Tuy là một nhà văn trẻ, số lượng tác phẩm chưa đủ dày để bộc lộ một phong cách già dặn, vững chãi, nhưng những đóng góp nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nhất là cách sử dụng từ ngữ Nam Bộ, củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ THẢO
ĐẶC ĐIỂM CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TẠP VĂN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ THẢO
ĐẶC ĐIỂM CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TẠP VĂN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN THỊ HAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3 ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN 7
7 TƯ LIỆU NGUỒN 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Những vấn đề về ngôn ngữ 9
1.1.1 Ngôn ngữ toàn dân 9
1.1.2 Tính chuẩn mực của ngôn ngữ 9
1.2 Những vấn đề về phương ngữ 10
1.2.1 Từ địa phương 10
1.2.2 Khái niệm phương ngữ 12
1.2.3 Xu hướng phân vùng phương ngữ 13
1.2.4 Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ 13
1.2.5 Phương ngữ Nam Bộ 14
1.3 Ngôn ngữ và sáng tác văn chương 20
1.3.1 Ngôn từ 20
1.3.2 Ngôn ngữ văn chương 21
1.3.3 Lời văn và ngôn ngữ văn học toàn dân 22
Trang 51.3.4 Vấn đề phương ngữ trong tác phẩm văn học 23
1.4 Các phương tiện của lời văn nghệ thuật 25
1.4.1 Phương tiện tu từ 25
1.4.2 Biện pháp tu từ 27
1.5 Ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt 28
1.5.1 Hình thức thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là một từ 28
1.5.2 Hình thức biểu hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ đoạn 28
1.6.Trường từ vựng 29
1.7 Những vấn đề về phong cách 30
1.7.1 Phong cách ngôn ngữ văn chương 30
1.7.2 Phong cách khẩu ngữ tự nhiên 30
1.8 Chuẩn phong cách 31
1.8.1 Chuẩn phong cách chức năng 31
1.8.2 Chuẩn địa phương 31
1.8.3 Chuẩn cá nhân 32
1.8.4 Lệch chuẩn 32
1.9 Phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương 33
Chương 2: KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 35
2.1 Phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 35
2.1.1 Phương diện ngữ âm 35
2.1.2 Phương diện từ vựng ngữ nghĩa 38
2.2 Cách sử dụng từ láy trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 63
2.3 Cách sử dụng từ ngữ biểu đạt ý nghĩa cực cấp 67
2.4 Cách sử dụng từ ngữ trong biện pháp tu từ của Nguyễn Ngọc Tư 71
2.5 Đặc điểm tu từ của kết cấu ngữ pháp trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư 81
Trang 62.5.1 Biến thể phong cách có mô hình “CV x” 81
2.5.2 Biến thể phong cách có mô hình “x CV ” 82
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 86
3.1 Cách sử dụng từ ngữ Nam Bộ trong một số sáng tác của nhà văn Sơn Nam 86
3.1.1 Phương diện ngữ âm 86
3.1.2 Phương diện từ vựng, ngữ nghĩa 87
3.2 Một vài so sánh về cách sử dụng từ ngữ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và nhà văn Sơn Nam 90
3.2.1 Bảng so sánh 90
3.2.2 Những điểm tương đồng trong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư và Sơn Nam 92
3.2.3 Điểm khác biệt trong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư và Sơn Nam 93 3.3 Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư 95
3.3.1 Cách sử dụng từ chỉ địa danh - nhân danh 95
3.3.2 Sử dụng từ ngữ địa phương Nam Bộ 98
3.3.3 Dùng từ ngữ khẩu ngữ 100
3.3.4 Cách kết hợp để tạo ra những yếu tố chỉ mức độ cao của tính từ 102
3.3.5 Về kết cấu cú pháp 104
3.3.6 Tu từ 105
3.4 Đặc điểm phong cách Nguyễn Ngọc Tư 106
3.4.1 Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn Nam Bộ 106
3.4.2 Nguyễn Ngọc Tư - phong cách khẩu ngữ tự nhiên 107
3.4.3 Giọng điệu nổi bật trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư 109
KẾT LUẬN 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phong cách nghệ thuật của một nhà văn thể hiện ở sự tinh tế về kiến thức và sáng tạo độc đáo của họ trong việc sử dụng ngôn ngữ văn chương Dĩ nhiên, ngoài chất liệu ngôn ngữ, đặc sắc của phong cách nghệ thuật còn biểu lộ ở việc nhà văn chọn lựa đối tượng trong sáng tác, lựa chọn các hình ảnh có sức gợi tả, gợi tình trong việc xây dựng hình tượng,… tạo cho tác phẩm của mình có một sức hấp dẫn đặc biệt, thu hút mạnh người đọc Song, chính vì ngôn ngữ là chất liệu để sáng tác, nên phong cách của mỗi nhà văn trong cách mô tả cảnh vật, trình bày sự kiện, trong việc phô diễn và khêu gợi tình ý,… đều ít nhiều biểu hiện ở việc sử dụng ngôn từ của họ Do
đó ngôn ngữ văn chương cũng là một căn cứ quan trọng để ta khảo sát, khám phá phong cách của nhà văn
Bên cạnh đó, ai cũng biết rằng tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ thống nhất nhưng uyển chuyển với những sắc thái địa phương khác nhau Có thể nói phương ngữ
có vai trò nhất định trong sáng tác văn chương, đó là ghi dấu ấn địa phương cho các văn bản, làm nổi bật ngôn ngữ nhân vật, và góp phần làm phong phú cho ngôn ngữ
toàn dân Khi xét mối quan hệ giữa phương ngữ với tác phẩm văn học, chúng ta
không chỉ xem xét phương ngữ để nhận thức, để biết được đặc điểm của nó mà cái chính là phải quan sát nó đi vào ngôn ngữ văn học như thế nào để đạt hiệu quả nghệ
thuật cao
Lịch sử văn học đã chỉ rõ một điều rằng không ít nhà văn thành công trong việc
sử dụng từ ngữ địa phương như: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Nguyển Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam Gần đây nhất, trong văn chương Nam Bộ lại có Lý Lan, Dạ Ngân và nổi trội là Nguyễn Ngọc Tư
Khi nói về thành công của Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nguyễn Quang Sáng có nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thường đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng Tổ quốc - mũi
Trang 8Cà Mau của những con người mà cha ông là người tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả đã dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa bên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế…” Huỳnh Công Tín trong quyển “Cảm nhận bản sắc Nam Bộ” cũng có những đánh giá cao về ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư: “Ngôn từ trong tất cả truyện ngắn của chị, từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật, đều khá thuần chất Nam Bộ Số lượng từ ngữ Nam Bộ trong tác phẩm của chị khá lớn Đặc điểm này tạo nên ở truyện của chị một văn phong riêng mà nhiều người cảm thấy yêu thích”
Quả đúng như vậy, nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo, đậm chất Nam Bộ đã góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Tuy là một nhà văn trẻ, số lượng tác phẩm chưa đủ dày để bộc lộ một phong cách già dặn, vững chãi, nhưng những đóng góp nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nhất là cách sử dụng từ ngữ Nam Bộ, của Nguyễn Ngọc Tư cũng đáng để chúng ta quan tâm, nghiên cứu Hơn nữa việc khảo sát cách sử dụng từ ngữ địa phương, nhất là từ ngữ địa phương Nam Bộ, trong các tác phẩm văn học, hiện nay cũng chưa nhiều Chính vì những suy nghĩ như vậy mà chúng tôi quyết định đi vào đề tài tìm hiểu: “Đặt điểm cách sử dụng từ ngữ trong truyện ngắn (và tạp văn) của Nguyễn Ngọc Tư” Đồng thời
để làm rõ những đặc điểm ấy trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi có tiến hành
so sánh cách sử dụng từ ngữ giữa Nguyễn Ngọc Tư với nhà văn Sơn Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Với cách viết của mình, Nguyễn Ngọc Tư nhận được rất nhiều lời khen nhưng cũng không ít lời chê Đa số là những lời bình, nhận xét chung chung một khía cạnh nội dung, tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm Các bài viết như vậy nhìn chung mang tính chủ quan, và chủ yếu xuất hiện trên các báo và mạng internet Ví dụ bài của GS.Trần Hữu Dũng “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam” đăng trên Báo Văn nghệ
số 39 tháng 9/2005 Trong bài này, tác giả đã khai thác cả nội dung và nghệ thuật, đặc
biệt nhấn mạnh tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư Ông có
Trang 9những nhận xét rất sâu sắc về “nồng độ phương ngữ miền Nam” cũng như biệt tài sử dụng nó trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Huỳnh Công Tín trong bài
“Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ Nam Bộ” (Báo Văn Nghệ sông Cửu Long) đã chú ý vào những không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, và cho rằng “… vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị.” Ông cũng thừa nhận khả năng miêu tả tâm lý người và miêu tả tâm lý vật hết sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc Tư, và khẳng định cái đáng quý cần phải phát huy ở tác giả trẻ này là “Chất Nam Bộ trong sáng tác” Trần Phỏng Điều với bài “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” ở mục “Phê bình” của trang web “E-văn” ngày 14/06/2006 cho rằng hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình tượng dòng sông là thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Nếu đánh mất đi vùng thẫm mỹ này thì Nguyễn Ngọc Tư cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẫm mỹ trong tác phẩm của mình Thụy Khuê trong “Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư”, trên web “Viet-studies” thống nhất ý kiến với nhiều bạn đọc cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần to lớn vào việc phục vụ cho ý
