Qua các bài viết, chủ yếu các tác giả nhận xét, đánh giá chung về mỗi tập thơ, cũng có bài viết đi vào tìm hiểu một phương diện, khía cạnh thơ, phân tích những bài thơ yêu thích và phỏng
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Hoàn thành được luận văn thạc sỹ này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối
với Ban giám hiệu, phòng KHCN – SĐH, khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Tp HCM cùng tất cả Quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phùng Quý Nhâm đã tận tình giúp đỡ, quan tâm, động viên, lo lắng và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình làm chuyên luận
Xin cám ơn gia đình bé nhỏ của tôi đã là nguồn hậu thuẫn vững chắc, động viên tôi hoàn thành chuyên luận này
Tp.HCM, tháng 10 năm 2011
Ngô Thị Vĩnh Duy
Trang 4M ỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DẪN NHẬP 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Đóng góp của luận văn 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG 13
1.1 Cảm hứng nghệ thuật – vùng thẩm mĩ riêng của nhà thơ 13
1.1.1 Cảm hứng nghệ thuật 13
1.1.2 Cảm hứng nghệ thuật – vùng thẩm mĩ riêng của nhà thơ 16
1.2 Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương 22
1.2.1 Cảm hứng hoài hương 22
1.2.2 Cảm hứng thế sự 42
CHƯƠNG 2: HÌNH ẢNH TRONG THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG 62
2.1 Hình ảnh thơ 62
2.2 Hình ảnh trong thơ Trương Nam Hương 68
2.2.1 Hình ảnh người mẹ 68
2.2.2 Hình ảnh tuổi thơ 81
2.2.2.1 Hình ảnh tuổi thơ gắn bó với đồng quê cùng những trò chơi 82 2.2.2.2 Hình ảnh tuổi thơ nghèo khó, thanh sạch 86
2.2.2.3 Hình ảnh tuổi thơ được đẫm mình trong ca dao, dân ca 91
CHƯƠNG 3: NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG 96
Trang 53.1 Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm thơ 96
3.2 Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương 101
3.2.1 Dấu ấn của nhà thơ và chiếc bẫy chữ trong khu vườn ngôn từ
101 3.2.2 Ngôn từ thơ mang âm hưởng dân gian 113
3.2.3 Ngôn từ lạ hóa trong thơ Trương Nam Hương 119
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
TIỂU SỬ 140
Trang 6D ẪN NHẬP
1 Lí do ch ọn đề tài
Trương Nam Hương thuộc lớp nhà thơ xuất hiện vào cuối những năm 70 đầu
những năm 80 ở thành phố Hồ Chí Minh, cùng với các nhà thơ Đỗ Trung Quân, Bùi Chí Vinh, Lê Minh Quốc, Phạm Sỹ Sáu, Thanh Nguyên, Thái Thăng Long, Nguyễn Quang Thiều, Anh trở thành cái tên không còn xa lạ với bạn đọc yêu thơ Với hơn hai mươi năm cầm bút, anh đã gặt hái nhiều giải thưởng danh giá Giải thưởng Hội
Nhà Văn Việt Nam cho tập thơ đầu tay Khúc hát người xa xứ và trở thành Hội viên
Hội Nhà Văn Việt Nam trẻ nhất lúc bấy giờ là nguồn cổ vũ khích lệ tinh thần rất lớn cho nhà thơ Sau đó lần lượt là các tập thơ và nhiều giải thưởng khác, Trương Nam Hương đã khẳng định vị trí của mình trên thi đàn và trong lòng độc giả Chính vì vậy, khi nghiên cứu về thơ Trương Nam Hương trong cùng với tiến trình thơ đương đại một mặt giúp chúng ta nhận diện được sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Đồng thời, qua đó ta thấy được những đóng góp nhất định của Trương Nam Hương trong nền văn học Việt Nam nói chung và thơ ca đương đại nói riêng
Với hơn mười tập thơ, bạn đọc yêu thơ Trương Nam Hương có thể nhận thấy ngay một hồn thơ đã tìm thấy lối đi riêng âm thầm, lặng lẽ mà ấm áp, giàu hoài niệm trên con đường hình thành phong cách thơ của mình Thơ của anh có sự giao hòa
giữa chất Huế quê cha và tinh chất vùng đất Bắc Ninh quê mẹ cùng với ngôn ngữ sáng tạo góp phần làm phong phú thêm cho tiếng Việt hiện đại Có rất nhiều ý kiến đánh giá về thơ Trương Nam Hương Các ý kiến đó dù ở các góc độ khác nhau nhưng đều góp phần khẳng định tên tuổi của thơ Trương Nam Hương Anh làm thơ là để giãi bày những xúc cảm chân tình của lòng mình trước cuộc đời, cho nên mọi cung
bậc tình cảm của con người từ yêu ghét, vui buồn, sướng khổ…đều thành thơ Nghiên cứu về thơ Trương Nam Hương, người viết hy vọng nối nhịp cầu để bạn đọc
yêu thơ theo những phấn thông vàng mà nhà thơ đã gửi trao trong cuộc đời, tri ngộ
đồng điệu tìm về bên câu thơ tâm tình
Trong bối cảnh hội nhập và hiện đại hóa, các nhà thơ đương đại cần phải có sự
cố gắng để thi ca luôn có chỗ đứng trong lòng công chúng Không những thế, làm sao
Trang 7cho thi ca có tính hiện đại để có khả năng thích ứng với nhu cầu hội nhập nhưng vẫn
phải giữ được bản sắc độc đáo và tinh túy của thi ca dân tộc Trương Nam Hương đã góp một phần rất đáng quý trong việc định hình một phong cách thơ hướng về cội nguồn văn hóa truyền thống, coi trọng khai thác chất liệu ca dao mà vẫn mang được
dấu ấn của sự đổi mới Vì thế khi nghiên cứu đề tài “Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ
ngh ệ thuật trong thơ Trương Nam Hương”, chúng tôi hy vọng sẽ phần nào lí giải
được một vài khía cạnh liên quan đến một trong những vấn đề đang được quan tâm
của thi ca đương đại Đó là hiện đại hóa thơ ca theo hướng tiếp thu, gìn giữ và cách tân những giá trị truyền thống theo cách mà nhà thơ đã thể hiện trong cuộc đời thơ
dụng một số khái niệm lí luận văn học – khái niệm công cụ như: cảm hứng chủ đạo,
cảm hứng nghệ thuật, hình ảnh, ngôn từ, đặc trưng thể loại để hòa cùng nhịp bước trên đường thơ Trương Nam Hương Với những lẽ trên, chúng tôi mạnh dạn thực
hiện chuyên luận nghiên cứu về “Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật trong
thơ Trương Nam Hương"
2 L ịch sử vấn đề nghiên cứu
Nổi tiếng từ tập thơ đầu tay Khúc hát người xa xứ đến nay, Trương Nam
Hương đã khẳng định vị trí của mình trên thi đàn và trong lòng bạn đọc yêu thơ Với hơn mười tập thơ xuất bản, thơ anh đã nhận được nhiều sự quan tâm, đánh giá của các nhà nghiên cứu; nhiều ý kiến, nhận xét, góp ý của bạn bè thơ văn trên các báo Văn Nghệ, Tạp chí hội nhà văn, Phụ nữ, Tuổi trẻ, Và nhiều nhất có lẽ là trên các trang website của Hội nhà văn (nhavantphcm.com.vn; vanvn.net; tapchinhavan.vn),
Trang 8Lục bát (lucbat.com), văn nghệ sông Cửu Long (vannghesongcuulong.org.vn), Evăn (evan.vnexpress.net), … Đó cũng là điểm thuận lợi cho chúng tôi trong việc nghiên
cứu đề tài về thơ Trương Nam Hương Qua các bài viết, chủ yếu các tác giả nhận xét, đánh giá chung về mỗi tập thơ, cũng có bài viết đi vào tìm hiểu một phương diện, khía cạnh thơ, phân tích những bài thơ yêu thích và phỏng vấn nhà thơ mà chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp, đầy đủ quá trình thơ, phát triển tư duy thơ cũng như
có cái nhìn tổng thể về bút pháp nghệ thuật của nhà thơ Trương Nam Hương
Với đề tài nghiên cứu “Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật trong thơ
Trương Nam Hương", dựa trên cơ sở những tư liệu tiếp cận, chúng tôi xác lập những
tư liệu viết về Trương Nam Hương thành ba vấn đề tương ứng với nội dung luận văn là: Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật
Nhóm bài viết thiên về cảm hứng nghệ thuật, có những bài:
Khi tập thơ đầu tay Khúc hát người xa xứ của Trương Nam Hương ra đời, Vũ
Quần Phương viết bài “Khúc hát người xa xứ với Trương Nam Hương”, nêu lên
những đánh giá, nhận xét chung về tập thơ Trong bài viết này, Vũ Quần Phương
đánh giá cao về năng lực xúc cảm, giọng thơ giản dị, dễ gần, tình thơ rất quen thuộc
của Trương Nam Hương Đây chính là những tố chất quan trọng nuôi dưỡng nguồn
cảm hứng thơ cho Trương Nam Hương Bên cạnh việc nêu lên những thành công về nghệ thuật như: bút pháp thơ có khả năng kết dính những ý thơ bằng cảm xúc; ngôn
t ừ lành mà đẹp, câu thơ lục bát nhuần nhuyễn rất gợi cảm, Vũ Quần Phương còn chỉ
ra những ngập ngừng trong việc vận dụng các thủ pháp thơ, nhiều bài thơ cần tước
b ớt đi những đường viền thời trang giữ cho thơ chân cảm, Nhưng suy cho cùng đó
là điều không tránh khỏi của một thi sĩ mới bước chân vào làng thơ
TrongChân dung thơ, tác giả Tần Hoài Dạ Vũ có bài viết về Trương Nam
Hương:“Trương Nam Hương nỗi ám ảnh của thời gian”.Theo tác giả: Chỉ có một
điều khác biệt, sẽ trở thành cái riêng của Trương Nam Hương, đó là ý niệm thời gian
ở đây được cụ thể hóa thành tâm trạng, thành nỗi nhớ quê nhà hay hoài niệm về
nh ững gì thân yêu đã mất và tác giả tỏ ra tâm đắc với những bài thơ viết về tình quê,
về tuổi thơÁm ảnh thời gian của Trương Nam Hương trước hết là ám ảnh về năm
tháng đã mất, về tuổi trẻ đã qua đi
Trang 9Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết: “Trương Nam Hương – hồn thơ đẹp như nỗi
bu ồn” in chung trong Văn chương cảm và luậnsau khi nêu những cảm nhận chung về
thơ Trương Nam Hương đã nhận xét: Hình ảnh làng quê luôn là nỗi ám ảnh đau đáu,
nhói buốt vẻ đẹp thuần hậu trong thơ Trương Nam Hương, cái vẻ đẹp làm anh luôn
lo s ợ phôi pha và biến mất.Tác giả cũng nói khi đọcthơ Trương Nam Hương trong
lòng bao giờ cũng có miên man cái nỗi xao xuyến vạn kiếp của làng quê Việt với
