1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

số phận tinh thần của con người trong tác phẩm của nam cao

102 682 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 880,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để vươn tới khát vọng được sống, đạt được ước nguyện, quyền làm người, con người trong tác phẩm Nam Cao không chỉ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của xã hội mà họ còn phải k

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LU ẬN VĂN HỌC

Mã s ố: 5 04.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ NGỌC TRÀ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2004

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn quí Thầy Cô trong hội đồng đã dành thời gian đọc kỹ và đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho bản luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư Phạm Tp HCM, Phòng Khoa học Công nghệ sau Đại Học, quí Thầy Cô Khoa Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy và

tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt đẹp chương trình cao học và luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bến Tre, gia đình và bạn bè

gần xa đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi an tâm học tập và nghiên

cứu

Tất cả những tình cảm và sự giúp đỡ hôm nay của quí Thầy Cô, bạn bè là động lực để tôi bước tiếp con đường nghiên cứu khoa học

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

So với các loại hình nghệ thuật khác, văn học nghệ thuật với đặc thù riêng của mình, quan tâm và thể hiện con người ở nhiều góc độ hơn, đụng chạm đến cuộc sống nhiều hơn

Nó là hoạt động đa dạng, đa chiều, nhiều màu sắc, nhiều tầng lớp, bao quát lẫn vĩ mô và vi

mô, cả sự tỉnh táo và mê si Văn học là nhân học hay văn học là câu chuyện về cuộc đời, về cõi nhân sinh là vậy

Văn học tìm tòi, khám phá những bí ẩn, những băn khoăn về cuộc đời, về con người

để cho con người nghiền ngẫm Muôn đời, con người và đời người vẫn là vấn đề văn học

quan tâm hàng đầu “Lịch sử văn học chính là lịch sử tâm hồn nhân loại nhiệm vụ chủ

y ếu và lâu dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả một số phận con người, khắc họa các tính cách con người.” [64, 45]

Tuy nhiên, tương ứng với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn văn học khác nhau vấn đề con người được đặt ra trong văn học cũng khác nhau Nó tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội

cụ thể Chẳng hạn như văn học Trung đại Việt Nam thường nghiêng về quan tâm vấn đề con người xã hội, con người cộng đồng Còn văn học hiện đại Việt Nam lại có sự chuyển hướng sâu sắc, phần nào đã quan tâm đến con người cá nhân

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 đã miêu tả sâu sắc đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người cá nhân, con người cụ thể Một số nhà văn đã đi sâu vào khám phá thế giới nội tâm bí ẩn của con người Cũng mổ xẻ đời sống nội tâm con người như các nhà văn cùng thời nhưng Nam Cao phản ánh một hiện tượng khác - ông đặc biệt băn khoăn

về số phận tinh thần của con người

Nam Cao là một nhà văn lớn của dân tộc Đó không phải chỉ là sự thừa nhận của giới nghiên cứu phê bình mà chính là do những trang viết của ông về số phận tinh thần của con người đã ám ảnh người đọc đông đảo qua hơn nửa thế kỷ

Mặc dù thời gian sáng tác không dài và số lượng tác phẩm không nhiều, không đồ sộ nhưng những sáng tác của Nam Cao là một hiện tượng văn học đặc biệt, thu hút sự chú ý

của giới nghiên cứu văn học Các nhà nghiên cứu đã khai thác, soi rọi các sáng tác của Nam Cao ở nhiều phương diện khác nhau, nhiều góc độ khác nhau và phát hiện ra ở những trang

viết của ông những giá trị có ý nghĩa sâu sắc Tuy nhiên chưa có một chuyên luận nào thật

Trang 6

sự đi sâu khẳng định sự quan tâm đặc biệt về con người trong tác phẩm của Nam Cao: Số

phận tinh thần của con người

2 Giới hạn của đề tài

2.1 Tài li ệu khảo sát

So với đời người, sự nghiệp văn chương của Nam Cao rất ngắn và lại có những sáng tác bị thất lạc Văn nghiệp Nam Cao để lại cho đời gói gọn trong trên dưới 1700 trang sách (Nam Cao toàn tập do Hà Minh Đức sưu tầm và giới thiệu, Nxb Văn học, 2002) Ngoài việc xem đối tượng nghiên cứu chính là những sáng tác của Nam Cao, chúng tôi đã tiếp cận, tiếp thu có chọn lọc những ý kiến, những nhận định, đánh giá quan trọng, có liên quan từ các thành tựu nghiên cứu, phê bình của các công trình đi trước

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Với tên đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Số phận tinh thần của con người trong tác phẩm của Nam Cao Luận văn này nhằm khẳng định thêm những đóng góp quý báu của Nam Cao cho quá trình đổi mới văn học nói riêng, cho nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung

3 Lịch sử vấn đề

Nam Cao xuất hiện trên văn đàn muộn Khi ông bước vào làng văn, các trào lưu văn

học đã định hình và phát triển, những cây bút tên tuổi đã được khẳng định, có chỗ đứng

vững vàng Thoạt đầu, tài năng Nam Cao chưa được các nhà chuyên môn quan tâm Nhưng đến thập niên 60 của thế kỷ XX trở đi, hầu hết các nhà nghiên cứu lớn đều đi vào khám phá

thế giới tác phẩm của ông Và họ đã phát hiện ra ở đó những giá trị sâu sắc và biết bao điều

bất ngờ, đầy thú vị Sáng tác của Nam Cao có dung lượng không lớn, không đồ sộ nhưng nó

có một sức chứa, sức khái quát rất rộng Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét rất chính xác và tinh tế : “ Ở Nam Cao có hiện tượng đề tài hẹp mà tư tưởng rộng, chủ đề lớn.” [36, 205]

Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi chỉ trình bày những ý kiến nổi

bật của các công trình nghiên cứu, phê bình quan trọng có liên quan đến vấn đề : Số phận

3.1 Những ý kiến liên quan đến vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác

phẩm của Nam Cao

Trang 7

Th ử sống trong văn Nam Cao là một bài viết ngắn nhưng Nguyễn Lương Ngọc đã

đặt vấn đề trực tiếp về quan niệm con người trong tác phẩm của Nam Cao Tác giả cho rằng:

“M ối quan tâm tiêu biểu của anh là làm sao cho con người được gần người hơn Theo tôi

có hai m ặt:

- M ỗi con người vượt thắng phần con trong mình để đạt được tính người hài hoa trong con người

- M ỗi con người gần hơn với những người khác bằng sự cảm thông chia sẻ Ở mặt

th ứ nhất, Nam Cao chọn con đường cực kỳ khó khăn, luôn dừng giữa tính nhân đạo và sự

nh ục mạ con người, phơi lên mặt giấy sự chao đảo tính người và tính vật.” [47, 251]

Nguyễn Lương Ngọc phát hiện ra nỗi ám ảnh trong những trang viết của Nam Cao là

cuộc đấu tranh gay gắt giữa phần con và phần người trong một con người, con người phải

sống làm sao cho xứng đáng là CON NGƯỜI Và để cho con người không rơi vào trạng thái

cô đơn, tuyệt vọng thì giữa con người với con người phải có mối giao cảm để cảm thông và chia sẻ cùng nhau Cũng như đa số các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Lương Ngọc cũng

nhấn mạnh Nam Cao không dừng lại ở việc miêu tả cái đói: “Anh viết nhiều về cái đói,

nhưng cái đói của anh là đói người, trong sự giành giật của con.” [47, 253] Tư tưởng sáng

tác của Nam Cao ẩn đằng sau nỗi đói cơm rách áo được tác giả tóm gọn trong hai chữ "đói người"

Trần Đình Sử cũng có nhiều bài viết xoay quanh tác phẩm của Nam Cao Ông lật đi lật

lại, cày xới những trang viết của Nam Cao ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau Tuy không đề cập đến số phận tinh thần của con người nhưng ông lại chỉ ra sự đớn đau, dằn vặt

của lương tâm trước bi kịch tha hóa của cuộc đời Bi kịch ấy không buông tha bất cứ một ai,

một loại người nào: “Bi kịch của Hộ là bi kịch không lối thoát, như bi kịch của Chí Phèo,

Lão H ạc, là bi kịch chết mòn - chết mòn những ước mơ lớn, chết mòn những tình cảm đẹp,

nh ững cử chỉ đẹp.” [59, 284] Trước thực trạng khắc nghiệt của cuộc sống, con người đối

thoại với chính mình bằng độc thoại để thấm thía thân phận của mình, để nhận ra cái xấu xa,

đê hèn của mình mà tự thấy hổ thẹn, ray rứt Họ cố gắng níu giữ lại những gì tốt đẹp, cố bám víu vào một cái gì đó để không đánh mất tất cả nhân cách, nhân tính của con người Trong chuyên luận Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế

kỷ XX, Trần Đình Sử đã khẳng định: “ .ý thức cá nhân làm cho chủ nghĩa hiện thực của

Trang 8

Nam Cao đạt tới chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.” [58, 9] Nghĩa là tác giả cho rằng "ý thức cá

nhân" có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm của Nam Cao

Hoàng Ngọc Hiến khi bàn về chủ nghĩa nhân văn của Nam Cao cũng có viết: : “

C ảm hứng nhân văn này được bộc lộ trong những day dứt của Thứ về cách sống và lẽ sống làm người.” [19, 36] Tác giả cho rằng cảm hứng nhân văn là một trong những yếu tố tạo

nên chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Nam Cao

Trong lời giới thiệu Nam Cao toàn tập, Hà Minh Đức đã nhận xét hết sức sâu sắc: “Có

l ẽ chưa có ngòi bút nào lại biết khơi dậy và miêu tả đến đáy sự đau khổ của những kiếp người đang mất dần nhân tính và luôn khát khao được sống, được quyền làm người .” [1,

12, 13] Nam Cao đã gửi gắm vào tác phẩm của mình nỗi khát khao được sống, được quyền làm người của những con người bất hạnh, sống khắc khoải, lay lắt ở ngoài ngưỡng cửa của

thế giới con người Và Hà Minh Đức cũng nhận thấy rằng quyền sống của con người được Nam Cao đặt ra không chỉ dừng lại ở những nhu cầu, đòi hỏi vật chất mà cái cốt yếu là đời

sống tinh thần bên trong của con người Con người phải được sống đúng nghĩa với ý nghĩa cao quý của CON NGƯỜI: “Cũng trên vấn đề quyền sống của con người Nam Cao đẩy sâu

hơn vào phạm vi đời sống tinh thần, ” [1,13] Để vươn tới khát vọng được sống, đạt được

ước nguyện, quyền làm người, con người trong tác phẩm Nam Cao không chỉ phải đối mặt

với những khó khăn, thách thức của xã hội mà họ còn phải không ngừng đấu tranh, đối diện

với chính mình để vượt qua những cái thú tính, cái bản năng luôn luôn lấn át nhân cách,

nhân tính con người một cách rất khó khăn đến đau đớn, xót xa “Ý thức tự phê phán của

nhân v ật thực chất là sự phê phán hoàn cảnh Quá trình này diễn ra không quyết liệt bằng hành động, không nhằm thẳng vào những nhân vật phản diện mà hướng vào bên trong và

cu ộc đấu tranh với bản thân diễn ra da diết, xót xa đến đau đớn.” [16, 49] Nỗi đau của

cuộc sống con người được Nam Cao phơi bày ra trên trang giấy dường như với một thái độ

rất lạnh lùng: “Có khi ngòi bút của Nam Cao như một con dao trích lạnh lùng lách sâu vào

cơ thể bệnh tật của xã hội, phơi bày ra không tiếc thương trên trang giấy những ung nhọt

t ấy đau đang hủy hoại hoặc thầm lặng, hoặc gấp rút cuộc sống con người.” [39, 32]

Nhưng thật ra nhà văn vô cùng băn khoăn, trăn trở và cảm thông với thân phận con người trong cuộc chiến không cân sức ấy Trong cuộc giằng co, giành giật phần NGƯỜI ác liệt này, con người đã thất bại thê thảm Con người cứ chết mòn dần, bị hủy hoại một cách gấp rút, ào ạt hoặc thầm lặng

Trang 9

Như vậy, Hà Minh Đức đã đề cập đến khát vọng sống, quyền làm người của con người

- trong đó có đời sống tinh thần bên trong của con người trong sáng tác của Nam Cao

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh khẳng định Nam Cao là một nhà văn giàu lòng

nhân đạo của nền văn học hiện đại Việt Nam: “Với quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình,

có th ể nói trong văn học ta đầu thế kỷ XX, hơn bất kỳ một nhà văn nào khác, Nam Cao đã đặt ra trực diện vấn đề kiếp người, vấn đề thân phận con người, vấn đề con người bị tha hoá, không được sống như bản tính của mình, theo những nhu cầu lành mạnh của mình.”

[39, 170] Đó là khát vọng được làm người của con người luôn luôn cháy bỏng, khát vọng

được sống lương thiện xứng đáng với tư cách là một con người Trong chuyên luận Nam

Nam Cao, đặc biệt ông cảm nhận sâu sắc nỗi đau của nhà văn trước số phận bất hạnh, đầy

nhọc nhằn của con người: “Tư tưởng bao trùm và sâu sắc nhất của ông là tư tưởng nhân

đạo, là tình yêu thương và nỗi đau đối với con người, là sự tinh nhạy đặc biệt trước thực

tr ạng con người sống không ra con người, bị mất nhân phẩm, nhân cách và nhân tính.” [16,

30] Cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Văn Hạnh cũng chỉ ra nguyên nhân sâu

xa của sự tha hóa của con người là nỗi ám ảnh của cái đói và hơn thế nữa là thái độ của con

người trước cái đói trong tác phẩm Nam Cao: “Chưa có nhà văn nào ở nước ta nói đến cái

đói thống thiết như Nam Cao Đúng ra không phải là cái đói mà là cái đau, nỗi tủi nhục của con người vì miếng ăn.” [16, 26]

Không trực tiếp đi sâu vào số phận tinh thần con người nhưng khi khẳng định chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác của Nam Cao Nguyễn Văn Hạnh đã nói đến số phận con người, kiếp người

Với cái nhìn sâu sắc và nhạy bén của một “con mắt tinh đời”, Nguyễn Đăng Mạnh đánh giá Nam Cao là một trong những nhà văn lớn và đặc sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông đã dành tâm huyết viết khá nhiều về Nam Cao, từ tổng tập văn học Việt Nam đến

lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và những chuyên luận riêng về Nam Cao Qua một thời gian dài nghiên cứu, nghiền ngẫm tác phẩm Nam Cao, Nguyễn Đăng Mạnh phát hiện:

“Nam Cao có m ột quan niệm rất cao về con người” [35, 271] Ông thấy được Nam Cao

không chỉ dừng lại ở miêu tả cái đói mà còn nói đến miếng ăn, “nói về cái nhục hơn là cái

kh ổ” [35, 284] Nhà nghiên cứu so sánh tác phẩm của Nam Cao với tác phẩm của Ngô Tất

Tố làm bật lên nỗi băn khoăn, ray rứt của Nam Cao trước sự chông chênh, lay lắt của nhân

cách con người : “ .Nhưng nếu tác phẩm của Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì tác

Trang 10

ph ẩm của Nam Cao là tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm và nhân tính của con người đang bị cái đói và miếng ăn làm cho tiêu mòn đi, thui chột đi, hủy diệt đi.” [35, 283] Đó là

số phận chung của con người trong cuộc sinh tồn Còn riêng người trí thức cũng chẳng hơn

gì, họ cũng đang chơi vơi, không nơi bám víu được thể hiện sâu sắc trong các tác phẩm viết

về người trí thức, đặc biệt là Sống mòn: “Vâng, Sống mòn cũng là một tiếng kêu cấp cứu:

hãy c ứu lấy những nhân cách đang bị hủy diệt, những linh hồn đang héo hắt chết mòn chết

m ỏi vì miếng cơm, manh áo.” [35, 285] và “ .nghĩa là đang đi dần đến cái chết thê thảm

v ề tinh thần - Nam Cao gọi là "chết khi đang sống”.” [36, 228] Lương tâm anh trí thức

luôn luôn ray rứt, tự vấn về số phận của mình : “Anh ta luôn băn khoăn về chân lý ở đời:

th ế nào là sống, thế nào là chết, thế nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là công lý thế nào là công b ằng xã hội, thế nào là tình yêu chân chính, thế nào là hạnh phúc .” [36, 225] Song

cuối cùng những anh trí thức cũng rơi vào con đường cùng bế tắc, không lối thoát, tuyệt

vọng đến chết mòn

Mặc dù không chủ tâm tìm hiểu số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao nhưng Nguyễn Đăng Mạnh đã chạm đến quy luật nội tại của số phận tinh thần của con

người - đó là “những linh hồn đang héo hắt, chết mòn chết mỏi.”

