LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT, việc dạy cho HS trung bình, yếu cách học, cách suy luận, cách giải bài tập có hiệu quả là vô cùng khó khăn vì khả năng
Trang 3Lời cảm ơn
Là một giáo viên trẻ, khi ra trường gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình giảng dạy.Vừa dạy, vừa học nâng cao tay nghề, đôi khi tưởng chừng như không có thời gian để hoàn thành mọi vấn đề.Có những lúc
bị “stress” nhưng chúng tôi đã luôn nỗ lực, luôn cố gắng Trải qua không ít những trở ngại, khó khăn nhưng nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của quí thầy cô, gia đình và bạn bè, cuối cùng, luận văn đã được hoàn thành
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô Lê Phi Thúy, người cô
đã luôn hết mình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin chân thành cám ơn các quí thầy cô, bạn bè đồng nghiệp cùng các em học sinh đã luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình, những người thân đã luôn bên cạnh, thông cảm, chia sẻ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn
Một lần nữa, xin gửi lời cám ơn thật chân thành, sâu sắc đến tất cả mọi người!
TP.HCM, tháng 4/2012
Tác giả
Hồ Minh Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mụccác hình
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Các luận án, luận văn nghiên cứu về graph và SĐTD 4
1.1.2 Các luận án, luận văn nghiên cứu về HS trung bình, yếu môn hoá 5
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HS TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HOÁ 6
1.2.1 Xác định đối tượng HS trung bình, yếu môn hóa 6
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến HS trung bình, yếu và hướng khắc phục 6
1.2.3 Phương pháp dạy học với HS trung bình, yếu môn hóa 8
1.3 PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC 9
1.3.1 Nội dung của phương pháp graph dạy học 9
1.3.2 Nguyên tắc xây dựng và các bước lập graph nội dung dạy học 11
1.3.3 Những ứng dụng của graph trong dạy học 12
1.3.4 Ý nghĩa của việc sử dụng graph trong dạy học 12
1.4 SƠ ĐỒ TƯ DUY 13
1.4.1 Khái niệm 13
1.4.2 Phân loại 14
1.4.3 Những ứng dụng của SĐTD trong dạy học 14
1.4.4 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học 14
1.4.5 So sánh graph dạy học và SĐTD 15
1.5 CÁC PHẦN MỀM THIẾT KẾ GRAPH VÀ SĐTD 16
1.5.1 Khái quát về phần mềm iMindMap 5.3 16
1.5.2 Khái quát về phần mềm XMind 21
Trang 51.5.3 So sánh 2 phần mềm iMindMap 5.3 và XMind 24
1.6 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG GRAPH VÀ SĐTD TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC 25
1.6.1 Mục đích điều tra 25
1.6.2 Đối tượng và phương pháp điều tra 25
1.6.3 Kết quả điều tra 25
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG GRAPH VÀ SĐTD ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 11 VỚI ĐỐI TƯỢNG HS TRUNG BÌNH, YẾU 31
2.1 TỔNG QUAN VỀ PHẦN HOÁ HỮU CƠ 11 BAN CƠ BẢN 31
2.1.1 Cấu trúc và nội dung các chương 31
2.1.2 Phương pháp dạy học 32
2.2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG SĐTD PHẦN HOÁ HỮU CƠ LỚP 11 DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG HS TRUNG BÌNH, YẾU 33
2.2.1 Các quy tắc thiết kế SĐTD 33
2.2.2 Các bước thiết kế SĐTD 34
2.2.3 Hệ thống SĐTD phần hóa hữu cơ lớp 11 35
2.2.4 Sử dụng hệ thống SĐTD phần hóa hữu cơ lớp 11 51
2.3 SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ HỖ TRỢ HS TRUNG BÌNH, YẾU HỌC TỐT PHẦN HOÁ HỮU CƠ LỚP 11 69
2.3.1 Hệ thống một số dạng bài tập phần hóa hữu cơ 11 có sử dụng graph 69
2.3.2 Những định hướng khi sử dụng graph hỗ trợ HS trung bình, yếu giải bài tập110 2.4 MỘT SỐ GIÁO ÁN CÓ SỬ DỤNG GRAPH VÀ SĐTD 111
2.4.1 Giáo án bài truyền thụ kiến thức mới 111
2.4.2 Giáo án tiết luyện tập 114
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 118
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 119
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 119
3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 119
3.3 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 119
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 122
Trang 63.4.1.Kết quả định lượng 122
3.4.2.Kết quả định tính 130
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ưu điểm và hạn chế của phần mềm XMind và iMindMap 24
Bảng 1.2 Đối tượng điều tra 25
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng graph của giáo viên 25
Bảng 1.4 Mức độ sử dụng SĐTD của giáo viên 26
Bảng 1.5 Mức độ sử dụng các loại PTTQ để thiết kế graph và SĐTD 26
Bảng 1.6 Tính hiệu quả của việc sử dụng graph và SĐTD 27
Bảng 1.7 Tỉ lệ bài giảng hóa học dùng graph và SĐTD ở THPT 27
Bảng 1.8 Mức độ khó khăn khi sử dụng graph và SĐTD trong dạy học hóa học 28
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng 119
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số (số HS đạt điểm số xi) 122
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất (% HS đạt điểm xi) 123
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất lũy tích (% HS đạt điểm số xitrở xuống) 123
Bảng 3.5 Bảng phân loại điểm số của HS qua các bài kiểm tra 124
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng 124
Bảng 3.7 Mức độ hứng thú của HS đối với hình thức tự học bằng SĐTD 130
Bảng 3.8 Mức độ hứng thú của HS đối với giờ kiểm tra có sử dụng SĐTD 130
Bảng 3.9 Mức độ hứng thú của HS đối với giờ bài tập có sử dụng graph 130
Bảng 3.10 Hiệu quả sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý, graph khi giải bài tập hóa học 131
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hai hình không phải là graph 10
Hình 1.2 Graph vô hướng và graph có hướng 10
Hình 1.3.Graph về các dạng thù hình của photpho 10
Hình 1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học 14