nh ững vẻ đẹp phát khóc của cuộc sống cần lao
Cũng viết về vấn đề này, tác giả Trần Nhật Thu với bài viết “Nỗi buồn ta thăm
th ẳm dắt ta về”, đề cập đến nguồn cội quê hương của Trương Nam Hương là Huế và
Bắc Ninh, hai vùng văn hóa cổ kính đã làm giàu có, bồi đắp thêm cho hồn thơ thăm
thẳm nỗi buồn xa xứ của Trương Nam Hương Tác giả đặc biệt yêu thích và thể hiện
sự đồng cảm với những bài thơ viết về sông Hồng, sông Hương có sức ám ảnh, dạt dào niềm thương cảm của nhà thơ
Trong bài viết “Ô cửa mới của Trương Nam Hương”, Huỳnh Như Phương
nhận định thơ Trương Nam Hương cũng định hình phong cách từ rất sớm, đó là
phong cách hòa h ợp chất Huế quê cha và chất Kinh Bắc quê mẹ Với mảng thơ viết
về tình yêu, tác giả đã rất tinh tế khi phát hiện ra dấu ấn cảm xúc, mùi vị nhục thể nơi con người trong thơ Trương Nam Hương được khỏa lấp bởi màu sắc và hương vị của
thiên nhiên Đó cũng là lí do để tác giả đưa ra nhận xét Trương Nam Hương vẫn là
m ột tình nhân dè dặt, so với một số nhà thơ bạo liệt bây giờ
Khi tập thơ Ra ngoài ngàn năm của anh xuất bản đã nhận được nhiều những ý
kiến đóng góp, đánh giá, trong đó có Lê Thiếu Nhơn Tác giả với bài viết “Trương
Nam Hương chốc lát ra ngoài ngàn năm”, in trong Thi ca nết đất Chủ yếu trong bài
viết này, Lê Thiếu Nhơn nhận xét về những bài thơ mang cảm hứng thế sự, đời thường của Trương Nam Hương Theo tác giả, qua các bài thơ đó, anh tự soi rọi lại
bản thân bằng chậm rãi riêng tư mặc bao đua chen thiên hạ Với tập thơ này, tác giả đánh giá cao sự cố gắng thể hiện tâm trạng của anh qua thể thơ ba câu
Riêng kiểu bài viết về hình ảnh nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương, chúng tôi tìm thấy bài viết sau:
Trang 10Trong bài báo của Khánh Chi: “Trả nợ bằng thơ”- đăng trên Báo Phụ nữ và sự
nghiệp năm 2003, tác giả đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ Trương Nam Hương và ghi nhận những tâm sự của nhà thơ khi tự nói về mình và thơ của mình: Tôi là người
nặng nợ với quá khứ, khi anh kể về mẹ, về tuổi thơ Khánh Chi đã thể hiện sự đồng
cảm sâu sắc với việc Trương Nam Hươngluôn coi chuyện làm thơ của mình là một
cuộc trả nợ không ngừng với quá khứ Cũng trong bài phỏng vấn này, Trương Nam
Hương đã tâm sự với tác giả: Thơ tôi làm cho quá khứ, thành ra lúc nào cũng
bu ồn.Có lúc muốn viết gì cho vui vui, cũng không được Chính những nỗi buồn đau
trong tâm hồn đã giúp anh sáng tác nên những vần thơ có chỗ đứng trong lòng người đọc
Tác giả Hàn Anh Trúc có hai bài viết về Trương Nam Hương là “Hoài niệm
không mùa câu thơ hay từ kỉ niệm học trò” và “Hương xưa lá, khói bếp cay” in trong Chuy ện văn: lai lịch nhà thơ lai lịch bài thơ Điều thú vị nhất đối với tác giả là khi
được hòa mình thế giới tuổi thơ, thế giới học trò trong thơ Trương Nam Hương, tác
giả nhận xét: Tuổi thơ Trương Nam Hương bọc mây ngũ sắc, đầy ắp kỉ niệm Trong
bài viết của mình, Hàn Anh Trúc rất chú ý đến hình ảnh cánh diều tuổi thơ anh, đặc
biệt là hình ảnh người mẹ bên bếp lửa với khói bếp nồng cay… Dành nhiều tình cảm vào những hình ảnh thơ Trương Nam Hương, với tác giả đó là những trang thơ ý
nghĩa, ý vị một cảm xúc đẹp
Trong bài phỏng vấn nhà thơ Trương Nam Hương của Hoài Hương: “Nhà thơ
Trương Nam Hương với nỗi nhớ Hải Phòng”, khi được hỏi tại sao là Hải Phòng, anh
như chìm đắm vào miền kỉ niệm xưa cũ nơi lưu lại tuổi thơ với bà ngoại hiền từ có bàn nước nhỏ bán chè xanh, kẹo lạc, kẹo vừng, thuốc lá Có lẽ bắt nguồn từ nơi này, mà những bài thơ như Thời nắng xanh, Tuổi thơ của anh ra đời…
Tác giả Hoài Hương có lẽ là một người rất yêu mến thơ Trương Nam Hương, nên trong một bài viết khác rất công phu “Trương Nam Hương, nhà thơ của những
hoài ni ệm đẹp”, chị rất tâm đắc mảng thơ tình yêu của anh Theo chị, bắt đầu từ tình
yêu đôi lứa, Trương Nam Hương còn có nhiều bài thơ về một tình yêu lớn hơn, chung
hơn, nặng trĩu những tâm tư của một trái tim đa cảm, nhân hậu, biết chia sẻ luôn đau
Trang 11đáu nỗi niềm về thân phận con người, về cuộc sống Đó là những bài thơ nói về mẹ,
cha, bà…đầy ấn tượng nhất và nhiều tâm trạng nhất
Tác giả Trần Thị Thắng qua tập bút kí, chân dung văn học Con chữ soi bóng
đời, đã nhận xét Trương Nam Hương là một hồn thơ gần với cuộc đời, bởi thơ anh
gắn với những người mang lại tình yêu trong cuộc đời anh: tình yêu của cha, của mẹ,
của chị…
Ở phương diện ngôn từ nghệ thuật thơ Trương Nam Hương, chúng tôi tìm thấy
một số bài viết sau:
Qua bài viết “Nhập vào một cõi thơ” của tác giả Phạm Quang Trung trong
tậpThổ cẩm dệt bằng thơ, tác giả chú ý đến những cái nhỏ bé, những điều không phải
ai nhìn cũng thấy trong thơ Trương Nam Hương Với tác giả, điều đáng quý ở thơ anh là thơ có sức gợi – sức gợi có được chủ yếu không ở từ hình ảnh riêng lẽ mà nhờ
sự kết nối các hình ảnh tạo nên không khí, môi trường sống của thơ Chính sự tinh tế
và nh ạy cảm trong phát hiện, cùng vẻ nhẹ nhàng, dịu dàng trong cảm nghĩ là những điều làm nên chất thơ Trương Nam Hương Tác giả tán thành đường hướng chính
trong cách tân của thi pháp thơ anh: Viết thơ theo nhịp tim của mình
Bài viết của Phạm Đình Ân: “Gã thợ săn” và “chiếc bẫy chữ” Trong bài viết
này tác giả nhận xét tương đối kĩ về thơ Trương Nam Hương như việc anh gắn bó
thủy chung với thể thơ truyền thống đã trở thành thế mạnh và riêng ở tập thơ Minithơ,
theo tác giả thì xúc cảm của thơ anh khác các tập thơ trước Đặc biệt Phạm Đình Ân
tỏ ra rất quan tâm đến cảm hứng và lao động chữ của Trương Nam Hương Tác giả
nhận xét:Trương Nam Hương đã viết liên tục trong một cơn hứng chữ nồng nàn
Trong bài viết, tác giả cũng nói đến tập thơ Đường thi ngẫu dịch, mà theo tác giả, Trương Nam Hương rất kĩ tính ở tất cả các bài dịch
Tác giả Huệ Triệu có lẽ là người hiểu thơ Trương Nam Hương và có cái nhìn
sắc sảo, nhạy bén, qua bài viết “Thử giải mã một số kết hợp từ lạ trong thơ Trương
Nam Hương” Có thể nói đây là bài viết có nhiều chất lí luận Từ góc nhìn lí luận qua
thủ pháp lạ hóa, tác giả đã nhận thấy thế giới ngôn từ thơ Trương Nam Hương vẫn luôn là một ẩn số, hấp dẫn người đọc Huệ Triệu cho rằng thơ Trương Nam Hương có
Trang 12nhi ều phối ghép từ gây ấn tượng mạnh, gây ám ảnh bởi độ nhòe mờ và sự lạ hóa nhất
là qua hệ thống từ láy
Bài viết của Nguyễn Thanh Toàn, “Cùng Trương Nam Hương xuôi ngược ra
ngoài ngàn năm” cho rằng phong cách viết của nhà thơ Trương Nam Hương tài hoa
mà rất lạ bởi, sự phóng khoáng trong cách sử dụng câu chữ, thả nhịp, cách gieo vần
t ự nhiên theo mạch cảm không câu nệ bằng trắc của anh
Như vậy, qua các bài viết của các tác giả về thơ Trương Nam Hương ở trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện
ra những đặc điểm của thơ anh nhưng nhìn chung lại chưa có nhiều những công trình nghiên cứu tổng thể, đầy đặn về thơ Trương Nam Hương Thực hiện đề tài “Cảm
h ứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương",dựa trên cơ
sở những ý kiến đã có được, chúng tôi đi vào tìm hiểu ba phương diện chính trong Trương Nam Hương là cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật với mong muốn góp lên một tiếng nói về những thành công cũng như những đóng góp của nhà thơ trong tiến trình văn học hiện đại hóa
3 Đóng góp của luận văn
Đặt vấn đề nghiên cứu ở ba phương diện: cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật trong chuyên luận “Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật trong thơ
Trương Nam Hương”, luận văn trên cơ sở vận dụng khái niệm công cụ, khai thác, lý
giải, phân tích những phần cốt lõi về cảm hứng, hình ảnh, ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương, chúng tôi mong muốn đóng góp một hướng tiếp cận tương đối tổng hợp về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ từ tập thơ đầu tay cho đến nay Chúng tôi rất mong luận văn được xem là một tài liệu hữu ích đối với việc tìm hiểuthơ Trương Nam Hương
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thơ của Trương Nam Hương, chúng tôi chỉ khảo sát ba phương
diện: cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ nghệ thuật
Đối tượng khảo sát qua các tập thơ: Khúc hát người xa xứ (1990), Cỏ - tuổi hai
mươi (1992), Nghoảnh lại tháng năm (1995), Viết tặng những mùa xưa (1999), Thơ
v ới tuổi thơ (2005), Đường thi ngẫu dịch (2007), Ra ngoài ngàn năm (2008), Mini
Trang 13thơ (2008), với tổng cộng khoảng 280 bài thơ (ngoài những bài thơ in trùng nhau
giữa các tập thơ và những bài không phục vụ cho nội dung nghiên cứu) thì sự khảo sát thống kê của chúng tôi sẽ được thực hiện trong phạm vi khoảng 280 bài thơ này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Cảm hứng, hình ảnh và ngôn từ
ngh ệ thuật trong thơ Trương Nam Hương”, luận văn sẽ phối hợp sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tìm hiểu đối tượng nghiên cứu như
một hệ thống để khảo sát, phân tích
