1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cải biên và định chuẩn trắc nghiệm tri giác của hans eysenck dành cho học sinh lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi tại tp hổ chí minh

148 1,7K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 13,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lý do trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã mạnh dạn cải biên và định chuẩn trắc nghiệm tri giác của Hans Eysenck dành cho học sinh từ 10 đến 15 tuổi nhằm mục đích giúp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

MÃ SỐ: CS 99 -08

Ch ủ trì đề tài: Đỗ HẠNH NGA Nhóm th ực hiện: Lý Minh Tiên

Lê Th ị Hân

Tr ần Thị Thu Mai

Hu ỳnh Lâm Anh Chương

TP.HỒ CHÍ MINH 2000-2002

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

MÃ SỐ: CS 99 - 08

Trang 5

5.1.So sánh các trung bình và độ lệch tiêu chuẩn tính trên tổng điểm bài

tr ắc nghiệm của mỗi khối lớp và kết quả kiểm nghiệm0T 61

Trang 6

6.1.So sánh các trung bình và độ lệch tiêu chuẩn tính trên tổng điểm bài

tr ắc nghiệm của mỗi khối lớp và kết quả kiểm nghiệm0T 64

7.1.2.So sánh các trung bình và độ lệch tiêu chuẩn tính trên tổng điểm của các tiểu nghiệm của mỗi giới tính và kết quả kiểm nghiệm ở TN tri giác 10T 74

0T

7.2 Bài tr ắc nghiệm tri giác 2:0T 75

0T

7.2.1 Kết quả tổng hợp:0T 750T

7.2.2 So sánh các trung bình và độ lệch tiêu chuẩn tính trên tổng điểm của các tiểu nghiệm của mỗi giới tính và kết quả kiểm nghiệm ở trắc nghiệm tri

Trang 7

8.1.2 So sánh các trung bình và độ lệch tiêu chuẩn tính trên tổng điểm của các tiểu nghiệm của mỗi nhóm trường và kết quả kiểm nghiệm0T 77

Trang 8

PH ẦN I: MỞ ĐẦU

Trong tâm lý học, tri giác được coi là "cơ sở" hạ tầng để thúc đẩy sự phát triển

của quá trình nhận thức lý tính Tri giác có vai trò to lớn trong việc định hướng cho con người ở mọi lĩnh vực hoạt động Đặc biệt trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, vấn đề con người ngày càng được đưa lên hàng đầu và trở thành một trong những lĩnh vực chủ yếu của khoa học, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật Trong vô số những vấn

đề về con người, vấn đề "nghiên cứu sự phát triển tri giác" con người là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi việc giáo dục và chăm sóc trẻ em, thế hệ trẻ tương lai của đất nước, là quốc sách hàng đầu Vì vậy việc hình thành và phát triển

khả năng tri giác của học sinh trong nhà trường phổ thông là một trong các nhiệm vụ giáo dục quan trọng trong nội dung giáo dục trí tuệ cho học sinh ở trường phổ thông Các công trình nghiên cứu tâm lý học trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng tri giác của

trẻ em được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong suốt thời kỳ ấu thơ Trẻ em ở lứa

tuổi mầm non (từ 0 đến 6 tuổi) đã hình thành và phát triển các loại tri giác khác nhau (tri giác nhìn, tri giác thính giác, tri giác xúc giác, tri giác khứu giác, tri giác không gian, tri giác thời gian, tri giác vận động) mà cốt lõi của nó là lĩnh hội các hành động tri giác Đến lứa tuổi tiểu học và học sinh thiếu niên, khả năng tri giác của các em ngày càng phát triển và dần dần đi đến chỗ hoàn thiện và gần với khả năng tri giác của người lớn Tuy nhiên, thực trạng khả năng tri giác của học sinh Việt Nam ở lứa tuổi từ

10 đến 15 là như thế nào? Làm sao các nhà giáo dục có thể biết được thực trạng tri giác của học sinh để có thể điều khiển quá trình lĩnh hội các biểu tượng của thế giới xung quanh ở học sinh một cách có hiệu quả? Tất eả những câu hỏi này cần được đưa

ra để nghiên cứu một cách khoa học để làm cơ sở cho việc cải tiến nội dung phương pháp và biện pháp giáo dục trí tuệ cho học sinh phổ thông

Trong các tài liệu tâm lý học, tri giác được coi là một trong các chỉ số quan trọng

Trang 9

để đánh giá sự phát triển quá trình nhận thức trong sự phát triển trí tuệ của trẻ Vì vậy nghiên cứu tri giác của học sinh cũng có nghĩa là nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh ở lĩnh vực trắc nghiệm tâm lý, ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX, các nhà tâm lý học khi nghiên cứu về trí thông minh đã coi úi giác là một những yếu tố

cấu thành nên trí thông minh của con người Những yếu tố về năng lực tri giác đầu tiên được thể hiện trong trắc nghiệm trí thông minh của Binet và Simon năm 1905 Cùng thời gian này còn có nghiên cứu rất có ý nghĩa của Spearman (1904), người đã đưa ra phương pháp phân tích yếu tố, đó là tiêu chuẩn giải thích biến số trong ma trận tương quan Từ đó spearman cho rằng tất cả các khả năng của con người có thể được

giải thích bằng thuật ngữ g Chuyên ngành trắc nghiệm tâm ly kể từ thời điểm có trắc nghiệm trí tuệ đầu tiên của Binet và Siraon đến nay đã gần một thế kỷ, các nhà tâm lý

học trên thế giới đã cho ra đời biết bao nhiêu loại trắc nghiệm và đã được ứng dụng

rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống con người Trắc nghiệm tâm lý dùng để hướng nghiệp cho chính xác, để xác định chỉ số thông minh IQ của học sinh, để giúp các nhà giáo dục cải tiến phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tương học sinh, Sự ứng dụng rộng rãi của trắc nghiệm tâm lý, trong đó có trắc nghiệm trí tuệ, trên thế giới

cũng nói lên một điều là trắc nghiệm tâm lý thực sự là một ngành khoa học và đã

chứng tỏ tính ưu việt của nó cho việc đánh giá khả năng trí tuệ và năng lực của con người

Ở Việt Nam chúng ta, trắc nghiệm tâm lý, trong đó có trắc nghiệm tri giác dường như vẫn còn xa lạ đối với nhiều người và vẫn còn ít được nghiên cứu và ứng dụng Chính vì những lý do trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã mạnh dạn cải biên và định chuẩn trắc nghiệm tri giác của Hans Eysenck dành cho học sinh từ 10 đến 15 tuổi

nhằm mục đích giúp cho các nhà giáo dục, các nhà nghiên cứu có được một công cụ

đo lường trí tuệ trên đối tượng học sinh của mình

Trang 10

nghiệm và thành lập một bảng định chuẩn trắc nghiệm tri giác cho học sinh từ 10 đến

15 tuổi

1)Bài trắc nghiệm tri giác này có bảo đảm những thông số kỹ thuật của một trắc nghiệm như tính giá trị, độ khó, trung bình điểm số cho học sinh lứa tuổi từ 10 đến 15

tuổi và trình độ tri giác của học sinh Việt Nam có phù hợp với trình độ tri giác chung

của trẻ em các nước khác hay không

2)Có sự khác biệt về độ khó và độ phân cách của các câu trắc nghiệm trong bài

Từ mục đích nghiên cứu, ta có thể đưa ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau: 1)Cải biên lại trắc nghiệm tri giác của Hans Eysenck xem có phù hợp hay không

với hoàn cảnh văn hóa, xã hội của Việt Nam và phù hợp trình độ tri giác của học sinh

Trang 11

giữa trường bán công và trường công lập

6)Thành lập một bảng định chuẩn trắc nghiệm tri giác cho học sinh từ lớp 5 đến

lớp 9 dựa trên toàn mẫu, theo các thông số giới tính và cấp học

1)Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố cấu thành khả năng úi giác theo trắc nghiệm tri giác của Hans Eysenck đã được dịch thuật, cải biên

6.GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở học sinh lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi ở các trường Tiểu

học và PTTHCS tại nội thành TP.HỒ Chí Minh

Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong nghiên cứu là:

1)Phương pháp tham khảo tài liệu: đọc những tài liệu trong nước và ngoài nước

có liên quan đến trắc nghiệm tri giác và trắc nghiệm trí thông minh nói chung

2)Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến những chuyên gia về trắc nghiệm và

thống kê về cách chấm điểm trắc nghiệm và cách xử lý số liệu thống kê

3)Phương pháp toán thông kê:

- Phương pháp tính hệ số tin cậy của Kuder Richardson

- Phương pháp phân tích yếu tố (Factor Analysis)

- Phương pháp tính độ phân cách

- Phương pháp dùng kiểm nghiệm t (t-test)

- Một số phương pháp khác

Trang 12

PH ẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU

I) L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Tri giác các vật thể và hiện tượng của thế giới vật chất, các thuộc tính và những quan hệ của chúng chiếm một trong những vị trí trọng tâm nhất trong hoạt động tâm

lý của con người [20] Tri giác tạo nên cơ sở định hướng của con người trong hiện

thực xung quanh, nó cho phép con người tổ chức hoạt động, hành vi phù hợp với các thuộc tính và các mối quan hệ khách quan của vật thể Trong quá trình hành động con người tiếp nhận đồng thời những hành động của chính bản thân mình và cả kết quả

của những hành động đó hơn là đảm bảo mối quan hệ ngược Chính mối quan hệ ngược này điều chỉnh sự diễn ra quá trình đó và đồng thời tri giác thực hiện các chức năng định hướng và điều chỉnh hành vi Một số loại tri giác có ý nghĩa đặc biệt đối với

việc thực hiện một hoạt động nhất định, do đó nghiên cứu tri giác có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn to lớn Việc nghiên cứu tri giác đã góp phần soạn thảo và hoàn thiện một

số vấn đề cơ bản về nhận thức luận và lô- gích luận, bởi vì nhận thức cảm tính trực

tiếp về sự vật, hiện tượng xung quanh là nền tảng cần thiết của biểu tượng và khái

niệm về hiện thực khách quan Đồng thời những công trình nghiên cứu đã góp phần

giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn như: nhiệm vụ giáo dục cảm xúc, nội khoa, nhiệm

vụ điều chỉnh bù trừ các loại khuyết tật của các bộ máy phân tích, xây dựng mô hình thông tin tối ưu cho hệ thống tự động hóa, chế tạo những người máy nhạy cảm biết

