1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang

134 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ Đại Hội Đảng lần thứ VI tháng 12/ 1986 đến nay,đã có một số công trình nghiên cứu khoa học và sách xuất bản có nội dung liên quan đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn như: Trương

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Chuyên ngành : Địa lí kinh tế

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Đàm Nguyễn Thùy Dương, người hướng dẫn khoa học-đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Địa lí trường Đại học sư phạm tp

Hồ Chí Minh đã trang bị kiến thức và góp nhiều ý kiến quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin được cảm ơn BGH trường Đại học sư phạm tp Hồ Chí Minh và các phòng ban KHCN&SĐH của trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian học tập và nghiên

cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến Nông-Khuyến Ngư Kiên Giang và các ban ngành của tỉnh Kiên Giang, đã nhiệt tình giúp đỡ về thông tin, tư liệu

và đóng góp ý kiến cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT An Minh đã giúp đở, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên khích lệ và tạo kiện thuận lợi cho tôi trong quá suốt quá trình học tập và nghiên

cứu hoàn thành luận văn

Tp H ồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2011

Tác gi ả luận văn

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU - 1 -

1 Lý do chọn đề tài - 1 -

2 Mục tiêu và nhiệm vụ - 2 -

2.1 Mục tiêu: - 2 -

2.2 Nhiệm vụ: - 2 -

2.3 Phạm vi nghiên cứu - 2 -

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 3 -

4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu - 4 -

4.1 Hệ quan điểm nghiên cứu: - 4 -

4.2 Phương pháp nghiên cứu - 5 -

5 Những đóng góp mới của đề tài: - 5 -

6 Cấu trúc đề tài - 6 -

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - 7 -

1 Cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - 7 -

1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - 7 -

1.1.1 Cơ cấu kinh tế - 7 -

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - 11 -

1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp- chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - 14 -

1.2.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - 14 -

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: - 16 -

Trang 5

1.3 Sự cần thiết và yêu cầu khách quan của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

trong nền kinh tế quốc dân - 18 -

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - 19 -

1.5 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - 20 -

1.5.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước - 20 - 1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - 25 -

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP TỈNH KIÊN GIANG - 27 -

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang - 27 -

2.2.1 Nguồn lực tự nhiên - 27 -

2.2.1.1 V ị trí địa lý - 27 -

2.2.1.2 Điều kiện tự nhiên - 30 -

2.2.2 Ngu ồn lực kinh tế- xã hội - 38 -

2.2.2.1 Dân s ố, nguồn lao động - 38 -

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật - 42 -

2.2.2.3 Th ị trường - 47 -

2.2.2.4 Đường lối chính sách và các yếu tố khác - 48 -

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang - 48 -

2.2.1 T ổng quan về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung - 48 -

2.2.2 S ự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - 53 -

2.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành - 55 -

2.2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu lâm nghiệp - 66 -

2.2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản - 68 -

2.2.2.4 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ - 74 -

2.2.2.5: Hiệu quả kinh tế một số mô hình - 78 -

Trang 6

2.3 Nhận xét chung về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Kiên Giang -

82 -

2.3.1 Kết quả đạt được - 82 -

2.3.2 Những mặt tồn tại - 83 -

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH KIÊN GIANG - 85 -

3.1 Cơ sở định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Kiên Giang đến năm 2020 - 85 -

3.1.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020- 85 - 3.1.2 Quan điểm và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh đến năm 2020 - 87 -

3.1.2.1 Quan điểm phát triển - 87 -

3.1.2.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp - 87 -

3.1.2.3 Mục tiêu phát triển nông nghiệp - 89 -

3.2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 - 90 -

3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành - 90 -

3.2.2 Chuyển dịch theo lãnh thổ - 95 -

3.2.3 Chuyển dịch theo thành phần kinh tế - 97 -

3.3 Hệ thống các giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang hiệu quả hơn trong thời gian tới - 97 -

3.3.1 Tổ chức, phân bố sản xuất theo hướng phát triển nông nghiệp toàn diện, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến - 97 -

3.3.2 Chú trọng đến phát triển công nghiệp chế biến nông sản - 99 -

3.3.3.Thực hiện phù hợp một số chính sách liên quan trực tiếp đến CDCCKT nông nghiệp trong thời gian tới - 99 -

3.3.4 Đầu từ cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn - 102 -

3.3.5 Công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh - 103 -

3.3.6 Công tác xúc tiến thương mại và hợp tác quốc tế - 103 -

Trang 7

3.3.7 Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo điều hành - 104 - 3.3.8 Đề xuất giải pháp phát triển ổn định mô hình tôm - lúa - 104 - 3.3.9 Hỗ trợ nông dân tự ra quyết định phù hợp về CDCCKT và phát huy tính năng động sáng tạo, tích cực của nông dân - 105 -

KẾT LUẬN - 106 - DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 108 -

Trang 8

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

******

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

******

Bảng 2.1 QUY MÔ VÀ CƠ CẤU ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA KIÊN GIANG TỪ 2000 ĐẾN

2010 - 31 -

Bảng: 2.2 MỘT SỐ SÔNG VÀ KÊNH GẠCH CHÍNH CỦA TỈNH KIÊN GIANG - 36 - BẢNG 2.3: DÂN SỐ VÀ MẬT ĐỘ DÂN SỐ KIÊN GIANG NĂM 2009 - 39 -

BẢNG 2.4 CƠ CẤU LAO ĐỘNG KIÊN GIANG TỪ 2001 – 2009 - 41 -

BẢNG 2.5 CƠ CẤU ( GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH KIÊN GIANG TỪ 2000 - 2009 - 49 -

BẢNG 2.6: CƠ CẤU (GDP) CỦA TỈNH PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2004 - 2010 - 51 -

BẢNG 2.7.CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM, THỦY SẢN KIÊN GIANG- 54 - BẢNG 2.8 CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH NÔNG NGHIỆP CÁC NĂM 2000 - 2009 (Theo giá thực tế ) 55

-Bảng 2.10 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH TRỒNG TRỌT TỪ 2005-2010( theo giá thực tế) - 58 -

BẢNG 2.12: DIỆN TÍCH-NĂNG SUẤT LÚA( 2000-2010) - 59 -

BẢNG 2.13 CƠ CẤU DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG LÚA TỪ 2000-2009 - 60 -

Bảng 2.14: Diện tích gieo trồng cây hàng năm, lâu năm của tỉnh Kiên Giang - 61 -

BẢNG 2.15: SẢN LƯỢNG (TẤN) CÂY HOA MÀU LƯƠNG THỰC - 62 -

BẢNG 2.16 : SẢN LƯỢNG MỘT SỐ CÂY CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU TỪ 2006 - 2009 - 63 - BẢNG 2.17: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH CHĂN NUÔI TỪ 2004 - 2010 - 64 -

BẢNG 2.18: GIA SÚC, GIA CẦM VÀ SẢN PHẨM CHĂN NUÔI CỦA TỈNH - 65 -

BẢNG 2.19 TRỒNG RỪNG VÀ KHAI THÁC LÂM SẢN - 67 -

BẢNG 2.20 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH LÂM NGHIỆP ( theo giá so sánh ) - 68 -

BẢNG 2.21: CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH THỦY SẢN( theo giá hiện hành) -

69 -

Trang 10

BẢNG 2.22: SẢN LƯỢNG THỦY SẢN KIÊN GIANG 2000-2010 - 70 -

BẢNG 2.23: XUẤT KHẨU NÔNG SẢN, THỦY SẢN KIÊN GIANG, 2000 – 2007 (000 SD) - 72 -

BẢNG 2.24 CHI PHÍ SẢN XUẤT CHO MỘT VỤ NUÔI TÔM ( TÍNH CHO 1 HA), MẬT

ĐỘ NUÔI 5CON/M3t - 78 -

BẢNG.2.25 CHI PHÍ SẢN XUẤT VỤ CANH TÁC LÚA ( tính cho 01 ha) 79

Trang 11

-DANH MỤC CÁC HÌNH

*****

Hình 2.1 LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG - 29 -

HÌNH 2.2 LƯỢC ĐỒ ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG - 34 -

Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấu lao động Kiên Giang 20012009 41

-Hình 2.4 : BIỂU ĐỒ CƠ CẤU (GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH 2001-2010 - 50 - Hình 2.5.Biểu đồ cơ cấu (GDP) phân theo thành phần kinh tế 2004-2010 - 52 -

Hình 2.6: Bi ểu đồ gía trị sản xuất ngành nông nghiệp - 57 -

Hình 2.7: Cơ cấu diện tích lúa theo mùa vụ 2000-2009 - 60 -

Hình 2.8: Diện tích cây công nghiệp tỉnh Kiên Giang - 62 -

Hình 2.9: Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 2000-20009 - 70 -

Hình 2.10: Sản lượng thủy sản Kiên Giang 2001-2010 - 72 -

Hình 2.11: Biểu đồ xuất khẩu nông sản, thủy sản Kiên Giang 2000-2007 - 73 -

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một bộ

phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội Phát triển nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nhất là đối với nước ta Tuy nhiên, nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, vẫn còn trên 70% dân số

sống ở nông thôn và có đến 52,5% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế còn thuần nông, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng suất lao động còn thấp Mặc dù nước ta có

những lợi thế, tiềm năng về khí hậu, đất đai, nguồn nước, dân cư, lao động…, nhưng nước

ta chưa khai thác sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lí và có hiệu quả Vì vậy, vai trò nông nghiệp chưa được phát huy

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững,

việc xác định và hoàn thiện một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lí phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan mà còn có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trước tình hình thế giới

và khu vực đang tiếp tục biến động nhanh về nhiều mặt, cạnh tranh về giá cả và chất lượng hàng hóa đang là vấn đề cực kì quan trong có tính quyết định đến sự phát triển toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp của từng quốc gia