Bằng phương pháp thống kê – phân loại sẽ làm cho việc giải quyết các vấn đề
của đề tài mang tính khoa học, sáng tỏ và thuyết phục
Với phương pháp phân tích – tổng hợp, luận văn sẽ tập trung phân tích các tác
phẩm thơ của Trương Nam Hương để từ đó lí giải mối quan hệ của nhà thơ với cuộc
sống, với các mối quan hệ tình cảm; cũng từ đó khám phá hồn thơ Trương Nam Hương qua những hoài niệm, kí ức, tâm sự,…Qua phương pháp này, luận văn muốn
hệ thống hóa các ý kiến đánh giá về thơ anh, cuối cùng tổng hợp rút ra những đặc điểm mang tính khu biệt của thơ Trương Nam Hương
Sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu, luận văn sẽ đặt nhà thơ Trương Nam Hương bên cạnh một số tác giả cùng thời, các tác giả có cùng đề tài phản ánh như: Thái Thăng Long, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn,…
Bên cạnh đó, luận văn còn phối hợp, vận dụng một số lí thuyết của lí luận văn
học để tiếp cận, làm nền tảng trong việc tìm hiểu ba phương diện cảm hứng, hình ảnh
và ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương
Ngoài ra, luận văn sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn và trao đổi trực tiếp
với nhà thơ, người thân và bạn bè của nhà thơ để hiểu thêm về đường thơ và chân dung của nhà thơ
6 K ết cấu luận văn
Ngoài dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương
Chương 2: Hình ảnh trong thơ Trương Nam Hương
Trang 14Chương 3: Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương
Trang 15CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG
1.1 C ảm hứng nghệ thuật – vùng thẩm mĩ riêng của nhà thơ
1.1.1 C ảm hứng nghệ thuật
Văn chương luôn là một hoạt động khó khăn và đầy trách nhiệm Người sáng tác văn chương muốn sáng tạo nên những tác phẩm có ích, có giá trị ngoài tài năng,
phải tự bồi dưỡng không ngừng về tư tưởng, tình cảm, chuyên môn nghề nghiệp…thì
mới có thể tự mình đi xa trên con đường văn nghiệp, không sa vào con đường của hư văn Vì sáng tác là một việc do chính cá nhân nhà văn làm, đó là một thứ sản xuất rất đặc biệt mang tính cá thể Cho nên không cách nào khác chính nhà văn, mà nhất là thi
sĩ, phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của mình bắt nguồn từ đó hướng ra thế giới bên ngoài Đời sống tinh thần của người nghệ sĩ hầu như không lúc nào yên ổn, luôn cọ
quậy, ám ảnh bởi những chi tiết, hình ảnh đã thâu nhận từ cuộc sống, nhất là khi họ đang thai nghén ý đồ sáng tạo, đang tập trung tinh thần để gọi tên một cảm giác, một tình cảm chợt lóe lên như tia chớp Khi nhà văn thấy lóe lên một tia chớp sáng tạo, họ
lập tức chộp lấy ngay và thấy mình bỗng nhiên bị cuốn hút vào một cảm giác, một hình ảnh hay một ý nghĩ nào đó và lập tức muốn bắt tay vào sáng tác
Xung quanh phạm trù về cảm hứng, có rất nhiều ý kiến, bàn luận
Hêgel và Biêlinxki đều dùng từ “cảm hứng” (tiếng Hy Lạp cổ gọi là “pathos”
– m ột tình cảm sâu sắc, nồng nàn) để chỉ trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do
việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ muốn miêu tả
Vấn đề về hứng còn được học giả Francois Jullien nêu lên trong cuốn Đường
vòng và l ối vào qua bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến, thì hứng với đặc trưng được nêu
lên là: “ Ở khoảng giữa hữu ý và vô ý” [31,193] Tác giả giải thích rằng làm thơ mà
“h ữu ý” từ đầu chí cuối thì không còn là thơ nữa Và lối viết “buông thả hoàn toàn
tự động”, có nghĩa là “vô ý” từ đầu chí cuối thì chỉ là thể nghiệm thơ Hứng là do
cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn, thấy ngoại cảnh mà
có hứng, muốn nói lên nỗi lòng mình, cảnh tình riêng của mình Qua đó, chúng ta
nhận thấy rằng làm thơ là một việc khó và không phải ai cũng có thể làm được Nhiều
khi người ta cho rằng khả năng làm thơ là một thiên phú, trời cho và thường gây cảm
Trang 16xúc thán phục nếu ai đó có khả năng xuất khẩu thành thơ Đương nhiên khi làm thơ,
người làm thơ phải có hiểu biết và một minh trí nhất định, song kể cả khi dùng minh trí thì minh trí của người làm thơ cũng bị cảm xúc, tình cảm chủ quan chi phối Từ đó
có thể hiểu, thi ca là tất cả những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối của cảm xúc, của tình cảm Khi nào con người còn những rung động, nghĩa là tâm hồn con người còn chất thi ca và điều đó sẽ khiến cho con người sống có ý nghĩa hơn trên cõi đời này
Ngô Thì Nhậm từng kêu gọi các thi nhân nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tác
của mình bắt đầu bằng: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”; Còn cảm
hứng đối với Lê Quý Đôn được hiểu như trạng thái cảm xúc tràn đầy: “Trong lòng có
c ảm xúc thật sự, rung cảm nên lời”; Nguyễn Quýnh cũng vậy, ông đề cao “cái
h ứng” trong thơ: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió, gió thổi từ sông bi ển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng
ch ạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm v ịnh ở ngoài miệng, viết ra ở bút nghiên, giấy mực Gió không bám vào chỗ nào nh ất định, hứng cũng biến động, không ở yên, mỗi cái tuy ở Đông, Tây, Nam, Bắc mà buột ra rất nhanh Người làm thơ không thể không có gió vậy Không chỉ thế,
Nguyễn Quýnh khẳng định: “Người làm thơ không thể không có hứng, cũng như tạo
hóa không th ể không có gió vậy…Tâm người ta như chuông như trống, hứng như chày và dùi Hai th ứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiến chúng phát ra tiếng; hứng đến khiến người ta bật ra thơ”[83,103] Tóm lại, không thể có thơ nếu không xúc
động, hoặc nếu hồn không rung động cho lời buông theo
Với K Pautôpxki trong tác phẩm “Bông hồng vàng và Bình minh mưa” thì:
“… C ảm hứng đi vào tâm hồn chúng ta như một buổi sáng mùa hạ rực rỡ vừa mới
rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm êm ả, nhưng vẫn còn lại những hạt sương sớm với những bụi cây ẩm ướt Nó nhẹ nhàng thổi cái tươi mát tốt lành của nó vào
m ặt chúng ta Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước
nh ững cuộc gặp gỡ ly kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những câu hỏi
ng ập ngừng dang dở…Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chu ẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời kể cả những
Trang 17ti ếng động thầm kín nhất, khó nhận thấy nhất”[70, 46] Có thể thấy, cảm hứng sáng
tác vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nghệ
sĩ Nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao động nghiêm túc, cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi; Nó tiếp nhận hiện thực một cách sinh động, khi trong người tràn đầy ý nghĩ và tri thức về sáng tạo của mình
Như thế, hoạt động sáng tác thơ chẳng như suy lý, không phải là một khả năng
chỉ hoạt động theo sự sai khiến của ý chí Trong hoạt động sáng tạo, tinh thần như
một cục than nguội gặp một sức mạnh huyền bí tương tự như làn gió phất phơ thổi lên cho sáng lờ mờ chốc lát; sức mạnh đó xuất phát từ nội tâm, song chỉ như một màu hoa mới nở đã tàn phai và thay hình đổi dạng…Giá thử sức kia bền bỉ mà vẫn thuần túy mạnh mẽ như lúc khởi thủy, tất không thể đoán trước rằng kết quả sẽ rộng lớn đến chừng nào; nhưng khi bắt đầu sắp đặt thành bài, thi hứng đã suy giảm mất rồi, và thơ nào rạng rỡ nhất đem truyền bá cho đời, có lẽ cũng chỉ còn phản chiếu lơ mơ
những ý niệm ban đầu của nhà thơ
Như vậy, cảm hứng có vai trò quan trọng đối với nhà thơ Nó đem lại trạng thái
phấn chấn về tinh thần giúp cho nhà thơ có động lực sáng tạo đồng thời giúp nhà thơ
thấy rõ và nhanh vấn đề, phát hiện ra những điều mới, thú vị, từ đó thực hiện công
việc sáng tác một cách thích thú và có kết quả cao Cảm hứng đối với nhà thơ là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng vì nó là điểm khởi đầu, là chất men sáng tạo cho sáng tác của họ Trong hệ thống tư tưởng mỹ học của Hegel thì cảm hứng được
xem như là “trung tâm điểm”, là “vương quốc thật sự”[30,208]của nghệ thuật Khi
hứng khởi, sẽ gây nên chấn động mạnh mẽ trong tâm hồn, từ đó phát ra cảm xúc, ngôn từ, tiết tấu và bài thơ cứ thế mà sinh ra…Thi tiên nổi tiếng đời Đường- Lí Bạch-
từng ngâm nga:
“H ứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc” (Khi cảm hứng say sưa, hạ ngọn bút làm rung chuyển năm núi lớn)
(Giang thượng ngâm)
Hứng còn có tác động khởi hứng, khích động mạnh mẽ tâm hồn, tạo ra không gian khởi hứng Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” còn đưa ra khái niệm “nhập
Trang 18h ứng” Có hứng, có khởi hứng, nhà thơ phải nhập hứng thì mới thành thơ Và ông
đưa ra điều kiện để nhập hứng ở thiên 46 là:
Cho nên, b ốn mùa chuyển đổi tràn trề
Mà nhập hứng cốt ở sự bình tâm, an nhiên.[33,501]
Sự tràn trề thanh sắc của bốn mùa chuyển động (hứng) gây cảm xúc xao xuyến
(kh ởi hứng), nhưng để nhập hứng thì phải có sự bình tâm, cái nền điềm tĩnh, an nhiên
của tâm hồn
Nói tóm lại, dù có rất nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về cảm hứng nhưng
tựu chung các nhà nghiên cứu đều nhìn nhận: Cảm hứng là trạng thái nhiệt hứng của tâm hồn người nghệ sĩ Nó giữ vai trò trọng yếu trong quá trình sáng tác cũng như đối
với từng tác phẩm của nhà thơ
1.1.2 Cảm hứng nghệ thuật – vùng thẩm mĩ riêng của nhà thơ
Nhà thơ nào cũng có quyền sở hữu một thế giới thi ca, một vùng đất thơ giàu giá trị thẩm mĩ Ở thế giới ấy, nhà thơ tự do trình diễn tâm hồn mình và cái nhìn của mình về cuộc sống và con người bằng những sắc màu, hình ảnh, âm thanh, tư tưởng…với nguồn cảm hứng bất tận Khi đi sâu vào bản chất của cảm hứng trong tác
phẩm văn học, nhà nghiên cứu Phùng Quý Nhâm cho rằng cũng nên “xem cảm hứng
được thể hiện như thế nào trong tác phẩm văn học…Cảm hứng trong tác phẩm văn
h ọc không chỉ là nội dung tình cảm, mà đúng hơn là nội dung tư tưởng – tình cảm được thể hiện và biểu hiện một cách nghệ thuật, một cách thẩm mĩ trong tác
ph ẩm”[59,20] Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực nhà thơ phải hướng con người tới
cái đẹp bằng sự lên tiếng, bằng sự thăng hoa cảm xúc của chính mình Do vậy mà,
cảm hứng trong tác phẩm phải được nhà thơ biểu hiện qua mạch tư tưởng – cảm xúc
chủ đạo, qua sự lí giải các vấn đề đặt ra, qua giọng điệu… Hơn hết, nhà thơ phải là người có tư tưởng Nhưng nghệ thuật không phải chỉ là tư tưởng đơn thuần mà phải là
tư tưởng được rung lên ở các cung bậc tình cảm, được chuyển tải bằng những cảm xúc, là tất cả nhiệt tình kết tinh lại của người nghệ sĩ Như vậy, khi nói cảm hứng nghệ thuật gắn liền với nguồn mạch tư tưởng – cảm hứng chủ đạo của người nghệ sĩ cũng có nghĩa là khẳng định quyền tự do lựa chọn vùng thẩm mĩ riêng trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình Việc nhà thơ xác định tư tưởng khi đến với văn
Trang 19học là quan trọng và thiết thực Bởi tư tưởng sẽ là nền tảng để nhận thức, lí giải đối
với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học, cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra Tư tưởng có thể được xem là linh hồn, là kết tinh của những cảm
nhận, suy nghĩ về cuộc đời Tư tưởng thấm nhuần trong tác phẩm như máu chảy trong huyết mạch thấm đến từng tế bào cơ thể Biêlinxki từng khẳng định: “Tư tưởng
thơ, đó không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là quy t ắc, mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng…”[ 27, 383]
Khi tự do trong vùng thẩm mĩ của mình thì trạng thái tình cảm của nhà thơ là
trạng thái đầy cảm hứng, không phải là trạng thái bình thường Làm việc mà không
có cảm hứng sẽ khó khăn, gượng gạo và thường không thu được những bất ngờ, lí thú.Thái độ, tình cảm yêu ghét rõ ràng ở đây là xuất phát từ trái tim của người nghệ
sĩ, chứ không phải là sự “thương vay, khóc mướn”.Nhà thơ phải biết nuôi dưỡng cảm
hứng mới mong đem đến cho người đọc thông điệp mới lạ, độc đáo Vì “tư duy thơ là
tư duy sáng tạo trong trạng thái đầy cảm hứng”[87, 66] Cảm xúc trơ lì, mòn sáo,
tình cảm thoáng qua, hời hợt thì những tư tưởng dù đúng đến mấy cũng chỉ vô hồn,
vô cảm trên trang giấy, thơ phải nhất thiết có thần, có hứng thì mới linh động được Nhà thơ chỉ có thể sáng tạo nên tác phẩm khi cảm thấy tiếng nói thôi thúc mãnh liệt con tim, từ đó mà thành cú hích sáng tạo, giây phút bùng nổ cảm hứng A.Tônxtôi
gọi trạng thái lao động, cảm hứng theo cách của ông là “xuất thần” Nếu “xuất thần” – ông nói–“thì tôi vi ết được nhanh Nếu không, tôi phải vứt đấy cái đã”[70,107]
Chắc chắn là các nhà thơ đều biết đến cái trạng thái tuyệt điệu đó trong lúc sáng tạo, khi một ý mới hoặc một cảnh mới bất thần hiện ra như những tia chớp Nếu không ghi lại ngay lúc ấy, chúng có thể biến mất không để lại một dấu vết gì Bagritxki ghi
lại những câu thơ chợt đến vào vỏ bao thuốc lá nhưng lại thường đánh mất chúng Lisa Deharme gọi đó là cái lồng bỏ trống:
Trang 20bên giường tôi…
Nói về vấn đề tư tưởng của người sáng tác trong tác phẩm, Biêlinxki quan
niệm: “Trong những tác phẩm thi ca đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm
trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác ph ẩm giống như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tạo thi ca – đó chính là c ảm hứng…Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi lên bởi một
tư tưởng nào đó”, “Cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó
tr ở thành lòng say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và khát vọng nồng nhi ệt”[30,208] Như thế có sự tương quan giữa tư tưởng nhà văn và cảm hứng trong
sáng tác: tư tưởng sẽ khơi nguồn, là tiền đề cho cảm hứng Ở những tác phẩm mang
tư tưởng giả tạo thì cảm hứng sẽ mang tích chất gượng gạo
Lí luận văn học xem thuật ngữ cảm hứng, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của
bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới
Việc nhà thơ nuôi dưỡng nguồn cảm hứng chủ đạo trong vùng thẩm mĩ riêng, thể
hiện được mối quan hệ biện chứng tích cực là: Chính cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định,theo các tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển văn học: “Cảm hứng chủ đạo là trạng
thái tình c ảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”[27,44] Không những thế cảm hứng nghệ thuật chủ đạo
thấm nhuần trong mọi yếu tố của tác phẩm văn học và từ đó giữ một vai trò quan
trọng trong việc tạo nên hình tượng tác giả trong tác phẩm Ngược lại, hình tượng tác
giả chi phối từ cách nhìn, giọng điệu đến cách thức lựa chọn, phân tích và phản ánh
hiện thực cuộc sống vào tác phẩm Hình tượng tác giả tồn tại như vô hình, nhưng lúc nào ta cũng nhìn theo cái nhìn, giọng điệu của tác giả Ta luôn luôn thấy con mắt tác
giả đặt vào các chi tiết Cái nhìn, giọng điệu này không trừu tượng như tư tưởng, cũng không tản mạn như những cảm giác mà nó luôn luôn có mặt và có tính ổn định trong tác phẩm
Không thể phủ nhận vai trò bao quát, chi phối, có tính định hướng, có tính quyết định đến mọi phương diện của tác phẩm văn học ở cảm hứng chủ đạo Trong Lí
Trang 21lu ận văn học – vấn đề và suy nghĩ, Huỳnh Như Phương nhấn mạnh: “Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao
g ồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn
từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn
ti ểu thuyết”[30,210] Như thế cảm hứng chủ đạo là cái tạo nên nền tảng của giọng
điệu trong tác phẩm của nhà văn, nó chi phối việc xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật, xác lập góc nhìn của tác giả đối với hiện thực được phản ánh Và ứng với
mỗi nguồn cảm hứng ấy là một phương pháp sáng tác, một loại hình tác phẩm, một
giọng điệu riêng… Lẽ đó mà V.Biêlinxki đã từng lên tiếng nghi ngại rằng nếuthiếu
cảm hứng chủ đạo thì ông không thể hiểu được cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả năng để khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ Như vậy, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thành
của một tác phẩm Đối với thi sĩ, cảm hứng có thể đến trong một giây xuất thần nhưng với một tiểu thuyết gia, cảm hứng lại hình thành từ cả một quá trình tích tụ
Bởi lẽ, thơ là cảm xúc bất chợt Cảm hứng ấy đòi hỏi nhà thơ phải liên tục trau dồi
vốn sống Do đó, phải có cách duy trì cảm hứng, tạo ra cảm hứng mới Nói như Nguyễn Văn Hạnh trong Lí luận văn học – vấn đề và suy nghĩ thì “Con đường hiệu
nghi ệm để đạt được cảm hứng là sống sâu sắc, tập trung, tha thiết với vấn đề đang
ám ảnh mình, lao động một cách cần mẫn, kiên trì Không nên chờ cảm hứng đến
m ới làm việc Làm việc thường xuyên, tập trung, thì rồi cảm hứng sẽ đến”.[30,116]
Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có những mảng đề tài, những nguồn cảm hứng riêng, những vùng thẩm mĩ riêng Ở đó, họ đi sâu vào đời sống nội tâm, thế giới tinh
thần của cộng đồng, của dân tộc và của chính mình M.Gorki đã nói: “Nghệ sĩ thật sự
vĩ đại trước hết phải là nghệ sĩ của một dân tộc, một quê hương cụ thể”.Cảm xúc thơ
ca chỉ thực sự dâng lên, tỏa ra khi trong lòng người thi sĩ nỗi nhớ nhung, niềm yêu
thương hay căm giận, lên tới đỉnh điểm Như Bretôn đã nói: “Thơ phải là sự tan rã
c ủa trí tuệ”, nghĩa là trí tuệ ấy phải biến thành cảm xúc, thành sự rung động trong
tâm hồn thì mới sáng tạo ra thơ được Theo Chế Lan Viên: “Muốn làm thơ cần phải
xúc c ảm thành thực”, “Học thơ là học cách cảm xúc của nhà thơ”, “Muốn cải tạo bài thơ phải cải tạo tâm hồn” Trương Nam Hương viết “Lời thưa” dâng cha khi
Trang 22trong trái tim anh chứa chan, dâng tràn tình thương nhớ cha kết tinh trong tình xứ sở Nhà thơ tìm về quá khứ để rồi qua đó nhận ra cái chân lý vô cùng giản đơn cho đời mình và đường thơ là gắn bó với cuộc đời, với quê hương :
Trong cha có m ột câu hò
Trong câu hò có con đò sông Hương
Trong sông Hương có nỗi buồn
Trong thăm thẳm có vô thường thi ca
Và,
Con cùng tên v ới dòng Hương
Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi!
