KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HÓA HỌC Phan Thiên Thanh Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY HÓA HỌC Tên đề tài SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN T
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN HÓA HỌC Phan Thiên Thanh
Chuyên ngành:
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY HÓA HỌC Tên đề tài
SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NÂNG CAO
TP Hồ Chí Minh – tháng 5 năm 2012
Trang 2MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NÂNG CAO
Người hướng dẫn: ThS Đào Thị Hoàng Hoa Sinh viên thực hiện: Phan Thiên Thanh
TP Hồ Chí Minh – tháng 5 năm 2012
Trang 3b ản thân, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn
bè
Nhân đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Các Th ầy Cô trong khoa đã tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên Hóa 4 chúng em th ực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, là cô Đào Thị Hoàng Hoa - đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chu đáo và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài
Cô Nguy ễn Thị Bích Thảo và các thầy cô trong tổ Hóa trường THPT chuyên Tr ần Đại Nghĩa đã tận tình hướng dẫn, giúp em có được nhiều kinh nghiệm quý báu, t ạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình em thực nghiệm đề tài
G ửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị đi trước, đặc biệt là cô Hồ Minh Trang đã hỗ trợ, giúp đỡ và góp ý chân thành cho em trong quá trình thực nghi ệm đề tài Cùng với những người bạn đã luôn sát cánh bên em giúp em vượt qua
nh ững khó khăn, trở ngại
Xin gửi đến những người thân trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ em lời
bi ết ơn sâu sắc nhất – những người luôn bên em, động viên, khuyến khích để em có đủ nghị lực để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Trong quá trình hoàn thành đề tài do chưa có kinh nghiệm và do thời gian có hạn nên không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô và các bạn thông cảm Đồng thời em cũng mong muốn nhận được sự góp ý chân thành từ thầy cô và các bạn
Sau cùng, em xin được gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến tất cả mọi người
Thành ph ố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2012
SVTH Phan Thiên Thanh
Trang 4BẢNG DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1.1 Giới thiệu một số công trình gần gũi với đề tài nghiên cứu 11
1.1.2 Bảng so sánh điểm mạnh - yếu của các đề tài trên 12
1.1.3 Nhận xét chung 15
1.2 TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 16
1.2.1 Đặc trưng của phương pháp dạy học Hóa học 16
1.2.2 Một số xu hướng đổi mới cơ bản phương pháp dạy học hiện nay 17
1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học bằng việc sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học… 18
1.3 TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC HIỆN NAY 22
1.3.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học 22
1.3.2 Thuận lợi và thách thức khi ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông 25
1.3.3 Một số phương hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở nước ta…… 27
1.4 TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG BGĐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 28
1.4.1 Khái niệm BGĐT 28
1.4.2 Cấu trúc của BGĐT 29
1.4.3 Yêu cầu khi soạn BGĐT 31
1.4.4 Ưu điểm của việc sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học 32
Trang 5CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC THIẾT KẾ HỆ
THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 46
2.1 HỆ THỐNG CÁC TIÊU CHUẨN CỦA BGĐT HÓA HỌC PHỔ THÔNG CÓ TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC 46
2.1.1 Tiêu chuẩn 1: Về nội dung của BGĐT 47
2.1.2 Tiêu chuẩn 2: Về hình thức của BGĐT 49
2.1.3 Tiêu chuẩn 3: Về tổ chức và trình bày của BGĐT 50
2.1.4 Tiêu chuẩn 4: Về công nghệ của BGĐT 50
2.1.5 Tiêu chuẩn 5: Về hiệu quả của BGĐT 51
2.2 CÁC DẠNG BGĐT MÔN HÓA HỌC VÀ QUY TRÌNH THIẾT KẾ BGĐT HÓA HỌC PHỔ THÔNG 51
2.2.1 Các dạng BGĐT môn Hóa học 51
2.2.2 Quy trình thiết kế BGĐT 52
2.3 CÁC PHẦN MỀM ĐƯỢC DÙNG ĐỂ THIẾT KẾ HỆ THỐNG BGĐT TRONG PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 56
2.3.1 Phần mềm Violet phiên bản 1.7 56
2.3.2 Phần mềm Chemoffice 56
2.3.3 Phần mềm Yenka (hay Crocodile) 56
2.3.4 Phần mềm Periodic Table Classic 3.8.1 57
2.3.5 Phần mềm Wondershare QuizCreator 57
2.4 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG CÁC BGĐT CÓ TÍCH HỢP PHẦN MỀM DẠY HỌC TÍCH CỰC, HIỆN ĐẠI 57
2.5 CÁCH THIẾT KẾ BGĐT CÓ TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC TÍCH CỰC, HIỆN ĐẠI 59
2.6 SỬ DỤNG HIỆU QUẢ HỆ THỐNG BGĐT CÓ TÍCH HỢP PHẦN MỀM DẠY HỌC TÍCH CỰC, HIỆN ĐẠI 75
Trang 63.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 76
3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 77
3.4 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 78
3.5 TI ẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 78
3.5.1 Điều tra cơ bản 78
3.5.2 Chuẩn bị cho tiết lên lớp 79
3.5.3 Tiến hành giảng dạy và thu thập kết quả 80
3.6 K ẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 80
3.6.1 Kết quả thực nghiệm định tính 80
3.6.2 Kết quả thực nghiệm định lượng 88
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 7BẢNG DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết đầy đủ Viết tắt
1 Công nghệ thông tin CNTT
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự bùng nổ của Khoa học công nghệ nói riêng và CNTT nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, nếu muốn nền giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và việc dạy học theo kịp cuộc sống thì nhất thiết chúng ta phải cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của HS để nâng cao chất lượng đào tạo Đảng
và Nhà nước ta rất quan tâm và khuyến khích ứng dụng CNTT vào phương pháp giảng dạy thể hiện bằng việc ban hành Chỉ thị 55/2008/CT-BGD & ĐT của Bộ
trưởng Bộ GD & ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 Năm học 2008 - 2009 được chọn là "Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT", tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo
dục và tạo tiền đề ứng dụng và phát triển CNTT trong những năm tiếp theo Từ những lí do đó đòi hỏi nhà giáo cần nỗ lực đầu tư nhiều hơn nữa trong việc xây dựng các bài lên lớp của mình, vừa phải đảm bảo kiến thức đầy đủ, chính xác vừa phải ứng dụng CNTT vào bài giảng để có thể đạt kết quả tối đa trong quá trình giảng dạy Vì vậy, BGĐT hiện nay không còn xa lạ đối với GV và HS mà được sử dụng một cách phổ biến trong tất cả các môn học nói chung và môn Hóa học nói riêng trong trường phổ thông
Môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, có liên hệ rất nhiều trong đời sống hàng ngày nên việc sử dụng các phương tiện trực quan sinh động là không thể thiếu
Do đó, BGĐT Hóa học ngày càng được GV ưa chuộng bởi sự hữu ích của chúng trong việc chuyển tải kiến thức một cách trực quan, sinh động và thuận tiện đến người học Tuy nhiên, đa số BGĐT hiện nay trên thị trường chưa được kiểm định, đánh giá theo các tiêu chuẩn, chất lượng nhất định, còn soạn rất đơn điệu, sơ sài,
Trang 9chưa phát huy được những ưu điểm của BGĐT Chủ yếu chỉ sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint mà chưa phối hợp được các phần mềm hiện đại hỗ trợ để đơn giản hóa quá trình soạn BGĐT, rút ngắn thời gian và đạt kết quả tốt nhất
Với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu để có thể thiết kế hệ thống bài BGĐT có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng CNTT trong dạy và học Hóa học
cùng với sự động viên, khuyến khích của GV hướng dẫn tôi quyết định chọn đề tài:
SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN HÓA HỌC LỚP 10 NÂNG CAO
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của một BGĐT Hóa học và thiết kế hệ thống BGĐT Hóa học lớp 10 ban nâng cao có tích hợp các phần mềm dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
− Nghiên cứu cơ sở lý luận về BGĐT
− Nghiên cứu một số phần mềm dạy học để tích hợp vào BGĐT và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của một BGĐT Hóa học
− Thiết kế hệ thống BGĐT trong chương trình Hóa học 10 ban nâng cao có tích hợp phần mềm dạy học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a Đối tượng: Hệ thống BGĐT trong chương trình Hóa học 10 ban nâng cao có
tích hợp các phần mềm dạy học
b Khách thể: Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT
5 Giả thuyết khoa học
a Về mặt lý luận, hệ thống bài giảng này sẽ là hình mẫu cho các GV trong việc
tham khảo và thiết kế các bài giảng của riêng họ Bên cạnh đó, các bài giảng sẽ là điển hình về mặt phương pháp nhằm giúp GV định hướng, phát triển bài học và phối hợp các phương pháp giảng dạy một cách tốt nhất
Trang 10b Về mặt thực tiễn, hệ thống bài giảng sẽ tăng cường tối đa việc tương tác giữa
thầy và trò, hỗ trợ việc tự học của HS, nâng cao hứng thú của các em, từ đó thúc đẩy chất lượng dạy học môn Hóa học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc, phân tích, tổng hợp, đánh giá tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phát phiếu điều tra
- Thực nghiệm sư phạm hệ thống BGĐT đã thiết kế
- Phương pháp toán học
7 Giới hạn đề tài
Vì thời gian có hạn nên đề tài của chúng tôi chỉ tiến hành xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của một BGĐT Hóa học và thiết kế hệ thống BGĐT Hóa học lớp 10 ban nâng cao gồm 21 BGĐT có tích hợp các phần mềm dạy học (cụ thể là 5 phần mềm)
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chính vì vậy, nhiều sinh viên và học viên đã có nhiều đề tài nghiên cứu phục
vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học
1.1.1 G iới thiệu một số công trình gần gũi với đề tài nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp: “Sử dụng phần mềm Powerpoint trong dạy học Hóa
học lớp 10 ở trường THPT ” của sinh viên Nguyễn Thúy Anh Thư – Khoa Hóa –
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2003)
Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế giáo án điện tử chương trình Hóa hữu cơ lớp
11 THPT bằng phần mềm Microsoft Powerpoint” của sinh viên Vũ Thị Phương
Linh – Khoa Hóa – Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2005)
Khóa luận tốt nghiệp: “Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash vào thiết kế
giáo án điện tử môn Hóa học” của sinh viên Nguyễn Hoàng Hương Thảo – Khoa
Hóa - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2006)
Khóa luận tốt nghiệp: “Sử dụng phần mềm Powerpoint thiết kế BGĐT chương
“S ự điện li” Hóa học 11 (theo chương trình thí điểm THPT)” của sinh viên Lê
Huỳnh Vy – Khoa Hóa - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2007)
Khóa luận tốt nghiệp: “Ứng dụng CNTT để thiết kế hệ thống BGĐT và tìm
kiếm các tư liệu hỗ trợ việc đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học lớp 10 THPT” của sinh viên Phạm Bảo Toàn - Khoa Hóa - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2007)
Trang 12Luận văn thạc sĩ: “Ứng dụng CNTT để thiết kế hệ thống BGĐT, nhằm nâng
ca o chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học lớp 10 (nâng cao)” của học viên
Nguyễn Thị Bích Thảo – Khoa Hóa - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2008)
Khóa luận tốt nghiệp: “Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash 8.0 mô phỏng
một số thí nghiệm và thiết kế BGĐT môn Hóa học lớp 10 chương Halogen và Oxi – Lưu huỳnh ở trường THPT” của sinh viên Vũ Lê Khánh Hà – Khoa Hóa - Trường
Đại học Sư phạm TP.HCM (2008)
Khóa luận tốt nghiệp: “Ứng dụng phần mềm Violet vào việc thiết kế BGĐT
Hóa học THPT” của sinh viên Trần Mạnh Thắng – Khoa Hóa - Trường Đại học Sư
phạm TP.HCM (2010)
1.1.2 B ảng so sánh điểm mạnh- yếu của các đề tài trên
STT Tên đề tài Ưu điểm Nhược điểm
rõ các bước để soạn thảo một BGĐT qua những tiện ích của phần mềm để tạo hình ảnh minh họa cho bài dạy
-Tác giả sưu tầm đa dạng hình ảnh, phim thí nghiệm để GV đưa vào bài dạy cụ thể
-Cơ sở lí luận chưa nói rõ những ưu, nhược điểm của BGĐT
- Luận văn chỉ có 2 giáo án minh họa
- Tác giả thiếu quan tâm đến việc tích hợp thêm một số phần mềm hỗ trợ Đặc biệt
Trang 13cơ thì sẽ nhanh chóng, đẹp và chính xác hơn
- Khóa luận chỉ áp dụng trên một số bài
cụ thể chưa thể hiện tính hệ thống cho toàn thể chương trình Hóa học lớp 11
- Các tư liệu hỗ trợ các
- Hệ thống BGĐT chỉ thể hiện qua chương
1, 2 và 3 lớp 10, do
đó chưa thể hiện
Trang 14được tính hệ thống của toàn chương trình Hóa học lớp 10
- Cách trình bày luận văn: canh dòng, lề chưa thống nhất
liệu, hình ảnh minh họa sinh động
- Cơ sở lí luận chưa
cô đọng
- Luận văn chỉ sử dụng phần mềm
Powerpoint, chưa tích hợp được các phần mềm dạy học khác