Trang 13

được phát triển và thay đổi về chất Tuy nhiên ở tuổi mẫu giáo tri giác của trẻ vẫn còn tính duy cảm Sự phát triển tri giác của trẻ chủ yếu phụ thuộc vào sự phát triển các hành động tri giác, vào kinh nghiệm sống và vào cách thức mà trẻ lĩnh hội các hình ảnh biểu tượng đầu tiên về sự vật và hiện tượng xung quanh Sang tuổi tiền thiếu niên

và thiếu niên, tri giác của trẻ đã có những thay đổi đáng kể và về cơ bản tri giác của

trẻ đã gần giống với tri giác của người lớn

Các công trình nghiên cứu về tri giác trẻ em đã đúc rút nhiều câu trả lời khác nhau về sự phát triển tri giác nói chung, trong đó có tri giác nhìn và úi giác thính giác Chúng tôi điểm qua một số kết quả nghiên cứu chính sau đây về tri giác

1- Nghiên c ứu tri giác trong tâm lý học ở phương Tây:

chất riêng biệt của tri giác là ở chỗ nó cho thấy rõ mặt tượng hình của nhận thức về cái

hiện thực, còn hành động nói chung (và đây là hành động cảm giác-vận động) về căn

bản có tính thao tác và làm biến đổi cái hiện thực Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu

do đó phải xác định vai trò của tri giác trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em, đặt trong

mối quan hệ với vai trò của hành động và của các thao tác bắt nguồn từ hành động trong tiến trình nhập tâm và cấu trúc sau này

- Thuyết tâm lý học GESTALT (GESTALT- tiếng Đức có nghĩa là một cấu trúc,

một hình thái tổng thể) [12] mà đại diện là các nhà tâm lý học như V.Kelera, K.Koffa, M.Vertđeimela cho rằng, tri giác không phải do những cảm giác đơn thể kết nhau lại,

mà ngay từ đầu, mỗi tri giác cũng như mọi hiện tượng tâm lý, đều là những tổng thể

với cấu trúc nhất định, đó là những hình thái gốc, cảm giác chỉ là khái niệm do tư duy

Trang 14

trừu tượng tạo ra sau khi phân tích những cấu trúc ấy

-Thuyết chức năng [12] Maurige Peuchlin coi tri giác là một cơ chế điều chỉnh

chủ yếu hoạt động thích nghi Vật được tri giác là một kiến tạo, một tập hợp những thông tin chọn lọc và câu trúc hóa tùy theo kinh nghiệm trước, nhu cầu, ý đồ của cơ

thể tham gia tích cực vào một tình huống nào đó

2- Nghiên c ứu tri giác trong tâm lý học Liên Xô:

- Nhà tâm lý học Liên Xô L.X.Vưgốtxki [7] xuất phát từ quan điểm hệ thống, trong các công trình nghiên cứu cho rằng:

Những cấu trúc cảm xúc là sản phẩm của sự phát triển Những cấu trúc này nằm trong nhân của mối quan hệ trung gian trong não và được hình thành trong suốt thời

kỳ phát triển của cá thể dưới ảnh hưởng của giao tiếp ngôn ngữ với mọi người xung quanh và sự tiếp thu kinh nghiệm xã hội của từng con người

Theo ông những thay đổi cơ bản trong sự phát triển tri giác xuất hiện liên quan

với việc hủy bỏ hệ thống tâm lý mới Trong thời gian đầu của sự phát triển con người tri giác gắn liền với vận động và các quá trình xúc cảm Trong quá trình phát triển của

trẻ những liên hệ cảm xúc đầu tiên của những quá trình cảm xúc với xúc cảm mạnh và

với vận động bị phá vỡ và thay thế vào đó bằng sự hình thành các mối liên hệ trung gian mới giữa tri giác và trí nhớ Trong quá trình tri giác hiện tại những sửa đổi dựa trên cơ sở kinh nghiệm cũ và dựa trên những hình ảnh đã được hình thành Và kết quả đạt được là xuất hiện thuộc tính quan trọng của tri giác phát triển như tính ổn định, tính không đổi tương đối của kích thước, hình dáng của các vật được tri giác ở mức

độ phát triển cao bắt đầu có sự tiếp cận của tri giác với tư duy ngôn ngữ, xuất hiện

những quá trình tri giác trí tuệ, tạo nên hệ thống tâm lý mới Hệ thống này liên kết tri giác và tư duy thành mội khôi thống nhất, thành quá trình'tri giác lý trí và khái quát ở

tuổi mầm non tri giác có liên quan chặt chẽ với tư duy cụ thể, còn ở tuổi đầu thiếu niên và thiếu niên tri giác bắt đầu có mối liên quan với tư duy trừu tương

Học thuyết của L.X.Vưgốtxki về cấu trúc hệ thống tri giác và sự thay đổi liên tục

cấu trúc trong tâm lý người có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu các vấn đề về nguồn gốc và cấu trúc của các quá trình tâm lý Theo ý kiến của ông, những đặc điểm

Trang 15

tri giác của con người xuất hiện trong sự thay đổi thành phần và tính chất bên trong

của chính nó và từ chính nó bắt đầu hoạt động trong hệ thống các chức năng khác [5] Nhà tâm lý học A.N Lêôntiev trong các công trình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm xuất phát từ quan điểm lịch sử nghiên cứu sự phát triển tâm lý đã khẳng định vai trò ý nghĩa của việc nắm vững kinh nghiệm lịch sử xã hội trong việc phát triển tâm

lý con người nói chung và trong việc phát triển các quá trình tri giác nói riêng Quá trình tiếp thu kinh nghiệm của trẻ phức tạp và

kéo dài suốt cả thời kỳ tuổi nhà trẻ mẫu giáo và lên đến tuổi thiếu niên L.A.Vengher và H.P.Xakuline cho thấy tốc độ và tính chất của quá trình trên được thay đổi cơ bản khi nhà giáo dục thực hiện các phương pháp mới về giáo dục cảm xúc

- Các nhà tâm lý học A.N.Lêontiev, X.L.Rubinstein và cộng sự xuất phát từ luận điểm về vai trò hoạt động trong sự phát triển tâm lý của chủ thể khi nghiên cứu về bản

chất, nguồn gốc, chức năng của quá trinh cảm xúc Luận điểm này có ỷ nghĩa quyết định trong việc nghiên cứu sự hình thành tri giác của con người

- Luận điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô A.N Lêontiev, V.G.Ananhiev cho rằng quá trình tri giác gắn liền với các dạng hoạt động và phát triển cùng với các

hoạt động đó Các hoạt động đó mang tính tích cực và trở thành những hành động

khảo sát- định hướng Luận điểm này dựa trên cơ sở của quan điểm phản xạ của LM.Xêtrênốp và LP.Pavlôv về các quá trình cảm xúc và dựa trên những tư liệu nghiên

cứu quá trình hình thành tri giác của con người

- Nghiên cứu về tri giác nhìn vật thể ở các góc độ cho thấy có hai hướng sau

đây: [4]

Hướng thứ nhất: đó là hướng đặc biệt dị thường Hướng nghiên cứu này xuất

phát từ các cảm xúc chủ quan của con người, những người nghiên cứu theo hướng này cho rằng: những cảm xúc chủ quan của con người là cái đã có sẩn sơ nguyên ban đầu

Hướng thứ hai: xuất phát từ những điều kiện khách quan của hoạt động vật chất

của chủ thể trong nghiên cứu tính chất của tri giác nhìn vật thể, cho rằng: trong quá trình hoạt động vật chất, sự phản ánh tương ứng hiện thực xung quanh được hình thành Sự phản ánh đó là điều kiện cần thiết để thích ứng với hoạt động vật chất và là

Trang 16

sự thay đổi hợp lý của hoạt động Nghĩa là quan điểm này cho rằng không có hoạt động của con người thì không có phản ánh Đây là cách tiếp cận biện chứng trong việc nghiên cứu vấn đề tri giác và nó mở ra con đường để nghiên cứu một cách khoa học

về tri giác và cho phép các nhà tâm lý học dựa trên học thuyết về phản xạ của I.M.Xêtsênốp và I.P.Pavlốp nói chung và học thuyết về học thuyết về phản xạ định hướng nói riêng Học thuyết về phản xạ định hướng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích các kích thích được tiếp nhận từ bên ngoài bằng những vận động định hướng của các cơ quan nhận cảm

A.V.Zaporogiét, L.A.Vengher, V.P.Zinchencô, A.G.Ruzkaia nghiên cứu vấn đề tri giác và hành động theo quan điểm di truyền học, nghiên cứu sự hình thành và phát triển các quá trình nhận cảm giác khác nhau ở các giai đoạn phát triển cá thể khác nhau Vấn đề trên được họ xem xét trên hai phương diện sau:

Phương diện thứ nhất: Xác định sự phụ thuộc của tri giác vào tính chất hoạt

động của chủ thể, trước hết phụ thuộc vào tính chất hoạt động thực hành, hoạt động

vật chất với các vật được nhận cảm

Phương diện thứ hai: Nghiến cứu quá trình tri giác như là hành động định

hướng-nghiên cứu Hành động định hướng này thực hiện chức năng khảo sát đối tượng và tạo nên hình ảnh của đôi tượng Nhờ hình ảnh đó mà chủ thể thực hiện điều khiển hành vi của mình