Khi nói đến những vùng thẩm mĩ riêng của mỗi nhà thơ cũng cần nói đến cảm
hứng tư tưởng và cảm hứng sáng tạo Cảm hứng tư tưởng của tác phẩm và cảm hứng sáng tạo của nhà thơ có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Vì nói
tới cảm hứng sáng tạo của nhà thơ thường nghiêng về nói đến một trạng thái tâm lí sáng tạo Còn nói tới cảm hứng tư tưởng của tác phẩm tức là cảm hứng của nhà thơ
đã được truyền tới hệ thống hình tượng mà họ miêu tả Cảm hứng góp phần tạo nên
lớp nội dung đặc thù của tác phẩm Cảm hứng gắn liền với tình cảm, nhưng đó không còn là thứ tình cảm tự nhiên mà trở thành một phẩm chất nghệ thuật Nó cũng không
phải là thứ tình cảm bằng phẳng, mà là niềm say mê khẳng định cái tốt, nỗi khát khao cái cao cả, lòng căm ghét sâu sắc cái xấu, cái ác… Trong mỗi câu, mỗi chữ nhà thơ
bộc lộ tình cảm, cảm hứng của mình Những “thuật hứng”, “quy hứng”, “mạn
h ứng”, “ngẫu hứng”, “tức sự”, “cảm hoài”, “thuật hoài”…đều là những trạng thái
cảm hứng khác nhau trở thành nội dung chính yếu của tác phẩm Cảm hứng tư tưởng
của nhà thơ nói chung cũng không phải là thứ tình cảm đơn nhất mà nó có nhiều cung
bậc, nhiều sắc thái khác nhau Chẳng hạn trong bàithơ “Câu thơ ngày về”, ta đọc
thấy nỗi nhớ; niềm khát khao quay về quê cũ trong một tâm thế đường hoàng, xứng đáng Bài thơ có cả cảm giác mặc cảm, có lỗi của Trương Nam Hương trong những ngày anh xa xứ:
“Ngày v ề sau tháng năm xa
Tr ắng bàn tay, trắng dần qua mái đầu
Trang 23Có gì để tặng quê đâu
Đời thơ bèo bọt dăm câu bọt bèo…”
Chính vì cảm hứng tư tưởng có nhiều sắc thái như thế cho nên trong các tác
phẩm cần phải nhận ra đâu là cảm hứng chủ đạo, để từ đó mới có cơ sở cảm nhận và
lí giải đúng tác phẩm Hơn hết, để cho vùng thẩm mĩ riêng của mỗi nhà thơ thực sự
có giá trị chỉ khi cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm mang ý nghĩa xã hội G.Hêgel
từng khẳng định rằng cảm hứng có ý nghĩa xã hội mới là cảm hứng chủ đạo cần có
của văn học Vì vậy cho dù cảm hứng gắn với tình cảm, nhưng không phải thứ tình
cảm nào cũng trở thành cảm hứng Chỉ những niềm say mê nào tạo nên khát vọng cao
cả, mang ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội mới thật sự trở thành cảm hứng tư tưởng
mà thôi
Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có những nguồn cảm hứng riêng của mình, rất khác nhau và các dạng thức của nó được thể hiện cũng không giống nhau Theo H.Taine,
một nhà phê bình gia trứ danh của Pháp, nếu ta biết được một tác giả sinh ở thời nào,
tại miền nào, trong gia đình ra sao, được nuôi dưỡng như thế nào thì ta có thể đoán được quan niệm về nghệ thuật cùng tính cách những tác phẩm của tác giả đó Tất nhiên chủ trương này có vẻ quá máy móc; song ta phải nhìn nhận tính tình và tư tưởng của nhà thơ chịu ảnh hưởng ít nhiều của gia thế, của giáo dục xã hội; tùy thuộc vào cá tính sáng tạo, quá trình lao động nghệ thuật rất riêng, vốn sống, tâm tư suy nghiệm, nhìn nhận cuộc sống, trình độ học vấn, cả sự từng trải…của họ Và dù thông minh cỡ nào, cũng phải có sống mới hiểu được đời, mới hiểu được văn “Không lịch
lãm nhi ều thì làm sao tưởng tượng được những cảnh tả trong sách mà thấy nó hay? Không kh ổ đau nhiều thì làm sao thấu rõ được những tình tiết kể trong truyện mà
th ấy nó khéo?” [50,28]
Cũng là tiếng thơ mang tình cảm quê hương thiết tha, nồng hậu; cũng là tình
bạn, tình yêu trong những cung bậc, những sắc thái đa dạng của nó; những hoài niệm,
hồi ức về quá khứ… tưởng đã là con đường mòn trong thi ca Song, sáng tác của Trương Nam Hương quả là đã có cố gắng và kết quả là đã đem đến cho người đọc
một cảm nhận riêng, âm vang riêng từ những nguồn cảm hứng chân chất, dung dị tình người, tình đời từ đó đã nối kết những tấm chân tình Chính cảm hứng sẽ lí giải
Trang 24những đặc điểm nghệ thuật, phong cách tác giả Ta thấy, một Tố Hữu – nhà thơ với
cảm hứng về hình ảnh anh bộ đội và cảm hứng về hình tượng người Cha già của dân
tộc Nguyễn Bính, nguồn thơ gắn với cảnh sắc và cuộc sống chân quê; Nguyễn Duy làm thơ là đi theo tiếng gọi yêu thương, tự hào về nhân dân và đất nước thời kì chống
Mĩ đi cùng cảm hứng thế sự, suy ngẫm về con người và đất nước trong thời bình…
Có những cảm hứng còn xuyên suốt cả trong sự nghiệp sáng tác của các nhà thơ
Nói tóm lại, cảm hứng là bộ phận không thể tách rời của nội dung tư tưởng tác
phẩm Tác phẩm có dấy lên được cảm hứng mãnh liệt và sâu sắc thì mới rung động được trái tim độc giả Nhờ sự rung động mãnh liệt của cảm hứng mà đề tài, chủ đề
của tác phẩm mới được khái quát, được lí giải có chiều sâu và có tính thẩm mĩ Cùng
với đề tài, chủ đề,… cảm hứng góp phần tạo nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác
phẩm Nhưng cũng không thể phủ nhận một điều là : “… dù ta có định nghĩa cảm
h ứng là cái gì đi nữa thì ta cũng vẫn biết rằng nó bao giờ cũng màu mỡ và không được phép mất đi vô ích nếu nó chưa tự hiến dâng nó – cảm hứng – cho con người”[70, 46].Do đó, việc nhà thơ nuôi dưỡng những vùng thẩm mĩ trong những
nguồn cảm hứng nghệ thuật đậm đà, bền bĩ trên hành trình sáng tác là công việc vô cùng cần thiết và hữu ích Nó đem lại những giá trị về tinh thần, khơi nguồn lực sáng
tạo cũng như khẳng định trình độ tư duy, công phu nghề văn trong việc tạo nên tác
thầm lặng nhưng chắt chiu Sự kiếm tìm này, được đo bằng số đo của thời gian, của năng lực xúc cảm qua chính những trải nghiệm trong đời sống của anh Đó là dòng
hồi ức về những năm tháng tuổi thơ, những năm tháng xa xứ chất chứa nỗi niềm hoài hương, những vướng trở trong áng mây buồn mồ côi… Bước chân vào thi giới
Trang 25Trương Nam Hương, người đọc nhận ra một tấm lòng dịu dàng, tinh tế và nhạy cảm trước những biến đổi của cuộc sống Anh không ngần ngại đi đến tận cùng chiều sâu tâm hồn, để nói lên những mất mát, những khát khao được trở về, được yêu thương
trọn vẹn những cảnh, những người trên mảnh đất thiêng quê cha máu mẹ Trương
Nam Hương tạo được cho mình tiếng thơ riêng Đó chính là một phong cách thơ “có
s ự hòa hợp chất Huế quê cha và chất Kinh Bắc quê mẹ, dịu dàng, tinh tế trong ngôn
ng ữ tự tình và trần tình của một hồn thơ nhiều duyên nợ”[73,15] Có được điều này
trên hành trình thơ, Trương Nam Hương trải qua sự lựa chọn, lắng lọc; sự tập trung cao độ của trí tuệ, của xúc cảm dồi dào và khả năng nuôi dưỡng nguồn cảm hứng nghệ thuật đậm đà
Trong cuộc đời riêng, do hoàn cảnh sống đẩy đưa, đã đặt dấu chân của anh lên nhiều vùng đất khác nhau Mỗi nơi anh qua đều thấm đẫm hương vị của tình người,
tình đất, tình đời vì đó không “chỉ là nơi đất ở” nữa Và cứ thế, những hương,
những hoa cùng nỗi buồn, mất mát nơi anh đã sống bước vào trong trang thơ Nhà thơ mang theo tình cảm chứa chan trọn vẹn, xem đó như ngọn nguồn tạo nên cảm
hứng sáng tác cho con đường thơ của mình Ẩn bên dưới đôi cánh thơ, còn là lòng tri
ân anh thầm gửi trao Ngẫm lại, anh thấy mình có nhiều vùng quê để yêu, để nhớ thương: Quê mẹ Bắc Ninh, quê cha đất Huế Cha và mẹ cưới nhau cũng là lúc gia đình anh bắt đầu sinh sống ở Hà Nội Ông bà ngoại lại công tác ở Hải Phòng, nên mẹ sinh anh ở đó để có bà ngoại chăm Một vài tháng tuổi anh theo mẹ về lại Hà Nội Từ
đó gắn bó với Hà Nội suốt mười hai năm thời niên thiếu Chưa kể, anh có thời gian
một năm học ở Huế; bốn năm sống ở Đồng Nai; rồi học Đại học tại Sài Gòn, từ đó ở
lại vùng đất này đã ba mươi lăm năm nay…Từ vùng đất Sài thành, trái tim của người con trai đa mang không lúc nào ngừng cất lên tiếng nói ân tình, chất chứa nỗi lòng người lữ thứ tha hương, không lúc nào mà không hát lên khúc hát người xa xứ cho nguôi nỗi nhớ mong Bởi hơn ai hết, tác giả ý thức được những mao mạch nuôi dưỡng tâm hồn mình là nước, là đất được chưng cất từ những tinh hoa cội nguồn lâu
đời ở những vùng đất kinh qua Cảm hứng hoài hương cất lên khúc hát của người con