- Khóa luận thể hiện được một số BGĐT điển hình chưa có tính hệ thống cho toàn chương trình
Trang 15và có kèm theo một số phần mềm hỗ trợ khi soạn BGĐT
giảng chưa thể hiện được tính hệ thống
1.1.3 Nhận xét chung
Các đề tài trên đều thể hiện những điểm chung thống nhất như sau:
Ứng dụng CNTT vào dạy học Hóa học là một xu hướng tất yếu đổi mới phương pháp dạy học
Chương trình Microsoft Powerpoint được sử dụng phổ biến trong các đề tài nhờ tính thiết thực, hữu ích và tiện lợi của nó đối với GV ở trường phổ thông trong quá trình soạn BGĐT
Ngoài việc sử dụng phần mềm Powerpoint thì việc ứng dụng được các phần mềm khác vào bài giảng đã làm cho nội dung bài giảng hay và phong phú hơn Tuy vậy, đa số các luận văn trên chỉ chú trọng đi sâu tìm hiểu một phần mềm dạy học cụ thể và ứng dụng phần mềm đó vào một số BGĐT mà chưa phát huy được khả năng phối hợp nhiều phần mềm khác để quá trình thiết kế đạt kết quả tốt nhất Nội dung nghiên cứu chỉ gồm vài bài hay tối đa là ba chương nên còn tương đối ít Bên cạnh đó, các đề tài chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá BGĐT
Thế nên thông qua đề tài này, chúng tôi muốn tạo nên những điểm mới cho các BGĐT mà các đề tài đi trước vẫn chưa thể hiện được là thiết kế hệ thống BGĐT trong chương trình học của một khối lớp, cụ thể của đề tài là khối lớp 10 ban nâng cao đồng thời có tích hợp các phần mềm dạy học để đáp ứng được nhu cầu sử dụng CNTT ngày càng phát triển trong dạy và học Hóa học hiện nay dựa trên hệ thống tiêu chuẩn đánh giá BGĐT Tuy vậy, những đề tài trên cũng là những tư liệu quý
Trang 16giá, có nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn, giúp chúng tôi có thể rút ra nhiều điều bổ ích và những gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu của mình Chúng
tôi sẽ tiếp thu chọn lọc và phát huy những ý tưởng của các tác giả đi trước trên cơ
sở đối chiếu với yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể mà khóa luận tốt nghiệp của chúng tôi đặt ra
1.2 T ỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.2.1 Đặc trưng của phương pháp dạy học Hóa học [4]
Trong dạy học Hóa học, có 5 đặc trưng cơ bản về phương pháp dạy học
a Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết Từ đặc trưng riêng đó của bộ môn mà phương pháp dạy học Hóa học đòi hỏi phải kết hợp thống nhất phương pháp thực nghiệm - thực hành với tư duy khái niệm Vì vậy, trong dạy học Hóa học thí nghiệm là rất cần thiết, đặc biệt là trong các bài về chất
b Các phương pháp nhận thức sau đây được sử dụng một cách thường xuyên trong dạy học Hóa học:
− Phương pháp diễn dịch - quy nạp: sử dụng khi dạy về mối quan hệ giữa vị trí - cấu tạo - tính chất; khi hình thành khái niệm chu kì, nhóm trong bảng hệ thống tuần hoàn
− Phương pháp cụ thể - trừu tượng: môn Hóa học đòi hỏi HS phải có một trình độ phát triển nhất định về tư duy trừu tượng GV phải sử dụng phương tiện trực quan (hình vẽ, mô hình ) khi cập nhật các vấn đề mà HS không thể quan sát bằng mắt thường như các thí nghiệm không có khả năng thực hiện trong phòng thí nghiệm, các quy trình sản xuất Hóa học,
c Các học thuyết, định luật có vai trò rất lớn trong dạy học Hóa học:
- Là công cụ cho phép quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp
- Là công cụ để tiên đoán khoa học
- Là công cụ để dạy các chất cụ thể
Trang 17d Định luật tuần hoàn – hệ thống tuần hoàn và các kiến thức về cấu tạo chất là lý thuyết chủ đạo của hệ thống kiến thức dạy học Vì vậy, nó là phương tiện dạy học hiệu nghiệm
e Hóa học là bộ môn có nhiều ứng dụng trong đời sống Trong dạy học Hóa học,
GV cần phải thể hiện được sự liên hệ mật thiết giữa nội dung kiến thức Hóa học với thế giới tự nhiên và cuộc sống đời thường của con người; để HS có lòng tin vào khoa học, thấy được sự hữu ích của Hóa học trong đời sống xung quanh Trong các hình thức dạy học đó thì việc sử dụng bài tập Hóa học là công cụ dạy học rất hiệu nghiệm, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn đời sống Thông qua bài tập Hóa học, giúp HS củng cố, khắc sâu và mở rộng kiến thức bài học
Từ những đặc trưng đó của môn Hóa học, là cơ sở để các nhà giáo dục đưa ra các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tối đa hiệu quả trong dạy học Hóa học hiện nay
1.2.2 Một số xu hướng đổi mới cơ bản phương pháp dạy học hiện nay [4]
Thứ nhất là, phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực, tự lực, tự
chủ, sáng tạo của người học; chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS tức là
chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá, từ đó tạo điều kiện cho
HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Thực tế cho thấy nhiều nơi, nhiều trường
đã làm được điều này Chẳng hạn như, một số trường phổ thông ở TP HCM, bên cạnh những tiết học chính khóa trên lớp, trường còn tổ chức cho HS đi thực tế, tham gia nhiều buổi học ngoại khóa nhằm phát huy sự tìm tòi, học hỏi và sáng tạo của
HS Tuy nhiên, xu hướng đổi mới này cũng chưa được phổ biến Điều này còn tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương, tùy trình độ HS mà GV có thể áp dụng phương pháp này
Thứ hai là, phương pháp dạy học phải phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự
học và phương châm học suốt đời, cụ thể là GV không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời Ngày nay trên mọi phương tiện truyền thanh, truyền hình có nhiều chương trình học tập giúp cho hoạt động tự học như từ những
Trang 18chương trình Em yêu khoa học đến những chương trình Ôn thi tốt nghiệp, đại học
Các chương trình trò chơi truyền hình phục vụ cho phương châm học suốt đời vì nó
không giới hạn lứa tuổi của người chơi như Vui để học, Đường lên đỉnh Olimpia
Thứ ba là, phương pháp dạy học phải tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả
năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế như chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức Đây chính là cách thức làm cho kiến thức học gắn liền với thực tế để HS không cảm nhận những điều mình học là xa rời thực tế Ví dụ như những bài sản xuất Hóa học là sự vận dụng những phản ứng trong thí nghiệm vào thực tế sản xuất một cách có chọn lọc
Thứ tư là, phương pháp dạy học thể hiện được tính cá thể hóa việc dạy học
nghĩa là việc dạy học thích ứng với năng lực và điều kiện của từng người học ở mức
