Đối với hoạt động đào tạo của ngành Hải quan nói chung và Trường Cao đẳng Hải quan nói riêng, việc xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện là một bộ phận quan trọ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
VÕ TRI TÂM
CAO ĐẲNG HẢI QUAN GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
Chuyên ngành : QU ẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã s ố : 5.07.03
LU ẬN VĂN THẠC SĨ Người hưóng dẫn khoa học : PGS.TS TRẦN TUẤN LỘ
TP HỒ CHÍ MINH 2002
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình tích lũy kiến thức từ lớp Cao học Quản lý Văn hoá - Giáo dục khóa 10 ( 1999 - 2002 ) và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân qua quá trình công tác trong lĩnh vực đào tạo tại Trường Cao đẳng Hải quan thời gian qua
Tôi trân trọng biết ơn các Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy, quản lý lớp học, đã truyền
thụ các kiến thức , kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý văn hoá, giáo dục và nghiên cứu khoa học
Đặc biệt tôi chân thành cảm ơn Thầy PGS.TS Trần Tuấn Lộ, Thầy đã hướng dẫn tận tình để luận văn được hoàn thành
Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và làm
luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2002
Võ Tri Tâm
Trang 31.2.1 Sự phát triển mđi của hoạt động Hải quan nưđc ta hiện nay và những yêu cầu sắp
tới của ngành Hải quan đối với đội ngũ cán bộ công chức Hải quan0T 22
0T
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG
H ẢI QUAN GIAI ĐOẠN NĂM 2001 - 20050T 34
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN MỤC TIÊU VÀ NHIỆM
V Ụ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI QUAN GIAI ĐOẠN NĂM
Trang 6NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Lý do ch ọn đề tài:
Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nhân cách Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ ngày nay, trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển và do đó, giáo dục
và đào tạo được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia trên trường quốc tế
và sự thành đạt của mỗi người trong cuộc sống Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vai trò
của Giáo dục - Đào tạo
Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phát triển giáo đục là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững Trên cơ sở đó , Đại hội chủ trương giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc trong giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp, công tác
quản lý giáo dục Nội dung các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX là định hướng có tính chiến lược chỉ đạo sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đối với hoạt động đào tạo của ngành Hải quan nói chung và Trường Cao đẳng Hải quan nói riêng, việc xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện là một
bộ phận quan trọng trong chiến lược chung của toàn Ngành về phát triển nguồn nhân lực và trong chức năng của Trường Cao đẳng Hải quan để hoàn thành các nhiệm vụ trọng yếu của ngành Hải quan được định hướng trong " Chiến lược phát triển Ngành Hải quan giai đoạn 2001-2005 "
Trên nền tảng đó, việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện của Trường Cao đẳng Hải quan trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 có vai trò quan trọng
cả về mặt lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của Trường Cao đẳng Hải quan
Về mặt thực tiễn, việc xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện của Trường Cao đẳng Hải quan giai đoạn 2001-2005 có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng
kế hoạch hoạt động đào tạo, trong việc tập trung và nâng cao hiệu quả đầu tư và trong việc
Trang 7tổ chức quản lý hoạt động đào tạo hàng năm của Trường Cao đẳng Hải quan trong giai đoạn
Hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Hải quan
3.2 Đối tượng nghiền cứu :
Mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó của Trường Cao đẳng Hải quan trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005
4 Các gi ả thuyết:
Mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của Trường Cao đẳng Hải quan và giải pháp thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ đó là hai yếu tố vừa chịu sự quy định của chiến lược phát triển Ngành
Hải quan trong thời kỳ 2001 - 2005 (trong đó có vấn đề phát triển nguồn nhân lực ) vừa chiụ
sự quy định của các điều kiện cụ thể của bản thân Trường Cao đẳng Hải quan
Đối tượng nghiên cứu này vừa có những nét chung như các mục tiêu, nhiệm vụ kế
hoạch phát triển hoạt động đào tạo của các Trường khác trong khối các Trường Đại học - Cao đẳng vừa mang các nét đặc thù riêng do yêu cầu và đặc trưng hoạt động của Ngành Hải quan
Tùy theo chỗ đứng và tùy theo mục đích của người nghiên cứu mà đối tượng nghiên
cứu sẽ được nghiên cứu dưới góc độ nào và bằng những phương pháp nào Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu vấn đề dưới góc độ và bằng những phương pháp của khoa học quản lý giáo dục
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu :
5.1 Xác định Uyêu c ầuU của Ngành Hải quan đối với công tác đào tạo nhân
lực của Trường Cao đẳng Hải quan trong giai đoạn 2001 - 2005
Trang 85.2 Phân tích Uth ực trạngU hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Hải
quan trong thời gian qua và Unguyên nhânU của nó
5.3 Xác định các Um ục tiêu, nhiệm vụU đào tạo của Trường Cao đẳng Hải quan trong
giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005
5.4 Đề ra các Ugi ải pháp lớnU cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo nói trên
sử, kinh tế - xã hội của các quốc gia trong từng giai đoạn Tại Việt Nam , Chính phủ cũng
đã xác lập chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 trong đó có đề cập đến
việc phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ ở cấp độ chung nhất, mang tính định hướng cho toàn xã hội Trong phạm vi ngành Hải quan Việt Nam, cấp trung trong cũng
đã xác lập "Chiến lược phát triển Ngành Hải quan giai đoạn 2001-2005 " trong đó có nêu các mục tiêu chung nhất về phát triển nguồn nhân lực của Ngành đến năm 2005 Tuy nhiên
việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện của Trường Cao đẳng Hải quan trong giai đoạn từ năm 2001-2005 vẫn còn là vấn đề cần tập trung nghiên cứu, do đó tác giả chọn đề tài này để góp phần giải quyết yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra cho Trường Cao đẳng Hải quan
8 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
8.1 Cơ sở phương pháp luận
8.1.1 Các quan điểm chỉ đạo phát triển hoạt động giáo dục-đào tạo cho giai đoạn
2001-2010 của Đảng, Nhà nước Việt Nam
8.1.2 Các quan điểm về phát triển nguồn nhân lực của ngành Hải quan đến năm 2005
Trang 98.1.3 Lý luận về xây dựng chiến lược trong hoạt động giáo dục-đào tạo; lý luận về chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục; lý luận quản lý trường học
8.2 Phương pháp nghiên cứu
8.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu Ulý lu ậnU : giả thuyết, dự báo; phân tích và
tổng hợp các tài liệu có liên quan đế đề tài
8.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu Uth ực tiễnU : phương pháp sử dụng ý kiến
chuyên gia, nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo tiên tiến (điều tra, phỏng vấn )
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO
ĐẲNG HẢI QUAN GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 M ột số khái niệm cơ bản trong quản lý đào tạo công chức hải quan
1.1.1.1 M ục tiêu đào tạo
Xét ở góc độ lý luận cơ bản của khoa học giáo dục thì mục tiêu giáo dục chính là để
giải quyết sự phân công xã hội trong việc chiếm lĩnh di sản của thế hệ trước cũng như trong
việc đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của thế hệ hiện nay Mục tiêu giáo dục quy định
mỗi một người hay một số người phải học và xã hội phải dạy cho họ những hiểu biết, năng