Hình 2.1 SĐTD bài “Mở đầu về hoá hữu cơ” 36
Hình 2.2 SĐTD về phân tích định tính và định lượng các nguyên tố 37
Hình 2.3 SĐTD bài “CTPT HCHC” 38
Hình 2.4 SĐTD bài “Cấu trúc phân tử HCHC” 39
Hình 2.5 SĐTD bài “Ankan” 40
Hình 2.6 SĐTD bài “Xicloankan” 41
Hình 2.7 SĐTD bài “Anken” 42
Hình 2.8 SĐTD bài “Ankađien” 43
Hình 2.9 SĐTD bài “Ankin” 44
Hình 2.10 SĐTD bài “Benzen” 45
Hình 2.11 SĐTD bài“Ancol (phần sơ lược)” 46
Hình 2.12 SĐTD bài “Ancol(phần tính chất hoá học)” 47
Hình 2.13 SĐTD bài “Phenol” 48
Hình 2.14 SĐTD bài “Andehit” 49
Hình 2.15 SĐTD bài “Xeton” 49
Hình 2.16 SĐTD bài“Axit cacboxylic (phần sơ lược)” 50
Hình 2.17 SĐTD bài “Axit cacboxylic (phần tính chất – điều chế)” 50
Hình 2.18.Graph hướng dẫn phân tích nguyên tố 70
Hình 2.19 Graph tóm tắt bài tập 1 70
Hình 2.20 Graph giải bài tập 1 71
Hình 2.21 Graph tóm tắt bài tập 2 71
Hình 2.22 Graph giải bài tập 2 72
Hình 2.23 Graph tóm tắt bài tập 3 72
Hình 2.24 Graph hướng dẫn bài tập 3 72
Hình 2.25 Graph tóm tắt bài tập 4 73
Trang 10Hình 2.26 Graph giải bài tập 4 73
Hình 2.27 Graph tìm CTPT dựa vào CTĐGN 74
Hình 2.28 Graph tóm tắt bài tập 5 74
Hình 2.29 Graph giải bài tập 5 75
Hình 2.30 Graph tìm CTPT ankan dựa vào %C hoặc %H hoặc tỉ khối hơi 75
Hình 2.31 Graph giải bài tập 6 76
Hình 2.32 Graph giải bài tập 7 76
Hình 2.33 Graphtìm CTPT ankan dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 77
Hình 2.34 Graph giải bài tập 8 77
Hình 2.35 Graph giải bài tập 9 78
Hình 2.36 Graph giải bài tập 10 78
Hình 2.37 Graph giải bài tập 11 79
Hình 2.38 Graph giải bài tập 12 79
Hình 2.39 Graphtìm CTPT, %m, %V 2 ankan đồng đẳng kế tiếp 80
Hình 2.40 Graph tóm tắt bài tập 13 80
Hình 2.41 Graph giải bài tập 13 81
Hình 2.42 Graph tóm tắt bài tập 14 82
Hình 2.43 Graph giải bài tập 14 82
Hình 2.44 Graph tóm tắt bài tập 15 83
Hình 2.45 Graph giải bài tập 15 83
Hình 2.46 Graph tìm CTPT anken dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 84
Hình 2.47 Graph tóm tắt bài tập 16 84
Hình 2.48 Graph giải bài tập 16 84
Hình 2.49 Graph tóm tắt bài tập 17 85
Hình 2.50 Graph giải bài tập 17 85
Hình 2.51 Graph tóm tắt bài tập 18 86
Hình 2.52 Graph giải bài tập 18 86
Hình 2.53 Graph tóm tắt bài tập 19 87
Hình 2.54 Graph giải bài tập 19 87
Hình 2.55 Graph tóm tắt bài tập 20 88
Trang 11Hình 2.56 Graph hướng dẫn chung bài tập 20 88
Hình 2.57 Graph giải bài tập 20 88
Hình 2.58 Graph tìm CTPT của ankađien dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 89
Hình 2.59 Graph giải bài tập 21 89
Hình 2.60 Graph giải bài tập 22 90
Hình 2.61 Graph tìm CTPT ankin dựa vào pư ank-1-in + AgNO3/NH3 90
Hình 2.62 Graph giải bài tập 23 91
Hình 2.63 Graph giải bài tập 24 91
Hình 2.64 Graph tìm CTPT ankin dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 91
Hình 2.65 Graph giải bài tập 25 92
Hình 2.66 Graph giải bài tập 26 92
Hình 2.67 Graph tìm CTPT, %V, %m 2 ankin cùng dãy đồng đẳng 93
Hình 2.68 Graph giải bài tập 27 93
Hình 2.69 Graph giải bài tập 28 94
Hình 2.70 Graph tìm CTPT đồng đẳng của benzen dựa vào pư oxi hóa hoàn toàn 94
Hình 2.71 Graph giải bài tập 29 95
Hình 2.72 Graph giải bài tập 30 95
Hình 2.73 Graph hướng dẫn toán hỗn hợp ankan, anken, ankin 96
Hình 2.74 Graph hướng dẫn toán hỗn hợp ankan, anken, ankin 96
Hình 2.75 Graph tóm tắt bài tập 31 97
Hình 2.76 Graph giải bài tập 31 97
Hình 2.77 Graph tóm tắt bài tập 32 97
Hình 2.78 Graph giải bài tập 32 98
Hình 2.79 Graph tìm CTPT ancol no đơn chức, mạch hở, dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 98 Hình 2.80 Graph giải bài tập 33 99
Hình 2.81 Graph tìm CTPT ancol no đơn chức mạch hở dựa vào pư oxi hoá hoàn toàn 99 Hình 2.82 Graph giải bài tập 34 100
Hình 2.83.Graph tóm tắt bài tập 35 100
Hình 2.84 Graph giải bài tập 35 101
Trang 12Hình 2.85 Graph tìm CTPT ancol no, đơn chức mạch hở dựa vào phản ứng
ancol tác dụng với Na, K 101
Hình 2.86 Graph giải bài tập 36 102
Hình 2.87 Graphtìm CTPT, %m 2 ancol đồng đẳng kế tiếp 102
Hình 2.88 Graph giải bài tập 37 102
Hình 2.89 Graph tìm CTPT andehit no đơn chức, mạch hở dựa vào pư tráng gương 103 Hình 2.90 Graph giải bài tập 38 103
Hình 2.91 Graph tìm CTPT 2 andehit no, đơn chức mạch hở 104
Hình 2.92 Graph giải bài tập 39 105
Hình 2.93 Graph hướng dẫn toán hỗn hợp (ancol, phenol, andehit, axit cacboxylic) 105
Hình 2.94 Graph tóm tắt bài tập 40 106
Hình 2.95 Graph giải bài tập 40 106
Hình 2.96 Graph tóm tắt bài tập 41 107
Hình 2.97 Graph giải bài tập 41 107
Hình 2.98 Graph tóm tắt bài tập 42 108
Hình 2.99 Graph giải bài tập 42 108
Hình 2.100 Graph tóm tắt bài tập 43 108
Hình 2.101 Graph giải bài tập 43 109
Hình 2.102 Graph tóm tắt bài tập 44 109
Hình 2.103 Graph giải bài tập 44 110
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 125
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 125
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 3 125
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 4 126
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 5 126
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 6 126
Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp qua 6 bài kiểm tra 127
Hình 3.8 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 1 127
Hình 3.9 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 2 127
Hình 3.10 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 3 128
Trang 13Hình 3.11 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 4 128
Hình 3.12 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 5 128
Hình 3.13 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua bài kiểm tra lần 6 129
Hình 3.14 Biểu đồ phân loại điểm số HS qua 6 bài kiểm tra 129
Trang 14MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT, việc dạy cho HS trung bình, yếu cách học, cách suy luận, cách giải bài tập có hiệu quả là vô cùng khó khăn