Phong Lê dành rất nhiều tâm sức nghiên cứu Nam Cao Theo ông, nếu nền văn học

hiện đại Việt Nam mà không có Nam Cao thì sẽ là một khiếm khuyết lớn Nhiều công trình

lớn về Nam Cao của ông đã khẳng định điều đó Tác giả nhấn mạnh cuộc sống trong trang

văn Nam Cao đầy những thăng trầm, biến động: “Đó là cuộc sống gần như bất động mà

đầy những biến động.” [30, 458] Cuộc sống trong tác phẩm của Nam Cao không phải là sự

sao chụp hiện thực cuộc sống một cách giản đơn mà đó là cuộc sống đa thanh, nhiều chiều, muôn màu, muôn vẻ đầy sinh động: “Đọc Nam Cao ta có dịp phanh phui, soi đi lật lại đến

t ận đáy sâu sự thật, và qua đó chiêm nghiệm sự đa dạng, đa thanh của cuộc đời.” [31, 502]

Cuộc sống ấy được thể hiện cụ thể, rõ nét : “ .trong số phận những anh viết văn, những

ông giáo kh ổ, những cặp vợ chồng nghèo, những bạn láng giềng, cùng những người thân kẻ

sơ không ngớt vật lộn với cái sự sống mòn và chết mòn muôn thuở trong cảnh sống tinh

th ần và vật chất của con người.” [31,528]

Trong chuyên luận Nam Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực,

Phong Lê một lần nữa khẳng định sự hủy diệt ghê gớm của cái đói: “Mặc cho sự giằng níu,

s ự trì kéo, sự cầm cự, sự chống trả, cái đói cứ lôi tuột con người vào cửa tử của nó, không

c ần phân bua, đôi hồi, mặc cả.” [31, 475] Đứng trước cái đói, cả người trí thức và người

Trang 11

nông dân đều dễ dàng sa vào sự sa đọa về nhân cách Có những cái chết âm thầm để chống

chọi cái đói nhưng thường thì họ sống với những tính toán chi li, ti tiện, hay ganh tị, nghĩ

xấu về nhau hoặc với những suy luận thiếu lôgic để biện minh cho lối sống của mình

Có thể nói, Phong Lê đã cảm nhận sâu sắc được nhịp sống trong tác phẩm Nam Cao

Đó là cuộc sống đa thanh, nhiều chiều với những cảnh sống chật vật về vật chất, thiếu thốn

về tinh thần Con người yếu ớt chống chọi với những nghiệt ngã của cuộc đời: “Cả cuộc đời

c ứ hiu hiu, lặng lặng như thế mà lụi đi, không sao cưỡng lại được, vì nhân vật không muốn cưỡng, không dám cưỡng.” [31, 503]

Nguyễn Hoành Khung đi vào khám phá quan niệm con người và chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác Nam Cao Ông chỉ ra nỗi đau tinh thần của con người không được quyền làm

người: “Trong cơn say, hắn cảm thấy tuy mơ hồ mà thấm thía “nông nỗi” khốn khổ của

thân ph ận mà còn thấy tình trạng bi đát của số phận.” [3, 174]

Đi vào tìm hiểu tác phẩm Đời thừa của Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung rất tâm đắc

với những khám phá về bi kịch tinh thần của người trí thức của Nam Cao: “Trong khi dựng

l ại chân thực tình cảnh nhếch nhác của người trí thức nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào t ấn bi kịch tinh thần của họ, qua đó đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã h ội và triết học sâu sắc.” [47, 475] Tấn bi kịch tinh thần đó không phải của

một cá nhân riêng lẻ nào mà nó gặm nhấm tâm hồn của cả một thế hệ: “Đó là tất cả tấn bi

k ịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó.” [47, 461] Và

Nguyễn Hoành Khung nhấn mạnh: “Câu chuyện đời thường xoàng xĩnh thế thôi, nhưng bao

v ấn đề hệ trọng trong đời sống tinh thần thời đại đã được đặt ra một cách ám ảnh: cá nhân

và xã h ội, lý tưởng và hiện thực, nghệ thuật và tình thương, nhân cách và hoàn cảnh ”

[47, 475]

Từ những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm của Nam Cao, tác giả khẳng định văn

chương Nam Cao “chứa đựng một tư tưởng nhân đạo thật mới mẻ, độc đáo, đem lại tác

ph ẩm một tầm vóc bất ngờ.” [3, 177]

Trong Hai không gian trong S ống mòn của Nam Cao, Đỗ Đức Hiểu nhấn mạnh

“S ống mòn là một tiểu thuyết kiếm tìm, Thứ tìm kiếm bản thân mình, tra vấn, lùng sục tâm

h ồn mình, khảo tra, mổ xẻ con người mình; Thứ đi đến tận cùng của sự thật về một con người; Sống mòn là sân khấu của những xung đột bên trong một con người; một thế giới ẩn sâu; nó gây nh ức nhối, xao động, gây bão táp .” [39, 486] Sức sống của Sống mòn là ở

Trang 12

chỗ Nam Cao có cái nhìn thấu suốt vào con người, “Hai mươi chương của truyện kết thành

l ịch sử của một tâm tư khắc khoải, giãy giụa, không có lối ra.” [39, 487]

Từ góc độ thi pháp không gian nghệ thuật, Đỗ Đức Hiểu cho rằng có hai không gian

tồn tại trong Sống mòn là không gian hiện thực và không gian tâm tưởng - đời sống tinh

thần của nhân vật Bên cạnh những vụn vặt của đời thường hàng ngày là những lớp sóng bên trong của đời sống nội tâm nhân vật: “Thứ phơi bày ra ánh sáng nhiều khía cạnh phức

t ạp đời sống bên trong của con người mình: ý nghĩa cuộc sống, tình trạng tâm hồn hiện nay, tình yêu v ợ và ghen, tình yêu ước vọng, xử thế với bạn, với mọi người xung quanh, cả chiến tranh đang đe dọa tiêu diệt loài người.” [39, 490] Thứ lật đi lật lại chính mình “ .Như

v ậy, Thứ được soi rọi từ nhiều điểm nhìn: Thứ đối thoại với số phận, với bản thân, với xã

h ội để nhận thức bản thân mình.” [39, 492]

Bằng cách đi vào tìm hiểu thi pháp không gian nghệ thuật, Đỗ Đức Hiểu chỉ ra những

biến động, đổi thay bên trong của thế giới tinh thần con người được Nam Cao miêu tả trong

kiệt tác Sống mòn

Nhà văn Nguyễn Minh Châu cảm nhận được vẻ lạnh lùng, thờ ơ của ngòi bút Nam

Cao, nhưng chính bút pháp đó lại có sức ngân vang, xót xa lòng người đọc: “Nam Cao có

bi ệt tài trước những biểu hiện tâm lý mang tính nhân cách, ông diễn tả nó dưới cái vẻ dửng dưng hơi khôi hài làm trào nước mắt.” [39, 136] Thật vậy, theo nhà văn, cả một đời cầm

bút Nam Cao luôn luôn kiếm tìm, săn đuổi nhân cách con người một cách ráo riết, nên văn

của ông có sức ám ảnh ghê gớm, nó là tấm gương để người đọc soi rọi lại tâm hồn mình:

“ Văn chương Nam Cao làm người ta “ mệt” vì thế, vì những dòng văn xuôi của ông như

m ột sợi dây thừng cứ bện chặt lấy chúng ta không cho phép một ai trong chúng ta rời khỏi chính mình, quay lưng lại với phần lương tâm, nhân cách của chính mình hoặc tự nhìn mình

b ằng con mắt bông phèng hoặc nửa vời để có thể sống vô trách nhiệm, buông thả.” [39,

136]

Trong Đi tìm ẩn số nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo, Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra: “Bi

k ịch của sự tự ý thức được cái bế tắc của thân phận xã hội, của một kẻ bị ra ngoài hệ thống giá tr ị.” [47, 419] Đó chính là nỗi ám ảnh khôn cùng đối với một con người không được xã

hội Người thừa nhận

Ở miền Nam, trước 1975, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung cũng rất quan tâm đến

những sáng tác của Nam Cao Ông cho rằng bi kịch của thân phận Chí Phèo chính là bi kịch

Trang 13

bị từ chối quyền làm người của con người: “Hắn ở ngoài mọi lề luật tập quán của xã hội

đồng thời cũng ở ngoài mọi tình tự nhân loại.” [39, 334] Song tận trong sâu thẳm tâm hồn

hắn vẫn còn le lói một chút ánh sáng nhân bản mong manh, vẫn cháy bỏng một ước mơ cao

đẹp: “Hắn mong ước được làm người; được vào địa hạt những tương giao nhân loại.” [39,

339]

Khi bàn về Khả năng tái sinh của Chí Phèo, Đặng Anh Đào cho rằng: “ Điều

quan tr ọng hơn là trong Chí Phèo (được nhân lên bằng hình tượng Thị Nở), Nam Cao đã thâu tóm m ọi khát vọng nóng bỏng của thời đại, còn kéo dài tới ngày nay: đó là khát vọng hoàn lương, khát vọng đổi đời.” [47, 383]

Để đánh giá Những đóng góp của Nam Cao trong cuộc canh tân văn học đầu thế kỷ

mới, vượt qua những hiện tượng bề mặt xã hội, xoáy sâu vào thế giới nội tâm con người Ông đã chỉ ra chỗ gần gũi giữa Thạch Lam và Nam Cao không phải là cùng viết về những

người nghèo khổ, mà là đã đi vào đời sống tâm linh của con người: “Chỗ Nam Cao gần

Th ạch Lam không phải ở chỗ nhà văn này có lúc cũng miêu tả các tầng lớp nghèo khổ, mà

ch ủ yếu ở chỗ Nam Cao - không phải ở toàn bộ nhưng là ở phần lớn tác phẩm - cũng chú ý đến phương diện đời sống tâm linh con người như Thạch Lam.” [47, 126] Điều này sẽ bắt

gặp không nhiều ở các nhà văn lúc bấy giờ ngay cả các cây bút Tự lực văn đoàn đã đi vào phân tích thế giới nội tâm của con người nhưng không phải nhà văn nào cũng chạm đến đời

sống tâm linh con người

Trần Đăng Suyền quan tâm về Thi pháp không gian nghệ thuật và thời gian nghệ

ngòi bút Nam Cao Tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Nam Cao, Trần Đăng Suyền khẳng định: “Nam Cao đã sáng tạo ra trong tác phẩm của ông một kiểu thời gian

hi ện thực hàng ngày lẩn quẩn với biết bao những lo âu về sinh kế và kiệt quệ, mòn mỏi về tinh th ần, góp phần tạo nên hình ảnh một cuộc sống mòn bế tắc, ngột ngạt khá điển hình đối

v ới tất cả sáng tác trước cách mạng của ông.” [61, 223] Trong hệ thống kiểu thời gian

nghệ thuật, theo tác giả, Nam Cao đã chọn kiểu thời gian hiện thực để khám phá đời sống bên trong của con người: “Biết dừng lại ở thời điểm hiện tại của các sự kiện, khám phá tính

ch ất phong phú, đa dạng của nó, điều đó gắn liền với sở trường bút pháp Nam Cao - khám phá th ế giới bên trong, thế giới tâm hồn của nhân vật .” [61, 223] Và không gian nghệ

thuật trong tác phẩm Nam Cao cũng góp phần phản ánh hiện thực của đời sống tinh thần

Trang 14

con người : “ .Còn trong sáng tác của Nam Cao, không gian thường khơi gợi những dằn

v ặt khổ đau, những giày vò, ân hận, bế tắc của con người.” [61, 239]

Mặt khác, trong Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc - nhà nhân đạo chủ nghĩa

th ật sự động chạm đến vấn đề có tính chất nhân bản, đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc

s ống, về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội, về tương lai của dân tộc và nhân

lo ại.”[ 61, 246] Mặc dù cũng viết về hiện thực như các nhà văn cùng thời, nhưng ngòi bút

Nam Cao lại mang tính hướng nội: “Ông đã hướng ngòi bút của mình vào việc khám phá

con người trong con người, miêu tả và phân tích mọi chiều sâu, mọi chuyển biển trong thế

gi ới tâm hồn của nhân vật.” [61, 247] Trần Đăng Suyền đã chỉ ra sự quan tâm đặc biệt đến

đời sống tinh thần của Nam Cao trong sáng tác: “Trước cách mạng không có nhà văn nào

có cách nhìn sâu s ắc, có tầm triết lý, tổng hợp, khái quát cao về tình trạng chết mòn của con người như nhà văn lớn Nam Cao.” [61, 254] Hình ảnh con người chết mòn không phải

hiếm, nó nhan nhản đó đây trong trang sách Nam Cao: “Không chỉ Thứ, cuộc đời nhiều

nhân v ật khác trong tác phẩm Nam Cao cứ trôi đi theo cái kiếp sống mòn vật vờ ấy.” [61,

238] Ngoài ra, theo ông, Nam Cao là một nhà hiện thực xuất sắc vì: “cái gốc nền tảng của

ch ủ nghĩa hiện thực Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo.” [61, 238]

Trong Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Hà Văn Đức quan tâm cả đề tài nông dân lẫn

đề tài trí thức trong những sáng tác của Nam Cao Nhưng tác giả đặc biệt chú ý đến những

biến động trong đời sống tinh thần của người trí thức mà Nam Cao đặt ra: “Tiếp xúc với

nh ững thực tế khắc nghiệt, trải qua những cuộc vật lộn kiếm sống, con người trí thức tiểu tư

s ản bị quăng quật nhừ tử cả thể xác lẫn tâm hồn.” [48, 483] Quan sát và suy ngẫm về nhịp

sống của người trí thức trong những sáng tác của Nam Cao, Hà Văn Đức gặp gỡ với Phong