Những nghiên cứu của các nhà tâm lý Liên Xô là: nghiên cứu nguồn gốc các

dạng hành động tri giác dựa trên cơ sở hành động thực tiễn, vai trò vận động của các

cơ quan nhận cảm trong việc hình thành hình ảnh (hình tượng) của vật, vai trò của

việc lĩnh hội kinh nghiệm xã hội trong sự phát triển cảm xúc của cá nhân và nghiên

cứu các quy luật chuyển tiếp từ hành động vật chất sang hành động tinh thần

Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học T.o Ginhepxkaia, B.p Zintrencô, A.G.Ruxkaia về sự hình thành các hành động tri giác trong quá trình phát triển xúc giác, nghiên cứu về tri giác nhìn của Z.M.Bôguxlápxkaia, L.A.Vengher, V.P.Zitrencô, M.LLixina, A.G.Ruxkaia và các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã

chứng minh rằng: trẻ em sinh ra cùng với một loạt những phản ứng định hướng

Những phản ứng này biểu hiện ra bên ngoài trong các vận động của các cơ quan nhận

Trang 17

cảm Trong những tháng tuổi đầu tiên của trẻ định hướng tích cực đạt được ở mức độ khá cao (M.LLixina) Những phản ứng định hướng trên là tiền đề, cơ sở để hình thành

những hành động định hướng sau này Việc chuyển những phản ứng định hướng thành những hành động định hướng- khảo sát-đó là một quá trình lâu dài và phức tạp được thực hiện suốt trong thời thơ ấu của trẻ em

Tóm lại: Nghiên cứu sự phát triển tri giác, trong đó có tri giác nhìn và tri giác thính giác trong tâm lý học Liên Xô có hai hướng Đó là nghiên cứu tri giác theo quan điểm hệ thống cấu trúc của quá trình tri giác và nghiên cứu úi giác theo quan điểm xem tri giác như hành động

3- Nghiên c ứu tri giác trong tâm lý học Việt Nam:

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu sự phát triển tri giác của trẻ em

phổ thông đã chỉ ra một chiến lược mới trong giáo dục trí tuệ Trong việc nghiên cứu

về tri giác nói chung và tri giác của tuổi thiếu niên nói riêng có nhiều đóng góp có ý nghĩa cho việc xây dựng lý luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá sự phát triển trí

tuệ của các nhà tâm lý học như phó giáo sư Ngô Công Hoàn và những người khác Ngoài ra còn có một số tác giả khác cũng nghiên cứu đặc điểm tri giác của lứa

tuổi từ 10 đến 15 tuổi như: tác giả Dương Diệu Hoa, Bùi Thị Ngọc Dung Nghiên

cứu đặc điển úi giác của trẻ mẫu giáo ở Việt Nam trong luận văn phó tiến sĩ Lê Thanh

Thủy đã đi sâu tìm hiểu ảnh hưởng của tri giác đối với sự phát triển tưởng tượng cho

trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình, chủ yếu qua các giờ học vẽ Mặc dù

vậy, vấn đề nghiên cứu tri giác nói chung và đánh giá mức độ biểu hiện một số đặc điểm tri giác nhìn và thính giác ở học sinh từ 10 đến 15 tuổi và thực trạng khả năng tri giác của học sinh còn ít được đề cập đến

Trong lĩnh vực trắc nghiệm tâm lý, năm 1995 nhóm các nhà nghiên cứu tâm lý

học thuộc Viện Nghiên cứu giáo dục và đào tạo phía nam đã thực hiện đề tài: "Trắc nghiệm chẩn đoán năng lực trí tuệ của trẻ em Việt Nam chuẩn bị vào lớp một" Nhóm tác giả: Quang Dương, Nguyễn Hữu Chùy, Mai Ngọc Luông và Trương Công Thanh

đã xây dựng nên một bộ trắc nghiệm gọi là "test trí năng 1" nhằm mục đích giúp các nhà giáo dục và cha mẹ học sinh có một bộ công cụ chính xác để đo lường năng lực

nhận thức của trẻ trước khi vào lớp 1 Trong đó, tri giác thời gian, không gian, và tri

Trang 18

giác so sánh đã được nhóm tác giả đưa vào như những yếu tố chính nhằm đo lường năng lực nhận thức của trẻ mẫu giáo

Một số dịch giả Việt Nam như Ngô Công Hoàn [ 8]đã có những cố gắng trong

việc dịch những trắc nhgiệm trí tuệ của nước ngoài như: Trắc nghiệm trí tuệ của Wechsler, trắc nghiệm "Trí tuệ đa dạng" (của Gille), trắc nghiệm Wisc, trắc nghiệm Wais, nhiùig tất cả những trắc nghiệm này mới chỉ dừng lại ở mức độ dịch thuật mà chưa có những nghiên cứu công phu để cải biên và định chuẩn cho phù hợp với hoàn

cảnh kinh tế và văn hóa của học sinh Việt Nam Chính vì vậy tính ứng dụng của

những trắc nghiệm này ở trẻ em Việt Nam vẫn còn hạn chế

II C Ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1- M ột số vấn đề về tri giác:

1.1 Vai trò c ủa tri giác trong đời sống con người:

Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở người trưởng thành Tri giác giữ vai trò quan trọng trong sự tác động qua lại của người với môi trường xung quanh và nó là điều kiện cần thiết để con người định hướng trong môi trường [14] Tri giác giúp con người điều chỉnh một cách hợp lý hoác động của mình trong thế giới và phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa Hình ảnh tri giác (hình tượng) thực hiện chức năng là vật điều chỉnh các hành động [11]

Tri giác có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh Chỉ

có trên cơ sở cảm giác và tri giác mới nảy sinh được các quá trình tâm lý phức tạp như: trí nhớ, tư duy, tưởng tượng Tri giác phát triển ở mức độ cao trở thành khả năng quan sát Quan sát giữ vai trò to lớn trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động

của con người: trong nông nghiệp, trong sản xuất công nghiệp, trong nghiên cứu khoa

học, nhà giáo dục rất cần khả năng quan sát Không chú ý quan sát hàng ngày không

thể có một hiểu biết sâu sắc nào về đặc điểm tâm lý trẻ và không thể định ra những con đường giáo dục đúng đắn Do những điều kiện xã hội, chủ yếu là lao động quan sát đã trở thành một mặt tương hỗ độc lập của hoạt động và trở thành một phương pháp nghiên cứu quan trọng của khoa học, cũng như nhận thức thực tiễn [15]

Đặc biệt trong đời sống tâm lý của trẻ em thiếu niên: tri giác nhìn và thính giác

Trang 19

có ý nghĩa hết sức to lớn không chỉ giúp thiếu niên thích nghi nhanh chóng với các quan hệ người, công việc, mà còn từng bước chuẩn bị cho thiếu niên có một cuộc sống

tự lập sau này Lứa tuổi thiếu niên tuy đã biết nhận thức thế giới thông qua các quá trình nhận thức khác như tư duy và tưởng tương, nhưng năng lực quan sát và khả năng tri giác chính xác sự vật hiện tượng là những yếu tố không thể thiếu được ở lứa tuổi này Chính vì vậy việc phát triển tri giác có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển chung của tâm lý trẻ em Không có tri giác không thể hình thành được trí nhớ, tư duy, tưởng tượng của trẻ em

Tri giác có vai trò to lớn trong hoạt động của con người Vậy tri giác là gì? Sự phát triển của nó như thế nào? Dưới đây chúng ta xem xét một số vấn đề sau:

1.2-Khái ni ệm về tri giác

Trong cuộc sống hàng ngày não bộ của con người phản ánh sự thật khách quan

với toàn bộ các thuộc tính của chúng một cách trọn vẹn Sự phản ánh đối tượng một cách ừọn vẹn và trực tiếp đó gọi là tri giác

Tâm lý học hiện đại cho rằng, xem xét tri giác không phải như một quá trình ghi

dấu vết cùng một lúc của đối tượng mà con người tri giác ở võng mạc của mắt hay ở

vỏ não của nó

Các nhà tâm lý học trong nước và ngoài nước đã đưa ra nhiều khái niệm về tri giác [17] nhưng ở góc độ nào cũng có chung một điểm: coi tri giác là quá trình tâm lý

phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực

tiếp tác động vào giác quan dưới hình thức hình tượng

Tri giác nhìn và thính giác là sự phối hợp hoạt động làm việc của nhiều cơ quan phân tích và là kết hợp nhiều loại cảm giác hoạt động nhưng không phải là sự cộng lại

của các cảm giác Vì vậy khi đánh giá tri giác nhìn và thính giác ở mức nhận thức cảm tính cao nhất của con người, thường người ta đi vào đánh giá những thuộc tính quan

trọng nhất của nó đó là tri giác hình dạng, độ lớn nhỏ, mã hóa các chữ cái, ký hiệu, vị trí của vật thể trong tương quan với những vật thể khác được quan sát,

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan tới tri giác nhìn và thính giác các ký hiệu, chữ số, ngôn ngữ và âm thanh Đó là

Trang 20

những đối tượng để tri giác mà Hans Eysenck đã đưa vào trắc nghiệm tri giác dành cho lứa tuổi lừ 10 đến 15 của ông

Nhà tâm lý học Bơgôxlápski cho rằng: tất cả các sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh đều tồn tại trong không gian và thời gian Tri giác phản ánh các mối quan

hệ không gian và thời gian tồn tại khách quan trong thế giới xung quanh [2]

1.3- M ột số quan điểm về sự hình thành và phát triển tri giác

Trong suốt quá trình tồn tại khoa học tâm lý học (ngay cả khi tâm lý học là bộ

phận của triết học) cho thấy: tri giác là đối tượng của nhiều cuộc tranh luận và nghiên

cứu Sự tập trung chú ý đến loại hoạt động tâm lý đó được giải thích bởi ý nghĩa hàng đầu nhất của tri giác đối với hành vi của con người và động vật và cũng như tầm quan

trọng của việc nghiên cứu nó theo quan điểm triết học [19] vấn đề tri giác không gian thường được nhắc tới luôn trong khoa học và trong đời sống hàng ngày, nhưng là một

vấn đề phức tạp và chưa được làm sáng tỏ

Có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm xuất hiện tri giác ở trẻ, cũng như

nội dung tri giác hiểu như thế nào? Tri giác bắt đầu xuất hiện từ mối quan hệ nào? Sau đây là một số quan điểm khác nhau:

Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây:

-Quan điểm của nhà tâm lý học Mỹ Spitz [10]:

Spitz cho rằng tri giác bắt đầu ở "cái khoang nguyên thủy" là nơi xuất hiện cái

mà Glover gọi là "hạt nhân bản ngã" Để xuất hiện trí giác ở trẻ, phải phối hợp làm

việc của nhiều cơ quan thụ cảm đồng thời trong một điểm như xúc giác, vị giác, khứu giác và thị giác Trong tri giác, vốn khái niệm này đã bao hàm von sống kinh nghiệm

cá nhân, do vậy phải tập luyện nhiều lần mới có

Tri giác "gần" xuất hiện trước tri giác "xa"; Như thế có nghĩa là những tri giác

xuất hiện gắn liền với các cảm giác xuất hiện từ xúc giác, khứu giác và vị giác, cảm giác bản thân (thân thể), còn úi giác do vận động của mắt, tai xuất hiện muộn hơn trong quá tình phát triển cá thể Tri giác "gần" là tiền đề, là cơ sở để tri giác "xa'* hình thành và phát triển

- Nhà tâm sinh lý học Marige Peuchlin [12] trong việc nghiên cứu tâm sinh ly

Trang 21

nhìn đánh giá về tri giác không gian như sau: Trong số các cơ chế tri giác quan trọng

nhất để thích nghi có thể xếp các cơ chế tri giác không gian vào đó chúng ta định vị các vật, tác động lên, kiểm soát vận động và di chuyển của ta

- Nhà tâm lý học Thụy Sĩ J Piaget (1896-1980): Khi nghiến cứu những đứa con

của mình, ông đã nghiên cứu cụ thể sự phát triển ở trẻ em các cơ chế cho phép kiểm soát những hành động trong không gian và hình dung những quan hệ không gian Kết

quả nghiên cứu của J.Piaget đưa tới sự phân biệt một không gian hành động được tạo nên lúc trẻ 18 tháng và một không gian biểu tượng từ tuổi này trở đi Từ 18 tháng trở

đi, trẻ dần dần có khả năng hành động "nhập tâm" liên quan đến những vật không có

mặt, nhưng trẻ đã có thể tưởng tượng Đạt được không gian biểu tượng như thế là gắn

liền với xuất hiện chức năng tín hiệu chung, khả năng gợi lên các vật, các tình huống không hiện hữu bằng cách dùng những dấu hiệu và tượng trưng

Trong tiến trình tạo nên không gian hành động, bản chất của các quan hệ không gian của trẻ tiến triển Mới đầu quan hệ thuần túy định tính: quan hệ gần nhau, cách

xa, thứ tự, bao quanh, liên tục Nó đòi hỏi một hình học chỉ sử dụng các thuộc tính: đó

là TÔPÔ học Vì thế, có thể nói trước hết không gian của trẻ là không gian TÔPÔ học

Rồi trẻ có khả năng nhận biết hình của mọi vật là các hình chiếu hình học, có nghĩa là

những thao tác để làm tương ứng một điểm không gian với một điểm nhất định trên

một đường thẳng hoặc một điện Ở giai đoạn này ta nói không gian của trẻ là không gian hình chiếu Đồng thời trẻ cũng có khả năng dùng quan hệ đo lường, biết các cạnh

hoặc các góc của hình bằng nhau, biết kích thước hằng định của một vật thể để ra xa Lúc này không gian của trẻ không chỉ là hình chiếu mà còn euclide (hình học) Theo IPiagét việc tiến từ không gian TÔPÔ học sang một không gian hình chiếu và euclide

là nhờ vận động của chủ thể Không gian biểu tượng mới đầu cũng là TÔPÔ học (khoảng đến 7 tuổi),về sau mới hình chiếu và euclide theo một cơ chế

Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô viết

- Các nhà tâm lý học A.V.Zaporogiet, M.L.Lixina, A.A.Liublinxkaia, L.A.Vengher ,P.IA.Galperin, X.L.Sabalin, O.LZintrenco v.v cho rằng:

Sau 3 tháng tuổi trẻ theo dõi đồ chơi mới, trong cùng một hành vi phản ứng đã

có nhiều cơ quan thụ cảm phối hỢphoạt động Phản ứng thị giác nhanh chóng có

Trang 22

cường độ mạnh, tiếp theo vận động của đôi tay Đôi mắt thực hiện chức năng nhận

thức đồ vật, đôi tay dùng để cầm nắm giữ và đưa vật vào miệng Sau 6 tháng tuổi, trẻ

có thể phân biệt được các đối tượng tri giác như mẹ, bà, bố, anh, chị, người lạ 7 đến 9 tháng tuổi với tay nắm bắt chính xác các đồ chơi có màu sắc rực rỡ, trẻ đã phối hợp được hoạt động của mắt, tai và cơ giác vận động vào một đối tượng quen thuộc Tri giác của trẻ 7-9 tháng tuổi mang đặc điểm: Tình huống, hoàn cảnh, chưa phân định

một cách rõ ràng với những chi tiết phụ, mang tính chất chung chung.[Ì5] Nhận thức

đồ vật ở các tháng tuổi này chủ yếu là tri giác bằng sự vận động đôi mắt, tai vàchủ yếu

là đôi tay

Một số đặc trưng tri giác của trẻ 3 tuổi theo G.L.Rodengar-Pupko, N.Khsvatrkin, K.L Iacubovxkaia như sau: Đến 3 tuổi từ tri giác màu sắc đến hình thể, đồ vật quen thuộc, đối với những đồ vật lạ trẻ dễ tri giác nhầm

lẫn,nếu hướng dẫn trẻ, trẻ phân biệt được Lên 3 tuổi: trẻ có thể phân biệt và gọi tên được các vật trong bức tranh có chủ đề đơn giản VD: Bé cho gà ăn

Tri giác không gian xuất hiện muộn, chỉ khi nào trẻ biết đi thì tri giác không gian

mới có điều kiện phát triển Mặc dù 7-8 tháng tuổi trẻ đã bắt đầu nhận biết sơ đồ thân

thể, nhưng đến 6-10 tuổi mới đạt mức độ hoàn thiện

Các tác giả A.N.Leontiev, A.V.Zaporogiét, L.A.Venger, V.P.Zinchencô, M.LLixina cho rằng quá trình thụ cảm như là hành động định hướng, nó được phát triển trong chính hành động của hành vi thụ cảm Nếu trẻ ở mẫu giáo bé tri giác vật

thể bằng sự cử động của các cơ quan thụ cảm theo vật thể thì ở mẫu giáo lớn điều đó

thực hiện bằng vận động vật lý chuyển vào trong (nội tâm hóa- thuật ngữ của P.Ia.Galperin) nghĩa là chuyển vào hành động trí tuệ Nhờ có tri giác, trẻ tích lũy vốn

sống kinh nghiệm cá nhân và đồng thời lĩnh hội kinh nghiệm xã hội

- Theo V.Stern tri giác tranh ảnh giúp trẻ phát hiện được một số thuộc tính không gian: to, bé, ngắn dài (tỷ lệ chi tiết trong tranh), trên, dưới, phải, trái; phát hiện được mối quan hệ giữa các đồ vật, hiện tượng trong tranh, để giúp trẻ vào lớp Ì thuận

lợi

- Quan điểm của nhà tâm lý học A.V.Zaparogiét: [3]

Trang 23

Một trong những nghiên cứu cơ bản của A.V.Zaparogiét là xây dựng lý luận về

sự phát triển tri giác trẻ em bằng con đường hình thành và hoàn thiện các hành động tri giác Giả thuyết của A.V.Zaparogiét cho rằng: tri giác các sự vật hiện tượng của

hiện thực khách quan bao gồm việc thực hiện các hành động đặc biệt

Sự phát triển tri giác ở trẻ em bao gồm việc liên tục nắm vững từng kiểu (loại)

của các hành động tri giác mới phải phù hợp với các qui luật chung về sự hình thành các hành động định hướng

Việc nắm vững từng loại mới của hành động tri giác phải trải qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Phát hiện và liệt kế các thuộc tính cần thiết của các sự vật để thực

hiện hành động thực hành, được tiến hành chính ngay trong quá tành của hành động

thực hành Kết quả đó đạt được bằng con đường thực hành thử nghiệm thiếu hoàn

cảnh khảo sát sơ bộ ban đầu Sau đó bắt đầu hình thành hành động tiền định hướng để

thực hành Hành động định hướng này cho phép trẻ khảo sát những thuộc tính, các

mối quan hệ cần thiết và trẻ sử dụng các thủ thuật bên ngoài (như thể gần nhau, đặt

vật này cạnh vật kia )

Giai đoạn 2: Các hành động định hướng tự thay đổi hình thức, sự vận động của các cơ quan nhận cảm giữ vị trí của các thủ thuật bên ngoài Chúng khảo sát vật bằng

mắt, sờ mó vật bằng tay Nhờ sự giúp đỡ của các hành động định hướng mà hình

mẫu (mô hình) hoàn cảnh được hình thành và những con đường hành động thực hành được xác định trước

Giai đoạn 3: Các hành động tri giác đã hình thành được rút ngắn lại và chúng bắt đầu hoàn thành không có sự biểu hiện rõ rết bến ngoài: Trẻ vừa đủ đưa mắt nhìn các

vật để tìm tòi (khám phá) các thuộc tính và mối quan hệ của chúng mà những thuộc tính và mối quan hệ đó rất quan trọng cho việc giải quyết các nhiệm vụ thực hành

Những nghiên cứu của V.P.Zintsencô, A.G.Rudxkaia, M.N.Vôlôkichina, S.G.Iacop son, O.I.Gankina, D.M.Bôguxlavxkaia đã chỉ ra rằng giữa xúc giác và thị giác có những sự phụ thuộc phức tạp Việc tìm hiểu hình dạng của đối tượng bằng thị giác và lựa chọn tiếp theo đối với đối tương này trong số những cái khác tương tự,

Trang 24

cũng được tri giác bằng thị giác thì có huệu quả hơn so với việc nhận lại đối tượng đã được tri giác trước đây Nhưng nếu hình dạng được tách bạch bằng xúc giác thì việc chuyển hình dạng lĩnh

vực tri giác thị giác sẽ có hiệu quả hơn so với quá trình ngược lại từ thị giác đến xúc giác