độ từ thấp đến cao Xu hướng này được áp dụng rất phổ biến trong các tiết dạy như cùng dạy một bài mới nhưng ở lớp giỏi GV có thể chọn phương pháp thảo luận nhóm, seminar , còn với lớp yếu có thể chọn phương pháp thuyết trình, đàm thoại
Thứ năm là, phương pháp dạy học giúp tăng cường sử dụng thông tin trên
mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học, đặc biệt là tin học và CNTT vào dạy học Hiện nay nhiều trường đang khuyến khích GV giảng dạy bằng giáo án điện tử
Thứ sáu là, GV từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí
nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức;
sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với đặc trưng bộ môn học
Cuối cùng là, GV gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng
cao (theo sự phát triển của HS, cấp học, bậc học) Tùy theo từng cấp học, tùy trình
độ HS, mà người dạy áp dụng nhiều hình thức nghiên cứu khoa học
1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học bằng việc sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học
a Khái niệm
Trang 19Phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất (sách vở, đồ dùng, máy móc, thiết bị ) dùng để dạy học [14]
− Thư viện điện tử
− Các thông tin trên mạng internet
Đẩy mạnh và hướng dẫn hoạt động nhận thức của HS
Con người nhận thức được thế giới quan bên ngoài là nhờ nghe được, thấy được,
cảm xúc được Những thông tin về thế giới khách quan mà con người nhận được là
nhờ các giác quan, là cơ sở của sự phản ánh trực tiếp thực tiễn
Trang 20Ngoài ra, con người còn nhận thức được thế giới bên ngoài nhờ ngôn ngữ là
những tín hiệu thông tin về thực tiễn khách quan đã được trừu tượng hóa Khi HS
bắt đầu học môn Hóa học, các em đã tích lũy một số biểu tượng ban đầu do quan sát
thực tiễn hoặc trao đổi thực tiễn mà có Vì vậy muốn cho HS hiểu bài một cách sâu
sắc và chính xác thì phải xây dựng các khái niệm, các thuyết từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng Nhưng trong lớp học không phải lúc nào cũng có điều kiện quan sát
thực tiễn, do đó người ta tạo cho các em quan sát hình ảnh các hiện tượng đó, tức là
phải sử dụng phương tiện trực quan
Phát triển khả năng thực hành
Thí nghiệm biểu diễn của GV là hình thức thí nghiệm quan trọng nhất trong dạy
học Hóa học ở trường THPT Thí nghiệm do GV trình bày với những thao tác chuẩn mực sẽ giúp HS hình thành kĩ năng thí nghiệm đầu tiên một cách chính xác Thí nghiệm Hóa học giúp HS nắm vững kiến thức một cách độc lập, sâu sắc,
vững chắc, nhờ sự quan sát mà rút ra được kiến thức, từ đó giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên
Các phương tiện trực quan sử dụng trong dạy học Hóa học sẽ kích thích hứng thú cho HS, tạo ra động lực học tập, lớp học trở nên sinh động
Phát triển trí tuệ
Mục đích của việc dạy học là trang bị cho HS tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt
là phát triển tư duy sáng tạo Vì vậy, việc sử dụng hợp lý các phương tiện trực quan
kết hợp với lời dẫn dắt thích hợp của GV giúp cho HS phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và hệ thống hóa các sự kiện
Giáo dục nhân cách của HS
Việc sử dụng các phương tiện trực quan góp phần hình thành ở HS hệ thống các khái niệm và nhận thức về thế giới xung quanh Từ đó giải thích được nhiều hiện tượng, sự vật đang xảy ra trong tự nhiên và cuộc sống Bên cạnh đó, giúp HS thêm
tự tin vào bản thân, say mê khoa học, tăng khả năng độc lập, tự chủ, sáng tạo
d Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Khi sử dụng phương tiện dạy học phải tuân theo những nguyên tắc sau:
Trang 21 Đúng mục đích: trong quá trình dạy học, trước hết GV phải đề ra mục đích dạy học nhất định Từ mục đích đó lựa chọn phương tiện dạy học phù hợp
Đúng lúc: hiệu quả sử dụng phương tiện được nâng cao lên rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng lúc nội dung và phương pháp giảng dạy cần nó nhất
Đúng chỗ: vị trí trình bày phương tiện phải đảm bảo cho toàn lớp quan sát được
Đủ cường độ: nếu kéo dài việc trình diễn phương tiện hoặc dùng lặp lại một loại phương tiện quá nhiều trong một buổi học, hiệu quả của chúng sẽ giảm
Để có thể phát huy tốt tác dụng của các phương tiện dạy học ta phải chú ý đến các điều sau:
Phải áp dụng các phương tiện dạy học một cách có hệ thống, đa dạng hóa hình thức của các phương tiện
Khi chọn các phương tiện dạy học phải tìm hiểu kĩ nội dung của chúng có phù hợp với nội dung của tiết học không
Sử dụng phương tiện dạy học đúng với các nguyên tắc đã nêu trên
Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học khuyến khích sự phong phú đa dạng của
các phương pháp cũng như sự phong phú đa dạng của các ý tưởng trong quá trình dạy học và đặt trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là hướng vào người học Cái đích cuối cùng của việc đổi mới phương pháp là nâng cao kết quả của quá trình dạy học GV không cần phải nhất thiết cho HS biết nhiều kiến thức mà dạy cho HS cách tư duy, biết cách sử dụng kiến thức vào tình huống mới, vào đời sống thực tế Trong các phương pháp đổi mới thì việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã làm thay đổi hẳn vai trò của người dạy và người học theo hướng dạy học kiến tạo, giúp cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu kiến thức mới của người học được dễ dàng và thuận lợi hơn nhờ sự hỗ trợ của máy tính và Internet, người học hoàn toàn có khả năng làm chủ, nắm bắt kiến thức
Trang 221.3 TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC HIỆN NAY
1.3.1 Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học
a Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục nói chung
Trong ngành giáo dục, CNTT đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục HS Cùng với sự phát triển của công nghệ trong xã hội, các tổ chức giáo dục phải chuẩn bị cho HS một tương lai gắn liền với công nghệ [17]
Vì thế, ngành giáo dục cũng đã từng bước tiếp cận với công nghệ hiện đại Thông qua chỉ thị 29/2001/CT-BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT cũng đã nêu rõ: “Đối với GD & ĐT, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập” [18, tr 1]
Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục được thể hiện qua 2 lĩnh vực sau:
Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học
• Đối với người học [18]
CNTT đã ảnh hưởng rất nhiều trong quá trình tiếp thu kiến thức của HS: CNTT được sử dụng trong lớp học để tăng cường hiệu quả của bài học và khả năng tự tìm tòi kiến thức của HS Các thông tin cập nhật và nghiên cứu có sẵn chỉ với một cái nhấp chuột và Internet đảm bảo người học sẽ có thông tin chính xác và khả thi Với công nghệ hiện tại, người học có thể tương tác với nhiều người và các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Từ đó, phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi của
người học thông tin qua mạng internet; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại
• Đối với người dạy [15]
CNTT đã mở đường cho GV giao lưu, học hỏi những kiến thức mới, những kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong nước và trên khắp thế giới, đồng thời có thể giải
Trang 23đáp, trao đổi những ý kiến hay thắc mắc của HS, tạo môi trường giao tiếp tốt, thuận lợi với người học và đồng nghiệp
CNTT còn giúp GV dễ dàng tăng cường lượng thông tin một cách có hiệu quả
và chính xác, GV thường xuyên được sử dụng những cuốn sách trực tuyến có giá trị
và cho phép GV chia sẻ với mọi người từ bất kỳ máy tính nào có truy cập internet CNTT cung cấp cho GV một sự lựa chọn vô tận về việc ứng dụng đa phương tiện, phần mềm vào việc thiết kế những bài học có tính tương tác cao, tạo nên các bài giảng hấp dẫn làm cho HS chú ý và hứng thú hơn trong quá trình học tập Bên cạnh đó, các thiết bị trên còn giúp GV tiết kiệm thời gian và đỡ vất vả vì giảm được cường độ làm việc
Ứng dụng CNTT trong điều hành quản lý giáo dục [17]
Truy cập và thu thập dữ liệu được thực hiện dễ dàng hơn cho GV, các quản trị viên và các lĩnh vực liên quan khác trong hệ thống giáo dục với việc sử dụng của CNTT Thông qua việc sử dụng CNTT, GV và các quản trị viên có thể truy cập các điểm để đưa ra quyết định vào việc giảng dạy trong lớp học Kho dữ liệu được sử dụng để lưu trữ các loại dữ liệu, chẳng hạn như xử lý kỷ luật, vắng mặt trong buổi học cũng được lưu trữ và sẽ được sử dụng để đưa ra quyết định giáo dục liên quan đến HS
Ðiều tra, khảo sát hiện trạng, xác định nhu cầu và nhiệm vụ về CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục trên toàn quốc, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT dài hạn của ngành Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính phủ điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng Tin học hóa công tác quản lý ở các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng) và ở các cơ sở giáo dục Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông qua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục Các cơ sở GD & ĐT nghiên cứu khai thác và
sử dụng kết quả phân tích dữ liệu thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng do Bộ GD & ĐT cung cấp hằng năm trong công tác quản lý giáo dục của địa phương, đánh giá công tác của từng hội đồng coi thi, chấm thi
Trang 24Tóm lại, CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và
hình thức dạy học Những phương pháp dạy học tích cực như theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học nêu vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT Vì vậy, vai trò của
người thầy cũng cần phải thay đổi: Thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn, người học tự đi tìm và lĩnh hội tri thức Như vậy người dạy và người học phải biết sử dụng một số phương tiện khác để hỗ trợ Trong đó sử dụng CNTT để thực hiện tất cả các nội dung, các thao tác của quá trình dạy và học, sẽ giúp người thầy nâng cao khả năng
sử dụng phương pháp mới, học trò chủ động tìm tòi, phát huy sáng kiến trong học tập
b Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học
Đối với môn Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới
nội dung, phương pháp dạy học Cụ thể là:
CNTT là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng các kiến thức mới trong quá trình dạy học
CNTT phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, GV có thể tùy theo từng bài giảng, từng mảng kiến thức hoặc tùy theo từng đối tượng HS mà GV có thể vận dụng sáng tạo CNTT trong từng giờ dạy, từng kiểu bài lên lớp
CNTT giúp cho bài giảng được sinh động hơn và hấp dẫn hơn, chẳng hạn trong phần củng cố thông qua các trò chơi ô chữ, điền khuyết, bằng những phần mềm viết sẵn và kết hợp các phần mềm đó với các phương pháp dạy học khác thành phương pháp dạy học phức hợp sẽ làm không khí lớp sinh động và hứng thú hơn so với những tiết ôn tập chương, các phần củng cố bằng lí thuyết nặng nề, khô khan Ngoài
ra, các phần mềm hiện đại giúp biểu diễn các thí nghiệm phức tạp, nguy hiểm không thực hiện được trên lớp thông qua các thí nghiệm ảo HS có thể quan sát được hiện tượng xảy ra thay vì chỉ được mô tả bằng lời, làm cho HS có niềm tin vào khoa học hơn Bên cạnh đó, những đoạn phim, hình ảnh thực tế trong những phần
Trang 25ứng dụng, quy trình sản xuất sẽ giúp HS liên hệ kiến thức bài học với cuộc sống, nâng cao khả năng hiểu biết và vận dụng kiến thức, rèn luyện cho HS các kĩ năng mềm
Ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở trường THPT sẽ giải quyết một phần những vướng mắc mà chúng ta vấp phải như: dạy chay, thầy đọc trò chép, tránh được một số độc hại trong quá trình tiếp xúc hóa chất ở phòng thực hành
So với phương pháp giảng dạy truyền thống, việc giảng dạy bằng CNTT hiện đại ngày nay có một số tính năng vượt trội hơn:
Về nội dung bài học, với việc ứng dụng CNTT, kiến thức sẽ được cập nhật và bổ
sung nhanh chóng, hiệu quả phù hợp với thực tế xã hội, tạo điều kiện cho HS đi xa hơn kiến thức trong SGK, gắn liền kiến thức với thực tiễn cuộc sống Khi cần thiết,
GV có thể chỉnh sửa, bổ sung nội dung để bài giảng ngày càng hoàn thiện
Về hình thức, khi giảng, GV chỉ việc thao tác trên máy, chiếu lên màn hình tuần
tự các nội dung bài giảng về phương trình, công thức hoặc các khái niệm, định nghĩa, nội dung chương mục bài học, kể cả hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ minh họa kèm theo cho thêm phần sinh động sẽ tạo ra các bài giảng hấp dẫn, có tính tương tác cao, kích thích việc học và luyện tập của HS
Về phương pháp, ứng dụng CNTT trong dạy học tạo điều kiện kết hợp nhiều
phương pháp dạy học làm tăng tính tích cực của HS
1.3.2 Thuận lợi và thách thức khi ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở
trường phổ thông
a Thuận lợi
Hiện nay, trên thị trường trong nước và thế giới cũng như trên mạng Internet có nhiều phần mềm dạy học Hóa học, phục vụ ngày càng tốt hơn cho việc ứng dụng CNTT trong bài giảng của GV Vì vậy, rất nhiều GV đã biết sử dụng các phần mềm