xa xứ, vì thế mà trở thành một trong những nguồn mạch cảm hứng chảy dài trong thơ Trương Nam Hương
Trang 26Thơ viết về đề tài quê hương, xa quê, nhớ quê là đề tài phổ biến trong thơ ca xưa nay Cảm xúc quê hương là cảm xúc chung của con người ở mọi miền, ở mọi dân
tộc trên thế giới Một Thôi Hiệu với vần thơ đã từng làm bùi ngùi bao lớp người đọc qua nỗi niềm hoài vọng cố hương:
Nh ật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Rồi lòng tương thương mà Huy Cận man mát, sâu thẳm một nỗi nhớ:
Lòng quê d ợn dợn vời con nước
Không khói h oàng hôn cũng nhớ nhà
Nhà thơ Cố Huống, Trung Quốc từng bộc lộ nỗi nhớ quê bằng hành động ý nghĩa:
Du du Nam qu ốc ti
D ạ hướng Giang Nam bạc
(Nh ớ về nước Nam xa vời vợi
Đêm thuyền đỗ quay đầu về Giang Nam)
Trong đêm không ngủ được, nằm ngắm trăng mà nhớ nhà, Lí Bạch viết:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi th ị địa thượng sương
C ử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu nhớ cố hương
Bài thơ nhiều sức gợi cùng với hai chữ đê đầu làm ta cảm được nỗi lòng cô
liêu của ông và cả sự tịch mịch của đêm dài…
Trên đường đi sứ, Nguyễn Du nhìn cây cỏ tê tái trong mùa đông giá lạnh mà lòng càng thêm tê tái khi hướng về quê hương xa mờ:
Thiên hàn th ảo mộc thu
Hành nhân hồi thủ xứ
Vô ná c ố hương sầu
Ngay Xuân Diệu, người được coi là đứng đầu trong các nhà thơ “Tây hóa”,
vẫn có những câu thơ mang phong vị quê kiểng, thơm ngát mùi hoa bưởi:
Ng ẩng đầu ngóng mãi chưa xong nhớ
Trang 27Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya
…
Trong thế giới tâm linh của người Việt, quê hương là nguồn cội, là cái gốc của
mỗi người, là khởi đầu của mọi sự khởi đầu Bởi vậy dù không gian xa cách, dù thời gian xa xôi, con người luôn có khát vọng được trở về nơi chôn nhau cắt rốn Làng quê Việt Nam đi vào trong thơ ca như một nét đẹp văn hóa Từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Khuyến và những nhà thơ sau này của phong trào thơ mới như Nguyễn Bính, Anh Thơ, đều có hình ảnh hồn quê trong sáng tác của mình Để rồi ai đã một lần xa quê lại chẳng nhớ, chẳng buồn và ước mong được một lần quay lại Người ta không
thể lựa chọn quê hương để sinh ra và lớn lên, nhưng người ta có thể lựa chọn thái độ đối với quê hương của mình; hơn thế, có thể bứt con người khỏi quê hương, nhưng không thể bứt quê hương ra khỏi hồn người Quê hương là điểm tựa tinh thần của người Việt Nam, là mối dây vô cùng đằm thắm trong tâm hồn con người mỗi khi cách xa Và vì thế, các thi nhân bằng cách đem cái duyên tình quê hương làm vợi bớt
đi nỗi niềm xa xứ
Thế nhưng cá nhân mỗi con người, mỗi nhà văn, nhà thơ vừa giống cá nhân người khác; nhưng lại chẳng giống cá nhân nào như cách nói của Hàn Mạc Tử
“Người thơ phong vận như thơ ấy” Với trường hợp của Trương Nam Hương, tiếng
thơ của anh có mặt độc đáo, riêng biệt trong một đề tài quen thuộc của mọi nhà Cũng
là viết về nỗi nhớ quê hương, nhưng trong thơ anh khi thể hiện nỗi nhớ về những
miền quê là anh nhớ về những gì vô cùng dung dị, rất đời thường mà rất đỗi thương quen, không hề nhàm chán Cái điều mà có thể ở người khác chỉ là thoáng qua thì ở anh, nó lắng sâu…Hầu như, mỗi bài thơ tình xa xứ đều gắn với một bóng dáng thân yêu nào đó của anh Qua đó, anh đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của con người cần cù, gian khổ, chịu thương chịu khó sống gắn bó ở mỗi vùng quê của mình Hơn hết, qua
nỗi nhớ ấy, người đọc nhận ra cái dấu ấn văn hóa vùng miền cũng như giọng điệu rất riêng cho mỗi vùng đất mà nhà thơ nhớ về Như vậy, với cách sử dụng chất liệu thẩm
mỹ vùng miền, kết hợp khéo léo sợi dây tình điệu, Trương Nam Hương tạo dấu ấn rất riêng cho thơ của mình Đi cùng những khúc hát của người con xa xứ, người đọc bắt được cái nhịp thâm trầm, tinh tế khi viết về xứ Huế thấp thoáng những chiếc nón lá,
Trang 28mái chèo, điệu hò trên dòng Hương …; Khúc tình quê mượt mà sâu lắng về quê mẹ
Bắc Ninh với nào là dòng sông, đồng lúa, hạt gạo, hoa xoan, câu hát quan họ, mái đình, chiếc khăn hoa lí …; Nghe âm vang từng giọt thời gian khẽ khàng khi nỗi nhớ hướng về Hà Nội cùng quả bàng khô, hoa gạo, quả sấu hườm, que kem Hồ Gươm,
hương hoa sữa mùa thu, lá sen gói cốm làng Vòng … Những chất liệu thẩm mĩấy
hình như luôn ăm ắp trong tâm hồn anh, để mỗi khi có dịp là cất thành thơ Thơ anh,
vì thế có sức gợi lên những rung động tiềm ẩn trong mỗi con người Nó đưa đến cho người đọc một cảm giác êm đềm, phi lợi nhuận
Sự thật đời sống là chất liệu của thơ ca “Ở đâu có cuộc sống là ở đó có thơ
ca” (Biêlinxki) Nhưng trong quá trình sáng tạo, trước mắt nhà thơ là hiện thực đời
sống, nhà thơ chối bỏ cái gì, chọn cái gì để thể hiện và thể hiện theo cách của mình
Có được điều đó ở mức độ này hay mức độ khác thì đó là thể hiện sự quan điểm nhân sinh, quan điểm nghệ thuật, ý thức thẩm mĩ của nhà thơ Nhà thơ phản ánh hiện thực đời sống và đồng thời cũng trình bày tư tưởng, tình cảm của mình với đời sống Tận
tụy với con đường thơ giàu hoài niệm, ăm ắp tình yêu quê hương xứ xở cũng là một
sự lựa chọn, một cách sống của nhà thơ Trương Nam Hương - như anh tâm sự: “Thời
ta đang sống là thời đại hoang mang mà văn chương cũng là liều thuốc tích cực Văn thơ phải nói lên tiếng nói của thời đại, sự gồ ghề thao thức trong tâm tư cũng là một điều cần thiết Nhưng cho dù như thế nào thì thơ cũng phải mang hồn vía của chính dân t ộc mình” Như thế, rõ ràng là Trương Nam Hương đã thực sự có ý thức nghệ
thuật và quan điểm nhân sinh Đây là tiền đề quan trọng để Trương Nam Hương đủ
sức đi con đường dài về sáng tạo thơ ca, làm nên phong cách thơ và đặc điểm thẩm
mĩ trong thơ Đó là nghệ thuật xuất phát từ tinh hoa văn hóa dân tộc, từ tình yêu làm nên nỗi nhớ quê hương trong nguồn cảm hứng bất tận
Điều này, có thể thấy ngay trong tập thơ đầu tay- Khúc hát người xa xứ- những
bài thơ hay nhất là những bài thơ được cất lên từ nỗi lòng của người con xa quê Đó
là những khúc nhạc lòng vừa chan chứa tình cảm, vừa cụ thể, sinh động, lại vừa giàu
ý nghĩa nhân sinh: Nhớ mùa đông Hà Nội, Nhớ mẹ và làng quan họ, Với sông Hồng,
Bà v ới quê xa, Câu thơ ngày về, Tạ lỗi cánh đồng, Khúc hát người xa xứ,…Trương
Nam Hương sinh ra, lớn lên ở nông thôn Gắn bó đồng ruộng, đất cát, rơm rạ Lớn
Trang 29lên thì sống tha hương, nhưng cái hồn làng quê lúc nào cũng có sẵn trong người, như
đã thâm nhập vào anh tự bao giờ Con người có thể đi rất nhiều nơi, sống rất nhiều
chỗ- bản thân anh cũng vậy- nhưng trong trái tim, tình yêu quê hương luôn được ấp ủ
bởi ai cũng có một quê hương để yêu mến và hoài vọng những khi đi xa Với Trương Nam Hương thì càng đặc biệt hơn bởi anh có nhiều vùng quê để nhớ thương Lẽ đó
mà nỗi nhớ trong những khúc hát người xa xứ càng tha thiết, triền miên và sâu thẳm hơn
Có thể thấy, cảm hứng hoài hương luôn bàng bạc trong mười tác phẩm của Trương Nam Hương Bằng nguồn cảm hứng này, anh bắt nhịp cầu nối liền tâm hồn
với tâm hồn, trái tim tìm thấy tiếng nói đồng điệu cùng cất lên khúc ca tình quê Người đọc sẽ nhận thấy sợi dây dẫn dắt con người trở về với cội nguồn qua các tập thơ Nói chính xác hơn là họ tìm thấy chính mình, cảm xúc, suy nghĩ của mình vốn
tiềm ẩn, nhà thơ bằng khơi gợi là luồng sóng tâm tình sáng lên Trương Nam Hương
khởi thơ qua cảm hứng hoài hương, nhưng trên tài vẫn là cái tình- rất nhẹ nhàng, đằm
thắm- như Mười năm trước Huế, Tháng giêng thương nhớ, Năm tháng xa quê, Huế
thu ở về thăm, Tự bạch…(Tập thơ Cỏ- tuổi hai mươi- 1992); Dáng quê, Lỗi hẹn sông Cầu, Nhớ mẹ chiều cuối năm, Kí ức Hà Nội, Sông Hồng…(Tập thơ Ngoảnh lại tháng năm- 1995); Nhớ xanh, Tha hương, Gửi về quan họ, viết tặng những mùa xưa (Tập thơ Viết tặng những mùa xưa- 1999); Câu hát ấy, Những ngày xa xứ, Tôn nữ sông Hương…(Ra ngoài ngàn năm- 2008); Và trong tập thơ vừa mới xuất bản- Mini thơ-