lực, phẩm chất nhất định để giúp cho người đó có thể sống và hoạt động trong xã hội theo vị trí, công việc, nghề nghiệp mà họ phải ( hay sẽ phải) đảm nhiệm trong xã hội (theo yêu cầu
của xã hội và theo khả năng, xu hướng của họ )
Xét ở góc độ quản lý, mục tiêu đào tạo có liên hệ chặt với công tác hoạch định đào tạo
Hoạch định là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý đào tạo bởi vì nó gắn liền
với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Nhờ công tác hoạch định mà lãnh đạo các cấp, các đơn vị trong hệ thống sẽ tổ chức điều khiển và kiểm tra hoạt động đào tạo
nhằm đảm bảo được tất cả các mục tiêu, nhiệm vụ thông qua trong hoạch định phải được
thực hiện
Trong khoa học quản lý, hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu, những nhiệm vụ và các giải pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ đó Việc hoạch định phải nhằm thiết lập một môi trường tốt nhất để các cá nhân đang cùng công tác với nhau trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả Nhiệm vụ cốt yếu của nhà quản lý đào
tạo là phải biết rõ mọi người có hiểu được các mục tiêu và các nhiệm vụ đào tạo của bộ
phận mình và các giải pháp để đạt các mục tiêu, nhiệm vụ đó hay không
Hoạt động hoạch định được minh họa trong sơ đồ sau:
Trang 11Do những khác biệt của hoạt động đào tạo so với các hoạt động kinh tế xã hội khác,
hoạch định trong đào tạo cũng mang những đặc trưng riêng Sự không tường minh của mục tiêu, của môi trường bên ngoài và quyết định của các nhà lãnh đạo trong hệ thống tổ chức sẽ ảnh hưởng nhiều đến công tác hoạch định đào tạo
Mục tiêu là điểm kết thúc của một hành động đã ấn định trong một khoảng thời gian không dài Mục tiêu là các hoạch định ngắn hạn, có tính chất hoạt động cụ thể, có thể đo lường và lượng hóa được kết quả; các mục tiêu của hệ thống là các hoạch định cơ bản của
hệ thống còn các bộ phận khác trong hệ thống cũng có thể có các mục tiêu riêng của mình - các mục tiêu bộ phận Các mục tiêu này góp phần vào việc đạt được mục tiêu chung của hệ
thống Hai tập hợp mục tiêu này tạo thành cây mục tiêu của cả hệ thống
Nhiều mục tiêu trong hoạt động đào tạo thường không tường minh và dễ bị nhầm lẫn
do bản chất không rõ ràng, do tính không nhất quán, do việc xác định trật tự ưu tiên và chi phí để thực hiện những mục tiêu đó
Những mục tiêu tường minh như : truyền thụ kiến thức, và các kỹ năng khác, những
mục tiêu không tường minh như phát triển tiềm năng của học viên, giáo dục tinh thần trách nhiệm và ý thức cộng đồng, giáo dục tinh thần yêu nước và lý tưởng xã hội
Đối với các mục tiêu cụ thể thường không nhất quán Mỗi tổ chức thường theo đuổi
những mục tiêu khác nhau, có khi mâu thuẫn với nhau Hoạt động đào tạo thường rất nhạy
cảm trước các áp lực và thay đổi của môi trường, do vậy trong những điều kiện mới cần
phải chấp nhận những mục tiêu mới, trong khi mục tiêu cũ còn có hiệu lực Những nhóm người khác nhau có những mục tiêu đào tạo khác nhau tùy thuộc vào niềm tin, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tôn giáo, lứa tuổi Nguyên nhân chính của sự không nhất quán của mục
Trang 12tiêu đào tạo là sự không rõ ràng của quan điểm về mục đích mà hoạt động đào tạo phải đạt
tới và sự lúng túng về mục đích cuộc sống và mục tiêu của loài người trong thời đại ngày nay Do vậy không có những tiêu chuẩn nhất quán được chấp nhận khi xác định các mục tiêu đào tạo
Trong hoạt động đào tạo cán bộ, công chức Hải quan việc phát triển một chiến lược đào tạo là một yếu tố quan trọng đối với nhà quản lý đào tạo Không xác lập được một chiến lược đào tạo thì không thể có một khuôn khổ mà theo đó các nhiệm vụ đào tạo có thể được quyết định một cách cố kết với nhau Theo quan điểm này, chiến lược đào tạo chỉ có thể được thiết lập một cách có hiệu quả khi được dựa trên sự nhận thức tường minh về các mục tiêu hoạt động của tổ chức mà nó phục vụ Do vậy chiến lược này phải phản ánh :
• Các mục tiêu của tổ chức
• Các giá trị của tổ chức
• Chính sách của tổ chức và bao gồm
• Một phát biểu rõ ràng về sứ mệnh (triết lý về đào tạo )
• Các định nghĩa về các vai trò và các nhiệm vụ
Do đó đây là một sự biểu thị các dự định bao quát, các biện minh căn bản, các chọn
lựa nền tảng, các ưu tiên và các chiến lược của tổ chức trong lĩnh vực đào tạo các cán bộ, công chức của ngành Chính sách đào tạo này xác định các hoạt động đào tạo sẽ được quản
lý có hiệu quả như thế nào trong thực tiễn
Khi xác định mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, điều cần yếu là phải thể hiện thấu suốt được
sứ mệnh của công tác đào tạo Theo kinh nghiệm hoạt động đào tạo công chức Hải quan trên thế giới, có thể nêu một phát biểu chính xác về mục đích cơ bản của hoạt động đào tạo cán bộ, công chức Hải quan và các mục tiêu phải đạt để thể hiện đầy đủ mục đích đó như sau :
" Các nỗ lực của hoạt động đào tạo phải được định hướng vào việc phát triển các năng
lực của công chức các cấp bằng việc trang bị cho họ các kiến thức, kỹ năng, và khả năng phù hợp để họ thực hiện đầy đủ các trách nhiệm theo thẩm quyền với một thái độ tích cực hướng về bản thân, nhiệm vụ và tổ chức Điều này chỉ có thể đạt được thông qua các chương trình đào tạo liên tục và được hoạch định có hệ thống theo hướng tích hợp phát triển các yếu tố thể chất, tinh thần và niềm tin”
Trang 13(WCO Training systems development A guide for the Customs training manager Human Resource Development Service October 1997 p 16)
Qua khẳng định trên , ta có thể thấy rằng mục đích cơ bản của hoạt động đào tạo - lý
do tồn tại của nó ( raison d’être ) là phát triển các năng lực của cán bộ, công chức Hải quan
ở các cấp trong khi các mục tiêu của nó là phát triển các cán bộ, công chức này theo tiêu chuẩn thực hiện chức trách như đã nêu trong tuyên bố trên
1.1.1.2 Đối tượng đào tạo
Trong hoạt động đào tạo việc lựa chọn số người để đào tạo phù hợp về số lượng cũng như về chất lượng sao cho đào tạo có hiệu quả tối đa đối với xã hội là một vấn đề lớn, rất quan trọng của công tác giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề nói chung và đào tạo cán bộ, công chức Hải quan nói riêng
Việc xác định, lựa chọn đối tượng đào tạo cần dựa trên yêu cầu, khả năng chung của
xã hội, của ngành Hải quan ở từng giai đoạn phát triển để giải quyết đúng đắn vấn đề "ai
học" cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội cũng như của từng thành viên trong tổ chức
Để lựa chọn đối tượng đào tạo, nhà quản lý cần định ra tiêu chuẩn để tuyển chọn Căn
cứ chính để định tiêu chuẩn tuyển chọn người học là mục tiêu đào tạo, căn cứ thứ hai là số lượng định tuyển trong đó có chú ý nhân tố tiêu chuẩn về phẩm chất người học (trình độ, năng lực, kinh nghiệm công tác, quá trình phấn đấu, diện quy hoạch ) Thực tiễn hoạt động đào tạo cán bộ, công chức Hải quan trên thế giới và tại Việt nam hiện nay cho thấy có các đối tượng đào tạo sau:
Về mặt nghiệp vụ chuyên môn:
• Công chức Hải quan mới tuyển dụng cần đào tạo nhập môn
• Cán bộ, công chức Hải quan đã có kinh nghiệm công tác cần được đào tạo nâng cao
• Cán bộ, công chức Hải quan cần đào tạo chuyên sâu thành các chuyên gia
Về mặt tổ chức:
• Công chức Hải quan được đào tạo ở cấp độ tác nghiệp cụ thể
• Cán bộ Hải quan được đào tạo để đảm nhận nhiệm vụ quản lý ở các cấp
Trang 141.1.1.3 N ội dung đào tạo
Nội dung đào tạo được hiểu theo nghĩa đầy đủ là bao gồm cả những nội dung về hiểu
biết, về năng lực và về phẩm chất mà mục tiêu đào tạo đã quy định Có nội dung về lý thuyết và có nội dung về thực hành, có nội dung về đức dục, trí dục, thể dục, giáo dục quốc phòng, có nội dung về chuyên môn, có nội dung về chính trị, có nội dung về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật và về khoa học xã hội
Các nội dung nêu trên thường được sắp xếp thành các môn học Trong đào tạo ở trình
