1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên ảnh hưởng chất lượng của cuộc kiểm toán

22 2,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 837,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi ngành nghề đều có đặc thù riêng, có những mối quan hệ kinh tếxã hội xã hội mang sắc thái riêng do vậy đạo đức nghề nghiệp thường gắn với đặc điểm của từng nghề.Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đáp ứng sự đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới cải cách hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền. Trong điều kiện đó, hoạt động kiểm toán là hoạt động hết sức mới mẻ. Tuy nhiên, với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến của mình, kiểm toán đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các bảng khai tài chính, từ đó đem lại sự thành công cho một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh doanh. Đồng thời, kết quả kiểm toán đă góp phần đáng kể vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý các hoạt động kinh tế tài chính.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BẰNG HAI

- -BÀI TIỂU LUẬN MÔN: KIỂM TOÁN CĂN BẢN

Đề tài: “Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

ảnh hưởng chất lượng của cuộc kiểm toán”

GVHD : ThS Hồ Tuấn Vũ SVTH :

Lớp: B17KDN2 - Hệ ĐH Bằng hai MSSV:

Đà Nẵng, tháng 17 năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

1 Khái quát đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên 3

1.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp 3

1.2 Chuẩn mức đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên 3

2 7 nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên 4

2.1 Tính độc lập 4

2.2 Tính chính trực 7

2.3 Tính khách quan 8

2.4 Năng lực chuyên môn và tính thận trọng 8

2.5 Tính bảo mật 8

2.6 Tính chuyên nghiệp (tư cách nghề nghiệp) 9

2.7 Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn 9

3 Ví dụ tổng hợp và phân tích 11

Ví dụ 1 : Enron – Arthur Andersen – Bài học về sự sụp đổ 11

Ví dụ 2 : 12

4 Kiểm toán tại Việt Nam 13

4.1 Quy định về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán tại ViệtNam 13

4.2 So sánh thực trạng kiểm toán của Việt Nam và thế giới 15

5 Giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng kiểm toán 16

KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

kể vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý các hoạt động kinh tế tài chính.

Thế nhưng môi trường làm việc quá nhiều áp lực, các kiểm toán viên có thể rơivào tình huống ủng hộ hành vi quản lý phi đạo đức, nói dối hay cung cấp thông tin khôngchính xác cho đơn vị quản lý hoặc lập các báo cáo tài chính không chính xác một cáchtrọng yếu Điều đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế quốcgia

Việc kiểm toán tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp bảo vệ và nâng cao uy tíncủa nghề kiểm toán, bảo đảm về chất lượng của các dịch vụ kiểm toán cung ứng cho xãhội

Trang 4

NỘI DUNG

1 Khái quát đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

1.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử vàhoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích của nghề nghiệp và xã hội

Đạo đức của nghề nghiệp của kiểm toán viên yêu cầu mỗi kiểm toán viên phải có đạođức và mỗi tổ chức kiểm toán phải là một cộng đồng của những người có đạo đức Đạođức nghề nghiệp kiểm toán là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi kiểm toán viên

1.2 Chuẩn mức đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc để hướng dẫn cho kiểm toán viênứng xử và hoạt động một cách trung thực phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và

xă hội Nói cách khác, đạo đức nghề nghiệp là những chỉ dẫn để các thành viên luôn duytŕ thái độ nghề nghiệp đúng đắn

Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên có vai trò rất quan trọng Nó làmột trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm toán Một kiểm toán viên cầnphải có đạo đức và một công ty kiểm toán cần phải là một cộng đồng các kiểm toán viên

có đạo đức Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường thì nhu cầu đối với nghề kiểm toánđáng tin cậy và được công nhận trở nên lớn hơn bao giờ hết Hơn nữa, những người chịutrách nhiệm lập báo cáo tài chính nếu không có đạo đức thì dễ có thể làm cho thông tinbáo cáo kiểm toán tài chính không tin tưởng dẫn đến hậu quả là sự mất ḷòng tin trongcông chúng Trong bối cảnh đó, nếu không có hoạt động kiểm toán để xác định tính tincậy của các hệ thống thông tin tài chính thì sẽ gây cản trở lớn Do vậy, những đòi hỏi vềđạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên phải được xác định rõ ràng và được công bố