cũng dễ dàng nhận ra sợi dây liên kết tình cảm trong trẻo đó qua Hoa gạo, Bà tôi,
Trưa quê, Trước sông, Ngũ sắc, Ký ức…Ngay cả những bài thơ không trực tiếp viết
về chủ đề quê hương nhưng Trương Nam Hương vẫn có sự liên hệ chặt chẽ với quê nhà, chỉ cần anh bắt gặp một chi tiết nào gợi nhắc, thì ngay lập tức tình cảm nhớ thương lại dâng lên:
Để sớm mai này khi xuống phố
Sài Gòn b ất chợt gặp heo may
Tôi nh ớ vô cùng em với mẹ
Mùa đông Hà Nội đã đâu đây…
(Nhớ mùa đông Hà Nội)
Trang 30Thưa mẹ lòng con không ít lúc
xa quê t ừ độ đến giờ
th ắc thỏm mỗi mùa hoa gạo đỏ
mẹ chờ bếp nguội những than tro…
(Năm tháng xa quê)
Ch ợt ngồi nhớ lại câu em hát
Bèo d ạt mây trôi lại xót lòng
D ễ nhắc bây giờ anh khóc mất
Sông C ầu buông dải thắt lưng ong
(Câu hát ấy)
Có thể nói hình bóng quê nhà luôn in đậm trong trái tim nhà thơ Bởi vậy mà
những tiếng như sông Hồng, sông Hương, quan họ, Hà Nội, xa quê, quê nghèo, nhớ
quê,… đặc biệt là từ “nhớ” với nhiều sắc thái thể hiện khác nhau xuất hiện trong thơ
Trương Nam Hương với tần số rất cao Để rồi khi nhắc đến thơ Trương Nam Hương, người đọc không thể nào quên cho được cái không gian của vùng đất cố đô Huế quê cha, quê mẹ Bắc Ninh, nơi sinh Hà Nội,…đầy ắp trong thơ Trương Nam Hương với
những nét chân thực, tràn đầy cảm xúc Những địa danh như Sông Hương, núi Ngự,
sông H ồng, sông Cầu, Kinh Bắc, Quán Dốc, Hà Nội, Hồ Gươm, Huế, Hải Phòng…
không chỉ là tên đất, tên làng, tên sông, tên núi mà đã trở thành những mảnh tâm hồn
của nhà thơ
Người ta thường nói văn chương là viện bảo tàng của những giá trị văn hóa
thẩm mỹ- điều đó thật đúng với những bài thơ mang nét đẹp văn hóa vùng làng, quê hương qua nỗi nhớ thương của Trương Nam Hương Xa quê, cảm hứng chính của Trương Nam Hương là hoài hương Cứ tưởng như quá vãng bị một lớp bụi mờ phủ, nhưng chỉ cần một hơi gió của tình quê lay động, lớp bụi ấy biến đi, thế là có một quê
hương trong lòng người xa quê hiện lên nguyên vẹn với “Con chuồn chuồn ngô bêu
n ắng thập thò”, “Tiếng reo củi ướt đỡ buồn/ Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh gi ầy”, ““Mùi ngây ngái của râu ngô bùn bãi / Chú nhái nằm thom thóp lá sen che”…Theo bước chân của người xa xứ, cùng với khoảng cách về thời gian và không gian kéo dài, mở rộng, con người càng có dịp nếm trải tình đời thì cảm xúc thơ cũng
Trang 31càng dạt dào và tâm tư cũng có sự đan chéo, chồng chất Thật khó mà tách bạch trong thơ tha hương của Trương Nam Hương đâu là hoài niệm, khát vọng ngày về, đâu là
nỗi nhớ….Mỗi bài thơ xa xứ của anh đều chất chứa nhiều nỗi niềm, nhiều nỗi u ẩn, nhiều tâm trạng của lòng người tha hương, từ đó khơi gợi lên những đóm sáng tình người, tình quê hương
Ai xa quê mà không thương nhớ quê cũ Những ngày lang thang trên xứ Lạng, Nguyễn Bính từng gửi về quê mẹ những dòng thơ:
M ẹ ơi! Một sớm thăm hoa rụng
Nh ặt gửi dùm con dăm cánh thôi
Đêm xa xứ lòng anh quay quắt nhớ
Thèm vu vơ đến cả tiếng côn trùng
(Những ngày xa xứ)
Phải bằng sự kết nối giao cảm, cùng trải ngộ cảnh xa xứ mới thấu cho lòng
người tha hương trong đêm, chợt “thèm” cay cả mắt tiếng côn trùng vu vơ gợi nhắc
Trang 32nhớ quê nhà Trái tim như mở rộng mọi biên độ để lúc nào cùng sẳn sàng đón nhận tin hơi quê…
Những vần thơ trong cùng làn điệu khúc hát người xa xứ của Trương Nam Hương có điệu buồn thương, đọc lên cứ thấy bùi ngùi Đúng như nhà thơ Nguyễn
Trọng Tạo đã nhận xét: “Thơ Trương Nam Hương hoài thai từ nỗi buồn và nỗi buồn
đã mượn thơ anh để hát rong về nó”[ 84, 24]
Ru ổi rong khắp bốn phương trời
Câu thơ hành khất theo người hành hương
Ta gom nh ặt giữa đời thường
N ỗi đau của mẹ nỗi buồn của cha
(Câu thơ ngày về)
Ngay cả trong một bài thơ, vừa thấy trong trẻo, tươi mới đó nhưng cũng đượm
buồn Hình như cái nỗi niềm tha hương, cái tình quê chưa thỏa bày, nỗi thương chưa
hết cứ u uẩn tâm hồn anh, vận cả vào thơ:
Bi ếc vào đáy nước trong veo
Là nguyên năm tháng rêu phong mặt đền
Toan cầm hòn sỏi lãng quên
Thơ tôi xưa ngại viết về hạt cơm
Còn bao kẻ nữa vô ơn
L ớn nhờ máu-những-cọng-rơm đất nghèo!
(Làng cát)
Đằm lòng qua những vần thơ mang cảm hứng hoài hương của Trương Nam Hương, người viết còn nhận ra ngoài cái tình quê man mát; nỗi nhớ đong đầy còn có
Trang 33nỗi niềm u ẩn của kẻ xa quê Đó là khi đối diện với quê nhà, tác giả mang theo tâm
trạng mặc cảm, có lỗi, thất hẹn trước quê Tâm trạng này trở đi trở lại không ít lần:
Th ất vận câu thơ
Lỗi hẹn với sông Hồng
(Với sông Hồng)
V ịn câu hát anh lần về cội gốc
Ch ợt thấy mình có lỗi với làng xưa
(Nhớ mẹ và làng quan họ)
Có gì để tặng quê đâu
Đời thơ bèo bọt dăm câu bọt bèo
(Câu thơ ngày về)
Cúi đầu trước mẹ bao dung
Nghìn l ần tạ lỗi cánh đồng làng quê
(Tạ lỗi cánh đồng)
Ta đâu biết có một ngày buồn thế
M ẹ chờ ta thiếp mãi với đêm rằm
(Khúc hát người xa xứ)
Quê vẫn đó, bao dung như đất Người phiêu bạt khắp trời, lâu lâu lại chạy về,
sà vào lòng đất mẹ và thủ thỉ nói lời tạ lỗi quê hương Tạ lỗi trước là để tự nhắc mình Trương Nam Hương luôn ý thức tha hương là có lỗi với quê, điều này đồng nghĩa với
việc anh có tâm thế sống sao cho đường hoàng trước quê và không cho phép mình quên đi nguồn cội Con người ta hay mang tâm trạng cảm thấy nhỏ bé, chưa đóng góp được gì khi đối diện quê nhà, nhưng qua những dằn vặt nội tâm mới thấy tình quê trong anh có độ sâu, rộng Chỉ điều này thôi cũng thấy cái nghĩa ân tình thủy chung
của Trương Nam Hương với quê nhà, dù có thành đạt trên con đường thơ hay dù đi
bất cứ nơi đâu Con diều no gió, cất cánh bay cao đến mấy thì vẫn gắn với đất mẹ yêu thương, dù chỉ bằng một sợi chỉ mong manh Thơ anh, lẽ đó mà lõi trầm đã kết trong cây!
Cái điều làm nên dấu ấn riêng trong thơ Trương Nam Hương là những bài thơ
mang đậm hồn vía những vùng đất quê hương trong nỗi nhớ Đi cùng với điều đó là
Trang 34một hồn thơ phong phú, dạt dào tình cảm quê hương Tình yêu quê hương đối với Trương Nam Hương là yêu thương một cách cụ thể những vùng đất thiêng liêng mà anh gắn bó trong cuộc đời: quê mẹ- Bắc Ninh, quê cha- xứ Huế và quê sinh- Hà Nội
Viết về quê hương, điều cốt yếu là phải hiện lên rõ nét cái hồn của vùng quê
đó Mỗi tác giả - một vùng quê, hình như thi sĩ nào cũng có mảnh đất gắn bó thân thiết của riêng mình để rồi nhớ thương và viết về nó Trong mạch nguồn cảm hứng hoài hương, Trương Nam Hương khi viết về quê mẹ Bắc Ninh thì hồn thơ như tìm được về với đất mẹ yêu thương, để rồi thăng hoa thành những vần thơ đẹp Kinh Bắc-
một vùng văn hóa lớn, xứ sở của ca dao dân ca, quan họ liền anh liền chị, vùng đất
của thơ – nơi đã nuôi dưỡng hồn thơ Trương Nam Hương, trở thành nguồn cảm hứng nhân văn, tạo ra bút lực dồi dào của nhà thơ Chính cái chất phù sa Kinh Bắc nơi đây
đã nhuộm thắm tâm hồn thi sĩ, ấn định bản sắc chính của một phong cách thơ “mang
ch ất Kinh Bắc quê mẹ”
Người tiêu biểu cho cái chất Kinh Bắc trong thơ lớp trước là Hoàng Cầm, về sau có Trần Ninh Hồ, Nguyễn Phan Hách … còn trong lớp nhà thơ hiện nay tiêu biểu
có Trương Nam Hương
Trương Nam Hương mở ra trong thơ của mình một vùng quê, một vùng thơ tràn ngập nỗi nhớ Bằng cách đưa vào trong câu thơ những chất liệu thẩm mĩ đặc trưng của vùng đất quê mẹ, nhà thơ khéo léo khơi dậy lớp trầm tích văn hóa theo dòng hoài niệm của mình:
Ch ợt ngồi nhớ lại câu em hát
Bèo d ạt mây trôi lại xót lòng
D ễ nhắc bây giờ anh khóc mất
Sông C ầu buông dải thắt lưng ong
(Câu hát ấy)
Trong thơ Hoàng Cầm, dòng sông Đuống nên thơ,nằm nghiêng nghiêng trong
kháng chi ến trường kì đã trở thành phần hồn của xứ Kinh Bắc Nào chỉ có thế
Trương Nam Hương bằng nguồn cảm xúc hiện đại, đã nhìn thấy một Kinh Bắc qua cái dáng duyên thì của liền chị vùng quan họ: Sông Cầu buông dải thắt lưng ong
Trang 35mượt mà trong câu hát Bèo dạt mây trôi với cái điệu Sông vờ xoay vạt tháng Giêng
nghiêng thẹn thùng!