Đối với nước ta và các nước trong khu vực có nhiều nét tương đồng nhất là thị trường hàng nông sản có tác động trực tiếp đến hình thành và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, do thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và của nông dân Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

là một trong những vấn đề có ý nghỉa cấp thiết trong quá trình giải quyết những tồn tại, thách thức đang đặt ra cho nền nông nghiệp Việt Nam trong thời kì đổi mới, thực hiện quá trình CNH-HĐH đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, hướng tới nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định đời sống nhân dân gắn liền với đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và mọi gia đình, là một nhu cầu bức xúc đối với kinh tế nông nghiệp trong thời điểm hiện nay của

cả nước chung và của Kiên Giang nói riêng

Trong các tỉnh ĐBSCL, Kiên Giang được xem là tỉnh có lợi thế về sản xuất lương

thực, thực phẩm, trong thời gian qua cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, nhưng tốc độ chuyển dịch chậm, mức sống của người dân nông thôn trong Tỉnh chưa cao

nhất là chỉ tiêu về giáo dục, y tế chậm hơn nhiều so với các tỉnh trong vùng và cả nước Do

đó vấn đề nhanh chóng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong địa bàn tỉnh

là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Mặc dù vấn đề nghiên

Trang 13

cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không mới, nhưng để nghiên cứu sâu vấn đề này ở địa phương (tỉnh nhà) thì chưa được quan tâm sâu sắc

Với thực tiễn nêu trên, mà chúng tôi chọn đề tài “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang ” để nghiên cứu nhằm tìm ra đâu là nguyên nhân dẫn đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm, hiệu quả chuyển dịch chưa cao để từ đó đề ra những

giải pháp thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch nhanh và hiệu quả hơn trong thời gian tới, hơn thế nữa chúng tôi mong muốn đề tài góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh nhà

- Đúc kết các cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng, từ đó áp dụng nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Kiên Giang

- Nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong giai đoạn 2000 – 2010

- Trên cơ sở tìm ra những kết quả và những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông nghiệp

- Đưa ra định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến năm

2020

2.3 Phạm vi nghiên cứu

- V ề nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng ( nông nghiệp - lâm nghiệp – ngư nghiệp)

- V ề không gian: Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Kiên Giang là 6.222 km2, bao gồm 1 thị xã

Hà Tiên, TP Rạch Giá, và 13 huyện, trong đó có 11 huyện thuộc đất liền ( Kiên Lương, Hòn Đất, Châu Thành, tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Giang Thành, U Minh Thượng) và 2 huyện đảo (Phú Quốc, Kiên Hải)

Trang 14

- V ề thời gian: Phần thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được đề cập từ năm

2000 đến 2009 và đưa ra định hướng đến năm 2020

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ Đại Hội Đảng lần thứ VI ( tháng 12/ 1986) đến nay,đã có một số công trình nghiên cứu khoa học và sách xuất bản có nội dung liên quan đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn như:

Trương Thị Minh Sâm (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông

thôn ngo ại thành TP Hồ Chí Minh; Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát tri ển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH-HĐH từ thế kỉ XX đến

th ế kỉ XXI trong “ Thời đại kinh tế tri thức ”; TS Nguyễn Thị Bích Hương (2004) chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ngoài ra còn khá nhiều tổng luận phân tích,khảo luận, bài viết tại các hội thảo khoa

học có liên quan đến các khía cạnh khác nhau đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhìn chung các nghiên cứu này tập trung phản ánh các nội dung sau:

- Làm rõ những vấn đề lí luận về cơ cấu kinh tế nông nghiêp; tính tất yếu khách quan

của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, vai trò và nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ nền nông nghiệp sản xuất

nhỏ, tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa sản xuất lớn

- Trình bày về các nhân tố chủ quan và khách quan tác đông trực tiếp và gián tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò

và xu hướng tác động của khoa học và công nghệ cũng như quá trình toàn cầu hóa và khu

vực hóa

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nội dung quan trong hàng đầu trong quá trình HĐH đất nước trước mắt và lâu dài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trong phạm vi cả nước nói chung của tỉnh Kiên Giang nói riêng trong thời gian qua đã đạt được một số kết

CNH-quả nhất định; Trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được quan tâm nhiều hơn

ở các tỉnh ĐBSCL, nhằm gia tăng hiệu quả sản xuất xóa bỏ tính chất thuần nông tiến lên phát triển những mô hình sản xuất đa dạng nhằm sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động,thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và nâng cao đời sống nhân dân

“Chuy ển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn vùng ĐBSCL” do trung tâm nghiên

cứu kinh tế miền nam thực hiện năm 2000 Tác giả Nguyễn Thị Minh Châu (2004) với bài

viết “ Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ĐBSCL” những năm đầu thế

Trang 15

k ỉ XXI đã đi sâu phân tích các yếu tố tác động đến phát triển về chuyển dịch cơ cấu kinh

t ế nông nghiệp- nông thôn và những vấn đề cấp bách đang đặt ra

4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Hệ quan điểm nghiên cứu:

Quan điểm hệ thống

Địa lí kinh tế học nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các

mối quan hệ tác động qua lại với nhau; tác động giữa các nhân tố của một hệ thống và giữa các hệ thống với nhau để đánh giá chính xác vấn đề cần ngiên cứu

Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Mọi sự vật và hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnh

thổ nhất định Khoa học địa lí tìm ra sự phân hóa của các sự vật hiện tượng và dự kiến sự phân bố của chúng trong không gian

Cơ cấu lãnh thổ Kiên Giang coi như một thể tổng hợp tương đối hoàn chĩnh, trong đó có các

yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau; giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu với việc nâng cao chất lượng

cuộc sống và bảo vệ môi trường… Do vậy, cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển

dịch kinh tế trên địa bàn tỉnh.Từ đó đưa ra những định hướng phát triển có tính tổng hợp

nhằm khai thác tốt nhất những tìm năng

Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Cơ cấu kinh tế, quá trình chuyển dịch kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kì nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kì đó.Việc vận dụng quan điểm lịch sử vào việc nghiên

cứu đề tài để thấy được những biến đổi của các yếu tố kinh tế qua từng giai đoạn phát triển

của lịch sử địa phương trong quá khứ, hiện tại, từ đó đánh giá chính xác các triển vọng phát triển của các ngành kinh tế trên địa bàn trong tương lai

Quan điểm sinh thái và phát triển nông nghiệp bền vững

Tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp phải được xem xét theo không gian và

thời gian Tức là phải xem xét các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của phát triển nông nghiệp đến các thành phần cấu thành của hệ sinh thái nông nghiệp cũng như các sinh thái khác theo mức độ không gian, hệ sinh thái luôn biến đổi theo thời gian Do vậy khi nói đến

hệ thống nông nghiệp bền vững cũng phải nói đến những biến đổi có thể xảy ra trong hệ sinh thái nông nghiệp, từ đó các hoạt động con người phải được điều chỉnh thích hợp theo

thời gian, đảm bảo tính bền vững lâu dài của nó Khi chuyển dich

Trang 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin làm phương pháp nghiên cứu chung kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu riêng phối hợp với từng nội dung tính

chất, đặc điểm yêu cầu phân tích từng phần của luân văn Đồng thời bám sát đường lối đổi

mới của Đảng - Nhà nước.Trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Ngoài ra sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

-Phương pháp thống kê miêu tả, so sánh, đối chiếu và qui nạp được sử dụng có thể

đưa ra một cái nhìn tổng quát, sát thực và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác

động, các kết quả và hiệu quả kinh tế xã hội do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại

- Phương pháp phân tích hệ thống

Thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp Kiên Giang được nhận biết thông qua phân tích các

mối quan hệ về không gian, thời gian về các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế

- Phương pháp thu thập tài liệu

Để phân tích đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành, theo lãnh thổ để rút ra bản chấn của hiện tượng kinh tế, hiện tượng địa lí để giải quyết vấn đề chúng ta tiến hành thu thập số liệu, tư liệu từ các báo cáo của ác bộ ngành và từ các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã công bố

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Dùng để mô tả hiện trang kinh tế sự phân bố các hiện tượng địa lí kinh tế các mối quan hệ lãnh thổ, trong không gian, những dự kiến phát triển kinh tế

- Phương pháp thực địa

Khảo sát một số huyện trong tỉnh để kiểm định các thông tin từ số liệu thu thập được, đồng

thời nhằm phát hiện những điểm mới so với số liệu ban đầu

5 Những đóng góp mới của đề tài:

- Dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình đã nghiên cứu và công bố của

một số tác giả nói trên nhằm làm rõ những vấn đề lí luận, thực tiển chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp và vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh Kiên Giang

- Phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh và thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhìn dưới góc độ địa lí kinh tế xã hội

- Đưa ra định hướng, đề xuất giải pháp thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp của

tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh trong

thời gian tới

Trang 17

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ Sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chương 2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Kiên Giang

Chương 3 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

1 Cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.1 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu là tập hợp những quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố

cấu thành nên hệ thống trong một thời gian nhất định Như mọi sự vật, hiện tượng, cơ cấu

của hệ thống chuyển đổi và biến động không ngừng, nó có thể phát triển một cách tuần tự

hoặc không tuần tự Sự thay đổi của cơ cấu sẽ làm cho tính chất, trình độ của hệ thống thay đổi theo Theo lí thuyết hệ thống, cơ cấu được hiểu là một thực thể gồm nhiều phần tử khác nhau: có cấu trúc và được cấu trúc theo những kiểu nhất định Một hệ thống sẽ bao gồm

những thành tố (phần tử) là những hệ thống con, mỗi hệ thống con này lại là tập hợp của

những hệ thống nhỏ hơn Mỗi hệ thống đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết

với các hệ thống khác cùng cấp, đồng thời với các phần tử trong mỗi hệ thống cùng tồn tại

và phát triển cùng nhau tạo nên sự phát triển chung cho cả hệ thống

Theo quan điểm duy vật biện chứng và lí thuyết hệ thống, ta có thể hiểu:

“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố kinh tế có mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng của nền kinh tế quốc dân với sự vận động không ngừng

nhằm vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ

cấu xã hội và chế độ xã hội”