Lê ở chỗ cùng phát hiện ra cuộc sống trong văn Nam Cao có vẻ bất động nhưng đầy biến

động: “Ở đó, dưới cái vẻ bề ngoài bất động gần như là dẫm chân tại chỗ nhân vật của Nam

Cao s ống, hành động, dằn vặt lo âu, quằn quại trong bế tắc và tuyệt vọng.” [48, 484]

Ngoài ra, còn có khá nhiều người quan tâm đến sáng tác của Nam Cao, dù không trực

tiếp đi vào vấn đề số phận tinh thần con người nhưng trong bài viết của họ đôi khi cũng thoáng qua hay đề cập ít nhiều đến những trang viết chứa đầy những băn khoăn, trăn trở của đời sống tinh thần con người của Nam Cao Chẳng hạn như: Chu Văn Sơn nói về nỗi đau

đớn, vật vã của Chí Phèo: “Bởi tỉnh ra, Chí mới nhìn thẳng vào thân phận mình mà nhận ra

t ất cả sự thê thảm của nó.” [3, 200] Hay khi bàn về “cái tứ” trong Lão Hạc và Chí Phèo

Trang 15

tuy không đề cập trực tiếp đến số phận tinh thần con người nhưng Phạm Văn Phúc viết:

“Nam Cao không ch ỉ mô tả, tái hiện mà nghiền ngẫm về cuộc sống, con người .” [3, 297]

Tác giả chỉ ra những bất ngờ chồng chất bất ngờ của ông giáo trước Lão Hạc (Lão Hạc) tạo

nên sức hấp dẫn nhưng cũng chính ở đó Nam Cao đã khắc họa nhiều chỗ xoáy, khúc ngoặt

của đời người: “Diễn biến câu chuyện càng gây cấn, hấp dẫn, nhân vật càng gấp khúc

nhi ều tầng phong giữ, vì vậy càng "nhàu nát" khổ đau và sắc nét.” [3, 297] Còn Chí Phèo,

ai cũng đinh ninh hắn sẽ chết giữa vũng lầy tha hóa “Nhưng không! Bản chất lương thiện

và khát khao hướng thiện, dẫu bơ vơ (“bơ vơ nước quỷ non ma”- Đồ Chiểu) vẫn vật vờ đâu

đó trong anh, khắc khoải gầm lên đòi sống.” [39, 379]

Ở một bình diện khác, Văn Giá cho rằng khi miêu tả Thị Nở, Nam Cao không sa vào

chủ nghĩa tự nhiên mà chính qua nhân vật này, Nam Cao đã gửi gắm, bộc lộ rõ lòng thương

người tha thiết: “Chủ nghĩa nhân đạo Nam Cao quả là to lớn và thật khác người.” [12, 90]

Mặt khác, Nam Cao không né tránh những mảng tối của kiếp người: “Nam Cao là người

không ng ại, và nhiều khi tỏ ra đầy nhiệt hứng sục sạo vào những chỗ lồi lõm, nham nhở của cõi người.” [12, 91]

Đi vào thực tiễn sáng tác, Phạm Xuân Nguyên đề cập đến chủ nghĩa hiện thực mới trong sáng tác của Nam Cao Nhân vật người nông dân cũng như người trí thức luôn đứng trong tư thế chông chênh giữa lằn ranh tốt - xấu, thiện - ác đi theo quy luật và chịu sự tác

động của hoàn cảnh : “Nhân vật luôn đứng giữa giáp ranh giữa thiện - ác, hiền - dữ, luôn

luôn ở thế giằng co, chống chọi giữa cái bên trong mình và cái nghịch cảnh ở bên ngoài; luôn luôn ở trạng thái hối hận, nuối tiếc và cô đơn.” [47, 148] Riêng về nhân vật trí thức,

loại nhân vật thích hợp nhất cho ngòi bút Nam Cao thể hiện tính hướng nội: “Cái chất văn

Nam Cao đọng lại ở những trang viết về người trí thức chính là sự day dứt, trăn trở bên trong mà ông đã diễn tả, đã làm toát lên được.” [47, 148]

Đinh Trí Dũng quan niệm Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo

Nam Cao mới đặt ra vấn đề tự ý thức “Các nhân vật tiểu tư sản trong truyện ngắn Thạch

Lam, Nguyên H ồng, Bùi Hiển .cũng có những phút giây suy tư dằn vặt đầy cảm động, nhưng chưa có ai đưa được vấn đề tự ý thức của nhân vật lên đến mức sâu sắc, thường trực,

nh ất quán như ở ngòi bút Nam Cao.” [47, 151]

3.2 Nhận định chung

Trang 16

Sáng tác của Nam Cao là một mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ thu hút được sự chú ý của

rất nhiều nhà nghiên cứu Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều tâm sức để khai phá, phát hiện ra cái hay, cái đẹp và cái độc đáo trong tác phẩm Nam Cao Nhìn chung

ý kiến của các nhà nghiên cứu trên xoay quanh một số vấn đề:

- Chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, đặc biệt là hiện thực bên trong của đời sống tinh thần con người trong tác phẩm Nam Cao

- Quan niệm về con người của Nam Cao

- Bi kịch tinh thần không lối thoát của con người, họ phải luôn luôn đấu tranh với chính bản thân mình

- Những sáng tác của Nam Cao đạt tới chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc

Những nhận định trên ít nhiều có liên quan đến vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao Tuy nhiên chưa có nhà nghiên cứu nào trực tiếp và đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này mà chỉ nhắc đến vấn đề số phận tinh thần dưới những góc nhìn, khía

cạnh khác Chẳng hạn như thông qua vấn đề chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo hay quan niệm về con người mà họ gợi đến hay lướt qua số phận tinh thần của con người Như

vậy, có thể nói thật sự chưa có công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu về số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao

Mặc dù chưa đặt vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao là

trọng tâm để nghiên cứu, nhưng trong quá trình tìm hiểu, thẩm định giá trị văn chương Nam Cao, những phát hiện quý báu của các nhà nghiên cứu là nền tảng, là cơ sở nhất định để chúng tôi vận dụng trong quá trình thực hiện đề tài

4 Đóng góp của luận văn

Vấn đề số phận tinh thần của con người là một phương diện đặc biệt góp phần tạo nên

sức sống của văn Nam Cao Ở đây chúng tôi cố gắng đưa ra một cách nhìn chung, có tính hệ

thống về vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao Từ những băn khoăn, ray rứt không nguôi của Nam Cao về số phận tinh thần của con người, chủ nghĩa

hiện thực và nhân đạo sâu sắc một lần nữa được khẳng định trong sáng tác của ông

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp hệ thống Để đưa ra một nhận xét có tính

chất tổng hợp, chúng tôi phải đi vào các thành phần cơ bản của tác phẩm thể hiện số phận tinh thần của con người Đồng thời để triển khai vấn đề một cách khoa học, chặt chẽ chúng tôi đặt vấn đề số phận tinh thần của con người bên cạnh hệ thống các giá trị khác của sáng

tác Nam Cao Hơn nữa, chúng tôi đặt “Số phận tinh thần của con người trong tác phẩm

ý nghĩa, giá trị của vấn đề

Ngoài hai phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh

và thống kê ở một mức độ nhất định Trong khi trình bày vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam Cao, chúng tôi có so sánh, đối chiếu sáng tác của Nam Cao với sáng tác của Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, và Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh .để thấy được nét tương đồng, dị biệt giữa họ và nhằm làm sáng rõ vấn đề đang quan tâm Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi sử dụng phương pháp

thống kê để xác định tần số xuất hiện của số phận tinh thần con người trong tác phẩn Nam Cao

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn gồm 3 chương và phần tài liệu tham khảo Chương 1: Con người và thế giới tinh thần trong sáng tác của Nam Cao

Chương 2: Vấn đề số phận tinh thần trong tác phẩm Nam Cao

Chương 3: Chủ nghĩa hiện thực tâm lý và vấn đề số phận tinh thần của nhân vật

Trang 18

CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI TINH THẦN TRONG

1.1 Cảnh sống tinh thần con người trong tác phẩm Nam Cao

1.1.1 Bản thân thế giới tinh thần của con người cũng là một hiện thực

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam có một sự chuyển mình rất lớn Đó là một cuộc canh tân văn học trên nhiều phương diện, đặc biệt là quan niệm về con người đã có nhiều thay đổi thật sâu sắc dựa trên những tiền đề của quá trình chuyển dần từ vô ngã sang hữu ngã của văn chương hậu kỳ Trung đại cùng với thực trạng đời sống xã hội và sự tác động

mạnh mẽ của văn học Phương Tây Các nhà văn kế thừa, phát huy và tiếp thu những tinh hoa văn học dân tộc và văn học Phương Tây để tiếp tục đi sâu vào khám phá thế giới tinh

thần con người Họ không chỉ dừng lại ở việc “phản ánh con người chỉ thông qua mô tả lịch

sử” mà còn dò sâu vào mọi ngóc ngách trong tâm hồn con người Các cây bút không ngại

sục sạo tìm kiếm những điều bí ẩn ở bên trong con người, thể hiện khát vọng chinh phục, khám phá con người để hiểu người và hiểu chính mình như nhà văn lớn Dostoevski khát

khao “ Con người là một điều bí ẩn, cần khám phá con người Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy

vì tôi mu ốn trở thành con người.” [64, 57]

Văn học hạ kỳ Trung đại đã có sự vượt thoát ra ngoài những khuôn khổ, quy phạm của

bản thân nó Bên cạnh những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh bình dân sớm đặt ra vấn đề đòi hỏi về hạnh phúc cá nhân và quyền sống con người thì văn học bác học cũng quan tâm

đến con người - cá nhân, từ Chinh phụ ngâm qua thơ Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Cung

bậc Nhất là Truyện Kiều - đó là một dấu nhấn thực sự của những dòng xoáy trong thế giới

tinh thần con người Sự đòi hỏi gắt gao, bức thiết về quyền được sống như một con người

bắt đầu ý thức được về mình, con người - cá nhân được thể hiện sâu sắc trong văn chương

hạ kỳ Trung đại Lê Trí Viễn đã khẳng định: “Con người cá nhân ấy tỏ ra vượt bậc trong

bi ểu hiện tình cảm, thể hiện nội tâm Thế giới bên trong muôn hình nghìn vẻ, trực tiếp bộc

l ộ hoặc mượn thiên nhiên ngoại cảnh mà gửi gắm, có lúc đạt tận nhân tình ở chỗ sâu kín

nh ất, tinh tế nhất Hơn nữa nó không chỉ là nó mà nó còn đủ sức điển hình cho một hạng người, và rộng hơn tiêu biểu cho thân phận con người nói chung.” [71, 209-210] Đặc trưng

này chính là nền tảng để các nhà văn hiện đại đầu thế kỷ XX tiếp tục cuộc hành trình đi vào khám phá và chinh phục thế giới bên trong con người Tất nhiên nó sẽ mang những đặc

Trang 19

trưng riêng của thời đại Và mỗi trào lưu văn học đã chọn một con đường riêng và mục đích khác nhau để đi vào thế giới bên trong đầy bí ẩn của con người Trên văn đàn rất đa dạng, phong phú và sôi động lúc bấy giờ, trừ dòng văn học cách mạng phụng sự cho vận mệnh Tổ

quốc, quan tâm sâu sắc đến số phận cả dân tộc, phần lớn các trào lưu văn học khác nghiêng

về quan sát, khám phá con người - cá nhân Nghĩa là ít nhiều người nghệ sĩ đã hướng ngòi bút vào thế giới tinh thần con người Các cây bút thuộc trào lưu văn học lãng mạn đã đi sâu vào những góc khuất lặng, sâu kín trong lòng người Những vùng sâu thẳm, những nỗi niềm trăn trở ấy bấy lâu nay gần như bị che khuất, dồn nén, lãng quên đã được soi rọi, đưa ra ánh sáng Thơ Mới thể hiện “cái tôi” cá nhân với những khát khao giao cảm cháy bỏng, với

những dòng cảm xúc đầy biến động của tâm hồn con người Nó tạo nên một thời đại mới

trong thi ca Văn chương Tự lực văn đoàn tập trung thể hiện những khát khao tự do yêu đương, hôn nhân, tìm kiếm hạnh phúc lứa đôi, chống lễ giáo phong kiến của con người -

cá nhân Con người - cá nhân muốn vùng thoát khỏi những khuôn phép nghiệt ngã, áp đặt

của xã hội phong kiến Chẳng hạn như: Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng), Lạnh lùng, Đôi bạn, Đoạn tuyệt (Nhất Linh) và Gánh hàng hoa, Đời mưa gió

(Nhất Linh -Khái Hưng) .Hoặc những sáng tác của Thạch Lam là sự giao thoa giữa chất

hiện thực và lãng mạn thể hiện một nỗi niềm man mác của tâm hồn con người: Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ, Ngày mới, Cô hàng xén Và tuy không là

thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng thuộc trào lưu văn học lãng mạn, Nguyễn Tuân lại

gửi gắm nỗi khát khao cháy bỏng và niềm say mê cuộc sống luôn luôn xê dịch, hướng ngòi bút vươn tới cái đẹp đạt tận độ, tận mỹ, hướng con người đến cái thiện lương trong:

thực thường thiên về miêu tả hiện thực đời sống xã hội Trong trang viết của họ, con người

phải luôn luôn đối mặt, đấu tranh với thiên tai, dịch họa và tầng lớp thống trị nửa phong

kiến - thực dân mục nát, tàn bạo Sưu thuế, mất mùa, sự áp bức bóc lột và những tập tục cổ

hủ là nỗi ám ảnh ghê gớm đối với những con người thấp cổ bé miệng Tiêu biểu như những

sáng tác Vi ệc làng, Làm no, Tắt đèn .(Ngô Tất Tố), Đồng hào có ma, Bước đường

họa bức tranh đời sống nông thôn trì trệ, ảm đạm chứa đựng sự nheo nhóc, cái đói giéo giắt,

những tục lệ lưu cửu hàng bao đời, những cái vụn vặt, manh mún của xã hội làng xã .và

tiếng trống thúc giục sưu thuế riết róng thì Vũ Trọng Phụng lại vẽ nên một bức tranh đời

sống thành thị đầy rẫy những điều “vô nghĩa lý” và “chó đểu” Đó là những Số đỏ, Giông

Trang 20

t ố, Trúng số độc đắc, Hồ sê líu hồ líu sê sàng (Vũ Trọng Phụng) Riêng Nam Cao âm

thầm đi theo một hướng khác Ông gác vấn đề đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội sang

một phía, dành sức mạnh ngòi bút xoáy sâu vào thế giới tinh thần con người Ông dẫn dắt người đọc đi vào khám phá thế giới tinh thần con người - một miền đất lạ mà quen, vừa mênh mông sâu thẳm vừa nhỏ bé mong manh tất cả cứ ẩn hiện, bàng bạc trong trang viết

của ông

Là người đứng trong hàng ngũ của trào lưu hiện thực, Nam Cao quan niệm văn

chương phải là “sự thực ở đời” nhưng đó không phải là sự thực giản đơn của bề mặt đời

sống xã hội, mà bên cạnh việc thể hiện cái hiện thực xã hội hiển nhiên ấy, nhà văn còn

muốn phơi bày trên trang giấy được cái hiện thực đời sống bên trong con người Nói cách khác thế giới tinh thần con người cũng là một hiện thực mà nhà văn muốn chiếm lĩnh và gửi

gắm vào tác phẩm của mình

Từ trước đến nay, người ta hay nói về tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao là "nghệ thuật phải là sự thực ở đời chứ không phải là ánh trăng lừa dối", nhằm nhấn mạnh Nam Cao

là một nhà văn hiện thực chủ nghĩa Thật ra thì ông không dừng lại ở việc miêu tả, khắc họa

cái “s ự thực ở đời” mà ông còn đưa ngòi bút phiêu lưu vào những vùng bí ẩn của tâm hồn

con người Nhà văn đã bộc bạch quan niệm sáng tác của mình qua lời nhân vật Điền trong

