan tâm rất lớn cho điều đó Có lẽ vì vậy mà trong nhiều tác phẩm của ông ta thấy trong đó cả
nhạc, họa, thơ, phú, kinh, kệ… nhưng lại cũng có cả chính những lời ăn tiếng nói suồng sã, thô tục trong nhân dân
Phùng Ký Tài là nhân chứng và cũng là nhân vật chính trong tấn bi
kịch khủng khiếp rộng lớn khắp Trung Hoa Trong thời gian Cách mạng văn hóa, ông chịu nhiều cực khổ như những trí thức đương thời khác, từng làm công nhân, nhân viên bán hàng, dạy học và nhiều công việc khác nữa Những
lần bị đem ra đấu tố, những nỗi cực nhọc cùng những công việc công phù hợp
sở trường của mình đã làm giàu cuộc đời sáng tác của ông Chính trong
Trang 34khoảng thời gian mười năm đó, ông đã có dịp thâm nhập thực tế, có dịp suy nghĩ lại về cuộc đời và số phận con người Phùng Ký Tài bắt đầu bí mật sáng tác trong thời kì đen tối đó, viết xong phải cuốn trong ống tre giấu kẽ tường, dưới nền gạch,… Như vậy, có thể thấy rằng, Phùng Ký Tài đến với sáng tác hoàn toàn “ngẫu nhiên” Năm 1978, Đại Cách mạng văn hóa đã kết thúc, Phùng Ký Tài trở lại thành phố, điều hành Phòng sáng tác và Bình luận thuộc
Cục Văn hóa Thiên Tân Nhà văn Phùng Ký Tài cũng từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Trung Quốc, Chủ
tịch Hội các Nhà nghệ thuật Dân gian Trung Quốc, Chủ biên tạp chí Văn học
tự do đàm và tạp chí Nghệ thuật gia, đồng thời làm Phó chủ tịch Trung ương
Dân Tiến, Uỷ viên Mặt trận dân tộc toàn quốc, v.v…
Nhà văn Phùng Ký Tài cho rằng: Trung Quốc là một quốc gia “hậu hiện đại hoá”, “một vấn đề văn hoá nổi cộm của nội địa là: đồng thời với việc chúng ta sáng tạo ra văn minh vĩ đại, thì trình độ phá hoại cũng vào hàng đầu thế giới” [63] Tại Trung Quốc, việc kế thừa văn hoá hiện tại đang gặp phải chướng ngại rất lớn, “đầu tiên, trên thế giới không có một quốc gia nào có thể trong 20 năm san bằng thành thị để xây dựng lại, chỉ có chúng ta làm được” [63] Ông cũng nói rằng: “Thành thị ở nội địa rất nhiều địa phương hiện nay nhìn thấy đều giống nhau, dấu vết của lịch sử đã bị máy kéo cào bằng Trong các nhà văn tồn tại vấn đề sao chép kế thừa, còn trong các kiến trúc sư thì hình như không có” [63]
Chính vì những điều đó, Phùng Ký Tài luôn luôn trăn trở làm thế nào
để bảo vệ văn hóa Trong năm 2003, Phùng Ký Tài đứng ra kêu gọi và thành lập dự án Quỹ di sản văn hóa dân gian Trung Quốc nhằm mục đích tiếp cận
và giúp đỡ cộng đồng, khơi dậy ý thức văn hóa và trách nhiệm của công chúng trong việc bảo vệ các di tích, truyền thống văn hóa dân gian cũng như
Trang 35cứu hộ kịp thời những di tích văn hóa, tài trợ cho những dự án nghiên cứu văn hóa dân gian, thúc đẩy và phát triển văn hóa Trung Quốc, Quỹ sau đó đã được nhà nước ủng hộ và ban hành “Pháp lệnh quản lí Quỹ” một cách rõ ràng Rất nhiều nhân vật nổi tiếng và các tổ chức phi lợi nhuận cũng đã chung tay góp sức Năm 2008, Phùng Ký Tài được mời làm Tham sự của Chính phủ Trung Quốc – nhịp cầu và đầu mối liên hệ giữa chính phủ với giới trí thức và giới văn hoá, phản ánh dân ý về tình hình xã hội, tham chính nghị chính, kiến nghị kế sách, tư vấn việc nước, khiển khai công tác hữu nghị đoàn kết dân tộc
Nhà văn Phùng Ký Tài nói: “Được mời làm Tham sự Quốc vụ viện, đối với tôi, công tác từ nay về sau càng có hiệu quả thiết thực hơn, đồng thời với việc tiếp tục cấp cứu và bảo hộ di sản văn hoá phi vật chất, tôi sẽ càng quan tâm hơn đến vận mệnh hiện nay của văn hoá Trung Quốc và chiến lược phát triển văn hoá quốc gia.” [60] Có thể nói, trên lĩnh vực văn hóa, Phùng Ký Tài