độ đại học, trung học chuyên nghiệp nói chung và đào tạo cán bộ, công chức Hải quan nói riêng, các môn học thường được phân thành:
• Các môn chung có tác dụng hình thành ở người học những hiểu biết, năng lực và
phẩm chất cần thiết cho mọi học viên, bất kỳ người đó làm công tác gì Các môn này ít có tác dụng trực tiếp tới việc hình thành những hiểu biết, năng lực và phẩm chất cần thiết riêng cho từng lĩnh vực công tác Riêng môn ngoại ngữ là cần thiết cho mục tiêu chuyên ngành ( ngoại ngữ chuyên ngành Hải quan)
• Các môn cơ bản và cơ sở là những môn cung cấp những nội dung làm nền tảng khoa
học cho mục tiêu chuyên ngành như môn tin học trong đào tạo tin học ứng dụng trong lĩnh
vực Hải quan, môn thống kê ứng dụng trong lĩnh vực Hải quan, môn luật và xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan, môn tâm lý học ứng dụng trong lĩnh vực Hải quan
• Các môn học chuyên ngành là những môn cung cấp các nội dung trực tiếp hình thành
những hiểu biết, năng lực và phẩm chất thuộc về những công việc chuyên môn của học viên
tốt nghiệp của nhà trường như Phân loại hàng hóa, Trị giá Hải quan, Thủ tục hải quan, Thuế trong lĩnh vực hải quan, Kiểm soát hải quan
Trong xây dựng chương tình đào tạo cho từng loại hình, nhà quản lý đào tạo và các chuyên gia cần đảm bảo tính hệ thống của nội dung đào tạo để giúp cho người học nhận
thức được sâu sắc hơn và dễ nhớ hơn nội dung đào tạo
Ngày nay trước những thay đổi nhanh chóng trong công tác quản lý nhà nước về hải quan, cũng như các thành tựu khoa học trong các môn cơ sở và chuyên ngành khiến cho nội dung đào tạo từ trước vốn đã thường bị lạc hậu so với thực tiễn hoạt động bây giờ lại càng
dễ bị lạc hậu nhanh chóng hơn nữa Do đó trong đào tạo nhà trường cần lựa chọn để dạy và
Trang 15học những nội dung có tính chất cơ bản nhất, chủ yếu là những vấn đề lý luận cơ bản và phương pháp cơ bản Đây cũng chính là các kết luận được rút ra qua các hội thảo xây dựng giáo trình dùng trong đào tạo cán bộ, công chức Hải quan
Trong hoạt động đào tạo hiện nay chưa có một quan niệm thật rõ ràng và thật thống
nhất thế nào là phương pháp đào tạo Sở dĩ như vậy là vì tính chất phức tạp và rất đa dạng
của phương pháp nói chung và của các phương pháp đào tạo nói riêng
Với một nội dung đào tạo và với những người học đã được xác định, người dạy phải
sử dụng những phương pháp đào tạo phù hợp để làm cho người học tiếp thu được một cách
tốt nhất nội dung đào tạo Phương pháp đào tạo gồm phương pháp dạy và phương pháp học
Dạy và học được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả dạy và học về hiểu biết, về năng lực và
về phẩm chất, chứ không theo nghĩa hẹp là trí dục Nói chung, mỗi phương pháp dạy đòi hỏi
một phương pháp học tương ứng Phương pháp dạy bao giờ cũng có vị trí chủ đạo đối với phương pháp học vì phương pháp dạy quy định hay hướng dẫn phương pháp học và phương pháp học phải thích nghi với phương pháp dạy
Với nhiệm vụ là phương pháp mà người dạy sử dụng để truyền thụ một cách tốt nhất
nội dung đào tạo cho người học, phương pháp dạy phải thỏa mãn những yêu cầu sau:
• Giúp cho người học dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng nội dung đào tạo
• Gây cho người học hứng thú tiếp thu nội dung đó, tạo cho người học động cơ thúc đẩy họ cố gắng tiếp thu nội dung đào tạo
Để đạt được yêu cầu này, phương pháp dạy phải phù hợp với tính chất của các loại nội dung đào tạo khác nhau, các loại người học khác khau, các phương tiện, các điều kiện vật
chất khác nhau của công tác đào tạo
Hiện nay có những xu thế rất mới trong phương pháp đào tạo, có thể nêu như sau:
• Phương pháp đào tạo theo tình huống Thực chất đây là phương pháp đào tạo bằng
những bài tổng hợp, yêu cầu người học tham gia cùng người dạy giải những vấn đề có thể
xảy ra hay thực sự xảy ra trong thực tế để củng cố, hệ thống hóa những nội dung đã học và
nhất là để tập vận dụng tổng hợp các nội dung thường có ở nhiều chương, nhiều môn học khác nhau
Trang 16• Phương pháp đào tạo chương trình hóa, chủ yếu dùng cho các hình thức học tại chức,
học từ xa, đòi hỏi người học phải tự học nhiều
• Phương pháp đào tạo tích hợp Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng những môn
học tổng hợp ( tích hợp ) kết hợp nhiều môn học lại với nhau để phục vụ trực tiếp hơn cho
mục tiêu đào tạo Hiện phương pháp này còn trong qúa trình tìm tòi, thử nghiệm vì phương pháp này rất khó
Phần các phương pháp dùng trong đào tạo cán bộ, công chức Hải quan sẽ được đề cập đến trong chương 3 của luận văn này
1.1.1.5 Cơ sở vật chất - kỹ thuật - tài chính trong đào tạo
Trong hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất - kỹ thuật - tài chính có tác dụng bổ trợ, làm
giảm nhẹ lao động trong việc dạy và học, mở ra những khả năng đưa đến những thay đổi lớn trong phương pháp về tổ chức đào tạo
Với cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật phát triển, các phương tiện giảng dạy đã trở thành những yếu tố không thể thiếu để bảo đảm chất lượng đào tạo và đang có triển vọng đưa đến những thay đổi to lớn trong phương pháp đào tạo, trong cách thức tổ chức quá trình đào tạo, trong chức năng của người dạy Có thể phân loại cơ sở vật chất - kỹ thuật thành:
• Cơ sở vật chất - kỹ thuật gián tiếp, có ý nghĩa hậu cần trong đào tạo như: nơi ăn ở, các phương tiện nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, thể thao ngoài giờ
• Cơ sở vật chất - kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho hoạt động đào tạo như: nhà cửa ( phòng học, giảng đường, thư viện, phòng thực hành ), các thiết bị dạy học (thiết bị nghe nhìn, máy tính, tài liệu dạy học, sách và các thiết bị khác như máy photocopy )
Đối với công tác đào tạo cán bộ, công chức Hải quan, việc nghiên cứu và thực hiện nâng cao công suất cũng như hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, táng cường đổi mới các cơ sở đó là một đòi hỏi lớn trong lĩnh vực đào tạo của nhà trường hiện nay
1.1.1.6 Giáo viên
Chức năng của mỗi giáo viên là giúp cho người học đạt được một bộ phận nhất định trong mục tiêu đào tạo Để hoàn thành chức năng này, giáo viên phải có hai điều kiện cần và
đủ sau:
Trang 17• Tối thiểu giáo viên phải nắm vững được phần nội dung đào tạo hay tối thiểu đã hình thành được ở bản thân mình phần nhân cách mà mình có trách nhiệm giúp người học nắm
vững và hình thành
• Giáo viên phải có khả năng giúp người học đạt được phần mục tiêu mà người học có trách nhiệm phải đạt được và mình đã đạt được ở mức cao hơn
Do hoạt động đào tạo của ngành Hải quan luôn gắn chặt và phục vụ cho hoạt động
thực tiễn của ngành, nên yêu cầu về chất lượng đào tạo nghề đối với đội ngũ giáo viên của ngành luôn là vấn đề phải quan tâm và cần có đầu tư đúng mức Điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng đội ngũ giáo viên kiêm chức, thỉnh giảng các chuyên gia Hải quan tham gia công tác đào tạo, gửi giáo viên đi thực tế, tham dự các khoá đào tạo được tổ
chức ở trong nước và ở các tổ chức Hải quan nước ngoài Các hoạt động nghiên cứu khoa
học được tổ chức ở cấp ngành và cấp cơ sở ( nhà trường ) cũng tạo ra các điều kiện thuận lợi
để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thông qua các đề tài nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực như quản lý đào tạo, nội dung chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy
Lực lượng cán bộ quản lý đào tạo ở cấp ngành và cấp nhà trường đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hoạch định các chiến lược phát triển nhân lực của toàn ngành Hải quan, trong việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và định ra các giải pháp thích hợp trong triển khai thực hiện
Về mặt tổ chức, các cán bộ làm công tác tổ chức và đào tạo ở cấp Tổng cục Hải quan
chịu trách nhiệm tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục trong hoạch định chiến lược và kế hoạch đào tạo hàng năm của ngành, bao gồm đào tạo nghiệp vụ Hải quan, đào tạo theo chuyên đề, đào tạo nâng cao, tại chức và hợp tác quốc tế về đào tạo và một số nhiệm vụ chuyên môn khác có liên quan Các cán bộ quản lý đào tạo của Nhà trường căn cứ trên chiến lược đào
tạo và kế hoạch đào tạo hàng năm của Ngành, chịu trách nhiệm lập kế hoạch đào tạo của Nhà trường và tổ chức thực hiện các khoa học đó, tổ chức biên soạn giáo trình theo yêu cầu
của các cấp học, hàng năm sửa đổi bổ sung phù hợp với chính sách pháp luật của nhà nước, quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngành mới điều chỉnh hoặc ban hành và thực hiện các nhiệm vụ khác trong lĩnh vực quản lý đào tạo
Trang 18Để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý đào tạo, vấn đề quan trọng hiện nay là
việc tổ chức đào tạo nghiệp vụ quản lý chuyên môn ở mức nâng cao và chuyên sâu cho các cán bộ, công chức Hải quan công tác trong lĩnh vực này Tổ chức Hải quan thế giới, các tổ
chức Hải quan khu vực cũng như Tổng cục Hải quan có tổ chức các khoá học, các hội thảo chuyên môn trong quản lý và tổ chức đào tạo cho các cán bộ, công chức Hải quan trong ngành Qua các khoa học, các hội thảo chuyên môn này, các thành viên tham gia có điều
kiện để tiếp thu các thành tựu mới trong khoa học quản lý tổ chức đào tạo công chức Hải quan ở cấp quốc gia, khu vực và thế giới từ đó có các cải tiến trong công tác quản lý đào tạo
của mình, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động
1.1.2 Các quan điểm phương pháp luận khi xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và
gi ải pháp thực hiện của Trường Cao đẳng Hải quan giai đoạn 2001 - 2005
1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống :
Quan điểm này yêu cầu khi xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng định hướng phát triển ngành Hải quan giai đoạn 2001 - 2005 ta phải xem xét vấn đề
một cách toàn diện nhiều mặt, trong nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động
và phát triển, phải phân tích các điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động
của hoạt động đào tạo trong giai đoạn này Nhà quản lý đào tạo phải tiếp cận vấn đề một cách hệ thống, toàn diện từ lĩnh vực tư tưởng như xác lập một triết lý trong lĩnh vực đào tạo,
mục đích đào tạo đến các chiến lược cụ thể trong hoạch định, tổ chức công tác đào tạo Triết lý đào tạo
Quán triệt mục tiêu của Tổng Cục Hải quan về phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo, về mặt nhận thức chủ đạo, Nhà trường cần xác lập triết lý đào tạo cho giai đoạn
2001 -2005 như sau :
" Hướng đến việc phát triển các khả năng của cán bộ, công chức Hải quan ở các cấp
bằng việc trang bị cho họ kiến thức, kỹ năng và khả năng hành động phù hợp Để có thể thông thạo hoàn toàn trong việc thực hiện các nhiệm vụ của họ với các quan điểm định hướng giá trị tích cực về bản thân, nhiệm vụ, và tổ chức thông qua sự tiếp cận đào tạo toàn
diện hợp nhất sự phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân dựa trên các chương trình đào tạo liên tục, có hệ thống, có kế hoạch "
Trang 19Triết lý đào tạo này sử dụng như là kim chỉ nam về mặt định hướng và tiếp cận về đào
tạo trong hoạt động của Ngành Hải quan nói chung và Trường Cao đẳng Hải quan nói riêng
Mục đích đào tạo
Dựa trên triết lý đào tạo, mục đích đào tạo được xác lập như sau :
"Nhằm cung cấp nguồn nhân lực khéo léo và am tường với các quan điểm tích cực hướng đến nhiệm vụ và tổ chức"
Nguồn nhân lực khéo léo và am tường với quan điểm tích cực hướng đến nhiệm vụ và
tổ chức có một ảnh hưởng tích cực trực tiếp đến chất lượng và năng suất của các hoạt động được giao Sự gia tăng kiến thức và các kỹ năng liên quan đến công việc sẽ dẫn đến sự tiến triển trong việc thực hiện nhiệm vụ, trong khi một quan điểm tích cực sẽ tạo ra một người lao động có tinh thần đổi mới, có trách nhiệm và có đầu óc cởi mở
Để đạt được mục tiêu đề cập ở trên, các hoạt động đào tạo cần được tiếp cận theo các hướng:
- Tập trung hoá
- Phi tập trung hoá
- Đào tạo theo công việc tại Hải quan địa phương
- Đào tạo tập trung tại Trường của Ngành
Và được thực hiện dựa trên ba chiến lược như sau :
Chiến lược 1 : Tiếp cận đào tạo toàn diện
Chiến lược 2 : Phát triển nguồn nhân lực tích hợp
Chiến lược 3 : Chương trình đào tạo được kế hoạch hóa và liên tục
1.1.2.2 Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm này yêu cầu việc nghiên cứu, xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo cùng các
giải pháp thực hiện phải được tiếp cận theo phương pháp lịch sử, phải tìm hiểu, phát hiện sự
nảy sinh, phát triển của hoạt động đào tạo trong những thời gian và không gian cụ thể, với
những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Nguyên tắc lịch sử trong việc nghiên cứu vấn đề này đòi
hỏi:
Trang 20• Xem xét các sự kiện, kết quả hoạt động đào tạo trong quá tình phát triển của Ngành
Hải quan để làm sáng tỏ các luận điểm, các đề xuất về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực
hiện nhiệm vụ đào tạo
• Dựa vào các kết luận lịch sử, các logic khách quan của khoa học quản lý giáo dục - đào tạo để xây dựng các giải pháp khoa học đối với vấn đề đào tạo của nhà trường, đáp ứng định hướng phát triển của ngành Hải quan trong giai đoạn 2001 -2005
• Thu thập, xử lý thông tin, kinh nghiệm tổ chức hoạt động đào tạo của ngành Hải quan Việt Nam cùng như của tổ chức Hải quan các nước để giải quyết các nhiệm vụ, đề
xuất các giải pháp tổ chức đào tạo của Hải quan Việt Nam, ngăn ngừa và tránh các sai lầm
có thể mắc phải trong tương lai
• Tìm hiểu mối quan hệ logic trong việc xác lập mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp tổ
chức đào tạo cán bộ, công chức Hải quan với việc hiện thực hiện định hướng phát triển của
Hải quan Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2005
• Quán triệt các quan điểm chỉ đạo việc xác lập mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ đào
tạo của Nhà trường trong giai đoạn 2001 - 2005 Phải tuân thủ các quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc sau:
- Bám sát chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và chiến lược phát triển của Ngành Hải quan nói riêng
- Bám sát chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 của quốc gia với trọng tâm là đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực lành nghề có phẩm chất chính trị, đạo đức để
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước
- Bám sát quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, sử dụng có hiệu quả đầu tư của nhà nước, sự hỗ trợ của các ngành, của xã hội, của các nguồn tài trợ quốc tế và phát huy nội lực của nhà trường
- Phải sớm tạo được hiệu quả thiết thực, tạo được thế ổn định và phát triển trước mắt
và lâu dài cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường, làm cho hoạt động nghiệp vụ hải quan ở cửa khẩu thật sự khoa học, văn minh, hội nhập được với bước tiến của Hải quan các quốc gia trong khu vực và thế giới
- Có bước đi và giải pháp thích hợp theo yêu cầu cải cách nền hành chính, không gây xáo động nhiều về tổ chức và nhân sự ảnh hưởng đến sự phát triển chung
Trang 21- Quán triệt các mục tiêu phát triển nhân lực của Ngành trong giai đoạn 2001 - 2005 để
cụ thể hoá trong xác định các mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường
1.1.2.3 Quan điểm thực tiễn
Khi xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào lạo đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng định hướng phát triển ngành Hải quan giai đoạn 2001 - 2005 theo quan điểm thực tiễn, ta phải tiến hành các bước khảo sát thực tiễn chỉ đạo điều hành, tác nghiệp thực tế ở các đơn vị Hải quan để phát hiện các mâu thuẫn, những khó khăn, các trở ngại, xác định khoảng cách giữa năng lực
hiện hữu của các cán bộ công chức Hải quan với yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chuẩn mới, từ đó thấy được các hạn chế của cán bộ, công chức trong ngành về mặt nhận
thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ so với chuẩn mực cần thiết để làm tốt công việc được giao Qua đó định ra các cách thức tổ chức đào tạo phù hợp
Phân tích sâu các vấn đề của thực tiễn hoạt động nghiệp vụ ở các đơn vị Hải quan địa phương của Việt Nam và của tổ chức Hải quan các nước, tìm ra bản chất của chúng để thấy được các xu thế phát triển chung, các nét riêng có của hoạt động nghiệp vụ của Hải quan
Việt Nam từ đó xác lập các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp tổ chức đào tạo tương ứng Trong thực tiễn hoạt động đào tạo của ngành Hải quan hiện nay, các vấn đề liên quan đến tổ
chức, quản lý hoạt động đào tạo, xác lập mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, cải tiến nâng cao chất lượng, tăng hiệu quả đầu tư, chống tụt hậu, xây dựng con người công chức Hải quan có
phẩm chất, năng lực mới trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa luôn là những vấn đề
bức xúc, cấp thiết thúc đẩy hoạt động nghiên cứu trong các lĩnh vục này
Quan điểm thực tiễn còn thể hiện trong việc xác định mối quan hệ giữa định hướng phát triển của Ngành Hải quan với vấn đề thiết lập mục tiêu đào tạo của Trường Cao đẳng
Hải quan giai đoạn 2001 - 2005
Định hướng chiến lược phát triển ngành Hải quan giai đoạn 2001 - 2005 xác định nhiệm vụ của ngành Hải quan trong thời gian tới là rất nặng nề Ngành Hải quan phải không
ngừng cải tiến, đổi mới để theo kịp tiến trình hội nhập khu vực và trên thế giới Trong thực
tiễn, ngành Hải quan vừa tận lực phục vụ cho hoạt động của các ngành kinh tế trong lĩnh
vực hải quan vừa phải kiên quyết đấu tranh đảm bảo sự tuân thủ pháp luật nhà nước, đảm
bảo thực hiện nghiêm trách nhiệm quản lý Nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới quốc gia Trong thời kỳ bùng
nổ thông tin và hội nhập ở quy mô toàn cầu đã tác động mạnh đến quy trình nghiệp vụ, đến
Trang 22cung cách quản lý, đến nếp sống và cách nghĩ của mỗi cán bộ, công chức trong ngành Trước các thách thức này, các nhà quản lý của ngành thấy cần phải trang bị cho mọi cán bộ, công chức trong ngành các kiến thức và kỹ năng, thái độ mới để theo kịp với sự thay đổi và yêu cầu thực thi nhiệm vụ
Việc xác định nhu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo và giải pháp thực hiện trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Tuy nhiên nhà quản lý nhạy bén không thể dừng lại ở những chương trình đào tạo có tính cách đối phó Nhà quản lý trong lĩnh vực đào tạo phải có tầm nhìn bén
nhạy, nhìn xa, thấy trước xu hướng của thời đại, của Ngành trong giai đoạn 5 năm hay 10 năm tới để xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện phù hợp nhằm chuẩn bị đối phó với những thay đổi trong tương lai Tổ chức nào thích ứng một cách năng động (dynamic) với những thay đổi thì tổ chức đó dễ thành công nhất
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 S ự phát triển mđi của hoạt động Hải quan nưđc ta hiện nay và những yêu
c ầu sắp tới của ngành Hải quan đối với đội ngũ cán bộ công chức Hải quan
Khi Việt Nam bắt đầu tham gia tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực vào đầu
những năm 90 của thế kỷ 20 với việc ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU năm
1994, gia nhập ASEAN năm 1995, gia nhập APEC năm 1998, ký Hiệp định thương mại
Việt-Mỹ năm 2000, chuẩn bị tham gia Tổ chức thương mại thế giới (dự kiến trước năm 2005) thì đối với ngành Hải quan đây là một áp lực to lớn không chỉ về mặt tăng trưởng của
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà còn là áp lực to lớn trong việc thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan Những cam kết này chủ yếu là các cam kết về cơ
chế, thủ tục hải quan đảm bảo thực hiện những ưu đãi mà các nước dành cho nhau trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, WTO, hay trong khuôn khổ các Hiệp định song phương, đa phương Các nghĩa vụ mà Hải quan các nước và Hải quan Việt Nam
phải thực hiện theo khuôn khổ của các Hiệp định quốc tế bao gồm:
• Hài hòa Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu và Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên cơ sở Hệ thống điều hòa và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới
• Đơn giản hoá và hài hóa thủ tục hải quan theo các quy định của Công ước Kyoto về đơn giản và hài hóa thủ tục hải quan
Trang 23• Thực hiện các nguyên tắc về xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất nhập
khẩu theo các quy định của Điều VII Hiệp định GATT và Hiệp định về việc thi hành Điều VII Hiệp định GATT
• Công khai hoá mọi luật lệ và thủ tục liên quan đến hoạt động hải quan sao cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận thuận lợi
• Bảo đảm quyền khiếu nại rõ ràng cho các doanh nghiệp
• Thi hành các biện pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ tại biên giới phù hợp với các quy định
của Hiệp định TRIPs ( Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights)
• Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro vào hoạt động hải quan
• Thực hiện các nguyên tắc của WTO về thông quan nhanh chóng đối với hàng hóa chuyển phát nhanh
• Đảm bảo thuận lợi cho hoạt động tạm nhập khẩu bằng việc tham gia và thi hành các quy định của Công ước ATA
Việc thực hiện những cam kết trên, trước hết nhằm tạo thuận lợi cho thương mại, đầu
tư và du lịch phát triển nhưng đồng thời cũng là những phương tiện giúp Hải quan quản lý
chặt chẽ, bảo vệ nền kinh tế đất nước trước các yếu tố cạnh tranh từ bên ngoài, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách quốc gia, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế của đất nước, lợi ích và
an toàn cho cộng đồng
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị to lớn này đòi hỏi phải có nhiều đổi mới trong tổ
chức bộ máy, quản lý điều hành nghiệp vụ và đào tạo nhân lực Đây thực sự là thách thức đối với trình độ chính trị, năng lực nghiệp vụ, kiến thức văn hóa, trình độ khoa học - công nghệ của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan khi thi hành nhiệm vụ Vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức Hải quan có đầy đủ bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, có khả năng nắm bắt các kỹ thuật chuyên ngành, làm chủ các phương tiện hiện đại theo hướng tự động hóa, hiện đại hóa công tác Hải quan để hoàn thành tốt chức năng bảo vệ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia mà Đảng và Nhà nước giao phó là nhiệm vụ vừa mang tính chiến lược lâu dài vừa là yêu cầu cấp bách trước mắt đối với toàn ngành nói chung và đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Hải quan của Nhà trường nói riêng trong
những năm tới
Trang 241.2.2 Th ực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan hiện nay
Thực trạng về trình độ đội ngũ cán bộ công chức Hải quan hiện nay và nhu cầu được đào tạo trong giai đoạn 2001 - 2005, qua khảo sát được tiến hành trong năm 2000 ở các đơn
vị Hải quan các cấp được phản ánh qua bảng số 1.1
Trang 26
Phân tích kết quả khảo sát, ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Số cán bộ, công chức hải quan cần được đào tạo nghiệp vụ Hải quan là: 936 / 7077 người, chiếm 13,22% biên chế toàn ngành
Trang 27- Số cán bộ, công chức hải quan có nhu cầu được đào tạo về quản lý hành chính nhà nước là: 1663/7077 người, chiếm 23,49% biên chế toàn ngành
- Số cán bộ, công chức hải quan có nhu cầu được đào tạo về tin học là : 2594 / 7077 người, chiếm 36,65% biên chế toàn ngành
- Số cán bộ, công chức hải quan có nhu cầu được đào tạo về Anh ngữ là: 3016 / 7077 người, chiếm 42,61% biên chế toàn ngành
- Số cán bộ, công chức hải quan có nhu cầu được đào tạo về các ngoại ngữ khác là:
1169 /7077 người, chiếm 16,51% biên chế toàn ngành
Các số liệu khảo sát và phân tích trên đã đặt ra những vấn đề mà các nhà quản lý đào