để cho công chúng nói chung biết, qua đó họ có thể đ ̣i hỏi các hành vi đạo đức của kiểmtoán viên cũng như đánh giá các cam kết của ngành này

Thông qua các chuẩn mực đã phát triển một cách thích hợp, có thể đánh giá trình độ

và chất lượng của hoạt động kiểm toán Đồng thời các chuẩn mực cũng là cơ sở cho việc

Trang 5

thuộc lĩnh vực kiểm toán như các nhà quản lý, hội đồng quản trị, các cổ đông, nhà đầu tư,các tổ chức điều khiển và tất cả những ai quan tâm, các chuẩn mực được sử dụng như làbiện pháp hữu ích của dịch vụ kiểm toán mà mọi người mong muốn có được.

Như vậy chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng trong các cuộckiểm toán nên nó phải được xây dựng một cách chặt chẽ, hợp lý để làm sao cho kiểmtoán viên áp dụng một cách thuận lợi mà không phạm sai lầm hay bị chồng chéo bởi cácđiều lệ khác

2 7 nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam (CM kiểm toán

số 200) quy định kiểm toán viên phải đảm bảo các các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệpsau:

Trang 6

Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm vô tư khi thực hiệncác cuộc kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố báo cáo kiểm toán Nếu kiểm toánviên là một luật sư của khách hàng, một chủ ngân hàng cá biệt hoặc bất kỳ ai khác có lợiích trực tiếp hay gián tiếp về mặt tài chính, có quan hệ họ hàng thân thuộc với nhữngngười trong bộ máy quản lý của đơn vị được kiểm toán thì anh ta sẽ không thể được xem

là độc lập

Ví dụ trước đây đã có lần chấp nhận cho kiểm toán viên sở hữu một số lượng cổ phầngiới hạn trong công ty khách hàng Nhưng ngày nay điều đó được xem như khả năngtiềm ẩn tác động xấu đến tích độc lập của công ty kiểm toán và chắc chắn có khả năngảnh hưởng đến nhận thức của người sử dụng về tính độc lập của kiểm toán viên Việctrực tiếp hay gián tiếp sở hữu cổ phần của một công ty thì theo nguyên tắc 101 công tykiểm toán đó sẽ bị cấm trình bày quan điểm về các báo cáo tài chính của công ty này.Hoặc nếu kiểm toán viên là một thành viên của Hội đồng quản trị hay một viên chức củacông ty khách hàng, khả năng để thực hiện những đánh giá độc lập của anh ta về sự trìnhbày trung thực ở các báo cáo tài chính sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng Ngay cả khi việc cácchức vụ này không thực tế làm ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên th́ sự dínhlíu thường xuyên với ban quản trị và các quyết định mà ban quản trị lập sẽ có khả năngảnh hưởng đến cách nhìn nhận tính độc lập của kiểm toán viên từ những người sử dụngbáo cáo Để loại trừ khả năng này, nguyên tắc 101 nghiêm cấm kiểm toán viên có tư cách

là giám đốc hoặc viên chức của công ty khách hàng

Khi có một vụ kiện tụng hoặc có khả năng sinh ra một vụ kiện tụng giữa công ty kiểmtoán và khách hàng của họ, khả năng mà công ty kiểm toán và khách hàng còn giữ vữngtính khách quan rất đáng nghi vấn Những vụ tranh chấp này được xem như vi phạmnguyên tắc 101 đối với cuộc kiểm toán hiện hành Ví dụ, nếu Ban quản trị kiện một công

ty kiểm toán, khiếu nại một khuyết điểm trong lần kiểm toán trước, công ty kiểm toánkhông được xem là độc lập đối với lần kiểm toán trong năm hiện hành Tương tự, nếucông ty kiểm toán kiện Ban quản trị với sự quản lý lừa đảo hoặc dối trá, tính độc lập cũng