vì khả năng tư duy cũng như khả năng ghi nhớ của các em rất kém
Dạy HS trung bình, yếu là dạy các kiến thức lí thuyết trọng tâm, bài tập đưa
ra cũng là những bài tập đơn giản GV phải có hệ thống các bài tập tương tự cho mỗi dạng, đôi khi chỉ khác nhau về số liệu để giúp các em rèn luyện kĩ năng giải bài tập là chủ yếu Bản thân là GV, chúng ta cần định hướng cho HS trung bình, yếu cách học đúng cũng như có phương pháp dạy phù hợp thì mới nâng cao được chất
lượng giáo dục Và những năm gần đây, Tony Buzanđã đưa ra sơ đồ tư duy với mục
tiêusử dụng tối đa khả năng của bộ não SĐTD (Mind map) là một công cụ tổ chức
và phát triển các hoạt động tư duy, có thể miêu tả nó như một kỹ thuật hình hoạ, với
sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não Sơ đồ này giúp khai phá tiềm năng vô tận
của bộ não Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả
Ngoài SĐTD thì graph nội dung dạy học cũng là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức cơ bản, cần và đủ của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong của nó
Chúng ta có thể kết hợp graph và SĐTD vận dụng vào quá trình dạy và học
HS trung bình, yếu Vận dụng như thế nào để có hiệu quả tốt nhất là một vấn đề khó
khăn Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Sử dụng graph và sơ đồ tư duy hỗ trợ học sinh trung bình, yếu học tốt môn hóa học lớp 11 THPT”.Với mong muốn rằng, đề tài sẽ
góp phần định hướng cho học sinh biết phương pháp học lí thuyết và làm bài tập hóa hữu cơ 11 đạt hiệu quả mong muốn
2 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Thiết kế graph và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học lớp 11 THPT nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh trung bình, yếu
Trang 153 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
− Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài: lí luận về graph nội dung dạy học; lí luận về SĐTD…
− Nghiên cứu phần mềm imindmap, xmind để vẽ sơ đồ tư duy
− Nghiên cứu lí thuyết và các dạng bài tập phần hóa hữu cơ 11 ban cơ bản
− Thiết kế graph và sơ đồ tư duy ở từng bài học sao cho đơn giản, dễ học, dễ nhớ.Phân tích dữ kiện đề bài tập, tìm mối quan hệ giữa các dữ kiện, các bước giải ứng với từng dạng bài cụ thể, áp dụng graph và sơ đồ tư duy
− Thực nghiệm sư phạm
− Đề xuất giải pháp
4.K HÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
− Đối tượng nghiên cứu: việc thiết kế và sử dụng graph, sơ đồ tư duy hỗ trợ HS trung bình, yếu học tốt phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
− Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy và học hóa học ở trường THPT
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
− Nội dung nghiên cứu: phần hóa hữu cơ 11 ban cơ bản THPT
− Thời gian nghiên cứu: 2010 – 2011
− Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Vĩnh Long
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
− Đọc và nghiên cứu tài liệu
− Phương pháp phân tích và tổng hợp
− Phương pháp phân loại và khái quát hóa
− Phương pháp giả thuyết
− Phương pháp lịch sử
• Nhóm các phương pháp thực tiễn
− Phương pháp quan sát
− Phương pháp điều tra
− Phương pháp chuyên gia
Trang 16− Phương pháp thực nghiệm sư phạm
• Các phương pháp toán học
− Xử lí số liệu bằng toán thống kê
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế, sử dụng graph và sơ đồ tư duy trong dạy học phần lí thuyết và bài tập một cách khoa học thì học sinh trung bình, yếu sẽ có một tư liệu vô cùng tiện ích trong quá trình tự học của bản thân, giúp các em nhớ bài lâu hơn, biết phương pháp làm bài tập ở từng dạng cụ thể, từ đó nâng cao kết quả học tập của các em
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giữa lúc cả xã hội bức xúc với “đọc - chép” và thói quen “học vẹt” của nhiều học sinh thì việc ứng dụng BĐTD cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác
đã đem lại rất nhiều lợi ích
Theo thầy Đặng Ngọc Thuận (trường Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình) : “Với thời gian chưa dài vận dụng BĐTD trong dạy học môn hóa học bản thân tôi thấy có nhiều mặt tích cực HS nắm kiến thức bài học một cách chủ động hơn,không khí hoạt động của HS trong các giờ học sôi nổi, mọi HS đều tích cực tham gia Có thể khẳng định đây là một biện pháp để chống HS ngồi sai lớp”
Qua thực tế ứng dụng, nhiều giáo viên đánh giá: kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác (ứng dụng công nghệ thông tin, bàn tay nặn bột,… ) mà ngành giáo dục đã và đang triển khai, BĐTD sẽ là đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh tích cực chủ động và có tư duy tốt hơn
Ngoài ra, chúng tôi xin giới thiệu những công trình nghiên cứu rất có giá trị, đồng thời liên quan, gần gũi với đề tài
1.1.1 Các luận án, luận văn nghiên cứu về graph và SĐTD
• Năm 1985, tác giả Phạm Tư với sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu đề tài: “Dùng graph nội dung của bài lên lớp để dạy và học chương Nitơ - Photpho ở lớp 11 trường trung học phổ thông”, Luận án phó tiến sĩ khoa học sư phạm tâm lý Hà Nội [30]
• Năm 2004, tác giả Đào Nguyên nghiên cứu “Sử dụng phương pháp graph kết hợp với một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập tổng kết lớp 11 THPT’’, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Huế [17]
• Năm 2011, tác giả Nguyễn Ngọc Anh Thư đã “ Xây dựng một số bài lên lớp
có sử dụng grap, algorit phần hiđrocacbon lớp 11 ban cơ bản để nâng cao chất lượng dạy học ”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [23]
• Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Thu Oanh lại “ Sử dụng grap dạy học và sơ
đồ tư duy để nâng cao chất lượng các giờ luyện tập môn hóa học lớp 11 (Ban cơ bản)”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [18]
Trang 18Đặc điểm chung của những luận văn, luận án, bài viết trên đều giới thiệu thành công việc ứng dụng graph dạy học vào một giờ lên lớp hóa học của trường trung học phổ thông nói chung
Cùng với sự phát triển của khoa học giáo dụcngoài graph dạy học, các nhà nghiên cứu, các giáo viên còn kết hợp thêm công cụ SĐTD làm phong phú thêm nguồn các phương pháp, phương tiện dạy học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy thể hiện qua các đề tài:
• Năm 2009, tác giả Ngô Quỳnh Nga nghiên cứu “Sử dụng phương pháp graph và lược đồ tư duy tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong giờ ôn tập - luyện tập phần kim loại hóa học 12 - THPT nâng cao - nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy logic cho học sinh”, Luận văn thạc sĩ Giáo dục chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học hóa học, Trường ĐHSP Hà Nội [16]
• Năm 2010, tác giả Huỳnh Thị Mai trình bày việc “Sử dụng SĐTD nhằm phát huy tính tích cực cho HS trong dạy và học bộ môn hoá học lớp 12 THPT ”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [15]
• Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Sáo với đề tài “ Thiết kế và sử dụng hệ thống
sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học vô cơ lớp 11 ở trường THPT”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [20]
• Năm 2011, tác giả Trương Tấn Trị nghiên cứu “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa hữu cơ lớp 11 chương trình nâng cao ở trường THPT theo hướng dạy học tích cực ”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [25]
1.1.2 Các luận án, luận văn nghiên cứu về HS trung bình,yếu môn hoá
Phương pháp dạy HS trung bình yếu đã có một số nghiên cứu của tác giả
• Năm 2010, tác giả Lê Thị Phương Thuý đã “Xây dựng hệ thống bài tập hoá hữu cơ 12 nhằm rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS yếu môn hoá ở trường THPT’’, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [20]
• Năm 2011, tác giả Lương Thị Hương nghiên cứu “Xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập cho học sinh trung bình – yếu phần kim loại lớp 12 cơ bản THPT”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP Tp.HCM [11]
Trang 19• Với lớp 11 cũng có nghiên cứu của tác giả Phan Thị Lan Phương (2011), ĐHSP TP.HCM trong Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa học lớp 11 ban cơ bản THPT” [19]
Nội dung của các luận văn trên đề cập đến các vấn đề: nhận diện HS trung bình, yếu môn hoá, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến HS trung bình, yếu, từ đó tìm ra phương pháp khắc phục.Các luận văn đã xây dựng được hệ thống bài tập hữu cơ 12, bài tập vô cơ 12 chương crom-sắt-đồng dành cho HS trung bình yếu
Qua việc tìm hiểu các luận văn cùng hướng nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra nhiều bài học cho luận văn của mình Tuy nhiên, hướng nghiên cứu sử dụng graph
và SĐTD hỗ trợ HS trung bình, yếu chưa có nhiều Chính vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp một phần công sức của mình vào việc giúp đỡ, hỗ trợ các em học tiến bộ môn hoá, nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HS TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HOÁ
1.2.1 Xác định đối tượng HS trung bình, yếu môn hóa
Căn cứ vào điểm bộ môn năm học trước, tham khảo thêm điểm một số môn học có liên quan và kết hợp với những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các điểm kiểm tra hiện tại…
Như vậy HS trung bình, yếu thường có những biểu hiện như: không viết được CTCT của chất; không thuộc bảng hóa trị của kim loại và gốc axit; không đọc được tên của các hợp chất; không biết viết các phương trình phản ứng thuộc về tính chất hóa học của các hợp chất vô cơ cũng như hữu cơ
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến HS trung bình, yếu và hướng khắc phục
Theo tài liệu [37], [38], [39] một số nguyên nhân đã được đưa ra:
Do HS:
- mất căn bản kiến thức nhưng khả năng tiếp thu bài còn nhanh
- khả năng tiếp thu bài chậm so với học sinh bình thường
- không chịu học do chưa có động cơ học tập đúng đắn
- làm bài không cẩn thận, ẩu tả trong quá trình làm bài
Trang 20- chưa có phương pháp học tập đúng đắn
-
Do GV:
- Còn một số GV chưa nắm chắc những những yêu cầu kiến thức của từng bài dạy
- Việc dạy học còn dàn trải ,còn nâng cao kiến thức một cách tùy tiện
- Còn một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng học sinh trung bình, yếu
- Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh
- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh trung bình, yếu không theo kịp
- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm quyết với nghề, chưa thật sự
“giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhục chí không tự vươn lên
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình
Về phía phụ huynh: Còn một số phụ huynh HS
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em,phó mặc mọi việc cho nhà trường
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến trẻ không chú tâm vào học tập
- Một số cha mẹ quá nuông chìu con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi hay đi du lịch ) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học,
mất dần căn bản và rồi yếu kém
Hướng khắc phục:
- Photo tài liệu về các kiến thức cơ bản, HS về nhà tham khảo, GV kiểm tra
- Thường xuyên gọi lên trả lời câu hỏi hoặc làm bài tập để xem mức độ hiểu và vận dụng
- GV nên có vài phút trò chuyện, gần gũi với các em trong một tiết học tạo cảm giác thoải mái, thân thiện
Trang 21- Tạo động cơ học tập cho các em: cho điểm, phần thưởng…nếu các em trả lời đúng câu hỏi…
- Hướng dẫn phương pháp học bài lí thuyết, cách làm bài tập vận dụng
1.2.3 P hương pháp dạy học với HS trung bình, yếu môn hóa
Gồm 4 giai đoạn dưới đây:
Giai đoạn 1: Quan sát, tiếp thu
Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản, tối thiểu, cần thiết
• Giáo viên cần kết hợp vừa giảng vừa luyện
• Đồng thời với việc cung cấp kiến thức mới là củng cố khắc sâu thông qua ví dụ
• Chú ý phân tích các sai lầm thường gặp
• Tổng kết kiến thức cơ bản có trong bài
Đây là giai đoạn khó khăn nhất, giai đoạn làm quen tiến tới hiểu kiến thức mới, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn cung cấp kiến thức chuẩn cho học sinh Kinh nghiệm cho thấy khi hoàn thành tốt giai đoạn này học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn ở các giai đoạn sau
Giai đoạn 2: Làm theo hướng dẫn
Giáo viên cho ví dụ tương tự học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên
Học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào giải bài tập Giai đoạn này thường vẫn còn lúng túng và sai lầm, do học sinh chưa thuộc, chưa hiểu sâu sắc Tuy nhiên giai đoạn 2 vẫn có tác dụng gợi động cơ cho giai đoạn 3
Giai đoạn 3: Tự làm theo mẫu
Giáo viên ra một bài tập khác, học sinh tự làm theo mẫu mà giáo viên đã đưa ra
ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2
Giáo viên tạm đứng ngoài cuộc Ở giai đoạn này học sinh độc lập thao tác Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được bài tập, học sinh nào chưa hiểu bài sẽ còn lúng túng Giáo viên có thể nắm bắt được việc học tập cũng như mức độ hiểu bài của cả lớp và từng cá nhân thông qua giai đoạn này, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng đối tượng Giai đoạn 3 có tác dụng gợi động cơ trung gian Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này khi ra bài tập về nhà
Trang 22Giai đoạn 4: Độc lập làm bài tập
Giáo viên nên ra cho học sinh:
• Hoặc là một bài tập tương tự khác để học sinh làm ngay tại lớp
• Hoặc là bài tập ra về nhà tương tự với bài được học, nhằm rèn luyện kĩ năng
• Hoặc là bài kiểm tra thử
• Hoặc là đề thi của năm học trước, nhằm kích thích học tập bộ môn
Giai đoạn này có tác dụng gợi động cơ kết thúc một nội dung dạy học Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này trong kiểm tra
Cách dạy học theo bốn giai đoạn như trên, tuy chưa thoát ly cách dạy học truyền thống, nhưng đã phần nào tỏ ra có hiệu quả thiết thực đối với SGK đã được biên soạn lâu nay, phù hợp với hình thức dạy học theo tiết (45 phút), phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng học sinh diện đại trà trong học tập môn hóa
Để có thể dạy học theo bốn giai đoạn như trên đòi hỏi giáo viên phải:
• Hiểu sâu sắc kiến thức chuyên môn và các phương pháp dạy học tích cực
• Khi soạn bài, giáo viên cần chuẩn bị cả bốn loại bài tập cho 4 giai đoạn, bên cạnh đó còn phải biết phân bậc bài tập (dễ, trung bình, khó) cho từng đối tượng học sinh trong lớp
• Và phải biết điều hành các đối tượng học sinh trong một lớp cùng hoạt động bằng cách giao cho mỗi loại đối tượng một dạng bài tập phù hợp với nhận thức của họ, có như thế giờ học mới sinh động và lôi cuốn
1.3 P HƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC
1.3.1 Nội dung của phương pháp graph dạy học[24]
Graph là một lý thuyết có nguồn gốc từ toán học Theo tiếng Anh, “graph” là đồ thị, mạng, mạch Trong tiếng Pháp, “graphe” cũng có ý nghĩa tương tự
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, graph là một sơ đồ, một đồ thị hay một mạng, mạch Hiện nay, trong sự tiếp xúc khoa học chúng ta thấy xuất hiện một xu hướng dùng chung một tên gọi để thống nhất về quan niệm khi nghiên cứu khoa học Nên người ta vẫn dùng nguyên tên gọi của nó là graph chứ không dịch ra tiếng Việt Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý không phải sơ đồ nào cũng là sơ đồ graph
Trang 23Sơ đồ graph trong dạy học chủ yếu là sơ đồ hình cây Trong toán học, graph được định nghĩa như sau: Graph bao gồm một tập hợp không rỗng E những yếu tố gọi là đỉnh và một tập hợp A những yếu tố gọi là cạnh Mỗi yếu tố của A là một cặp (không xếp thứ tự) những yêu cầu rõ rệt của E Trong từng trường hợp một graph định hướng những yếu tố của A đều là những cặp có hướng và gọi là cung Một đôi hay một cặp có thể hiểu được lựa chọn hơn 1 lần
Hình 1 2 Graph vô hướng và graph có hướng
Hình 1.1 là sơ đồ graph vô hướng, hình 1.2 là có hướng Trong đó, đỉnh là các vòng tròn nhỏ, cạnh là đường nối từng cặp (hay từng đôi) lại với nhau; cung là những mũi tên
Trong sơ đồ graph, sự sắp xếp trật tự trước sau của các đỉnh và cung (hoặc cạnh)
có ý nghĩa quyết định còn kích thước, hình dạng không có ý nghĩa Lí luận dạy học thường chỉ vận dụng loại graph có hướng Sau đây là ví dụ:
Hình 1.3.Graph về các dạng thù hình của photpho
Hơi photpho
(1)
P trắng (P4 ); kết tinh trắng, độc,
kém bền, dễ nóng chảy, dễ bay
hơi, bị bốc hơi ngoài không khí,
phát quang trong bóng tối (2)
P đỏ (Pn ); bột đỏ, không độc, bền hơn, khó nóng chảy, khó bay hơi, bền trong không khí, không phát quang trong bóng tối (3)
làm lạnh đột ngột
to, không có không khí
250oCkhông có
O2
Hình 1.1 Hai hình không phải là graph
Trang 24Nhìn vào graph trên ta thấy, ô số (1), (2), (3) là các đỉnh của graph, các đường
có mũi tên là cung diễn tả mối quan hệ giữa các đỉnh
Graph nội dung của bài lên lớp là hình thức cấu trúc hóa một cách trực quan
khái quát và súc tích nội dung của tài liệu giáo khoa đưa ra dạy học trong bài lên lớp Nói một cách chính xác và thực chất hơn, graph nội dung là tập hợp những yếu
tố thành phần của một nội dung trí dục và mối liên hệ bên trong giữa chúng với nhau và diễn tả cấu trúc logic của nội dung dạy học đó bằng một ngôn ngữ trực quan, khái quát đồng thời rất súc tích