tạo cần xem xét khi hoạch định chiến lược đào tạo cán bộ, công chức Hải quan trong giai đoạn 2001 - 2005, khi xác định các mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo cụ thể, khi xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo Phải đảm bảo sự phù hợp giữa sứ mệnh, mục tiêu, nhiệm vụ
của tổ chức với nhu cầu cụ thể của các nhóm mục tiêu khi lập kế hoạch đào tạo cho giai đoạn 5 năm và các kế hoạch thường niên
1.2.3 Th ực trạng chất lượng và hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức Hải quan trong
th ời gian qua ( ở Trường Cao đẳng Hải quan và các cơ sở, các điạ phương do Ngành
H ải quan thực hiện)
Bộ máy quản lý của một hệ thống không thể rập khuôn theo một hệ thống khác Do đặc thù của hoạt động nghiệp vụ Hải quan, đòi hỏi trong công tác đào tạo phải có một tổ
chức chuyên biệt để thực hiện chức năng đào tạo, huấn luyện cán bộ, công chức trong ngành
Hải quan
Ngày 25 tháng 9 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 603/TTg quyết định thành lập Trường Cao đẳng Hải quan trên cơ sở nâng cấp và tổ chức lại Trường nghiệp
vụ Hải quan Trong cơ cấu hệ thống chung của ngành Hải quan, Trường Cao đẳng Hải quan
trực thuộc Tổng cục Hải quan và đặt trong hệ thống chung các trường của Nhà nước, thực
hiện chức năng nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho ngành Hải quan ở trình độ Cao đẳng; bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cần thiết khác cho đội ngũ công chức Hải quan; tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác đào tạo và phát triển của ngành
Hải quan
Trang 28Để thực hiện được chức năng nhiệm vụ được giao, về cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà trường được thiết kế gồm 5 khoa, 5 phòng và 1 Ban thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 291.2.3.2 Th ực trạng hoạt động đào tạo của Nhà trường những năm qua
U
Quy mô - cơ cấu các loại hình đào tạo:
Quy mô và cơ cấu các loại hình đào tạo tại Trường Cao đẳng Hải quan thể hiện như sau: (số liệu năm 2000)
• Cao đẳng Hải quan chính quy : học 3,5 năm, số lượng 600 sinh viên
• Cao đẳng Hải quan tại chức : học 3 năm, số lượng 200 học viên
• Bồi dưỡng nghiệp vụ hải quan : học từ 3 đến 5 tháng, số lượng 250 học viên
• Đào tạo nhân viên làm dịch vụ thủ tục hải quan : học từ 1 đến 2 tháng, số lượng 250
Diện tích nhà trường : 1,5 ha trong nội thành TP HỒ Chí Minh
Tài sản : Tổng trị giá 21,5 tỷ VNĐ
(trị giá công trình 16,4 tỷ VNĐ - trị giá thiết bị ,1 tỷ VNĐ )
Các tiện ích chủ yếu :
• 01 hội trường đa năng 300 chỗ
• 01 phòng hội thảo quốc tế 50 chỗ
Trang 30• 01 khu thể thao võ thuật đa năng
Các cơ sở thực hành, thực tập, hỗ trợ học tập
• 01 trung tâm ngoại ngữ hải quan
• 01 cơ sở tin học hải quan
• 30 Cục hải quan tỉnh, thành phố gồm 165 cửa khẩu và đội kiểm soát là nơi nhận học viên, sinh viên đến thực tập
U
Về đội ngũ giảng viên
• Đặc thù của ngành Hải quan đòi hỏi phải gắn chặt công tác đào tạo ở nhà trường với công tác nghiệp vụ ở cửa khẩu Do đó trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên có sự kết hợp hài hòa giữa số giảng viên chuyên trách với số giảng viên kiêm chức trong ngành
• Ngoài số 30 giảng viên là tiến sĩ và thạc sĩ được thỉnh giảng từ các trường đại học ,
tổng số giảng viên và chuyên gia nghiên cứu của ngành Hải quan là 100 người
Trong đó phân ra theo chức danh :
• Giảng viên chuyên trách 40 người
• Giảng viên kiêm chức 40 người
• Nghiên cứu viên 20 người
Phân ra theo trình độ
• Tiến sĩ 12 người
• Thạc sỹ 31 người
• Cử nhân, Kỹ sư 57 người
Trong số Thạc sỹ và Cử nhân có khoảng 40% đang làm nghiên cứu sinh và theo học cao học
Cơ cấu ngành nghề của đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên trên đây bao gồm các chuyên ngành nghiệp vụ hải quan và nhiều chuyên ngành nghiệp vụ khác liên quan đến lĩnh
vực hải quan Tuy nhiên, số lượng giảng viên và nghiên cứu viên có trình độ cao về chuyên ngành nghiệp vụ hải quan còn rất khiêm tốn, đòi hỏi phải tăng cường và ưu tiên đào tạo bồi dưỡng đối tượng này trong thời gian tới
Các thành tựu - các hạn chế- các bất cập, mâu thuẫn và nguyên nhân
Trang 31M ặt mạnh :
- Nhà trường đã bám sát nhiệm vụ chính trị của Ngành để thực hiện các chủ trương, định hướng của Tổng cục Hải quan về công tác đào tạo Nhà trường đã phát huy được vai trò trung tâm đào tạo của Ngành, chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Ngành để tổ chức thực hiện đầy đủ các nội dung, chương trình đào tạo được phê duyệt cho
từng giai đoạn
- Từ khi được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Hải quan, Nhà trường đã thực hiện
chức năng, nhiệm vụ được giao, tuân thủ theo đúng các quy chế về chuyên môn của Bộ Giáo dục & Đào tạo và các quy định quản lý của Tổng cục Hải quan trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ hội nhập
Thành t ựu:
Qua thực tiễn hoạt động giai đoạn 1986-2000, nhà trường đã mở được
• 47 khoa gồm 55 lớp đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ hải quan từ 1,5 tháng đến 6 tháng cho 5676 học viên là cán bộ, nhân viên hải quan, chiếm gần 70% biên chế của ngành Nhiều đồng chí học viên đã đạt danh hiệu học viên xuất sắc, học viên giỏi
• 05 khoa Cao đẳng Hải quan chính quy với 845 sinh viên và 04 lớp Cao đẳng Hải quan tại chức cho 260 cán bộ, công chức Hải quan, đã tốt nghiệp 635 sinh viên
• 18 lớp chuyên đề về pháp luật, đồ cổ, kim khí quý, đá quý, kiểm soát chống buôn lậu
ma túy, sở hữu trí tuệ, trị giá hải quan, phân loại hàng hoá,
• 04 khoá ngoại ngữ chuyên ngành hải quan cho học viên Hải quan TP Hồ Chí Minh
và Hải quan Tây Ninh
• 10 lớp liên kết đào tạo cử nhân chuyên ngành Tài chính - kế toán, Ngoại thương, Ngoại ngữ cho cán bộ viên chức trong ngành và cho xã hội
Trong quản lý đào tạo, Nhà trường đã xây dựng và ban hành các quy chế quản lý phục
vụ cho hoạt động dạy và học như các quy định về tổ chức thi, kiểm tra, xét tốt nghiệp, qui định về chế độ đối với giáo viên, quy định về quản lý học viên, sinh viên; xây dựng nội dung chương trình đào tạo cho các loại hình Cao đẳng Hải quan chính quy, tại chức, các lớp nghiệp vụ hải quan từ 2,5 tháng đến 6 tháng, các lớp bồi dưỡng chuyên đề, các lớp hướng
dẫn cho nhân viên đại lý thủ tục hải quan
Trang 32Trong giảng dạy: đội ngũ giáo viên chuyên trách và kiêm chức đã được tăng cường, nhiều đồng chí đã được gửi đi đào tạo về nghiệp vụ ở trong nước và ở nước ngoài Nhà trường đã tổ chức điều chỉnh, cập nhật, bổ sung các tập bài giảng nghiệp vụ Hải quan cho sát hợp với thực tế hoạt động của ngành Nhiều bộ bài tập thực hành, tài liệu tham khảo, đề cương bài giảng, giáo trình đào tạo cho hệ Cao đẳng Hải quan đã được biên soạn mới Hoạt động của Thư viện cũng như việc trang bị phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu đã được quan tâm đầu tư
Hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ cho quản lý và đào lạo cấp Ngành và cấp cơ
sở đã có bước phát triển Từ năm 1996 đến năm 2000 đã có 04 đề tài cấp ngành , 15 đề tài
cấp cơ sở của cán bộ, giáo viên Nhà trường đã tổ chức các hội thảo nghiệp vụ chuyên ngành hải quan, hội thảo về công tác đào tạo với sự tham gia hướng dẫn của các chuyên gia
Hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới
Học viên các khoá Cao đẳng Hải quan ra trường bước đầu đã đáp ứng được các yêu
cầu hoạt động nghiệp vụ tại các đơn vị Hải quan và các cơ sở khác Kết quả trên chứng minh ngành Hải quan đã có định hướng đúng đắn về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng lực lượng hải quan, thể hiện trên 2 mặt:
• Sự đầu tư của Ngành cho lĩnh vực đào tạo ngày càng tăng cường và phát huy hiệu
quả
• Gắn tổ chức đào tạo tại trường và tại địa phương, từng bước bảo đảm chất lượng đào
tạo toàn diện và chuyên sâu nghiệp vụ