bị mất

Trang 7

Một kiểm toán viên có thể thực hiện cả công tác kế toán và kiểm toán cho cùng mộtcông ty khách hàng Tuy nhiên, có 3 quy định quan trọng mà kiểm toán viên phải thỏamăn trước khi anh ta được chấp thuận thực hiện đồng thời việc ghi sổ sách và kiểm toáncho khách hàng Thứ nhất, khách hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các báocáo tài chính Thứ hai, kiểm toán viên không được đảm đương vai trò của một nhân viênhoặc của Ban quản trị điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Thứ ba, kiểm toánviên, khi thực hiện quá tŕnh kiểm tra các báo cáo tài chính lập từ sổ sách mà kiểm toánviên nắm giữ hoàn toàn hay một phần, phải dựa vào các chuẩn mực kiểm toán đă đượcthừa nhận Hai quy định đầu thường khó thỏa mãn đối với các công ty khách hàng có quy

mô nhỏ mà chủ nhân thường có rất ít kiến thức hoặc ít quan tâm đến kế toán hoặc xử lýcác nghiệp vụ kinh tế Đối với khách hàng của ủy ban giao dịch chứng khoán (SEC), SECnghiêm cấm việc thực hiện các dịch vụ ghi sổ sách kế toán và kiểm toán bởi cùng mộtcông ty kiểm toán Phần lớn khách hàng của SEC có quy mô lớn và có nhiều khả năng cómột đội ngũ nhân viên kế toán Do đó, sự cấm đoán này không gây ra nhiều khó khăn.Khi bàn về tính độc lập, điều cơ bản không chỉ là kiểm toán viên phải giữ thái độ độclập khi thực thi trách nhiệm của mình (độc lập thực sự) mà còn cả những người sử dụngcác báo cáo tài chính phải có niềm tin vào tính độc lập đó (độc lập bề ngoài) Tính độclập có khi kiểm toán viên thực tế có khả năng duy trì thái độ vô tư trong suốt quá tŕnhkiểm toán, trong khi tính độc lập bề ngoài là kết quả của những lời giải thích của nhữngngười khác về tính độc lập đó Nếu kiểm toán viên thực sự độc lập, nhưng những người

sử dụng lại tin rằng họ là những người biện hộ cho khách hàng th́ phần lớn giá trị củacuộc kiểm toán sẽ bị mất

Tính độc lập có thể coi là cơ sở quan trọng để hoạt động kiểm toán có hiệu quả Tuynhiên chúng ta hoàn toàn nhận thức được rằng tính độc lập không bao giờ là đủ và luôn

có những điều kiện hạn chế ít nhiều tính độc lập Ví dụ Hội đồng quản trị bắt buộc phảigiải trình với chính quyền và xã hội, giám đốc điều hành cũng chịu sự bắt buộc như vậycộng thêm sự bắt buộc của Hội đồng quản trị Kiểm toán viên bên ngoài hoàn toàn khôngbao giờ quên rằng khách hàng trả tiền cho họ và tiền công đó là cần thiết để duy trước

Trang 8

một hãng kiểm toán tồn tại và phát triển Kiểm toán viên nội bộ báo cáo với một cá nhântrong tổ chức phụ thuộc vào tổ chức đó với cuộc sống của họ Việc chống lại đồng sựtrong tổ chức mà kiểm toán viên nội bộ muốn giữ quan hệ làm việc tốt luôn là vấn đềđáng quan ngại Tất cả những điều đó có nghĩa là không người nào tự cho mình là một ốcđảo cô lập và tính độc lập bao giờ cũng là một thuật ngữ tương đối - độc lập nhiều hayđộc lập ít - chứ không bao giờ tuyệt đối Điều này không làm giảm giá trị của tính độc lậphoặc coi thường những cố gắng mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng cuả tính độc lậpmong muốn Đối với kiểm toán viên, sự cố gắng không ngừng của chúng ta là củng cốtính độc lập cần thiết mặc dù có và luôn luôn có những giới hạn thực sự đối với tính độclập đó Giá trị của sự cố gắng này là góp phần làm cho tính độc lập cao hơn để hoạt độngkiểm toán có hiệu quả, góp phần vào sự phồn vinh tối đa của tổ chức.

2.2 Tính chính trực

Một hội viên không đựoc chủ tâm phản ánh sai sự việc, và khi hợp đồng thực hiệnkiểm toán độc lập kể cả cung cấp dịch vụ khai thuế và dịch vụ tư vấn cho Ban quản trị,kiểm toán viên không được để cho sự phán xét của mình bị phụ thuộc vào người khác.Khi thực hiện dịch vụ thuế, hội viên có thể giải quyết điều nghi ngờ theo hướng có lợicho khách hàng khi có sự chứng minh hợp lý đối với quan điểm của kiểm toán viên.Kiểm toán viên có nghĩa vụ phải đạt đến một chuẩn mực cao về hành vi như: phảitrung thực và thẳng thắn trong quá tŕnh làm việc và trong quan hệ của họ với các nhânviên của đơn vị được kiểm toán Để có sự tin cậy từ phía công chúng, các kiểm toán viênkhông được để bị nghi ngờ và không được để bị chỉ trích, phẩm chất liêm chính đượcđánh giá theo nghĩa đúng đắn và công bằng Phẩm chất này đòi hỏi kiểm toán viên phảituân thủ cả về hình thức và tinh thần các chuẩn mực về đạo đức và các chuẩn mực vềkiểm toán Phẩm chất trung thực cũng đòi hỏi kiểm toán viên tuân thủ các nguyên tắckhách quan và độc lập, duy trì các chuẩn mực cao nhất về nhân cách và các hành vi nghềnghiệp, đưa ra các quyết định và lợi ích của công chúng và áp dụng các tiêu chuẩn cao vềphẩm chất trung thực trong khi xử lý công việc và các nguồn lực của cơ quan kiểm toán

Trang 9

2.3 Tính khách quan

Kiểm toán viên phải là người có tính khách quan và công bằng trong tất cả các côngviệc bao gồm việc lập các báo cáo trung thực và chính xác Do đó các kết luận trong báocáo và ý kiến chỉ nên bị ảnh hưởng bởi các bằng chứng được thu thập theo các chuẩnmực kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao Các kiểm toán viên nên sử dụng các thôngtin cũng như các ý kiến do đối tượng kiểm toán hoặc các đơn vị khác cung cấp Tuy vậy,theo nguyên tắc thì các kết luận của kiểm toán không nên bị tác động bởi các ý kiến đó.Kiểm toán viên phải nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng đúng nhưu nó vốn có, theo đúngbản chất của sự kiện, hiện tượng; tôn trọng sự thật không thiên kiến hay thành kiến

2.4 Năng lực chuyên môn và tính thận trọng

Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thực hiện công việc kiểm toán, kếtoán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thầnlàm việc chuyên cần Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thứctrong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứngyêu cầu công việc

2.5 Tính bảo mật

Nguyên tắc 301 – Thông tin bảo mật của khách hàng: Hội viên không được tiết lộ bất

kỳ thông tin bí mật nào thu được trong tiến trình công tác nghiệp vụ ngoại trừ khi có sựđồng ý của khách hàng

Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá tŕnh kiểm toán, khôngđược tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừkhi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạnnghề nghiệp của mình

Trong tiến trình kiểm tra, các kiểm toán viên thu được một số lượng lớn thông tin bảomật, gồm cả lương của các viên chức, quá trình định giá sản phẩm, các kế hoạch quảngcáo, số liệu chi phí sản phẩm Nếu những thông tin này bị tiết lộ ra ngoài hoặc cho cácnhân viên của công ty khách hàng biết thì mối quan hệ giữa kiểm toán viên với Ban quảntrị sẽ trở nên căng thẳng nghiêm trọng, thậm chí còn có thể là nguyên nhân làm hại đến

Trang 10

công ty khách hàng Hơn nữa, được tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các nhân viên củacông ty khách hàng một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên các tư liệu đó Vì thế, luônluôn phải cẩn trọng để bảo vệ các tư liệu.

