Người giáo viên khi thiết kế bài luyện tập không tốt sẽ làm kiến thức của học sinh trở nên rời rạc, tản mạn; học sinh không thể hệ thống hóa cũng như xác định bản chất các kiến thức; khô
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
DUY ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC GIỜ
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
DUY ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC GIỜ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Không có một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào mà không có sự nỗ lực hết mình của một nhóm người đầy tâm huyết Do đó tôi xin chân thành cảm ơn rất nhiều người tuyệt vời với sự cống hiến quý báu trong việc giúp tôi tạo ra và hoàn thành đề tài luận văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Dung, người Thầy với nhân cách, tài năng và tình cảm đã hết sức tận tình hướng dẫn; giúp đỡ em trong suốt cuộc hành trình.
Em cũng xin tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Hóa trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, trường Đại học Sư phạm Hà Nội và toàn thể thầy
cô phòng Sau đại học trong cả quá trình học tập và thực hiện luận văn Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn rất nhiều sự động viên giúp đỡ của PGS.TS Trịnh Văn Biều, người Thầy luôn quan tâm dẫn dắt chúng em ngay từ những bước đầu tiên trên con đường lí luận dạy học.
Thêm những lời cảm ơn đặc biệt đến Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên tổ Hóa trường THPT Lê Hồng Phong đã tạo điều kiện tốt nhất để em được tham gia học tập
và hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học,
hỗ trợ tôi tìm kiếm tài liệu liên quan đến đề tài Cảm ơn rất nhiều các thầy cô giáo, các em học sinh đã tạo điều kiện để hoàn thành tốt đợt thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và những người thân đã luôn khích lệ, động viên con trong suốt thời gian qua.
Một lần nữa, xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc.
Nguyễn Thị Thu Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Graph dạy học 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Ưu điểm graph dạy học 8
1.2.3 Cấu trúc graph trong dạy học 9
1.2.4 Quy tắc xây dựng graph 9
1.2.5 Các bước thiết kế graph 10
1.2.6 Ứng dụng của graph trong dạy học 12
1.2.7 Nhận xét - đánh giá chung về graph 15
1.3 Sơ đồ tư duy 15
1.3.1 Khái niệm 15
1.3.2 Ưu điểm của sơ đồ tư duy 16
1.3.3 Cấu trúc của sơ đồ tư duy 17
1.3.4 Các quy tắc trong sơ đồ tư duy 18
1.3.5 Các bước thiết kế sơ đồ tư duy 19
1.3.6 Khái quát về phần mềm thiết kế sơ đồ tư duy 20
1.3.7 Ứng dụng của sơ đồ tư duy trong dạy học 24
1.3.8 Nhận xét - đánh giá chung về sơ đồ tư duy 30
1.4 Luyện tập trong dạy học hóa học ở trường THPT 31
1.4.1 Khái niệm luyện tập 31
1.4.2 Tầm quan trọng của luyện tập trong việc học tập hóa học ở trường THPT 31
1.4.3 Các phương pháp dạy học được sử dụng trong giờ luyện tập 33
1.4.4 Những bước chuẩn bị cho bài dạy luyện tập 40
1.5 Thực trạng việc sử dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy trong các bài luyện tập hóa học ở trường THPT hiện nay 42
1.5.1 Mục đích điều tra 42
1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra 42
1.5.3 Kết quả điều tra 43
Trang 5TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 46
Chương 2 SỬ DỤNG GRAPH DẠY HỌC VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC GIỜ LUYỆN TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 11 (BAN CƠ BẢN) 47
2.1 Cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lượng giờ luyện tập 47
2.1.1 Thực trạng dạy học giờ luyện tập hóa học 47
2.1.2 Các giải pháp để nâng cao chất lượng giờ luyện tập hóa học 48
2.1.3 Một số chú ý khi thực hiện giải pháp 49
2.1.4 Thiết lập kế hoạch nâng cao chất lượng giờ luyện tập hóa học 51
2.1.5 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình của các bài luyện tập lớp 11 (ban cơ bản) 53
2.2 Lập graph dạy học và sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng các giờ luyện tập môn hóa học lớp 11 (ban cơ bản) 54
2.2.1 Bài 5: Luyện tập: Axit, bazơ và muối Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li 54
2.2.1.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 5 54
2.2.1.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài luyện tập 5 57
2.2.1.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 5 58
2.2.2 Bài 13: Luyện tập: Tính chất của nitơ, photpho và các hợp chất 58
2.2.2.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 13 58
2.2.2.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài luyện tập 13 62
2.2.2.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 13 64
2.2.3 Bài 19: Luyện tập: Tính chất của cacbon, silic và các hợp chất 64
2.2.3.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 19 64
2.2.3.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài 19 67
2.2.3.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 19 69
2.2.4 Bài 24: Luyện tập: Hợp chất hữu cơ, công thức phân tử, công thức cấu tạo 69
2.2.4.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 24 69
2.2.4.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài 24 72
2.2.4.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 24 73
2.2.5 Bài 27: Luyện tập: Ankan và xicloankan 73
2.2.5.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 27 73
2.2.5.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài 27 74
2.2.5.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 27 76
2.2.6 Bài 31: Luyện tập: Anken và ankadien - Bài 33: Luyện tập: Ankin 76
2.2.6.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 31, 33 76
2.2.6.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài 31, 33 78
Trang 62.2.6.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 31, 33 79
2.2.7 Bài 42: Luyện tập: Dẫn xuất halogen - Ancol - Phenol 79
2.2.7.1 L ập graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 42 79
2.2.7.2 L ập sơ đồ tư duy kiến thức cần nhớ bài 42 82
2.2.7.3 L ập graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 42 89
2.3 Sử dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy vào việc tổ chức quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng các giờ luyện tập lớp 11 (ban cơ bản) 89
2.3.1 Tổ chức quá trình dạy học bài luyện tập dạng hợp chất vô cơ 89
2.3.2 Tổ chức quá trình dạy học bài luyện tập dạng phi kim 101
2.3.3 Tổ chức quá trình dạy học bài luyện tập dạng hidrocacbon 112
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 119
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 121
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 121
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 121
3.3 Tiến trình thực nghiệm 122
3.3.1 Thiết kế chương trình thực nghiệm 122
3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 122
3.3.3 Đánh giá kết quả 122
3.4 Kết quả thực nghiệm 124
3.4.1 Kết quả thực nghiệm về mặt định lượng 124
3.4.2 Kết quả thực nghiệm về mặt định tính 132