Trang 33- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Ngành nằm trong thời kỳ cải cách nền giáo dục, đào tạo của Nhà nước nên việc chỉ đạo đối với Nhà trường cũng nằm trong bối cảnh vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có phương hướng ổn định
- Về phía Nhà trường còn nhiều bất cập :
- Các giáo viên chuyên trách cũ về trường từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, chưa có chuyên môn nghiệp vụ Hải quan phải trải qua thời kỳ đào tạo lại và thâm nhập thực tiễn nghiệp vụ của Ngành
- Các đồng chí mới được tuyển dụng công chức để bồi dưỡng thành giáo viên chuyên trách cần phải có thời gian thâm nhập thực tế, đào tạo lại, nhất là về phương pháp giảng dạy chuyên ngành
- Các giáo viên kiêm chức tuy có kinh nghiệm công tác, nhiệt tình phối hợp, cộng tác
với Nhà trường nhưng hạn chế về phương pháp giảng dạy, bị động về thời gian bố trí cho
hoạt động đào tạo
- Các cán bộ quản lý có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý đào tạo nên có những hạn
chế trong việc xây dựng chương trình, lập kế hoạch, quản lý chất lượng đào tạo
- Giáo trình đào tạo chưa được cập nhật kịp thời các kiến thức mới Một số nội dung chưa gắn kết được giữa lý luận và thực tiễn
Thiếu cơ chế đồng bộ trong việc phối hợp giữa đào tạo tại Trường với bồi dưỡng cập
nhật kiến thức tại cơ sở
Trang 34CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG
CAO ĐẲNG HẢI QUAN GIAI ĐOẠN NĂM 2001 - 2005
2.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH HẢI QUAN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngành Hải quan Việt Nam
có vai trò quan trọng trong việc:
- Tổ chức thu các sắc thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật một cách có hiệu lực và hiệu quả
- Khuyến khích, hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh tế quốc gia thông qua cải cách hành chính, tự động hoá thủ tục hải quan, tư vấn hải quan và các hoạt động bổ trợ khác
- Loại trừ các hoạt động buôn lậu và các hoạt động phi pháp khác trong lĩnh vực hải quan
Trong thực tiễn hoạt động, các vai trò trên thể hiện qua các nhiệm vụ của Hải quan như sau:
- Trợ giúp Chính phủ trong việc thiết lập các chính sách mới liên quan đến việc thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và các khoản thu khác căn cứ trên các cơ sở khoa học về thuế quan hiện đại
- Lập kế hoạch, tạo ra và thực thi các kỹ thuật thu thuế bằng cách áp dụng các công nghệ và quy trình hành thu mới
- Tiến hành các bước có hiệu quả trong việc loại trừ các hoạt động buôn lậu
- Thực hiện kiểm soát hoạt động nhập khẩu/ xuất khẩu các hàng hoá có ảnh hưởng đến
lợi ích quốc gia
- Hỗ trợ và tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp nội địa thông qua chính sách thuế quan và phục vụ hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất, kho ngoại quan,
- Nghiên cứu và áp dụng phương pháp xác định trị giá hải quan hiện đại đối với các hàng hoá nhằm xác định đúng và thu đủ thuế
Trang 35- Thực hiện các nhiệm vụ, các yêu cầu của các Bộ, Ngành khác đối với hoạt động xuất
với các hoạt động thương mại, đầu tư và du lịch Hải quan Việt Nam đã đi đầu về cải cách
thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh
Việt Nam; đấu tranh quyết liệt chống buôn lậu và vận chuyển trái phép qua biên giới; thu thuế hải quan bảo đảm 25 % tổng thu ngân sách Nhà nước; trở thành thành viên thứ 143 của
Tổ chức Hải quan thế giới ( WCO) Thực hiện cương lĩnh và nghị quyết của Đảng " từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp " nhiệm vụ của ngành Hải quan rất nặng nề
Trước mắt phải tham mưu đề xuất cho Chính phủ và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương chính sách của Nhà nước về Hải quan trong việc tham gia Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á ( AFTA ), Diễn đàn kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ
chức thương mại thế giới ( WTO )
Về lâu dài, với tính chất là công cụ của Đảng, Nhà nước trong việc bảo vệ và thực thi pháp luật về lĩnh vực kinh tế đối ngoại, ngành Hải quan phải tăng cường xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh để cùng các ngành hữu quan bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong nước, tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh
Trang 36Nhiều kiến nghị của Ngành đã được Chính phủ và các Bộ ngành quan tâm tháo gỡ và giải quyết
• Quá trình cải cách và đổi mới hoạt động hải quan được triển khai trong tiến trình cải cách và hoàn thiện bộ máy hành chính Nhà nước nói chung Ngành đã nhận được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, sự hỗ trợ của các Bộ ngành hữu quan, sự hưởng ứng và ủng hộ
của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Dư luận ngày càng hiểu vai trò, nhiệm vụ của ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ gác cửa nền kinh tế đất nước
• Quá ưình hội nhập tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, WCO và tăng cường hợp tác song phương và đa phương về Hải quan đã giúp cho ngành Hải quan có nhiều cơ hội học hỏi và trao đổi kinh nghiệm chuyên sâu về hải quan,
tiếp nhận sự trợ giúp về đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý, trang thiết bị kỹ thuật
2.1.1.2 Thách th ức:
• Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong điều kiện điểm xuất phát còn thấp so với nhiều nước trong khu vực; trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, lưu lượng hành khách xuất nhập cảnh, hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng, đòi hỏi ngành Hải quan phải nỗ lực vươn lên, cải cách và đổi mới để nâng cao chất lượng hoạt động
hải quan Trong điều kiện các nguồn lực còn hạn chế, thách thức lớn nhất đặt ra đối với ngành hải quan là vừa phải đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hải quan,
chấp hành quy định của pháp luật, mặt khác vừa tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, đầu tư và du lịch quốc tế phát triển
• Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động hải quan chưa đồng bộ, không ít
vấn đề chưa rõ ràng và thiếu cụ thể, Việc phận định chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của ngành hải quan và các ngành khác về lĩnh vực có liên quan còn có những điểm thiếu cụ thể, chồng chéo Quyền hạn điều tra, xử lý của ngành hải quan còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của ngành Tổ chức thu thập, khai thác thông tin trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và hải quan còn nhiều vướng mắc về pháp luật và cơ chế, chưa theo kịp với sự phát triển thông tin nhanh chóng
hiện nay
Trang 37• Bộ máy tổ chức của ngành còn chưa hợp lý, cồng kềnh; địa bàn và đối tượng quản
lý hải quan ngày càng mở rộng trong khi ý thức chấp hành pháp luật và trình độ hiểu biết pháp luật của nhiều đối tượng trong quan hệ với hải quan chưa cao; chức năng, nhiệm vụ
giữa các đơn vị chưa được phân định rõ ràng; sự phân bố lực lượng kiểm tra, kiểm soát
chống buôn lậu giữa các địa bàn chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn, còn nhiều bất cập
• Trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác nghiệp vụ vừa cũ, lạc hậu, lại vừa thiếu; trình độ làm chủ trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, hiện nay nhu cầu xây dựng cơ bản hàng năm cần 50-70 tỷ đồng nhưng không có nguồn bố trí
• Về mặt chủ quan, ngành Hải quan đứng trước thực trạng là trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực thực tiễn của không ít cán bộ quản lý và cán bộ thừa hành còn thấp, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới Một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái về
phẩm chất đạo đức, tiêu cực, tham nhũng làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của ngành
cần được khắc phục có hiệu quả
• Chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ khác đối với cán bộ công chức Hải quan còn chưa hợp lý, chưa gắn với tính chất, đặc thù công tác hải quan Đời sống của cán bộ công