Giăng sáng: “Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là

ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm

than, vang d ội lên mạnh mẽ trong lòng Điền.” [1, tập 1, 588] Như vậy, có thể nói so với

những nhà văn hiện thực cùng thời Nam Cao đã đạt đến chủ nghĩa hiện thực thật sự vì trong sáng tác của ông ẩn đằng sau những hiện thực xã hội là những mảng tối - sáng của hiện thực bên trong con người Đâu phải ngẫu nhiên hay vô tình mà đó chính là tâm huyết, khát vọng

ấp ủ trong lòng mình được Nam Cao gửi cả vào câu nói bốc trời của gã say rượu - Hộ (Đời

m ột tác phẩm chung cho loài người Nó vừa phải chứa đựng cái gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình .Nó làm cho người gần người hơn.” [1, tập 1, 614]

Nhìn lại một chặng đường dài của nền văn học Việt Nam, đặc biệt dành nhiều tâm huyết tìm hiểu về vấn đề con người trong văn học, nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà đã khẳng

định: “Bản thân thế giới tinh thần cũng là một hiện thực.” [65, 62] Theo ông, cái hiện thực

bên trong ấy của con người, ít có nhà văn Việt Nam nào đưa ngòi bút chạm đến Và có thể

Trang 21

nói, trong số những nhà văn ít ỏi đi vào khám phá thế giới tinh thần con người, Nam Cao là người đi sâu nhất vào thế giới đó

Trong khi các nhà văn hiện thực khác say sưa ghi nhận những diễn biến xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày nhằm vạch trần, phê phán thực trạng xã hội thì dường như Nam Cao ý thức được điều mà Hegel đã khái quát: “Một hình thức khác của tính khách quan

không nh ằm mục đích biểu hiện cái bên ngoài với tính cách cái bên ngoài, trái lại nghệ sĩ chi ếm lĩnh đối tượng của mình với tất cả sức mạnh của cảm nghĩ tâm hồn bên trong.” [18,

466] Cũng viết về người trí thức, người nông dân .cũng khắc họa bức tranh thành thị lẫn nông thôn nhưng Nam Cao không đi theo vết những nhà văn khác Ngòi bút của ông có vẻ như thờ ơ, lạnh lùng khi miêu tả đời sống con người Nhưng thật ra đằng sau những trang

viết tưởng chừng như dửng dưng, "Những chuyện không muốn viết" về hiện thực xã hội

là cả một thế giới tinh thần con người đang không ngừng biến động và chuyển dịch Bức tranh xã hội ảm đạm là cái nền, cái phông để Nam Cao thể hiện những biến động của tâm

hồn con người “Biểu hiện cái bên ngoài” không phải “với tính cách cái bên ngoài” mà

chính từ những cái bên ngoài ấy thế giới tinh thần bên trong con người được thể hiện hết

sức rõ ràng và sâu sắc Những sáng tác của Nam Cao được dệt nên bằng chất liệu đời sống hàng ngày, những cái rất riêng tư của đời sống con người, toàn những cái vụn vặt, nhỏ nhoi,

tủn mủn Song chính những cái vặt vãnh hàng ngày ấy lại có một sức mạnh ghê gớm, nó ẩn

chứa cả thế giới tinh thần con người đầy phức tạp và tinh vi Nam Cao miêu tả Chí Phèo, Tự

Lãng (Chí Phèo), H ộ (Đời thừa ) .đâu phải chỉ để khắc họa chân dung những gã say

rượu Từ trang viết của ông, những nhân vật ấy bước ngật ngưởng ra cuộc đời mang theo nhiều tầng ý nghĩa khác nhau rất sâu sắc và độc đáo Họ uống rất nhiều, uống đến say mềm

Uống để trốn chạy cuộc sống bế tắc, uống để quên nỗi cô đơn trước cuộc đời Bởi tỉnh ra thì làm sao Chí Phèo, Tự Lãng chịu đựng nổi sự cô đơn, lạc lõng; làm sao Hộ sống được trước

sự giằng xé giữa chuyện “áo cơm ghì sát đất” và cái mộng văn chương của mình Nhưng

họ không thể không đối mặt với chính mình Khi tỉnh rượu, Chí Phèo mơ hồ nhớ đến một

thời trai trẻ - hắn đã từng có những ước mơ giản dị và cảm nhận được thân phận của mình

hiện tại “Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô

độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau.” [I, tập l, 115]; còn Hộ cũng nhận ra “Anh .anh ch ỉ là .một thằng khốn nạn! .” [1, tập 1, 616] Những con người đáng thương

ấy tự vấn, dằn vặt lòng mình sau những cơn say

Trang 22

Phải chăng Nam Cao đã gặp gỡ quan niệm của Hegel trong sáng tác của mình: “Tính

ch ất lý tưởng cần phải biểu lộ không những trong việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất mà cả trong các quy ền lợi có tính chất tinh thần theo khái niệm của nó, yếu tố bản chất thần linh

c ần thiết trong các quan hệ này trước sau vẫn là một.” [18, 249] Đời sống con người thật

sự chứa đựng hai phạm trù: đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa chúng có mối quan

hệ biện chứng và có sự tác động qua lại lẫn nhau Một trong những nhu cầu đầu tiên và bức thiết nhất của đời sống vật chất là cái ăn, vấn đề này không phải là chuyện riêng, nỗi băn khoăn của một người, một dân tộc mà là vấn đề cả nhân loại quan tâm Chính nhu cầu vật

chất này đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần con người, tạo nên những vết hằn không thể xóa nhòa trong thế giới tinh thần của con người

1.1.2 Cái đói, miếng ăn là nỗi ám ảnh khôn cùng trong thế giới tinh thần con người

Cái đói và miếng ăn là một nỗi ám ảnh đau đớn đối với nhân dân ta hàng bao thế kỷ Song trong thực tế, sự thật nỗi đau ấy chưa được phản ánh nhiều trong văn học Trung đại Đến đầu thế kỷ XX, cái đói càng hoành hành dữ dội và bi thảm, là nỗi ám ảnh thường trực trong tâm thức con người đã thôi thúc nhiều ngòi bút quan tâm Xuất hiện xu hướng văn chương của những người đói trong văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: Ngô Tất

Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và Nam Cao cũng thuộc xu hướng này Các nhà văn miêu tả thực trạng cái đói rất chân thực, sâu sắc và độc đáo Ngô

Tất Tố miêu tả cách “Làm no” - người ta nghĩ ra cách ăn đủ thứ trên đời Đến khi không

còn gì có thể ăn được, người ta sáng chế ra món ăn mới: đất sét nấu với những con cá con

vó được Hay Thằng ăn cắp (Nguyễn Công Hoan) để lấp đầy cái dạ dày trống rỗng đang

kêu lên sùng sục, hắn đã cố quỵt 2 xu bún riêu để rồi phải chịu một trận đòn nhừ tử Cái đói

cũng len lỏi trong những trang viết phê phán, lên án xã hội lúc bấy giờ: Tắt đèn (Ngô Tất

Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), chủ yếu là miêu tả con người đấu tranh với

các thế lực thống trị để giành lấy miếng cơm manh áo Nhưng có thể nói so với những cây bút tên tuổi trên, Nam Cao vẫn là nhà văn viết về cái đói và miếng ăn nhiều hơn, sâu sắc

hơn Ông không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đói mà còn đề cập đến “miếng ăn là miếng

nh ục” Miếng ăn thách thức ghê gớm đối với nhân cách con người, đẩy con người đến hai

cực trái ngược nhau, hoặc mất cả nhân cách, nhân tính như con vật trong Một bữa no, Quên điều độ, Trẻ con không biết ăn thịt chó, Tư cách mõ, Đòn chồng, Trẻ con không

Trang 23

trước cái đói con người quay lại đấu tranh với chính bản thân mình, chống trả cái bản năng đang kéo phần Người xuống dốc, đến bờ vực thẳm Chẳng hạn thằng kẻ trộm bực bội với cái bụng lép kẹp của hắn: “Mày đểu! Mày đểu! Ông chọc mày ra bây giờ.” - Hai người ăn

ra.” [1, tậpl, 510] Cái đói giày vò con người đến bà lão ngoài bảy mươi (Một bữa no) phải

bật ra lời than thở: “Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao!” [1,

tập 1, 276] Cuối cùng bà bất lực với cái bụng của mình, trí bà “sáng suốt” nghĩ ra cách

kiếm “một bữa no” Từ lúc trí bà sáng ra, bà chịu nhục, không còn gì phải giữ gìn “Vả đã

đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách” [1, tập 1, 287] Bởi cái đói là nỗi ám ảnh

thường trực, không nguôi với con người nên tác giả đã so sánh rất ví von trong Trẻ con

ngay t ừ lúc còn thơ.” [1, tập 1, 248 - 249]

Miếng ăn và nỗi lo toan về miếng ăn có mặt hầu như khắp tác phẩm Nam Cao Nó hút

hết tâm trí con người vào đấy Đặc biệt với người trí thức, cái đói trở thành một thảm kịch kéo ghì con người xuống sát đất Nó xoa tan những ước mơ, những khát vọng cao đẹp, đóng

lại mọi cánh cửa hy vọng của Tá (Nguyện vọng), Hộ (Đời thừa ), Thứ (Sống mòn), Điền

vòng lẩn quẩn: “Họ đau khổ, họ tức tối, họ gầm ghè nhau chung quanh một mâm cơm để

r ồi sau đó thấy nhục nhã ê chề cho chính cái tâm địa hèn hạ, nhỏ nhen của mình” [35, 284]

Thứ (Sống mòn) nhìn thấy một sự thật cay đắng: “Chừng nào con người còn phải giật của

con người từng miếng ăn thì mới có ăn, chừng nào một số người còn phải giẫm lên đầu

nh ững người kia để nhô lên, thì loài người còn phải xấu xa, bỉ ổi, tàn nhẫn và ích kỷ.” [1,

tập 2, 62] Thế giới tinh thần con người chứa đầy những băn khoăn, trăn trở, họ cảm thấy

nhục trước áp lực của miếng ăn mà không thể nào vùng thoát khỏi nó Chưa một lần Thứ dám nói toạc ra những ý nghĩ của mình và đòi hỏi Oanh phải trả công một cách xứng đáng

Tất cả chỉ diễn ra trong lòng hắn một cách thầm kín, chỉ vừa định nói ra là hắn đã đỏ mặt tía tai Nhưng khi chỉ còn lại một mình Thứ bực bội vô cùng và y lại nghĩ nhất định phải nói ra thôi, bao nhiêu lần nhất định thì bây nhiêu lần y thấy mình hèn hạ, nhỏ nhen và ích kỷ Thứ nghiền ngẫm: “Ai đặt ra cái chữ quốc ngữ cũng đã tài tình lắm; chữ hiền chỉ hơn chữ hèn

có m ột chữ ì có một cái dấu mũ đó thôi .” [1, tập 2, 132] Bao nhiêu khát vọng, ước mơ

đều tuột khỏi tầm tay của y Thứ cố sống dè sẻn từng xu và sẻn so cả trong suy nghĩ Thứ cố níu giữ lấy nhân cách của mình, gác lại những ước mơ to tác chỉ dám ao ước thầm được

Trang 24

nuôi bà của mình bằng ngày hai bữa cơm nghèo của người đi ở: “Thứ không ao ước gì hơn

là có th ể nuôi bà y mỗi ngày hai bữa cơm của bà Hà bây giờ.” [1, tập 2, 150] Vậy mà Thứ

cũng không thực hiện nổi Y thấy mình không làm chủ được bản thân, y cảm nhận được sự công phá của sức sống mòn - chết ngay trong lúc sống, “chết ngay trong lúc sống mới thật

là nh ục nhã.” [1, tập 2, 318]

Nếu như Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan .quan tâm thể hiện những

tập tục cổ hủ trong việc cưới xin - ma chay thì Nam Cao cũng viết về những hiện tượng ấy nhưng với ông tả không phải chỉ để tả Cảnh đám cưới chạy tang được miêu tả rất sinh

động, chân thực trong Một cảnh rước dâu chạy tang của Nguyễn Tuân hay ở Cô giáo

và cả nỗi chua chát với những toan tính thiệt hơn của người trong cuộc Nguyễn Tuân đưa ra

một triết lý mỉa mai: “Cái khổ của người này thường là cái sướng của người khác.” - Một

chạy nợ Trong Một đám cưới, tác giả chỉ dành ít dòng ngắn ngủi để miêu tả cảnh đón dâu

buồn bã: “Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lặng lẽ, dắt

díu nhau đi tìm chỗ ngủ.” [1, tập 1, 234] Phần lớn những trang còn lại ông thể hiện tâm

trạng của người cha trước ngày con gái đi lấy chồng, nghĩ đến cảnh cửa nhà tan tác, thương con xé lòng nhưng ông đành bất lực vì không có con đường nào khác hơn; là tất cả gia cảnh

và tâm sự của người cha nói với con trước ngày cưới cứ mải miết chảy trong trí Dần “trong

khi đưa đẩy cái chổi cùn trên mặt cái sân con.” [1, tập 1, 227] Người đi cưới dâu, gia cảnh

cũng chẳng hơn gì Vâng, bà mẹ chồng ấy cũng toan tính thế nào cho con mình sớm thành gia thất nhưng không tạo cho ông thông gia một áp lực hay cái nhìn thiếu thiện cảm mà trái

lại đầy cảm thông và chia sẻ bởi cùng phận nghèo Một đám cưới không phải nói đến sum

vầy hạnh phúc, không mở ra một tương lai rạng rỡ mà là những giọt nước mắt bất hạnh đọng lại trước cảnh gia đình phân ly, trước một tương lai ảm đạm và mù mịt

Đám tang nếu rơi vào tay Tô Hoài, Ngô Tất Tố sẽ trở thành câu chuyện phong tục thú

vị hoặc rơi vào tay Vũ Trọng Phụng sẽ trở thành một trò hoạt kê cười ra nước mắt như

không lẫn trong dòng người đưa ma, bởi “Đã có người vợ trẻ của anh (Phúc) quăn người

l ại như một chiếc vỏ bào, và khóc nỉ non như một bản âm nhạc mới.” [1, tập 1, 429] “Tôi”

Trang 25

buồn nhưng cố nén và che giấu tình cảm của mình “Tôi cố ý đóng cũi sắt tình cảm tôi Thấy

người ta thương xót quá dễ dàng, tôi hóa sợ lòng thương; thấy nhiều người khóc quá tài tình tôi b ỗng xấu hổ mỗi khi chực khóc.” [1, tập 1, 429] Cả cuộc đời Phúc hiện lên trong ký