3.5 Các bài học kinh nghiệm 134
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 135
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PH Ụ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 2.1 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài luyện
3 Bảng 3.1 Danh sách các trường, lớp và giáo viên thực nghiệm 123
8 Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 128
10 Bảng 3.8 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 2 130
12 Bảng 3.10 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 3 131
14 Bảng 3.12 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích ba bài kiểm tra 132
16 Bảng 3.14 Kết quả các tham số đặc trưng qua các lần kiểm tra 134
17 Bảng 3.15 Tổng hợp ý kiến tham khảo HS lớp thực nghiệm 136
Trang 9DANH M ỤC CÁC HÌNH
3 Hình 1.3 Graph về các dạng thù hình của photpho 13
4 Hình 1.4 Ứng dụng graph cấu trúc hóa nội dung bài anken 13
13 Hình 2.1 Graph quy trình thực hiện tiết luyện tập 57
16 Hình 2.4 Graph muối trung hòa - muối axit - chất lưỡng tính 60
17 Hình 2.5 Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch điện li 60
18 Hình 2.6 Graph Axit - Bazơ - Muối - Phản ứng trao đổi ion
19 Hình 2.7 SĐTD kiến thức: Axit - Bazơ - Muối - Phản ứng trao
20 Hình 2.8 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 5 63
21 Hình 2.9 Graph so sánh nitơ, photpho (số oxi hóa) và đơn chất 64
23 Hình 2.11 Graph so sánh hai axit quan trọng HNO3 và H3PO4 65
24 Hình 2.12 Graph so sánh muối nitrat và muối photphat 65
26 Hình 2.14 SĐTD kiến thức nitơ và hợp chất của nitơ 67
27 Hình 2.15 Graph photpho và các hợp chất của photpho 68
28 Hình 2.16 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 13 69
29 Hình 2.17 Graph về đơn chất và số oxi hóa hai nguyên tố C - Si 69
Trang 1030 Hình 2.18 Graph kiến thức về oxit của C và Si 70
31 Hình 2.19 Graph hệ thống hóa về hợp chất muối của C - Si 70
32 Hình 2.20 Graph cacbon - silic và hợp chất của chúng 71
33 Hình 2.21 SĐTD luyện tập tính chất của C - Si và các hợp chất 72
35 Hình 2.23 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 19 74
39 Hình 2.27 Graph kiến thức cần nhớ: Luyện tập hợp chất hữu cơ 76
40 Hình 2.28 SĐTD kiến thức bài: Luyện tập: Hợp chất hữu cơ -
41 Hình 2.29 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 24 78
45 Hình 2.33 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 27 81
47 Hình 2.35 Graph lý thuyết hidrocacbon không no 82
48 Hình 2.36 SĐTD kiến thức cần nhớ bài: Luyện tập: Anken -
49 Hình 2.37 Graph hệ thống dạng bài tập cần rèn luyện bài 31, 33 84
50 Hình 2.38 Graph nội dung kiến thức cần nhớ bài 42 84
53 Hình 2.41 SĐTD cần nhớ bài: Luyện tập dẫn xuất halogen 87
55 Hình 2.43 Graph hệ thống các dạng bài tập cần rèn luyện bài 42 89
56 Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 128
57 Hình 3.2 Biểu đồ trình độ học sinh qua bài kiểm tra 1 129
58 Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 130
59 Hình 3.4 Biểu đồ trình độ học sinh qua bài kiểm tra 2 130
60 Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 131
61 Hình 3.6 Biểu đồ trình độ học sinh qua bài kiểm tra 3 132
Trang 1162 Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích ba bài kiểm tra 133
63 Hình 3.8 Biểu đồ trình độ học sinh qua ba bài kiểm tra 133
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bài luyện tập, ôn tập không phải là bài giảng lại kiến thức để học sinh thu nhận những
hiểu biết mới; bài luyện tập, ôn tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và được thực
hiện sau khi học sinh được học một số bài dạy kiến thức mới hoặc kết thúc một chương,
một phần của chương trình Vì vậy chúng có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan
trọng trong việc hình thành phương pháp nhận thức và phát triển tư duy cho học sinh Người giáo viên khi thiết kế bài luyện tập không tốt sẽ làm kiến thức của học sinh trở nên rời rạc, tản mạn; học sinh không thể hệ thống hóa cũng như xác định bản chất các
kiến thức; không vận dụng được chúng trong việc giải quyết các vấn đề học tập…Xuất phát từ tinh thần đó, việc nghiên cứu và tìm ra phương pháp, phương tiện hữu hiệu thiết
kế những giờ luyện tập hiệu quả, có chất lượng để giúp học sinh hình thành năng lực
nhận thức, thế giới quan khoa học, phát triển tư duy độc lập sáng tạo là vô cùng quan
trọng
Đặc biệt trong quá trình dạy học các bài luyện tập, kỹ năng khái quát hóa, sơ đồ hóa
kiến thức có một vị thế quan trọng Nó là tiền đề cho sự sáng tạo và phát triển tư duy đem
lại những ưu điểm vượt trội về tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống và tính súc tích để nâng cao chất lượng giờ học Đây được xem như là một trong những tiếp cận mới
vừa bổ sung vào hệ thống các phương pháp, phương tiện dạy học truyền thống vừa làm phong phú thêm kho tàng các phương thức, phương tiện dạy học hóa học dùng trong
những giờ luyện tập
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng graph dạy học và sơ đồ tư
duy để nâng cao chất lượng các giờ luyện tập môn hóa học lớp 11 (ban cơ bản)” để thực
hiện
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy để xây dựng một số graph nội dung, graph
hoạt động và sơ đồ tư duy trong dạy học các giờ luyện tập hóa học lớp 11 (ban cơ bản) để góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về đổi mới phương pháp dạy học hóa học nói chung, về bài luyện tập và các nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 13- Nghiên cứu thực tiễn việc sử dụng graph và sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học ở THPT hiện nay
- Nghiên cứu lý thuyết về graph dạy học, sơ đồ tư duy trong dạy học và việc vận dụng vào các giờ luyện tập
- Xác định nội dung hóa học trong các giờ luyện tập lớp 11 có thể vận dụng lý thuyết graph và sơ đồ tư duy
- Nghiên cứu về tổ chức quá trình dạy học các bài luyện tập lớp 11 có sử dụng graph
và sơ đồ tư duy
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả những đề xuất của đề tài nghiên cứu
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách th ể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT (ban cơ bản)
- Đối tượng nghiên cứu: Việc sử dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy vào các giờ
luyện tập hóa học lớp 11 (cơ bản) để nâng cao chất lượng giờ dạy
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và vận dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng các
giờ luyện tập môn hóa học lớp 11 thì việc học tập của học sinh sẽ dễ dàng, có nhiều hứng thú hơn, học sinh nắm được kiến thức một cách chắc chắn, khoa học, hệ thống hơn
6 Đóng góp mới của luận văn
Thiết kế và vận dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy cho một số bài luyện tập hóa học
lớp 11 (cơ bản) để nâng cao chất lượng dạy học
7 Phương pháp nghiên cứu
• Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu chỉ đạo của Bộ GD & ĐT liên quan đến phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về graph dạy học, sơ đồ tư duy, luyện tập trong dạy học hóa học ở trưởng THPT