là người luôn luôn trăn trở, có ý thức và có nhiều đóng góp cho sự bảo tồn và phát huy văn hóa
Về việc sáng tác, chúng ta có thể thấy rằng, không giống như nhiều nhà văn khác, sáng tác từ khi còn nhỏ tuổi, Phùng Ký Tài viết văn từ trong những ngày về nông thôn tham gia Cách mạng văn hóa Khi Cách mạng văn hóa kết thúc, liên tiếp trong sáu năm (từ 1978 đến 1983), Phùng Ký Tài viết một loạt truyện về đề tài có liên quan đến “cách mạng văn hóa” và ngay lập tức những tác phẩm này đã gây tiếng vang lớn trong lòng bạn đọc Trong đó có thể kể
đến: A! (1979, giải truyện vừa ưu tú toàn quốc 1977 – 1980), Chiếc tẩu thuốc khắc hoa (1979, truyện ngắn ưu tú toàn quốc 1978 – 1984), Con đường rẽ trải đầy hoa (1979), Người vợ cao và anh chồng lùn (1982), Cảm tạ cuộc đời (giải truyện vừa ưu tú của tạp chí Truyện vừa chọn lọc),… Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm khác như các truyện vừa Trên cả tình yêu, Dấn mình
Trang 36trong mưa gió, Đèn thần,… truyện dài Nghĩa hòa quyền (viết chung với Lý
Định Hưng, hoàn tất năm 1977) Năm 1984, Phùng Ký Tài cho ra đời truyện
vừa Roi thần – tác phẩm đánh dấu đánh dấu ngã rẽ trên con đường sáng tác
của ông trong việc nhìn nhận những vấn đề thuộc về bình diện văn hóa Tác phẩm khi ra đời đã đạt giải truyện vừa ưu tú toàn quốc ngay trong năm Cũng
cùng đề tài này, Phùng Ký Tài còn sáng tác Gót sen ba tấc (đăng lần đầu trên tạp chí văn học cỡ lớn Thu Hoạch số 3 năm 1986), Âm dương bát quái
(1988) Bộ ba tác phẩm này được coi là “quái thế kì đàm” của văn học Trung Quốc Không chỉ bộ ba tác phẩm này mà nhiều tác phẩm khác của ông đã được dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga
Một loạt tác phẩm trên đây cho thấy Phùng Ký Tài không chỉ sở trường
về đề tài hiện thực đương đại mà cả về đề tài phong tục, lịch sử Ở đề tài thứ hai, văn phong của ông thiên về “dí dỏm, hài hước, tươi vui”; còn ở đề tài thứ nhất, ông viết “nghiêm túc, sâu sắc, chân thực, cảm động”, để lại ấn tượng mạnh mẽ và mang lại nhiều trăn trở cho người đọc Bởi vậy một số truyện tuy không được giải thưởng song vẫn được giới lí luận chú ý nghiên cứu về nghệ thuật dẫn truyện và hình tượng nhân vật của ông Phùng Ký Tài cũng đặc biệt dành nhiều bút lực để viết về Thiên Tân – cái mảnh đất giàu truyền thống và cũng là nơi ông sinh ra Ông luôn luôn nhắc nhở mình phải làm sao viết cho
ra được “cái vị Thiên Tân chính cống” Mặc dù ông chỉ là viết về “người nhàn, việc tạp, chuyện lạ” nhưng chính những cái đó là nét riêng không thể lẫn với bất cứ tác giả nào Năm 1987, Trung tâm truyện ký Mĩ tặng ông huy chương danh dự Danh nhân thế giới trong năm Ông còn có tên trong cuốn “Người trí thức nổi tiếng thế giới” của Anh và “Nhân vật kiệt xuất thế giới” của Mĩ
Hiện nay, Phùng Ký Tài lại trở về với sở trường đầu tiên của ông là vẽ, còn viết trở thành tay trái, bởi nỗi bức xúc mấy chục năm trước đây của ông
Trang 37có lẽ đã được giải tỏa Ông cũng là người tích cực trong việc bảo trợ và thúc đẩy văn hóa, không chỉ của vùng đất Thiên Tân nói riêng mà cả văn hóa Trung Quốc nói chung Có thể nói, Phùng Ký Tài là một con người đa tài Ở lĩnh vực nào ông cũng có những cống hiến đáng trân trọng Tìm hiểu tác
phẩm của Phùng Ký Tài, chúng ta không chỉ thấy được những cái mới lạ, độc đáo trong sáng tác của ông mà còn được tiếp cận và hiểu được nhiều hơn nhiều hơn về văn hóa Với những đóng góp như trên, chúng ta có quyền tin tưởng rằng Phùng Ký Tài sẽ mãi là cái tên được nhắc đến rất nhiều không chỉ
ở Trung Quốc
1.2.2 B ộ ba “quái thế kì đàm”
Như đã nói ở trên, sáng tác của Phùng Ký Tài rất đa dạng và gây được tiếng vang lớn trong lòng độc giả nhưng tác phẩm mang tên tuổi của ông lên tầm cao mới, không chỉ trong nước mà ở cả nước ngoài, là bộ ba “quái thế kì
đàm” (chuyện lạ ở đời) – Roi thần – Gót sen ba tấc – Âm dương bát quái
Truyện Roi thần xoay quanh cái bím tóc đuôi sam của anh chàng Hai
Ngố - nhân vật chính trong tác phẩm Hai Ngố xuất hiện ở đầu truyện là anh chàng ngốc bán đậu phụ Anh trở nên nổi tiếng vì trong ngày lễ Nương Nương đã làm cho tên Thủy Tinh Hoa – một tên “đại hỗn tinh tử” khét tiếng trong vùng, phải bẽ mặt Từ đó, công phu bím tóc gia truyền của anh trở nên nổi tiếng Cái bím tóc đó nghĩ tới đâu bay tới đó, “thậm chí chưa nghĩ tới, bím tóc đã bay rồi”, bím tóc dường như có khả năng “tiên tri, tiên giác” Từ cái bím tóc đó, người ta truyền tai nhau bao nhiêu điều và mọi người trong vùng bím tóc của anh là “roi thần” Hai Ngố ý thức được rất rõ tầm quan trọng của bím tóc nên hết sức giữ gìn và luyện tập công phu thường xuyên Có thể nói bím tóc của anh ta không chỉ là báu vật của dòng họ mà còn là của quốc gia Bao nhiêu điều về bím tóc của anh ta đã được mọi người ở Thiên Tân thêu dệt
Trang 38khiến nó càng trở nên kì bí hơn Nhiều gia đình đã đến xin cho con mình học công phu bím tóc của thầy nhưng phải đến sau khi cái bím tóc đó bị súng tây bắn đứt, không thể phục hồi được, Hai Ngố mới truyền lại công phu cho các
đệ tử Nhưng tất nhiên không học trò nào có được công phu như thầy Bẵng đi một thời gian, người ta không thấy Hai Ngố trong vùng Một năm sau, Thủy Tinh Hoa gặp lại Hai Ngố Anh ta ngạc nhiên vì Hai Ngố sử dụng súng tây thành thạo “dứt khoát, mau lẹ chẳng khác gì quăng bím tóc quật đối thủ năm xưa, không sao biết trước” [33; tr.149] và càng ngạc nhiên hơn khi thấy cái đầu nhẵn bóng của Hai Ngố Trước sự “ngạc nhiên đến nỗi hỏi lạc cả giọng” của Thủy Tinh Hoa, Hai Ngố đã giải thích rằng anh ta chỉ cắt phần “roi”, còn phần “thần” vẫn giữ nguyên Phần “thần” ấy đã được chuyển từ bím tóc sang khẩu súng
Tác phẩm khi ra đời đã tạo được tiếng vang lớn trong lòng độc giả bởi cách nhìn nhận vấn đề theo cách mới của Phùng Ký Tài Đọc tác phẩm người
ta nhận ra rằng bên cạnh việc đề cập đến một nét văn hóa có tính chất truyền thống của dân tộc – tục để bím tóc đuôi sam từ thời Mãn Thanh, ông còn có thái độ nhìn nhận một cách mới về vấn đề Đó là những cái xưa cũ cần phải được nhìn nhận một cách đúng mức, nếu không còn phù hợp nữa thì cần phải được loại bỏ; cái cốt cách, cái “thần” không phải toát ra từ những cái bên ngoài mà phải từ trong khí chất
Gót sen ba tấc là truyện chương hồi hiện đại viết về số phận Qua
Hương Liên, một cô gái con nhà nghèo có đôi bàn chân bó xinh đẹp Truyện gồm mười sáu hồi, bắt đầu từ khi Hương Liên còn nhỏ cho đến hồi cuối cùng
là cái chết của nàng Cô bé Hương Liên mồ côi cha mẹ, từ nhỏ đã ở với bà ngoại Bà ngoại Hương Liên được gọi là “bà đại tài” trong vùng và bà đã bó cho cô cháu gái – lúc này đã 7 tuổi, một đôi gót sen khiến ai cũng phải ghen tị
Trang 39Nhờ đôi gót sen nhỏ nhắn mà Hương Liên được làm dâu trưởng trong gia đình họ Đồng nổi tiếng giàu có, quyền quý Nàng được mọi người trong nhà
vô cùng nể phục, đặc biệt là ông bố chồng Đồng Nhẫn An, cũng bởi đôi bàn chân bó Nàng trở thành báu vật của nhà họ Đồng và luôn luôn vấp phải sự đố
kị, ghen ghét của mọi người trong gia đình, đặc biệt là thím Hai Bạch Kim Bảo Cũng chính vì vậy mà nàng luôn phải đề cao cảnh giác trước những thủ đoạn của mọi người Hương Liên có cô con gái là Liên Tâm Gần đến ngày bó chân, Liên Tâm biến mất, Hương Liên rất đau buồn Đồng Nhẫn An chết đi, Hương Liên trở thành người làm chủ Nàng lo toan, quán xuyến mọi việc trong nhà Sau đó, chân bó không được thịnh hành nữa Trong nhà, ngoài ngõ người ta bắt đầu cởi chân bó hoặc để chân tự nhiên Thế là những cuộc tranh cãi nổ gay gắt ra giữa những những người theo phái “Triền túc” (chân bó) và
“Thiên túc” (chân tự nhiên) bắt đầu Chân nhỏ mắng chân to là “ngói tây”,
“xương rồng”, “mặt lừa”, “dưa bở”; chân to chửi chân nhỏ là “góc bánh thiu”,
“móng gò thối”, “chó chê tiền”… Đứng đầu phái “Triền túc” là Qua Hương Liên, đứng đầu phái “Thiên túc” là Ngưu Tuấn Anh – một cô gái vô cùng xinh đẹp Trong một lần thi chân, Hương Liên sau khi nhìn thấy gan bàn chân phải của Tuấn Anh liền ngất đi và sau đó về nhà không lâu bà qua đời Hương Liên mất rồi, Đào Nhi – một người hầu cận thân thiết của Hương Liên, đến gặp Tuấn Anh và nói cho cô biết cô chính là Liên Tâm – con gái của Bảo Liên
nữ sĩ Hương Liên
Gót sen ba tấc cho thấy một tập tục kì cục, tàn nhẫn, dã man của xã
hội phong kiến Trung Quốc Tập tục này không bắt nguồn từ tôn giáo như nhiều tập tục kì lạ của nhiều dân tộc trên thế giới, mà bắt nguồn từ một quan điểm thẩm mĩ quái gở của người khác giới với chị em, những người đàn ông
có quyền thế ngang trời là vua chúa Trung Quốc, sau khi đã chơi chán các
Trang 40kiểu “búp bê” - như sau này nhà văn lớn Na Uy Henrik Ibsen đã gọi1
Chính
vì thú nghiền gót sen của nam giới mà người phụ nữ phải chịu biết bao đau đớn, bất hạnh Họ có thể được trọng dụng, cũng có thể bị khinh bỉ bởi chính đôi chân bó Trong tác phẩm, Phùng Ký Tài đã cho chúng ta thấy rõ những điều này thông qua số phận của nàng Qua Hương Liên Đi vào tác phẩm, trước hết chúng ta vô cùng ngạc nhiên và được mở rộng tầm mắt bởi những kiến thức mà tác giả đem lại Bó chân cũng có thật nhiều kiểu, đi kèm với nó
là những kiểu giày cũng vô cùng đặc biệt Chúng ta hiểu được quy trình bó và giữ để có một gót sen thật đẹp Chúng ta cũng hiểu được rằng, đối với nhiều người, gót sen là cả một nghệ thuật Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy tác phẩm là cách nhìn nhận văn hóa của Phùng Ký Tài Không ít lần trong tác phẩm ta bắt gặp những từ ngữ mà tác giả để các nhân vật tự nói lên suy nghĩ của mình về chân bó như “đàn bà bó chân là đồ chơi”, “đánh mất vẻ tự nhiên, thiết tha giả tạo”, “chân bó hôi thối”, “đàn bà bó chân yếu đuối”…
Âm dương bát quái cũng là tiểu thuyết chương hồi “hiện đại” lại đề
cập đến một truyền thống khác của các gia đình Trung Quốc – tục lưu giữ và truyền của gia bảo Nghe người ta nói rằng, nhà Hoàng ở phía Bắc thành Thiên Tân – chủ nhân của cửa hàng bán giấy bút có từ lâu đời là Tụy Hoa Trai, có một cái tráp đựng tiền vàng của tổ tiên để lại Cũng chính vì cái tráp này mà anh em trong nhà không nhìn mặt nhau, con cháu hiềm khích nhau Thế là người ta bắt đầu giở mọi thủ đoạn để tìm kiếm Nhân vật chính trong tác phẩm là Nhạ Nhạ - cháu của ông Hai họ Hoàng Ông Hai suốt ngày ở lì trong phòng đọc sách, không quan tâm nhà cửa hay việc buôn bán ở cửa hiệu Mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do bà Hai lo liệu Còn Nhạ Nhạ thì nghe lời
vợ, làm đủ mọi cách để tìm cái tráp Nào là rước thầy thỉnh thần vào nhà chú