ức của “tôi” từ ngày còn nhỏ cho đến ngày Phúc nằm xuống huyệt Một cuộc đời long đong,

vất vả, chẳng lúc nào thảnh thơi cả thể xác lẫn tinh thần, Phúc cứ cố bám víu lấy đời và chiều lòng người Anh cố giấu sự ốm yếu của thể xác và dồn nén nỗi đau trong lòng: “Anh

đã gắng gượng lấy sự chăm chỉ, sự nhẫn nhục để bù lại cái sức yếu của anh để gợi lòng thương của bà chủ ngày xưa, thì bây giờ anh lại gắng gượng lấy sự nuông chiều, sự hạ mình, c ố bù lại sự kém cỏi về dung mạo của mình, để mong giữ được lòng yêu của cô vợ đẹp.” [1, tập 1, 436] Vậy mà đời vẫn nghiệt ngã và người vẫn vô tình với anh! Anh chết rồi

“Bóng t ối đời đã phủ kín đôi mắt anh, mở thao láo nhiều đêm để nhìn trong bóng tối những

c ảnh nó làm cho anh nhục nhã.” [1, tập 1, 440], nhưng cuộc đời nhọc nhằn và sự ra đi của

anh mãi là nỗi ám ảnh không nguôi đối với người ở lại Đời là chuyện của chúng tôi

“Nh ững chuyện đời này bây giờ chỉ còn là của chúng tôi Chúng tôi những kẻ đã đau khổ,

đã uất ức, đã ao ước, đã khát thèm, đã thất vọng và vẫn còn hy vọng mãi và phải hy vọng mãi.” [1, tập 1, 441] Câu chuyện mà “tôi” kể trong thương cảm, xót xa thể hiện nỗi khổ đau, khắc khoải, nhọc nhằn của một kiếp người

Hầu như mọi cái chết của các nhân vật trong tác phẩm Nam Cao đều để lại những băn

khoăn, day dứt trong lòng người Từ cái chết của bà lão (Một bữa no), Lão Hạc (Lão Hạc),

Phúc (Điếu văn), anh đĩ Chuột (Nghèo), đến cái chết ấm ức, hể thẹn của lang Rận (Lang

cái nh ục sáng hôm sau.” [1, tập 1, 428] và cái chết đau đớn, vật vã, dữ dội của Chí Phèo

(Chí Phèo) Những cái chết sinh vật ấy đều diễn ra sau một quá trình tự đấu tranh gay

gắt, quyết liệt trong bản thân mỗi con người Đó là những cái chết không phải theo qui luật sinh hoa lẽ thường Con người phải từ giã cõi đời khi không còn khả năng đấu tranh, đối

mặt với phần Người trong mỗi con người và không còn chút hy vọng nào để bám víu ở đời

Họ đã nhắm mắt trong tâm trạng giằng níu, khủng hoảng trầm trọng của đời sống tinh thần Lão Hạc chọn cái chết để giữ lại mảnh vườn cho con, để giữ gìn phẩm cách con người Lão

chết một cách dữ dội bằng bả chó để chuộc lỗi với con chó Vàng Bởi ngay sau khi lừa con Vàng, Lão ân hận vô cùng: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó,

nó không ng ờ tôi nỡ tâm lừa nó!” [1, tập 1, 201] Bà cái đĩ, anh đĩ Chuột chết vì miếng ăn,

sống cực lòng quá Lang Rận chết vì y cũng là người có chút chữ nghĩa nên “y nghĩ đến cái

Trang 26

nh ục sáng hôm sau.” Và Chí Phèo đã chết bởi hắn ở ngoài mọi tự tình của nhân loại, hắn

không thể nào bước lại vào cái xã hội bằng phẳng nữa Cuộc đời của những nhân vật đóng

lại song Nam Cao đã mở ra cho chúng ta thấy những dòng chảy nghiệt ngã, dữ dội trong tâm tưởng những con người tưởng chừng như đơn giản ấy

Ngay cả những vấn đề nhức nhối như sự mục nát của chế độ khoa cử, lệ làng mà

những nhà văn khác khai thác nhằm lên án xã hội thì Nam Cao không miêu tả những xung đột mặt trước như thế, ông xoáy vào những dòng suy nghĩ riêng của những kẻ rơi vào cảnh

huống bi đát Trong cái xã hội mà người ta quan niệm “một miếng giữa làng bằng một sàng

xó b ếp”, ai cũng cố tìm cho mình một chỗ ngồi ở chiếu trên Cái giá phải trả cho những “địa

vị” ấy bằng tiền mồ hôi nước mắt như Mua danh, Đôi móng giò .Bịch (Mua danh) suy

đi tính lại nhiều lần trước khi quyết định mua lấy chức hương trưởng, hắn thấy lo được chút danh vị thật là chật vật Nhưng xem ra không xong nếu ở thân phận trai đinh, hắn cám cảnh

phận mình: “Hắn ngồi bó đùi, cằm ghếch trên đầu gối Mặt hắn thưỡn ra, vừa tức tối, vừa

chán n ản Một chút nước mắt chạy vòng quanh Hắn thấy tất cả nỗi cực khổ của một người lép v ế trong thôn xã Đầu hắn gần như là buốt nhức Có cái gì ở bền trong rậm rụt, ngùn

ng ụt như muốn nổ tung ra ngoài .” [1, tập1, 341] Cuối cùng hắn phải bấm bụng bỏ ra

trăm bạc để được làm “hương” Hắn những tưởng rằng từ đây có thể yên phận mà làm ăn và

phần nào mát mặt nhưng sự thật người ta đã dội vào lòng hắn một thái độ khinh bỉ: “Hương

cái con kh ỉ! Chưa làm rượu đã vác mặt ra đình! Bộ thằng tớ có chào nó là ông Hương.” [1,

tập 1, 344] Bịch xấu hổ không dám ngẩng mặt lên: “M ặt Bịch đột nhiên đỏ gay lên Hai tai

h ắn trông như hai cục tiết.” [1, tập 1, 344] Dù Bịch chỉ là một gã đi đánh dặm nhưng hắn

cũng có lòng tự trọng, hắn cảm nhận được nỗi ê chề Như thế đâu phải người nhà quê thì không biết nghĩ và đầu óc họ sẽ nông như có nhà văn đã đánh giá: “ .Bộ óc chất phác của

ch ị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có

th ứ tự.” - Anh phải sống [15, tập 3, 271] Trong trang viết của Nam Cao đời sống vật chất

càng chật vật, khó khăn thì đời sống tinh thần con người càng đau khổ, khắc khoải, căng

thẳng, đầy những gấp khúc

Không phải là tất cả những sáng tác của Nam Cao đều chứa đựng thế giới tinh thần con người song phần lớn tác phẩm của ông đã chạm đến những chỗ tinh nhạy nhất, những

chỗ lồi lõm, sâu thẳm của lòng người Trước cách mạng tháng Tám, sáng tác của ông đi vào

mọi ngóc ngách tâm hồn người trí thức, nông dân, thị dân và khi tham gia kháng chiến ngoài những tác phẩm phục vụ trực tiếp cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc ông vẫn

Trang 27

hướng ngòi bút của mình vào thế giới tinh thần con người Đó là những chuyển biến, đổi thay đời sống bên trong mỗi con người trước sự đổi thay của đời sống xã hội Bên cạnh

những trang viết về việc “lột xác” cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới như đa số những người cầm bút lúc bấy giờ, Nam Cao cũng không ngại lật đi lật lại chất tiểu tư sản trong con

người trí thức ngày nào còn đọng lại, chẳng hạn như Hoàng trong Đôi mắt không bỏ được

thói quen sống trưởng giả, lòng tự phụ và thái độ tôn thờ chủ nghĩa cá nhân: “Ông Cụ làm

nh ững việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh r ồi cũng cứ độc lập như thường:” [1, tập 2, 473] Và nhân vật xưng "tôi" trong Nhật

ở rừng cũng tự nhận thức về bản thân mình: “Có những lúc con người cũ chúng tôi chồm

d ậy Con người phóng túng và ích kỷ.” [1, tập 2, 443] Trong khi văn học vào những ngày

vừa giành được chính quyền chủ yếu thể hiện con người công dân - con người xã hội ở mặt trước một cách phiến diện thì Nam Cao không giấu chất nghệ sĩ trong lòng người chiến sĩ cách mạng: “vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ trong tôi vùng dậy.” [1, tập 2, 447] Ông nhìn

thấy nó và nắm cổ nó lôi ra ánh sáng để tự nhắc mình phải cố gắng nhiều hơn Nhân vật

“tôi” làm việc hết sức cật lực và hết lòng vì cuộc kháng chiến trường kỳ Nhiều khi anh không còn thời gian để viết nhật ký, để nghĩ về gia đình nhưng anh vẫn cố tận dụng những khoảnh khắc ngắn ngủi thả hồn mình hoài niệm về mái ấm gia đình, thương nỗi vất vả của

vợ, chờ đợi ngày con được đời tôi luyện cho nhanh chóng trưởng thành: “Thiên ơi! Cha sẽ

m ạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện con nhanh chóng hơn cha luyện.” [1,

tập 2, 420], và cả nỗi buồn nhớ vu vơ không thể gọi tên: “Tôi thấy buồn, nhơ nhớ, chẳng

hi ểu nhớ ai và buồn vì sao.” [1, tập 2, 408] Và nhất là nỗi đau âm ỉ vì không viết được một

tác phẩm mà anh hằng ấp ủ trong lòng: “Tôi chợt thấy buồn rầu vì luôn mấy năm nay không

vi ết được một tác phẩm nào khiến cho bạn tôi nhắc nhở.” [1, tập 2, 447] Vào thời điểm đó,

điều này người ta rất dè dặt vì sợ ảnh hưởng cuộc kháng chiến, làm chao đảo tư tưởng người cách mạng Vậy mà Nam Cao đã không ngại chạm đến những mảng riêng tư của tâm hồn người chiến sĩ đang hoạt động giữa đại ngàn

1.2 Thế giới tinh thần con người của các nhân vật trong tác phẩm Nam Cao

Có thể nói thế giới tinh thần của người trí thức là một vùng đất màu mỡ và phì nhiêu không chỉ có Nam Cao mà còn có những nhà văn tên tuổi như Thạch Lam, Nguyễn Tuân,

Nhất Linh, Khái Hưng khám phá và kiếm tìm Nếu Nguyễn Tuân thể hiện những khoảnh

Trang 28

khắc lòng người muốn vượt thoát khỏi những cái bó buộc đời thường thực hiện nỗi khát khao chiêm ngưỡng, kiếm tìm cái đẹp, hoài cổ và hướng đến thiên lương của những con người tài hoa; Thạch Lam vẽ nên những tâm hồn dung dị, đơn sơ mang nỗi buồn man mác; Khái Hưng, Nhất Linh thiên về tình yêu là chính thì Nam Cao khắc họa những khoảng

lặng rất nhỏ nhoi, vụn vặt của lòng người Mặt khác, phần lớn nhân vật trí thức trong tác

phẩm Tự lực văn đoàn thường là những ông tham, ông huyện, những sinh viên trường Cao

đẳng (Dũng - Đoạn tuyệt, Lộc - Nửa chừng xuân, Trương - Bướm trắng .) bất đắc chí

với gia đình hoặc bi lụy vì tình hay nhân vật trí thức của Vũ Trọng Phụng như đốc học Tú

Anh - Giông t ố, những đốc tờ, giáo sư, nhà cải cách "rởm" (Số đỏ) và đôi khi cũng xuất

hiện một ông giáo dạy tư (Phú – Vỡ đê, Nghĩa - Lạnh lùng ) một nhà văn (Minh - Gánh hành hoa) nhưng đó chẳng phải là cái "nghiệp" đa mang cho nhân vật phải băn khoăn, trăn

trở Riêng ngòi bút Nam Cao đặc biệt quan tâm thể hiện đời sống bên trong của nhà văn và nhà giáo Có lẽ ở trên đời không loại người nào có đời sống nội tâm phức tạp và đầy biến động như giới trí thức Nam Cao đã phơi bày lên trang sách tất cả những thăng trầm trong tâm hồn của anh nhà văn cũng như anh nhà giáo

Trong tác phẩm của Nam Cao, thế giới tinh thần người trí thức tồn tại song song với đời sống vật chất thiếu thốn, nghèo nàn Đời sống bên trong con người bộc lộ rõ nét qua lăng kính hiện thực đời sống xã hội Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam trì trệ, khủng hoảng, cùng quẩn nên con người - đặc biệt là người trí thức không thể phát huy, thể hiện khả năng của mình Những tâm hồn trẻ trung dệt bao ước mơ, khao khát thực

hiện bao hoài bão lớn lao, mong muốn làm được cái gì đó cho đời Họ không sống ích kỷ cho riêng mình, họ mong muốn được hết mình với công việc mình làm Hơn một lần người

thầy giáo muốn thể hiện tất cả thiên chức của mình Thứ (Sống mòn) ao ước: “Mỗi người

s ống phải làm thế nào cho phát triển tới tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình.” [1, tập 2, 256 - 257] để y xây dựng một ngôi trường phục vụ tốt nhất cho việc

học và dạy - một trường học lý tưởng Cũng như vậy, Tá (Nguyện vọng) say sưa thiết kế

một trường tư thật lớn với rất nhiều ưu điểm: “Anh sẽ trả lương giáo sư rất hậu, đặt quỹ

hưu bổng để các ông có thể yên lòng về vật chất mà tận tụy với nghề Anh sẽ tổ chức các lớp theo nh ững phương pháp tối tân Anh sẽ cấp học bổng cho những thiếu niên lanh lợi đi ngo ại quốc để nghiên cứu thêm về khoa sư phạm .” [1, tập 1, 130] Tất cả các dự định cao

đẹp đó vĩnh viễn nằm yên trong lòng họ - mãi mãi chỉ là ước mơ Vì thực tế họ bị chuyện áo cơm ghì sát đất, thì làm thế nào chấp cánh ước mơ bay cao và bay xa Thứ khổ sở, nhục nhã

Trang 29

khi phải nhẩm tính chi li từng xu tiền chợ Những ước mơ lớn lao của Tá gãy đổ khi người hàng gạo gõ cửa đòi nợ Hay những anh nhà văn nghèo như Hộ (Đời thừa), Điền (Giăng sáng, Nước mắt) cháy bỏng niềm hy vọng có thể viết được một tác phẩm để đời và điều

đó không phải ngoài khả năng của họ Vậy mà thực tế cuộc sống đã phá vỡ mọi dự tính tốt

đẹp ấy Hộ không thể viết được một tác phẩm có giá trị vì “Những bận rộn tệp nhẹp, vô

nghĩa lý, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn.” [1, tập 1,

602] Những chuyện áo cơm, những lo toan tép nhẹp hàng ngày giết chết mất khả năng sáng

tạo Đúng là “đau khổ tinh thần làm nên nghệ thuật, còn nghèo khổ vật chất làm hao mòn

sáng t ạo.” [65, 223] Làm sao một anh nhà văn có thể viết được khi bên tai lúc nào cũng

nheo nhéo tiếng đòi nợ, tiếng gắt gỏng của vợ, tiếng quấy khóc của con; lúc nào cũng lo canh cánh những tiền gạo, tiền nhà, tiền thuốc, tiền nước mắm .Họ đã viết những tác phẩm

nhạt nhẽo mà người đọc quên ngay sau khi gấp sách lại Cái đói, cái nghèo ngấm vào máu, vào tim, nó là nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với người nghệ sĩ Nó thui chột khả năng sáng

tạo của nhà văn Song cái đáng quý là những thiếu thốn vật chất đó dù đôi khi có làm cho nhà văn dễ dãi trong cách viết nhưng không thể bào mòn nhân cách nhà văn, mà ngược lại chính nó đọng lại thành nỗi đau tinh thần xé lòng như hạt cát trong lòng ngọc trai Tự trong sâu thẳm những người cầm bút vẫn giàu lòng tự trọng Hộ thấy thẹn với lòng khi đọc lại

những sáng tác nhạt nhẽo, vô vị của mình: “Rồi mỗi lần đọc lại mỗi cuốn sách hay một

đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, càu mày nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn .” [1, tập 1, 603] Bởi lẽ hơn ai hết Hộ ý thức được trách nhiệm,

lương tâm của người cầm bút phải như thế nào: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là

m ột sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.” [1, tập 1,

603] Hay nhà văn nọ trong Mua nhà đã thốt lên một cách chua chát, mỉa mai sau khi cố

vay công nợ để mua nhà: “Rồi tôi sẽ cố làm việc hơn trước nữa Tôi sẽ giết tôi nhanh hơn

trước nữa Trước sau thì cũng chết Mà ai cũng chết một lần thôi Sống sẻn so làm gì ?” [1,

tập 1, 594] Nghĩa là hắn lại viết một thứ văn dễ dãi, chẳng giá trị gì để kiếm tiền trả nợ nhưng tận trong đáy lòng mình hắn hiểu rằng thế là hỏng, ngòi bút của hắn sẽ cùn với lối

viết như thế Hắn tự dối mình để biện minh cho sự tự giết mình song lương tâm day dứt

không nguôi: “Bây gi ờ thì tôi không lẩn trốn những ý nghĩ của tôi nữa Tôi ác quá! Tôi ác quá! Tôi ph ải thú với tôi nhiều rồi .” [1, tập 1, 599] Và Điền (Giăng sáng) đành từ bỏ ý

định viết những áng văn lãng mạn dành cho những người lãng mạn thưởng thức Bởi khi

hắn đang mơ tưởng đến danh vọng, ao ước lòng yêu của những người con gái đẹp và sang

Trang 30

thì tiếng con đau khóc rấm rứt, tiếng vợ hắn quát tháo ầm ĩ vẳng đến tai, thế là cái mộng văn chương tan biến Nhưng chính những âm thanh chói tai ấy đã đánh thức lương tâm Điền,

hắn can đảm đối diện với sự thực: “Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả

nh ững vang động của đời ” [1, tập 1, 588]

Như ở trên đã nói, nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao không phải là những con người công thành danh toại Để họ được đến trường, gia đình phải bán ruộng, bán vườn

và cả một đàn em nheo nhóc phải nhịn ăn, nhịn mặc Cái vốn tri thức mà họ thu nhận được

là nhờ vào sự đánh đổi, vào sự chắt chiu và hy sinh của cả gia đình những mong họ có thể làm nên ông phán, ông tham để vinh thân phì gia Thế nhưng tất cả những hy vọng của

những bậc sinh thành chân lấm tay bùn đều lụi tắt Bởi có người không đủ tiền để theo học

đến nơi đến chốn như Thứ (Sống mòn), Tri (Cái mặt không chơi được) hoặc phải gắng

sức nhiều trong những cuộc tranh đua thi cử tìm kiếm một chỗ đứng đến kiệt sức không thể làm việc nổi như Hài (Quên điều độ), Điền (Giăng sáng), Đích (Sống mòn) Họ ý thức

được mình là gánh nặng của gia đình, là nỗi thất vọng ê chề của cha mẹ Họ đành phải tìm

một kế sinh nhai Biết làm gì bây giờ - những anh thư sinh trói gà không chặt? Họ đi dạy tư

hoặc viết văn Những nghề mà tưởng như nhẹ nhàng nhất nhưng thật ra lại lao tâm, lao lực

nhất Trong tác phẩm Quên điều độ, Hài cố xin dạy học để kéo dài sự sống, vì nếu không

dạy học hắn sẽ chết ngay - chết đói Hài tự nhủ lòng mình để có thêm can đảm: “Chết mau

nghĩa là chưa chết Nếu tôi không dạy học thì chết ngay, bởi không ai có thể sống mà không ăn.” [1, tập 1, 642] Với những tính toán chi li, sẻn so trong cách sống cũng như cách nghĩ,

Hài làm cho người đọc phải bật cười Cười để mà thương thay một con người không có sức

khỏe cũng chẳng có tiền nên lúc nào cũng phải sống "điều độ”

Nhưng họ là những người trí thức đích thực dù họ không phải là người có học vị, có

bằng cấp, không phải là giáo sư, bác sĩ mà chỉ là những anh giáo khổ trường tư hay là những anh nhà văn nửa tỉnh nửa quê Cái chất tạo nên nhân cách của người trí thức chính là ở họ luôn luôn chất chứa khả năng tự ý thức rất cao Đứng trước một thực trạng cuộc sống đầy

ảm đảm, mang một màu sắc xám xịt những anh trí thức cứ tỏ ra thờ ơ, lạnh lùng nhưng thật

ra trong lòng họ đang có những dòng chảy cuồn cuộn không ngừng về nỗi đau đời Tất cả

những chuyện vụn vặt hàng ngày cuốn lấy tâm trí của họ là xuất phát từ sự ý thức về vai trò

và trách nhiệm của bản thân họ đối với gia đình, vợ con Trước cảnh nhà túng quẩn, con

đau, vợ phải vất vả chạy ngược chạy xuôi đến cáu bẳn, Điền (Giăng sáng) đã âm thầm gác

lại cái mộng văn chương để thực hiện vai trò trụ cột gia đình của mình: “ Điền thấy mình

Trang 31

ích k ỷ Sự nghiệp mà làm gì nữa? Bổn phận mình phải nghĩ đến gia đình Điền phải quên cái m ộng văn chương để kiếm tiền ” [1, tập 1, 582] Những lo toan tẹp nhẹp đời thường

choán hết lòng hắn: “ .óc Điền đầy những lo lắng nhỏ nhen.” [1, tập 1, 582] Chút hy vọng

mong manh ấy đồng nghĩa với việc Điền vĩnh viễn hy sinh niềm say mê được viết của mình Điền sẽ chẳng bao giờ viết nổi những áng văn lãng mạn đầy chất nhạc và thơ Bởi suốt đời Điền cũng chẳng có tiền Quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của Điền đã chuyển sang hướng khác Điền chấp nhận đối diện với sự thật Điền chuyển từ quan niệm sáng tác theo

khuynh hướng lãng mạn “Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp đến

c ả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa .” [1, tập 1, 585] sang khuynh hướng hiện

thực “ Chao ôi! chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ

là ti ếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền,” [1, tập 1, 578 - 588] Cũng là người phải kề vai gánh vác gia đình, lo chuyện áo cơm

cho vợ dại con thơ, Hộ (Đời thừa) đã chọn tình thương mà đành tạm quên đi khát vọng

sáng tác nghệ thuật sang một bên “ hắn có thể hy sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỷ đi,

nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát tầm thường nhưng hắn

v ẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái.” [1, tập 1, 604] Hộ nghĩ mình phải phí đi vài năm để kiếm tiền rồi sẽ viết cho ra hồn, sẽ

để lại những tác phẩm có giá trị đích thực Nhưng, chao ôi, thực tế cuộc sống đã dội vào lòng Hộ một nỗi chua chát khôn cùng Làm sao Hộ có thể viết được “một tác phẩm thật giá

tr ị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người ” [1, tập 1, 614] khi mà lúc nào Hộ cũng phải bận tâm đến những món tiền chi

tiêu vụn vặt, thậm chí đến không dám bước chân ra khỏi cửa bởi sợ phải tốn những món tiền tiêu vặt Một quyển sách để đời mãi mãi chỉ là khát vọng ấp ủ trong lòng Hộ Hay một Điền

no áo ấm Điền ngạc nhiên trước sự mỉa mai của viên đội trạm, thái độ dửng dưng, cáu kỉnh

của người thư ký ở nhà dây thép tỉnh Điền bực bội trước những lời gắt gỏng, đay nghiến

của vợ Hắn cảm thấy trên đời này không ai khổ bằng mình Nhưng khi bình tâm lại, hắn

thấy thương vợ hơn, thương ông thư ký nhà dây thép thương những người cũng có cảnh

ngộ như hắn, một mình phải lo đến trăm thứ việc, trăm thứ tiền Những nỗi lo không tên cứ

quấn chặt lấy tâm trí mỗi người Ai cũng thấy mình khổ quá mà đâm ra gắt gỏng, chua chát

với nhau Sau khi trút tất cả những bực dọc lên vợ, con, Điền chợt nhận ra chẳng ai sung

sướng cả “ .Th ật ra có ai muốn cau có làm chi ? Vậy thì vợ hắn gắt lên với hắn lúc này

Trang 32

cũng chỉ là việc thường thôi Cũng như hắn gắt lại với thị và gắt với con Cũng như ông thư

ký nhà dây thép “ [1, tập 1, 667] Hắn hối hận và trong lòng dâng lên cảm giác muốn an

ủi và sẻ chia khổ đau cùng mọi người Thay cho sự bực tức, chua chát, hắn thấy tràn ngập

niềm xót thương trong lòng “Hắn thương vợ, thương con, thương tất cả những người phải

kh ổ đau Lòng hắn thiết tha rướn lên, muốn vươn ra để ấp ôm lấy mọi người.” [1, tập 1,

669]

Trong tác phẩm Mua nhà, nhà văn nọ cũng phải đối mặt với nỗi lo thường nhật Mang

danh là văn sĩ mà đến một chỗ tiếp bạn cũng không có Bạn bè đến chơi phải chui rúc trong túp lều ọp ẹp, tanh tưởi Hắn hổ thẹn khi mọi người thấy sự bần bách của mình Mặc dù bạn

bè muốn hắn đừng bận tâm vì cái nhà tồi tàn Nhưng lòng hắn không cho hắn nghĩ thế “Suốt

đêm ấy tôi phải thức để mà hành tội tôi” [1, tập 1, 592] Với vật giá đắt đỏ lúc bấy giờ,

những tưởng không biết đến bao giờ hắn mới có thể làm một cái nhà khác khang trang hơn

Vậy mà một dịp may đã đến với hắn Có một kẻ thua bạc muốn bán căn nhà của mình, hắn quyết định vay công nợ để mua căn nhà ấy, bởi hắn cũng không thể làm khác được, căn nhà

của hắn đã bị bão đánh úp Trong lòng hắn có nhiều nỗi niềm phức tạp: hắn vừa liều vay nợ

và nghĩ rằng mình sẽ giết mình sớm hơn; hắn vừa vui mừng vì vừa vớ được một món hời: căn nhà gỗ mà giá chỉ có ba trăm bạc; hắn vừa khuyên kẻ bán nhà nên suy nghĩ lại

nhưng tất cả đều òa vỡ khi hắn nghe tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ: “Mẹ ơi!” [1, tập 1,

599] Sau bao nhiêu lần tự trấn an mình, đời khắt khe làm vậy, chứ hắn nào muốn ác thì khi nhìn thấy cảnh hai đứa trẻ quặt quẹo sẽ không có nhà ở cộng với tiếng hờ “mẹ ơi!” hắn đã

ân hận vô cùng Nỗi ân hận đó sẽ ám ảnh hắn không nguôi: “Rồi đây hối hận sẽ tỏa m ột bóng đen vào cái nhà mới của tôi, rộng rãi và sạch sẽ hơn cái trước.” [1, tập 1, 599]

Anh nhà văn trong tác phẩm của Nam Cao chỉ toàn viết những cái rất vụn vặt, dường như chẳng đá động gì đến thế sự, đấu tranh giai cấp hay chống lễ giáo phong kiến Họ viết

những cái rất xoàng, Những chuyện không muốn viết Hắn đã phủ nhận cái tôi “Tâm hồn

tôi nó hơi nông” [1, tập 1, 543] Và không cần che giấu nỗi lo nơm nớp của lòng mình:

“Tr ọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói.” [1, tập 1, 543] Nên hắn viết về “Những chuyện không

gỏng, cau có Hắn vừa ở Hà Nội về, hắn vừa đi vừa tưởng tượng ra cái viễn cảnh con reo

mừng bố, vợ tươi cười đón chồng Và vợ hắn ra đón hắn thật Nhưng “Mặt y nhăn như mặt

h ổ phù Cái mũi phình ra nó chứa đầy khí giận Đôi mắt thì long sòng sọc, chúng toan nhảy

v ọt ra Ghê gớm quá! Lại nghiến răng ken két nữa” [1, tập 1, 546], thế là lòng hắn chùn

Trang 33

xuống Nỗi nhớ mong vợ con tan biến, trước mắt hắn là một nỗi nguy Vợ hắn xỉa xói : “Đi

đâu mà đi mãi thế? Sao không chết dấm chết giúi ở đâu đi cho rồi? Còn về đây làm gì nữa? Còn vác m ặt về đây làm gì? .” [1, tập 1, 546] Hắn tưởng có chuyện gì đến trời long đất lở

nhưng mà không, chỉ vì cái vé sợi mang tên hắn bị người ta tranh mất Lại là chuyện miếng

ăn Hắn hoàn hồn, nghe nhẹ cả người “Thôi! Đứa nào nuốt được thì cứ nuốt Cả năm ngoái

mình không có vé s ợi, khung cửi để mốc meo, cũng không chết mà ” [1, tập 1, 549] Đằng

sau câu nói nghe nhẹ nhàng ấy của hắn sao mà chan chứa một nỗi đắng cay

Những anh nhà văn cứ đối diện với thực tế quẩn bách rồi tự soi rọi lại lòng mình Đời

sống vật chất chật vật làm cho đời sống tinh thần của con người mòn dần, đôi lúc như chảy

ra, họ gần như không còn giữ vững được nhân cách của mình Ai cũng sinh ra gắt gỏng, bịu

xịu, cứ muốn tàn nhẫn với nhau cho mình cảm thấy bớt khổ Nhưng khi đời sống tinh thần

của họ căng thẳng đến như sợi dây đàn sắp đứt dây thì tận trong sâu thẳm tâm hồn họ tình thương bỗng bùng cháy lên một ngọn lửa thiết tha muốn chia sẻ và an ủi chính mình và mọi

người xung quanh Điền (Giăng sáng, Nước mắt), Hộ (Đời thừa ) và rất nhiều nhân vật

“tôi” (Mua nhà, Những chuyện không muốn viết, Điếu văn ) đã lấy tình thương làm

cứu cánh, hy sinh đi những khát vọng, đam mê vị kỷ

Đời sống tinh thần của anh nhà giáo cũng rất được Nam Cao quan tâm Những năm đầu thế kỷ XX, nền giáo dục nước ta có một bước chuyển biến từ việc dạy chữ Hán của

những ông thầy đồ tại gia sang dạy chữ Quốc ngữ ở những trường tư thục Những anh giáo

khổ trường tư cũng chẳng hơn gì những anh nhà văn Giữa họ có một mối quan hệ mật thiết

Có thể từ một anh nhà giáo thất nghiệp trở thành nhà văn và cũng có thể là ngược lại Đó là

những thanh niên đầy nhiệt quyết, khao khát được góp bàn tay và khối óc của mình vào công cuộc canh tân nền giáo dục nước nhà Tá (Nguyện vọng) từ bỏ một chỗ làm lương hậu

(bảy chục đồng) để trở về với nghề dạy học tư với đồng lương còm (chỉ độ ba chục đồng)

Anh đam mê nghề dạy học với một lý tưởng trong sáng và cao thượng Khi được hỏi: "Anh

yêu ngh ề dạy học lắm?” [1, tập 1, 129] Tá trả lời một cách rất dứt khoát: “Thì đã hẳn Mà

ch ẳng riêng gì tôi, những kẻ còn nghĩ đến giống nòi đều nghĩ đến việc đào tạo óc Vì chỉ có

s ự học thôi, chỉ có sự học là đào tạo được con người.” [1, tập 1, 130] Tá ao ước mở một

trường tư thật lớn, anh diễn thuyết rất hùng hồn về cái trường tư mà anh dự định thành lập

Tất cả như trở thành hiện thực trong ngày mai, bỗng tiếng người hàng gạo gõ cửa đòi nợ đã kéo anh về với thực tại Tá chua chát nhận ra niềm đàm mê và ước mơ cháy bỏng của mình

đã bị thực tế cuộc sống dập tắt không thương tiếc

Trang 34

Có lẽ không có nhà văn nào trước 1945 viết về đời nhà giáo nghèo chi li như Nam Cao Nhân vật anh giáo Thứ trong tác phẩm Sống mòn của ông là một điển hình cho nhân

cách nhà giáo nghèo của nền văn học Việt Nam Những hăng hái của anh giáo trẻ sau hai năm đứng lớp gần như tan biến cả Lòng yêu nghề của Thứ được thay thế bằng nỗi chán nghề Sao chóng thế? Bởi “cái nghề (dạy học) bạc bẽo làm sao!” [1, tập 2, 8] Nó vắt kiệt

sức lực của người thầy với hai ca đứng lớp và mấy tiếng chấm bài ở nhà Song điều đó không phải là nguyên nhân chính để Thứ chán nghề mà chính là những tính toán chi li, sẻn

so của những người trong cuộc làm cho Thứ chán nản “Y mỏi mệt đến cả tâm hồn, cả tính

tình.” [1, tập 2, 10] Từ một người vô tư, phải cò kè đến vấn đề tiền bạc là y đã thấy ngượng

vậy mà sống trong cái không khí ngột ngạt người này chắt bóp người kia từng đồng xu nhỏ

y cũng trở nên đê tiện, lầy là Y phải tính toán, sẻn so từng đồng xu một bởi đồng lương eo

hẹp Những kỷ niệm nhọc nhằn, đau khổ giằng xé lòng y: cả bà, mẹ, vợ, các em y phải nhịn

ăn để cho y ăn Mỗi khi đi ăn cùng một người bạn có tiền mời hay định bước chân vào một quán ăn xoàng thì những kỷ niệm ấy thức dậy trong óc y Nhất là cái cảnh cả nhà phải nhịn

ăn để cho hắn ăn “Nhưng y vừa ăn, vừa nghĩ ngợi gần xa thế nào mà nước mắt ứa ra

Mi ếng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt đi Và thiếu một chút nữa là y đã oà khóc .” [1, tập 1, 81] cứ trở đi trở lại ám ảnh lòng y Y nhẩm tính, khắt khe với thằng nhỏ nhưng

cố che giấu tính bủn xỉn của mình Y phỏng chừng giá trị bữa ăn mà Oanh đãi y và San (để hai người dọn ra ngoài) để rồi tự thấy mình sao mà nhỏ nhen và ti tiện Cuộc sống eo hẹp,

hắn nghĩ đến gia đình vợ con, cố chi tiêu dè sẻn Chi li trong chi tiêu đã đành, đằng này hắn

sẻn so cả trong suy nghĩ Hắn chẳng dám ao ước hay mơ tưởng một chút gì dù rằng hắn có

ao ước thì cũng chẳng hại đến ai “Lúc này, hình như tất cả những gì không phải là cơm ăn,

là vi ệc làm đối với Thứ đều bị coi là phù phiếm, là vô ích.” [1, tập 2, 309] Lý trí mách bảo

hắn thế nhưng trong lòng hắn không khỏi có những mơ ước nhỏ nhoi chạy lăn quăn Hắn nghĩ đến một người con gái đẹp, ao ước được nuôi bà ngoại một bữa cơm đạm bạc, lòng hắn ghen vu vơ và điều ám ảnh nhất là hắn chờ đợi ngày mình thật sự làm chủ cái trường tư ấy như lời Đích hứa Song, ngay sau đó hắn cảm thấy hối hận vô cùng vì những mơ mộng hảo huyền mà đậm chất đời thường của mình Hắn thấy băn khoăn, day dứt và cả chua chát, xót

xa khi những ước mơ ấy mãi mãi không bao giờ trở thành hiện thực Đời sống vật chất chật

vật, con người khe khắt, giữ miếng với nhau tạo nên sự ngột ngạt, căng thẳng trong đời sống tinh thần của Thứ Đời sống vật chất càng khó khăn thì đời sống tinh thần càng có nhiều

biến động, gấp khúc Sự mâu thuẫn giữa thực tế đời sống khắc nghiệt và ý thức về nhân

Trang 35

cách con người của Thứ rất gay gắt Nhiều lúc, Thứ thức nhận thức được sự trượt dài của

nhân cách người thầy giáo trong mình “Thứ không làm chủ được mãi.” [ 1, tập 2, 277]

Cùng viết về người trí thức nghèo trước cách mạng tháng Tám, cùng phản ánh hiện

thực cuộc sống ngột ngạt và quẩn bách của họ nhưng Nam Cao và Thạch Lam có cái nhìn khác nhau và đặt ra những niềm tin khác nhau Trong khi Thạch Lam gieo vào lòng Trường

(Ngày m ới) một niềm hy vọng vào cuộc sống ngày mai tươi sáng và hạnh phúc dù rằng

nghèo “ Trường có cảm giác những ngày cũ, những ngày băn khoăn ám ảnh đã qua như

gi ấc mộng, chỉ một chút mơ màng ân hận còn rớt lại Một cuộc đời mới đáng chờ đợi để

đón chàng.” [15, tập 3, 483 - 484] thì Nam Cao chỉ khơi dậy trong lòng Thứ (Sống mòn)

một chút hy vọng mong manh là biết đâu sau chiến tranh cuộc sống sẽ thay đổi “Sống tức là

thay đổi.” [1, tập 2, 319], nhưng cái niềm tin hiu hắt ấy ngay lập tức bị tắt lịm trước thực tại

Tương lai sầm tối.” [1, tập 2, 75] .và “Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần và đời y cũng lùi dần.” [1, tập 1, 318] Trải qua quá trình diễn biến tâm lý phức tạp, Trường mơ ước

sự giàu sang một cách lãng mạn không thành Chàng an phận, sống vui vẻ, hạnh phúc một

cuộc đời đạm bạc Còn thế giới tinh thần của Thứ không đơn giản như thế, sau một quá trình dài đăng đẳng đấu tranh, trăn trở, đối diện với chính lòng mình, hắn thật sự rơi vào bi

kịch bế tắt không lối thoát Chiến tranh nổ ra, trường đóng cửa, lòng Thứ dâng lên một nỗi

buồn khôn tả “Và đột nhiên y thấy buồn rầu Lòng y đã cằn cỗi đến mức ấy rồi ư?” [1, tập

2, 268] Đời Thứ thế là kết thúc ở một xó nhà quê “Đời y sẽ mốc lên, sẽ g ỉ đi, sẽ mòn, sẽ

m ục ra, ở một xó nhà quê.” [1, tập 2, 318]

Chuyện miếng cơm manh áo đối với mỗi con người là một nỗi ám ảnh ghê gớm Nhất

là với những người không có sức khỏe mà vẫn tồn tại và cả gánh nặng gia đình Mới lướt qua tác phẩm Cười, Quên điều độ, người đọc cứ nghĩ đó là những chuyện cười - nhưng mà

cười ra nước mắt Ngay ở tên nhân vật, tên tác phẩm thôi đã gợi ra trong lòng người đọc

một nỗi xót xa, đau đớn Hài (Quên điều độ) - cái tên ấy gợi lên ở trí óc người đọc sự mỉa

mai, nào có vui gì đâu đời một anh giáo khổ trường tư phải tính toán chi li trong chi tiêu và ngay cả sức khỏe hắn cũng phải sẻn so từng tí một Dạy học hắn sẽ chết rất mau nhưng nếu không dạy học hẳn sẽ chết ngay tức khắc Bởi không dạy hắn sẽ chết đói Trong khi tìm

kiếm kế mưu sinh để tồn tại và phải đối mặt với tình trạng sức khỏe rất yếu của mình, lòng Hài dâng lên một nỗi chán nản và sợ hãi nhưng đứng trước thực tế nghiệt ngã đó trí hắn

bỗng “sáng” ra “Ta có thể liều chết mà kiếm ăn:” [1, tập l, 643] Một cách triết lý rất

“ph ải” của kẻ đang đói mà nghe cay đắng làm sao! Hài chấp nhận “sống mòn” và cứ luôn

Trang 36

tự biện minh cho quan niệm sống của mình Ở đời đâu chỉ có mình hắn phải bán dần sự

sống “Thiếu gì kẻ chẳng lấy gì làm can đảm vẫn phải bán dần sự sống đi để giữ cho mình

kh ỏi chết.” [l, tập 1,643]

Anh trí thức nghèo vừa ý thức được trách nhiệm của mình đối với bản thân, vừa phải

có trách nhiệm với gia đình Họ thấy mình hèn, không xứng đáng là người chồng, người cha khi thất nghiệp phải ăn bám vợ Trong tác phẩm “Cười”, nhân vật “tôi” đã dùng phép thắng

lợi tinh thần – “cười” là một phương thuốc bổ, có lợi cho sức khỏe Hắn cười trong lúc bực

bội mà không cáu gắt Hắn mơ màng đến ánh trăng sáng, đến một câu chuyện vui nào đó để lãng tránh thực tại Song, bên tai hắn lại văng vẳng tiếng càu nhàu của vợ, tiếng khóc la của con, những lúc ấy tiếng cười không thể xóa tan được nỗi bực dọc trong lòng hắn Nó không

có tác dụng Hắn phải tìm một việc gì để làm thôi Đi dạy Vợ hắn chỉ nghe đến hai tiếng

“ Đi dạy” là thị đã nhảy cẩng lên “Hừ, không dạy .Mình còn yếu lắm cứ nghỉ cho bao giờ

th ật khỏe, vả lại lần này có khỏe rồi tôi cũng chẳng để cho mình đi dạy học Dạy học hại người lắm .” [1, tập 1, 636] .và “Cứ đi là thế nào Tôi có để cho mình đi, tôi chết.” [1,

tập 1, 636] Chính vì hiểu tấm lòng của vợ mình nên hắn ngộ ra ý nghĩa của cuộc sống “Ta

nên s ợ cái chết trong lúc sống: cái chết đáng buồn của những người sống sờ sờ ra đấy nhưng chẳng dùng sự sống của sự sống của mình vào công việc gì ” [1, tập 1, 635] Cười

không còn là một truyện cười nữa, cười không làm vơi đi những băn khoăn, trăn trở trong lòng hắn

Ngoài những suy tư, trăn trở về cuộc đời, về con người của những nhà văn và nhà giáo, Nam Cao còn đề cập đến những khoảnh khắc đặc biệt trong tâm hồn của những người trí thức trẻ Họ ý thức được chỗ đứng của mình trong xã hội, thấy được vai trò của mình trong gia đình Dù rằng khả năng tự ý thức rất cao nhưng họ vẫn không khỏi chịu sự tác động từ đời sống bên ngoài Những hiện thực đời thường tác động đến suy nghĩ, nhân cách

của họ Đó là những cái “Nhỏ nhen” song ảnh hưởng không nhỏ đến tâm hồn họ Lại cứ như là chuyện đùa và ít nhiều mang màu sắc lãng mạn nhưng thực ra “Nhỏ nhen” đã khắc

họa những giây phút băn khoăn vì hai đồng bạc mà Giang cho người con gái mượn Hắn có

ý khinh cô gái nghi ngờ bạn gái lấy tiền cũng chính là hắn tự đánh giá mình Hắn nhỏ nhen,

một chút tình chớm dậy đã bị lụi tắt bởi tâm hồn trong trẻo của hắn ngại chạm đến tiền bạc, tình yêu sẽ không còn thi vị nữa hay là hắn tự nhận thấy mình không xứng đáng đối với

người con gái ngây thơ kia Đôi khi chỉ là một khoảng lặng trong lòng người (Điếu văn, Truy ện tình) Nhân vật "tôi" (Điếu văn) ngồi trầm ngâm nghĩ về cuộc đời của anh Phúc -

Trang 37

người bạn khố rách áo ôm thuở ấu thơ Anh thừa nhận cuộc sống khó khăn đã cuốn anh vào dòng chảy của nó, làm cho lòng anh như nguội lạnh, thờ ơ với người bạn xưa “Óc tôi chẳng

còn m ột phút nào được rảnh rang để nhớ đến những người bạn khổ sở thời thơ ấu .” [1,

tập 1, 437] Anh im lặng đứng xa dõi mắt theo cuộc đời của Phúc và ngay cả trong đám tang Phúc, anh cũng đứng xa nghiền ngẫm về nỗi đau của Phúc hay của những con người lao khổ

nói chung Anh đối diện với chính mình, để cho nước mắt chảy vào trong “Nhưng bây giờ,

khi m ọi người đã im rồi, tôi đóng kín cửa phòng, ngồi một mình trước bàn viết của tôi, bùi

ngùi đưa đám ma anh trong tâm tưởng.” [1, tập 1, 430] Hay Truyện tình là niềm ân hận

không về kịp trước cái chết của đứa em trai của cậu học trò vì những tình cảm chớm nở của

tuổi mới lớn Tuy chỉ là một cậu học trò nhỏ, Lưu đã nói dối rất trơn tru với mẹ về lý do không về nghỉ hè nhưng rồi lòng hắn chùn xuống “Nghĩ đến cái vẻ luyến tiếc trên đầu

nh ững ngón tay run run của mẹ tôi khi đưa cho tôi cái giấy bạc gấp làm tư, tiếng thở dài và

v ẻ mặt thẫn thờ của người khi bước ra về, và tưởng tượng đến những bước chân vương vương, đến cái bóng dáng lủi thủi của người đi bộ trên con đường dài tràn nắng bụi, tôi

th ấy lòng nặng trĩu và sầm tối lại.” [ 1, tập 1, 554] Những anh trí thức trẻ vừa bước vào

ngưỡng cửa cuộc đời, ôm ấp trong lòng một tình yêu trong trẻo, lãng mạn đầy chất thơ

một thực tế phũ phàng Hàn (Một chuyện Xuvơnia) những mong mối tình đầu của mình

như một cuốn tiểu thuyết thêm nhiều trang lãng mạn, phải có những mong đợi, éo le cho tình yêu thêm đẹp Ý định dẫn Tơ - người yêu của hắn bị ép duyên bỏ trốn tan biến ngay khi

hắn biết được Tơ đã bán đi chiếc khăn tay - kỷ vật mà hắn tặng Không phải tiếc chiếc khăn tay mà hắn nghĩ biết đâu Tơ đã bán nó để lấy tiền ăn quà Hắn cay đắng nhận ra một sự thật