- Nghiên cứu về nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài luyện tập hóa
học 11 (ban cơ bản)
- Nghiên cứu về cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng giờ luyện tập
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
• Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 14- Phương pháp điều tra và thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát: dự giờ, chủ động quan sát việc dạy học trong giờ luyện tập
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện: trao đổi cùng với GV, HS nhằm tìm hiểu thực trạng các giờ luyện tập
- Phương pháp chuyên gia
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra sự đúng đắn của giả thuyết đặt ra: sử dụng phương pháp đối chứng
• Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học: sử dụng phương pháp thống kê để xử lý kết
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, nếu chỉ xét trên lĩnh vực graph dạy học đã có nhiều tác giả thành công trong việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết graph vào dạy học hóa học trường phổ thông ở Việt Nam Từ năm 1971, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu từ graph toán học
để xây dựng thành graph dạy học và đã công bố nhiều công trình trong lĩnh vực này Trong các công trình đó, giáo sư đã nghiên cứu những ứng dụng cơ bản của lý thuyết graph trong khoa học giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy hóa học Giáo sư đã hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học vận dụng lý thuyết graph để dạy một số chương, một
số bài cụ thể của chương trình hóa học ở trường phổ thông
• Năm 1980, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, tác giả Trần
Trọng Dương đã nghiên cứu đề tài: "Áp dụng phương pháp graph và algorit hoá để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải, xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hoá học ở trường phổ thông" Tiểu luận khoa học cấp I, ĐHSP Hà Nội [23] Tác giả đã
áp dụng phương pháp graph và algorit hóa vào việc phân loại các kiểu bài toán về lập công
thức hóa học và đưa ra kết luận:
- Phương pháp graph và algorit cho phép chúng ta nhìn thấy rõ cấu trúc của một đầu bài toán hóa học, cấu trúc và các bước giải bài toán
- Bằng graph có thể phân loại, sắp xếp các bài toán về hóa học thành hệ thống bài toán
có logic giúp cho việc dạy và học có kết quả hơn
• Năm 1984, tác giả Phạm Tư với sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu đề tài: “Dùng graph nội dung của bài lên lớp để dạy và học chương Nitơ - Photpho ở lớp 11 trường trung học phổ thông”, Luận án phó tiến sĩ khoa học sư phạm tâm lý Hà Nội [40]
• Năm 2003, tác giả Phạm Tư trình bày “Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng giờ giảng”, Giáo dục thời đại, số 124
• Năm 2006, Trịnh Quang Từ - Sử dụng Graph trong thiết kế phương pháp dạy học
- Tạp chí Giáo dục, số 131, 2/2006 [41]
• Năm 2007, Đỗ Thị Châu, “Sơ đồ hóa tài liệu dạy học như là một công cụ chủ yếu trong dạy học”, Tạp chí Giáo dục, kỳ 1 số 153 năm 2007 [15]
Trang 16Đặc điểm chung của những luận án, bài viết trên đều giới thiệu thành công việc ứng dụng graph dạy học vào một giờ lên lớp hóa học của trường trung học phổ thông nói chung
Cùng với sự phát triển của khoa học giáo dục ngoài graph dạy học, các nhà nghiên cứu, các giáo viên còn kết hợp thêm công cụ sơ đồ tư duy làm phong phú thêm nguồn các phương pháp, phương tiện dạy học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy thể hiện qua các đề tài:
• Năm 2007, Đinh Thị Nga với “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn
tập, luyện tập - Hóa hữu cơ - ban nâng cao lớp 11”, Luận văn thạc sĩ Giáo dục chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học hóa học, Trường ĐHSP Hà Nội
• Năm 2009, Ngô Quỳnh Nga nghiên cứu “Sử dụng phương pháp graph và lược đồ tư duy tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong giờ ôn tập - luyện tập
phần kim loại hóa học 12 - THPT nâng cao - nhằm nâng cao năng lực nhận thức,
tư duy logic cho học sinh”, Luận văn thạc sĩ Giáo dục chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học hóa học, Trường ĐHSP Hà Nội [33]
• Nguyễn Thị Khoa “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học hóa học ở trung học
phổ thông”, năm 2009, Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP Tp.HCM
Tiếp xúc với các công trình cùng hướng nghiên cứu đã đem lại cho chúng tôi nhiều suy nghĩ: đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng graph dạy học vào một giờ lên lớp ở trường THPT nhưng trong khi đó mảng ứng dụng vào từng kiểu bài lên lớp cụ thể, đặc
biệt kiểu bài luyện tập chưa được đi sâu Từ đó chúng tôi nhận thấy nghiên cứu sử dụng graph dạy học và sơ đồ tư duy vào một giờ luyện tập hóa học mặc dù cũng đã có nhiều ý
kiến đề cập đến, nhưng để nâng cao chất lượng hiệu quả của nó trong giờ luyện tập vẫn là câu hỏi được khá nhiều người quan tâm, tìm tòi, học hỏi Vì vậy chúng tôi quyết tâm nghiên cứu theo hướng thiết kế các graph và sơ đồ tư duy về nội dung và bài tập rồi ứng
dụng cụ thể vào một bài lên lớp luyện tập để nâng cao chất lượng giảng dạy của kiểu bài lên lớp này
1.2 Graph dạy học
1.2.1 Khái niệm [34], [59], [60]
• Khái niệm cơ bản của graph
Trang 17- Theo từ điển Anh – Việt, graph có nghĩa là đồ thị, biểu đồ, mạng, mạch gồm có một
đường hoặc nhiều đường biểu thị sự biến thiên của các đại lượng
• Khái niệm cơ bản của lý thuyết graph
- Graph trong lý thuyết graph lại bắt nguồn từ “graphic” có nghĩa là tạo ra một hình ảnh
rõ ràng, chi tiết, sinh động trong tư duy
- Lý thuyết graph là một chuyên ngành của toán học được khai sinh kể từ công trình về bài toán "Bảy cây cầu ở Konigsburg" (công bố vào năm 1736) của nhà toán học Thụy sĩ - Leonhard Euler (1707 - 1783) Lúc đầu, lý thuyết graph là một bộ phận nhỏ của toán học,
chủ yếu nghiên cứu giải quyết những bài toán có tính chất giải trí Trong những năm cuối
thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng, những nghiên cứu về vận dụng lý thuyết graph đã có những bước tiến nhảy vọt
- Lý thuyết graph hiện đại bắt đầu được công bố trong cuốn sách "Lý thuyết graph định hướng và vô hướng" của Conig, xuất bản ở Lepzic vào năm 1936 Từ đó đến nay, nhiều nhà toán học trên thế giới đã nghiên cứu làm cho môn học này ngày càng phong phú và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của các ngành khoa học như điều khiển học, mạng điện tử, lý thuyết thông tin, vận trù học, kinh tế học Năm 1958, tại Pháp Claude Berge đã
viết cuốn "Lý thuyết graph và những ứng dụng của nó" Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày những khái niệm và định lý toán học cơ bản của lý thuyết graph, đặc biệt là ứng
dụng của lý thuyết graph trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong những năm gần đây, lý thuyết graph được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới
- Trên mạng Internet, tính đến nay đã có hàng ngàn bài báo nghiên cứu về lý thuyết graph và những ứng dụng của nó được đăng tải trên các tạp chí như: Tạp chí lý thuyết Graph (Journal of Graph Theory); Tạp chí lý thuyết tổ hợp (Journal of Combinatorial Theory, Series B); Tạp chí Graph algorit và ứng dụng (Journal of Graph Algorithm and Applications) và nhiều tạp chí nổi tiếng khác
Như vậy lý thuyết graph ngày càng phát triển và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau và có thể khẳng định đã đem lại nhiều thành công trong lĩnh vực giáo dục
Khái niệm graph và lý thuyết graph vô cùng sâu sắc, nhưng trong giới hạn của luận văn chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về khái niệm cơ bản của graph dạy học
• Khái niệm graph dạy học
- Graph dạy học là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chốt (cơ bản,
cần và đủ) của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong của nó
Trang 18Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, trong mỗi hoạt động bao giờ cũng có hai mặt, đó là:
mặt "tĩnh" và mặt "động" Trong dạy học, mặt tĩnh là nội dung kiến thức, còn mặt động là các hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình hình thành tri thức Có thể mô tả mặt tĩnh của hoạt động dạy học bằng "graph nội dung" và mô tả mặt động bằng "graph hoạt động dạy học" Như vậy, graph dạy học bao gồm: graph nội dung và graph hoạt động
GRAPH DẠY HỌC
GRAPH DẠY HỌC GRAPH DẠY HỌC
Hình 1.1 Sơ đồ graph dạy học
• Graph nội dung là tập hợp những yếu tố thành phần của một nội dung trí dục và
mối liên hệ bên trong giữa chúng với nhau, đồng thời diễn tả cấu trúc logic của nội dung
dạy học bằng một ngôn ngữ trực quan, khái quát và súc tích Mỗi loại kiến thức có thể được mô hình hóa bằng một loại graph đặc trưng để phản ánh những thuộc tính bản chất
của loại kiến thức đó Trong dạy học, có thể sử dụng graph nội dung các thành phần kiến
thức hoặc graph nội dung bài học
→ Graph nội dung là graph phản ánh một cách khái quát, trực quan cấu trúc logíc phát triển bên trong của một tài liệu
• Graph hoạt động là mặt phương pháp, được xây dựng trên cơ sở của graph nội dung
kết hợp với các thao tác sư phạm của giáo viên và hoạt động học của học sinh ở trên lớp; bao gồm cả việc sử dụng các phương pháp, biện pháp và phương tiện dạy học
→ Graph hoạt động là graph mô tả trình tự các hoạt động sư phạm theo logíc hoạt động
nhận thức nhằm tối ưu hóa bài học Thực chất graph hoạt động dạy học là mô hình khái quát
và trực quan của giáo án Graph hoạt động là một dạng algorit hoá hoạt động dạy - học theo phương pháp đường găng (con đường tối ưu)
• Hai loại graph này được áp dụng trong một bài học, graph nội dung thể hiện logíc các thành phần nội dung kiến thức trong một bài học, có tính khách quan và về cơ
bản không thay đổi và nó phù hợp với yêu cầu "chuẩn kiến thức" mà mục tiêu bài học đã quy định Còn graph hoạt động dạy học là mô hình hoá về hoạt động của giáo viên và học sinh
nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, nó có tính linh hoạt Graph hoạt động là mô hình hoá
tiến trình, kế hoạch bài học được dự kiến trong giáo án
Trang 19→ Như vậy graph nội dung và graph hoạt động liên quan mật thiết với nhau, giữa graph
nội dung và graph hoạt động có mối quan hệ hai chiều Trong khâu chuẩn bị bài học (viết bài soạn) GV căn cứ vào graph nội dung để thiết lập graph hoạt động dạy học Trong khâu thực hiện bài học (trên lớp hoặc tự học) GV dùng graph hoạt động để tổ chức HS thiết
lập graph nội dung theo một logíc khoa học Và mục đích cuối cùng là HS có được graph nội dung trong tư duy
- Graph dạy học được áp dụng để:
+ Thiết kế nội dung dạy học: các nội dung kiến thức cơ bản của một bài học
+ Ôn tập, luyện tập chương: hệ thống hóa kiến thức cần nắm vững
+ Củng cố, hệ thống kiến thức một bài
+ Cách giải bài tập
+ Thiết kế PPDH
→ Phương pháp graph dạy học được hiểu là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được
những sơ đồ học tập ở trong tư duy của HS Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống
Graph có thể được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, để hình thành tri
thức mới hoặc hoàn thiện tri thức, hoặc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
1.2.2 Ưu điểm graph dạy học [34]
Với việc sử dụng graph mọi nội dung thể hiện luôn mang tính:
● Tính khái quát: Các kiến thức chọn lọc đưa vào các đỉnh của graph là cơ bản nhất, quan
trọng nhất của một số bài học, một chương hoặc một phần của chương trình Khi nhìn vào graph sẽ giúp ta thấy cái tổng thể của các kiến thức, logic phát triển của vấn đề và các mối liên hệ giữa chúng
● Tính trực quan: Thể hiện ở việc sắp xếp các đường liên hệ rõ, đẹp, bố trí hình khối cân đối, có thể dùng kí hiệu, màu sắc, đường nét đậm nhạt để nhấn mạnh những nội dung quan trọng
● Tính hệ thống: Dùng graph có thể thể hiện được trình tự kiến thức của chương, logic phát triển của kiến thức thông qua các trục chính hoặc các nhánh chi tiết của logic và
tổng kết được các kiến thức chốt và những kiến thức có liên quan
● Tính súc tích: Graph cho phép dùng các kí hiệu, quy ước viết tắt ở các đỉnh nên đã nêu lên được những dấu hiệu bản chất nhất của các kiến thức, loại bỏ được những dấu hiệu
thứ yếu của khái niệm
Trang 20● Về tâm lí của sự lĩnh hội: HS dễ dàng hiểu được các kiến thức chủ yếu, quan trọng ở các đỉnh của graph và cả logic phát triển của cả một hệ thống kiến thức Hình ảnh trực quan là những biểu tượng cho sự ghi nhớ và tái hiện kiến thức của học sinh
1.2.3 Cấu trúc graph trong dạy học [34], [59]
Cấu trúc của graph bao gồm các đỉnh được mô hình hóa bằng những vòng tròn hoặc hình vuông, hình chữ nhật để thể hiện những kiến thức cơ bản và cung là những đường định hướng như mũi tên thẳng, cong hoặc gấp khúc để thể hiện mối quan hệ lôgic giữa
các đỉnh (kiến thức cơ bản)
1.2.4 Quy tắc xây dựng graph [34], [59], [60]
• Quy tắc xây dựng graph nội dung trong dạy học
Dựa vào nội dung dạy học (khái niệm, định luật, học thuyết, bài học…), chọn những kiến thức chốt (kiến thức cơ bản cần và đủ về cấu trúc, ngữ nghĩa), đặt chúng vào đỉnh của graph Nối các đỉnh với nhau bằng những cung logic dẫn xuất, tức là theo sự phát triển bên trong nội dung đó Đỉnh diễn tả kiến thức chốt của nội dung còn cung diễn tả mối liên hệ dẫn xuất giữa các kiến thức chốt, cho thấy logic phát triển của nội dung
• Quy tắc xây dựng graph hoạt động trong dạy học
Lập graph hoạt động tức là xác định các phương án khác nhau để triển khai bài học,
việc này phụ thuộc vào graph nội dung và quy luật nhận thức Trong dạy - học, một bài
học sẽ có nhiều hoạt động khác nhau, dùng graph để biết trình tự thực hiện các hoạt động Dùng một graph có hướng để mô tả trình tự các hoạt động và các thao tác sư phạm của GV
và HS, cách làm như sau: Các hoạt động trong một bài học được đặt tương ứng với các đỉnh