đồ nghệ thuật của tác giả Còn Mai Hồng với bài “Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư”, cũng trên web “Viet-studies”, đã chỉ ra kiểu thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”, đây là cái nhìn mới lạ trong việc tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Bài “Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” trên “Tạp Chí Văn nghệ quân đội” của Phạm Thái Lê đã chỉ ra “môtíp người nghệ sĩ cô đơn” trong hành trình đơn độc và vô vọng để đi tìm cái Đẹp ở đời Tác giả đã kết luận: “Cũng đề cập đến nỗi cô đơn của con người nhưng chúng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ niềm cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và, trong nỗi đau ấy, họ vươn lên, làm người Cô đơn
Trang 10trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái “Đẹp”, cái “Thiện” Bên cạnh đó cũng có một số bài viết như: Kiệt Tấn với bài “Nguyễn Ngọc Tư: Tôi như kẻ đẽo cày giữa đường” (Người đô thị, số 35), Nguyễn Tý với bài “Ngày đầu năm đọc Cánh đồng bất tận, với sức hút kỳ lạ” (Báo Công an TP.HCM tháng 2.2006), Đoàn Nhã Văn và bài “Nắng, gió, vịt, và đàn bà giữa cánh đồng bất tận (Tạp chí văn hóa phật giáo, số 11.2005), Hoàng Thiên Nga với “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” (Thời báo kinh tế Sài Gòn 11.2005), Dạ Ngân “May mà có Nguyễn Ngọc Tư” (Tuổi trẻ online 16/04/2006), Trần Hoàng Thiên Kim “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Tôi “điên” không đều (Thể thao và văn hóa 15/02/2008), Đình Khôi – Văn Quỳnh “Văn Nguyễn Ngọc Tư – số lượng hay chất lượng” (Thể thao và văn hóa 19/10/2008), Evan.com.vn “Nguyễn Ngọc Tư; Trái sầu riêng vùng đấy Mũi”… Nhìn chung đây chỉ là những bài viết đơn lẻ chưa đủ để coi là công trình hoàn chỉnh Riêng những bài viết nghiên cứu vấn đề sử dụng từ ngữ của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư để làm nổi bật sắc thái, đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn thì rất ít Bắt đầu từ
2008 mới có vài công trình khoa học, bài viết đi sâu vào việc khảo sát cách sử dụng
từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư Chẳng hạn Nguyễn Thành Ngọc Bảo, với luận văn thạc
sĩ, “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” đã nêu lên hai vấn đề Thứ nhất là nêu lên “Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” Thứ hai là nêu lên “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” Với 40 truyện ngắn được lựa chọn để tìm hiểu về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, Nguyễn Thành Ngọc Bảo cũng nêu lên sở trường sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của cây bút này
Có thể thấy rằng đây là đề tài mang tính lý luận văn học Trong năm 2009 trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4 có bài “Tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” của tác giả Dương Thanh Bình ở Sóc Trăng Ở bài viết này, tác giả chủ yếu khai thác ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư với tất cả mọi khía cạnh về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp ở mức độ khái quát; nhất là nhấn mạnh cách sử dụng từ ngữ giàu màu sắc địa phương của Nguyễn Ngọc Tư Bài viết giúp người đọc có một cái nhìn mới đầy thú vị về những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Cùng năm 2009 có một luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bình Khang, với đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong các sáng
Trang 11tác của Nguyễn Ngọc Tư” Đây là đề tài chuyên biệt về ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Tác giả này đã nêu lên được “Đặc điểm từ ngữ Nam Bộ trong
các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong giai đoạn đầu và sau” Trên cơ sở phát hiện những biến thể ngữ âm, từ vựng và từ ngữ địa phương Nam Bộ, Nguyễn Bình Khang kết luận về “Đặc điểm phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư”: giàu hình tượng và giàu tính cụ thể, giàu tính biểu cảm với các thán từ và cách ngắt câu của âm điệu, giàu tính cường điệu dí dỏm hài hước…
Tất cả những bài viết trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình
3 ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đọc các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ta thấy tài nghệ của nhà văn này thể hiện một cách tập trung ở việc sử dụng các phương tiện diễn đạt của phong cách khẩu ngữ tự nhiên Do đó luận văn đi sâu vào tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu, khai thác một số ngữ liệu trong truyện ngắn của Sơn Nam – nhà văn có ít nhiều nét tương đồng với Nguyễn Ngọc Tư, để so sánh nhằm rút ra những đặc trưng trong cách sử dụng ngôn từ của Nguyễn Ngọc Tư
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi mong muốn phát hiện ra phong cách của nhà văn này
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để triển khai đề tài này trước tiên chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung
4.1 Phương pháp thống kê
Trang 12Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng để thống kê số ngữ liệu thuộc phạm vi khảo cứu sau đó miêu tả để phục vụ cho việc tìm hiểu về ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư Trên cơ sở phát hiện những tần số xuất hiện của các yếu tố khảo cứu, chúng tôi khái quát và hệ thống hóa những đặc điểm riêng và ổn định của nhà văn
4.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt luận văn Chúng tôi phân xuất đối tượng nghiên cứu thành những mặt, những bộ phận và đơn vị để nghiên cứu riêng, thông qua đó nhận biết được những thuộc tính của đối tượng phải nghiên cứu
4.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trong quá trình khai thác ngữ liệu để tìm ra đặc trưng sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi đã sử dụng rất nhiều dẫn chứng để minh họa cho lập luận của mình Do đó, phương pháp phân tích được sử dụng nhiều (hầu như tất cả các chương), nhằm trình bày cặn kẽ các vấn đề Rồi từ đó, chúng tôi rút ra những nhận xét chung, khái quát, tiêu biểu cho cách lựa chọn của Nguyễn Ngọc Tư
4.4 Phương pháp so sánh
Chúng tôi đã chọn ra một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Sơn Nam để làm đối trong so sánh Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm tạo sự liên hệ, đối chiếu trong việc lựa chọn sử dụng từ ngữ của hai nhà văn Phương pháp này được
sử dụng để so sánh cách sử dụng từ ngữ của nhà văn Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư Trên cơ sở đối lập vốn từ vựng chung và từ vựng địa phương thuộc nhiều bình diện
để xác định những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng Từ đó chúng ta thấy được những điểm tương đồng và khác biệt của hai nhà văn Nam Bộ này
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học như phương pháp phân tích ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Phối hợp tất cả các phương pháp trên chúng tôi sẽ xác định số lần lặp đi lặp lại của một hiện tượng Như Phan Ngọc đã nói “… một hiện tượng phải lặp đi lặp lại đến một tần số nhất định mới được chú ý đến Đó là vì phong cách là sự lặp đi lặp lại của một chùm những nét khu biệt” Những nét này muốn tạo thành phong cách không
Trang 13được có tần số quá thấp, bởi vì khi tần số thấp, nó sẽ không để lại trong óc người đọc một ấn tượng nào cả Một nhà văn khi xây dựng phong cách của mình, có những yếu
tố vay mượn và những yếu tố sáng tạo Chỉ những yếu tố sáng tạo mới là đáng kể, còn những yếu tố vay mượn là của vốn văn học chung, không thuộc phần đóng góp của nhà văn Trên cơ sở này chúng tôi sẽ khẳng định được những nét đặc trưng trong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Qua luận văn, trước hết trong khả năng giới hạn của mình, chúng tôi góp phần giới thiệu rõ hơn những đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Chúng tôi đã dụng công nghiên cứu để có thể bổ sung thêm một số nhận định xác đáng và có giá trị bên cạnh những ý kiến đã có trước đây về vấn đề này Từ đó, giải thích vì sao Nguyễn Ngọc Tư được coi là nhà văn Nam Bộ Thứ hai chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ nào đó vào việc tìm hiểu PNNB để thấy được những mặt tích cực của nó khi đi vào ngôn ngữ văn chương, góp phần làm giàu thêm cho cách diễn đạt của người Việt Cuối cùng như chúng ta thấy với hoàn cảnh xã hội và văn hóa hiện thời, việc tìm hiểu tiếng Việt và nghiên cứu văn học Việt Nam theo quan điểm ngôn ngữ học hiện đại vẫn là điều bổ ích để hiểu được phong cách của nhà văn Hy vọng luận văn sẽ là nguồn tư liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu PNNB qua sáng tác văn học nói riêng và phương ngữ trong ngôn ngữ văn học nói chung
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần nghi thức luận văn gồm ba chương:
Chương I Cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương II Khảo sát cách sử dụng từ ngữ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Chương III Đặc điểm cách sử dụng từ ngữ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Phần kết luận
7 TƯ LIỆU NGUỒN
1 Nguyễn Ngọc Tư (2007), Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ Với các tác phẩm sau: Cải ơi!; Thương quá rau răm; Hiu hiu gió bấc; Huệ lấy chồng; Cái nhìn khắc khoải;
Trang 14Nhà cổ; Mối tình năm cũ; Cuối mùa nhan sắc; Biển người mênh mông; Nhớ sông; Dòng nhớ; Duyên phận so le; Một trái tim khô…; Cánh đồng bất tận
2 Nguyễn Ngọc Tư (2008), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Nxb Trẻ Với các tác phẩm sau: Vết chim trời; Chuồn chuồn đạp nước; Tình thầm; Sầu trên đỉnh Puvan; Ấu thơ tươi đẹp; Núi lở; Thổ Sầu; Của ngày đã mất; Một chuyện hẹn hò; Gió lẻ
3 Nguyễn Ngọc Tư (2008), Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ Với các tác phẩm sau: Ngọn đèn không tắt; Cỏ xanh; Nỗi buồn rất lạ; Chuyện của Điệp; Ngổn ngang;
Lý con sáo sang sông;