chức làm việc ở vùng biên giới, cửa khẩu xa xôi, hẻo lánh, các lực lượng trực tiếp chống buôn lậu hết sức khó khăn
2.1.2 Phương hướng, mục tiêu phát triển chung Phương hướng, mục tiêu tổng quát lâu dài là :
Xây dựng Hải quan thành lực lượng chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu và hiện đại,
hoạt động minh bạch, liêm chính và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước
Trong giai đoạn 5 năm 2001 - 2005 tập trung vào :
• Rà soát, bổ sung hệ thống văn bản pháp quy trong và ngoài ngành có liên quan đến
hoạt động hải quan, bảo đảm tăng tính đồng bộ, minh bạch, cụ thể, rõ ràng Thực hiện điều
chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển khu vực quản lý hải quan cho phù hợp với thực tế và
Luật Hải quan
• Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch, giao lưu và hợp tác
quốc tế
Trang 38• Nâng cao trình độ nghiệp vụ gắn với bố trí cán bộ theo chuyên sâu, thực hiện luân chuyển cán bộ cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ của ngành và của từng đơn vị
• Thúc đẩy nhanh tiến độ đầu tư, thực hiện hiện đại hóa hoạt động hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu thủ tục hải quan, trước hết ở những địa bàn và và khu vực
quản lý hải quan trọng điểm
• Tăng cường công tác giáo dục bản lĩnh chính tri, phẩm chất đạo đức, tính trung thực, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp gắn với xử lý nghiêm minh các sai phạm
• Xây dựng nề nếp làm việc chính quy, hiện đại và tác phong sinh hoạt lành mạnh
2.1.3 Nhi ệm vụ, mục tiêu cụ thể
• Xác định đúng chức năng, cụ thể hoá nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quan
Kiện toàn bộ máy tổ chức của ngành, tinh giản biên chế theo đúng tinh thần Nghị quyết TW
7 và Quyết định 207/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
• Trực tiếp tham gia rà soát, kiến nghị điều chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp quy
có liên quan đến hoạt động hải quan; triển khai thực hiện Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn dưới Luật Đẩy nhanh tiến trình cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hoá, hài hòa hoá, tự động hoá thủ tục hải quan theo các chuẩn mực quốc tế nhằm thực hiện thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nhanh chóng Xây dựng mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm giữa Hải quan, doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan trong việc tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư phát triển
• Triển khai thực hiện đề án phát triển công nghệ thông tin và hiện đại hoá hải quan
Thực hiện tự động hóa thủ tục hải quan ở những khâu nghiệp vụ trong quy trình thủ tục hải quan và ở những địa bàn trọng điểm Phấn đấu tự động hóa quy trình thủ tục hải quan đối
với 75% lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu trên địa bàn cả nước
• Thực hiện đúng và tham gia có hiệu quả hơn vào việc xây dựng chính sách kinh tế, chính sách thuế, phấn đấu thu thuế xuất nhập khẩu đạt chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao hàng năm
• Hoàn tất lộ tình, chuẩn bị các điều kiện liên quan cần thiết về cơ sở pháp lý, về phương tiện kỹ thuật, về nhân lực để tiếp tục tham gia và thực hiện các Điều ước quốc tế về
hải quan và thực hiện các cam kết của các nước thành viên
Trang 39• Xây dựng cơ sở pháp lý để thiết lập hệ thống kiểm định hải quan ở trung ương, ỏ khu
vực miền Nam và miền Trung, ở các cửa khẩu lớn
• Phối hợp với các Bộ Ngành, cấp ủy và chính quyền địa phương ngăn chặn buôn lậu
và vận chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp gian lận thương mại
2.1.4 Nh ững biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu :
U
Quán triệt nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:
• Thường xuyên bám sát và quán triệt nghiêm túc chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước để tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn ngành, đảm bảo thực hiện đúng theo yêu cầu về nội dung và thời gian Thường xuyên theo dõi, giám sát và chỉ đạo
thực hiện, đặc biệt đối với cấp cơ sở nhằm đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn hoạt động quản lý Nhà nước về Hải quan Chủ động phối hợp chặt chẽ
với các Bộ Ngành hữu quan trong việc ban hành văn bản hướng dẫn; kịp thời phát hiện
những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi nhiệm vụ để sửa đổi hoặc báo cáo và đề
xuất ý kiến với các Bộ, Ngành, Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung chính sách và chỉ đạo
giải quyết
U
Kiện toàn tổ chức bộ máy :
• Tiếp tục rà soát, nghiên cứu kiện toàn bộ máy tổ chức gắn với phân công, phân cấp
rõ ràng, cụ thể giữa chức năng, quyền hạn và trách nhiệm ở các cấp và từng cấp trong ngành, trong đó cấp Tổng cục chủ yếu thực hiện nhiệm vụ tham mưu, chỉ đạo điều hành,
cấp cục Hải quan địa phương tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc thực hiep cửa
khẩu và các đội kiểm soát làm nhiệm vụ tác nghiệp cụ thể nhằm đảm bảo yêu cầu thực thi nhiệm vụ thông suốt, nhanh, đúng pháp luật, hạn chế sơ hở Sắp xếp, điều chỉnh mô hình tổ
chức bộ máy theo đúng tính thần của Nghị quyết TW7 và Quyết định 207/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị Hải quan, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Cụ thể là :
• Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ngành theo hướng giảm bớt các đầu mối trung gian,
mở rộng cơ chế điều hành theo trực tuyến Hệ thống tổ chức Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục
Hải quan, Hải quan vùng, Chi cục Hải quan và các Đội kiểm soát hải quan cơ động trên bộ, trên biển
Trang 40• Chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, cơ cấu lại lực lượng làm việc
giữa các cấp, giữa các khâu, giữa các địa bàn Với kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu và quy mô du lịch quốc tế hàng năm khoảng 15% - 16 %, biên chế Ngành Hải quan cần được
bổ sung thêm hàng năm theo tỷ lệ thích hợp gắn với việc đẩy nhanh tiến độ tự động hoá,
hiện đại hóa quản lý hải quan Kiến nghị cơ cấu lại các ngạch bậc công chức để giảm bớt các bất hợp lý về ngạch, bậc lương hiện nay, xây dựng tiêu chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tiêu chuẩn cán bộ quản lý các cấp cho phù hợp với công việc đảm nhiệm
U
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan :
• Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan gắn với quá trình thực hiện cải cách hành chính nói chung Tập trung triển khai Đề án cải cách thủ tục hải quan cả về chiều rộng
và chiều sâu, đặc biệt chú trọng đề ra các giải pháp sát với thực tiễn, phù hợp với thông lệ
quốc tế và yêu cầu hội nhập, trong đó:
• Đề cao tính chủ động, khẳng định tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của doanh nghiệp
• Thực hiện và nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan
• Quy ưình thủ tục hải quan thống nhất, đơn giản,dễ thực hiện
• Công khai hoá các văn bản quy phạm pháp luật về xuất nhập khẩu, về thủ tục hải quan
• Phân công, phân cấp rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cán bộ, công
chức Hải quan, từng cấp từng đơn vị hải quan trong từng khâu nghiệp vụ
U
Về kỹ thuật nghiệp vụ hải quan:
• Nghiên cứu xây dựng và tham gia xây dựng các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và hải quan; tiếp tục hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ hải quan theo hướng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu và khả thi
• Xây dựng chương trình phần mềm máy vi tính kết hợp được quy tình thủ tục hải quan hiện đại với đặc thù của Việt nam Chương trình phần mềm này có khả năng kế thừa, tương thích và phát triển từ các hệ thống tin học nghiệp vụ đã triển khai trong ngành, có khả năng vận hành trên mạng diện rộng, với các chức năng phù hợp với các loại hình thủ tục
cảng biển, cảng hàng không, đường bộ đảm bảo đáp ứng được yêu cầu đa dạng của công tác quản lý hải quan,