của một graph, đánh số từ 1 đến n (bài học có n hoạt động) Có thể thêm vào graph một đỉnh ứng với hoạt động khởi đầu và một đỉnh ứng với việc kết thúc (hoàn thành bài học) Dùng các mũi tên để xác định hoạt động nào thực hiện trước, hoạt động nào thực hiện sau,
hoạt động nào xuất phát từ hoạt động nào trước đó
Trang 21BẮT ĐẦU Hoạt động 1
KẾT THÚC
Hoạt
Hình 1.2 Mô hình graph hoạt động dạy học
Graph hoạt động có tính chất tương tự như algorit, có tác dụng chỉ dẫn thứ tự các thao tác cần thực hiện trong các hoạt động dạy học Nó có thể được biểu diễn bằng những sơ
đồ hoặc bằng bảng chỉ dẫn hoặc viết dưới dạng bài soạn
1.2.5 Các bước thiết kế graph [34], [60]
1.2.5.1 Các bước thiết kế graph nội dung
• Tổ chức các đỉnh:
- Xác định đỉnh của graph
+ Về nội dung của bước xác định đỉnh: chọn lọc và nêu lên những kiến thức
chốt của bài ôn tập tổng kết theo chương trình, SGK hóa học, sách bài tập hóa học và phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo
+ Về hệ thống kiến thức chốt bao gồm những hiểu biết bản chất nhất, mấu chốt
nhất, có thể dùng làm nền tảng, để giúp HS hiểu, nắm vững, vận dụng các quy luật hóa
học trong việc giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học Trong nội dung của bài lên lớp, có thể có những kiến thức chốt liên kết với nhau thành từng vùng lớn hoặc nhỏ Nhưng cũng có kiến thức đứng độc lập (loại này thường ít) Mỗi kiến thức chốt lại có thể là tập hợp của nhiều kiến thức thứ yếu khác của bộ môn hóa học và có thể của cả những bộ môn hỗ trợ khác Do đó, khi xác định đỉnh của graph, thì một đỉnh có thể là một hoặc nhiều kiến thức cùng loại, có thể là những đỉnh liên thông
với nhau hoặc những đỉnh độc lập
- Mã hóa kiến thức chốt: biến nội dung các kiến thức chốt chứa đựng tại các đỉnh
của graph thành một nội dung súc tích bằng các kí hiệu và ngôn ngữ hóa học Những kí
hiệu dùng để mã hóa kiến thức chốt phải quen thuộc, thông dụng, giúp cho HS có thể dễ
Trang 22dàng giải mã được Việc mã hóa kiến thức chốt được GV và HS cùng nhau qui ước trong
từng bài lên lớp, từng tiết học Mã hóa kiến thức chốt giúp ta rút gọn được graph, làm cho
nó đỡ cồng kềnh mà dễ hiểu
Ví dụ: “Công thức phân tử” ghi là CTPT; “Công thức cấu tạo” ghi là CTCT; “nhiệt độ” ghi là to
- Xếp đỉnh: Khi xếp đỉnh graph cần đảm bảo:
+ Phải có tính khoa học và tính sư phạm, tức là phải chú ý tới logic của sự tương tác giữa GV và HS trong việc dạy và học trên lớp
+ Vị trí các đỉnh phải thoáng, HS dễ hiểu, đảm bảo tính trực quan và đẹp
Vì vậy GV cần phác thảo các vị trí của các đỉnh để đảm bảo các yêu cầu trên
• Thiết lập các cung: Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa nội dung và các đỉnh với nhau, làm sao để phản ánh được logic phát triển của nội dung Công việc này đòi hỏi quá trình tư duy logic để tìm ra được mối liên hệ giữa các nội dung học tập
• Hoàn thiện graph: Làm cho graph trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic, nhưng lại giúp HS lĩnh hội dễ dàng nội dung đó, và nó phải đảm bảo tính
mĩ thuật về mặt trình bày
1.2.5.2 Các bước thiết kế graph hoạt động
• Xác định mục tiêu bài học: Mục tiêu bài học là những yêu cầu đặt ra đối với HS khi thực hiện bài học Có nhiều yếu tố tác động đến việc xác định mục tiêu bài học trong đó đáng chú ý nhất là các yếu tố: nội dung bài học, khả năng nhận thức của HS, năng lực của
Trang 231.2 6 Ứng dụng của graph trong dạy học [61]
1.2.6.1 Ứng dụng graph để hệ thống hóa khái niệm
Sắp xếp khái niệm mới vào hệ thống khái niệm đã học
- Nhận biết mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau trong cùng một hệ thống
- Vận dụng khái niệm để giải quyết các vấn đề trong hóa học và trong đời sống
1.2.6.2 Ứng dụng graph để cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa
Hình 1.4 Ứng dụng graph cấu trúc hóa nội dung bài anken
Graph xây dựng mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình, một chương hay một bài) Điều này giúp cho hoạt động dạy học
có hiệu quả hơn HS có thể định hướng được các hoạt động trí tuệ và kích thích sự tìm tòi
để chiếm lĩnh hệ thống tri thức mới Những tri thức mà HS tự tìm tòi chiếm lĩnh được sẽ
nhớ lâu hơn, tái hiện chính xác hơn
Hình 1.3 Graph v ề các dạng thù hình của photpho và quá trình biến
photpho đỏ thành photpho trắng
Trang 241.2.6.3 Ứng dụng graph để hướng dẫn học sinh tự học
Ho ạt động của giáo viên gồm:
- GV tiến hành lập graph khung và graph nội dung của bài lên lớp dựa vào SGK và các tài liệu tham khảo khác
- GV soạn graph phương pháp (các tình huống dạy học của bài lên lớp)
- GV thực hiện giờ học bằng các tình huống dạy học của bài lên lớp theo graph, tức là triển khai graph nội dung thành hoạt động dạy học của mình và chỉ đạo hoạt động lĩnh
hội của trò
H ọc sinh tiến hành các hoạt động gồm:
- HS tự thiết lập graph ở nhà khi chuẩn bị cho bài ôn tập, luyện tập
- Trên lớp HS nghe, hiểu ghi nhớ ban đầu graph ban đầu khung sau là graph nội dung chi tiết
- Về nhà tự học bằng phương pháp graph để nắm vững nội dung của bài học được kết tinh trong graph nội dung chi tiết của bài lên lớp
- Thông qua hoạt động học tập bằng graph, HS sẽ hình thành tư duy hệ thống GV có
thể hướng dẫn HS nghiên cứu nội dung của bài khóa trong SGK hoặc quan sát mô hình,
vật mẫu cụ thể…để đi đến các yếu tố cấu trúc của đối tượng nghiên cứu rồi lập graph thể
hiện các mối quan hệ của các yếu tố cấu trúc đó
- HS còn có thể tự học ở nhà, bằng graph HS có thể lập được dàn ý cơ bản của các nội dung học tập Từ đó tạo điểm tựa để HS ghi nhớ và vận dụng kiến thức một cách linh
hoạt, có hệ thống
Giáo viên ki ểm tra, đánh giá HS và HS tự kiểm tra đánh giá bản thân:
- Trình độ lĩnh hội và graph nội dung
- Kỹ năng đọc và sử dụng graph nội dung
- Khả năng tự lập graph nội dung
1.2.6.4 Ứng dụng graph để hoàn thiện kiến thức
Graph có thể được sử dụng trong phần củng cố cuối bài hay trong bài luyện tập, bài ôn
tập cuối chương
• GV đưa ra graph
- GV đưa ra graph với các đỉnh còn trống hay chưa có các cạnh
- Yêu cầu HS điền thông tin vào các chỗ trống
- GV nhận xét, điều chỉnh, tổng kết thành graph nội dung đủ kiến thức chốt
Trang 25• HS tự xây dựng graph
- GV nêu định hướng chung, những yêu cầu cơ bản của bài luyện tập, ôn tập
- HS tự xây dựng graph
- GV nhận xét, điều chỉnh và tổng kết
Ví d ụ: Lập graph khi dạy bài luyện tập “ankan và xicloankan”
- GV nêu định hướng chung của bài luyện tập thông qua hệ thống câu hỏi
+ Hidrocacbon no gồm những loại nào? Nêu công thức chung của chúng
+ So sánh đặc điểm cấu tạo của chúng, từ đó so sánh tính chất hóa học
+ Dựa vào tính chất hóa học và thực tế cuộc sống hãy nêu ứng dụng của các hidrocacbon này Nêu phương pháp điều chế
- HS dựa vào hệ thống câu hỏi xác định các đỉnh graph và thiết lập các mối quan hệ
giữa các đỉnh
1.2.6.5 Ứng dụng graph trong giải toán hóa học
• GV lập graph nội dung
- GV giúp HS nắm rõ các dạng bài tập, các giả thuyết của bài tập, mối quan hệ giữa các yêu cầu và giả thuyết dưới dạng graph