đó để thiết kế BGĐT của mình, cài thêm tư liệu, hình ảnh, đoạn clip, trình bày bài giảng gọn đẹp, sinh động, thuận tiện và phần mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft Powerpoint
Trang 26GV có thể thu thập thông tin, hình ảnh, thí nghiệm, các mô phỏng… liên quan tới nội dung bài giảng được đăng tải rất nhiều trang các trang web Hóa học
Trình độ tin học của HS ngày càng cao, do đó GV có thể cho các em làm báo cáo tìm hiểu các vấn đề liên quan tới bài học, qua đó GV có thêm rất nhiều thông tin mới về bài học
Hiện nay nhiều trường đã có phòng nghe nhìn (nhất là ở TP HCM) với những trang thiết bị hiện đại hỗ trợ cho GV có thể sử dụng BGĐT cho nhiều lớp khác nhau, làm cho không khí thêm sinh động
Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng trên các mạng Internet không những giúp GV có thể khai thác một cách dễ dàng trong việc soạn bài dạy cũng như quá trình kiểm tra, đánh giá HS, mà còn tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
b Thách thức
Về việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT: còn lúng túng Nói cách khác,
chưa có tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá việc ứng dụng CNTT
Về đội ngũ GV: Hiện nay, trình độ, kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng máy
tính và các phương tiện hỗ trợ của GV không đồng đều, thậm chí có người chỉ dùng máy tính với mục đích duy nhất là soạn thảo văn bản Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên
GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng đang mang tính chất thời vụ, theo phong trào (và thậm chí là đối phó) mà chưa được
sử dụng một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy học Phần lớn GV rất ngại việc ứng dụng CNTT trong dạy học do thiết kế một BGĐT mất rất nhiều thời gian để thu thập các tư liệu điện tử và việc tổ chức một bài giảng có ứng dụng CNTT cũng rất phiền phức (đối với những trường chưa có phòng học máy chiếu)… Các BGĐT thông thường được download từ mạng về chỉnh sửa hoặc tự làm và chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chất lượng chưa cao, chưa phát huy được điểm
Trang 27mạnh của CNTT Có rất ít những giáo án được tích hợp Multimedia, các thí nghiệm
mô phỏng, các tư liệu cần thiết cho mỗi bài giảng
Về HS: Nhiều HS rất ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính hoặc một số em chưa
từng biết sử dụng máy tính cũng là khó khăn cần được quan tâm
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho
việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế: Thiếu các phòng học chức năng; số máy tính phục vụ cho học tin học của HS còn ít Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền
Về chính sách, cơ chế quản lý: còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ
trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
1.3.3 Một số phương hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở nước
Ghép nối trợ giúp cho các đo đạc thí nghiệm, nâng cao tính năng các công cụ đo
Xây dựng các đĩa CD thí nghiệm mô phỏng hoặc thí nghiệm ảo, xây dựng một
số trang Web dạy học một số nội dung Hóa học có các mô hình xây dựng khái niệm
Trang 28cho HS tiếp cận một lượng kiến thức lớn, phong phú và sinh động bằng các phương pháp dạy học tích cực như hoạt động nhóm, thảo luận, HS thuyết trình Từ đó, người dạy sẽ tiết kiệm được thời gian và có điều kiện đi sâu vào bản chất bài học
⇒ H ướng của đề tài chúng tôi chọn và phát triển
Làm các phần mềm quản lí, chấm bài trắc nghiệm
Cập nhật các thông tin mới về Hóa học có liên quan đến kiến thức bài học để làm bài giảng phong phú hơn
Tạo môi trường giao tiếp với người học và đồng nghiệp, người dạy có thể giao tiếp với tất cả các đối tượng: đồng nghiệp, người học, cấp trên và các đối tượng với nhau bằng email hay các công cụ điện tử khác như các Web 2.0, các công cụ giao tiếp trực tuyến, các trang bookmark, các mạng xã hội… Việc học của người học có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ của GV hay bạn bè bằng cách trao đổi trực tiếp qua email, forum, các trang diễn đàn… tạo điều kiện cho HS phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu
Hiệu chỉnh thiết kế tư liệu: thông qua việc cập nhật những kiến thức mới và kiến thức thực tiễn liên quan đến bài dạy, GV có thể hiệu chỉnh ngay trên bài giảng một cách dễ dàng và lưu trữ hiệu quả những tài liệu quan trọng
1.4 TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG BGĐT TRONG DẠY HỌC
HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.4.1 Khái niệm BGĐT
BGĐT là khái niệm được nhắc đến khá nhiều trong đào tạo điện tử Khái niệm BGĐT đang được hiểu rất khác nhau
Thạch Trương Thảo, tác giả cuốn giáo trình thiết kế BGĐT đã đưa ra định nghĩa
về BGĐT dựa trên định nghĩa của Lê Công Triêm (2005): ” BGĐT là một hình thức
tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia thông tin được truyền thông dưới dạng: văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip) Đặc
Trang 29trưng cơ bản nhất của BGĐT là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của GV đều được multimedia hóa” [21]
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Tiếng Việt: “BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp nhằm thực thi giáo án điện tử Khi đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do GV điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện với sự hỗ trợ của CNTT Nếu như bài giảng truyền thống là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học truyền thống thì BGĐT là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học có sự hỗ trợ của CNTT” [10]
Do đó, có rất nhiều mức độ tham gia của CNTT trong một BGĐT Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một chuẩn mực nào để đánh giá BGĐT Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng đơn vị mà mức độ BGĐT sẽ khác nhau Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra định nghĩa về BGĐT như sau: “BGĐT là một
tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức lại theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kĩ năng cho người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ
giúp của các phần mềm quản lí học tập (Learning Management SyStem_ LMS) Một BGĐT thường tương ứng với một học phần hoặc một môn học” [10]
Định nghĩa này của Đại học Quốc gia Hà Nội cho người đọc thấy rõ cấu trúc cần
có cũng như kích thước của một BGĐT