Bản chất của graph là một sơ đồ, một mạng hay một mạch thể hiện các kiến thức cơ bản Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến điều kiện để lập một graph nội dung, nên có sự lựa chọn chứ không phải tất cả các bài hóa học trong chương trình đều áp dụng được phương pháp này Chỉ nên sử dụng sử dụng phương pháp graph
để dạy những bài học có nhiều kiến thức, phức tạp, gây khó khăn cho sự lĩnh hội tri thức của người học
Ưu điểm của graph thể hiện ở những điểm sau: tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống và tính súc tích
1.3.2 Nguyên tắc xây dựng và các bước lập graph nội dung dạy học
1.3 2.1 Nguyên tắc xây dựng [24]
Dựa vào nội dung dạy học (khái niệm, định luật, học thuyết, bài học…), chọn những kiến thức chốt (kiến thức cơ bản cần và đủ về cấu trúc, ngữ nghĩa), đặt chúng vào đỉnh của graph Nối các đỉnh với nhau bằng những cung logic dẫn xuất, tức là theo sự phát triển bên trong nội dung đó Đỉnh diễn tả kiến thức chốt của nội dung còn cung diễn tả mối liên hệ dẫn xuất giữa các kiến thức chốt, cho thấy logic phát triển của nội dung Vậy, graph nội dung dạy học là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chốt (cơ bản, cần và đủ) của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong của nó Trong các dạng graph nội dung dạy học, graph của bài học là dạng quan trọng nhất
Việc lập graph nội dung dạy học bao gồm các bước cụ thể sau đây:
• Tổ chức các đỉnh: Gồm các công việc chính sau: Chọn kiến thức chốt tối
Trang 25thiểu, cần và đủ; mã hóa chúng thật súc tích, có thể dùng kí hiệu để quy ước; và đặt chúng vào các đỉnh trên mặt phẳng
• Thiết lập các cung: Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa nội dung và các đỉnh với nhau, làm sao để phản ánh được logic phát triển của nội dung
• Hoàn thiện graph: Làm cho graph trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic, nhưng lại giúp học sinh lĩnh hội dễ dàng nội dung đó, và nó phải đảm bảo tính mĩ thuật về mặt trình bày
1.3.3 Những ứng dụng của graph trong dạy học [24 ]
- Dùng graph để hệ thống hóa khái niệm
- Dùng graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa
- Dùng graph hướng dẫn học sinh tự học
-Dùng graph để giải các bài toán hóa học
1.3.4 Ý nghĩa của việc sử dụng graph trong dạy học [24]
Trong lí luận dạy học, vận dụng lí thuyết graph đã trở thành một tiếp cận mới thuộc lĩnh vực phương pháp dạy học, cho phép giáo viên quy hoạch được quá trình dạy học tổng quát cũng như từng mặt của nó
Dùng graph có thể thiết kế tối ưu hoạt động dạy – học và điều khiển hợp lí quá trình này tiến tới công nghệ hóa một cách có hiệu quả quá trình dạy học trong nhà trường theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Thay vì hỗ trợ cho môi trường dạy – học thụ động, việc lập graph khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào tư duy, mổ xẻ và phát triển ý tưởng Học sinh không chỉ dừng ở việc nắm tri thức một cách đơn lẻ mà xâu chuỗi, kết nối một cách
có hệ thống các tri thức đó lại để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chúng
Từ hình ảnh trực quan và các kết quả thí nghiệm có thể dùng graph để mô hình hóa mối quan hệ về mặt cấu trúc và về mặt chức năng của các đối tượng nghiên cứu giúp học sinh hiểu bài và hệ thống hóa kiến thức tốt hơn
Trang 261.4 SƠ ĐỒ TƯ DUY
1.4.1 Khái niệm[32]
SĐTD là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng
khả năng ghi nhận của não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng lược đồ phân nhánh
SĐTD là một phương pháp ghi chú gồm một hình ảnh hoặc một từ khóa ở trung tâm, và từ từ khóa trung tâm đó phát triển ra nhiều ý, mỗi ý sẽ là một từ khóa mới,
có nhiều ý nhỏ hơn
Với đặc tính này, bất kì từ khóa hay hình ảnh chủ đạo nào bổ sung vào SĐTD đều có thể mở rộng phạm vi liên kết mới, rồi từ đó lại mở rộng phạm vi liên kết mới nữa và chu trình đó có thể lặp đi lặp lại đến vô hạn
SĐTD khai thác toàn diện chức năng của vỏ não – từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc bằng một kĩ thuật độc đáo và sáng tạo
Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh, một khối lượng kiến thức rất lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng chỉ trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất
kì thông tin quan trọng nào
SĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh và màu sắc phong phú hơn là một bài giảng khô khan và nhàm chán
SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng rất rõ ràng
Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu, SĐTD cho phép làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng cách sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Giúp tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ về những gì học được
SĐTD giúp chúng ta tận dụng được các chức năng vỏ não trái và phải Đây chính là công cụ vận dụng được toàn bộ sức mạnh của bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn bên trong mỗi người SĐTD do Tony Buzzan đưa ra vào năm 1970, hiện nay đã được sử dụng bởi hàng ngàn triệu người trên thế giới
Trang 271.4.2 Phân loại [32]
- Sơ đồ tư duy theo đề cương: (còn gọi là SĐTD tổng quát) được tạo ra dựa trên mục lục trong sách
- Sơ đồ tư duy theo chương, bài
- Sơ đồ tư duy theo từng ý chính
1.4.3 Những ứng dụng của SĐTD trong dạy học [41]
- Soạn ghi chú cho bài giảng
- Thiết kế các bài lên lớp dạy kiến thức mới
- Hoạch định cho năm và học kỳ về các kế hoạch sẽ triển khai và thực hiện
- Thi cử lập kế hoạch ôn tập cho từng bộ môn về các kiến thức trọng tâm trong chương trình, thống kê những ý chốt, từ đó khai triển học theo các ý chốt đó
- Học nhóm, thuyết trình…
1.4.4 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học[41]
Hình 1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học
Khi thông tin được gợi ra, sơ đồ tư duy giúp tổ chức thông tin theo một hình thức
mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại như sách vở, bài dạy học, học tập, hội họp, phỏng vấn và đàm thoại
● Gợi nhớ (hồi tưởng): bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ não, thì
sơ đồ tư duy cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn
Trang 28● Sáng tạo: bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, sơ đồ tư duy sẽ
giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng, cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện
● Giải quyết vấn đề: khi bạn gặp trở ngại với một vấn đề, sơ đồ tư duy có thể giúp
bạn nhìn nhận tất cả các vấn đề và làm thế nào để liên kết chúng lại với nhau Nó cũng giúp bạn có được cái nhìn tổng quát là bạn có thể nhìn nhận vấn đề dưới những góc độ nào và sự quan trọng của nó
● Lập kế hoạch: khi bạn cần lập kế hoạch, sơ đồ tư duy giúp bạn có được tất cả các
thông tin liên quan vào một nơi và tổ chức nó một cách thật đơn giản Tất cả các loại kế hoạch từ việc viết một bức thư cho đến một kịch bản, một cuốn sách hoặc lập kế hoạch cho một cuộc họp, một ngày nghỉ
● Thuyết trình (trình diễn): khi nói ta luôn chuẩn bị tốt một sơ đồ tư duy về một
chủ đề và cách diễn đạt Nó không chỉ giúp ta tổ chức các ý kiến hợp lý, dễ hiểu mà còn giúp ta trình bày mà không cần phải nhìn vào biên bản có sẵn
1.4 5 So sánh graph dạy học và SĐTD[14]
SĐTD cũng có những nét tương đồng với Grap dạy học ở tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống, tính súc tích, tâm lí của sự lĩnh hội…Nhưng bên cạnh đó còn có rất nhiều ưu điểm vượt trội là sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, có hình ảnh để hình dung đến kiến thức, sử dụng nhiều màu sắc để làm nổi bật thông tin, sử dụng nhiều từ khóa để cô đọng kiến thức Đa số các giáo viên khi áp dụng phương pháp Grap chưa phát huy tối đa sức mạnh của màu sắc, chưa tận dụng tối đa các từ khóa, thường Grap được đóng khung theo mỗi đỉnh,
và trong khung đó có thể là tổng thể nhiều kiến thức được sắp xếp theo kiểu liệt kê, làm giảm khả năng kết nối thông tin Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong SĐTD đã đem lại một công dụng trong việc tăng cường kết hợp giữa trí tuệ và tính sáng tạo Việc nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánh cấp 2, cấp 3 với nhánh cấp 1, cấp 2 Khi đó, HS sẽ hiểu và ghi nhớ dễ dàng hơn rất nhiều
Trang 291.5 CÁC PHẦN MỀM THIẾT KẾ GRAPH VÀ SĐTD
1.5.1 Khái quát về phần mềm iMindMap 5.3
IMindMap là phần mềm dùng để tạo các sơ đồ tư duy (Mind Map), được đầu tư xây dựng và phát triển bởi chính Tony Buzan, người rất nổi tiếng với những sách viết về MindMaps Có thể nói iMindMap là một chương trình rất được mong đợi của giới tin học, bởi sự quy mô, giao diện đẹp và tính… khó crack của nó [43]
CÁCH SỬ DỤNG PHẦN MỀM IMINDMAP
● Các thao tác cơ bản:
- Cài đặt chương trình: tương tự như các phần mềm khác
- Các thao tác: đóng, mở, lưu tương tự trong Microsoft Office
●Cách tạo sơ đồ:
Bước 1: Mở ứng dụng
- Trên màn hình Window chọn Start/ iMindMap
- Giao diện khi khởi động chương trình
Bước 2: Tạo mới iMindMap
Trang 30- Sau khi nhấn Create, chương trình tự động chuyển sang tab Home, có giao
diện như hình dưới:
- Vẽ nhánh branch từ chủ đề chính central idea
Trang 31- Chèn nội dung vào branch và các lệnh bổ trợ để hiệu chỉnh
Trang 32+ Boundary để nhấn mạnh nhấn mạnh một nội dung quan trọng
+ Apply Filter:cho phép người tạo bản đồ tùy biến hiển thịhoặc biến mất 1 hay nhiều chủ đề dưới mắt xem của người khác và hiển thị đầy đủkhi tác giả muốn
+ Menu ViewFocus In/ Out: giúp xử lý các branch đã chọn và các con của
nó Branch được chọn có vai trò như Central Idea Những hiệu chỉnh trong không gian này sẽ được cập nhật vào Mind Map ban đầu
Trang 33+ Menu Home Document View: điều chỉnh hiển thị iMindMap dưới các dạng khác nhau
Bước 3: Lưu và xuất file
Trang 341.5 2 Khái quát về phần mềm XMind
Xmind cũng giống như iMindMap là phần mềm dùng để vẽ SĐTD với nhiều dạng cấu trúc khác nhau XMind hoàn toàn miễn phí, thích hợp với HS, sinh viên cần sơ đồ hóa bài giảng hoặc đề tài nghiên cứu Xmind giúp sắp xếp công việc một cách thông minh, sáng tạo và tư duy một cách khoa học
CÁCH SỬ DỤNG PHẦN MỀM XMIND
● Các thao tác cơ bản:
- Cài đặt chương trình: tương tự như các phần mềm khác
- Các thao tác: đóng, mở, lưu tương tự trong Microsoft Office
● Cách tạo sơ đồ:
Bước 1: Mở ứng dụng
- Trên màn hình Window chọn Start/XMind
- Giao diện chính của chương trình như sau:
Trang 35Bước 2:Tạo mới Xmind
- Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic: ấn Enter để hoàn thành
- Tạo những nhánh con
+ Click chuột trái 2 lần (R-click > Insert Main Topic) để tạo nhánh con cấp 1 + Insert/subtopic để tạo nhánh con,triển khai kế hoạch chi tiết hơn Hoặc R-click chọn Insert/subtopic
+ Phím Enter (Insert/topic) để tạo nhánh con cùng cấp với con trỏ chuột + Relationship: chỉ rõ mối quan hệ giữa các thông tin có liên quan với nhau + Boundary: chọn các thông tin cần nhóm lại
+ Hyperlink: tạo liên kết của Main/Sub Topic với một tài liệu hoặc website… Menu/Insert/Hyperlink
+ Attachment: khi muốn đính kèm tài liệu Main/Sub Topic giúp cho việc truy cập tài liệu dễ dàng hơn (Menu/Insert/Attachment)
+ Notes: sử dụng diễn giải thông tin chi tiết cho Main/Sub Topic nào đó….Menu View Notes
Bước 3:Hiệu chỉnh Mindmap (Format – Topics)
Trang 36- Topic Shape: cho phép thay đổi hình dáng của Central/Main và Sub Topic nhằm làm cho tài liệu nhìn sinh động hơn và dễ nhận biết
- Topic Structure: cho phép hiệu chỉnh bố cục của XMind theo ý thích
+ Mind Map - Structures: kết cấu thể hiện hoạt động đặc biệt của não bộ
+ Tree Chart – Structures: biểu đồ hình cây cho phép điều hướng các chủ đề
từ đầu đến cuối
+ Logic Chart – Structures: kết cấu logic mà các nội dung con được đặt bên phải hoặc bên trái nội dung gốc, phù hợp với việc liệt kê bước thực hiên trước khi đi tiếp 1 bước cấp dưới
+ Fishbone Chart – Structures: biểu đồ xương cá thể hiện một chủ đề xuyên suốt với các tác nhân luôn tác độngtrong suốt quá trình diễn ra chủ đề đó
- Topic Line: chức năng giúp thay đổi kiểu đường liên kết giữa các Topic
- Topic Text: định dạng nội dung văn bản trong các topic như Font chữ, kích thước chữ, màu sắc
- Background: chọn màu cho Sheet
- Wallpaper: chọn hình nền
Bước 4: Xem và trình bày Mindmap
• Menu VIEW-Topics: lựa chọn chế độ xem: xem tài liệu (Map view); xem tổng thể bố cục (Outline view); xem nhiều tài liệu Mindmap trong một màn hình…
Bước 5: Lưu Mindmap
Bước 6: Xuất file Mindmap
Sau khi hoàn thành sơ đồ muốn xuất ra dạng Word, PowerPoint, Image, PDF…click vào biểu tượng sơ đồ ở góc trên cùng bên trái để chọn các định dạng
Trang 37ý tưởng, diễn biến tư duy hoặc
phương pháp tư duycủa mình qua
6 cách thể hiện khác nhau trên
XMind
1 Có chế độ vẽ hình trực tiếp trong phần mềm, đặc biệt là có thể uốn các đường nối để làm iMindMap sinh động Tính tự
4 Giao diện rất giống Office Word rất dễ tìm các nút lệnh
Dễ sử dụng
4 Tương thích tốt với các ứng dụng và định dạng office
5 Dễ Export ra các định dạng 5 Dễ Export ra các định dạng
6 Bộ lọc cho phép người tạo bản đồ có thể tùy biến hiển thị hoặc biến mất 1 hay nhiều chủ đề
6 Có nhiều template
Hạn
chế
1 Các nhánh còn hạn chế độ đậm nhìn không tự nhiên
1 Tốn nhiều bộ nhớ, làm chậm tốc độ
sử dụng
2 Phần mềm hỗ trợ màu sắc chưa thu hút nhiều
2 Chế độ phím tắt để thêm / sửa chữa các topic kém, làm cho người dùng tốn nhiều thao tác hơn khi muốn tạo / sửa một topic
3 iMindMap thiếu các tính năng tự động sắp xếp, với mindmap lớn thì sẽ tốn nhiều công hơn để sắp xếp các nhánh
Trang 381.6 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG GRAPH VÀ SĐTD TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC 1.6.1 Mục đích điều tra
− Tìm hiểu tình hình sử dụng graph và SĐTD trong dạy học ở trường THPT: mức
độ sử dụng, tính hiệu quả của việc sử dụng graph và SĐTD, những khó khăn khi sử dụng graph và SĐTD
1.6.2 Đối tượng và phương pháp điều tra
− Đối tượng: GV hóa học tại các trường THPT
− Phương pháp: Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu khảo sát ý kiến 96 GV hóa học ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác
thông qua học viên lớp cao học Lí luận và phương pháp dạy học hóa học khóa 20
Bảng 1.2 Đối tượng điều tra
THPT Lưu Văn Liệt – Vĩnh Long THPT Vĩnh Long – Vĩnh Long
1.6.3 Kết quả điều tra
Câu 1:M ức độ sử dụng graph trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
Thường xuyên (4)
Mức
độ TB
Trang 39Câu 2:M ức độ sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
Bảng 1.4 Mức độ sử dụng SĐTD của GV
Hình thức
Không sử
dụng (1)
Hiếm khi (2)
Thỉnh thoảng (3)
Thường xuyên (4)
Mức độ
TB
Nhận xét: Ở các trường phổ thông mức độ sử dụng graph lí thuyết; graph bài tập và
SĐTD ít hơn mức trung bình 2.5 Điều này chứng minh, nó ít được vận dụng trong quá trình dạy và học hóa học, trong khi phương pháp học bằng SĐTD đã và đang được vận dụng rộng rãi ở các trường đại học trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học khác nhau trên thế giới như anh văn, toán học… Vì vậy, đây là vấn đề cần được quan tâm
Câu 3: Để thiết kế graph và SĐTD trong dạy học hóa học, thầy (cô) thường
s ử dụng phương tiện trực quan
Bảng 1.5 Mức độ sử dụng các loại PTTQ để thiết kế graph và SĐTD
sử dụng (1)
Hiếm khi (2)
Thỉnh thoảng (3)
Thường xuyên (4)
Nhận xét:Vì mức độ sử dụng graph và SĐTD bị hạn chế nên các giáo viên ít
chú trọng đến việc thiết kế graph hay SĐTD ở đâu, như thế nào có hiệu quả, thuận lợi với điều kiện vật chất, trang thiết bị của nhà trường Nhưng nhìn chung, GV vẫn gần gũi với máy vi tính, hầu như mọi vấn đề GV đều soạn thảo và làm việc với trang thiết bị hiện đại này Đây là một điều thuận lợi, khi chúng tôi giới thiệu phần mềm thiết kế graph và SĐTD đến với GV ở các trường THPT
Câu 4: Theo th ầy (cô) ở giai đoạn củng cố bài học và trong tiết luyện tập
n ếu sử dụng tốt graph và SĐTD thì tính hiệu quả của chúng như thế nào?
Trang 40Bảng 1.6 Tính hiệu quả của việc sử dụng graph và SĐTD
Tác dụng
Không
hiệu quả (1)
Ít hiệu
quả (2)
Hiệu quả
vừa phải (3)
Rất
hiệu quả (4)
Mức độ
TB
Rèn luyện kĩ năng tổng hợp kiến
thức
Nhận xét:Các GV đều nhận ra được hiệu quả của việc dạy học bằng graph và
SĐTD, mức độ TB đều lớn hơn 2,5 Rõ ràng, graph và SĐTD cần được vận dụng một cách rộng rãi hơn Tuy nhiên, trên thực tế, ở các trường phổ thông lại hoàn toàn ngược lại, việc áp dụng các phương pháp dạy học mới thì rất khó khăn Nó như một luồng gió mới, cần có thời gian để thích nghi và cần được sự cộng tác từ phía HS Một tiết dạy và học đạt hiệu quả tốt khi thầy và trò phối hợp ăn ý một cách nhịp nhàng Muốn làm được điều đó, các thầy cô, cần tác động đến HS phương pháp học tập mới thường xuyên, để HS thấy được cái hay, cái hứng thú, cái hiệu quả của phương pháp học mới mang lại.Vì vậy, tôi đã chọn đề tài lấy HS trung bình, yếu là đối tượng chính để tôi thiết kế các graph và SĐTD phục vụ cho quá trình tự học của các em Tâm lí chung của hầu hết HS là học lí thuyết ít nhưng hiểu bài, làm được bài tập, điểm cao Nắm bắt được tâm lí đó, chúng ta cần cho HS luyện tập thật nhiều dựa vào các graph và SĐTD
Câu 5: Trong năm học, thông thường, khoảng bao nhiêu % tiết dạy thầy (cô) d ạy bằng graph và SĐTD?
Bảng 1.7 Tỉ lệ bài giảng hóa học dùng graph và SĐTD ở THPT