- Thông qua graph GV hướng dẫn HS các bước giải bài tập
- GV giải bài tập cụ thể từng bước, HS quan sát, ghi nhận
• GV hướng dẫn HS lập graph
- GV hướng dẫn HS thiết lập graph thể hiện mối quan hệ giữa các giả thiết với yêu
cầu của bài tập
- HS dựa vào graph xây dựng các bước giải bài tập
- GV nhận xét, điều chỉnh và tổng kết
Ví d ụ: Cho 40ml dd axit clohidric 0,5M tác dụng với đá vôi có dư Dẫn khí sinh ra vào
một bình đựng dd NaOH(dư) cho đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn Dd thu được cho tác dụng với dd BaCl2 dư xuất hiện kết tủa trắng Tính khối lượng kết tủa
Từ graph đầu bài, HS xác định được quá trình phản ứng xảy ra theo trình tự logic nào, ẩn
số cần tìm là gì, từ đó giúp HS phân tích để suy ra cách giải hợp lí nhất
Trang 261.2.7 Nhận xét - đánh giá chung về graph
Hình 1.5 T ổng thể về graph
Graph với tính khái quát cao; tính trực quan sinh động; tính hệ thống sâu sắc; tính súc tích, ngắn gọn, dễ nhớ giúp GV rất nhiều trong việc hệ thống kiến thức, tìm ra mối liên
hệ các kiến thức dưới dạng các sơ đồ trực quan Sử dụng graph khi ôn tập, luyện tập có
thể hệ thống được khối lượng lớn kiến thức một cách logic mà vẫn làm cho người học dễ
nắm bắt, dễ củng cố lại toàn bộ HS dễ dàng hiểu được các kiến thức chủ yếu, quan trọng
ở các đỉnh của graph và cả logic phát triển của cả một hệ thống kiến thức Hình ảnh trực quan là những biểu tượng cho sự ghi nhớ và tái hiện kiến thức của HS Như vậy sử dụng graph trong dạy học là việc làm cần thiết để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS GV biết cách vận dụng linh hoạt graph để thiết kế các hoạt động học tập của
HS sẽ đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông
1.3 Sơ đồ tư duy
1.3 1 Khái niệm [1], [66]
- Theo Từ điển bách khoa toàn thư: “Sơ đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận của não Đây là cách ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay phân tích một vấn đề thành một lược đồ phân nhánh Đây là một kỹ thuật nâng cao cách ghi chép: tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong
đó các đối tượng liên kết với nhau bằng các đường nổi Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng nhanh chóng hơn”
Trang 27- SĐTD do Tony Buzzan đưa ra vào năm 1970, hiện nay đã được sử dụng bởi 2520 triệu người trên thế giới Theo Tony Buzzan: “SĐTD giúp chúng ta tận dụng được các
chức năng vỏ não trái và phải Đây là công cụ vận dụng được toàn bộ sức mạnh của bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn bên trong mỗi người”
(*) ( Tony Buzan đạt danh hiệu người có trí thông minh sáng tạo cao nhất thế giới (Creativity IQ) Ông là người phát minh ra sơ đồ tư duy (Mind Mapping), người sáng lập Quỹ não bộ (Brain Trust), chủ
t ịch Tổ chức về não bộ (Brain Foundation) và là người phát triển về Ngôn ngữ não bộ (Mental Literacy) Ông là m ột trong những tác giả nổi tiếng nhất thế giới Ông đã viết và xuất bản hơn 20 quyển sách về não b ộ, về sự sáng tạo và việc học Đến nay, những quyển sách của ông được dịch sang hơn 20 thứ tiếng
và xuất bản hơn 50 nước Quyển sách truyền thống bán chạy nhất của ông “Use your head” (tận dụng trí não c ủa bạn) đã được bán hơn một triệu bản trên khắp thế giới
Ông được tạp chí Forbes của Mỹ đánh giá là một trong những giáo sư hàng đầu thế giới cùng với
nh ững nhân vật nổi tiếng như Magaret Thatcher và Henry Kissinger Gần đây nhất Tony Buzzan cùng với Raymond Keene đã tổ chức Đại hội thi đấu não bộ (Mind Sport Olympiad) lần đầu tiên trên thế giới
t ại Royal Festival Hall London (tháng 8 năm 1997)
Nh ững hoạt động trên là tất cả cống hiến của Tony Buzan trong việc giúp con người giải phóng được
s ức mạnh phi thường của não bộ Ông có những ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với hàng triệu người
kh ắp thế giới trong cách họ tiếp cận, suy nghĩ và tư duy)
- Tuy nhiên trong giới hạn đề tài chúng tôi sử dụng SĐTD nổi bật với ý nghĩa là một phương tiện mạnh hiển thị sự liên kết rõ ràng giữa các ý tưởng thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu SĐTD cho phép làm nổi bật các ý tưởng tượng trọng tâm bằng cách sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Giúp tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ về những gì học được mà không bỏ sót bất kì một thông tin quan trọng nào
1.3.2 Ưu điểm của sơ đồ tư duy [1]
1.3.2.1 Sơ đồ tư duy giúp tiết kiệm được thời gian
Nếu ghi chú kiểu truyền thống chắt lọc thông tin từ trong sách giúp tạo thành câu văn hoàn chỉnh cho một môn học nhưng lại không cần thiết cho việc học (chiếm 60 đến 80% tổng số từ) Lúc này 60-80% thời gian học và cả trí nhớ vẫn bị lãng phí
Trong khi đó với SĐTD chỉ tận dụng các từ khóa, HS có thể tổng hợp, hệ thống hoá,
ôn lại kiến thức trong một chương bằng hai hoặc ba trang SĐTD
1.3.2 2 Sơ đồ tư duy giúp tiếp thu bài nhanh hơn và nhớ bài lâu hơn
Trang 28Ghi chú truyền thống không có hình vẽ để hình dung; không thể hiện sự khác nhau giữa các điểm chính trong bài; không làm nổi bật thông tin; không nắm được thông tin tổng quát ngay từ phút đầu tiên; không tận dụng được trí tưởng tượng
SĐTD (phát minh bởi Tony Buzan) lại là một công cụ ghi chú tuyệt vời giúp đạt được
tất cả các yếu tố trên và được gọi là công cụ ghi chú tối ưu
Ngoài việc tận dụng từ khóa, SĐTD còn tận dụng nguyên tắc Trí nhớ siêu đẳng
• Sự hình dung: SĐTD có rất nhiều hình ảnh để hình dung kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ SĐTD
là một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc phong phú hơn một bài học khô khan, nhàm chán
• Sự liên tưởng: SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng rõ ràng
• Làm nổi bật sự việc: thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu; SĐTD cho phép bạn làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh
đa dạng Hơn nữa việc SĐTD sử dụng nhiều màu sắc khiến HS phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú Tuy nhiên đây không phải là bức tranh đầy màu sắc, sặc
sỡ thông thường mà là một bức tranh lập luận liên kết chặt chẽ những kiến thức trọng tâm cần nắm bắt
1.3.2 3 Sơ đồ tư duy giúp tận dụng tối ưu các chức năng của não
Theo các nhà nghiên cứu khoa học, với cách ghi chép truyền thống, con người chỉ mới
sử dụng một nửa phía bên trái của bộ não mà chưa hề sử dụng kỹ năng não bên phải Trong khi đó phía bên phải này lại giúp con người xử lý tốt các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian Nói cách khác, con người mới chỉ sử dụng 50% khả năng của bộ não trong việc tiếp nhận thông tin Chính vì thế Tony Buzan đã đưa ra SĐTD (Mindmap)
để giúp con người thực hiện được mục tiêu tận dụng hết 50% còn lại của não bộ Và nếu vận dụng đúng cách sẽ hoàn toàn giải phóng năng lực tiềm ẩn trong mỗi người học, đưa con người lên đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài
1.3.3 Cấu trúc của sơ đồ tư duy [4], [5], [6]
Trang 29SĐTD được vẽ, viết, đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài
và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hoặc một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp một bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh được kết nối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
1.3.4 Các quy tắc trong sơ đồ tư duy [4], [5], [6]
1.3.4 1 Nhấn mạnh
Đây là một quy tắc quan trọng vì có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu
Chúng ta cần:
- Dùng một hình ảnh trung tâm hoặc từ ngữ có màu sắc, kích cỡ thật lôi cuốn
- Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD nhằm tăng cường khả năng hình dung
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in: thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần
Trang 301.3.4 3 Mạch lạc
Diễn đạt rõ ràng, hệ thống giúp tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
- Chữ viết rõ ràng giúp não dễ chụp ảnh hơn
- Vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với hình ảnh trung tâm
- Ảnh vẽ rõ ràng trông đẹp mắt và hấp dẫn hơn đồng thời giúp tư duy mạch lạc
1.3.4 4 Tạo phong cách riêng
Mỗi người đều là những cá thể độc đáo SĐTD phải phản ánh được lối tư duy độc đáo trong bộ não mỗi người
1.3.5 Các bước thiết kế sơ đồ tư duy
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một SĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
- Có thể bổ sung thêm từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
Quy tắc vẽ:
- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật
- Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Quy tắc vẽ:
- Nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
- Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian
và thời gian Hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng mình
- Mỗi từ khóa hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và
Trang 31những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách
vẽ nối ra từ một khúc)
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm
- Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (cùng một ý) nên có cùng một màu
- Chỉ thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Bước 4: Hãy để trí tưởng tượng bay bổng Chúng ta có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm
giúp các ý quan trọng thêm nổi bật cũng như giúp chúng ta ghi nhớ tốt hơn
1.3 6 Khái quát về phần mềm thiết kế sơ đồ tư duy [61]
1.3 6.1 Giới thiệu một số phần mềm dùng để tạo sơ đồ tư duy
Một SĐTD có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau Tuy nhiên cách thức này có nhược điểm khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo SĐTD Dưới dây là một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind mapping”:
Phần mềm Buzan’s I Mindmap: một phần mềm thương mại Tuy nhiên có thể tái bản dùng thử 30 ngày Phần mềm do công ty Buzan online Ltd thực hiện Trang chủ tại: www.imindmap.com
Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration Software.Inc Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (mẫu giáo đến lớp 5) rất dễ dùng
và nhiều màu sắc Có thể dùng thử 30 ngày Trang chủ tại: www.inspiration.com
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind Technologies Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ khóa Có thể dùng thử
30 ngày Trang chủ tại: www.visualmind.com
Phần mềm Freemind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình trên Java Các icon, màu sắc chưa được phong phú hấp dẫn về hình thức, tuy nhiên chương trình có đầy đủ chức năng để thực hiện mindmapping Trang chủ tại:
http://freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/mainpage
Ngoài ra còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mindmapping tại địa chỉ: http://en.wikipedia.org/wiki/listofmindmappingsoftware
1.3 6.2 Sơ lược về phần mềm Mindjet Mindmanager
Mindjet Mindmanager Pro là sản phẩm số lấy ý tưởng từ SĐTD Mind Map nổi tiếng Luyện tập với chương trình này, người sử dụng sẽ hình thành cách ghi chép và suy nghĩ tổng thể cũng như chi tiết Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến bạn khó
Trang 32hình dung tổng thể vấn đề dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Còn SĐTD tập trung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic Mindjet Mindmanager thích hợp với HS, sinh viên cần sơ đồ hóa bài giảng hoặc đề tài nghiên cứu Mindjet MindManager giúp sắp xếp công việc một cách thông minh, sáng tạo và bớt tốn thời gian hơn bằng cách theo dõi nhóm công việc, tổ chức và truyền thông tin một cách có hiệu quả
Với giao diện đẹp mắt và bóng bẩy, truy cập nhanh chóng bằng các phím chức năng, Mindjet Mindmanager giúp cho người dùng giải quyết các vấn đề phức tạp và cải thiện hơn năng suất Dễ dàng sử dụng các mẫu sơ đồ, chế độ xem nhiều sơ đồ, các cảnh báo dự
án và công cụ lọc giúp nâng cao các chiến lược, dự án và kế hoạch hoặc quản lý tiến trình Phát triển nhanh dự án và tối đa hóa năng suất công việc, Mindjet Mindmanager maps có thể kết nối với nhiều nguồn dữ liệu, trong đó bao gồm các ứng dụng sản xuất và
giải pháp kinh doanh như Microsoft Office (Excel, Word, PowerPoint) Hỗ trợ xuất ra nhiều định dạng, từ các định dạng ảnh thông dụng đến PDF, Doc, HTML, TXT, XML đến định dạng riêng của chương trình (.mmap)
Ưu điểm của Mindjet Mindmanager thể hiện đầy đủ các tính năng, rất mạnh, giao diện quen thuộc nên chỉ mất chừng chục phút để làm quen, hỗ trợ rất tốt những phần mềm khác như Microsoft Office, đồng thời Mindjet Mindmanager được sử dụng miễn phí
● Các thao tác cơ bản:
- Cài đặt chương trình: tương tự như các phần mềm khác
- Các thao tác: đóng, mở, lưu tương tự trong Microsoft Office
● Cách tạo sơ đồ:
Bước 1: Mở ứng dụng
- Trên màn hình Window chọn Start/Mindjet Mindmanager
- Sau khi mở chương trình, nhấn vào New để tạo sơ đồ mới
- Giao diện chính của chương trình như sau:
Trang 33Bước 2: Thiết lập tài liệu mindmap
- Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic: Ấn Enter để hoàn thành
- Tạo những nhánh con
+ Click chuột trái 2 lần (R-click > Insert Main Topic) để tạo nhánh con cấp 1
+ Insert/subtopic để tạo nhánh con,triển khai kế hoạch chi tiết hơn Hoặc R-click
chọn Insert/subtopic
+ Phím Enter (Insert/topic) để tạo nhánh con cùng cấp với con trỏ chuột
+ Relationship: chỉ rõ mối quan hệ giữa các thông tin có liên quan với nhau
+ Boundary: chọn các thông tin cần nhóm lại
+ Hyperlink: tạo liên kết của Main/Sub Topic với một tài liệu hoặc website…
Trang 34Bước 3: Hiệu chỉnh Mindmap (Format – Topics)
- Topics Shape: chức năng thay đổi hình dáng của Central/Main và Sub topics nhằm làm cho tài liệu sinh động hơn và dễ nhận biết
- Growth Direction: chức năng sắp xếp bố cục Mindmap theo nhiều hình dạng
- Topics line style: giúp thay đổi hình dạng đường kết nối giữa các topics
- Image placement: chức năng cho phép thay đổi vị trí hiển thị các hình ảnh
- Relationship Shape: sử dụng để thay đổi kiểu đường liên kết giữa hai topics
- Boundary Shape: sử dụng để thay đổi hình dáng khung bao