4 Nguyễn Ngọc Tư (2009), Giao Thừa, Nxb Trẻ Với các tác phẩm sau: Bởi yêu thương; Chuyện vui điện ảnh; Đời như ý; Làm má đâu có dễ; Làm mẹ; Lương; Một dòng xuôi mải miết; Một mối tình; Ngày đã qua; Ngày đùa; Người năm cũ;
5 Nguyễn Ngọc Tư (2009), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Văn hóa Sài Gòn Với các tác phẩm sau: Lỡ mùa, Chiều vắng; Nửa mùa; Đau gì như thể…; Nước chảy mây trôi
6 Nguyễn Ngọc Tư (2007), Ngày mai của những ngày mai (tạp văn), Nxb Phụ Nữ
7 Nguyễn Ngọc Tư (2008), Biển của mỗi người (tạp văn), Nxb Văn hóa Sài Gòn
8 Nguyễn Ngọc Tư (2009), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ
9 Sơn Nam (2008), Hương rừng Cà Mau, Nxb Trẻ (850 trang đầu)
Trang 15Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 1 Những vấn đề về ngôn ngữ
1.1 1 Ngôn ngữ toàn dân
Tiếng Việt chuẩn hóa được coi là ngôn ngữ chung (Tiếng Việt phổ thông) hay NNTD phân biệt với ngôn ngữ được dùng ở các địa phương - thường gọi là phương ngữ NNTD với chức năng là công cụ giao tiếp giữa người với người, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phải được thống nhất giữa mọi thành viên trong cộng đồng Đó
là những ràng buộc hiển nhiên được cộng cồng ngôn ngữ thừa nhận và tuân theo trong hoạt động ngôn ngữ Đó chính là các chuẩn mực của ngôn ngữ NNTD mang tính chất chuẩn hóa và thống nhất, là một quá trình quan hệ mật thiết với sự phát triển của xã hội Đây là ngôn ngữ phổ biến, phạm vi sử dụng ở diện rộng NNTD tồn tại trong các dạng phương ngữ của nó Không có một ngôn ngữ chung chung tách ra khỏi các phương ngữ, nhất là trong tình hình đặc biệt của tiếng Việt: những khác biệt chỉ là những khác biệt về sắc thái có mang tính quy luật rõ rệt Vậy NNTD mang tính chất chuẩn hóa và thống nhất Đồng thời NNTD là một hệ thống mở, luôn sẵn sàng tiếp nhận những yếu tố mới để làm giàu cho vốn từ toàn dân
1.1.2 Tính chuẩn mực của ngôn ngữ
Chuẩn ngôn ngữ như một tổng thể những khả năng diễn đạt phù hợp với cấu trúc ngôn ngữ mà xã hội lựa chọn, đánh giá và chấp nhận Có nhiều cách xây dựng ngôn ngữ chuẩn, nhưng thông thường nó được xây dựng trên một phương ngữ tiêu biểu của ngôn ngữ dân tộc, người ta gọi là ngôn ngữ cơ sở Quan hệ giữa chuẩn và biến thể địa phương thực chất và chủ yếu là quan hệ giữa biến thể của phương ngữ cơ
sở với các biến thể của các phương ngữ khác
NNTD, với chức năng là công cụ giao tiếp của cả cộng đồng, nó buộc các thành viên sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phải thống nhất, phải tuân theo những chuẩn mực nhất định trong hoạt động ngôn ngữ; ngôn ngữ toàn dân càng không thể thiếu những chuẩn mực của nó
Trang 16Tóm lại, chuẩn ngôn ngữ là những ràng buộc mà trong xã hội mọi người phải tuân theo, chuẩn ngôn ngữ còn là những lựa chọn chủ động của cá nhân trong đời sống ngôn ngữ, nhờ vậy mà ngôn ngữ phát triển, xã hội đi lên Chuẩn mực trong ngôn ngữ tuy đã được quan tâm rất sớm nhưng nó lại là vấn đề khá phức tạp Vì đây
là quá trình trong đời sống phát triển của ngôn ngữ, chúng ta sẽ rất khó lòng dự đoán được kết quả của quá trình chuẩn hóa này sẽ hoàn tất, hay phát triển theo hướng nào
Tuy nhiên vấn đề chuẩn cũng có những đặc điểm cơ bản sau đây: một là chúng được hình thành một cách tự nhiên, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ; hai là chúng được nhận thức một cách trực giác và được vận dụng theo kinh nghiệm sử dụng; ba là chúng gắn bó với ngôn ngữ nói; bốn là chúng có tính ổn định cao, cũng có nghĩa là biến đổi chậm Nó được thể hiện ở các phương diện sau: chuẩn của hệ thống ngôn ngữ; chuẩn mực phát âm, chuẩn mực chính tả, chuẩn mực từ vựng và chuẩn mực ngữ pháp; chuẩn mực về phong cách trong ngôn ngữ văn học
1.2 Những vấn đề về phương ngữ
1.2.1 Từ địa phương
Theo từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, “Từ của một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó” Từ địa phương phát sinh do khoảng cách địa lí, điều kiện tự nhiên, sự kiện lịch sử, phong tục, tập quán xưa của cộng đồng người Đây không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ vựng địa phương thường mang sắc thái tu từ Có thể thấy một số kiểu từ vựng địa phương như sau:
a Từ vựng địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân Đó là những
từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có
ở địa phương nào đó chứ không phổ biến với toàn dân, do đó không có từ song song trong ngôn ngữ văn học toàn dân Các nhà ngôn ngữ học gọi loại này là từ vựng địa phương dân tộc học Thí dụ: các từ sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, chao… là các từ địa phương dân tộc học biểu thị những sản vật chỉ có ở miền Nam Việt Nam
Trang 17b Từ vựng địa phương có sự đối lập với từ vựng văn học toàn dân Kiểu từ vựng địa phương này có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng:
- Từ vựng địa phương đối lập về mặt ý nghĩa Những từ này về ngữ âm giống với từ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, ý nghĩa khác nhau Thí dụ: ở Nam
Bộ và Trung Bộ từ “nón” bao hàm cả nghĩa là cái mũ, “chén” gồm nghĩa là cái bát ở phương ngữ Bắc Bộ, “dù” có nghĩa là cái ô, “hòm” có nghĩa là cái quan tài,…
- Từ vựng địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm Thí dụ: các từ (cái) “vịm”, (cái) “cà ràng”,… ở Nam Bộ (tương ứng với các từ cái liễn, cái bếp kiềng, trong ngôn ngữ toàn dân) và các từ mô, rào, chộ, ngái… ở Bắc Trung Bộ (tương ứng với các từ
“đâu”, “sông”, “thấy”, “xa” trong ngôn ngữ toàn dân) là những từ địa phương khác nhau hoàn toàn về ngữ âm Các từ (con) gấy, nác, cáo, mự, tru, chúc mào… ở Nghệ Tĩnh (tương ứng với các từ (con) gái, nước, gạo, mợ, trâu, chào mào trong ngôn ngữ toàn dân) là những từ địa phương khác nhau bộ phận Có nhiều từ địa phương phản ánh quá khứ xa xưa của dân tộc Có nhiều từ hiện nay là từ địa phương nhưng trước đây là từ chung của toàn dân Đã một thời các từ trốc “đầu”, con gấy “con gái”, cấu
“gạo”,… là các từ toàn dân Với thời gian, những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng nào đó và trở thành các từ địa phương Trường hợp từ “trốc” lùi vào tiếng địa phương
kể từ khi từ “đầu” (mượn của tiếng Hán) được sử rộng rãi trong cộng đồng Còn các
từ “cấu”, “gấy”,… trở thành các từ địa phương là do quá trình biến đổi và phát triển không đồng đều của hệ thống ngữ âm tiếng Việt gây nên Ngược lại quá trình trên, nhiều từ địa phương đã mở rộng phạm vi sử dụng của mình, trở thành từ toàn dân Nhờ sự giao lưu giữa các vùng, nhờ sự sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học, các từ địa phương như (cây) “đước”, “sầu riêng”, “ngó”, “đặng”,… đã trở thành từ vựng toàn dân Như vậy, giữa từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương có quan hệ qua lại lẫn nhau Ranh giới giữa hai lớp từ này sinh động, thay đổi phụ thuộc vào vấn
đề sử dụng chúng Từ vựng địa phương là nguồn bổ sung cho ngôn ngữ văn học ngày càng giàu có, phong phú Như trên đã nói, từ vựng địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ Khi sử dụng từ địa phương vào tác phẩm văn học cần phải hết sức thận
Trang 18trọng và có mức độ Nói chung chỉ nên dùng các từ địa phương vào tác phẩm văn học trong trường hợp những từ địa phương này có sắc thái biểu cảm lớn so với các từ
đồng nghĩa tương ứng trong NNTD
1.2.2 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của NNTD ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với NNTD hay với một phương ngữ khác [7; tr 29]
Phương ngữ đó là hình thái nhất định của một ngôn ngữ Hình thái ấy có những đặc điểm riêng trong hệ thống ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và được dựng ở một môi trường địa lí hẹp hơn môi trường của ngôn ngữ [7, tr 83]
Có quan niệm cho phương ngữ là một nhánh của NNTD (Chẳng hạn cách nhìn của những nhà “ngữ pháp trẻ” trong thế kỷ XIX) Ở giai đoạn ngôn ngữ mới ra đời,
có hiện tượng một ngôn ngữ mẹ tách ra nhiều ngôn ngữ con Điều đó là đúng Nhưng
áp dụng việc xem xét hiện tượng này vào việc xét mối quan hệ giữa phương ngữ với NNTD lại không đúng, vì phương ngữ không tách biệt ra từ NNTD như một nhánh cây tách ra từ thân cây Một khi nói đến sự khác biệt của phương ngữ với NNTD thì điều ấy không có nghĩa là tách phương ngữ ra khỏi NNTD, phá vỡ tính thống nhất của một phương ngữ
Quan hệ giữa phương ngữ với ngôn ngữ cũng không phải là quan hệ giữa cái
cụ thể với cái trừu tượng Nếu vậy thì phương ngữ là cái cụ thể, còn ngôn ngữ là cái trừu tượng? Không phải như vậy NNTD cũng có mặt cụ thể, đó là những biểu hiện của nó trong lời nói, trên chữ viết Tất nhiên phương ngữ cũng có những biểu hiện cụ thể Cái trừu tượng của ngôn ngữ là cái bộ mã tạo nên tính hệ thống của nó, thì ngôn ngữ toàn dân hay phương ngữ đều có cái bộ mã như vậy Có điều hai bộ mã này rất gần nhau, chỉ có những nét khác biệt nào đó mà thôi
Đến đây, có thể định nghĩa: Phương ngữ là biến thể địa phương của NNTD [7;
tr 57]
Trang 191.2.3 Xu hướng phân vùng phương ngữ
Tiếng Việt có bao nhiêu vùng phương ngữ khác nhau, đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất Có nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể như sau: Hoàng Thị Châu, Võ Xuân Trang, Trần Thị Ngọc Lang và nhiều tác giả khác chia tiếng Việt theo ba vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam Có ý kiến chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ: tiếng miền Bắc và tiếng miền Nam (Hoàng Phê) Nguyễn Kim Thản thì chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam và phương ngữ Nam Nguyễn Bạt Tụy, Huỳnh Công Tín chia tiếng Việt thành năm vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung trên, phương ngữ Trung dưới, phương ngữ Trung giữa và phương ngữ Nam