- Kết quả nghiên cứu của E.A.Bôndatrencô cho thấy ở lứa tuổi mẫu giáo những thay đổi đáng kể được nhận thấy ở tri giác không gian theo các dấu hiệu quan trọng

của nó-đó là hình dáng, kích thước, vị trí trong không gian Trẻ em phần lớn nhận biết không gian cùng với việc làm chủ nó Việc nhận biết không gian "xa" ở trẻ muộn hơn khi trẻ bắt đầu biết đi Ban đầu trẻ phân biệt tri giác không gian "xa" rất hạn chế và

việc đánh giá khoản cách ước lượng bằng mắt không chính xác Vì vậy việc bảo vệ và chăm sóc cơ quan thị giác và tổ chức dạy trẻ nhận biết về không gian rất cần thiết

Dựa trên cơ sở phân tích các loại tri giác của các nhà tâm lý học Việt Nam [7] cho thấy: tri giác như là một hành động Nhân tố quan trọng nhất trong tri giác là quá trình động cơ Gắn chặt với động cơ là sự vận động của bàn tay để sờ mó lên đối tượng, sự vận động của mắt để lướt trên đường viền đối tương, sự vận động của thanh

quản để nhớ lại những âm thanh đã nghe được của đối tượng Bàn tay và đôi mắt trong hoạt động có nhiều điểm chung với nhau, con mắt cũng như bàn tay, nhìn liên

tục và "sờ mó" liên lục vào những đường viền của đối tượng

1.4-Các thu ộc tính của tri giác

Thực tế thế giới khách quan tái động đến con người như một chỉnh thể trọn vẹn bao gồm các thuộc tính khác nhau:

định, mà hình ảnh đó bao giờ cũng thuộc về một sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan một cách nhất định Có tính đối tượng của tri giác bởi hình ảnh đó bao giờ cũng có thật và luôn tác động vào giác quan của con người Nhờ có tính đối tượng của tri giác mà con người có thể định hướng ưong không gian và điều chỉnh hành động

của mình

-Tính tr ọn vẹn của tri giác: Tri giác luôn phản ánh tương đối trọn vạn sự vật,

Trang 25

tính trọn vẹn của tri giác được hình thành trên cơ sở tổng hợp cảm giác, trên cơ sở "bổ sung chủ quan" của kinh nghiệm trước và sự phản ánh đón trước [20]

"Tính ổn định (không đổi) của tri giác: Một vật thể chịu tri giác lúc nào và trong

bối cảnh nào thì hình ảnh về vật thể đó cũng giống nhau Nhờ vậy mà ta mới hình thành được những biểu tượng thông nhất về sự vật

"Tính ý nghĩa của tri giác: Các hình ảnh của tri giác luôn luôn có một ý nghĩa

nhật định Hình ảnh của tri giác bao giờ cũng được chủ thể tri giác một cách có ý thức,

có nghĩa là chủ thể nhận thức được ý nghĩa của đối tượng đó, hiểu được chúng, gọi tên

và xếp loại chúng Muốn xếp loại đối tượng ta phải tri giác và tư duy Tính ý nghĩa giúp cho quá trình tư duy trở nên chính xác và sâu sắc hơn

"Tính lựa chọn của tri giác: Quá trình tri giác mang tính lựa chọn và tính này liên quan đến vốn kinh nghiệm của mỗi người vế đối tượng Hình ảnh tri giác bao giời cũng do chủ thể tri giác tách đối tượng ra khỏi bối cảnh xung quanh, điều đó nói lên tính tích cực của tri giác Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cô" định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể thay đổi cho nhau, tùy thuộc vào mục đích cá nhân và điều kiện xung quanh khi tri giác

Khi có nhiều người cùng một lúc tri giác về một hiện tượng nào đó thì sẽ cho ta

những phản ánh khác nhau Sự khác nhau này tùy thuộc vào động cơ, mục đch, phương tiện, kinh nghiệm, tâm thế của người đang tri giác Điều này cũng đã làm

xuất hiện hiện tượng "tổng giác" Tổng giác nghĩa là hiện tượng quá trình tri giác của con người bị chi phối một cách rõ rệt bởi toàn bộ kinh nghiệm chủ quan, đặc điểm cá nhân cùa người tri giác (hứng thú sở thích, nhu cầu cùa chủ thể tri giác) Tổng giác là quy luật quan trọng của tri giác và quyết định khuynh hướng của tri giác

2 Đặc điểm tri giác của học sinh từ 10 đến 15 tuổi:

Lứa tuổi học sinh từ 10 đến 15 tuổi là khoảng giai đoạn lứa tuổi mà theo các nhà tâm lý học lứa tuổi thì có thể được chia thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: từ 10 đến 12 tuổi hay còn gọi là tuổi đầu thiếu niên

- Giai đoạn 2: từ 13 đến 15 tuổi hay còn gọi là tuổi thiếu niên

Nếu xét theo lớp và cấp học thì giai đoạn 1 thuộc các lớp 5 và lớp 6 và giai đoạn

Trang 26

2 thuộc các lớp 7, 8, 9 Vì vậy khi xét về đặc điểm tri giác theo lứa tuổi chúng ta cũng

có thể chia làm hai giai đoạn:

2.1 Đặc điểm tri giác của học sinh từ 10 đến 12 tuổi:

Ở lứa tuổi này (từ 10 đến 12 tuổi) đặc điểm tri giác của các em vẫn còn mang tính cảm xúc cao, tri giác sâu sắc và tinh tế theo kiểu "tò mò ham hiểu biết xem xét" Theo V A Kruchetxki [21 ]thì đặc điểm tri giác này vẫn còn liên quan với đặc điểm

hoạt động của hệ thần kinh trung ương, của hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn còn tương đối chiếm ưu thế Với tính tò mò sinh động, việc tri giác cuộc sống xung quanh đang ngày càng mở ra trước mắt các em một cái gì đó mới mẻ Nét đặc trưng nhất của tri giác là tính chất ít phân hóa của nó Trẻ em ở lứa tuổi này phân biệt những đối tượng

giống nhau còn sai lầm và chưa chính xác: đôi khi chưa phân biệt và còn lẫn lộn nhũng chữ và từ giống nhau về hình dạng chữ viết hay cách phát âm lẫn lộn hình ảnh

của các đối tượng giống nhau với bản thân các đối tượng tương tự (nhầm lẫn những

chữ "gi" với "d", "1" với "n" hoặc nhầm lẫn những âm sắc như dấu "?" với dấu "?";

nhầm lẫn hình ảnh trên tranh vẽ, hình 5 cạnh với hình 6 cạnh, ) Điều này liên quan

tới chức năng phân tích tri giác còn yếu Tuy nhiên đôi khi học sinh ở lứa tuổi từ 10 đến 12 có thể nhận xét được những chi tiết mà người lớn không chú ý đến

Một đặc điểm nữa là khi tri giác, sự phân tích có định hướng, có tổ chức và sâu

sắc của trẻ còn yếu Thường các em phân biệt những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn

ít chú ý đến, nhưng chưa nhìn thấy được những chi tiết quan trọng và bản chất Các

em đôi khi có một sự "thâu tóm" tổng cộng, chung nhất về sự vật, sự "thâu tóm" đã được gắn liền với việc nhận ra sự vật đó và trên cái nền đó mà sự tri giác ngẫu nhiên các chi tiết và đặc điểm riêng lẻ và thường là không bản chất được thực hiện

Tri giác của học sinh từ 10 đến 12 tuổi đôi khi còn gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ Tri giác sự vật có nghĩa là làm một cái gì đó với sự vật, cầm

nắm, sờ mó sự vật ấy Các em tri giác những cái gì phù hợp với nhu cầu của chúng,

những cái gì mà nó gặp trực tiếp trong cuộc sống và hoạt động của chúng, những cái

gì mà giáo viên đặc biệt chỉ dẫn Ở mức độ đầy đủ, tri giác ở trình độ phát triển tâm lý này chưa phải là một hoạt động chuyên môn, đặc biệt, có những mục đích nhận thức riêng của mình Ngoài ra tri giác của các em còn có nhiều yếu tố xúc cảm Những sự

Trang 27

vật hay những thuộc tính của sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho trẻ phản ứng cảm xúc thì trẻ sẽ tri giác trước nhất Những đối ng tri giác có tính chất "cảm xúc trung tính" thì trẻ ở tuổi này tri giác chưa thật đầy đủ

Một đặc điểm nữa về tri giác của học sinh tuổi đầu thiếu niên là những hình ảnh

rõ ràng minh bạch sinh động thì được tri giác tốt hơn, chính xác hơn, có cảm xúc nhiều hơn là những hình ảnh có tính chất hời hợt và tượng trưng Trong quá trình học

tập, tri giác của trẻ được tổ chức lại, nhờ học tập mức độ phát triển càng nâng cao dần lên Trước hết, trong quá trình tổ chức đúng đắn việc học tập, tri giác của học sinh tuổi đầu thiếu niên còn mang tính chất của một haọt động đặc biệt có phương hướng và có

mục đích Giáo viên tổ chức đặc biệt việc tri giác của học sinh, đề ra cho các em

những nhiệm vụ tri giác thích hợp, dạy cho các em điều chỉnh quá trình tri giác và

kiểm tra kết quả của nó Khi tri giác của trẻ mang tính chất của một hoạt động đặc

biệt, nó "được giải phóng", theo nghĩa đó nó được thoát khỏi ảnh hưởng của hoạt động

trực tiếp Vì vậy hoạt động trong quá trình tri giác sẽ được củng cố, nhiứig mối quan

hệ của tri giác với hoạt động bắt đầu mang tính chất khác Nếu trước đây học sinh tri giác đối tượng để hành động đúng với nó (hành động là mục đích chủ yếu, còn tri giác

là điều kiện cần thiết của hành động) thì bây giờ nó hành độnng để tri giác đúng đối tượng (tri giác là mục đích chủ yếu, còn hành động là điều kiện cần thiết của tri giác) Trong quá trình học tập, khi tri giác là một hoạt động nhằm mục đích đặc biệt,

trở nên phức tạp và sâu sắc hơn, trở thành một hoạt động có phân tích, phân biệt hơn, thì tri giác sẽ mang tính chất của một sự quan sát có tổ chức Vì vậy vai trò của từ ngữ trong tri giác cũng được thay đổi ở những em học sinh từ 6 đến 9 tuổi phần nhiều từ dùng để gọi tên (gọi tên sau khi nhận biết đối tượng), sự phân tích, sự tri giác cũng được thực hiện bằng nó Ở học sinh từ 10 đến 12 tuổi từ gọi tên là dấu hiệu chung

nhất của đối tượng, trước hết là những dấu hiệu mà chúng thấy sâu sắc trước nhất và nhanh chóng nhất Khả năng quan sát được hình thành một cách đặc biệt mạnh mẽ trong quá trình học tập ở trường phổ thông Trong các giờ học học sinh thu nhận, sau

đó tự mình diễn đạt đầy đủ nhiệm vụ tri giác các thí dụ và đồ dùng học tập nào đó

Nhờ đó tri giác trở nên có mục đích

Như vậy, sự phát triển của tri giác không tự bản thân nó xuất hiện được Ở đây

Trang 28

vai trò của giáo viên rất lớn, giáo viên là người hàng ngày chỉ dạy cho trẻ kỹ năng nhìn, xem xét, mà còn nhận xét Giáo viên không chỉ nghe mà còn lắng nghe và tổ

chức cho học sinh hoạt động để tri giác những đối tượng nào đó, dạy cho trẻ vạch ra

những dấu hiệu bản chất, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng, chỉ dẫn cho trẻ cần chú ý đến cái gì, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối tượng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch Điều đó được thực hiện ở cả những cuộc tham quan ngoài trường lẫn ở trong nhà trường khi giới thiệu các đồ dạy học trực quan khác nhau, khi tổ chức công tác thực hành, ở những giờ học vẽ, trong những hoạt động lao động của học sinh Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý đã chứng tỏ rằng, so sánh là

một trong những phương pháp hiệu quả nhất cho việc tổ chức tri giác và giáo dục óc quan sát cho học sinh Khi tri giác trở nên sâu sắc hơn thì số lượng sai sót của trẻ được

giảm dần Giáo viên chỉ dẫn cho học sinh những biện pháp xem xét nghe ngóng các sự

vật hiện tượng (trình tự tìm hiểu các thuộc tính, con đường vận động của tay và

mắt, ), phương tiện ghi những thuộc tính đã xác định được (tranh vẽ, sơ đồ, từ ngữ) Sau đó đứa trẻ có thể tự vạch ra kế hoạch tri giác và thực hiện việc tri giác một cách

có chủ định cho phù hợp với ý đồ, đồng thời tách cái chủ yếu khỏi cái thứ yếu, xác lập

thứ bậc của các dấu hiệu được tri giác, phân biệt chúng theo mức độ giống nhau, Khi được tổng hợp với các dạng hoạt động nhận thức khác (chú ý, tư duy, trí nhớ)

kiểu tri giác này có hình thức của sự quan sát có chủ định, có mục đích Theo nghiến

cứu của L V Zankov, khi quan sát đã khá phát triển ta có thể nói tới tính quan sát của

trẻ với tư cách là một phẩm chất đặc biệt của nhân cách

2.2 Đặc điểm tri giác của học sinh thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi:

Tuổi thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lương tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế

hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn Hơn nữa, tri giác có mục đích đã bắt đầu có tinlh

ổn định Quan sát bắt đầu trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát cũng đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và

có liên quan đến tư duy ngôn ngữ

Tuy nhiên quan sát của thiếu niên cũng khó có hiệu quả nếu hiếu sự chỉ đạo của giáo viên Giáo viên cần định hướng cho thiếu niên nhiệm vụ khi quan sát, tập thói

Trang 29

quen không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện

Học sinh từ 13 đến 15 tuổi bắt đầu được học một số lượng lớn kiến thức, vì vậy đòi hỏi đặc điểm của quá trình nhận thức phải cao hơn trước đây Học sinh phải nắm

vững hệ thống những khái niệm khoa học, hệ thống đặc biệt những ký hiệu trong toán

học, vật lý học, hóa học và phải học cách suy luận trên bình diện lý luận Chính những môn học mới về mặt khách quan là khó này đề ra những yêu cầu mới về nguyên tắc đối với những phương thức và nhằm phát triển trình độ cao của trí tuệ - đó là tư duy lý

luận, tư duy hình thức Kiểu tư duy này đặc trưng cho lứa tuổi thanh niên, song nó bắt đầu phát triển từ 11-12 tuổi Ở thiếu niên xuất hiện khả năng suy luận dựa trên giả thiết, dựa trên cơ sở những tiền đề chung Ở mức độ này mọi lập luận cho đến kết luận đều điển ra bằng lời, vì nội dung trực tiếp của kiểu kập luận này là các mệnh đề (hoặc trong hệ thông những ký hiệu thông thường - những từ, hoặc trong hệ thống những ký

hiệu đặc biệt được dùng trong toán học)

Cái mới trong sự phát triển trí tuệ của thiếu niên là sự thay đổi thái độ của nó đối

với những nhiệm vụ nhận thức như là những nhiệm vụ đòi hỏi trước hết sự giải quyết

sơ bộ trong tư duy của chúng phải thông qua việc xây dựng những giả thiết khác nhau

và phải thông qua sự kiểm tra của chúng Khác với lứa tuổi 10 đến 12, tuổi 13 đến 15

là tuổi đã bắt đầu phân tích nhiệm vụ trí tuệ đặt ra cho nó, tạo ra những giả định khác nhau về những liên hệ của chúng và sau đó kiểm tra những giả thiết này Sự thu nhận quan trọng nhất của thiếu niên trong việc phân tích hiện thực, đó là kỹ năng sử dụng

những giả thiết để giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ Chính vì vậy quá trình tri giác

của thiếu niên phải được trí tuệ hóa, đó là điều kiện cần thiết để thiếu niên lĩnh hội có

kết quả tài liệu học tập bất kì, kể cả tài liệu trực quan như: các bản vẽ, sơ đồ, tranh Thiếu niên phải có kĩ năng "nhìn" hình vẽ và "đọc" hình vẽ

Một thông tin có ý nghĩa được chứa đựng trong hình vẽ và xác định khả năng lĩnh hội đúng đắn định lý, có thể được rút ra chỉ khi nào làm việc với hình vẽ, trong điều kiện biết và tách ra trong nó những liên hệ và phụ thuộc nhất định

Do đó trong hoạt động này việc tri giác hình vẽ chứa đầy yếu tố suy nghĩ và thay đổi về chất Người giáo viên cần tạo nên và phát triển ở thiếu niên tâm thế suy nghĩ và tìm tòi, tách ra những mối liên hệ có ý nghĩa bản chất và những sự phụ thuộc nhân quả

Trang 30

khi làm việc với bất kỳ tài liệu nào: với tài liệu trực quan và trừu tượng, cụ thể và khái quát, khi thực hiện những nhiệm học tập - thực hành thuộc bất kỳ loại nào Một điểm đáng lưu ý trong quá trình tri giác của tuổi thiếu niên là các em chưa nắm vững mối quan hệ mới giữa cái trừu tượng và cái cụ thể

3 Tr ắc nghiệm tri giác của Hans Eysenck dành cho học sinh từ 10 đến 15

tu ổi:

3.1.Sơ lược về Hans Eysenck (? - 1997):

Hans Eysenck sinh ra ở Berlin, nhưng ông đã đi khỏi nước Đức để phản đối chế

độ phát xít và chính sách chiến tranh của Hitler Ông đậu tiến sỹ tâm lý tại trường Đại

học tổng hợp Luân- đôn và sáng lập ra khoa tâm lý học tại Viện tâm thần học Ông được coi là một trong số mười nhà tâm lý học có ảnh hưởng nhất trên thế giới trong

thế kỷ XX Những nghiên cứu của ông được thực hiện trên các lĩnh vực: trí tuệ, nhân cách và di truyền học trên 50 năm Ông đã viết trên 70 quyển sách và 1000 bài báo khoa học Ông là người chịu trách nhiệm lãnh đạo ngành tâm lý học ứng dụng ở nước Anh

đến 15 tuổi:

Trắc nghiệm tri giác này là một trong năm trắc nghiệm được tác giả lấy ra từ bộ

trắc nghiệm đo lường trí thông minh của Hans Eysenck dành cho học sinh từ 10 đến

15 tuổi Bộ trắc nghiệm đo lường trí thông minh này được Hans Eysenck soạn thảo trên tinh thần kế thừa những thành tựu nghiên cứu về đo lường tri thông minh hiện đại Đó là Bảng các yếu tố năng lực trí thông minh (g) của Hakstian và McK Cattell (1974) Trong đó những yếu tố liên quan đến năng lực tri giác gồm:

+ Yếu tố P: là yếu tố tri giác tốc độ và tri giác sự chính xác Tìm hiểu và đánh

giá xem một cặp kích thích có tương đồng hay không Đó là việc nhận biết các chi tiết

thị giác và khả năng tri giác các điểm tương tự và khác nhau trong mẫu thiết kế thị giác

+ Yếu tố Cs: là yếu tố tri giác tốc độ đóng kín Tìm hiểu khả năng hoàn thành tri

giác một tổng giác khi các thành phần của kích thích đã biến mất Tốc độ tri giác ở

Trang 31

đây còn có ý nghĩa là nhận biết một cách chi tiết các dãy số, các ký hiệu, các từ, để tri giác được các điểm tương tự và khác nhau bằng thị giác một cách nhanh chóng + Yếu tố Gv (hay còn gọi là yếu tố Pv): là yếu tố tầm nhìn Khả năng định hướng

trong không gian và hình dung kết quả của công việc

+ Yếu tố Gs: là yếu tố tốc độ nhận thức Khả năng và tốc độ cơ học khi thực hiện

+ Yếu tố Ms: là yếu tố trí nhớ bắc cầu Nhớ ngắn hạn các con số hoặc chữ cái

+ Yếu tố Mm: là yếu tố ghi nhớ có ý nghĩa Ghi nhớ các mối liên hệ có ý nghĩa

giữa các cặp từ - ký hiệu, con số - từ với nhau

+ Yếu tố A: là yếu tố mục tiêu Nghiên cứu tốc độ phối hợp giữa mắt và tay

KẾT LUẬN

1.Vấn đề về tri giác nói chung và tri giác tri giác nhìn và thính giác nói riêng của

lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi đã có một số nhà tâm lý học trong và ngoài nước nghiên cứu

ở các mức độ khác nhau

2.Các kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tri giác có thể khác nhau

về điểm xuất phát, song đều cho rằng: tri giác xuất hiện sớm và phát triển mạnh suốt

thời kỳ tuổi mẫu giáo đến tuổi thiếu niên; sự phát triển tri giác gắn liền với hành động 3.Sự phát triển tri giác nhìn và thính giác có sự khác biệt rõ rệt giữa hai giai đoạn

tuổi: từ 10 đến 12 tuổi và từ 13 đến 15 tuổi Giai đoạn từ 10 đến 12 tuổi gắn liền với

tư duy trực quan cụ thể, còn giai đoạn từ 13 đến 15 tuổi bắt đầu gắn liền với tư duy

trực quan trừu tượng

4.Những đặc điểm về tri giác nhìn và thính giác của học sinh lứa tuổi từ 10 đến

15 tuổi gắn liền với đối tương tri giác như: các ký hiệu đã được mã hóa, các con số,

Trang 32

các chữ cái, Đây là những yếu tố cần thiết cho học sinh trong quá trình học tập 5.Phát triển khả năng quan sát và quan sát có mục đích ở học sinh là điều kiện

cần thiết giúp cho học sinh học tập tốt đồng thời giúp học sinh phát triển trí tuệ

Quá trình nghiên cứu của đề tài này được chia thành hai giai đoạn: -Giai đoạn

cải biên: từ tháng 12/1999 đến tháng 5/2000 tại các trường:

Trường tiểu học Khai Minh, quận 1 và trường PTTHCS cầu Kiệu, quận 1, Tp.Hồ Chí Minh

- Giai đoạn định chuẩn: từ tháng 9/2000 đến tháng 12/2000 tại các trường Tiểu

học Trương Định, quận 10, trường PTTHCS Đồng Khởi, quận Tân Bình và trường PTTHCS bán công Cách mạng tháng Tám, quận 10, TP.HCM

I- TH Ể THỨC NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN CẢI BIÊN 1:

1.Ch ọn mẫu:

Tổng số học sinh được chọn để nghiên cứu ở giai đoạn này là 231 ở các khối lớp

5, 6, 7, 8, 9 tại trường tiểu học Khai Minh, quận 1 và trường PTTHCS Cầu Kiệu, TP.HỒ Chí Minh và được phân bố như sau:

- Khối học sinh lớp 5 và 6: 99 em (chiếm 43%)

- Khối học sinh lớp 7, 8, 9: 132 em (chiếm 57%)

2.D ụng cụ đo lường:

Dụng cụ đo lường gồm hai trắc nghiệm tri giác, mỗi trắc nghiệm có 40 câu

- Trắc nghiệm tri giác dành cho lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi (tương đương với học sinh lớp 5 và 6)

- Trắc nghiệm tri giác dành cho lứa tuổi từ 13 đến 15 tuổi (tương đương với học sinh lớp 7, 8, 9)

Trắc nghiệm tri giác này là một trắc nghiệm của bộ trắc nghiệm đo lường trí thông minh Hans Eysenck soạn thảo dành cho lứa tuổi từ lo đến 15 tuổi Trắc nghiệm này đã được tác giả dịch và sửa đổi cho phù hợp hoàn cảnh và tâm lý của học sinh

Trang 33

Việt Nam

Toàn bài trắc nghiệm tri giác này có 40 câu, trọng đó có các loại tiểu nghiệm sau:

- Tiểu nghiệm mã hóa: nhiệm vụ của nghiệm thể là phải so sánh đối chiếu những con số đã được mã hóa để tìm ra hàng dãy số nào có những chữ số phù hợp với các ký

hiệu đã cho Tiểu nghiệm này nhằm nghiên cứu năng lực phân loại, sắp xếp những tài

liệu đã tri giác được, năng lực so sánh, năng lực vạch ra sự giống nhau và khác nhau ở

mức độ trung bình

- Tiểu nghiệm giải mã: nhiệm vụ của nghiệm thể là nhìn vào cột các từ đã được

"mã hóa" và bằng cách so sánh, đối chiếu những mã hóa khác nhau đế giải mã các từ

đó Tiểu nghiệm này dùng để nghiên cứu năng lực phân loại, sắp xếp tài liệu đã tri giác được, năng lực so sánh, vạch ra những điểm giống nhau và khác nhau ở mức độ

phức tạp hơn tiểu nghiệm mã hóa

- Tiểu nghiệm các từ: nhiệm vụ của nghiệm thể là đọc to các từ đã cho lên để so sánh chúng phát âm giống nhau hay khác nhau Tiểu nghiệm này nhằm nghiên cứu

khả năng phân biệt âm thanh của tri giác thính giác

- Tiểu nghiệm dãy số: nhiệm vụ của nghiệm thể là so sánh hai dãy số đã cho xem chúng giống nhau hay khác nhau Tiểu nghiệm này dùng để nghiên cứu khả năng so sánh, tri giác nhìn, trí nhớ thao tác và tập trung chú ý

- Tiểu nghiệm điền số: nhiệm vụ của nghiệm thể là dựa vào bảng mã hóa các chữ

đã cho sẩn để tìm ra các con số tương ứng, sau đó tính toán ra kết quả từ những chữ cái đã cho Tiểu nghiệm này nhằm nghiên cứu tốc độ của tri giác nhìn, khả năng chuyển đổi thông tin từ con số sang chữ cái và ngược lại

- Tiểu nghiệm tìm ký tự: nghiệm thể cần phải so sánh, đối chiếu những ký hiệu

đã cho để tìm ra ký hiệu giống với kỷ hiệu đã cho Tiểu nghiệm này nghiên cứu những đặc điểm của tri giác nhìn, óc quan sát, năng lực tách biệt các chi tiết của các ký hiệu

- Tiểu nghiệm tìm nguyên âm và phụ âm: trong mỗi một dãy các nguyên âm và

phụ âm cho sẩn, nghiệm thể cần phải tìm ra phụ âm và nguyên âm nào đáp ứng với

Trang 34

yêu cầu của đề bài Tiểu nghiệm này nhằm nghiên cứu những đặc điểm của tri giác nhìn, khả năng ghi nhớ các chữ cái và vị trí của chúng, khả năng phân biệt các âm thanh bằng thính giác và khả năng tập trung chú ý

- Tiểu nghiệm tìm số chẩn và số lẻ: tương tự như tiểu nghiệm tìm nguyên âm và

phụ âm, trong mỗi một dãy các con số đã cho sẩn, nghiệm thể cần phải tìm ra những

số chấn và số lẻ nào đáp ứng với yêu cầu của đề bài Tiểu nghiệm này nhằm nghiên

cứu những đặc điểm của tri giác nhìn, khả năng ghi nhớ các con số và vị trí của chúng Nhìn chung, những bài tập trong trắc nghiệm tri giác nhằm:

- Tìm hiểu sự tái hiện nhanh, sự tổng hợp thị giác-vận động, các hình ảnh thị giác

- Tìm hiểu khả năng của tri giác nhìn, phân tích các hình ảnh thị giác, phân tích

âm thanh bằng thính giác

- Tìm hiểu tốc độ của sự tái tạo hình ảnh thính giác, hình ảnh thị giác

- Trong trắc nghiệm tri giác này còn nghiên cứu mối liên hệ giữa tri giác với các quá trình tâm lý khác như: trí nhớ liên hệ, trí nhớ bắc cầu, ghi nhớ có ý nghĩa và tìm

hiểu khả năng tập trung chú ý của nghiệm thể

2.2.So sánh hai bài tr ắc nghiệm tri giác:

Bài trắc nghiệm tri giác (1) dành cho lứa tuổi từ 10 đến 12 tuổi và bài trắc nghiệm tri giác (2) dành cho lứa tuổi từ 13 đến 15 tuổi Nhìn chung hai bài trắc nghiệm tri giác này có bố cục và nội dung tương đối giống nhau, gồm các tiểu nghiệm: mã hóa, giải mã, các từ, dãy số, điền số, tìm ký tự, tìm nguyên âm, phụ âm và tìm số chẩn, lẻ cả hai bài trắc nghiệm đều có tổng số câu là 40 câu

Một số điểm khác nhau của hai bài trắc nghiệm: khác nhau về số lượng các bài

tập trong từng tiểu nghiệm và khác nhau về độ khó của từng bài tập trắc nghiệm

• Trắc nghiệm tri giác dành cho tuổi 10 đến 12:

- Tiểu nghiệm mã hóa gồm 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm giải mã có 4 câu hỏi

Trang 35

- Tiểu nghiệm các từ có 6 câu hỏi

- Tiểu nghiệm dãy số có 6 câu hỏi

- Tiểu nghiệm điền số có 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm ký tự có 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm nguyên âm và phụ âm có 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm số chẵn, số lẻ có 4 câu hỏi

• Trắc nghiệm tri giác dành cho tuổi từ 13 đến 15 tuổi:

- Tiểu nghiệm mã hóa gồm 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm giải mã có 5 câu hỏi

- Tiều nghiệm các từ có 6 câu hỏi

- Tiểu nghiệm dãy số có 6 cảu hồi

- Tiểu nghiệm điền số co 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm ký tự cổ 5 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm nguyên âm và phụ âm có 4 câu hỏi

- Tiểu nghiệm tìm số chẵn, số lẻ có 4 câu hỏi Cách chấm điểm:

- Tiểu nghiệm mã hóa: mỗi câu đúng được Ì điểm

- Tiểu nghiệm giải mã: mỗi câu đúng được 2 điểm

- Tiểu nghiệm các từ: mỗi câu đúng được 2 điểm

- Tiểu nghiệm dãy số: mỗi câu đúng được 2 điểm

- Tiểu nghiệm điền số: mỗi câu đúng được 2 điểm

- Tiểu nghiệm tìm ký tự: mỗi câu đúng được 2 điểm

- Tiểu nghiệm tìm nguyên âm và phụ âm: đúng 4 phần được 1 điểm, đúng 7 phần được 2 điểm, đúng 10 phần được 3 điểm

- Tiểu nghiệm tìm số chẩn, số lẻ: đúng 4 phần được 1 điểm, đúng 7 phần được 2 điểm, đúng 9 phần được 3 điểm, đúng 12 phần được 4 điểm

Trang 36

2.3.H ệ số tin cậy của hai bài trắc nghiệm sau giai đoạn cải biên 1:

- Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm tri giác 1 = 0.834

- Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm tri giác 2 = 0.897

II TH Ể THỨC NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN CẢI BIÊN 2:

1.Ch ọn mẫu:

Tổng số học sinh được chọn để nghiên cứu ở giai đoạn này là 497 ở các khối lớp

5, 6, 7, 8, 9 tại trường tiểu học Trương Định, quận 10; trường PTTHCS Cách mạng tháng Tám, TP.HỒ Chí Minh và trường PTTHCS Đồng Khởi, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, được phân bố như sau:

1.1.Theo kh ối lớp:

- Khối học sinh lớp 5 và 6: 199 em (chiếm 40%)

- Khối học sinh lớp 7, 8, 9: 298 em (chiếm 60%)

1.2.Theo gi ới tính:

- Nam: 255 (chiếm 51%)

- Nữ: 242 (chiếm 49%)

1.3.Theo lo ại hình trường:

- Trường bán công: 251 (chiếm 50%)

- Trường công lập: 246 (chiếm 49%)

những câu được xem lại để chỉnh sửa về nội dung (xem kết quả nghiên cứu)

- Chỉnh sửa về câu cú và cách diễn đạt nếu đó là những câu được dịch ra chưa rõ nghĩa

Trang 37

- Thay đổi thang điểm cho phù hợp với độ khó, dễ của câu trắc nghiệm

❖Tiểu nghiệm mã hóa: mỗi câu đúng được Ì điểm

❖Tiểu nghiệm giải mã: mỗi câu đúng được 3 điểm

❖Tiểu nghiệm các từ: mỗi câu đúng được Ì điểm

❖Tiểu nghiệm dãy số: mỗi câu đúng được 2 điểm

❖Tiểu nghiệm điền số: mỗi câu đúng được 2 điểm

❖Tiểu nghiệm tìm ký tự: mỗi câu đúng được 2 điểm

❖Tiểu nghiệm tìm nguyên âm và phụ âm: đúng 5-6 phần được 1 điểm, đúng 7-8

phần được 2 điểm, đúng 9-10 phần được 3 điểm

❖Tiểu nghiệm tìm nguyên âm, phụ âm: đúng 5-6 phần được 1 điểm, đúng 7-8

phần được 2 điểm, đúng 9-10 phần được 3 điểm, đúng 11-12 phần được 4 điểm

2.2.H ệ số tin cậy của bài trắc nghiệm:

- Hệ số tin cậy cho toàn mẫu khối lớp 5 và 6: 856

- Hệ số tin cậy cho toàn mẫu khối lớp 7, 8, 9: 850

III TH Ể THỨC NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN ĐỊNH CHUẨN:

Sau hai giai đoạn cải biến, giai đoạn định chuẩn là giai đoạn xác lập thang đo chung cho một dân số được nghiến cứu ở giai đoạn cải biên 2 Sau khi định chuẩn xung, trắc nghiệm tri giác sẽ có giá trị như một trắc nghiệm dùng đại trà cho dân số

học sinh tại TP Hồ Chí Minh từ 10 đến 15 tuổi Trắc nghiệm đã chuẩn hóa sẽ phản ánh được yêu cầu chuẩn mực của đặc điểm tri giác của lứa tuổi từ 10 đến 15 tuổi, phù

hợp với trình độ chung của học sinh cùng một lứa tuổi

Trang 38

PH ẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của giai đoạn cải biên 1 là:

- Xem xét nội dung các câu hỏi trắc nghiệm, cách diễn giải của các câu hỏi trắc nghiệm và cách cho điểm có phù hợp với độ tuổi và tình độ của học sinh Việt Nam không

- Nhận định các câu trắc nghiệm tốt, xấu, dễ, khó để sửa chữa lại

- Thống kê các câu trắc nghiệm dễ, khó, trung bình và độ phân cách của các câu

1.K ết quả thống kê về thành phần của mẫu theo khối lớp:

- Khối lớp 5 và 6: 99, chiếm tỷ lệ 43%

- Khối lớp 7, 8, 9: 132, chiếm tỷ lệ 57%

2.K ết quả chung của từng bài trắc nghiệm:

2.1 Bài tr ắc nghiệm 1 (khối lớp 5 và 6):

- Hệ số tin cậy bài trắc nghiệm = 0.834

Từ kết quả trên cho thấy:

- Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm cao (0.834) chứng tỏ bài trắc nghiệm này cho

ra kết quả có tính vững chãi và tính ổn định cao, nghĩa là bài trắc nghiệm này đo đúng

Trang 39

tình độ của mẫu dân số học sinh

- Điểm trung bình bài trắc nghiệm (56.263) lớn hơn điểm trung bình lý thuyết (52.75) Vì vậy bài trắc nghiệm này dễ so với học sinh

- Nhìn vào độ khó bài trắc nghiệm (76.2 %) và độ khó lý thuyết (59.9 %) ta cũng

thấy độ khó bài trắc nghiệm lớn hơn độ khó lý thuyết Theo lý thuyết tính độ khó ta

biết rằng độ khó càng cao thì bài trắc nghiệm càng dễ Vì vậy bài trắc nghiệm này dễ

so với học sinh lớp 5 và lớp 6

- Khoảng cách "điểm nhỏ nhất" - là điểm thấp nhất mà học sinh có được trong bài trắc nghiệm - (đạt 22 điểm) và "điểm lớn nhất" - là điểm mà học sinh có được trong bài trắc nghiệm - (80 điểm) tương đối xa Cùng với trị số của độ lệch chuẩn cao (11.207) cho phép ta kết luận độ phân tán điểm số của trắc nghiệm này là tốt

Kết luận: bài trắc nghiệm tri giác Ì dành cho học sinh lứa tuổi từ 10 đến 12 là bài

trắc nghiệm dễ so với học sinh ở độ tuổi này và bài trắc nghiệm có tính tin cậy cao.'

2.2 Bài tr ắc nghiệm 2 (khối lớp 7,8, 9):

- Số câu: 40

- Điểm trung binh = 54.273 Trung bình lý thuyết = 52.25

- Độ khó bài trắc nghiêm = 73.5 % Độ khó lý thuyết = 70.6 %

- Điểm nhỏ nhất: 23

- Điểm lớn nhất: 79

- Độ lệch tiêu chuẩn: 14.917

- Hệ so tin cậy bài trắc nghiệm = 0.897

Tương tự như bài trắc nghiệm 1, ta có những nhận xét sau:

- Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm cao (0.897) chứng tỏ bài trắc nghiệm này cho

ra kết quả có tính vững chãi và tính ổn định cao, nghĩa là nội dung bài trắc nghiệm đã

đo đúng trình độ của mẫu dân số học sinh

- Điểm trung bình bài trắc nghiệm (54.273) lớn hơn điểm trung bình lý thuyết (52.25) Vì vậy bài trắc nghiệm này dễ so với học sinh

Trang 40

- Nhìn vào độ khó bài trắc nghiệm (76.2 %) và độ khó lý thuyết (70.6 %) ta cũng

thấy độ khó bài trắc nghiệm lớn hơn độ khó lý thuyết Theo lý thuyết tính độ khó ta

biết rằng độ khó càng cao thì bài trắc nghiệm càng dễ Vì vậy bài trắc nghiệm này dễ

so với học sinh lớp 7, 8, 9

- Khoảng cách giữa "điểm nhỏ nhất" (đạt 23 điểm) và "điểm lớn nhất" (79 điểm) tương đối xa Cùng với trị số của độ lệch chuẩn cao (14.917) cho phép ta kết luận độ phân tán của điểm số trên tuyến bình thường rất tốt

Kết luận: bài trắc nghiệm tri giác 2 dành cho học sinh lứa tuổi từ 13 đến 15 là bài

trắc nghiệm dễ so với học sinh ở độ tuổi này và bài trắc nghiệm có tính tin cậy cao

Nhận xét chung: so sánh các kết quả thống kê của hai bài trắc nghiệm, ta nhận

thấy cả hai bài trắc nghiệm đều có điểm trung bình toàn bài gần như nhau (ở trắc nghiệm tri giác 1 là 56.263 và ở trắc nghiệm tri giác 2 là 54.273) và điểm trung bình lý thuyết gần như nhâu (ở trắc nhgiệm tri giác 1 là 52.75 và ở trắc nghiệm tri giác 2 là 52.25) Tuy nhiên khi so sánh độ khó ta thấy độ khó toàn bài của cả hai trắc nghiệm cũng gần như nhau (ở trắc nghiệm tri giác 1 là 76.2% và ở trắc nghiệm tri giác 2 là 73.5 %), nhưng độ khó lý thuyết của trắc nghiệm tri giác 2 (70.6 %) cao hơn độ khó lý thuyết của trắc nghiệm tri giác 1 (59.9%) Từ kết quả này cho ta kết luận là trắc nghiệm tri giác 2 dễ hơn trắc nghiệm tri giác 1

3 Phân lo ại các câu trắc nghiệm theo độ khó:

3.1 Bài tr ắc nghiệm tri giác 1:

Bảng 1: Độ khó của mỗi câu trắc nghiệm trong bài trắc nghiệm 1 (độ khó của

mỗi câu trắc nghiệm = số người làm đúng câu đó / tổng số người làm trắc nghiệm)

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w