Tóm lại, BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch
hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cũng có thể hiểu BGĐT là những tệp tin
có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến HS
1.4.2 Cấu trúc của BGĐT
Trước khi trình bày về cấu trúc BGĐT, chúng tôi sẽ phân biệt sự khác nhau về mặt cấu trúc của giáo án điện tử và BGĐT như sau [11], [16]:
Trang 30Tóm lại, về mặt cấu trúc, BGĐT chứa đựng những nội dung bài học cần chuyển
tải đến HS được thể hiện bằng các phần mềm trình chiếu như Microsoft Powerpoint, Violet , những nội dung này đã được soạn sẵn trong giáo án điện tử, được trình bày dựa trên các hoạt động dạy và học đã thiết kế trong giáo án điện tử
Vì vậy, cấu trúc cơ bản của một BGĐT được thể hiện qua sơ đồ sau [1]:
Giáo án điện tử Bài giảng điện tử
Nội dung
- Mục tiêu và trọng tâm bài học:
tương tự giáo án thường
- Chuẩn bị của thầy và trò: hóa chất, dụng cụ, chuẩn bị phòng máy, máy tính, máy chiếu, tư liệu dạy học trên internet
- Phương pháp và phương tiện dạy học
- Dự kiến kế hoạch về các hoạt động của thầy và trò theo thời gian
- Nội dung bài học cần truyền đạt
trong tiết học (nội dung này được thể hiện trên BGĐT)
- Thông tin phản hồi
Các nội dung GV sử dụng để:
- Trao đổi thông tin, tổ chức nhận thức theo từng hoạt động trong buổi lên lớp
- Tạo tình huống có vấn đề, đặt câu hỏi hay, minh hoạ trực quan
- Dùng phim hình ảnh để thu hút sự chú ý của người học hay dùng sơ đồ (schemas, daigram) để minh họa tiến trình, logic sự kiện kết hợp hỏi đáp, giải thích
Ứng
dụng
CNTT
Thiết kế và lưu trữ bằng phần mềm soạn văn bản: Microsoft Word, Writer…
Thiết kế bằng phần mềm dạy học trình diễn: Microsoft Powerpoint, Violet, …
Trang 311.4.3 Yêu cầu khi soạn BGĐT [1]
a Đáp ứng đầy đủ yêu cầu của bài giảng truyền thống
Về nội dung
− Chính xác, khoa học
− Đầy đủ nội dung cơ bản, làm rõ trọng tâm bài giảng, có tính hệ thống
− Liên hệ thực tế (nếu có), có tính giáo dục
Trang 32 Về hình thức
− Đơn giản, rõ ràng, giao diện thân thiện, phù hợp với bộ môn
− Tinh giản và biểu tượng hoá nội dung
− Chọn đồ hoạ, hiệu ứng hoạt hình, cẩn thận
− Chỉ nên có một ý tưởng lớn trên mỗi slide
− Không quá 5 ý nhỏ trên mỗi slide
1.4.4 Ưu điểm của việc sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học
Trong quá trình dạy học Hóa học, BGĐT có những ưu điểm nổi bật sau:
BGĐT làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn Thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp dạy học hướng vào người học
BGĐT có thể cung cấp nhiều kiến thức thực tế của nội dung bài học thông qua hình ảnh, đoạn phim, quá trình tự nhiên
Qua BGĐT, GV có thể sử dụng thí nghiệm mô phỏng cho các quá trình xảy ra quá nhanh hay quá chậm, những thí nghiệm độc hại và nguy hiểm mà GV và HS
Trang 33không thể hay khó thực hiện trong phòng thí nghiệm (kể cả những thí nghiệm đơn giản nhưng thiếu hóa chất, dụng cụ)
GV dễ dàng cập nhật, sửa đổi nhanh chóng nâng cao chất lượng bài giảng theo từng năm thích hợp mà không phải soạn lại
BGĐT giúp tiết kiệm thời gian lên lớp do không cần phải mang theo những dụng
cụ dạy học như tranh ảnh, mô hình, bảng phụ
GV có thể chuẩn bị BGĐT trước để giảng dạy ở nhiều nơi
1.4.5 Một số sai lầm mắc phải khi thiết kế BGĐT
Một số nhận xét rất tinh tế của thầy giáo Hoàng Ngọc Lân, GV Toán, chuyên viên Tin học của Sở GD & ĐT tỉnh Đồng Nai, về những lỗi thường gặp ở người mới bắt đầu soạn giảng với PowerPoint [9]
Lỗi ở khâu chuẩn bị
Về nội dung, GV đưa quá nhiều kiến thức lên các slide Lỗi này có thể do GV
chưa biết chắt lọc và tinh giản kiến thức cần trình bày trên các slide hoặc do tâm lý
sợ dạy thiếu chương trình, sợ HS không nắm đủ kiến thức Cũng có thể do không có kinh nghiệm và kỹ năng tóm lược nội dung
Về cấu trúc, GV bắt chước nguyên xi cấu trúc bài học trong SGK, thiếu sáng
tạo ra các cấu trúc mới, đơn giản và hợp với quy luật nhận thức của HS trong môi trường giảng dạy có thiết bị Dường như việc sử dụng slide là chỉ để minh họa thay cho phấn, bảng
Về tư liệu hình ảnh và multimedia, thường rơi vào hai tình huống, thừa hoặc
thiếu Nếu tư liệu quá nhiều thì gây mất tập trung, rườm rà không cần thiết còn tư liệu quá ít hoặc không có thì không phát huy được hiệu quả BGĐT
Lỗi ở khâu thiết kế
Về số lượng slide, thường nhiều hơn mức cần thiết, tốc độ lật nhanh gây cho
HS cảm giác không kịp tiếp thu Trong khi chỉ cần ít slide (10 đến 12 slide/tiết) với những nội dung và hình ảnh thật cô đọng và đắt
Về font chữ, slide chứa quá nhiều chữ, kích cỡ nhỏ, người xem không thấy hoặc
phải căng mắt ra gây cảm giác mệt mỏi, HS không ghi chép kịp
Trang 34Việc phối hợp màu sắc: không chuẩn và thiếu các nguyên tắc cơ bản về độ
sáng/tối, độ đậm/nhạt, độ tương phản khiến cho các slide không đạt tới sự hài hòa cần thiết, gây ức chế tâm lý cho HS
Về hiệu ứng và âm thanh: Lạm dụng các hiệu ứng chuyển động là vấn đề
thường gặp nhất là các GV mới bắt đầu sử dụng Các hiệu ứng về text và graphic
có thể gây sự “chú ý không chỉ định” nơi HS, nếu có quá nhiều sẽ gây phản tác
dụng Âm thanh cũng là một yếu tố kích thích tốt cho giác quan, nhưng đồng thời cũng là một yếu tố gây nhiễu bài giảng của GV nếu lạm dụng
Lỗi ở khâu dạy học trên lớp
GV quá phụ thuộc vào thiết bị và công nghệ, đến mức mất khả năng linh hoạt, coi việc chuẩn bị nội dung của mình là cố định, cứ thế mà làm, bất kể tình huống trên lớp đòi hỏi phải điều chỉnh thay đổi Nguyên nhân sâu xa là do chưa làm chủ được công nghệ, ngại dừng lại việc trình chiếu để bổ sung, sửa chữa bài giảng ngay tại lớp, không kết hợp được các phương pháp giảng dạy khác GV mới sử dụng thường mất rất nhiều thời gian cho các thao tác kỹ thuật như đấu nối thiết bị máy tính, loa, màn hình
Không những thế, theo Lê Văn Huân (Phòng GD & ĐT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) thì có nhiều nguyên nhân khiến cho các thầy, cô giáo soạn, giảng không đúng yêu cầu [10]
− Thứ nhất là, chưa phân biệt thế nào là giáo án điện tử, BGĐT Chính vì chưa
phân biệt rõ ràng 2 khái niệm này nên có thầy, cô giáo khi lên lớp đã trình diễn luôn các phần không nên trình chiếu như giới thiệu “mục tiêu yêu cầu của bài học”, các bước làm việc của thầy, của trò
− Thứ hai là trình chiếu không đúng với phương pháp giảng dạy “phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS” Ví dụ: khi thầy giáo chỉ đạo cho trò thi công một công đoạn nhằm để chiếm lĩnh một nội dung kiến thức nào đó nhưng khi thầy “nhấn phím”, “nhắp chuột” thì màn hình lại xuất hiện nhiều nội dung, trong đó
có những nội dung mà thầy và trò chưa kịp đề cập đến trong các hoạt động trên, dẫn đến “lộ” nội dung
Trang 35− Thứ ba là trình chiếu những phần không nhất thiết phải trình chiếu như những
câu chữ đã có sẵn trong SGK (khái niệm, định nghĩa, ví dụ bằng chữ…) Nếu trình chiếu y như SGK thì không cần phải dạy bằng BGĐT
− Thứ tư là, thiết kế màu nền, màu chữ không phù hợp với nội dung bài học, cách
chạy chữ, hiện hình ở slide không nhất quán khi thì từ trên chạy xuống, lúc ở dưới chạy lên, rồi phải qua trái, trái qua phải Như thế thì chỉ có gây rối và phân tán sự tập trung của HS hoặc của thầy, cô giáo soạn bài giảng lên lớp như bài soạn của các báo cáo viên
Ngoài những nhược điểm mà thầy Hoàng Ngọc Lân và thầy Lê Văn Huân đã nêu ở trên thì GV còn mắc một số sai lầm như: lạm dụng BGĐT áp dụng cho những bài giảng cần dạy theo phương pháp truyền thống, làm hiệu quả bài giảng không tốt Bên cạnh, khi soạn BGĐT, GV thường chỉ sử dụng phần mềm Microsoft
Powerpoint mà không phối hợp với các phần mềm khác nên tốn nhiều thời gian, công sức trong quá trình soạn bài
1.4.6 Thực trạng về việc sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông hiện nay
Để tìm hiểu về việc sử dụng BGĐT trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi thực hiện cuộc điều tra tham khảo ý kiến của GV đang giảng dạy bộ môn Hóa học ở một số trường trung học phổ thông tại TP HCM về việc sử dụng BGĐT
a Mục đích điều tra
− Tìm hiểu thực trạng sử dụng BGĐT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THPT hiện nay
− Tìm hiểu những rào cản của việc ứng dụng CNTT, cụ thể là BGĐT
b Đối tượng điều tra
− GV đang giảng dạy Hóa học tại một số trường THPT ở TP HCM
c Phương pháp điều tra
Chúng tôi thực hiện phát 30 phiếu điều tra từ 6/2/2012 đến 23/3/2012 đến GV dạy học Hóa học ở một số trường THPT tại TP.HCM
Trang 36Bảng 1.1 Danh sách các trường đã điều tra thực trạng việc sử dụng BGĐT
STT Tên trường
1 Trường THPT Hùng Vương
2 Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa
3 Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền
4 Trường THPT Ngô Quyền
5 Trường THPT Lý Thường Kiệt
d Kết quả điều tra
Số phiếu điều tra thu hồi lại được là 20 phiếu
Bảng 1.2 Danh sách GV ở các trường phản hồi lại phiếu điều tra
STT Tên trường Số lượng GV
1 Trường THPT Hùng Vương 10
2 Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa 2
3 Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền 2
4 Trường THPT Ngô Quyền 4
5 Trường THPT Lý Thường Kiệt 2
Chúng tôi đã thống kê được một số kết quả phản ánh trung thực tình hình sử dụng BGĐT theo hướng đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Hóa học của
GV ở các trường THPT hiện nay như sau:
Thầy (cô) đánh dấu (X) vào ý kiến mình chọn Nếu có ý kiến khác, xin thầy (cô)
Trang 37sử dụng BGĐT nhưng đa số thầy (cô) (85%) chỉ thay đổi hình thức dạy học truyền thống sang sử dụng BGĐT một vài lần
Câu 2: Những khó khăn gặp phải của thầy (cô) trong việc soạn BGĐT? (Có thể đánh vào nhiều ô)
Điều kiện cơ sở vật chất không
cho phép (không máy chiếu, máy
tính )
6 21,4%
Vẽ công thức phân tử, công thức
cấu tạo không đẹp, khó khăn 3 10,7%
Thiết kế các slide, trò chơi, bài tập
củng cố tốn nhiều thời gian 12 42,9%
Tạo mô phỏng thí nghiệm khó
khăn, nhiều hiệu ứng phức tạp 7 25%
Ý kiến khác:
− Kiến thức tin học còn hạn hẹp
− Một số bài không thể dạy bằng BGĐT
− Không có thời gian đầu tư cho bài giảng mình biên soạn
Trang 38− Thời gian làm cho một bài giảng hoàn chỉnh cần 1 tháng có khi hơn
Nhận xét:
Thông qua kết quả thống kê trên, đã thể hiện được hai khó khăn lớn nhất trong quá trình soạn BGĐT mà đa số thầy (cô) gặp phải là tốn nhiều thời gian khi thiết kế các slide, trò chơi, bài tập củng cố… (42,9%) và tạo mô phỏng thí nghiệm khó khăn, nhiều hiệu ứng phức tạp (25%) Hai khó khăn này có thể được khắc phục bằng cách tích hợp thêm các phần mềm chuyên dụng riêng cho từng phần và đây
cũng là hướng đề tài của chúng tôi nghiên cứu
Câu 3: Thầy (cô) thường sử dụng phần mềm nào để soạn BGĐT?
đã được một số thầy (cô) biết đến và từng sử dụng qua, nhưng phần mềm được đa
số các thầy (cô) sử dụng thường xuyên nhất là phần mềm Microsoft Powerpoint (80%)
Câu 4: Thầy (cô) có ý kiến như thế nào về việc ứng dụng CNTT vào dạy học Hóa học?
Trang 39Thống kê:
Bảng 1.6 Kết quả điều tra câu 4
Câu trả lời Số phiếu lựa chọn Quy về phần trăm
Không nên sử dụng BGĐT 0 0%
Sử dụng nhưng chỉ giới hạn một số tiết 19 95%
Nên sử dụng thường xuyên 1 5%
Ý kiến khác
Nhận xét:
Theo ý kiến của đa số thầy (cô) (95%) cho rằng BGĐT nên sử dụng nhưng chỉ giới hạn một số tiết nhất định Điều này đúng với thực tế chương trình học của HS, một số bài sẽ đạt hiệu quả tốt khi sử dụng BGĐT nhưng cũng có những bài dạy đạt kết quả tốt hơn khi sử dụng phương pháp dạy học truyền thống
Câu 5: Theo thầy (cô), các dạng bài dạy nào phù hợp để thiết kế BGĐT ?
Những bài thực hành 6,7% 60% 33,3% Bài luyện tập, ôn tập - củng cố 13,3% 53,3% 33,4% Những bài về chất cụ thể 13,3% 53,3% 33,4%
Ý kiến khác
Nhận xét:
Chương trình Hóa học THPT các dạng bài về chất và các nguyên tố, dạng bài về luyện tập chiếm khá cao Dạng bài này thiết kế BGĐT dễ dàng hơn so với các dạng bài khác nên tỉ lệ GV chọn để thiết kế BGĐT phần nội dung ở mức độ cần thiết khá cao (53,3%)
Trang 40Nhưng đa số GV (52,6%) cho rằng khi thiết kế BGĐT cho các bài dạy về sản xuất Hóa học là rất cần thiết Những quy trình mô phỏng, đoạn flash sinh động sẽ giúp HS dễ hiểu bài và khắc sâu kiến thức hơn so với những lời giảng bằng hình ảnh đơn giản
Câu 6: Theo thầy (cô), so với hình thức dạy bảng thông thường thì dạy học bằng BGĐT:
Thống kê:
Bảng 1.8 Kết quả điều tra câu 6 Câu trả lời Số phiếu lựa chọn Quy về phần trăm
Hiệu quả hơn nhiều 7 35%
Hiệu quả như nhau 2 10%
Không hiệu quả bằng 5 25%
Ý kiến khác:
− Tùy thuộc từng kiểu bài
− Dạy học BGĐT có thể đạt hiệu quả đối với các dạng bài đã nêu ở câu 5
− Tùy thuộc vào nội dung bài dạy
Nhận xét
Đa số các thầy cô đều cho rằng khi dạy bằng BGĐT đạt hiệu quả hơn nhiều (35%), nhưng cũng có một số ý kiến của thầy (cô) chiếm tỉ lệ khá cao (30%) cho rằng hiệu quả đạt được phải tùy thuộc vào từng kiểu bài và nội dung bài dạy cần chuyển tải
Câu 7: Trong tiết dạy bằng BGĐT, thầy (cô) cho HS chuẩn bị bài trước ở nhà bằng cách nào?