Các ý kiến, quan điểm trên đều lấy trước hết ngữ âm là tiêu chí chính để phân chia các vùng phương ngữ Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp thì cũng chỉ dừng ở những vùng phương ngữ lớn mà thôi Đó là phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam
1 2.4 Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Hoàng Phê cho rằng tiếng Việt ở khu vực địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng miền Nam, nơi có Sài Gòn là trung tâm [39; tr 18] Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báo, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam [47; tr 51- 69] Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Bình Tuy trở vào, Nguyễn Bạt Tụy cũng gọi là phương ngữ Nam Tiếng Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực nam Tổ quốc, Hoàng Thị Châu gọi là phương ngữ Nam [7; tr 45] Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [ 23; 229, 230]
Từ thế kỉ XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng đất địa lí từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn Văn Ái, Trần Thị Ngọc Lang, Hồ Lê, Bùi Khánh Thế, Cao Xuân Hạo gọi là PNNB
Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ miền Nam hay phương ngữ Nam được các tác giả xác định khá rộng Không gian địa lí của PNNB
Trang 20được xác định hẹp hơn Ranh giới PNNB trùng với ranh giới địa lí tự nhiên Nam Bộ
mà chúng ta đang quan niệm hiện nay
1.2.5 Phương ngữ Nam Bộ
Có thể nói đơn giản rằng, PNNB là tiếng Việt của người Nam Bộ Tiếng Việt của người Nam Bộ có sự khác biệt với tiếng Việt ở các vùng miền khác trên cả ba phương diện: ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách diễn đạt – phương diện ít có sự khác biệt hoặc khó nhận diện hơn cả Về đặc điểm PNNB chúng tôi thống nhất với ý kiến của Hoàng Thị Châu là “… một phương ngữ được xác định bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với phương ngữ khác” Do Nam Bộ có điều kiện giao thông thuận tiện
và là mảnh đất sớm có nền kinh tế hàng hóa so với vùng khác của đất nước cho nên PNNB đã có sự ảnh hưởng trên một vùng dân cư rộng lớn “Một đặc điểm nổi bật của
phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ rộng lớn” [30; tr 90] Khi đề cập đến PNNB, các nhà ngữ học vẫn thừa nhận có sự khác biệt với phương ngữ Bắc Bộ - tiếng Việt chuẩn ở tất cả các bình diện như nêu trên Có thể khái quát PNNB ở một số đặc điểm sau (những đặc điểm này chúng tôi xin trình bày theo ý kiến của Huỳnh Công Tín)
Trên bình diện ngữ âm, sự khác biệt ngữ âm học giữa PNNB (tiếng Sài Gòn)
và tiếng Việt chuẩn, phương ngữ Bắc Bộ (tiếng Hà Nội), phương ngữ Trung Bộ diễn
ra trên các thành phần của âm tiết, phụ âm đầu, thanh điệu, phần vần Có thể nêu một
số hiện tượng sai biệt đáng lưu ý sau
Với thành phần phụ âm đầu, có hiện tượng sai biệt như hiện tượng không phát
âm được các âm quặt lưỡi: /ʂ-/ hay phụ âm môi – răng: /v-/, phụ âm đầu lưỡi: /z
-/ Cách phát âm của phần lớn người Nam Bộ như sau (Những sự đối chiếu này được ghi nhận từ cách phát âm của người Hà Nội và người Sài Gòn):
/ ʂ / thành [s-] Chữ Quốc ngữ: “s” thành “x”
/v-/, /z-/ thành [j-] Chữ quốc ngữ: “v”, “d, gi” thành “d”
Trang 21Thành phần âm đệm /-w-/ trong PNNB không có Với khuôn vần [
-wa:-], chữ viết ghi “-oa”, người đồng bằng sông Cửu Long có khuynh hướng phát âm thành [-ɔ:-
], chữ viết ghi “o” Người lớn tuổi phát âm không còn âm đệm, thành [
-a:-], chữ viết ghi “a”; với khuôn vần [-
wɤ-], chữ viết ghi [“
-uâ-”], người đồng bằng sông Cửu Long
có khuynh hướng phát âm thành [-ɯ-], chữ viết ghi “ư” Sự kết hợp giữa âm đệm với hai phụ âm đầu: thanh hầu /h-/ hoặc gốc lưỡi /k-/ đều được hát âm thành một âm xát, hữu thanh, môi [w-]
Ở các khuôn vần, cũng có những sự khác biệt ngữ âm học đáng lưu ý như: sự chuyển đổi nguyên âm /-
e-/ thành /-i-/ trong hầu hết các khuôn vần [-Ə:ɲ], [-e:m], và [-e:p]chữ viết ghi “-
ênh”, “-êm” và “-êp”, chẳng hạn:
(con kênh) [kɔ:n1
kƏ :ɲ 1 ] [kɔ: ɲ 1 kɨn: 1 ]
Có hiện tượng phát âm gộp các khuôn vần [
-o:m], [-o:p]; [-ɤ:m], [-ɤ:p], chữ viết ghi là: “-ôm, -ốp”, “-ơm, -ơp”, thành một khuôn vần chung [-ɤ:m], [-ɤ:p] và các khuôn vần [-
am:], [-ap:]; [-ɤ:m], [-ɤp:], chữ viết ghi là: “-ăm,-ăp”, “
-âm, -âp” được phát âm gần giống nhau, thành [-
am:], [-ap:]; [-ɑm:], [-ɑp:], chẳng hạn:
(cái hộp) [ka:j5 ho:p 6 ] [ka:j5hɤ: p 6 ]
(ngăn nắp) [ŋan: 1 nap: 5 ] [ŋaŋ: 1 nap: 5 ]
Có hiện tượng phát âm chuyển đổi khuôn vần [
-Ɯ:w] hay [
-Ɯɤw] thành [- Ʊ w ] trong PNNB
Người đồng bằng Nam Bộ phát âm không phân biệt trường độ của chính âm /
-a/ trong các khuôn vần có âm là bán nguyên âm Tất cả đều được thể hiện ở dạng dài, chẳng hạn:
Trang 22(bàn tay) [ba:n2 taj:1] [ba:ŋ2
taj:1] (ngăn nắp) [ŋan: 1 nap: 5 ] [ŋaŋ: 1 nap: 5 ]
(con cháu) [k Ɔ :n 1 caw: 5 ] [k Ɔ : ŋ 1 ca:w 5 ]
Ở trường hợp chung âm, trong cách nói của người đồng bằng Nam Bộ, có hiện tượng gộp một số khuôn vần, không có sự phân biệt trong phát âm giữa [-
n] và [ŋ], giữa /-
t/ và /-k/ Riêng biến thể [-ŋ], [
-c] không có trong PNNB
(cát bụi) [ka:t5 bu:j6] [ka:k5 bu:j6]
(bênh vực) [bƏ: ŋ 1 v Ɯk:6] [bƏ:n1 jƜk:6]
Về thanh điệu, người Nam Bộ thường phát âm thanh ngã, thanh hỏi, thành một thanh trung gian, mà nhiều người cho là thanh hỏi:
(nghĩ ngợi) [ŋi:4] [ŋɤ:j6] [ŋij3] [ŋɤ:j6]
Có ý kiến cho rằng, các hiện tượng khác biệt trong phát âm của người đồng
bằng Nam Bộ xuất phát “từ việc thiên về khuynh hướng chọn sự dễ dãi, thoải mái trong phát âm Các bộ phận tham gia vào tiến trình phát âm không phải xê dịch
vấn đề đơn giản hóa này như một sự phù hợp về tính cách của người Nam Bộ, mà tính cách này là do điều kiện của vùng đất mới góp phần tạo nên [53; tr 49]
1.2.5.2 Đặc điểm của PNNB trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa
Xét vốn từ ngữ Nam Bộ, thì rõ ràng có một số khác biệt so với tiếng Việt toàn dân Có thể tóm tắt ở một số điểm cơ bản như sau [54; tr 49]
• PNNB còn giữ lại một lớp từ cổ của tiếng Việt mà phương ngữ Bắc Bộ, tiếng Việt chuẩn không còn sử dụng Ví dụ: “mẩng (mừng), ngộ (dễ nhìn), coi (xem), cậy (nhờ), méc (mách), hun (hôn), thơ (thư), nhơn (nhân)…”
• Người dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long sử dụng một số từ ngữ vay mượn
từ các dân tộc sống chung như Khơme, Hoa: “cà rá, cà ràng, cà ròn, xà rong, lục, thốt
Trang 23nốt, len trâu, bò hóc, đi ênh…; chế, hia, tía, số dách, chào chấu quẩy, xập xám, bạc xỉu, miệt, mai, báo…” trong quá trình giao tiếp.
Tiếng Việt của người Việt, người Nam Bộ có quá trình tiếp xúc khá lâu dài với tiếng Pháp Bởi vậy, có sự tiếp nhận qua lại vay mượn lẫn nhau Để diễn đạt những thực tại mới, người Nam Bộ tiếp nhận, vay mượn một số yếu tố của tiếng Pháp, tiếng nước ngoài Ví dụ: xà bông (savon), cà vạt (cravate), xà lách (salade),…
• Có một lớp từ vựng Nam Bộ có hiện tượng biến âm so với lớp từ vựng chung
Sự biến âm này có thể do khuynh hướng phát âm đơn giản hóa của người Nam Bộ:
“hảo hớn, minh mông, phui pha, tuồm luôm, nươm nướp, tiên phuông, cháng váng, lè lẹt…” hoặc do kiêng kị: “huê (hoa), kiểng (cảnh), hường (hồng), huỳnh (hoàng), phước (phúc), quới (quý),… Trong PNNB, hiện tượng biến âm diễn ra rất phong phú
• Vùng đồng bằng sông nước có một lớp từ, ngữ phản ánh địa hình, cây cối,
phương tiện di chuyển, hiện tượng sông nước, sản vật của miền Ví dụ: sông, rạch, xẻo, kinh, mương, ao, bàu, đìa, mù u, trâm bầu, tôm bạc, tôm càng, tôm đá, tôm đất, tôm sú, tôm thẻ,… Ấn tượng sáng tạo riêng của dân vùng sông nước là lối diễn đạt
mang đậm màu sắc sông nước Từ ngữ diễn tả hiện tượng của vùng sông nước được dùng hết sức phong phú, được phân định trong cách nhận thức tinh vi Vốn từ vựng này góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt
• Từ trong PNNB có khuynh hướng diễn đạt nhiều khía cạnh, nhiều thực tại trong thực tế khách quan, khác với khuynh hướng từ vựng toàn dân Nói cách khác,
từ trong ngôn ngữ toàn dân có khuynh hướng chi tiết hóa, cụ thể hóa thực tại; từ trong PNNB có khuynh hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa thực tại Ví dụ: từ “con” dùng xưng trong quan hệ cha, mẹ và cả xưng trong quan hệ ông bà, PNNB thì là “con
và cháu”, “lúa” vừa dùng chỉ một loại cây lương thực vừa chỉ hạt của nó khi còn nguyên vỏ, PNNB thì gọi là “thóc và lúa”…
1.2.5.3 Đặc điểm của PNNB trên bình diện ngữ pháp
Trên bình diện ngữ pháp, không có những khác biệt lớn giữa các phương ngữ Nhưng trong cách nói của người Nam Bộ có một số hiện tượng đáng chú ý
a Cách xưng gọi, từ dùng xưng gọi
Trang 24Người Nam Bộ có thói quen dùng thứ kết hợp với tên để xưng gọi: “hai, ba, bốn,…” hoặc “út”…”, chẳng hạn: “Tám Nghệ, Bảy Viễn, Tám Mạnh,…”; Từ xưng gọi “họ hàng” như: “cậu, mợ, dì, dượng, ” được dùng trong gia đình và cả trong làng xóm; Cách xưng gọi giữa những người trong gia đình có tính tới quan hệ thứ bậc, nhưng chừng mực và không nặng nghi thức… Nói chung cách xưng gọi này được nhìn nhận có sự thân tình, mộc mạc, chân chất
b Hiện tượng nói lái
Nói lái là hiện tượng diễn đạt phổ biến, quen thuộc trong diễn đạt, nhận thức của người Nam Bộ Hiện tượng này tạo nên sự liên tưởng thú vị, hài hước, thể hiện lối lạc quan yêu đời theo cách của người Nam Bộ Ví dụ: nói “lộng kiếng” trang trọng nhưng được hiểu “liệng cống”, trẻ rủ nhau “đi tắm” ngang qua nhà nhau, nói lái:
“đâm tí đi! đâm tí đi!”