Như vậy cơ cấu kinh tế hay hệ thống kinh tế là tổng thể hợp thành bởi nhiều phần tử, thành phần của nền kinh tế Nó biểu thị nội dung, cách thức cấu trúc của các phần tử mà

giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng trong những không gian và điều kiện lịch sử kinh tế xã hội, chúng vận động hướng vào

những mục tiêu nhất định

Đặc trưng của cơ cấu kinh tế

+ Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, luôn phản ánh và chịu sự tác động của qui

luật khách quan

Thông qua nhận thức của các qui luật khách quan, có thể phân tích, đánh giá xu hướng phát triển khác nhau hoặc những mâu thuẫn của cơ cấu kinh tế,…Từ đó tìm ra phương án thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trong quá trình phát triển nền kinh tế Với một lãnh thổ (vùng, tỉnh,…hay quốc gia) hay một ngành, cơ cấu kinh tế được nhận thức và phản ánh qua các chiến lược phát triển kinh tế xã

Trang 19

hội, định hướng phát triển hoặc trong các công trình dự án, kế hoạch phát triển của nhà nước, địa phương hoặc nền kinh tế nào đó, …

+ Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử

Nền kinh tế chỉ phát triển được khi đã xác định được mối quan hệ cân đối giữa các

bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội trong những điều

kiện lịch sử cụ thể Coq cấu kinh tế luôn gắn liền với sự biến đổi không ngừng của từng yếu

tố, các phần tử trong nền kinh tế Chính vì vậy mà cơ cấu kinh tế không phải là bất biến mà

nó có thể thay đổi Nó chỉ phù hợp ở giai đoạn lịch sử này mà không phù hợp với những giai đoạn lịch sử khác

+ Cơ cấu kinh tế luôn vận động và phát triển ngày càng hợp lí, hoàn thiện và đạt hiệu

quả cao hơn

Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng cao hơn, phạm vi hoạt động ngày càng đưoực mở rộng Khoa học kĩ thuật của xã hội ngày càng tiến bộ làm cho lực lượng sản xuất và cấu trúc của lực lượng sản xuất có sự biến đổi về

chất, điều đó sẽ tạo điều kiện cho việc hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lí ở từng thời

kì lịch sử xã hội cụ thể Cơ cấu kinh tế hợp lí phải là cơ cấu phù hợp với điều kiện thực tế

của lãnh thổ và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường cao nhất, tạo nên sự phát triển

vi mỗi ngành mỗi vùng mỗi quốc gia mà phải mở rộng ra các nước trong khu vực và trên

thế giới Mỗi quốc gia phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lí dựa trên những lợi thế có sẵn

của mình, phù hợp với thị trường trong nước và quốc tế Tóm lại, cơ cấu kinh tế là thuộc tính có ý nghĩa quyết định của nền kinh tế, nó phản ánh tính chất và trình độ phát triển của

nền kinh tế, nó phản ánh số lượng và chất lượng của các phân tử hợp thành trong mối quan

hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hệ thống kinh tế vận động và phát triển không ngừng

Hiện nay, việc lựa chọn và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một yêu cầu có ý nghĩa

rất quan trọng và cần thiết để đảm bảo sự thành công của các mục tiêu chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn tới Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm thực hiện thành công quá trình

Trang 20

CNH – HĐH của nước ta trong điều kiện nền kinh tế đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới

cả chiều sâu lẫn chiều rộng

N ội dung của cơ cấu kinh tế

Về cơ bản, cơ cấu kinh tế bao gồm:

- Cơ cấu kinh tế ngành( xét dưới góc độ phân công lao động xã hội theo ngành)

- Cơ cấu kinh tế lãnh thổ(xét dưới góc độ phân công lao động xã hội theo vùng lãnh thổ)

Cơ cấu thành phần kinh tế(xét dưới góc độ phân công theo quan hệ sở hữu)

Ngoài ra, cơ cấu kinh tế có thể được xét dưới những góc độ khác nhau, nhưng nội dung trên đây là cách tiếp cận được chấp nhận phổ biến nhất

a Cơ cấu ngành của nền kinh tế(Cơ cấu kinh tế ngành)

Cơ cấu ngành của nền kinh tế là biểu hiện quan trọng nhất và đặc trưng nhất của cơ

cấu kinh tế Nó là tổ hợp các ngành, các tương quan tỉ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành, nhóm ngành tạo nên nền kinh tế quốc dân Đây là kết quả của sự phân công lao động theo ngành, phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của nền kinh

tế Cơ cấu ngành của nền kinh tế thường được xét dưới các góc độ sau:

- Cơ cấu theo ba nhóm ngành lớn: Mỗi nhóm ngành bao gồm nhiều ngành có dặc tính kinh tế và kỹ thuật giống nhau Nhóm ngành nông - lâm - thủy sản gồm các ngành trồng

trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản; nhóm ngành công nghiệp – xây dựng gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp kỹ thuật, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và

xuất khẩu, công nghiệp lọc dầu, ngành xây dựng; nhóm ngành dịch vụ gồm thương mại , du

lịch, giao thông vận tải, tài chính – ngân hàng, bưu điện và các ngành dịch vụ khác

- Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức và công nghệ sản xuất: nông nghiệp và phi ngông nghiệp

Nhóm ngành nông nghiệp bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và

thủy sản

Nhóm ngành phi nông nghiệp gồm: các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Các ngành nông nghiệp thường có phương thức sản xuất đơn giản và công nghệ tạo

ra sản phẩm không cao, còn các ngành phi nông nghiệp thì ngược lại Do đó, trong một nền kinh tế, nhóm ngành phi ngông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn và ngày càng phát triển thì nền kinh tế đó càng phát triển ở trình độ cao, thường phổ biến nhất ở các nước phát triển Còn các nước đang phát triển trên thế giới, ngành nông nghiệp thường chiếm tỉ lệ lớn biểu hiện ở

những nước này công nghiệp sản xuất không cao

- Cơ cấu theo 2 nhóm ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng, gồm: ngành sản

xuất vật chất và nhóm ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ Giữa 2 nhóm ngành này có mối

Trang 21

quan hệ khăng khít với nhau theo một tương quan nhất định dựa trên khả năng đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế của mỗi nhóm ngành Các ngành dịch vụ phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất Khi phân tích cơ cấu kinh tế nhằm phát huy một cách toàn diện giữa 2 nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ làm cho nền kinh

tế có sức mạnh tổng hợp, có sự cân đối giữa đầu vào( sản xuất) và đầu ra( tiêu thụ) thì cần

phải nghiên cứu kỹ lưỡng cơ cấu giữa 2 nhóm ngành này

Cơ cấu giữa các nhóm ngành kinh tế phản ánh tương quan tỉ lệ, vai trò, vị trí của mỗi nhóm ngành và liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế Nó phản ánh trình độ phân công lao động xã hội theo ngành ở cấp cao nhất, trình độ phát của sức sản xuất Hiện nay, sự thay đổi

mạnh mẽ, nhanh chóng cơ cấu kinh tế ngành là yêu cầu đặc trưng của các nước đang phát triển, nhất là những quốc gia đang thực hiện quá trình CNH-HĐH Khi phân tích cơ cấu ngành kinh tế của nền kinh tế thường đứng trên các góc độ định lượng và định tính Về mặt định lượng, cơ cấu nghành kinh tế bao gồm số lượng ngành kinh tế và tỉ trọng của từng ngành trong tổng thể của nền kinh tế quốc dân Về mặt định tính, cơ cấu kinh tế ngành thể

hiện mối quan hệ giữa các ngành về vị trí của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân

Việc xác định cơ cấu kinh tế ngành như thế nào là hợp lí nhằm khai thác có hiệu quả

những lợi thế của đất nước, của địa phương, tăng khả năng đóng góp cao nhất của từng ngành kinh tế trong việc tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế trong hiện tại và tương lai

b Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ (cơ cấu lãnh thổ)

Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ (cơ cấu lãnh thổ) là biểu hiện vật chất cụ thể của việc phân công lao động và chuyên môn hóa hóa sản xuất theo lãnh thổ trong quá trình phát triển

của nền kinh tế

Sự hình thành và phát triển kinh tế theo lãnh thổ dựa vào nhiều yếu tố, trong đó ngành gắn liền với sự hình thành, phân bố dân cư và lao động; dựa vào lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, về những yếu tố nhân văn, cơ sở vật chất kĩ thuật – cơ sở hạ tầng,…thường được ưu tiên phát triển trước

Việc xác định cơ cấu lãnh thổ hợp lí nhằm xóa bỏ sự phát triển manh mún, nhỏ lẻ không đồng đều của nền kinh tế trên các lãnh thổ, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành kinh tế lãnh thổ, sử dụng một cách có hiệu quả tiềm năng của mỗi lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định về kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên Sự phát triển kinh tế theo lãnh thổ sẽ thúc đẩy các vùng kinh tế phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, mỗi vùng với thế mạnh riêng của mình sẽ trở thành những hạt nhân thúc đẩy sự phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội đất nước

Trang 22

Khi phân tích cơ cấu kinh tế lãnh thổ, người ta thường xem xét nó dưới các góc độ:

- Các vùng kinh tế: người ta thường phải chia lãnh thổ của quốc gia thành những vùng kinh tế có qui mô lớn (dựa vào những tiêu chí nhất định để xác định) để hoạch định chiến lược và chính sách phát triển phù hợp Chúng có ý nghĩa to lớn trong việc tạo nên khung sườn để các tỉnh trong vùng hoạch định phương hướng phát triển riêng cho mình

- Khu vực thành thị - nông thôn: đặc trưng cơ cấu ngành và tổ chức sản xuất của 2 lãnh thổ này khác nhau tạo nên sự phát triển hài hòa, hợp lí giữa khu vực thành thị và nông thôn về kinh tế sẽ đem lại những tiền đề cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung

- Ngoài ra, còn những cơ cấu lãnh thổ khác như: giữa lãnh thổ phát triển và lãnh thổ châm phát triển, giữa lãnh thổ động lực và các lãnh thổ còn lại,…Những lãnh thổ này cần được phân tích và xem xét nhằm tìm ra những cách thức phát triển cho mỗi lãnh thổ, tạo nên

sự phát triển hài hòa giữa các lãnh thổ

c Cơ cấu thành phần kinh tế

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất là căn cứ hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Khi

đó, cơ cấu kinh tế là tập hợp của các thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập

thể, kinh tế tư nhân,…Một nền kinh tế có thành phần kinh tế hợp lí là phải dựa trên cơ sở hệ

thống, tổ chức với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội lên các quân hệ sản xuất làm biến đổi các hiện tượng và quá trình phát triển kinh tế của từng lãnh thổ và cả nước

Giữa cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế luôn có mối quan hệ

chặt chẽ với nhau Cơ cấu ngành ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể chuyển dịch đúng,

hợp lí trên một phạm vi không gian lãnh thổ nhất định, hoặc việc phân bố không gian lãnh

thổ một cách hợp lí có ý nghĩa thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế

1.1 2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế”

Theo quan điểm kinh tế hệ thống nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp và năng động gồm nhiều yếu tố có bản chất khác nhau, hoạt động theo qui luật khác nhau, tác động qua lại với nhau, cùng vận động và phát triển để hình thành một cơ cấu kinh tế nhất

Trang 23

định cho từng giai đoạn Vì vậy, cơ cấu kinh tế mang tính khách quan bởi nó phản ánh sự

vận động của các qui luật phát triển khách quan Các yếu tố chủ quan sẽ có vai trò trong

việc xác định cơ cấu là thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những qui luật đó để phân tích, đánh giá những xu thế phát triển khác nhau, từ đó tìm ra những phương hướng phản ánh thay đổi cơ cấu có hiệu quả nhất cho điều kiện cụ thể của từng lãnh thổ ( địa phương,

quốc gia,…)

Cơ cấu của mỗi nền kinh tế có sự khác nhau qua từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử,

chịu sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau Dù trong thời gian nào, dưới hình thái xã hội nào thì nền kinh tế cũng chỉ được giữa những bộ phận của quá trình tái

sản xuất xã hội xác lập được những điều kiện kinh tế xã hội quy định Sự tất yếu phân công lao động theo những tỉ lệ nhất định không thể bị triệt tiêu bởi một hình thái nhất định nào đó

của xã hội, chỉ có hình thái biểu hiện của nó có thể thay đổi ( Các Mác) Do đó, trong quá trình đổi mới nền kinh tế nếu không có sự chuyển biến đáng kể tỉ lệ giữa các khu vực kinh

tế theo cơ cấu tiến bộ, hợp lý sẽ không có sự phát triển ổn định và lâu dài cho nền kinh tế

đó

Như vậy, trong mỗi giai đoạn phù hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất

sẽ xuất hiện khả năng hình thành một cơ cấu kinh tế phù hợp ứng với giai đoạn đó Nếu sự phát triển kinh tế không tương ứng với điều kiện hiện có và những qui luật khách quan của quá trình phát triển sản xuất thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển Còn nếu cơ cấu kinh tế phù

hợp với điều kiện hiện có của lảnh thổ và qui luật khách quan thì nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi Vì thế, việc xác định được một cơ cấu kinh tế đúng đắn trong thời điểm hiện tại

và mô hình cơ cấu kinh tế trong tương lai – sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - sẽ tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững cho quá trình phát triển kinh tế cho đất nước hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn phải dựa trên cơ cấu kinh tế hiện tại đang có của lãnh thổ bằng cách cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện hiện có để xây

dựng một cơ cấu kinh tế tiên tiến, hiện đại và phù hợp hơn

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình có chủ đích nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định Đây là một quá trình nhằm tích lũy về lượng

để dẩn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế

Cơ cấu chuyển dịch theo những yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn và có tính qui luật trong điều kiện cụ thể:

- Tỉ trọng ngành công nghiệp- dịch vụ tăng, tỉ trọng nông nghiệp giảm trong nền kinh

tế Những ngành có sử dụng công nghệ cao, năng xuất lao động lớn sẽ tăng còn

Trang 24

những ngành ít sử dụng công nghệ hiện đại, năng suất thấp sẽ có xu hướng ngày càng

giảm đi

- Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có diễn biến đồng thời, tỉ trọng trong bộ phận kinh tế

tư nhân ngày càng tăng, tỉ trọng kinh tế nhà nước giảm tương đối, song vai trò chủ đạo và then chốt của nó có thể thay đổi Các hình thức kinh tế hổn hợp có thể phát triển(cổ phần, liên doanh)…

- Cơ cấu kinh tế có thể thay đổi từ đơn giản đến phức tạp nhằm đem lại những lợi ích

lớn hơn cho nhu cầu của con người ở mỗi thời kỳ khác nhau

Cơ cấu kinh tế có những biến đổi, nhưng mức độ tính phức tạp bởi sự phát triển không

nhịp nhàng giữa các ngành, các lãnh thổ và thành phần kinh tế chịu sự chi phối của nhiều

yếu tố khác nhau Dù có sự biến đổi nhưng nếu cơ cấu kinh tế còn thích ứng với điều kiện (tự nhiên, kinh tế - xã hội) của lãnh thổ, chưa gây trở ngại cho sự phát triển của từng thành

tố và cả hệ thống nền kinh tế thì chưa cần phải xác định lại cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ diễn ra khi:

- Có sự thay đổi về điều kiện phát triển ( Vốn, kĩ thuật, thị trường, nguyên liệu, lao động,…)

- Có những khả năng và biện pháp mới làm thay đổi phương thức khai thác các điều

với nhịp độ cao và ổn định, thỏa mản được các nhu cầu của đời sống sản xuất và sinh hoạt

của xã hội thì phải xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, các ngành kinh tế quốc dân phải được trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến… Quá trình này gắn bó mật thiết với quá trình công nghiệp hóa Hay nói cách khác, muốn có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì phải tiến hành công nghiệp hóa, quá trình công nghiệp hóa càng được đẩy mạnh thì cơ cấu kinh tế càng chuyển dịch mạnh mẽ tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, giúp khai thác hợp lý và tối ưu các nguồn lực của lãnh thổ

Hiện nay trên thế giới đang diển ra 2 xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

- Chuyển từ kinh tế sản xuất vận chất sang khu vực dịch vụ ( ở các nước phát triển),

- Chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất: Tăng tỉ

trọng công nghiệp – xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp Thường diển ra phổ biến ở các nước đang phát triển Ở một số nước đang phát triển, do ảnh hưởng của xu hương

Trang 25

quốc tế hóa nền kinh tế và ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại nên

đã thực hiện cùng một lúc 2 bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Các nguyên t ắc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với sự phát triển của sức sản xuất và quan

hệ sản xuất, phải đảm bảo kết quả trước mắt và lâu dài, giữa hiệu quả cục bộ và hiệu

quả toàn bộ, đem lại lợi ích cho nhiều người và cho xã hội, đảm bảo tăng cường tính

tự chủ của nền kinh tế và an ninh quốc gia

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng về qui mô,

chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững dựa trên cơ sở sử dụng có

hiệu quả các lợi thế so sánh , hội nhập nền kinh tế thế giới, những tiến bộ khoa học

kỹ thuật…

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể diển ra một cách tuẩn tự hoặc có thể diển ra một cách đột biến hay nhảy vọt

1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp- chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.2.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vận chất ra đời sớm nhất trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân của xã hội Đây là ngành có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế và có ý nghĩa mang tính quyết định sự ổn định sự phát triển kinh tế xã hội của

mỗi quốc gia

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế bao gồm các quan hệ tương tác giữa các

yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp trong khoảng

thời gian và điều kiện cụ thể nhất định ( tự nhiên, khoa học tự nhiên, trình độ phân công lao động, kỹ thuật và trình độ tổ chức, quản lý,…) nó được biểu hiện bằng sự tương quan về số lượng và chất lượng của mối quan hệ trên

Cơ cấu nông nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: cơ cấu ngành, cơ cấu lao động,

cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ….Các bộ phận này có mối quan hệ tương tác

lẩn nhau Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận trong nông nghiệp sẽ thay đổi dẫn đến tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và hình thành các tổ chức sản xuất mới

Theo Lê Đình Thắng 1998 “ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là một tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn, nó có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo những tỹ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất, các bộ

Trang 26

phận kinh tế tác động qua lại lẩn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp

với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao”

Đặc trưng của cơ cấu nông nghiệp

Cơ cấu nông nghiệp luôn biến động theo thời gian và không gian cho phù hợp với

những điều kiện cụ thể và những yêu cầu trong từng thời kỳ khác nhau Tuy nhiên, do nông nghiệp có những đặc thù riêng nên nó cũng tạo nên cơ cấu nông nghiệp có những đặc trưng riêng:

- Mang tính khách quan và được hình thành do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

- Mang tính lịch sử - xã hội, do đó cơ cấu nông nghiệp không bất biến mà luôn biến đổi để phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với những yêu cầu nhất định của xã hội…

- Cơ cấu nông nghiệp là một hệ thống mở có mối quan hệ tác động qua lại với hệ

thống khác và mối quan hệ càng được mở rộng trong quá trình phân công và hợp tác lao động

Các khía c ạnh biểu hiện của cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một phạm trù kinh tế nhiều mặt, nhiều mối quan hệ của nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngành kinh tế nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp bao gồm chủ

yếu: cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo lãnh thổ và thành phần kinh tế

Cơ cấu nông nghiệp theo ngành

Đây là nội dung quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nó phản ảnh số lượng, vị trí, tỉ trọng các bộ phận cấu thành nên ngành kinh tế nông nghiệp

Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn theo nghĩa rộng còn bao gồm lâm- thủy sản nữa Trong đó, nông nghiệp bao

gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; lâm nghiệp bao gồm trồng, khai thác

rừng và dịch vụ lâm nghiệp, thủy sản bao gồm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ thủy

sản

Cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ

Đây là cơ cấu phản ánh mối quan hệ về số lượng, vị trí, tỉ trọng của các đơn vị lãnh

thổ nông nghiệp trong nền kinh tế nông nghiệp, đồng thời có thể phản ánh tiềm năng kinh tế

xã hội và khả năng khai thác các tiềm năng đó cho những mục tiêu phát triển nông nghiệp

nhất định của các lãnh thổ

Cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ được hình thành dựa vào sự bố trí không gian sản

xuất nông nghiệp trên các vùng lãnh thổ và gắn bó chặt chẽ với cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trang 27

theo ngành trong một thể thống nhất, nó biểu hiện sự phân công lao động trong nông nghiệp trên lãnh thổ nhất định Căn cứ để xây dựng nên những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp khác nhau chính là sự khác biệt giữa các lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện kinh tế xã hội ( dân cư, lao động, nhu cầu thị trường, cơ sở vật chất kĩ thuật…) Các đơn vị lãnh thổ nông nghiệp này tuy có sự khác biệt với nhau song giữa chúng lại tồn

tại mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau – đó là cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế

Đây là cơ cấu phản ánh mối quan hệ về số lượng, vị trí, tỷ trọng của các thành phần kinh tế tạo thành nền kinh tế nông nghiệp Nó được hình thành dựa trên cơ sở là chế độ sở

hữu tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế nhà nước ( trung ương, địa phương), kinh tế ngoài nhà nước ( kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, cá thể…) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình thay đổi các yếu tố và mối quan

hệ giữa các yếu tố, cấu trúc lên cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chuyển dịch cả về số lượng, cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành

phần kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp,…

- Chuy ển dịch cơ cấu ngành: là sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành, nhóm ngành trong cơ

cấu kinh tế nông nghiệp Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung hiện nay là chuyển từ nền nông nghiệp tự cung, tự cấp, manh mún, năng suất thấp sang một nền nông nghiệp hàng hóa, thâm canh, đa dạng hóa sản phẩm và đặc biệt là tạo ra nhiều sản

phẩm có giá trị xuất khẩu cao

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ, biểu hiện ở chỗ hình thành nên

những vùng sản xuất mang tính chuyên môn hóa có sự ổn định về sản xuất, quy mô và đảm

bảo chất lượng sản phẩm đồng thời đảm bảo những yêu cầu về mặt tạo ra việc làm, nâng thu

nhập cho người lao động, khai thác và sử dụng hợp lí và hiệu quả các tài nguyên và điều

kiện cho sự phát triển nông nghiệp của lãnh thổ

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế diễn ra do sự tác động

của các nhân tố kinh tế xã hội khác nhau trong đóchủ yếu là do định hướng về mặt công tác

xã hội, các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp cũng giống như các thành

phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân: kinh tế tư nhân, kinh tế nước ngoài,…

Hiện nay, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển trên thế giới và khu vực( bao gồm cả Việt Nam), thường lấy quá trình CNH – HĐH làm

Trang 28

trung tâm, tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các quốc gia này như sau:

- Tăng giá trị hàng hóa nhưng vẫn phải bảo đảm an ninh lương thực cho quốc gia, tạo nên sự

ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nền nông nghiệp đó phải là nền nông nghiệp đa

dạng hóa cây trồng vật nuôi, tập trung sản xuất hàng hóa để tạo ra thu nhập cao, tạo ra sự thay đổi về tỉ trọng giữa các ngành nông nghiệp: các cây hàng hóa, chăn nuôi, thủy sản sẽ tăng dần tỉ trọng; còn cây lương thực sẽ giảm tỉ trọng nhưng vẫn phải đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu cho nhân dân trong nướ( an ninh lương thực) và cho chăn nuôi phát triển

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra theo hướng chuyên môn hóa và đa dạng hóa:

Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp nhằm tạo nên tính mềm dẻo cho nông nghiệp Có

thể tạo sự đa dạng hóa của cả nước qua sự chuyên môn hóa vùng Tuy nhiên, chuyen môn hóa vùng chỉ có thể đạt được khi có sự tổ chức chặt chẽ trong các ngành chuyên môn hóa

của vùng nhưng nó lại không thể tiến hành được ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau

Do vậy, trong một vùng cần phải đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp để phát triển nền

sản xuất hàng hóa từ tình trạng tự cung, tự cấp Quá trình này có thể trãi qua 3 giai đoạn:

- Sản xuất tự cấp, độc canh một hay vài loại cây lương thực phục vụ cho nhu cầu tại chỗ

- Chuyển sang canh tác đa dạng và đa canh: ngoài cây lương thực kết hợp trồng thêm

những loại cây trồng có giá trị hàng hóa: rau, quả, cây nông nghiệp, chăn nuôi,…

- Chuyển sang chuyên hóa một sản phẩm nông nghiệp chính, đầu tư giống, kỹ thuật

nhằm tăng năng suất, lấy mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận kinh tế

Đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp khác nhau là đa dạng hóa ngang

Đa dạng hóa dọc của một ngành là việc phát triển nó gắn liền với công nghiệp chế biến và lưu thông để nâng cao giá trị tăng thêm của sản phẩm

Đa dạng hóa cấp vùng có thể coi là một trung gian để tiến tới chuyên môn hóa cấp vùng dựa trên sự phát triển của công nghệ và tổ chức sản xuất, thị trường theo kiểu hệ thống nông – công nghiệp( hay vùng chuyên môn hóa công nghiệp nhỏ)

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo xu hướng, chức năng thương mại

của nông nghiệp Thực tế ta thấy: ngoài chức năng kinh tế nông nghiệp còn đảm nhận thêm

một chức năng quan trọng – đảm bảo an ninh lương thực, duy trì văn hóa, cảnh quang môi trường,…nhiều nước trên thế giới( các nước phát triển) do quá chú ý đến phương diện kinh

tế của nông nghiệp mà đã phải trả giá cho việc khai thác quá mức dẫn đến sự suy thoái khó

phục hồi của các tiềm năng phát triển nông nghiệp( đất đai, nguồn nước, sinh vật,…) Do

vậy các nước đang phát triển như chúng ta đi sau phải hết sức thận trọng trong việc phát

Trang 29

triển nông nghiệp, tránh sai lầm bằng cách phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp cần phải chú ý tới sự cân bằng giữa các vai trò kinh tế và phi kinh tế của nhà nước, nhằm tạo nên sự phát triển lâu dài cho nền kinh tế này

1.3 Sự cần thiết và yêu cầu khách quan của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Chuyển dịch CCKT nông nghiệp được coi như một bộ phận cấu thành trong chiến

lược kinh tế - xã hội quốc gia, bởi lẽ, để triển khai công cuộc CNH, HĐH đất nước, trước

h ết phải thực hiện CNH, HĐH nền nông nghiệp (Thông báo Hội nghị Trung ương lần thứ

10 khóa VIII) mà trong đó, nội dung cốt lõi của bước đi ban đầu là chuyển dịch CCKT nông nghi ệp và xây dựng nông thôn kiểu mới

Chuyển dịch CCKT nông nghiệp sở dĩ đang là một đòi bức xúc bởi việc thực hiện

CNH, HĐH nước ta đang xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp với gần 80% dân cư lao

động nông nghiệp là lực lượng sản xuất vốn dĩ lạc hậu Đặc trưng này cũng phản ánh tính khó khăn phức tạp của quá trình chuyển đổi đó, vì đây cũng xem như xác lập lại trật tự kinh

tế mới trong nông nghiệp Mặt khác, chuyển dịch CCKT nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là một tiến trình đồng bộ bao gồm: Chuyển dịch CCKT ngành nông nghiệp, cơ

cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế trong nông nghiệp, đồng thời với việc hình thành các loại hình kinh tế mới ở nông thôn theo cơ chế kinh tế thị trường

Quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình

CNH, HĐH đất nước, vì nó là nhân tố tạo thế ổn định cho quá trình đó Chuyển dịch CCKT

nông nghiệp cũng là quá trình thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đi xa hơn nữa, đây

là giải pháp tốt ưu làm giảm sự cách biệt về đời sống kinh tế, văn hóa, dân trí giữa thành thị

và nông thôn để tiến tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Chuyển dịch CCKT là một bộ phận hữu cơ của quá trình chuyển dịch CCKT quốc dân theo hướng CNH, HĐH của đất nước Do đó, khi nghiên cứu vấn đề chuyển dịch CCKT nông nghiệp cũng có ý nghĩa là quá trình này cần sự hỗ trợ đầy hiệu lực của cơ chế vận hành thích ứng ở tầm vĩ mô và vi mô

Quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, ngoài việc lựa chọn các bước đi và phương pháp thích hợp có nguyên tắc, cũng cần có những bước đi và phương pháp đặc thù

g ắn với đặc điểm kinh tế theo vùng và lãnh thổ

Mặt khác, việc chuyển dịch CCKT nông nghiệp sẽ khó thực hiện, nếu thiếu những

tiền đề và hỗ trợ thiết yếu như:

- Điện khí hóa nông thôn cần đi trước một bước tạo nền cho quá trình chuyển dịch

Trang 30

- Xây d ựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp, mở rộng hệ thống giao thông, chủ lực là

hệ thống giao thông đường bộ, tiếp ứng cho việc chuyển dịch CCKT ngành, vùng và bố trí

lại dân cư

- T ạo nguồn hỗ trợ đầu tư để khai thác mọi nguồn lực và phát triển các thế mạnh

kinh tế nông nghiệp của vùng và lãnh thổ

- Đào tạo nhân lực cho nông thôn, tạo nhân tố trung tâm, quyết định thành công của

quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp

Trong những năm qua, nhờ đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ đáng

kể, đời sống nhân dân được ổn định và từng bước được cải thiện Tuy nhiên, vẫn còn nhiều

vấn đề về sản xuất và đời sống đang đặt ra gay gắt như: nghèo đói, thiếu việc làm, du canh

du cư, di dân tự do, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng trong nước, môi trường bị suy thoái… Chuyển dịch CCKT nông nghiệp đảm bảo cho quá

trình phát triển ổn định , bền vững là vấn đề lớn và phức tạp, cần phải giải quyết nhiều vấn