Lòng người nhớ quê như dây đàn, dễ ngân lên những cung bậc nhớ thương
Những câu thơ của Trương Nam Hương còn có sức lay động bởi sự nối kết rung động
từ một trái tim phảng phất nét buồn thương trong trẻo Đó là những rung động trong sáng gắn liền với cảnh và người trên đất quê hương mà nhà thơ mang theo suốt hành trình như một mối duyên đẹp:
C ứ ẩn hiện dáng đời trong câu hát
lòng m ẹ ta nhân hậu vô vàn
v ẻ thanh thoát nét hào hoa của trúc
cũng nói lên cốt cách của làng
(Nhớ mẹ và làng quan họ)
Người đọc còn thấy Kinh Bắc – nơi khơi nguồn văn hóa quan họ - ẩn hiện, gợi
nhớ qua những trang thơ Trương Nam Hương Đâu đó trong câu thơ, hình bóng của
những liền anh khăn xếp, áo the dài sánh đôi cùng liền chị áo tứ thân nhiễu điều, đầu đội chiếc nón quai thao, khép nép bên hoa lý Họ tình tứ, hẹn nhau trong những câu hát đối đáp giao duyên, những câu hát thắm tình quê hương
Ng ồi nhớ sông Cầu mơ hội trẩy
Đến hẹn không về em trách đấy
(Lỗi hẹn sông Cầu)
Mưa Xuân giăng mắc miền Quan họ
Cánh nón quai thao l ấp lửng chờ
…
Chi ếc khăn hoa lý choàng duyên nợ
L ấm tấm tầm xuân dọc nỗi buồn
Trang 36Thánh Gióng…Để giờ đây, những giá trị đó bất biến trong hành trang, của hồi môn
vô cùng quý báu:
M ẹ cho của hồi môn là câu hát
để em rời quê kiểng có hành trang
(Nhớ mẹ và làng quan họ)
Hình ảnh quê hương trong tình yêu và nỗi nhớ của Trương Nam Hương luôn
ẩn hiện bóng dáng của người bà, người cha, người mẹ, người chị, người em … Đó là
những con người vùng quan họ sâu đậm nghĩa tình, thơm thảo ngọt lành dẫu sống trong nghèo khó luôn là hình ảnh đẹp trong thơ Trương Nam Hương:
Là bóng dáng bà ngồi nhai trầu vừa hát câu quan họ ru cháu:
Đâu dấu võng ngoại xưa thường vẫn mắc
Đứt hơi ra góa bụa những đêm buồn
(Bà với quê xa)
Người mẹ Kinh Bắc:
Nhưng mẹ vẫn một đời áo rách
c ố giữ lành câu quan họ thôi
…
Em nh ớ cho đời mẹ xưa nghèo
v ẫn thơm thảo mùi hương hoa thị
(Nhớ mẹ và làng quan họ)
Là cô em gái rời quê kiểng, trong hành trang mang theo không quên câu hát
Người ơi người ở đừng về; Là chính nhà thơ, trong nguồn cảm hứng hoài
hương, không lúc nào mà không Lắng lòng về Kinh Bắc hồi lâu; Xa quê nhưng
cội gốc không nhạt nhòa trong tâm tưởng, biết Vịn câu hát anh lần về cội gốc
Vì chính anh đã ý thức sâu sắc:
Câu quan họ mẹ và bà để lại
C ứ ngọt ngào thấm đắng suốt đời thôi
(Bà với quê xa)
Trang 37“Ch ất Kinh Bắc” không chỉ thấy rõ nét qua những bài thơ đã sử dụng chất liệu
đặc trưng của vùng quê mẹ, mà nó còn ngấm sâu vào tâm hồn Trương Nam Hương, như lời anh tự bạch:
Trong tôi có chút sâu đằm
C ủa Kinh Bắc với thâm trầm Cố Đô
Sông H ồng hắt đỏ lên thơ
Tôi buông l ục bát xanh bờ Hương Giang
(Tự Bạch)
Mỗi khi viết về quê mẹ, giọng thơ Trương Nam Hương có độ sâu đằm thắm,
chất chứa biết bao là ân tình Những câu thơ của anh như câu văn dài, miên man nuôi dưỡng nguồn cảm xúc bất tận Rồi từ đó chất Kinh Bắc, tình quê hương thấm trong câu chữ, giọng điệu, in dấu ấn khó phai mờ trong trang thơ Trương Nam Hương Anh còn có may mắn nữa là, vùng đất thâm trầm Cố Đô quê cha chẳng khác nào dòng
suối trong lành, thanh lọc tâm hồn mỗi khi từ chốn bề bộn quay về Nơi đây đã hòa cùng vùng đất quê mẹ định hình một phong cách thơ Trương Nam Hương trong nguồn cảm hứng hoài hương bất tận
Con người ta sinh ra, ai cũng có một gốc gác là quê cha của mình Cái sức sống
ân tình qua tên gọi quê cha đất tổ, cứ sống mãi trong tiềm thức, vừa ràng buộc vô hình mà lại hữu hình trong mỗi con người Từ miền đất quê hương ấy, ai cũng nhìn theo con mắt chủ quan của mình, đều thấy nó đẹp và thơ mộng hơn hẳn Vì đó là nơi
để ta nhớ, thương yêu và quay về Nhắc đến thơ Trương Nam Hương viết về xứ Huế- quê cha, là nhớ đến Lời thưa mà anh viết dâng cha Có lẽ, người đọc đã cảm cái tình
của người con trai mang phần tên của quê hương dành cho cha được đan lồng vào tình yêu xứ sở Chính cái tinh tế, độ sâu tác phẩm đã làm nên chỗ đứng trong lòng độc giả yêu thơ
Xứ Huế buồn Cái buồn lảng bảng trong từng cái tên, tên đất, tên đường, tên
người cũng buồn Nỗi buồn tựa như câu thơ của Hàn Mặc Tử: Dòng nước buồn thiu,
hoa b ắp lay Dòng Hương Giang lững lờ như chẳng buồn trôi, như còn nhiều lưu
luyến Người ở Huế thâm trầm, sâu kín Thơ Trương Nam Hương về Huế nhẹ nhàng
Trang 38nhưng khi đọc, lòng người chợt dợn sóng và dư âm của nó se sẽ ngân lên, động đậy
hồn quê trong lòng mỗi người
Với “Lời thưa”, không gian cội nguồn hiện lên qua bốn câu thơ:
Trong cha có một câu hò
Tron g câu hò có con đò sông Hương
Trong sông Hương có nỗi buồn
Trong thăm thẳm có vô thường thi ca
Bốn từ “trong” ở bốn câu thơ đã là minh chứng cho tình người, tình quê Nhà
thơ đem sẻ chia, gửi gắm những tâm tình vào con sông quê Dòng sông chất chứa như
đã ôm trọn bao thế hệ Huế Trước Huế, thơ anh như một lời khẳng định son trọn:
Tiếng thơ là từ cội nguồn, chất thơ là từ núi sông quê hương, tình thơ là từ cuộc đời Trong không gian cội nguồn mà Trương Nam Hương hướng về, thì người bà, người cha, người mẹ… đã hóa thành biểu tượng của thiên nhiên hiển nhiên như không khí, như hơi thở
Thơ anh hiền Tình anh lặng Người đọc thơ anh cảm cái tình cố hương, cái rêu phong của không gian, cái xuyên suốt của thời gian nên cứ hướng lòng người quay
về Trương Nam Hương luôn có cách bộc lộ nỗi nhớ của mình, không là thẳng thắn,
trực tiếp cũng không vòng vèo, quanh co Anh thể hiện tình quê bằng cách lấy sự vật
xếp tầng lên nhau để trùng điệp hóa nỗi nhớ quê một cách tự nhiên mà sâu lắng Người đọc khi chạm vào nỗi nhớ quê của anh là chùng lòng xuống, trái tim lắng động nhiều cảm xúc, vì gặp chính tâm tình của mình Anh tinh tế dành cho người đọc một khoảng tĩnh lặng nhất định trong mỗi khúc hát xa xứ… Và trong sự tĩnh lặng đó cùng
với giọng trần tình về quê hương nhẹ nhàng, lúc ấy khúc nhạc tình quê được cất lên
bằng tất cả sự đồng điệu Thơ anh cứ thế, dịu dàng thấm hồn người:
Soi vào đáy nước sâu xa
Thấy thời gian chạy vù qua mái đầu
H ỏi màu xanh sợi tóc đâu
M ới hay xa Huế từ lâu lắm rồi…
(Huế và em)
Trang 39Thơ viết về Huế không ít, cái tình thâm giao với Huế vô cùng Thế mà Trương Nam Hương vẫn giữ cho thơ mình một chỗ đứng trong lòng Huế Bởi trong nguồn xúc cảm thơ của anh, khi viết về Huế thì cái tình riêng ẩn sâu trong tình xứ sở Điều
đó tạo nên cái miền sâu thẳm mà nhà thơ luôn trân trọng, ấp ôm- đặc biệt trong cảnh
ngộ xa xứ Thật khó để tìm thấy sự thăng bằng trong cuộc sống, thế nhưng Trương Nam Hương đã tìm thấy được điều đó: cội nguồn là nơi bình yên, là nơi quay về thanh lọc tâm hồn
M ỗi lần nhớ Huế ngang thăm chị
S ẽ gặp Đông Ba mở giữa bàn
B ột lộc bánh bèo chè đậu ngự
Gi ọng cười như nắng rót Tam Giang
(Tôn Nữ…Sông Hương)
Trương Nam Hương từng tự bạch:
Lòng người chưa thắm đã phai
Câu thơ anh viết không ngoài nắng mưa
Không tin tr ời đất giao mùa
Anh cầm thương nhớ đi thưa tháng ngày
Trong hành trang xa xứ của anh có mang theo tình cảm gia đình, tình quê, cùng
những cái “không ngoài nắng mưa”- những chất chứa muôn sự đờithường Nhớ cha,
anh thầm cảm ơn cha, cám ơn Huế có sông Hương cùng núi Ngự, có nền văn hóa cố
đô đã nuôi dưỡng hồn thơ, để chất thi ca chảy mãi trong huyết quản Nói như người
bạn văn chương của anh: “Có thể một nhà thơ có nhiều phong cách khác nhau,
nhưng có những bài thơ đọc ra ta biết ngay đấy là Nguyễn Bính hay Xuân Diệu, Quang Dũng hay Hoàng Cầm, cũng như Trương Nam Hương qua câu thơ:
Con cùng tên v ới dòng Hương
Thơ con trắc ẩn cánh buồm cha ơi!” (Nguyễn Đăng Mừng)
Để rồi từ cái gốc cội nguồn quê cha mà anh:
Anh v ịn màu rêu Huế để yêu em
Anh v ịn lên mưa nắng những thăng trầm
Để:
Trang 40V ững như núi, Huế lại đằm như nước
Anh v ịn lên còn mất những ngày xưa
Để:
Để chống chếnh câu thơ buồn xa Huế
Đỡ côi cút tiếng mái chèo khuya lẻ
Cảm xúc thơ Trương Nam Hương mềm ngọt và ấm dịu với những dòng thơ
“t ừ Huế sinh ra”, “trắc ẩn cánh buồm” Nguồn mỹ cảm này, đã theo cùng người con
xứ Huế đi dọc suốt đường đời, đường thơ
Thường khi viết về Huế, thì thơ anh có cái tinh tường mà thẳm sâu rất Cố đô
Và cứ thế người mang tên của dòng Hương như rút ruột mình ra để trút cạn nhựa
sống vào thơ:
Anh v ịn lên còn mất những ngày xa
Nh ững uẩn khúc trong điệu hò mẹ hát
Nh ững đèo dốc trong đời cha bất trắc
M ắt Huế nhìn thăm thẳm tới ngày xưa
(Màu Huế)
Thả tình câu thơ theo dòng cảm hứng hoài hương, khi viết về quê sinh – Hà
Nội, anh nói: “… Tôi viết về Hà Nội bằng nỗi nhớ thương và cả nỗi khát khao mơ hồ
ấy như sự “truy lĩnh” những năm tháng hồn nhiên trong trẻo của đời mình, viết như
s ợ mọi điều sẽ phôi pha và biến mất…” Có lẽ vì thế mà trong mười tập thơ, anh đều
“gói” Hà Nội đi cùng hành trình thơ của mình Thăm thẳm trong nỗi nhớ quê, hòa điệu cùng khúc hát của người xa xứ Trương Nam Hương tặng lại cho cuộc đời hơn
100 bài thơ đặc sắc về Hà Nội
Nếu đã có nhà thơ Thái Thăng Long mãi đi tìm tinh hoa của một Hà Nội sâu
lắng, nồng nàn, cùng những day dứt, đau đáu với cách bộc bạch chân tình mà như rút
ruột ra:Ta mơ thấy em ở nơi kia xa lắm/Có một Hà Nội ngây ngất nắng/ Có một Hà
N ội run run heo may/ Có một Hà Nội hoa đào tươi hồng rạng rỡ/ Có một Hà Nội ngàn năm dấu ngựa/ Có một Hà Nội Bích Câu, Quốc Tử Giám / Thiêng liêng/ Có
m ột Hà Nội lặng lẽ chiều Tây Hồ sương khói/Có một Hà Nội lá sấu rắc vàng đường Điện Biên(Yêu Hà Nội)