1.2.5.4 Đặc điểm của PNNB trên bình diện phong cách diễn đạt
Ngôn từ của người Nam Bộ phản ánh lối tư duy của họ Đó là một lối tư duy phóng khoáng, nặng tình nghĩa, nhưng không nặng quy tắc, khuôn luật Có thể khái quát một số đặc trưng chung về phương ngữ của vùng như sau
a Một phong cách diễn đạt giàu hình ảnh, giàu yếu tố cụ thể Cách diễn đạt không bóng mượt, nhưng dễ tiếp nhận do lối liên tưởng, so sánh dễ hiểu Chẳng hạn,
từ chuyện “thèm cơm” bất ngờ nhìn “em vợ”, anh chàng “máu gái” có sự liên tưởng
“hết ý” Lối so sánh đầy tính hình tượng, còn sự so sánh nào hơn:
“Trưa trưa thấy đói thèm cơm, Ngó đùi em vợ tưởng tôm kho tàu.” (Ca dao)
Sự liên tưởng có thể “quá lạ”, nhưng hoàn toàn không “vô nghĩa lí” Hình ảnh được so sánh tạo ở người nghe sự hài hước thú vị, chấp nhận được
b Phong cách diễn đạt rất giàu sắc thái biểu cảm và nhiều chất hài
Chất hài của Nam Bộ khác với chất hài của Bắc Bộ, không phải là do năng lực
tư duy, mà do sở thích “bông đùa” muốn cho cuộc sống bớt căng thẳng Nghe nói, một người giả dạng thầy tu đã đến “tụng kinh” cho người chết ở một gia đình Đầu hôm, “thầy” tụng thì là kinh thật, về khuya chỉ còn mình “thầy” và “góa phụ”, “thầy”
Trang 25chỉ tụng có mỗi “câu kinh” thể hiện cái máu “thầy” của mình, mà ai trong chúng ta có
“dửng dưng” mấy cũng không thể nín cười được:
“Chồng mầy đâu, sao mà chết?
“bác Ba Phi, ông Ó” và trong ca dao dân ca Nhờ tính chất này mà truyện kể, câu thơ
có màu sắc lạc quan, gây nhiều cảm xúc hơn
Hình ảnh cô gái Nam Bộ ở đây có thể không được thùy mị, duyên dáng như cô gái Thăng Long, cô gái của kinh thành xứ Huế; nhưng xét ở mặt nào đó, thì cũng thông minh, dí dỏm, đáng yêu Câu hò của người con gái Nam Bộ sau đây quả là nhiều “mắc mớ” và “tinh nghịch”:
“Xăn quần em lội qua lung, Quần em tuột xuống anh hun chỗ nào?”
Câu hò đáp của chàng trai nào đó cũng là xứng tầm, phải đôi:
“Anh hun thì hun má đào, (Chớ) quần em tuột xuống (thì) anh cặm sào ngủ luôn.”
d Phong cách diễn đạt giàu tính bình dân, có nhiều yếu tố từ ngữ giản dị và mộc mạc Tính chất này phù hợp với đời sống và tính cách của người Nam Bộ
Bài ca dao Việt Nam nói về sự bế tắc: “Con kiến mà leo cành đa, Leo phải cành cọc leo ra leo vào… Con kiến mà leo cành đào, Leo phải cành cọc leo vào leo ra…” đã có tính hình tượng rất cao; nhưng bài ca dao Nam Bộ có chủ đề tương tự:
“Ví dầu ví dẩu ví dâu, Ví qua ví lại con trâu vô chuồng Vô chuồng rồi trâu lại trở ra… Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng Vô chuồng rồi trâu lại trở ra…” nào kém gì tính hình tượng, đôi khi còn sống động hơn, vì hình ảnh “con trâu” lớn hơn gấp trăm lần
“con kiến”, nên việc nhìn người và trâu cứ “chạy vô, chạy ra chuồng; chạy vô, chạy
ra chuồng” dễ đập vào mắt người xem hơn phải dõi mắt mà nhìn con kiến “leo ra, leo
Trang 26vào; leo vào leo ra” ở cành “cây nảo, cây nao” Câu ca dao Nam Bộ có lối diễn đạt bình dân, mộc mạc, giản dị hơn nhiều; mặt khác, nó không kém phần sâu sắc: qua hình ảnh con trâu của câu ca dao, người xem còn nhận ra “một mùa nước nổi” của vùng đồng bằng sông nước ở phía sau bức tranh nông thôn, mà người nông dân không biết phải đối xử, nuôi nấng đôi trâu, những “người bạn” của mình, qua những tháng ngày nước nổi như thế nào cho phải phép đây?
e Một cách định danh, diễn đạt có khuynh hướng thiên về hình thức, hình ảnh hóa sự việc
Trong PNNB, chúng tôi nhận thấy cách diễn đạt của người dân Nam Bộ thường thiên về cách định danh chú trọng vào hình thức Chẳng hạn: cách gọi “vỏ” và
“ruột” để chỉ phần ngoài và phần trong của chiếc bánh xe; “bột ngọt” để chỉ một loại chất dưới dạng bột dùng để nêm thức ăn cho ngọt; muốn che giấumột vụ việc không
để ai biết, không để lộ ra ngoài, người ta bảo “chìm xuồng”…
Nhìn chung, tiếng Nam Bộ tương đối đơn giản Đơn giản như một cá tính Điều này không chỉ đúng với ngôn ngữ mà chi phối cả nhiều loại hình nghệ thuật khác, cả những nét ứng xử thực tế của con người Một điều dễ thấy là, tiếng nói vùng này đã đồng nhất một số âm ở cùng vị trí cấu tạo nên tiếng Vì vậy, số lượng âm tố giảm xuống tối đa Một mặt ở đây bảo lưu những yếu tố cổ, mặt khác lại chuyển biến rất nhanh, nên tuy sự tiến triển chỉ mới có hơn ba thế kỷ nhưng nhờ những hoàn cảnh thuận lợi hơn, nên nó đã vượt xa tiếng nói khúc ruột miền Trung, nhích gần đến tiếng Bắc Bộ Chính điều này đã nẩy sinh chất trung gian và chuyển tiếp, như một đặc điểm khó lẫn lộn
1.3 Ngôn ngữ và sáng tác văn chương
1.3.1 Ngôn từ
Nói đến văn học là nói đến ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ là chất liệu quan trọng nhất cấu thành tác phẩm văn học Nhưng so với ngôn ngữ trong các văn bản khác, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học có những đặc điểm riêng, tạo thành một hệ thống lời văn
do tác giả sắp xếp nhằm thể hiện mục đích nhất định nào đó Nó “là hệ thống lời văn
Trang 27tạo nên thế giới tinh thần của tác phẩm Nhờ có văn bản này mà người đọc tiếp nhận được nội dung tác phẩm, thế giới nghệ thuật mà các nhà văn miêu tả, cũng như những
tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gởi gắm trong tác phẩm” Như vậy, trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách tài năng của nhà văn Những nhà văn lớn, có tài là những nhà văn sử dụng rất thành công các con chữ Họ như làm xiếc trên các con chữ, để chúng chuyển tải được những suy nghĩ, những nỗi lòng của mình Vì vậy, việc lựa chọn từ ngữ để
sử dụng trong tác phẩm đối với nhà văn là một điều vô cùng quan trọng Có khi phải mất cả ngày, cả tháng cho việc thay đổi một từ Do đó, ngôn ngữ trong văn học thường là ngôn ngữ đã được chắt lọc nên nó mang tính cá thể rất rõ nét, nó giúp nhà văn truyền đạt được bức tranh của đời sống một cách sinh động và gợi lên được sự liên tưởng ở người đọc Có thể nói, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm thể hiện trước hết ở nghệ thuật sử dụng từ ngữ
1.3.2 Ngôn ngữ văn chương
Ngôn ngữ là chất liệu của văn học cho nên ngôn ngữ học gắn bó trực tiếp với văn học Nghệ thuật của một nhà văn được thể hiện trong sáng tác văn học quyết định
sự sống còn của một tác phẩm Nghệ thuật của tác giả được hiểu là sự khéo léo, sáng tạo riêng của mỗi nhà văn trong việc sử dụng ngôn ngữ văn chương Và chính ngôn ngữ là chất liệu để nhà văn sáng tạonên những nét riêng trong sáng tác của mình
Đây là vấn đề thuộc về chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương hiện rõ ở trong mối quan hệ với hình tượng văn chương và với độc giả Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương thể hiện trước hết là ở quan hệ gắn bó xương thịt của nó đối với hình tượng văn chương Ngôn ngữ văn chương được coi là một công cụ, công
cụ cơ bản để thể hiện hình tượng văn chương Gorki nói: “Ngôn ngữ là yếu tố trước tiên của văn chương” chính là theo nghĩa đó Do vậy khi khảo sát, đánh giá ngôn ngữ văn chương, chúng ta phải xem xét nó đã góp phần tạo nên hình tượng văn chương và
đã thể hiện hình tượng văn chương như thế nào [16; tr114] “Ngôn từ tác phẩm văn chương khác với ngôn từ không phải của tác phẩm văn chương ở chỗ nó gợi ra một tập hợp không sao kể xiết những ý tưởng, những tình cảm, những sự giải thích…”
Trang 28Cái mà L.Tônxtôi gọi là “gợi ra một tập hợp không sao kể xiết…” đó chính là ý nghĩa xây dựng hình tượng văn chương của ngôn từ [16; tr115]
Cái mà ngôn ngữ văn chương tác động vào độc giả phần lớn dựa vào tài năng nghệ thuật của nhà văn, ngôn ngữ văn chương không chỉ thông báo với độc giả mà còn khêu gợi hoạt động thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ của độc giả Chính cái ngôn ngữ tạo hình, biểu cảm, cái ngôn ngữ hàm ý xây dựng hình tượng nói trên và ngôn ngữ của nhân vật… đóng vai trò khơi dậy những cảm xúc thẩm mỹ, thúc đẩy hoạt động thẩm mỹ của độc giả Điều đó cho thấy rằng, giữa ngôn ngữ và nghệ thuật của nhà văn là một mối quan hệ không thể tách rời, ngôn ngữ vừa là chức năng thông báo vừa
là nghệ thuật của nhà văn
Cho nên ngôn ngữ văn chương khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở chỗ:
ngôn ngữ văn chương vừa mang chức năng thông báo vừa thực hiện chức năng nghệ thuật [16; tr39]
1.3.3 Lời văn và ngôn ngữ văn học toàn dân