“Chao ôi, thì ra nh ững cô gái quê rất đẹp, rất hiền, rất ngây thơ kia phần nhiều chỉ nghĩ

đến ăn.” [1, tập 1, 400] Còn Ngạn (Nhìn người ta sung sướng) thì sau khi gieo bao nhiêu

hy vọng, chờ đợi sự đáp lại tình yêu của Trinh, một cô gái mới, đã bị nàng cho đo ván Hắn chán nản và không tin trên đời này có một tình yêu đích thực "Tình yêu, cái tình yêu của

lo ài người hiện tại là một cái gì buồn mênh mông ”[1, tập 1, 409]

Cái đặc sắc và độc đáo của văn Nam Cao là ở chỗ ông không chỉ dừng lại thể hiện thế

giới tinh thần của những con người đã lăn lộn, từng trải với đời mà ông còn khắc họa đời

sống tinh thần của trẻ thơ rất thành công Đó là những đứa trẻ sớm nhận biết những vất vả,

lo toan của cha mẹ Ai cũng tưởng chúng chẳng biết gì Nhưng không, những tâm hồn như

tờ giấy trắng ấy lờ mờ cảm nhận được những khó khăn của cuộc sống đã gây nên những xào

Trang 38

xáo trong gia đình, chúng nén tiếng nức nở vào lòng khi bị cha mẹ gắt, mắng một cách vô

cớ Cái Hồng (Bài học quét nhà) mới năm tuổi đã biết giấu những giọt nước mắt xúc động

trước tình cảm của cha mẹ dành cho mình “Thật ra thì Hồng có ngủ đâu Nó nghe thấy tất

T ự nhiên nó thấy nước mắt ri rỉ chảy ra đầy má Nó không dám chùi sợ thầy nó biết.” [1,

tập 1, 680-681] Trong tác phẩm Nước mắt, dù còn rất nhỏ nhưng Hường đã biết buồn khi

cha mẹ mình to tiếng với nhau Hường tìm một góc khuất để khóc “Con bé còn nhỏ tuổi

nhưng rất hay khóc vụng; mỗi lần muốn khóc, nó lại tránh ra một chỗ, cố nén tiếng, không cho ai bi ết.” [1, tập 1, 666] Cái đói, cái nghèo của gia đình cứ lồ lộ ra, không che giấu được

nên những đứa trẻ sống trong hoàn cảnh ấy sớm nhận thức được điều đó, chúng càng

thương cha mẹ hơn Mới hơn mười tuổi mà Cường (Người thợ rèn) đã thấy nuốt không trôi

cơm trắng khi nghĩ đến cảnh đói gieo giắt của mẹ và các em “Bởi mỗi lúc được ăn cơm

tr ắng cá ngon, Cường không thể không nghĩ đến mẹ lúc ấy, có lẽ đang ngồi thui thủi trong

xó b ếp cố nuốt lấy mấy bát cháo cám có cái vị nhàn nhạt, ngai ngái mà hơi khé cổ, đến các

em rách rưới, nhếch nhác, đứa chốc, đứa lở, khóc nhè nhè suốt ngày vì đói cơm.” [1, tập 1,

699] Chuyện miếng cơm manh áo không chỉ là nỗi lo của người lớn, nó đã trỏ thành nỗi ám ánh cả với trẻ thơ

Như ở trên đã nói, quan niệm sáng tác của Nam Cao trước và sau Cách mạng tháng Tám khá nhất quán Mặc dù sau cách mạng, hoàn cảnh xã hội đã thay đổi, nhưng ngoài

những sáng tác nhằm phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, xây dựng xã

hội mới, ông cũng không ngại đưa ngòi bút của mình sục sạo, phiêu lưu vào thế giới tinh

thần của người trí thức Nếu trước kia nhân vật Thứ (Sống mòn) tự nhủ lòng mình “Tạng y

không cho y c ầm súng, cầm gươm Y sẽ cầm bút mà chiến đấu .” [1, tập 1, 190] thì lúc này

khi tham gia cách mạng, nhân vật “tôi” (Nhật ký ở rừng) không lúc nào không canh cánh

bên lòng nỗi khát khao viết được một tác phẩm lớn “Bây giờ đây, cuốn tiểu thuyết lớn,

không m ấy đêm tôi nghĩ đến, luôn mấy năm nay.” [1, tập 2, 447] Bên cạnh khát vọng được

viết đó, nhà văn đã không phủ nhận chất tiểu tư sản của người trí thức Cũng còn có nhà văn (Hoàng - Đôi mắt) chưa lột xác kịp, vẫn giữ thói quen sống như thời bình, vẫn ăn ngon,

mặc đẹp (ăn thịt gà, mía ướp hoa bưởi lùi, khoai lùi) và có những thú vui riêng (Đọc Tam

quốc chí), nhất là lòng tự phụ, nhìn đời bằng con mắt mỉa mai, phiến diện; có thái độ tôn thờ

chủ nghĩa cá nhân Có những lúc, tâm hồn người nghệ sĩ chưa rũ sạch được những cảm xúc lãng mạn khó gọi tên ra “Tôi thấy buồn nhơ nhớ, chẳng hiểu nhớ ai và buồn vì sao” [1, tập

2, 408] Chất nghệ sĩ ở người trí thức bị dồn nén lại, con người cố gắng thích nghi với hoàn

Trang 39

cảnh mới song đôi khi nó bùng cháy lên rất mãnh liệt “vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ

trong tôi vùng d ậy.” [1, tập 2, 447] Trải qua một quá trình đấu tranh quyết liệt với cái tôi

của chính mình đồng thời phải thực hiện trọng trách của người cách mạng, dần dần người trí

thức trong văn Nam Cao ý thức được rằng con người cần phải thay đổi để phục vụ cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc “Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi.” [1, tập 2, 454]

Ông phê phán gay gắt những anh trí thức mà cho đến tận lúc ấy vẫn để cho cái tôi bị ru ngủ

Tôi thương hại cho mấy bàn tay nam nhi tận đến lúc này mà vẫn chưa biết gì.”- Những

bàn tay đẹp ấy [1, tập 2, 478]

Hơn bất cứ giai tầng nào trong xã hội, và trong bất kỳ hoàn cảnh sống nào, thế giới tình của người trí thức luôn luôn có những dòng chảy phức tạp, đa dạng và phong phú Nam Cao đã phơi bày nó lên mặt giấy ở nhiều góc độ khác nhau Ông soi rọi vào mọi góc khuất,

mặt trái của tâm hồn con người một cách không ngẩn ngại Ông khám phá từ sự rung động đầu đời của những trái tim non trẻ học trò đến những khoảng lặng, một lát cắt, vết hằn, gấp khúc trong tâm hồn của người trí thức và hơn thế nữa ông kiếm tìm và thể hiện khả năng sáng tạo, khát vọng cháy bỏng của người nghệ sĩ Tuy không phải là tất cả nhưng hầu như ở

đa số sáng tác về người trí thức của Nam Cao đều thấp thoáng bóng dáng thế giới tinh thần

của con người Hiện thực đời sống xã hội ở bên ngoài chỉ là cái “phông”, cái “nền” để nhà văn khắc họa đời sống tinh thần con người trí thức Đó là một thế giới luôn luôn biến đổi và

có những dòng chảy không ngừng Dù khắc họa một khoảnh khắc bất kỳ nào đó của tâm

hồn con người (Cái chết của con mực, Giờ lột xác, Điếu văn, Cười .) hay thể hiện đời

sống tinh thần bên trong của cả cuộc đời một nhà văn, nhà giáo (Sống mòn, Đời thừa, Giăng sáng .) Nam Cao đều rất thành công Có thể nói ông là một bậc thầy trong việc

khám phá thế giới tinh thần của người trí thức của nền văn học Việt Nam trước 1945

1.2.2 Thế giới tinh thần của người nông dân

Xuất phát từ thực tế nước ta, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu nên người nông dân được

đi vào văn học rất sớm Trước cách mạng Tháng Tám, một lực lượng văn sĩ rất lớn đặc biệt quan tâm đến mảng đề tài người nông dân và đời sống nông thôn Trong đội ngũ sáng tác hùng hậu đó, không chỉ có các nhà văn hiện thực chủ nghĩa mà ngay cả các nhà văn lãng

mạn chủ nghĩa cũng hướng ngòi bút của mình vào đề tài này Mỗi trào lưu văn học có cách

tiếp cận và thể hiện người nông dân ở một góc độ khác nhau Và trong các trào lưu văn học khác nhau mỗi cây bút cũng khám phá, thể hiện hình tượng người nông dân khác nhau Các nhà văn lãng mạn chỉ nhìn thấy sự nhếch nhát, dốt nát, sự cam chịu đặc biệt là sự nông cạn

Trang 40

của tâm hồn người nông dân “Song tính vui cười hồn nhiên vẫn là tính căn bản của hạng

người làm việc bằng chân tay.”Nửa chừng xuân (Khái Hưng) [17, tập 2, 167] Bên cạnh

đó, hầu như đa số các nhà văn hiện thực thường thiên về miêu tả sự thực đời sống xã hội Con người phải luôn luôn đối mặt, đấu tranh với thiên tai, dịch họa và nổi bật nhất là sự áp

bức bóc lột của tầng lớp thống trị nửa phong kiến - thực dân Tất cả được thể hiện một cách sâu sắc trên những trang viết của Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng), Ngô Tất Tố

người nông dân, ông đưa ngòi bút xoáy sâu vào đời sống bên trong tâm hồn họ Đó là một

thế giới tưởng chừng như giản đơn song thật ra nó cũng chứa đầy những biến động, gấp khúc Thế giới tinh thần của người nông dân được nhà văn đưa ra ánh sáng với những dấu

ấn riêng Ông đặt đời sống bên trong của họ song song với cái hiện thực nghiệt ngã của đời

sống xã hội Trong điều kiện sống chật vật, cái đói luôn là nỗi ám ảnh, đe dọa đến sinh

mệnh mỗi con người dường như các nhân vật trong văn Nam Cao không chống chọi với sự

khắc nghiệt của thiên nhiên, không đấu tranh với sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị mà

họ quay về đối diện với chính mình Người nông dân rơi vào bi kịch bế tắc, cùng đường Đói rét và ốm đau đè nặng lên con người vật chất Trong những khoảnh khắc đó, con người bên trong họ thấm thía hơn bao giờ hết sự bất lực của mình Họ phải tìm đến cái chết để rũ

bớt gánh nặng cho vợ con Anh đĩ chuột (Nghèo) nằm im, lắng nghe và ngậm ngùi trước

cảnh vợ con phải ăn cám thay cơm Anh biết mình không thể gượng dậy được nữa, anh biết

sức của mình Anh thở dài ngao ngán đứng trên ngưỡng tuyệt vọng và lựa chọn cái chết một cách âm thầm “Nó (cái Gái) ra vườn, anh gượng ngồi dậy, xuống khỏi giường, mon men

ra đóng chặt cửa buồng lại Anh lấy cái thừng làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức tàn còn l ại, trèo lên ghế, hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy .” [1, tập 1, 58] Anh đã rỏ

những giọt nước mắt khóc thương cuối cùng “Rồi anh quả quyết, anh đứng thẳng người

lên, chui đầu vào tròng, cái thừng cứng cáp cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một

ti ếng.” [1, tập 1, 58], anh quả quyết rời khỏi cuộc đời khốn khổ Nhưng anh không được ra

đi với tâm trạng thanh thản vì đã bớt đi những lo toan vất vả cho vợ dại con thơ mà anh phải mang theo âm vang của tiếng gắt gỏng đòi nợ Anh chết trong nỗi thương xót và ấm ức

khôn cùng “A nh đĩ chuột rít hai hàm răng lại Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng

xu ống đất.” [1, tập 1, 58] Phải chăng, anh nghĩ về nỗi cơ cực của vợ con khi không còn

người làm trụ cột gia đình? Cũng đứng trước cái đói, sự túng quẩn, cạn kiệt cái ăn, lão Hạc

(Lão H ạc) đã chọn cái chết để giữ lại mảnh vườn cho con trai Trong tâm hồn người lão

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh - Lê Dục Tú (tuy ển chọn và giới thiệu), 2001, Thạch Lam về tác gia và tác ph ẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Lê Dục Tú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
4. M. Bakhtin, 1992, Lý lu ận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, giới thi ệu), Nxb Văn hóa thông tin thể thao - Trường viết văn Nguyễn Du - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu ận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin thể thao
Năm: 1992
5. M. Bakhtin, 1998, Thi pháp ti ểu thuyết Đôtxtôiepxki, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ti ểu thuyết Đôtxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Tân Chi (tuy ển chọn), 1999, Thạch Lam - văn và đời, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam - văn và đời
Tác giả: Tân Chi
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
7. Vũ Khắc Chương , 2000, Ngh ệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao, Nxb Văn h ọc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao
Tác giả: Vũ Khắc Chương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
10. Tr ần Xuân Đề , 2000, Tác gi ả, tác phẩm văn học Phương Đông Trung Quốc, Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả, tác phẩm văn học Phương Đông Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Umberto Eco, 2003, V ề một vài chức năng của văn học, Tạp chí văn học, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: V ề một vài chức năng của văn học
Tác giả: Umberto Eco
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2003
13. A.Ja Gurêvich, 1998, Các ph ạm trù văn hóa trung cổ, (Hoàng Ngọc Hiến dịch), Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ph ạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: A.Ja Gurêvich
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Nguy ễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình , 1995, Quan ni ệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1995
15. Lê Th ị Đức Hạnh (gi ới thiệu và tuyển chọn), 2000, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác ph ẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
20. Đỗ Đức Hiểu , 2000, Thi pháp hi ện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hi ện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
22. Lê Huy Hòa -Nguy ễn Văn Bình (ch ủ biên),1995, Những bậc thầy văn chương thế gi ới - tư tưởng và quan niệm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bậc thầy văn chương thế giới - tư tưởng và quan niệm
Tác giả: Lê Huy Hòa, Nguyễn Văn Bình
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
24. Mai Hương - Tôn Phương Lan (tuy ển chọn, giới thiệu), 2001, Ngô Tất Tố về tác gia và tác ph ẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Mai Hương, Tôn Phương Lan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
27. Phùng Ng ọc Kiếm,1998, Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 -1975, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 -1975
Tác giả: Phùng Ngọc Kiếm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
29. Milan Kundera, 2001, Ngh ệ thuật tiểu thuyết, (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Văn hóa thông tin, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết
Tác giả: Milan Kundera
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
30. Phong Lê , 1997, Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà N ội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỷ XX
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
31. Phong Lê , 2001, Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu, Nxb Đại h ọc Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
33. Phương Lựu , 2001, Lý lu ận phê bình văn học Phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lu ận phê bình văn học Phương Tây thế kỷ XX
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
34. Nguy ễn Đăng Mạnh (ch ủ biên), 1996, Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại mới trong văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
35. Nguy ễn Đăng Mạnh, 2000, Nhà văn Việt Nam hiện đại chân dung và phong cách, Nxb Tr ẻ, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại chân dung và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w