- Align Topics: sử dụng canh lề cho nhiều topics với nhau giúp thông tin rõ ràng, dễ nhìn và dễ tra cứu
- Formatting: sử dụng định dạng nội dung văn bản trong các topics như: Font chữ, kích thước chữ, màu sắc văn bản,…
Bước 4: Xem và trình bày Mindmap
- Menu VIEW-Topics: lựa chọn chế độ xem: xem tài liệu (Map view); xem tổng thể
bố cục (Outline view); xem nhiều tài liệu Mindmap trong một màn hình…
Bước 5: Lưu Mindmap
Bước 6: Xuất file Mindmap
Sau khi hoàn thành sơ đồ muốn xuất ra dạng Word, PowerPoint, Image, PDF…click vào biểu tượng sơ đồ ở góc trên cùng bên trái để chọn các định dạng
Trang 35Chú ý:
- Có thể thêm các nội dung vào Main Topic và Subtopic
- Các nhánh có thể xóa và thêm dễ dàng Ngoài ra, ta còn chèn được ghi chú, văn bản, hình ảnh, âm thanh, đường link trang web và tô màu sắc
- Ta có thể chọn sơ đồ có sẵn (hoặc một sơ đồ theo loại) bằng cách: chọn Tools Map Templates (hoặc Map Styles) > chọn một map có sẵn > Modify Chỉnh sửa sơ đồ có
sẵn ta sẽ được sơ đồ mới
1.3.7 Ứng dụng của sơ đồ tư duy trong dạy học [61]
1.3.7.1 Ứng dụng trong soạn ghi chú cho bài giảng
Dùng SĐTD làm ghi chú cho bài giảng là cách ứng dụng hữu hiệu nhất
• SĐTD có ưu điểm lớn là cho phép cả GV lẫn HS luôn có cái nhìn tổng quát về chủ
đề Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, SĐTD cho phép GV chỉ cần xem lướt qua trước khi đến lớp là có thể nhanh chóng nắm bắt trọng tâm
• SĐTD giúp việc giảng dạy trở nên sinh động hấp dẫn hơn GV có khả năng duy trì
sự cân đối tuyệt vời giữa tính ngẫu hứng, sinh động của một bài với bố cục, hợp lý, rõ ràng, giảng bài theo đúng thời gian quy định, hoặc nếu thời gian quy định thay đổi vì lý
do nào đó thì GV cũng có thể chỉnh sửa cho bài giảng dài hơn hoặc ngắn đi theo yêu cầu Chức năng chỉnh sửa này rất hữu ích trong trường hợp GV nhận được một thông tin mới nào đó ngay trước lúc giảng
Trang 36Ví d ụ: Sơ đồ tư duy trong soạn ghi chú, ghi chép
1.3.7.2 Ứng dụng trong đọc sách
Ví d ụ: Sơ đồ tư duy trong đọc sách
Đọc là tiếp thu ý của tác giả từ cuốn sách hoặc đọc là hấp thụ được từ ngữ trong trang sách SĐTD về cách đọc sách sẽ giúp ta thực hiện những điều trên một cách mạch lạc và khoa học, hợp lý nhất đảm bảo rằng những thông tin mà đọc được từ sách là đầy đủ Bởi
vì trong SĐTD dùng nhiều hình ảnh bên cạnh những nội dung trọng tâm sẽ giúp ta gợi
nhớ tốt hơn
1.3.7.3 Ứng dụng trong luyện tập, ôn tập, thi cử
Nếu mục đích của kỳ thi là kiểm tra kiến thức và mức độ hiểu bài chứ không phải khả năng viết của HS thì SĐTD là giải pháp lý tưởng, vì có thể giúp GV thấy ngay HS có bao quát được chủ đề hay không, cũng như các mặt mạnh và yếu của mỗi HS Ngoài ra
Hình 1.8 SĐTD trong đọc sách Hình 1.7 SĐTD trong soạn ghi chú, ghi chép
Trang 37SĐTD còn cho thấy những chỗ mà chuỗi liên kết ý tưởng, vì một lý do nào đó, đã bị lệch lạc Do vậy, công cụ này sẽ giúp GV có thể đánh giá rõ ràng và khách quan mức độ hiểu biết của HS mà không bị ảnh hưởng bởi cảm nhận về những kỹ năng trong các lĩnh vực khác như đúng ngữ pháp, không sai chính tả hay chữ viết rõ ràng Hơn nữa, hình thức kiểm tra theo cách vừa nêu còn tiết kiệm nhiều thời gian thường bị mất cho việc đọc và chấm nhiều bài thi
Không những thế, về phía HS có thể lập SĐTD lên kế hoạch cho việc ôn tập, chuẩn bị cho việc thi cử của mình Người học thấy được hình ảnh khái quát về các hoạt động trong quá trình thi cử, sự phối hợp trong kế hoạch để đạt hiệu quả cao
Ví dụ: Sơ đồ tư duy cho việc ôn tập thi cử
1.3.7.4 Ứng dụng trong thuyết trình
Hình 1.9 SĐTD trong ôn tập, thi cử
Trang 38Ví d ụ: Sơ đồ tư duy trong thuyết trình
Phát biểu trước đông người, đọc một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình, chúng ta
đã thể hiện cả hai mặt: ngôn ngữ cơ thể và tinh thần Thật khó có thể tránh khỏi những sai
lầm trước người nghe Vì thế chúng ta thấy lúng túng
Nếu chúng ta dành thời gian để lập SĐTD về tất cả những thông tin cơ bản bài thuyết trình trước khi quyết định cụ thể chủ đề để nói, sẽ thấy dễ dàng hơn để tập trung vào vấn
đề chính đồng thời ta cũng thấy được những vấn đề cần chuẩn bị, những điểm cần chú ý khi trình bày để đạt hiệu quả cao nhất
1.3 7.5 Ứng dụng trong học nhóm
Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến trong khi đó mỗi người luôn giữ chính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không đi được kết luận cuối cùng Sử dụng SĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi SĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề Không những vậy, SĐTD đa chiều tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng nên SĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên SĐTD Qua đó giúp cho thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống, việc ghi nhớ và vận dụng
sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào sơ đồ bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học SĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa
Hình 1.10 SĐTD trong thuyết trình
Trang 39hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng
tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học
Ví d ụ: Sơ đồ tư duy trong làm việc tổ nhóm
SĐTD cung cấp cho ta cái nhìn chi tiết và cụ thể Khi mọi người tập trung vào chủ đề
ở giữa thì bộ não của mỗi thành viên đều hướng tới trọng tâm tạo nên sự đồng thuận tập thể, cùng hướng tới một mục tiêu chung và định hướng được kết quả, kết hợp sức mạnh
cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả Các nhánh chính của SĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng
tư duy một cách logic Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi thành viên SĐTD tạo cho mỗi thành viên
cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn
1.3.7.6 Ứng dụng trong hoạch định cho năm và học kỳ
Hình 1.11 SĐTD trong làm việc tổ nhóm
Trang 40- GV có thể dùng SĐTD để có cái nhìn tổng quát về chương trình học cả năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học phải dạy SĐTD cho học kỳ thường có dạng SĐTD nhỏ hơn và được phát triển thành một hoặc nhiều nhánh trong chương trình cho năm Kế hoạch của học kỳ có thể cho thấy chủ đề và thứ tự giảng dạy mà GV sẽ theo trong giáo trình
1.3.7.7 Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học
Ví dụ: Sơ đồ tư duy trong nghiên cứu khoa học
Con người muốn làm khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp làm việc từ lúc ngồi trên ghế nhà trường SĐTD sẽ giúp chúng ta làm việc một cách khoa học, hợp lý hơn và mạch lạc hơn Từ ý trung tâm là nghiên cứu khoa học, chúng ta có thể phân ra thành các nhánh phụ như: lựa chọn chủ đề, quy mô phạm vi, xác định thông tin, lên quy trình thiết
kế - nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, xử lý phân tích, làm sáng tỏ vấn đề, viết báo cáo Ngoài ra cần thêm vào các hình ảnh liên quan đến những vấn đề mà ta cần quan tâm trong quá trình nghiên cứu
Hình 1.12 SĐTD trong nghiên cứu khoa học