Ngôn ngữ văn học là NNTD, thống nhất và chuẩn hóa, hình thành cùng với sự hình thành dân tộc thống nhất trên cơ sở kinh tế, văn hóa Nó đối lập với ngôn ngữ
phi chuẩn, lai căng Ngôn ngữ “thống nhất, chuẩn mực” không nên hiểu chỉ là cấu trúc, quy tắc, mô hình mà là ngôn ngữ trong tất cả màu sắc, da thịt sinh động, đầy đặn, đẹp đẽ của nó Chính vì vậy lời văn nghệ thuật có nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, chống lại mọi biểu hiện lai căng, lạm dụng tiếng địa phương, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp, tiếng dân tộc ít người Nó không chấp nhận những lối nói “hình tượng” ngô nghê, theo kiểu “no cơm áo”, “cười thênh thang”,
“tóc cười”, “tai hát” mà Hồ chủ tịch có lần chế giễu Nó cũng không chấp nhận những sáng tạo bí hiểm, vi phạm chuẩn mực tiếng nói dân tộc [56; tr 118] Nhưng mặt khác, ngôn ngữ văn học lại cho phép vận dụng linh hoạt, sáng tạo từ mới, du nhập những yếu tố của tiếng địa phương, tiếng nước ngoài đúng lúc, đúng chỗ để làm phong phú cho nó Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều đã để lại những mẫu mực sáng ngời về việc đồng hóa tiếng Hán để làm giàu cho lời văn tiếng Việt Các nhà nghiên cứu đã cho thấy, bên cạnh vốn từ vựng toàn dân, còn có những từ và cách nói sáng
Trang 29tạo của nhà văn đóng góp thêm trên cơ sở quy luật tiếng Việt Chẳng hạn, ngoài
“nước mắt”, Truyện Kiều còn nói: “lệ, giọt châu, giọt ngọc, giọt sương, giọt hồng, giọt tủi, dòng thu” Ngoài các thành ngữ, tục ngữ nhà văn còn tạo ra nhóm từ mới có tiết tấu chặt chẽ như “thảm lấp sầu vùi, nắng giữ mưa gìn, ngọn hỏi ngành tra”…[37;
tr 218] Tóm lại lời văn nghệ thuật có vai trò rất lớn trong việc xây dựng nên ngôn ngữ chuẩn hóa, trong sáng, giàu đẹp của dân tộc
1.3.4 Vấn đề phương ngữ trong tác phẩm văn học
Ngay ở thời quá khứ, các nhà văn Việt Nam cũng đã có ý thức viết ngôn ngữ văn học sao cho toàn dân Việt Nam hiểu, và dù họ là người địa phương nào, họ cũng
cố gắng viết theo quan niệm của họ về NNTD Các tác giả của Hoa Tiên, Truyện Kiều, Mai Đình mộng kí đều là người Nghệ Tĩnh; Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị,
là người miền Nam nhưng tác phẩm của họ về cơ bản vẫn là dựa trên NNTD Ngôn ngữ Văn học của Việt Nam từ đời Trần đến nay là thống nhất Nhưng nói đến ngôn ngữ với tư cách công cụ giao tiếp phải phân biệt hai trường hợp dưới đây:
nội dung mà không nhằm mục đích nghệ thuật thì NNTD, và chỉ NNTD được sử dụng mà thôi Không những trong ngôn ngữ viết mà cả trong ngôn ngữ nói cũng thế: một thầy giáo dạy học ở trường phải nói bằng NNTD, nhưng có thể phát âm theo cách của địa phương Như vậy khi nói (không nói đến văn bản viết), trong các phong cách hành chính hay khoa học, thì thổ âm được chấp nhận nhưng thổ ngữ thì không Trong những trường hợp này, người viết không có tham vọng nói chuyện nghệ thuật,
mà chỉ cốt trình bày sao cho tư tưởng của mình được hiểu nhanh nhất, thống nhất và chính xác nhất Lúc đó đưa phương ngữ vào là có hại
ngữ nghệ thuật không phải chỉ đơn thuần là thông báo sự việc mà còn thông báo về nghệ thuật nữa Chủ trương viết tác phẩm nghệ thuật chỉ bằng một phương ngữ duy nhất sẽ là không đúng vì nó làm cho ngôn ngữ văn học bị nghèo đi, mất sắc thái gợi cảm, các tác phẩm này sẽ xanh xao, không có ngôn ngữ nhân vật, không có màu sắc địa phương và vốn từ do đó nghèo vì bị tỉa tót quá, và ngôn ngữ sẽ mất tính nghệ
Trang 30thuật Chặng hạn trong thời gian 1932 – 1945 nhóm Tự Lực Văn Đoàn chỉ viết bằng một phương ngữ duy nhất – tiếng Hà Nội, lấy dân thành thị làm tiêu chuẩn là một ví
dụ điển hình Kết quả là tuy họ có đóng góp về sự chuẩn hóa ngôn ngữ, các tác phẩm này không có màu sắc địa phương, không có ngôn ngữ nhân vật, và vốn ngôn ngữ trở nên quá nghèo nàn mất tính hiện thực, không phản ánh được hết thực tại Theo quan điểm nghệ thuật, mỗi phong cách là một kiểu lựa chọn Dùng từ toàn dân hay từ địa phương đều là những cách lựa chọn Không có cách lựa chọn nào tự nó là dở Chỉ có cách lựa chọn đúng và lựa chọn sai mà thôi Đúng hay sai là tùy ở tính cụ thể lịch sử,
mà mình muốn thực hiện Nhưng ngay ở đây nữa cũng phải phân biệt hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất là tác giả nói nhân danh mình, hay phần ngôn ngữ của tác giả trong tác phẩm, nhất thiết phải lấy NNTD làm nền tảng Điều này do hai yêu cầu Yêu cầu thứ nhất là phải tách ngôn ngữ nhân vật ra khỏi ngôn ngữ tác giả Nếu không có sự khác biệt đó thì người xem không thấy có sự lựa chọn, cảm giác nghệ thuật cũng yếu đi Yêu cầu thứ hai là tác giả phải tỏ ra là một người có văn hóa cao, thông thạo ngôn ngữ toàn dân, để người xem biết rằng mỗi khi tác giả dùng phương ngữ là có mục đích, chứ không phải vì không biết cách nói khác dễ hiểu hơn Trong trường hợp này, mỗi khi tác giả dùng phương ngữ, nhất là trong những đoạn văn miêu tả, thì phải tìm mọi cách làm cho từ mang sắc thái phương ngữ ấy được hiểu ngay lập tức, nếu không, giá trị thông báo yếu đi, và sắc thái nghệ thuật cũng bị mất
Do đó, tác giả phải dùng những lời giải thích, hay đặt từ địa phương vào những ngữ cảnh nào dễ nắm bắt nhất Đồng thời, tác giả phải chắt lọc sao cho số lượng từ ngữ địa phương được thu hẹp, có tần số sử dụng cao, gây được ấn tượng ở người đọc, nếu không sẽ phản tác dụng làm giảm giá trị nghệ thuật, gây cản trở cho việc cảm thụ văn bản ở người đọc
- Trường hợp thứ hai là ngôn ngữ của chính nhân vật Về điểm này việc sử dụng phương ngữ không những là cần thiết mà còn là thích hợp nữa Thiếu phương ngữ, có khi tính hiện thực của tác phẩm bị giảm sút Có những tác phẩm dùng PNNB rất thành công Ở đây nếu thay thế nó bằng NNTD, thì sẽ không còn gì là tính cách Nam Bộ của nhân vật trong tác phẩm nữa Song cũng cần tránh lạm dụng Một nhà
Trang 31văn lớn bao giờ cũng biết sử dụng từ ngữ địa phương một cách tinh tế, đúng mức, đúng lúc, đúng chỗ, tạo được một dấu ấn khó quên ở người đọc Có thể thấy trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả, tác phẩm văn học cần có tính đa dạng về ngôn ngữ, điều đó biểu lộ không những ở sự khác nhau về cách sử dụng tiếng địa phương phương ngữ, mà cả ở sự khác nhau về cách sử dụng phương ngữ xã hội
1.4 Các phương tiện của lời văn nghệ thuật
Lời văn vận dụng toàn bộ khả năng và phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ toàn dân thuộc các bình diện ngữ âm, từ vựng , cú pháp, các phương thức tu từ Nhà văn không chỉ sử dụng các phương tiện biểu đạt, mà còn vận dụng các hình thức ngôn từ vốn có trong kho tàng tiếng nói một dân tộc vô vàng sắc thái nội dung của nó như từ
cổ, tiếng địa phương, tiếng nghề nghiệp, tiếng lóng… Ngoài ra, nhà văn cũng sử dụng vốn ngôn từ văn học đã trở thành di sản nghệ thuật dân tộc để tạo thành lời văn tác phẩm của mình Các phương tiện từ vựng đủ các loại như từ đồng nghĩa, phản nghĩa,
từ tục, từ thanh, từ cổ, từ mới, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp, tiếng địa phương, từ tôn giáo, tiếng dân tộc ít người, tiếng nước ngoài đều là các phương tiện tạo hình và biểu hiện vô cùng quan trọng
Tóm lại trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật cần có tính đa đạng về ngôn ngữ, biểu lộ không chỉ ở những sự khác nhau về phương ngữ,
mà cả ở những sự khác nhau về hoàn cảnh xã hội, về lứa tuổi, về trình độ văn hóa, về giáo dục, về giới tính, nhưng đồng thời cũng nên tránh đưa quá nhiều những từ này vào tác phẩm Nghệ thuật phải là sự lựa chọn thích đáng Nếu dùng từ địa phương thì cho nó vào địa vị từ chủ chốt và phải tạo một bối cảnh cần thiết để người nghe hiểu ngay được Lúc đó nó sẽ đem đến cái rung cảm nghệ thuật mà không một từ nào có thể làm được
1.4.1 Phương tiện tu từ
Phương tiện tu từ còn được gọi là “những phương tiện được tu sức về mặt tu từ hoặc đôi khi được đánh dấu về mặt tu từ” [28, tr59)]
Trang 32Ví dụ: các lớp từ láy, từ Hán – Việt, từ địa phương, các cách chuyển nghĩa tu từ,… là những phương tiện tu từ tiếng Việt Sách giáo khoa tu từ học và lí luận văn học trước đây gọi là phương thức tu từ, không tách bạch phương tiện và biện pháp tu
từ
Các phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ đều tồn tại trong ý thức và tiềm thức của người dùng, và người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng như các tín hiệu từ, các câu hỏi,… người quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy mà cách hiểu đều giống nhau Như vậy, các phương tiện tu từ có tính chất khách quan và mỗi phương tiện đều có chung một mã giống nhau, độc lập đối với chủ quan người sử dụng Có thể phân chia các phương tiện tu từ như sau:
1.4.1.1 Các phương tiện ngữ âm
Đó là hệ thống các thanh điệu, nguyên âm, phụ âm, âm tiết có những khả năng diễn tả, hoặc gợi hình ảnh về sự vật Ví dụ: những nguyên âm /i/ có độ mở hẹp, hàng trước,… gợi những hình ảnh nhỏ bé: li ti, lí nhí, ri rỉ, ti tỉ (khóc); phụ âm / l/ tham gia cấu tạo các từ láy long lanh, lấp lánh, lóng lánh, lững lờ, lập lờ, lộp độp, lục cục, lục sục Phụ âm /l/ này khi phát ra thì luồng hơi bị cản lại, mạnh, và có nhiều tiếng động, ít tiếng thanh hoặc không có tiếng thanh Nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp điệp phụ âm đầu /l/ trong hai câu thơ: “Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.” Tác dụng ở đây là để tạo nên biểu tượng về một sự nhấn mạnh, cụ thể là nhấn mạnh vào mà sắc ẩn hiện
Mặt khác các yếu tố ngữ âm như thanh điệu, nguyên âm, âm tiết,… có sự đối lập về chất, có khả năng tạo ra sự hài hòa trong cấu tạo từ, thành ngữ và ngữ điệu, âm điệu của câu
1.4.1.2 Các phương tiện tu từ từ vựng – ngữ nghĩa
Đó là hệ thống các lớp từ giàu màu sắc tu từ như: lớp từ láy, lớp từ Hán Việt, lớp từ địa phương,… và những phương tiện tiêu biểu: ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, phúng dụ,…
Trang 331.4 1.3 Các phương tiện tu từ cú pháp
Đó là hệ thống các kiểu câu giàu màu sắc tu từ của tiếng Việt: câu đặc biệt, câu
ẩn chủ ngữ, câu lược chủ ngữ, câu biến đổi tình thái,…
1.4.1.4 Các phương tiện tu từ văn bản
Ví dụ như, liên kết, triển khai, rút gọn,…
1.4.2 Biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ “là những cách phối hợp sử dụng trong lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể là trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật…) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng” [28; tr 61]
Nếu phương tiện tu từ mang tính khách quan thì biện pháp tu từ có tính chủ quan thuộc về sự lựa chọn có khả năng diễn đạt của người viết Phương tiện tu từ có phần hạn chế nhưng biện pháp tu từ thì vô hạn Người viết có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra màu sắc tu từ trong một ngữ cảnh thích hợp Có những từ chỉ
có chức năng ngữ pháp, không gợi một hình ảnh tâm lý nào, vậy mà đặt vào vị trí thích hợp lại có màu sắc biểu cảm tu từ rõ rệt Ví dụ:
Rằng hay thì thật là hay Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào (Nguyễn Du)
Từ “ra” đặt ở đây thật thú vị, dường như ta thấy thấm cái vị đắng cay trong tiếng đàn mà không thể dùng những từ khác
Một số biện pháp tu từ tiêu biểu thhường gặp:
a Biện pháp tu từ ngữ âm, gồm: điệp thanh điệu, điệp phụ âm đầu, điệp vần, hài âm, biến nhịp, …
b Biện pháp tu từ từ vựng – ngữ nghĩa, gồm: biện pháp điệp từ, điệp ngữ, liệt
kê từ vựng, tăng cấp, đồng nghĩa kép, …
c Biện pháp tu từ cú pháp có: đảo ngữ, sóng đôi, phản cú, điệp cú, xen kẽ, đề ngữ, giải ngữ, …
Trang 34Ngoài ra, có thể kể những biện pháp tu từ văn bản bao gồm: rút gọn, điệp khúc, liên kết, bỏ lửng, nhấn mạnh, …
1.5 Ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt
Ở đây là cực cấp trong thang độ Đó là tính chất trạng thái của một sự vật, hiện tượng A luôn luôn được xác định có mức độ vượt hơn tất cả mức độ về tính chất / trạng thái của mọi sự vật hiện tượng có tính chất trạng thái cùng một phạm trù Với hai ý nghĩa này , Sapir và các nhà nghiên cứu đã phân “cực cấp” thành loại: cực cấp điều kiện hoặc cực cấp tương đối và cực cấp không điều kiện hoặc cực cấp tuyệt đối [23, tr 86-87] Trong đó, cực cấp tuyệt đối biểu thị tính chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng ở mức tột cùng, tột đỉnh không thể hơn được nữa Để diễn tả ý nghĩa “cực cấp” loại này trong tiếng Việt thông thường sử dụng các hình thức sau đây:
1.5.1 Hình thức thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là một từ
Trong hiện thực khách quan, mọi sự vật hiện tượng đều có tính chất trạng thái
Tiếng Việt có các đơn vị từ vựng biểu thị tính chất, như: to, nhỏ, rộng, cao, thấp, nặng, nhẹ, tốt, xấu… và trạng thái như buồn, chán, mệt, ngán, mệt… Các đơn vị từ
vựng này được gọi chung là vị từ vựng trạng thái Căn cứ vào tiêu chí, tính chất, trạng thái có hay không có ý nghĩa mức độ theo thang độ phù hợp, vị từ trạng thái được phân thành hai loại: vị từ trạng thái tuyệt đối/ không thang độ và vị từ trạng thái tương đối/ thang độ Vị từ trạng thái tuyệt đối biểu thị tính chất, trạng thái đã hoàn
chỉnh và cố hữu, không thể tăng hoặc giảm hay so sánh được như sống chết, riêng, chung, câm, điếc… Vị từ trạng thái thang độ, như to, nhỏ, rộng, cao, xanh, đỏ, … vừa
biểu thị tính chất, trạng thái của sự vật hiện tượng vừa biểu thị về mức độ tính chất, trạng thái của sự vật hiện tượng đó trong thang độtheo phạm trù
1.5.2 Hình thức biểu hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ đoạn
a./ Đó là những ngữ đoạn có cấu trúc ghép
Trang 35b./ Để tăng cường nhấn mạnh ý nghĩa “cực cấp”, tiếng Việt còn dùng hình thức láy với hai phương thức: láy vị từ trạng thái cực cấp/ láy tiếng phụ cực cấp, láy vị từ trạng thái thang độ và láy cả ngữ đoạn
c./ Những ngữ đoạn thể hiện ý nghĩa cực cấp có cấu trúc: vị từ trạng thái thang
độ kết hợp với các đơn vị từ vựng biểu hiện ý nghiã cực cấp, như: chí, chúa, cực, đại, tối, tuyệt, siêu Các đơn vị từ vựng loại này thường được gọi là từ chỉ mức độ với các
tên gọi khác nhau, như trạng từ (Trần Trọng Kim), hình dung từ (Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê), hư từ (Lê Văn Lý), tình thái từ (Đái Xuân Ninh), (Nguyễn Kim Thản), phó từ chỉ mức độ cao (Đào Thản)
1.6.Trường từ vựng
Lý thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây Tư tưởng cơ bản của
lý thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Có nhiều cách hiểu khác nhau
về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu
Khuynh hướng thứ nhất, quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là L Weisgerber và J.Trier Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lý thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa [18, tr 112]
Chúng tôi xin sử dụng kiểu trường nghĩa phổ biến nhất được gọi là “nhóm từ vựng – ngữ nghĩa” Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng – ngữ nghĩa có thể rất khác nhau Chẳng hạn, có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hòa Từ này được dùng như một cái máy để đo đạc và phát hiện ý nghĩa phạm trù chung, trên cơ sở đó, tập hợp vào một trường, người nghiên cứu không những chỉ dựa vào sự hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những người biên soạn từ điển Bên cạnh những nhóm từ vựng – ngữ nghĩa với các từ khái quát như trên, người ta còn tập hợp các từ thành một nhóm từ vựng – ngữ nghĩa trên cơ sở một khái niệm chung có mặt ở trong mỗi từ của nhóm này [18; tr112]
Trang 361.7 Những vấn đề về phong cách
1.7.1 Phong cách ngôn ngữ văn chương
Phong cách ngôn ngữ văn chương là dạng tồn tại toàn vẹn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân Không một phong cách nào lại có thể tập trung và tiêu biểu cho những khả năng cùng những tiềm năng diễn đạt của ngôn ngữ dân tộc như phong cách ngôn ngữ văn chương Do vậy, ngôn ngữ văn chương được xem là tinh hoa, là niềm tự hào của tiếng nói dân tộc Không phải không có lí do chân chính để cắt nghĩa việc xưa nay người ta đều phải học tiếng và dạy tiếng qua ngôn ngữ văn chương Điều này không hề có nghĩa là chúng ta xem thường, xem nhẹ tiếng nói hằng ngày của nhân dân và cũng không có nghĩa là chúng ta coi ngôn ngữ của các phong cách khác là không có giá trị tiêu biểu cho những phương diện nào đấy của tiếng Việt toàn dân Ta nên hiểu là trong sự tiêu biểu cho tiếng Việt toàn dân thì ngôn ngữ văn chương là tiêu biểu nhất, tiêu biểu một cách toàn vẹn, bản chất nhất Trong ngôn ngữ văn chương ta thấy có bóng dáng của tiếng nói sinh động hàng ngày, chúng ta thấy bóng dáng của các phong cách khác của tiếng Việt như ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ chính luận, ngôn ngữ hành chính và chhúng ta cũng lại gặp cả những phương tiện ngôn ngữ chưa từng thấy trong các phong cách này Sở dĩ ngôn ngữ văn chương có bóng của ngôn ngữ các phong cách khác vì ngôn ngữ văn chương với sứ mệnh tái tạo