Kiểm toán viên chỉ có thể cung cấp tư liệu cho người khác khi được phép của công tykhách hàng Tuy nhiên, trong trường hợp các tư liệu đó được toà án triệu đi hoặc được sửgiống như một bộ phận của chương trình xem xét chất lượng tự nguyện với các công tykiểm toán khác thì sẽ không cần có sự cho phép Nếu tư liệu bị triệu đi, công ty kháchhàng phải được thông báo ngay

2.6 Tính chuyên nghiệp (tư cách nghề nghiệp)

Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp,không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp

2.7 Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn

Kiểm toán viên phải tuân thủ theo các chuẩn mực về nghiệp vụ, phấn đấu khôngngừng để nâng cao năng lực và chất lượng công việc

Nguyên tắc 201 – Các chuẩn mực chung: Một hội viên phải tuân thủ các tiêu chuẩnchung đă được ban hành dưới đây bởi các cơ quan do Quốc hội chỉ định và phải biệnminh cho mọi chiều hướng khác với chúng

- Năng lực nghề nghiệp: Hội viên chỉ được nhận thực hiện những hợp đồng mà anh ta

hoặc công ty của anh ta dự kiến có đủ năng lực nghiệp vụ để hoàn thành

- Sự thận trọng nghề nghiệp đúng mức: Hội viên phải hành sự với sự thận trọng nghề

nghiệp đúng mức khi thực hiện hợp đồng

- Lập kế hoạch và giám sát: Hội viên phải lập kế hoạch và giám sát một cách đầy đủ hợp

đồng

- Đủ số liệu thích hợp: Hội viên phải thu thập số liệu thích hợp để đủ làm căn cứ hợp lư

cho các kết luận hoặc kiến nghị liên quan với hợp đồng

Trang 11

- Dự đoán: Hội viên không đựoc phép sử dụng tên của mình gắn cho các dự đoán nghiệp

vụ kinh tế tương lai phát sinh theo cách mà có thể dẫn đến sự tin tưởng là người hội viên

đó cam đoan khả năng có thể đạt được của dự đoán

Nguyên tắc 202 – Các chuẩn mực kiểm toán

Một kiểm toán viên không được phép để tên của mình gắn liền với vác báo cáo tàichính theo cách ngụ ý là anh ta đang hành sự như một kiểm toán viên độc lập trừ phi anh

ta tuân thủ theo các chuẩn mực kiểm toán đă được thừa nhận do Viện ban hành

Nguyên tắc 203 – Các nguyên tắc kế toán

Một hội viên không được trình bày ý kiến hoặc khẳng định các báo cáo tài chính hoặccác số liệu tài chính khác của bất kỳ tổ chức nào là được trình bày phù hợp với cácnguyên tắc kế toán đă được thừa nhận hoặc tuyên bố là anh ta không biết đến bất kỳ một

sự sửa đổi quan trọng nào sẽ được thực hiện cho các số liệu đó để cho chúng phù hợp vớicác nguyên tắc kế toán đă được thừa nhận

Nguyên tắc 204 – Các chuẩn mực nghiệp vụ khác

Một hội viên phải tuân thủ câc chuẩn mực nghiệp vụ khác được ban hành bởi các bộphận do Quốc hội chỉ định xây dựng những chuẩn mực đó, và những chiều hướng khácvới các chuẩn mực này phải được chính bản thân người không tuân thủ theo chúng biệnminh

Kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán theo những kỹ thuật và nhữngchuẩn mực chuyên môn đă quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩnmực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận và các quy định pháp luật hiện hành.Các chuẩn mực kiểm toán này quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thểthức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính.Kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môncần thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần Kiểm toán viên cónghĩa vụ duy trì cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môitrường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc Kiểm toán viên cầnphải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá tŕnh lập kế hoạch, thực hiện

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w