đề cả lý luận và thực tiễn Đây là một quá trình thống nhất giữa các khâu từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đến chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; cũng là quá trình giảm tỉ

tr ọng nông nghiệp tăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ tại nông thôn Từ đó nông thôn nước ta sẽ chuyển từ một nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp sang nền văn minh công nghi ệp Muốn vậy, cần phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, chuyển dịch CCKT nông

nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia Sản

xuất nông, lâm, ngư nghiệp phải từng bước hiện đại hóa, cơ cấu hóa, phát triển giao thông, thông tin và áp dụng các thành tựu của cách mạng sinh học Chuyển dịch CCKT nông nghiệp, cần phát triển công nghiệp, bao gồm công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phát tri ển các ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương tác giữa

các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Nó được biểu hiện bằng

sự tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ nói trên Cơ cấu này phụ thuộc vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp có thể phân thành các nhân tố như sau:

a) Nhóm nhân t ố tự nhiên: trước hết là điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu có ý nghĩa

to lớn đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Là ngành sản xuất mà đối tượng của nó là thế

giới sinh vật, nó phát triển theo quy luật tự nhiên và gắn với điều kiện tự nhiên rất chặt chẽ

Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào để tạo ra

những sản phẩm chất lượng cao có thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Trang 31

b) Nhóm nhân t ố về kinh tế và tổ chức: trong đó vấn đề thị trường và các nguồn lực

có ý nghĩa hết sức quan trọng Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và chuyển dịch CCKT nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Chính sách phát triển kinh tế hàng hóa và chính sách khuyến khích xuất khẩu đã tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp đa canh, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa với quy mô ngày càng lớn

c) Nhóm nhân t ố về kỹ thuật: tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và chuyển dịch

CCKT nông nghiệp Nó mở ra những triển vọng to lớn trong việc áp dụng công nghệ mới vào canh tác, chế biến và bảo quản nông sản nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản

phẩm để có thể hòa nhập vào thị trường thế giới

Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm cơ cấu kinh

t ế ngành, cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu kỹ thuật Giữa chúng có mối

quan hệ chặt chẽ với nhau

Ở nước ta, trong một thời gian dài, do nhận thức không đúng, coi thiên nhiên là vô

tận, vì thế ít quan tâm bảo vệ môi trường tự nhiên Gần đây, chúng ta nhận thức được sự hủy

hoại môi trường tự nhiên đã ở mức nghiêm trọng trong đó những người hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có vai trò hết sức quan trọng

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, mỗi nhân tố điều

có vai trò, vị trí và tác động nhất định tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông thôn Có những nhân tố tác động tích cực, có những nhân tố tác động tiêu cực, có nhân tố vào thời điểm này, vùng này được coi là năng động, nhưng vào thời điểm khác, vùng khác

lại được coi là trì trệ đối với sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp Như vậy, chúng ta có thể tìm ra được các lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương, để từ đó đề xuất được phương pháp chuyển dịch CCKT nông nghiệp hợp lý, hài hòa, thích hợp nhất với mỗi vùng kinh tế

1.5 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước

• Kinh nghiệm của Nhật Bản

Ngay từ những năm 50, trong chính sách khôi phục kinh tế, chính phủ Nhật

Bản đã coi trọng sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng, sớm tìm được hướng đi và bước đi thích hợp cho nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng, nhất là chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Đến nay, Nhật Bản đã có

một nền nông nghiệp đa dạng, hiện đại, có một cơ cấu hợp lý, có thể rút ra một số

Trang 32

kinh nghiệm sau:

- Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất, tự do hóa nông thôn, xem trọng hình

thức nông trại gia đình, phát triển kinh tế trang trại gia đình gắn liền hợp tác xã, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp dịch vụ nông nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp về tận nông

trại, đảm bảo mục tiêu “an toàn lương thực”, đồng thời phát triển nông nghiệp toàn diện, mở

rộng sản xuất các cây trồng khác và phát triển chăn nuôi thông qua phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Nhật bản áp dụng chính sách an toàn lương thực thông qua việc cải tạo đất đai, định cư cho nông dân, thiết lập chế độ sở hữu

nhỏ, xóa bỏ quyền chiếm dụng ruộng đất bất hợp pháp tạo điều kiện thuận lợi để nông dân yên tâm sản xuất Chính sách và các luật lệ về nông nghiệp đều lấy trang trại làm đối tượng, đều tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại tiến hành tập trung hóa và hiệp tác hóa sản

xuất với quy mô và hình thức thích hợp

- Chiến lược sản xuất sản phẩm nông nghiệp và sự tăng cường quản lý vĩ mô

bằng các chính sách nông nghiệp của chính phủ Nhật Bản Sau chiến tranh thế giới

thứ hai, Nhật Bản bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển nông nghiệp, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là an toàn lương thực trên cơ sở phát triển chăn nuôi và các

loại cây trồng khác Nhờ có chính sách khuyến nông phù hợp nên sau mười năm,

sản lượng nông nghiệp đạt được mức cao nhất của những năm trước chiến tranh Chiến lược nông nghiệp chuyển sang sản xuất những loại đặc sản nông nghiệp có giá trị thương phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng Từ sau năm 1975 khi nông nghiệp phát triển có phần không tương xứng với nhu cầu xã hội, Nhật Bản

thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện trên cơ sở bảo đảm an toàn lương thực, thực hiện trợ giá nông sản, hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, đẩy mạnh xây dựng các công trình phúc lợi ở nông thôn Kết quả đến thập kỷ 80, đã đảm bảo nhu cầu tiêu dùng lương thực và thực phẩm

- Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Nhật bản coi nó là yếu tố quyết định trong việc đi sâu vào chuyên môn hóa và mở rộng qui mô kinh doanh, hình thành các trang trại trồng trọt, chăn nuôi Hiện đại hóa nông nghiệp được thực hiện thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa nông dân và Nhà nước phù hợp với từng loại đất, cây

trồng, quy mô trang trại và truyền thống thâm canh của Nhật Bản Đặc biệt hệ thống

thủy lợi đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh kết hợp với cải tạo đồng ruộng, đảm bảo diện tích đất được tưới Nhật Bản chủ yếu là sử dụng hệ thống máy móc

nhỏ thích hợp với nông trại và các thửa ruộng đồng lúa quy mô nhỏ Về công nghệ sinh học, Nhà nước rất quan tâm cho việc lai tạo giống mới, cây trồng và vật nuôi,

Trang 33

các công nghệ “GEN” chăn nuôi được hiện đại hóa, sử dụng công nghệ tổng hợp

• Kinh nghiệm của Trung quốc

Nằm trong khu vực và liền kề với biên giới nước ta nên Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về tự nhiên - kinh tế - xã hội như nước ta, nhưng họ đã lựa chọn được bước đi

và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp phù hợp và đã thu được kết quả vượt bậc Khi

mới giành được độc lập, Trung Quốc cũng là một nước có xuất phát điểm thấp, từ một nền nông nghiệp lạc hậu, dân số đông nhất thế giới, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp hơn Việt Nam Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc khá giống

Việt Nam với ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, ít quan tâm đến nông nghiệp Vì vậy

suốt những năm 60, 70 đời sống nhân dân sa sút nghiêm trọng, tình hình chính trị xã hội bất

ổn định, nạn đói xảy ra nhiều nơi Đến năm 1978, lương thực bình quân của nông dân giảm 59%, bông vải sợi giảm 5,7%, cá ăn giảm 15%, còn thịt được coi là hàng xa xỉ không mấy

ai dám ăn Cuối những năm 1978, Đảng cộng sản Trung Quốc bước đầu thực hiện thành công về hoạch định chính sách và chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp bằng nghị quyết

hội nghị trung ương III khóa XI tháng 12/1978 Một trong những quyết sách đó là khoán hộ trong sản xuất nông nghiệp

- Khoán hộ là một cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất nông nghiệp kiểu mới

nhằm giải phóng các yếu tố sản xuất, khuyến khích lợi ích vật chất của nông dân, đổi mới

hoạt động kinh doanh của các công xã nhân dân và xí nghiệp quốc doanh nông nghiệp ở nông thôn Chủ trương khoán hộ đã được nông dân thực hiện ở quy mô làng xã, đến năm

1978 được mở rộng quy mô tỉnh là Tứ Xuyên và An Huy Trước thực tế đó, Đảng cộng sản Trung Quốc đã có nhiều chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng khoán hộ như nghị quyết hội nghị Trung ương III, IV và văn kiện số 75 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI Đến tháng 9/1982 trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng cộng sản Trung Quốc mới công nhận cơ chế khoán hộ trong nông nghiệp Theo đó các văn bản pháp

hiện chủ trương khoán hộ mới được ban hành và từng bước hoàn thiện từ năm 1983 đến nay Hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ và đi vào sản xuất hàng hóa mang tính chuyên sâu với quy mô ngày càng lớn Đến năm 1985, Trung Quốc đã có

25 triệu hộ chuyên, chiếm 14% gia đình nông thôn Trung Quốc nhưng đã sản xuất

ra 50% tổng sản phẩm nông sản hàng hóa Khoán hộ đã tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn Trung Quốc bằng việc khai thác tiềm năng lao động, đất đai, tiền vốn và khoa học công nghệ mới ở cả trong nước và quốc tế

Cơ chế khoán hộ đã góp phần đưa nền nông nghiệp Trung Quốc thoát khỏi trì

Trang 34

trệ, sa sút kéo dài hơn 30 năm kể từ khi giành được độc lập, đã hoàn sinh cho cuộc

sống của nông dân và góp phần tích lũy phát triển nông nghiệp nông thôn cả nước

và là cơ sở kinh tế - xã hội để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa

- Xây dựng mô hình “Xí nghiệp Hương Trấn”, cùng với việc triển khai chính sách khoán hộ trong nông nghiệp, Đảng cộng sản Trung Quốc còn đề ra chủ trương ứng dụng mô hình “xí nghiệp Hương Trấn” trên tất cả các hương xã và thị trấn Hương trấn được coi là

quốc sách để xây dựng cơ cấu kinh tế Trung Quốc trong

thời kỳ cải cách nền kinh tế bởi nó vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy quá trình phân công lại lao động ở nông thôn theo quan điểm “ly nông bất ly hương”

Theo phương châm “coi xí nghiệp cốt cán ở thôn xã làm chỗ dựa, lấy xí nghiệp liên hộ

cá thể làm trọng điểm”, nên cuối những năm 80 các xí nghiệp cá thể phát triển nhanh chóng Năm 1984 cả nước có 4,2 triệu xí nghiệp hộ và liên hộ Đến năm 1993 cả nước đã có 21 triệu xí nghiệp hoạt động thu hút 105 triệu lao động nông thôn và mang lại kết quả rất khả quan:

+ Giá trị sản lượng công nghiệp do xí nghiệp Hương Trấn làm ra bằng 1/3 giá trị công nghiệp cả nước

+ Thành công trong xây dựng và phát triển Hương Trấn đã góp phần làm thay đổi cơ

cấu kinh tế nông nghiệp và cải thiện đời sống nhân dân rõ rệt

• Kinh nghiệm của Thái lan

Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực với nước ta, có diện tích canh tác 19,16 triệu ha, gấp 2,68 lần nước ta Trong khi dân số chỉ có 58.416.000 người nên bình quân diện tích đất canh tác gấp 4 lần nước ta (3.756m2/người) thuộc diện cao nhất các nước trong khu

vực Hiện nay, Thái Lan đã trở thành một nước phát triển trong khu vực có thu nhập bình quân 3.150USD/người/năm, mặc dù hơn 30 năm trước Thái Lan cũng chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu yếu kém

Thời kỳ đầu bước vào phát triển kinh tế, Thái Lan đã lựa chọn mô hình công nghiệp hóa đô thị và tập trung xây dựng một số ngành công nghiệp trọng yếu như động lực, hóa dầu, sản xuất tư liệu sản xuất.v.v… bằng nguồn vốn và công nghệ nước ngoài Hướng đi này đã vấp phải nhiều trở lực, trong đó lớn nhất là nội lực của

nền kinh tế không thể tiêu hóa được chính sách tập trung phát triển công nghiệp

nặng trong khi nông nghiệp què quặt, phân tán kém phát triển Kết quả là nền kinh

tế không những không phát triển mà còn xuống cấp trì trệ Theo thống kê Thái Lan

1970, nông dân ở 12.562 xã thuộc 38/73 tỉnh xếp vào loại nghèo cần phải quan tâm

Trang 35

đặc biệt Để giải quyết tình trạng nghèo khó của nông dân, Chính phủ Thái Lan đã

chấp nhận những biện pháp đặc biệt để giải quyết tình hình tụt hậu của nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1977 - 1981) Đồng thời Chính phủ còn khuyến khích chiến lược phát triển cả công nghiệp nông thôn để thực hiện chủ trương đa

dạng hóa nền kinh tế hướng vào sản xuất sản phẩm cho xuất khẩu Do thay đổi chính sách phát triển kinh tế nên các tiềm năng trong nông nghiệp bắt đầu phát huy tác dụng và đạt được kết quả đáng kể sau một thời gian Vào những năm 80, Thái lan đã là một nước xuất khẩu gạo, sắn, cao su thuộc hàng đầu thế giới và thứ 3 về

xuất khẩu đường Cơ cấu kinh tế đã chuyển biến rõ rệt là GDP ngành nông nghiệp

từ 28,9% giảm xuống còn 14,7%, trong khi ngành công nghiệp chế biến đã tăng từ 14% lên 25,6%, thể hiện rõ ý đồ tập trung phát triển đa dạng hóa sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp cho xuất khẩu của Chính phủ Trên thực tế, các vùng chuyên canh

lớn hình thành, các khu công nghiệp chế biến có trang thiết bị hiện đại của Nhật,

Mỹ được xây dựng để thu hút chế biến nông sản Như vậy vừa khuyến khích nông dân, vừa chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, lại vừa tạo ra sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh, hấp dẫn khách hàng Nông sản hàng hóa xuất khẩu của Thái Lan rất được thị trường thế giới ưa chuộng Trong đó đáng chú ý nhất là mặt hàng rau quả Năm 1993, kim ngạch xuất khẩu rau quả gần bằng gạo Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Lan thời gian qua đều hướng vào xuất khẩu

Có được thành công trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản phải kể đến sự đóng góp vô cùng to lớn của công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm mà Thái Lan

đã đầu tư ứng dụng trước một bước so với các nước trong khu vực Vì thế các sản

phẩm của họ có sức cạnh tranh cao lại khá ổn định như chất lượng gạo xuất khẩu năm 1990 tốt hơn năm 1986, làm cho giá tiêu thụ tăng từ 220 USD/tấn lên 300 USD/tấn nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả xuất khẩu Thái Lan không chỉ đầu

tư công nghệ chế biến mà còn quan tâm đến phát triển đồng bộ các ngành công nghiệp cơ khí, điện, giao thông, công nghệ sinh học và thị trường phục vụ phát triển nông nghiệp Bằng các chính sách khuyến khích hợp lý nên tốc độ cơ giới hóa nông nghiệp Thái Lan phát triển khá nhanh Năm 1976, diện tích làm đất bằng máy chỉ có 37,7% nhưng đến năm 1993 đã tăng lên 90% với đất lúa, 95% với đất ngô, 100%

với đất mía Như vậy có thể nói trình độ cơ giới hóa nông nghiệp của Thái Lan là cao nhất trong Đông Nam Á Ưu tiên chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Thái Lan trong những năm qua đều hướng vào xuất khẩu, vì thế các vùng trọng điểm nông nghiệp đã tạo ra một khối lượng nông sản xuất khẩu khá lớn Tỷ trọng hàng

Trang 36

hóa nông sản xuất khẩu của các trang trại này là lúa gạo sản xuất ra 50 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu 7 triệu tấn/năm; ngô sản xuất ra 7 triệu tấn/ năm, trong đó xuất

khẩu 5 triệu tấn/năm, mía đường sản xuất ra 25 triệu tấn/năm, trong đó xuất khẩu 4 triệu tấn/năm

Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng những biện pháp quản lý vĩ mô thông qua các công cụ kinh tế vĩ mô nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Mặc dù Chính phủ đã có chủ trương thực hiện cơ chế thị trường với mọi sản phẩm hàng hóa nhưng vẫn quan tâm đến sự ổn định giá vật tư nông nghiệp và lương thực, thể hiện

là việc thành lập Ủy ban nhà nước về giá gạo và được vay vốn ưu đãi để mua lúa

gạo giá cao hơn thị trường để dự trữ hoặc nông dân được vay vốn đầu tư sản xuất

với lãi suất thấp khi giá thóc rẻ, cho đến khi giá thóc đắt họ sẽ bán thóc để hoàn vốn vay

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thông qua cac bài học kinh nghiệm về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

ở một số quốc gia, ta có thể thấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam cần chú ý:

- Để phát triển kinh tế mỗi quốc gia phải dựa vào tiềm năng thế mạnh của nền kinh tế dân

tộc, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có để phát triển Hầu như các quốc gia đều có chủ trương bắt đầu từ sản xuất nông nghiệp, lấy tăng trưởng nông nghiệp làm cơ

sở để ổn định đời sống xã hội, tạo nguồn tích lũy ban đầu cho CNH – HĐH Để làm được điều đó, cơ cấu ngành nông nghiệp phải chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa, phá bỏ độc canh, phát triển nông nghiệp toàn diện, đưa chăn nuôi, thủy sản thành ngành sản xuất chính Chính sách đa dạng hóa nông nghiệp gắn liền với việc phát triển thị trường trong nước và nước ngoài, lấy nông nghiệp làm điểm tựa đã làm thu nhập của nông dân tăng lên,…

- Nhà nước thực hiện các chính sách kích thích bằng lợi ích kinh tế đối với nông dân thông qua việc tài trợ đầu vào, chính sách trợ giá nông sản, chính sách thuế tín dụng ưu đãi đối với

mặt hàng nông sản mới để giảm rũi ro khi tham gia vào thị trường trong nước và quốc tế

- Xây dựng cơ sở hạ tầng nong nghiệp, nông thôn để chuyển từ chỗ chỉ nhằm phát triển

một vài sản phẩm năng suất thấp sang phục vụ các loại cây trồng mới, các ngành sản xuất

mới và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn

- Tập trung triển khai các công trình nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa

học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, vào công nghiệp chế biến và dịch vụ nông thôn nhằm khuyến phát triển nhanh các loại sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao

- Việc đưa công nghiệp vào nông thôn trong quá trình CNH –HĐH đã giúp các nước và

Trang 37

lãnh thổ giải quyết được việc làm cho phần lớn lực lượng dư thừa ở nông thôn Đây chính là

biện pháp nhằm chuyển đổi nền nông nghiệp thuần nông sang đa canh, đa ngành, phát triển kinh doanh tổng hợp nông – công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn

K ết luận chương 1

Nền kinh tế Thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Tất cả các quốc gia, dù có nền kinh tế phát triển hay đang phát triển vận hành theo cơ chế thị trường đều phải có quá trình điều chỉnh để phù

hợp với qui luật phát triển Kinh tế Việt Nam đã và đang có quá trình chuyển đổi tích cực để có thể tận dụng được những lợi thế và hạn chế những nguy cơ mà quá trình toàn cầu hóa đem lại Trong quá trình chuyển đổi để hòa nhập chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, tháo

gỡ, đặc biệt là trong sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Từ việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, các mô hình lý thuyết về chuyển đổi cơ

cấu kinh tế nông nghiệp và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực, có thể thấy rằng:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tất yếu khách quan, là quá trình vận động và phát triển của kinh tế nông nghiệp theo những xu hướng mang tính quy luật chung

và phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng nước, từng vùng theo những giai đoạn cụ thể

nhất định

- Để có được cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp cần đặt sự chuyển dịch cơ

cấu trong mối quan hệ của nó với cơ cấu kinh tế chung của cả nước, có sự định hướng đúng về sự phát triển của từng ngành Phải hiểu rõ các điều kiện phát triển cụ

thể, các nhân tố tác động đến từng ngành, mối quan hệ hữu cơ giữa các ngành trong nông nghiệp