và thể hiện bức tranh sinh động toàn vẹn của đời sống xã hội, hoàn toàn có quyền và cần thiết phải huy động toàn bộ các phương tiện biểu hiện trong các phong cách chức năng của toàn dân, kể cả những phương tiện mới có ở dạng tiềm năng Nếu so sánh các phương tiện biểu hiện dùng trong ngôn ngữ văn chương với các phương tiện biểu hiện của các phong cách khác thì ta thấy ngôn ngữ văn chương dường như không có phương tiện nào là riêng cho mình và cũng chính bởi vậy mà ngôn ngữ văn chương lại có tất cả
1.7.2 Ph ong cách khẩu ngữ tự nhiên
Khẩu ngữ tự nhiên là phong cách có những phương tiện vốn chuyên dùng cho giao tiếp thân mật Những phương tiện này mang nhiều yếu tố tình cảm và nhiếu màu
Trang 37sắc như chính cuộc sống thực Ngôn ngữ văn chương có sinh động, hấp dẫn hay không là nhờ vào sự có mặt của các phương tiện này Ngôn ngữ văn chương chỉ có thể trở thành cái cầu để nhà văn tâm tình với độc giả khi nó tận dụng được các phương tiện của phong cách khẩu ngữ tự nhiên Tài nghệ ngôn ngữ, vốn liếng ngôn ngữ của các nhà văn thường thể hiện tập trung và rõ nét ở công cuộc “bắc cầu” này
Ở nhiều áng văn, có khi chỉ cần đến một hai phương tiện nào đó của khẩu ngữ tự nhiên thôi, chẳng hạn, một biến thể phát âm khẩu ngữ, một từ khẩu ngữ, một mô hình nói khẩu ngữ, nhưng đã làm cho lời kể, lời miêu tả trở nên duyên dáng, hấp dẫn, sinh động, tế nhị vô cùng
1.8 Chuẩn phong cách
Chuẩn phong cách là một loại chuẩn lời nói được hình thành trong lịch sử và làm nên những phong cách ngôn ngữ khác nhau Chuẩn phong cách một khi đã ổn định thì khó thay đổi và cũng khó bắt chước Có thể phân chia thành các loại chuẩn sau đây:
1.8.1 Chuẩn phong cách chức năng
Đây là loại chuẩn hình thành trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, dựa vào các chức năng xã hội hóa khác nhau Ví dụ: chuẩn phong cách ngôn ngữ sinh hoạt qui định những cách nói trong sinh hoạt hàng ngày, không giống với các văn bản hành chính hay văn bản khoa học, … Chuẩn phong cách qui định cách dùng từ, đặt câu cho phù hợp với đặc trưng phong cách
Trong các phong cách chức năng, còn có những mẫu mực văn bản không thể vi phạm Chẳng hạn: đơn từ khác thông báo, nghị quyết, … thể thơ lục bát khác Đường luật, … làm thành các kiểu mẫu văn bản Những kiểu mẫu này cũng là một loại chuẩn trong hệ thống chuẩn phong cách
1.8.2 Chuẩn địa phương
Tiếng địa phương hình thành từ lâu đời và quen dùng trong một địa phương nhất định Nó có những chuẩn thổ âm, thổ ngữ riêng mà các địa phương khác khó bắt
Trang 38chước cho đúng được Chẳng hạn: chuẩn của tiếng Nghệ Tĩnh, tiếng Bình Định,…
mà các địa phương khác khó bắt chước đúng
1.8.3 Chuẩn cá nhân
Cá nhân cũng hình thành một loại chuẩn riêng trong hệ thống chuẩn Đó là những nhà văn, nhà thơ có phong cách riêng, khó bắt chước Chẳng hạn: chuẩn mực phong cách Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du hay Nguyễn Tuân, Nam Cao, …chuẩn cá nhân có kiên quan đến giọng văn của một nhà văn nhất định
Tóm lại, chuẩn phong cách là một khái niệm chỉ một hệ thống biến thể gồm các phong cách chức năng, phong cách địa phương và phong cách cá nhân được hình thành trong lịch sử và được khu biệt giữa các phong cách ngôn ngữ, các địa phương
và các cá nhân khác
1.8.4 Lệch chuẩn
Lệch chuẩn (hay chệch chuẩn) là sự vi phạm chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn mực lời nói trong sử dụng ngôn ngữ Có hiện tượng lệch chuẩn do vô ý thức, kém hiểu biết, … có hiện tượng lệch chuẩn do cố ý với mục đích sáng tạo gây hiệu quả bất ngờ cho người tiếp nhận Hiện tượng sau được nghiên cứu như là biện pháp sáng tạo
và như là thuật ngữ của phong cách học (lệch chuẩn tu từ) Có thể chia hai loại lệch chuẩn:
a Lệch chuẩn nội tại, tức là cố ý vi phạm những khuôn mẫu phong cách, khuôn mẫu văn bản Ví dụ: cách rút gọn các phần của văn bản (rút gọn mở đầu, rút gọn kết thúc, rút gọn một khổ thơ,…) hoặc là dùng câu phá luật trong thơ cách luật
Ví dụ:
Oa ! Oa ! Oa… !
Cha trốn không đi lính nước nhà (Hồ Chí Minh)
Đó là sự lệch chuẩn quy ước, do vậy cũng có thể gọi là chuẩn nội tại
b Lệch chuẩn ngoại tại, tức là cố ý vi phạm những nghi thức giao tiếp Chẳng hạn, dùng một vài tiếng nước ngoài xen lẫn tiếng Việt, dùng thơ trả lời một người
Trang 39bạn, … với dụng ý tạo hiệu quả nào đó… Trong lệch chuẩn ngoại tại, có thể kể thêm lối nhại nhằm gây hiệu quả trào phúng cười cợt
Trong văn chương nghệ thuật, hiện tượng lệch chuẩn khá phổ biến: phản – ngữ pháp, phản – từ vựng, phản – tiểu thuyết và được xem là hiện tượng tìm tòi cái hay, cái đẹp trong sáng tạo nghệ thuật Có người xem ẩn dụ tu từ, hoán dụ… đều là lệch chuẩn nội tại ngôn ngữ
1.9 Phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương
Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương Dấu ấn phong cách tác giả không đặt ra đối với ngôn ngữ thuộc các phong cách khác
Ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người Có giống mọi người, có thuận theo chuẩn mực thì mọi người mới hiểu, có khác mọi người tức có lối nói riêng thì mới thành ra văn
để mọi người thích đọc Sự giống với ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện bắt buộc Sự khác với ngôn ngữ mọi người là dấu hiệu để xác định phong cách tác giả Nó là dấu hiệu chứ không phải là phong cách tác giả bởi vì không phải hễ có sự khác ngôn ngữ mọi người là có phong cách tác giả Sự khác ngôn ngữ mọi người này phải như thế nào, nói khác đi là cái dấu hiệu này phải như thế nào thì lúc đó mới tạo thành phong cách tác giả Trong ngôn ngữ văn chương ta vẫn thấy có hiện tượng chỉ có tác giả mà không có phong cách tác giả Sêkhov nói rất có lý rằng “Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả” [56; tr 123] Cái mà Sêkhov gọi là “lối nói riêng” chính là phong cách tác giả Muốn xác định phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương ta căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản sau:
1./ Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả
2./Sự đi lệch chuẩn mực của tác giả
Mỗi nhà văn thường có những sở trường ngôn ngữ Cái sở trường ngôn ngữ này khi thành thục tới mức mọi người phải thán phục và không ai theo được thì trở
Trang 40thành biệt tài ngôn ngữ Sở trường ngôn ngữ của nhà văn dẫn đến khuynh hướng ưa thích chọn lọc, sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nhất định, khiến cho ngôn ngữ nhà văn khác với mọi người Nguyễn Công Hoan “ham” dùng, “mê” dùng khẩu ngữ Những phương tiện khẩu ngữ dân chúng mà ông dùng trong truyện ngắn làm cho những cái ông kể, ông tả hệt như ngoài đời, khiến độc giả tấm tắc thích thú, thán phục Nguyễn Tuân có thói quen không bằng lòng với những từ cũ, những lối diễn đạt cũ của xã hội vì không biểu hiện đúng ý ông muốn nói Ông luôn tìm tòi những hình thức diễn đạt mới, “khác người” để có thể nói thật trúng cái suy nghĩ, cái cách thức đặt vấn đề, cái cách nhìn nhận của mình [56; tr 123] Tô Hoài say mê miêu tả và
đã tả thì hay vô cùng… Tóm lại, phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương thể hiện trước hết ở khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng phương tiện ngôn ngữ
Dấu hiệu cơ bản thứ hai để xác định phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương là chệch chuẩn mực Khuynh hướng ưa thích là cái thuộc về bên ngoài, bộc
lộ ra bên ngoài còn sở trường ngôn ngữ của nhà văn là cái ẩn tàng ở bên trong Sở trường ngôn ngữ của nhà văn không chỉ bộc lộ ở khuynh hướng ưa thích sử dụng những cái đã có của xã hội mà còn thể hiện ở sự tạo ra những cái mà xã hội chưa có, cần có, nói khác đi sở trường ngôn ngữ dẫn đến sáng tạo ngôn ngữ Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ có nghĩa là tạo ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực – chứ không phải chống chuẩn mực – cũng
là một cái “lỗi”, nhưng là cái “lỗi muốn có” cái “lỗi nên có” ở các nhà văn để tạo nên phong cách tác giả [56; tr 123] Đã là nhà văn, không ai không đi chệch chuẩn mực, không ai không nuôi dưỡng ý định chệch chuẩn mực Có thể nói thế giới của ngôn ngữ văn chương là thế giới của NNTD đồng thời cũng là thế giới của những sự đi chệch NNTD