- Cần xác định sự phát triển của từng ngành trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế

so sánh để kết hợp chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp trong kinh tế nông nghiệp

- Phải có hệ thống các giải pháp phù hợp để phát triển kinh tế và chuyển dịch theo các định hướng đã xác định, trong đó chú trọng tới việc giải quyết các vấn đề về sở hữu; xác

lập các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; xây dựng các chính sách theo hướng khuyến khích sản xuất nông nghiệp, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh chuyển giao các tiến bộ khoa học

và công nghệ vào sản xuất

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP

TỈNH KIÊN GIANG 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Kiên Giang

2 2.1 Nguồn lực tự nhiên

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Kiên Giang là một tỉnh ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam Phần đất liền của tỉnh

có toạ độ địa lý : điểm cực bắc ở vĩ độ10032’30" vĩ độ Bắc tại xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương; điểm cực nam ở vĩ độ 90

23’55" tại xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận; điểm cực tây ở kinh độ ở 104040' Đ tại xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên; điểm cực đông ở kinh độ

105032' Đông tại xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng

+ Phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ

+ Phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau

+ Phía Tây giáp vịnh Thái Lan

+ Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới đất liền dài 56,8 km

Vùng biển của tỉnh Kiên Giang giới hạn từ vĩ độ 100 B đến 100 27’B và từ kinh độ1030 50' đến 1040

50'

Tổng diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang là 6.269 km2, trong đó đất liền là 5.638 km2

và hải đảo 631 km2(đảo lớn nhất là Phú Quốc 567 km2

)

Kiên Giang có bờ biển dài 200 km với 63.290 km2 ngư trường, tập trung khoảng 105 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 43 đảo có dân cư sinh sống Tỉnh Kiên Giang có 05 quần đảo:

An Thới, Thổ Chu, Nam Du, Bà Lụa và Hải Tặc với hơn 100 đảo lớn nhỏ

Kiên Giang có diện tích lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long Đơn vị hành chính của tỉnh bao gồm: thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 13 huyện: Kiên Lương, Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Hải và Phú Quốc Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh

Kiên Giang tuy cách xa các trung tâm kinh tế của cả nước song có các điểm thuận lợi sau: là nơi có khoảng cách tới các nước ASEAN tương đối ngắn, các nước này đang có nhịp

độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới; có khả năng phát triển các cửa khẩu với Campuchia, tạo mối quan hệ với Thái Lan thông qua mạng lưới đường bộ: là cửa ngõ ra biển của một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến một số nước trên thế giới

Trang 39

Vị trí địa lý của tỉnh Kiên Giang rất thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế mở cửa, hướng ngoại, đồng thời là cửa ngõ phía Tây của các tỉnh miền Tây Nam bộ thông ra các nước khác trong khu vực

Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước, có trình độ và kinh nghiệm sản xuất, tạo ra những cơ hội lớn cho tỉnh học hỏi kinh nghiệm, đồng thời tạo ra những động lực phát triển nông nghiệp hàng hóa trong thế cạnh tranh với các tỉnh thành khác trong vùng

Với vị trí địa lí này, Kiên Giang có nhiều điều kiện trao đổi giao lưu hàng hóa, công nghệ, lao động kỉ thuật với các tỉnh thành khác trong vùng cũng như cả nước và quốc tế Kiên Giang có vùng biển lớn với ngư trường rộng 63.000 km2

với hơn 105 hòn đảo lớn

nhỏ thuộc 5 quần đảo là: hải tặc, Bà Lụa, An Thới, nam du, Thổ Chu Đảo lớn nhất là đảo Phú Quốc(cũng là đảo lớ nhất ở Việt Nam với diện tích 537 km2) đảo xa nhất là đảo Thổ Chu (cách Rạch giá 110 hải lí)

Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản Dân số của đồng bằng sông Cửu Long đông, nhu cầu thực phẩm- nhất là nguồn thủy hải sản rất lớn sẽ thúc đẩy nông nghiệp

của Kiên Giang giảm dần các hoạt động trồng trọt truyền thống chuyển sang phát triển ngành thủy sản tạo ra các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu nhân dân trong vùng và xuất khẩu

Trang 40

Nguồn: Sở tài nguyên môi trường

Hình 2.1 LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (2006), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa h ọc và k ỹ thuật, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
2. B ộ Nông Nghiệp Và PTNT (8/2004): Báo cáo t ồng kết tình hình chuyển dịch cơ c ấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn sau 20 năm đổi mới , Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tồng kết tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn sau 20 năm đổi mới
6. Ph ạm Xuân Hậu (1997), Địa Lý kinh tế - xã hội Việt Nam, Trường Đại học Sư ph ạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa Lý kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Ph ạm Xuân Hậu
Năm: 1997
7. PGS.TS.Đinh Phi Hổ , Kinh t ế học nông nghiệp bền vững, Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học nông nghiệp bền vững
Nhà XB: Nxb Phương đông
9. PGS .TS Lê M ạnh Hùng (1998) , th ực trạng chuyển dịch công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam , Nxb Th ống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: thực trạng chuyển dịch công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống Kê
12. Đặng Văn Phan (2008), T ổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam , Nxb Giáo d ục, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Phan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Trương Thị Minh Sâm(2002) ,Chuy ển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngo ại thành TP Hồ Chí Minh . Nxb Khoa H ọc Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
14. Đặng Kim Sơn – Hoàng Thu Hòa (2002) , m ột số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb Th ống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn
Nhà XB: Nxb Thống kê
15. Lê Qu ốc Sử (2001), chuy ển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghi ệp Việt Nam theo hướng CNH-HĐH từ thế kỉ XX đến thế kỉ XXI trong “Thời đại kinh t ế tri thức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH-HĐH từ thế kỉ XX đến thế kỉ XXI trong “Thời đại kinh tế tri thức
Tác giả: Lê Qu ốc Sử
Năm: 2001
3. C ục Thống Kê Tỉnh Kiên Giang(2000) , Niên giám th ống kê Kiên Giang năm 2000 Khác
4. C ục Thống kê Kiên Giang (2009) , Niên giám th ống kê Kiên Giang năm 2009 Khác
8. PGS.TS . Đinh Phi Hổ (2003) , Kinh t ế nông nghiệp: Lý thuyết và Thực tiễn, Nxb Th ống kê, Hà Nội Khác
10. Nguy ễn Thị Bích Hương (2004) chuy ển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam trong Khác
16. S ở Nông Nghiệp Và PTNT Tỉnh Kiên Giang : Báo cáo k ết quả thực hiện nhiệm vụ k ế hoạch năm 2010, 5 năm 2006-2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.1. LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG (Trang 40)
Bảng 2.1. QUY MÔ VÀ CƠ CẤU ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA KIÊN GIANG TỪ - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Bảng 2.1. QUY MÔ VÀ CƠ CẤU ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA KIÊN GIANG TỪ (Trang 42)
HÌNH 2.2. LƯỢC ĐỒ ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
HÌNH 2.2. LƯỢC ĐỒ ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG (Trang 45)
BẢNG 2.5. CƠ CẤU ( GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH KIÊN GIANG - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
BẢNG 2.5. CƠ CẤU ( GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH KIÊN GIANG (Trang 60)
Hình 2.4 : BIỂU ĐỒ CƠ CẤU (GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH 2001- - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.4 BIỂU ĐỒ CƠ CẤU (GDP) THEO NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH 2001- (Trang 61)
Hình 2.5.B iểu đồ cơ cấu (GDP) phân theo thành phần kinh tế 2004-2010 - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.5. B iểu đồ cơ cấu (GDP) phân theo thành phần kinh tế 2004-2010 (Trang 63)
Hình 2.6:  Biểu đồ gía trị sản xuất ngành nông nghiệp - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.6 Biểu đồ gía trị sản xuất ngành nông nghiệp (Trang 68)
Bảng 2.10. GIÁ TRỊ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Bảng 2.10. GIÁ TRỊ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NGÀNH (Trang 69)
Bảng 2.14: Diện tích gieo trồng cây hàng năm, lâu năm của tỉnh Kiên Giang. - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Bảng 2.14 Diện tích gieo trồng cây hàng năm, lâu năm của tỉnh Kiên Giang (Trang 72)
Hình 2.8:  Diện tích cây công nghiệp tỉnh Kiên Giang - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.8 Diện tích cây công nghiệp tỉnh Kiên Giang (Trang 73)
BẢNG 2.16 : SẢN LƯỢNG MỘT SỐ CÂY CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU TỪ 2006 - - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
BẢNG 2.16 SẢN LƯỢNG MỘT SỐ CÂY CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU TỪ 2006 - (Trang 74)
Hình 2.9 : Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 2000-20009 - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.9 Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 2000-20009 (Trang 81)
Hình 2.10:  Sản lượng thủy sản Kiên Giang 2001-2010 - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.10 Sản lượng thủy sản Kiên Giang 2001-2010 (Trang 83)
Hình 2.11 : Biểu đồ xuất khẩu nông sản, thủy sản Kiên Giang 2000-2007 - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
Hình 2.11 Biểu đồ xuất khẩu nông sản, thủy sản Kiên Giang 2000-2007 (Trang 84)
BẢNG 2.24. CHI PHÍ SẢN XUẤT CHO MỘT VỤ NUÔI TÔM ( TÍNH CHO 1 HA),  MẬT ĐỘ NUÔI 5CON/M 3 t - chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh kiên giang
BẢNG 2.24. CHI PHÍ SẢN XUẤT CHO MỘT VỤ NUÔI TÔM ( TÍNH CHO 1 HA), MẬT ĐỘ NUÔI 5CON/M 3 t (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm