1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn nam cao

228 713 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu ý nghĩa rất khác nhau: các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, các ý nghĩa khác nha

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VA ĐAO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ KIM CHI

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Trang 3

M ỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

M ỘT SỐ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 6

D ẪN NHẬP 7

1.LÝ DO L ỰA CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7

2.L ỊCH SỬ NGHIẾN CỨU VẤN ĐỀ 7

3.N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU 14

4.1.Phương pháp nghiên cứu: 14

4.2.Ngu ồn tài liêu tham khảo: 14

5.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 14

6.C ẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH THÁI VÀ TÌNH THÁI CỦA HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN TRONG TI ẾNG VIỆT 17

1.1.KHÁI NI ỆM "TÌNH THÁI" 17

1.2.PHÂN LO ẠI NGHĨA TÌNH THÁI 21

1.2.1.Tình thái c ủa hành động phát ngôn 23

1.2.1.1.Lý thuy ết về hành động ngôn từ 23

1.2.1.2.Các lo ại tình thái chủ yếu của hành động ngôn từ 29

1.2.2.Tình thái c ủa lời phát ngôn 34

1.2.2.1.Tình thái khách quan: 34

1.2.2.2.Tình thái ch ủ quan 36

1.3.CÁCH DI ỄN ĐẠT Ý NGHĨA TÌNH THÁI CỦA HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN TRONG TI ẾNG VIỆT 40

Trang 4

1.3.1.Cách di ễn đạt trực tiếp của hành đông phát ngôn 40

1.3.1.1.Tình thái nghi v ấn 40

1.3.1.2.Tình thái c ầu khiến 49

1.3.1.3.Tình thái c ảm thán 54

1.3.1.4.Tình thái tr ần thuật 54

1.3.2.Cách di ễn đạt gián tiếp ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn 56

1.3.2.1.Câu nghi v ấn có giá trị cầu khiến: 56

1.3.2.2.Câu nghi v ấn có giá trị cảm thán 57

1.3.2.3.Câu nghi v ấn có giá trị khẳng định 57

1.3.2.4.Câu nghi v ấn có giá trị phủ định 58

1.3.2.5.Câu nghi v ấn có giá trị phỏng đoán, ngờ vực, ngần ngại: 60

1.3.2.6.Câu tr ần thuật có giá trị cầu khiến, cảm thán 60

CHƯƠNG 2: CÁCH DIỄN ĐẠT TRỰC TIẾP Ý NGHĨA TÌNH THÁI CỦA HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 62

2.1.TÌNH THÁI NGHI V ẤN 62

2.1.1.T ần số 62

2.1.1.1.Câu nghi v ấn sử dụng các phương tiện nghi vấn: 62

2.1.1.2.Câu ngôn hành 64

2.1.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa 64

2.1.2.1.Đặc trưng về hình thức câu tạo và ý nghĩa câu nghi vấn sử dụng đại từ nghi v ấn trong truyện ngắn Nam Cao: 65

2.1.2.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa của câu lựa chọn dừng quan hệ từ "hay'': 72

2.1.2.3.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa của câu nghi vấn sử dụng tổ hợp phụ từ: 73

2.1.2 4.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa của câu nghi vấn sử dụng tiểu từ tình thái cuối câu: 74

Trang 5

2.2.TÌNH THÁI C ẦU KHIẾN: 78

2.2.1.T ần số: 78

2.2.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa của câu biểu thị tình thái cầu khiến: 79

2.3.TÌNH THÁI C ẢM THÁN 84

2.3.1.T ần số: 84

2.3.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa: 85

CHƯƠNG 3: CÁCH DIỄN ĐẠT GIÁN TIẾP Ý NGHĨA TÌNH THÁI CỦA HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 90

3.1.CÂU NGHI V ẤN CÓ GIÁ TRỊ KHẲNG ĐỊNH 90

3.1.1.T ần số: 90

3.1.2 Đặc trưng về hình thức cấu tạo và nội dung ý nghĩa: 91

3.2.CÂU NGHI V ẤN CÓ GIÁ TRỊ PHỦ ĐỊNH 98

3.2.1.T ần số: 99

3.2.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa: 99

3.3.CÂU NGHI V ẤN CÓ GIÁ TRỊ CẦU KHIẾN 110

3.3.1.T ần số: 110

3.3.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa: 110

3.4.CÂU NGHI V ẤN CÓ GIÁ TRỊ CẢM THÁN 114

3.4.1.T ần số: 114

3.4.2.Đặc trưng về cấu tạo và ý nghĩa 114

3.5.CÂU NGHI V ẤN CÓ GIÁ TRỊ PHỎNG ĐOÁN, NGỜ VỰC, NGẦN NGẠI 118

3.5.1.T ần số: 118

Trang 6

M ỘT SỐ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1.[ , ] : Tên tài liệu tham khảo và số trang trích dẫn được ghi bằng số thứ tự đặt trong ngoặc vuông số đầu tiên là số thứ tự của tài liệu tham khảo , số sau là số trang nơi trích dẫn trong tài liệu Hai số này được ngăn cách bởi dấu phẩy (,)

2.[ ] Tên tài liệu trích dẫn được ghi theo số thứ tự của tài liệu ở danh mục Tài liệu tham

khảo và được đặt trong ngoặc vuông

3.a (2, x): a là số thứ tự tăng dần của những ví dụ trích dẫn từ truyện ngắn Nam Cao

2 là Tập 2 (Tuyển tập nam Cao)

X là số trang trong tác phẩm có ví dụ được trích

Tập và số trang được ngăn cách bằng dấu phẩy

Trang 7

D ẪN NHẬP

Trong ngôn ngữ học, tình thái là một khái niệm được dùng để chỉ những hiện tượng ngữ nghĩa- chức năng rộng lớn, đa dạng, phức tạp Đặc trưng chung nhất của khái niệm này là xoay quanh mối quan hệ giữa ngươi nói, nội dung miêu tả trong câu và thực tế Hiểu theo nghĩa rộng

nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu ý nghĩa rất khác nhau: các

ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung mệnh đề, ý nghĩa đối lập giữa

khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ phân chia tình thái thành 2 loại: tình thái của hành động phát ngôn, tình thái của lời phát ngôn

Tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng pháp Tuy theo mục tiêu và tác

dụng trong giao tiếp mà các hành động phát ngôn xuất hiện các tình thái nghi vấn, cầu khiến,

cảm thán hay ưần thuật Mục đích phát ngôn có thể thể hiện ra ngoài hay hàm ngôn Do vậy, chúng tôi nhận thấy cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong tiếng Việt là

một mảng nghiên cứu giàu tiềm năng

Để có thể góp phần trả lời rõ hơn vấn đề đặt ra, hướng chủ yếu của chúng tôi là tập hợp

một số câu, đoản ngữ thể hiện suy nghĩ, nhận định, đánh giá, tình cảm của người nói để khảo sát và vạch ra đặc trưng về hình thức cấu tạo và nội dung ý nghĩa của chúng

Về mặt lý luận, luận văn hy vọng góp phần làm rõ thêm về khái niệm tình thái, chủ yếu là tình thái của hành động phát ngôn, một loại tình thái từ trước tới nay đã được đề cập đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức và chưa đựơc lý giải đầy đủ

Về mặt thực tiễn, quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể về tình thái trong luận văn có

thể góp thêm ý kiến cho việc biên soạn tài liệu giảng dạy cũng như cho việc vận dụng trong công tác giảng dạy của bản thân về những vấn đề có liên quan đến tình thái trong tiếng Việt

1 Trong logic học, vấn đề tình thái đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu Khởi nguyên từ triết học cổ đại Hy lạp, khái niệm tình thái của logic học dựa trên hai phạm trù chủ

Trang 8

yếu là tính tất yếu (necessery) và tính khả năng (possibility) Aristote có thể đựơe xem là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này [10, 94] Tuy nhiên, những người đầu tiên xem xét logic tình thái theo hướng hiện đại là C.I Lewis (1912),(1917) và C.I Lewis và CH Lang-ford (1932) Logic học do quan tâm đến tính đúng sai của mệnh đề nên đã quan tâm đến tính tình thái khách quan của câu Các phạm trù thuộc tình thái khách quan được logic học quan tâm là tính

tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực của nội dung mệnh đề Tình thái khách quan trong logic

học không kể đến vai trò của người nói

2 Trong ngôn ngữ, vấn đề tình thái cũng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu Các công trình nghiên cứu về tình thái chủ yếu xoay quanh những nội dung như: phạm trù tình thái, các loại tình thái, những ý nghĩa tình thái được phản ánh trong các ngôn ngữ, các phương

tiện diễn đạt ý nghía tình thái, quan hệ giữa ý nghĩa tình thái và những phương tiện tình thái cú pháp học Xét về phạm vi ý nghĩa tình thái, các tác giả có sự khác biệt như:

Ch Bally dùng thu ật ngữ "dictum" để chỉ thành phần cốt lõi của câu; "modus" để chỉ thái

độ của người nói [52, dẫn lại]

Lyons cho rằng tình thái là "thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu

th ị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả" [57, 452]

Palmer cũng cho rằng tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hay ý kiến

của người nói đối với điều được nói ra và chủ trương phân biệt trong câu " những yếu tố biểu

thị tình thái với những yếu tố biểu thị mệnh đề", tức phân biệt " tình thái" với " nội dung mệnh đề" [58, 14]

F Kiefer (1992) cho rằng khái niệm tình thái trong logic có mối quan hệ chặt chẽ với các

loại tình thái trong ngôn ngữ Logic cổ điển chủ yếu quan tâm đến tình thái logic Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, tình thái logic chỉ đóng vai trò ngoại vi

Ông xác định: "Thực chất của 'tình thái' bao gồm việc tạo lập tính tương đối giữa giá trị

c ủa các ý nghĩa của câu với một tập hợp các thế giới có thể có" ( The essence of 'modality'

consitss in the relativization of the validity of sentencs meanings to a set of possible worlds) [59, 2515] Các thế giới có thể có ở đây là mọi thế giới có thể gặp Đó có thể là thế giới vật

chất mà cũng có thể là thế giới tinh thần Do vậy mà có tình thái khách quan và tình thái chủ quan Như vậy, trong cách hiểu chặt chẽ theo ngữ nghĩa học truyền thống, tình thái không thuộc

Trang 9

mặt nghĩa của câu hoặc nó cũng có phần thuộc mặt nghĩa của câu, nhưng phần đó là phần nghĩa

có đặc trưng riêng như Bally đã giải thích Hiểu như vậy, tình thái bao gồm cả tình thái logic,

tức là thứ tình thái đặt cơ sở trên các khái niệm tính khả năng (possibility) và tính tất yếu (necessity) Do đó, nói về tình thái, theo nghĩa rộng, có thể hiểu là nói về cách mà con người

diễn đạt khác nhau về thế giới

Theo Framley w (1992), Bybee quan niệm về tình thái có rộng hơn Ông cho rằng tình

thái "là t ất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề" [55, 385]

Frawley W khi nghiên cứu các ngôn ngữ châu Âu ông đồng thời nghiên cứu tình thái trong mối quan hệ với thức (mood) mà không chú ý rằng thức là một hiện tượng ngữ pháp, tình thái là

hiện tượng thuộc ngữ nghĩa của câu

Trong khi logic học quan tâm đến tình thái khách quan của câu thì ngôn ngữ học lại quan tâm đến tình thái chủ quan và xem tình thái là một bộ phận thuộc nội dung ngữ nghĩa của câu Trong phạm vi tình thái chủ quan, các nhà nghiên cứu phân biệt hai phạm trù chính là: Tình thái nhận thức (epistemic modality) Tình thái đạo nghĩa (deontic modality)

John Lyons, (1977) cho rằng: Tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính tất yếu hay tính có

thể của hành vi được thực hiện bồi một chủ thể có trách nhiệm về đạo đức và xem xét tình thái theo nội dung về tính nghĩa vụ, sự cho phép và sự cấm đoán [57, 823-832]

F R Palmer (1986) cho rằng: Tinh thái nhận thức liên quan đến tính khả năng, tính cần thiết và mức độ cam kết của người nói đối với điều mà anh ta nói ra [58, 51]; tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động đo một ngưòi nào đó hay do chính ngưòi nói thực hiện [59, 96]

Rộng hơn là sự nghiên cứu tình thái gắn với lý thuyết hành động ngôn từ (Theory of

speech acts) J R Searle cho rằng lý thuyết hành động ngôn từ thích hợp hơn để xem xét những

vấn đề về tình thái vì sự quan tâm đến quan hệ giữa người nói và điều được nói của lý thuyết này Tác giả nhấn mạnh năm hành động cơ bản của hành động tại lời F.R Palmer (1986) chia

sẻ quan điểm trên khi cho rằng trong hành động tạo lời, chúng ta nói về một điều gì đó còn trong hành động tại lời thì chúng ta làm một cái gì đó như trả lời câu hỏi, thông báo một sự phán quyết, khuyến cáo, hứa hẹn Sự khác biệt giữa nội dung mệnh đề và tình thái rất gần với

sự khác biệt giữa hành động tạo lời và hành động tại lời [58,14]

Trang 10

Trong giới Việt ngữ học, vấn đề tình thái cũng được chú ý quan tâm nghiên cứu Trên

tổng thể, các công trình này có thể được phân biệt theo hai nhóm như sau:

♦ (1) Nhóm tác giả vốn không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái nhưng trong quá trình xử lý các vấn đề khác, họ đã xem xét đến một mặt nào đó của vấn đề tình thái Từ đổ cũng

có thể nhận hiểu được những luận điểm có liên quan đến vấn đề tình thái Có thể kể đến một số tác giả có công trình liên quan đến vấn đề tình thái như:

Nguy ễn Kim Thản (1997) trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt khi phân loại các loại từ

trong tiếng Việt đã cho rằng những trợ từ như ạ, cơ, vậy, mà,, đây, đấy, thế ấy là những trợ từ

phục vụ sự-biểu thị thái độ người nói Tác giả cũng chú ý phân biệt loại câu nghi vấn chân chính với các loại nghi vấn khác như câu nghi vấn tu từ học, câu nghi vấn khẳng định, câu nghi

vấn phủ định, câu nghi vấn cầu khiến

Lê C ận- Phan Thiều (1983) trong Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (tập 1, 2, 1983) có xác

định, miêu tả tình thái từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt (bao gồm tình thái từ đánh dấu thái

độ đặt trước các lớp từ cơ bản dùng để nhấn mạnh, loại đặt sau câu dùng để nhấn mạnh, tạo câu

hỏi, câu cầu khiến và loại biểu thị cảm xúc)

Đinh Văn Đức (1986) trong Ngữ pháp tiếng Việt- Từ loại (in lại và có bổ sung, 2001) khi phân định từ loại trong tiếng Việt đã nhận định " tình thái vốn là một khái niệm về ngữ nghĩa

c ủa câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp Theo đó, cơ cấu nghĩa của câu truyền thống được chia làm hai l ớp: a) Lớp nghĩa ngôn liệu (dictum) gắn với việc miêu tả mệnh đề b) Lớp nghĩa tình thái (modus) g ắn với việc đối chiếu nội dung ngôn ngữ với thực tại qua thái độ của người nói"

Tác giả cho rằng để biểu đạt các liên hệ tình thái của câu, tiếng Việt sử dụng hệ thống các từ tình thái gồm: những từ tình thái chuyên dùng và những từ tình thái lâm thời

Hoàng Phê (1987), đề cập đến tình thái khi nghiên cứu logic ngôn ngữ qua một số bài nghiên cứu trên tạp chí và công tành nghiên cứu như "Toán tử logích-tình thái" (Ngôn ngữ số

4/1984); Logic ngôn ng ữ học (1989) Tác giả Nguyễn Đức Dân trong Lôgích và tiếng Việt

(1999) cho rằng ở Việt Nam, Hoàng Phê có lẽ là người đầu tiên vận dụng lôgích tình thái để nghiên cứu một số tác tử ngôn ngữ trong tiếng Việt, như tác tử "trừ phi" trong cấu trúc "P trừ

phi Q"[ll,93]

Trang 11

Đỗ Hữu Châu (1995) cho rằng: "Tính tình thái là một phần tất yếu của tất cả các phát ngôn Không th ể có một câu nói hay một câu văn nào lại không mang một tình thái nhất định",

Đỗ Hữu Châu (chủ biên) - Cao Xuân Hạo (1995) " Hai chữ tình thái nếu có được quan tâm lại thường đi đôi với những định kiến sai lạc Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng "tình thái"

t ức là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói khi phát ngôn" [6, 66]

Bùi T ất Tươm (1995) khẳng định: Tính tình thái là một trong những đặc điểm chính của

câu Câu bao giờ cũng phải thể hiện một tình thái nhất định [20,50]

Cao Xuân H ạo trong Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 (1991) khi nhận

định về cấu trúc nghĩa của câu, ông nếu quan điểm của logic học về "tình thái" ; đồng thời nhận

định " Trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong dó ph ần lận đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính kh ả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau"

Ông phân biệt hai thứ tình thái khác nhau: tình thái của hành động phát ngôn (mođalité d énonciation) và tình thái của lời phát ngôn (modalité d énoncé) [20, 50]

H ồ Lê với Cú pháp tiếng Việt- Cú pháp cơ sở, quyển 2 (1992): Khi trình bày về phạm trù tình thái đã nhận định "Mỗi câu phát ra đều phải theo một trong bốn định hướng: trần thuật, nghi v ấn, cầu khiến, cảm thán" Do vậy, bốn loại câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán

ra đời là do có sự đối lập giữa bốn kiểu định hướng phát ngôn, mà định hướng phát ngôn là một

biểu hiện tình thái bắt buộc phải hiện diện trong mỗi câu Từ đó, tác giả trình bày những phương tiện ngôn ngữ đánh dấu từng kiểu câu theo từng định hướng phát ngôn [32, 417]

Nguy ễn Đức Dân (1998) nêu một số vấn đề về tình thái trong ngôn ngữ: Tình thái là một

vấn đề rất rộng và còn rất mung lung mà các nhà logic học, kí hiệu học và ngôn ngữ học đêu rất

quan tâm Người đầu tiên quan tâm đến vấn đề tình thái là Aristote với công trình De l interprétation và Premiers analytiqyes Tác giả cho rằng khó khăn đầu tiên mà các nhà ngôn

ngữ học gặp phải là tính đa nghĩa, tình mơ hồ của lớp từ tình thái như cần, phải, nên, có thể,

mu ốn, biết, tin, Từ đó mà đã có những giả thuyết khác nhau về lớp từ này: giả thuyết cú pháp,

giả thuyết ngữ nghĩa và giả thuyết ngữ dụng [11, 94]

Nguy ễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp với Thành phần câu tiếng Việt (1998): giới thuyết

khái niệm tình thái theo quan điểm của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài như J Lyons, Palmer, Bybee, J.R Searle với lý thuyết hành động ngôn từ; ở Việt Nam như Cao Xuân Hạo Tác giả

Trang 12

cũng trình bày các phương tiện ngôn ngữ dùng để biểu thị tình thái ương tiếng Việt Đặc biệt, tác giả trình bày rõ ràng tình thái ngữ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt [45, 215-235]

Di ệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếngViệt, t.1 (2000) nêu vấn đề về

tình thái từ: tình thái từ là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ

thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh; hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn Tình thái từ bao gồm các nhóm như: tình thái từ góp phần thể hiện mục đích phát ngôn, tình thái từ biểu thị cảm xúc chủ quan hoặc khách quan, tình thái từ dùng để gọi đáp [1, 148-151]

♦ (2) Nhóm trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái: Các tác giả thuộc nhóm này chỉ khảo sát vấn đề tình thái ở một khía cạnh nào đó của lĩnh vực này thể hiện qua những bài viết đăng trên tạp chí ngôn ngữ như sau:

V.X Panfilof với " Các cấp thể và các chỉ tố tình thái - thể trong tiếng Việt"( G.L dịch) (1979)

Vũ Thế Thạch "Ngữ nghĩa và chức năng của các từ được, bị, phải trong tiếng Việt hiện

Nguy ễn Minh Thuyết " Các tiền phó từ chỉ thời- thể trong tiếng Việt" (1995)

Nguy ễn Văn Hiệp "Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối

câu tiếng Việt" (2001)

Ph ạm Hùng Việt " vấn đề tính tình thái với việc xem xét chức năng ngữ nghĩa của trợ từ

tiếng Việt" (1994)

Ph ạm Thị Ly " vấn đề tình thái và bản sắc tiếng Việt trong những phương tiện diễn đạt ý

nghĩa tình thái" (Kỷ yếu Hội nghị Khoa học về ngữ pháp tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, 2002)

Hoàng Tu ệ." Nhận xét về Thời, Thể và Tinh thái trong tiếng Việt" (Báo cáo bằng tiếng

Nga tại Hội nghị, "Về khái niệm tình thái" (1996)

Trang 13

Lê Đông - Nguyễn Văn Hiệp." Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học "tạp chí Ngôn ngữ

7, 8/2003

♦ Có thể tóm tắt những đóng góp của các tác giả thuộc nhóm (1):

- Đa số các tác giả đều cho rằng câu bao giờ cũng thể hiện một tình thái nhất định Tuy nhiên, trong số các phạm trù ngữ pháp, ngữ nghĩa được trình bày trong hệ thống, phạm trù tình thái không được chính thức nhắc đến

- Chỉ đề cập chủ yếu đến hai phạm trù từ loại cơ bản là thực từ (bản chất là các từ ngôn

liệu) và hư từ (bản chất là các từ công cụ cú pháp) mà không có sự phân biệt rạch ròi giữa

phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái Do vậy, các yếu tố tình thái hoặc bị xếp lẫn vào thực

từ hoặc bị xếp lẫn vào hư từ Từ đó, các yếu tố tình thái được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như phó từ, trợ từ, thán từ, ngữ khí từ., tuỳ theo những đặc điểm ngữ nghĩa cú pháp mà người

ta phân tích được trong câu

♦ Sau đây là ý kiến của các tác giả thuộc nhóm (2):

- Các tác giả đã có sự phân biệt hai phạm trù: ngôn liệu và tình thái Tuy nhiên, các tác giả

đã không đưa ra một tiêu chí minh xác nào trong việc phân xuất các yếu tố tình thái

- Các tác giả thường chỉ tập trung vào việc phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa, dụng pháp

của một số yếu tố tình thái phổ biến Phạm vi nghiên cứu tuy không rộng nhưng cũng đã bộc lộ được thái độ ứng xử với các yếu tố tình thái

Tình thái là một bình diện khá rộng lớn trong ngôn ngữ Các loại tình thái trong ngôn ngữ nói chung rất đa dạng Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn ở mỗi ngôn

ngữ lại càng phong phú, phức tạp hơn Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chủ yếu vận

dụng những thành tựu của ngôn ngữ học về tình thái của hành động phát ngôn để khảo sát cách

diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao

Với điều kiện thời gian, tài liệu, kiến thức của bản thân còn hạn chế, chúng tôi chỉ mong được đóng góp ý kiến về:

1.Cách diễn đạt trực tiếp ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao

Trang 14

2.Cách diễn đạt gián tiếp ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truyện ngắn Nam Cao

Do tình thái trần thuật là loại tình thái được kiến trúc trên cơ sở câu trần thuật, là loại câu làm cơ sở cho cách biểu hiện tình thái cầu khiến, cảm thán, chúng tôi chỉ chủ yếu tìm hiểu cách

diễn dạt ý nghĩa tình thái trong truyện ngắn Nam Cao ở một số tình thái như: tình thái nghi vấn, tình thái cầu khiến, tình thái cảm thán

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong quá trình tiếp cận và phân tích đối tượng, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp, đặc biệt là các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học Các phương pháp được sử dụng kết hợp để hỗ trợ, tác động lẫn nhau Trong đó, một số phương pháp chủ yếu được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu như sau:

- Đọc và tiếp cận lý luận về tình thái như khái niệm tình thái, phân loại tình thái tiếng Việt

để nhận biết tình thái của hành động phát ngôn làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài

- Đọc, thống kê, phân loại, tiến hành phân tích, khảo sát cách diễn đạt các hành động phát ngôn cụ thể trong truyện ngắn của Nam Cao

- Tài liệu tham khảo chủ yếu là các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học (ngữ pháp học, ngữ dụng học) trong nước và một số tài liệu dịch từ các công trình nghiên cứu của

một số tác giả nước ngoài về tình thái

- Nguồn ngữ liệu dùng để khảo sát được trích từ truyện ngắn của Nam Cao (Tập I và II)

- Ngoài ra luận văn còn tham khảo thêm những công trình nghiên cứu, bài viết về Nam Cao

Việc nghiên cứu đề tài "Cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong truy ện ngắn Nam Cao" theo chúng tôi có ý nghĩa như sau:

Trang 15

- Ở bình diện lý thuyết: Hiện nay vấn đề những vấn đề về tình thái nói chung, ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn nói riêng còn đang được tiếp tục nghiên cứu để phát kiến những

vấn đề chưa tỏ Chúng tôi hy vọng sẽ có thể đóng góp phần nào vào lý luận nghiên cứu ý nghĩa tình thái của các hành động phát ngôn trong tiếng Việt

- Ở bình diện ứng dụng: Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà Một trong những thành tựu của ông có thể kể đến là nghệ thuật xây

dựng nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn từ Ngôn ngữ kể chuyện của ông thật đặc sắc và

biểu hiện nhiều sắc thái khác nhau Bên cạnh đó, Nam Cao còn là một tác giả có tác phẩm được trích giảng trong chương trình văn học bậc phổ thông, vì vậy chúng tôi hy vọng luận văn của chúng tôi phần nào có thể giúp các đồng nghiệp và bản thân mình trong công tác học tập và

giảng dạy Mặt khác, qua tìm hiểu cách diễn đạt ý nghĩa tình thái của hành động phát ngôn trong sáng tác Nam Cao, chúng tôi càng nhìn nhận rõ hơn sự phong phú, đa dạng của tiếng

Việt Từ đó, có thể giữ gìn, vận dụng và phát triển ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống, học tập

và công tác

Với nội dung nghiên cứu và phương pháp như trên, luận văn có cấu trúc như sau:

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH THÁI VÀ TÌNH THÁI CỦA

HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN TRONG TIẾNG VIỆT

Khái niệm "tình thái" (modality, modalité) trong câu không phải là mới trong ngôn ngữ

học Nó được hiểu không giống nhau ở các khuynh hướng ngôn ngữ học khác nhau

Các tài liệu ngữ pháp thời cổ đã phân chia câu thành câu khẳng định, nghi vấn, cảm thán chính là dựa vào các tình thái hoặc khi liệt kê các thức như chỉ định, cầu khiến, mệnh

lệnh là đã dựa vào sự phân chia tình thái

Từ ý kiến của Charles Bally về sự phân biệt hai thành phần ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus) trong nội dung câu, nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay thống nhất xác định hai thành

phần trong nghĩa của câu:

(1)Nội dung nghĩa biểu hiện là phần cốt lõi của câu Nó được tạo nên bởi nội dung của sự tình, bao gồm lõi hạt nhân của vị từ và những tham tố xoay quanh nó Nghĩa biểu hiện là nội dung chính của mệnh đề

(2)Nội dung nghĩa tình thái được tạo nên từ mối quan hệ giữa nội dung của câu với hiện

thực khách quan, với tình huống phát ngôn, với người nói, tức thái độ của người nói với nội dung ấy

Như vậy, tình thái là yếu tố thuộc bình diện ngữ nghĩa (nghĩa của câu) Trong khi các khuynh hướng ngôn ngữ học trước đây cho là có thể hay không có ý nghĩa tình thái trong câu thì các khuynh hướng ngôn ngữ họe , nhất là ngữ pháp học gần đây nhận định tình thái là phần

tất yếu trong tất cả các phát ngôn

Ví dụ:

Trời mưa

Trời mưa rồi

Trời mưa rồi kìa!

Mưa rồi kìa!

Trang 18

Hình như trời mưa

Trời lại mưa

Trời cứ mưa mãi

Các câu trên tuy cùng nhận định về một sự tình (trời mưa) nhưng chúng khác nhau chính

là do tình thái trong câu Cách kiến giải trên của Bally hiện nay vẫn được nhiều nhà ngôn ngữ

học chấp nhận nhất là trong hướng nghiên cứu hoạt động phát ngôn Dù có những hướng giải quyết khác nhau về vấn đề tình thái, tựu trung các tác giả vẫn có một sự thống nhất cơ bản về

những điểm chủ yếu của khái niệm tình thái:

1.1.1.V.N Bondarenko cho rằng: Tính tình thái là phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối liên hệ khách quan(tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ

ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chúng trong câu đó theo quan niệm của ngưòi nói ( tình thái chủ quan) [52, 48] Phạm Hùng Việt đồng tình với quan điểm trên và cho rằng: Tính

tình thái là phạm trù ngữ pháp- ngữ nghĩa biểu thị quan hệ của ngưòi nói với nội dung thông báo ( tình thái chủ quan) và quan hệ của nội dung thông báo với hiện thực khách quan (tình thái khách quan) [52,48]

1.1.2.Vận dụng quan điểm và phương pháp dụng học để phân tích về khái niệm tình thái,

A.M Peshcovskij cho rằng: Phạm trù tính tình thái thể hiện quan hệ giữa người nói với mối liên

hệ do nó lập nên giữa nội dung của một phát ngôn cụ thể và thực tế, tức là mối quan hệ với mối quan hệ Từ đó tình thái được nghiên cứu như là một phạm trù phức thể, nhiều phương diện tác động lẫn nhau một cách tích cực với toàn bộ hệ thống của các phạm trù chức năng ngữ nghĩa khác của ngôn ngữ và được liên hệ chặt chẽ với các phạm trù của ngữ dụng học Theo cách nhìn này, khi quan sát phạm trù tình thái ngưòi ta còn xét đến cả sự phản ứng, các tương tác

phức tạp giữa bốn nhân tố của quá trình giao tiếp: ngưòi nói, người đối thoại, nội dung của phát ngôn và thực tế [52, 50]

Trang 19

đoán về giá trị như hạnh phúc, sợ (3) Thể hiện quan hệ giữa hành động phát ngôn đối với một đặc thù thông báo riêng của nó [57, 16]

M.V Liapon cũng đồng tình với Peshcovskij khi nhận định: "Tính tình thái là một phạm

trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo" [52, 48] Ông cũng phân chia thành hai loại tình thái khách quan và tình thái chủ quan và cho rằng khái niệm đánh giá làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho tình thái chủ quan [52, 49] Tuy cho rằng tình thái là một

phạm trù ngữ nghĩa nhưng khi xác lập nguyên tắc để nhận định tình thái, Liapon lại nghiêng về

dụng pháp Ông khẳng định các đối lập có liên quan đến tính tình thái như sau:

- Đối lập giữa các phát ngôn về đặc tính của mục đích giao tiếp (trần thuật, nghi vấn, kêu

gọi)

- Đối lập giữa các phát ngôn theo dấu hiệu "khẳng định", "phủ định"

- Sự phân tầng ý nghĩa trong phạm vi hiện thực tính- phi hiện thực tính(hiện thực tính- giả thuyết tính- phi hiện thực tính)

- Mức độ tin tưởng khác nhau của ngưòi nói vào tính xác thực có trong ý nghĩa của ngưòi

đó về một thực tế

- Dạng biến đổi khác nhau giữa mối liên hệ của chủ từ với vị từ được biểu thị bằng các phương tiện từ vựng [52,49]

Quan điểm trên của Liapon khi xác định cụ thể các hiện tượng tình thái đã có những đóng

góp nhất định cho lĩnh vực nghiên cứu tình thái dẫu rằng ông chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa

ba bình diện ngữ nghĩa- ngữ pháp- ngữ dụng

Nhà ngôn ngữ học Mỹ rất nổi tiếng là Noam Chomsky, ngưòi mở đường cho trường phái

tạo sinh, có một cách nhìn khác về tình thái: Câu bao giờ cũng phải là câu khẳng định(declarative), hay là câu nghi vấn, hay là câu mệnh lệnh Tính chất khác nhau của những câu đó là "tình thái" Như vậy, tình thái là yếu tố bắt buộc phải có, để cùng với "hạt nhân" tạo

ra "câu cơ sở" Câu sơ sở thuộc "cấu trúc bề sâu" Nó tồn tại trong tư duy người nói Nó bao

gồm hai yếu tố: tình thái và hạt nhân Từ cấu trúc bề sâu này,trong thực tiễn hoạt động ngôn

ngữ, nó trải qua những "cải biên" để chuyển sang "cấu trúc bề mặt"

Trang 20

Cũng theo trường phái này, không thể nào có một câu mà không có tình thái, tức thuộc

một trong các kiểu câu.Và cũng không thể nào lại có một câu chứa 2,3 tình thái, tức là cùng

một lúc thuộc 2,3 kiểu câu [49, 743-744]

1.1.3.Vận dụng ngữ pháp chức năng và lý thuyết đụng học vào tiếng Việt đồng thời nhận chân giá trị các tác tử tình thái trong hệ thống, tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: " Phạm trù tính

tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của ngưòi nói với nội dung của câu và quan hệ của

nội dung này với thực tế mọi ngôn ngữ Nội dung này có thể được khẳng định, được phủ định, được yêu cầu hay bị cấm đoán, được cầu mong hay đề nghị Từ đó các câu được phân chia theo phạm tru tính tình thái thành các câu tường thuật, câu hỏi, mệnh lệnh, cầu khiến

Tác giả Cao Xuân Hạo [20] và Đỗ Hữu Châu [7 ] đã phân biệt một cách cụ thể tình thái

của hành động phát ngôn ( dụng pháp) và tình thái của lời phát ngôn (ngữ nghĩa) Tác giả Cao Xuân Hạo khẳng định "Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái n ếu không phải là kết hợp nhiều thứ tình thái" [20,51]

Các yếu tố tình thái phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng như trong logic nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau[ 20, 50] Ngoài ba phạm trù đó, tình thái liên quan đặc biệt đến thái

độ và cách đánh giá của người nói Ông phân biệt:

- Tình thái của câu nói (modalité de la phrase) phản ứng thái độ của ngưòi nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực, giới hạn của tính hiện thực, mức độ

của tính chính xác, của tính tất yếu, tính khả năng, tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc cũngg đều được thông báo

- Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân ( modalité de la prédication) phản ứng những

dạng thức thể hiện của hành động, quá trình, trạng thái hay tíụh chất do phần vị ngữ biểu đạt

- Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác

dụng trong giao tiếp Đó là sự phân biệt quen thuộc giữa các loại câu: trần thuật, hỏi, cầu khiến,

phản bác

Tác giả Hoàng Tuệ cho rằng khi phân tích tình thái trong câu, cần phải xét đến phương

tiện biểu thị tình thái Những phương tiện này khá đa dạng trong các ngôn ngữ Nhưng, tựu trung có những loại chính như:

Trang 21

(1) Những phương tiện ngữ pháp được gắn với vị ngữ Trong tiếng Việt, đó là những phụ

từ thường làm yếu tố phụ cho yếu tố chính của vị ngữ

(2)Những phương tiện từ vựng được dùng không gắn với vị ngữ rpà ở ngoài cấu trúc của

vị ngữ

(3)Trong câu ghép, thành phần chính biểu thị tình thái, thành phần phụ biểu thị nội dung

cốt lõi của câu [50, 734-750]

Từ những định nghĩa trình bày trên về tình thái, chúng ta nhận thấy:

Một vấn đề mà các tác giả quan tâm khi đề cập đến vấn đề tình thái là thái độ, cách đánh

c ửa con người đứng trước hiện thực Chính yếu tố tình thái này tạo nên tính cụ thể, tính sinh động của lời nói" [36,139]

Như vậy, chúng ta có thể rút ra được những điểm quan yếu về tình thái như:

@ Tình thái- một phạm trù ngôn ngữ phản ánh cách thực hiện mối liên hệ tiềm năng giữa các yếu tố ngôn liệu, cho biết mối liên hệ ấy là có thực hay không có thực ( hiện thực hay phi

hiện thực), là tất yếu hay không tất yếu, là có thể có hay không thể có [6,50]

@ Tình thái phản ánh các mối quan hệ phức tạp giữa 4 nhân tố của quá trình giao tiếp: người nói, người đối thoại, nội dung của phát ngôn và thực tế Những nhân tố đó có thể có

những mối quan hệ sau:

- Quan hệ giữa ngưòi nói đối với nội dung được thông báo (tình thái chủ quan)

- Quan hệ giữa điều được thông báo với hiện thực (tình thái khách quan)

- Quan hệ giữa ngưòi nói với mối quan hệ do nó lập nên giữa nội dung của một phát ngôn

cụ thể và thực tế (quan hệ giữa tình thái khách quan và tình thái chủ quan)

- Quan hệ giữa ngưòi nói và người đối thoại hoặc giữa nội dung phát ngôn với mục đích giao tiếp (tình thái của hành động phát ngôn)

Trong logic học, tình thái của một mệnh đề thường được nghiên cứu qua ba thông số: Tính khả năng (±)

Trang 22

Tính tất yếu (±)

Tính hiện thực (±)

Trong ngôn ngữ học, tình thái của phát ngôn còn được nghiên cứu qua nhiều thông số

khác như thái độ, sự đánh giá của người nói Các thông số này không chỉ tạo thành tình thái

riêng trong câu, biểu hiện thái độ của người nói mà chúng còn hoa nhập vào ba thông số trong logic để tạo nên những găm màu tình thái hết sức sinh động, phong phú trong ngôn ngữ

Trong tác phẩm Semanticque Linguistique, 1980, J.Lyons phân biệt ba loại tình thái: (1)Tình thái tất yếu và khả năng (La modalité nécessité et possibilité)

(2)Tình thái nhận thức (La modalité cognition)

(3)Tình thái nghĩa vụ (La modalité déontique)

Sau đó, năm 1990, ông bổ sung thêm hai loại nữa, đưa danh sách các loại tình thái lên năm loại như sau:

(1)Tất yếu và khả năng (La nécessité et la possibilité)

(2)Tinh thái liên quan đến quá trình hiểu biết và nhận thức (Modalité épistémique et factivité)

(3)Các thì trong ngữ pháp như là một loại tình thái (Les temps grammatical comme modalité)

(4)Tình thái nghĩa vụ (La mođalité déontique)

(5)Bắt buộc, cho phép, cấm đoán, miễn trừ (L obligation, permission, Ì interdiction et la dispence)

M V Liapon lại phân chia phạm trù tính tình thái thành hai loại:

(1)Tình thái khách quan (Objective modality) thể hiện cái được thông báo với thực tế (2)Tình thái chủ quan ( Subjective modality) thể hiện ở quan hệ của người nói với người được thông báo

N Bondasenco khi xét đến cơ sở của hai loại tình thái trên, ông cho rằng: Cơ sở cho tình thái khách quan chính là tính khả năng, tính thực tế và tính cần yếu

Trang 23

Cơ sở cho tình thái chủ quan chính là sự nghi ngờ, tính không chắc chắn và tính dứt khoát

Jean Louis Chiss, Jacques Filliolet, Dominique Maingueneau thống nhất phân chia tình thái ngôn ngữ ra làm 3 loại như sau:

(1)Tình thái của hành động phát ngôn (La modalité d énonciation)

(2)Tình thái của lời phát ngôn (La modalité d énoncé)

(3)Tình thái của thông báo (La modalité de message)

Tiếp nhận cách phân loại trên và theo sự phân tích, phác thảo của một số tác giả như Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, chúng tôi phân biệt hai loại tình thái:

(1) Tình thái của hành động phát ngôn (La mođalité d énonciation)

(3) Tình thái của lời phát ngôn ( La modalité d énoncé)

Mỗi câu nói đều thể hiện một hành động Hành động được thể hiện khi nói rất đa dạng, trong đó hành động thường được nói đến có thể là nghi vấn, yêu cầu, mệnh lệnh (tác giả Cao Xuân Hạo gọi là hành động ngôn trung) Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế Việc phân loại câu theo mục đích phát ngôn của ngữ pháp ữuyền thống là dựa vào tình thái này Mục đích phát ngôn có thể thể hiện ra ngoài hay hàm ngôn Do vậy, ở đây có sự phân biệt giữa câu trần thuật mang tính chất thông báo thuần tuy và những câu có giá trị ngôn trung (illocutionary force) được đánh dấu: Câu xác

nhận, câu phản bác Chẳng hạn, trong'tiếng Việt, câu trần thuật nhưng có thể là cầu khiến:

Qu ần áo con cũ hết rồi ( Câu trần thuật nhưng có hàm ý cầu khiến: muốn mua quần áo

mới)

Tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng pháp

1.2.1.1.Lý thuy ết về hành động ngôn từ

1.2.1.1.1.Khái quát về hành động ngôn từ

Tư tưởng sâu xa đặt tiền đề cho lý thuyết này là tư tưởng triết học của nhà triết học người

Ấo L Wittgenstein Ông xem hoạt động giao tiếp cũng như hoạt động xã hội và việc sử dụng

Trang 24

ngôn từ, lời nói cũng như một hành động Việc sử dụng lời nói chịu sự chi phối của các qui tắc

nhất định mà L Wittgenstein gọi là "trò chơi ngôn ngữ" Tuy nhiên, "người đầu tiên trình bày

lý thuyếthành động ngôn từ một cách có hệ thống là J Austin

Người xây dựng nền móng cho lý thuyết hành động ngôn từ là nhà triết học người Anh I.L.Austin Công trình nghiên cứu của ông là "How to do thing with words" (1960) Luận điểm

cơ bản trong công trình này là: "To say is to do something" ( Nói là làm) Nói là một cách sử

dụng ngôn ngữ để biểu hiện, diễn tả một nội dung thông báo nào đó Làm là hành động thực tể

Từ luận điểm tiền đề này mà người ta xây dựng nên lý thuyết hành động ngôn từ

Hành động ngôn từ là nhấn mạnh bản chất của câu nói Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã

thực hiện một hành động nào đó như thông báo, khuyên, chúc mừng, tuyên bố, xin lỗi, hứa,

thề Đó là những hành động được thực hiện bằng ngôn từ hay còn gọi là hành động ngôn từ J Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất những hành động:

Hành động tạo lời (locutionary act)

Hành động tại lời (illocutionary act)

Hành động mượn lời (perlocutionary act)

- Hành động taạo lời: Austin đặt tên cho hành động "nói một điều gì đó" là hành động tạo

lời Đó là hành động sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của

một ngôn ngữ để cấu tạo nên một câu nói Chẳng hạn, xin lỗi, cảm ơn là hành động tạo lời

- Hành động tại lời: Austin đặt vấn đề: Nói một điều gì đó để thực hiện một hành động gì

đó là như thế nào? Trong giao tiếp, chúng ta có những hành động như hỏi, ra lệnh, đề nghị, yêu

cầu Muốn thể hiện chúng ngay trong lời nói thì " cần nói một điều gì đó " Nói cách khác, hành động tại lời là hành động thực hiện ngay khi ta phát ra câu nói Nó đồng nhất với mục đích phát ngôn

Ngày mai anh ấy đi Hà Nội có hành động tại lời là thông báo

Anh nên g ặp cố ấy một tí có hành động tại lời là khuyên

Tương ứng với hành động tại lời là lực ngôn trung ( illocutionary force) Đó chính là mục đích phát ngôn như ra lệnh, yêu cầu, khuyên nhủ, chúc tụng, ca ngợi, hứa hẹn Do vậy, cần phân loại các hành động tại lời

Trang 25

Các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng Vì

vậy mà mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng của nó Ngữ dụng học xem hành động tại lời là cốt lõi của hành động ngôn từ

- Hành động mượn lời: Một hành động tại lời thường có hai hiệu quả khác nhau:

(1)Giá trị tự tại của hành động tại lời

(2)Hiệu quả mà người nói có chủ đích gây ra cho người nghe Trong tình huống-cụ thể,

với một cách nói riêng khi thực hiện một hành động tại lời, người nói mong muốn hướng đến

một mục đích nào đó Loại hiệu quả này của một hành động tại lời, Austin gọi là hành động mượn lời Nói cách khác, hành động mượn lời là hành động mà thông qua việc phát ra câu nói, người nói tác động đến tư tưởng, tình cảm của người tiếp nhận thông qua câu nói

Đứng trước một hành động mượn lời, người nghe có thể không nhận ra ngay mặc dù có

thể hiểu đượd hành động tại lời Một hành động tại lời có thể có những hành động mượn lời khác nhau

Ví dụ: Anh nên đi thăm cô ấy một lát Ví dụ trên có hành động tại lời là khuyên nhủ; hành động mượn lời có thể là một sự gợi ý, một sự thuyết phục hoặc cũng có thể nhằm tạo sự xúc động cho người nghe qua thái độ quan tâm, ân cần của người nói

J Searle cho rằng khung lý thuyết hành động ngôn từ (theory of speech acts) là thích hợp

nhất để thảo luận những vấn đề về tình thái bởi thuyết hành động ngôn từ này quan tâm đến quan hệ giữa người nói và điều được nói Với công trình nghiên cứu speech acts (1969), Searle được thừa nhận là có một vị trí đặc biệt trong sự phát triển lý thuyết hành động ngôn từ Tuy nhiên, Searle cho rằng quan điểm của Austin còn nhiều điều bất cập.Từ đó, ông đề nghị một sự miêu tả khác, bao gồm:

(1)Các hành động phát ngôn: Đó là sự phát ngôn của một từ, một cụm từ hay một câu Hành động này ứng với hành động ngữ âm và hành động đưa đẩy của Austin

(2)Các hành động mệnh đề: Đó là sự quy chiếu và vị từ hoa Hành động này ứng với hành động tạo vật, tạo lời của Ausin

Trang 26

(3)Các hành động tại lời(như các hành động tạo lời của Ausin): hỏi, khẳng định, ra lệnh,

hứa hẹn

Hành động ngôn từ gián tiếp (Indirect speech acts):

Năm 1969, Searle đưa ra khái niệm hành động ngôn từ gián tiếp và phát triển trong công trình "Các hành động ngôn từ gián tiếp" (Indirect speech acts) Một hành động ngôn từ được

gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành động tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói Thực tế cho thấy rằng có những câu hỏi người nói không dùng để hỏi

mà nhằm để cầu khiến, đề nghị,

i.Anh làm nhanh lên được không?

ii Anh có thể không hút thuốc lá được không?

-Ví dụ trên cho thấy hình thức có hành động tại lời là hỏi nhưng mục đích là để đề nghị Như vậy, hành động tại lời đề nghị này đã được thực hiện gián tiếp qua hành động tại lời hỏi

Ta nói hành động tại lời đề nghị là một hành động ngôn từ gián tiếp Hành động ngôn từ gián

tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng hình thức của một hành động ngôn từ khác Searle định nghĩa: Một hành động tại lời được thực hiện gián tiếp qua một hành động tại lời khác sẽ được gọi là một hành động gián tiếp Như vậy, đặc điểm của các hành động ngôn từ gián tiếp là:

@ Một hành động ngôn từ gián tiếp có thể được thực hiện qua những hành động tại lời khác nhau

@ Cùng một hành động tại lời có thể tạo ra những hành động gián tiếp khác nhau

Do đâu mà có các hành động ngôn từ gián tiếp? Theo R.Zuber(1980), những hành động ngôn từ gián tiếp có đặc điểm siêu ngôn ngữ, đựơc hình thành trên cơ sở ngữ nghĩa hơn là ngữ

dụng Tiền giả định là một hệ quả ngữ nghĩa thông thường nhưng ở cấp độ siêu ngôn ngữ Do

vậy, có thể dùng quan hệ tiền giả định để phát hiện ra những hành động ngôn từ gián tiếp

1.2.1.1.2.Phân loại hành động ngôn từ

Phân loại của Austin: Austin phân loại các hành vi tại lời thành 5 lớp:

Trang 27

(1)Phán xử hay phán xét ( verdictives) là loại hành động đánh giá về một sự kiện hay một giá trị dựa trên những chứng cứ hay lý lẽ xác đáng như tuyên án, kết luận, đánh giá,ước lượng, huy bỏ, xếp loại

(2)Hành chức hay hành sử (exercitives) gồm những hình thức thể hiện hành động dựa trên quyền lực, luật lệ hay thế lực Hành động ngôn từ cụ thể như: phạt, ban thưởng, tha thứ, từ

chức, chỉ định

(3)Hứa hẹn hay cam kết ( commissives) là những hành động có sự ràng buộc người nói vào những trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định, gồm những hành động như hứa, cam kết, thề bảo đảm

(4)Trình bày hay bày tỏ ( expositives) gồm những hành động dùng để trình bày các quan

niệm, dẫn dắt các lập luận, giải thích các từ ngữ như : khẳng định, thừa nhận, phản bác, tường thuật

(5)Ứng xử ( behabitives) là loại hành động phản ứng lại những hành động, thái độ của người khác như xin lỗi, cảm ơn, ca ngợi, chúc mừng, phê bình, trách, khen

Như vậy, hành động ngôn từ có thể thuộc vào một trong những loại như trên Đây là sự phân loại dựa vào lực ngôn trung của hành động ngôn từ

J Searle cho rằng Austin đã phân loại hành động ngôn từ dựa trên những tiêu chí chồng chéo nhau và không rõ ràng Ông đưa ra 12 tiêu chí, trong đó có ba tiêu chí quan trọng chi phối

việc phân loại là:

(1)Mục đích của hành động tại lời (Illocutionary point)

(2)Hướng thích nghi giữa lời lẽ và hiện thực ( Direction of fit)

(3)Trạng thái tâm lý được biểu hiện

Dựa vào 3 tiêu chí quan trọng này, Searle chia hành động ngôn từ thành 5 loại sau:

(1)Khẳng định (Assertives) hay biểu hiện:

Mục đích của hành động tại lời là người nói chịu trách nhiệm về giá trị chân lý của mệnh

đề được biểu đạt

Trang 28

Hướng thích nghi là từ hiện thực đến lời lẽ

Trạng thái tâm lý: Tin tưởng vào tính đúng đắn, giá trị chân lý của điều đang diễn ra

Những hành động sau thuộc nhóm khẳng định: khẳng định, tường thuật, thông báo, giải thích, miêu tả, Ví dụ : "Trời đang mưa" , "Tôi đoán nó có vợ rồi"

(2)Cầu khiến hay chi phối (Directives):

Mục đích của hành động tại lời là nhằm để người tiếp nhận làm một việc gì đó

Hướng thích nghi từ lời lẽ đến hiện thực: Lời lẽ có trước,hiện thực thay đổi theo lời lẽ, do người tiếp nhận thực hiện

Trạng thái tâm lý: Người nói mong muốn điều cầu khiến sẽ được thực hiện

Những hành động sau thuộc nhóm cầu khiến: cầu khiến , ra lệnh, cảnh báo, van nài, đế nghị, cho phép, mời mọc, rủ rê, thỉnh cầu Ví dụ: "Khéo ngã!", "Coi chừng xe!", "Anh đến nhé!"

(3)Hứa hẹn hay cam kết (Commissives):

Mục đích: Người nói tự gán trách nhiệm phải thực hiện một hành động nào đó

Hướng thích nghi: Từ lời lẽ dẫn đến hiện thực, đo người nói thực hiện

Trạng thái tâm lý không xác định, tuy thuộc vào từng hành động hứa cụ thể mà trạng thái tâm lý khác nhau

Những hành động sau thuộc nhóm hứa hẹn: hứa, thề, cam đoan, cho, tặng, biếu

Ví dụ: "Tôi sẽ làm mà!"Nó hứa nhất định sẽ không nói! "

(4)Bày tỏ hay biểu cảm (Expressives):

Mục đích: Bày tỏ một trạng thái tâm lý nào đó

Hướng thính nghi: Người nói làm cho lời lẽ thích nghi với hiện thực (tức hiện thực diễn ra trước, lời lẽ được làm cho thích nghi)

Trạng thái tâm lý không xác định, phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ

Nhóm này gồm có những hành động như: cám ơn, xin lỗi, chúc mừng, hối tiếc, hoan nghênh, phàn nàn, an ủi, chấp nhận Ví dụ: "Tôi xin lỗi vì đã đến trễ”, "Chào bác ạ!"

Trang 29

(5)Tuyên bố (Declaratives):

Mục đích: Gây ra một sự thay đổi nào đó bằng lời tuyên bố

Hướng thích nghi: Từ lời lẽ đến hiện thực Hiện thực này xảy ra ngay sau khi hành động ngôn từ được thực hiện

Trạng thái tâm lý không xác định được nhưng các yếu tố của thể chế làm cho hành động ngôn từ của người nói có giá trị

Gồm những hành động như tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ

Ví dụ: "Tôi tuyên bố khai mạc hôi nghị", "Tôi xin từ chức"

Quan điểm trên của LSearle đã được F.R Palmer chia sẻ khi cho rằng sự khác biệt giữa

nội dung mệnh đề và tình thái rất gần gũi với sự khác biệt giữa hành vi tạo lời và hành vi tại

l ời; hoặc Hare đã nêu lên một sự khác biệt có giá trị giữa phrastic (cái lõi, nội dung mệnh đề),

tropic (chỉ hiệu của thức), neustic (chỉ hiệu của sự tán thành)

Ở Việt Nam, quan niệm này được thể hiện qua những nghiên cứu của các tác giả như Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu cụ thể là ỏ chủ trương phân biệt nhiều bậc tình thái khác nhau trong câu (đã được trình bày ở phần II)

1.2.1.2.Các lo ại tình thái chủ yếu của hành động ngôn từ

Khi ta nói một câu nghĩa là tư duy logic xác lập một mệnh đề và đồng thời ta cũng đã

thực hiện một hành động giao tiếp nhít định Nội dung của các hành động giao tiếp đó được gọi

là hành động tại lời (hay còn được gọi là hành động ngôn trung) Có rất nhiều loại hành động

tại lời như trình bày, miêu tả, phân biệt, giải thích, minh hoa, khẳng định, loan báo, chứng minh, đánh giá, phủ định, phân loại, trả lời, biện luận Nội dung của hành động tại lời đó được biểu hiện trong lời nói Lời nói đó luôn thể hiện suy nghĩ, nhận định, đánh giá, tình cảm

của người nói Do vậy, tuỳ.theo mục tiêu và tác dụng trong giao tiếp mà các hành động phát ngôn xuất hiện các tình thái trần thuật, nghi vấn, cảm thán hay cầu khiến

1.2.1.2.1.Tình thái nghi vấn:

Nghi vấn là hành động ngôn từ được người nói dùng để biểu hiện điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận hành động đó Tình thái nghi vấn đựơc thể hiện qua câu nghi vấn (câu hỏi chính danh), là những câu hỏi yêu cầu trả lời thông

Trang 30

báo về một sự tình hay một tham tố nào đó của một sự tình có tiền giả định là hiện thực Nó có

thể được thế hiện qua ba loại câu hỏi cố điên là: câu hỏi tống quát (Ông có gặp cô ta không? ),

câu hỏi chuyên biệt( Ông gặp cô ta ở đâu? ) hay câu hỏi hạn định (Ông hay bà ấy gặp cô ta? )

Trong câu hỏi tổng quát (có/ không), những yếu tố nghi vấn (và những yếu tố dùng để trả

lời) chính là những phụ từ tình thái làm trung tâm vị ngữ, kết hợp với một yếu tố tình thái đặt ở

cuối câu hỏi Hình thức câu hỏi này, về nguồn gốc mà xét, cổ lẽ nó bắt nguồn từ câu hỏi hạn

định (hay, có hay không, đã hay chưa, vẫn hay thôi)

Câu hỏi chuyên biệt được cấu tạo như một câu trần thuật, có một yếu tố nghi vấn, do một đại từ bất định làm nòng cốt, được đặt ở một vị trí do chức năng cú pháp của nó quy định Riêng từ nghi vấn dùng để hỏi nguyên nhân như tại sao, vì sao, sao thường được đặt ở đầu câu

hỏi, trừ phi nó có là mở đầu (Chiều qua con không đến thăm bà là tại làm sao?) hoặc được tách

ra khỏi mệnh đề thành một bộ phận ghép (Chiều qua con không đến thăm bà, tại sao?),

Ngoài ra, cần chú ý đến loại câu hỏi chính danh"như câu hỏi có chứa tổ hợp từ - hay siêu ngôn ngữ - (có phải không?, có phải có/đã., không?, có phải không/ chưa không?, phải không?, có không? đúng không?), câu hỏi chứa đựng tiểu từ tình thái cuối câu Trong lịch sử

nghiên cứu tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã sớm thừa nhận vai trò của các tiểu từ tình thái trong việc hình thành các hiệu lực tại lời của các phát ngôn Các tiểu từ tình thái được sử dụng

để mã hóa những đánh giá của người nói đối với khả năng và tình trạng nhận thức của người nghe Các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt là một trong những phương tiện quan trọng để

thực tại hoa câu (cùng với trật tự từ và ngữ điệu), biến nội dung mệnh đề dưới dạng nguyên

liệu, tiềm năng thành một phát ngôn có công dụng giao tiếp trong tình huống nhất định Các

tiểu từ như à, ư, nhỉ, chăng, phỏng, sao, hả, hẳn, chắc, hà/hề đặt cuối câu trần thuật sẽ biến

câu trần thuật thành câu nghi vấn Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi chúng là các từ ngữ khí "khiến cho câu tr ở thành một lời trò chuyện, khiến cho câu có tính hướng đến người đối thoại một cách

hi ển nhiên và người nghe buộc phải "phản ứng" lại với nó bằng ngôn ngữ" Chính từ đặc trưng

này mà khi được sử dụng trong câu nghi vấn, các tiểu từ tình thái có thể giúp cho phát ngôn đạt đến những hiệu lực mượn lời nhất định Chẳng hạn, xét các phát ngôn sau:

Trời nắng nhỉ?

Hôm nay con đi học à?

Trang 31

Các tiểu từ tình thái nhỉ, à mang đến cho câu sắc thái nghi vấn, cụ thể là hỏi về một điều

chưa được khẳng định tuyệt đối (Trời nắng) và một điều phỏng đoán (Hôm nay con đi học) Tuy nhiên, sự khác biệt của hai phát ngôn trên rất rõ, liên quan đến sự giả định của người nói đối với tình trạng hiểu biết của người nghe Trong phát ngôn "Trời nắng nhĩ?" người nói có

những cơ sở để có thể khẳng định là trời nắng và tin rằng người nghe cũng có được những cơ

sở tương đương để khẳng định như vậy sắc thái hỏi của phát ngôn này chỉ là hình thức bên ngoài còn hiệu lực mượn lời thực sự của nó chính làhướng tìm đến một sự đồng tình, đồng cảm

từ phía người nghe

Cũng cần quan tâm đến tình thái nghi vấn thể hiện bằng câu ngôn hành: Theo Austin, cũng như các nhà nghiên cứu sau này, phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn có chứa

những từ ngữ dùng để biểu thị, chỉ ra chính cái hành động được thực hiện khi nói ra phát ngôn

đó Một phát ngôn ngôn hành tường minh thể hiện hành động nghi vấn khi nó chứa đựng động

từ ngôn hành "hỏi" Ví dụ: Tôi hỏi là hôm qua anh đi đâu

1.2.1.2.2.Tình thái cầu khiến

Cầu khiến là hành động ngôn từ được người nói thực hiện nhằm điều khiển người nghe hành động theo chủ ý của mình, bất kể hành động đó có lợi hay có hại cho người nói hay người

nghe Theo đó, cầu khiến không chỉ bao gồm yếu cầu (Về đi!), ra lệnh, ngăn cản (Đừng hỏi

n ữa.), sai bảo, nhờ vả (Làm giúp em với!) mà còn cả xin phép (Cho con đi một lát nhé? ), mời

mọc (Em uống nước đi!)

Xét theo hình thức, một câu chứa đựng tình thái cầu khiến có thể bao gồm hô ngữ, thành

phần bổ trợ (có chức năng ngữ nghĩa như có thể được biểu hiện qua một lời xin lỗi: (Xin lỗi,

b ạn có thể ), tìm hiểu thái độ (Nếu em không thích thì ), giải thích lý do (Cho mượn cái nón,

n ắng quá), khả năng (Có tiền không, mua nhé?) (thành phần bổ trợ còn cọ chức năng giúp

giảm bớt mức độ áp đặt hay xúc phạm của lời cầu khiến và qua đó làm tăng mức lịch sự của câu, khiến cho mục đích cầu khiến đạt được dễ dàng hơn) và mệnh đề cầu khiến Mệnh đề cầu khiến là thành phần chính bắt buộc phải có để thể hiện hành vi cầu khiến cửa người nói Tuỳ theo dạng thức cú pháp (hay xét theo cách thể hiện lực ngôn trung) mà hành động cầu khiến được biểu hiện qua những phát ngôn cụ thể là trực tiếp (chính danh) hay gián tiếp (không chính danh)

Trang 32

Trong tiếng Việt, dạng thức cú pháp điển hình biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp là

cấu trúc mệnh lệnh (Đi ngủ đi! Đừng nói lớn thế Đóng cửa lại! ) hoặc có thể xuất hiện trong

một phát ngôn mà mệnh đề chính ở cấu trúc mệnh lệnh (câu cầu khiến thông tin: Mấy giờ rồi

có thể xuất hiện trong cấu trúc mệnh lệnh như: Cô xem hộ tôi /mấy giờ rồi) hoặc có động từ ngôn hành biểu hiện ý cầu khiến (Mẹ bảo con đừng nhảy nữa!, Ông làm ơn nói giúp hộ tôi)

Tình thái cầu khiến trong tiếng Việt được diễn đạt trực tiếp thường bằng câu cầu khiến có từ

cầu khiến như hãy, đừng, chớ

Hành động cầu khiến gián tiếp thường được biểu hiện bằng các dạng thức cú pháp phi

mệnh lệnh như trần thuật (khẳng định, phủ định), nghi vấn hay cảm thán (Sao đói quá!, Cô có

th ể đưa giùm tôi cuốn sách ở đằng kia được không?, Anh có đồng hồ không?, Trời mưa rồi kìa!

) Thường hành động cầu khiến gián tiếp có xu hướng thể hiện ý định cầu khiến một cách lịch

sự, tế nhị hơn hành động cầu khiến trực tiếp Những câu hỏi như: Ông đừng hút thuốc có được không?; Anh có vi ết đó không?; Em muốn đi chơi không? thực chất là những lời yêu cầu, đề

nghị, mệnh lệnh được thực hiện dưới hình thức câu hỏi, được gọi là câu hỏi có giá trị cầu khiến Các phương tiện quy ước được dùng để đánh dấu hành động cầu khiến gián tiếp thường

là các câu thông báo về ý muốn (Mẹ muốn con học bài đi), câu hỏi về khả năng thực hiện (Con

h ọc bài đi được không?), câu hỏi về lí do (Sao con không học bài đi?) hay câu hỏi về điều kiện

chuẩn bị (Chị còn tiền đây không?) Hành động cầu khiến gián tiếp cũng có thể được suy ra

nhờ từ sự liên tưởng quy chiếu giữa sự vật, đặc trưng hay hành động được nói đến với ý định

cầu khiến nhờ sự gợi ý của tình huống giao tiếp (Muộn rồi đấy !, Tôi hết mất tiền rồi!, Ở đây

ng ột ngạt quá!)

1.2.1.2.3.Tình thái cảm thán

Cảm thán là hành động ngôn từ được dùng để thể hiện cảm xúc, tình cảm, thái độ của người nói đối với một người, một vật hay một sự kiện nào đó Tình thái cảm thán trong tiếng

Việt thường không được thể hiện bằng- câu có những dấu hiệu hình thức thật rõ Thường có thể

đó là những câu chuyên biểu hiện cảm xúc, tình cảm của con người qua những nhận xét, đánh giá trực tiếp của người nói đối với sự vật, hiện tượng khách quan bên ngoài Tuỳ phát ngôn cụ

thể mà có thể sử đụng những từ ngữ như ôi, than ôi, hỡi ôi, chao ối, trời ơi; thay, biết bao, xiết bao; s ử dụng các tiểu từ tình thái cuối câu như thế, đi, mất, thay, sao các quán ngữ như sao

mà, ch ắc chắn, rõ ràng, tất nhiên, như gì ấy

Trang 33

► Tình thái cảm thán được thể hiện bằng hình thức câu cảm thán trực tiếp:

- Hình thức câu có thán từ hoặc những tổ hợp có chức năng như thán từ: a, ô, ơ hay ơ kìa,

ôi, than ôi xi ết bao

- Hình thức câu có tiểu từ tình thái cuối câu như: thế, đi, mất, thay, sao

► Tình thái cảm thán được thể hiện bằng hình thức gián tiếp:

- Hình thức câu nghi vấn biểu thị tình thái cảm thán

Ví dụ: Sao tôi khổ thế này? (Tôi khổ quá!)

Thế có tức không? (Tức quá!/ Tức quá đi thôi!)

- Hình thức câu trần thuật (có dùng từ chỉ mức độ như quá, lắm, thật hoặc một số quán

ngữ như chắc chắn là, rõ ràng là, tất nhiên là, khổ một nỗi là ) biểu thị tình thái cảm thán

Ví dụ: Tội nghiệp quá!

Đáng thương thật!

1.2.1.2.4.Tình thái trần thuật

Nội dung của bất kỳ lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái, loại tình thái này không thể hiện bằng phương tiện từ vựng Nó có thể đựơc coi như "không đánh dấu" (unmarked) Trong ngôn ngữ biến hình, tình thái được thể hiện bằng "thái trần thuật" của động

từ Đối với ngôn ngữ không biến hình, nó được thể hiện bằng trật tự từ (là sự tuyến tính hoa theo các quy tắc tạo câu) Nếu trật tự này không đựơc thực hiện hoặc một quy tắc nào đó của cách tạo câu bị vi phạm thì tình thái sẽ không còn nữa

Ví dụ: Lan rất thích hoa hồng

Khi vắng mặt tình thái, ngôn liệu chỉ là những tổ hợp rời rạc: hoa hồng, thích, Lan, rất

Căn cứ quan hệ giữa nội dung câu nói với hiện thực, tình thái trần thuật có: tình thái trần thuật khẳng định xác nhận đặc trưng của đối tượng; tĩnh thái phủ định phủ nhận những đặc trưng của đối tượng

Trang 34

1.2.2.Tình thái c ủa lời phát ngôn

Tinh thái của lời phát ngôn không là chủ điểm ưong luận văn của chúng tôi Do vậy, chúng tôi không nghiên cứu sâu, không vận dụng để khảo sát mảng tình thái này trong sáng tác

của Nam Cao Phần này, chứng tôi chỉ dừng lại ở việc miêu tả phương tiện biểu hiện

1.2.2.1.Tình thái khách quan:

Tinh thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn, thể hiện mối quan hệ giữa cái được thông báo với hiện thực khách quan Các phạm trù thời, thể, ngôi là phương tiện chủ

yếu thể hiện loại tình thái này trong ngôn ngữ biến hình Đối với ngôn ngữ đơn lập như tiếng

Việt, tình thái khách quan được thể hiện qua các từ tình thái gắn nền với vị ngữ Ví dụ: Nó vừa

đi khỏi đây

Phụ từ "vừa" cho biết sự việc đựơc miêu tả diễn ra trong thời gian đã qua nhưng không xa

so với hiện tại, biểu thị mối quan hệ giữa nội dung thông báo với hiện thực

Cần chú ý phân biệt:

1.2.2.1.1.Tình thái với tư cách là một phạm trù hiện thực thể hiện ở một số vị từ chỉ trạng thái của con người: cần, muốn, dám, toan, định

1.2.2.1.2.Tình thái về mối quan hệ giữa người nói với hiện thực

a.Tình thái hiện thực hay phi hiện thực:

Tình thái khẳng định: sử dụng các từ như có, ắt, tất, vẫn nhằm mục đích khẳng định

tính khách quan của sự tình Ví dụ: Vài tháng nữa bức tường này tất sập ("sập" là sự tình khách quan sẽ xảy ra)

Tình thái phủ định thường dùng một số phụ từ phủ định để thể hiện như không, chẳng,

ch ả , chưa, đâu, nào

Không biểu thị ý phủ định đối với điều được nêu ra sau đỏ, thường không liên quan đến

một thời điểm mốc ( Nó không trả lời, Ông ấy không trung thực)

Chưa biểu thị ý phủ định có liên quan đến một thời điểm mốc (Tôi chưa viết xong luận văn, Lúc ấy nó chưa tốt nghiệp đại học)

Ch ẳng biểu thị tình thái nhấn mạnh phủ định (Nó chẳng thích, Cô ta chẳng làm )

Trang 35

Để nhấn mạnh phủ định tới cả quá khứ có không hề, chẳng hề, chưa hề Có thể dùng đâu,

trong định hướng cầu khiến có thể sử dụng chớ, đừng (Đừng nói với nó !, Chớ băn khoăn! )

b.Tình thái về thể (hoàn thành, chưa hoàn thành, kéo dài): Các từ như đang, đã, rồi,

chưa, vẫn, còn có ý nghĩa khẳng định những giai đoạn thời gian khác nhau của hành động

hoặc đặc trưng

"Đang" biểu thị thời gian hiện tại của hành động hoặc đặc trưng thể tiếp diễn, chưa kết

thúc nhưng có lúc kết thúc

"Đã" cùng với cấu trúc ngữ sau đó biểu thị hành động hoàn thành hoặc đặc trưng đã có và

vẫn còn (Chúng tôi đã đọc tài liệu này rồi, Áo này đã cũ rồi, Chúng tôi đã hoàn thành k ế

ho ạch)

"Chưa" biểu thị tình thái về thể chưa hoàn thành (Nó may áo chưa xong)

bất giác (Nó chợt nhớ ra) Liền, bèn thể hiện thể hoàn thành nối liền nhau (Tôi vừa nói xong

nó li ền cãi lại)

c.Tình thái đối chiếu: cũng, đều, vẫn, còn, lại

Ví dụ: Cô ấy cũng học tiếng Anh "Cũng" khẳng định hành động "học tiếng Anh" của cô

ấy so với hành động học tiếng Anh của một chủ thể khác Tiền giả định : Một hoặc nhiều người khác đã học tiếng Anh

"Đều" nhằm khẳng định tính đồng nhất của hành động, đặc tnửig ở những chủ thể khác

nhau (Hai cái áo này đều không đẹp)

"L ại" khẳng định hành động, đặc trưng lặp lại của cùng một chủ thể so với hành động, đặc trưng trước đó (Ví dụ: Nó lại đi chơi!, lại khẳng định hành động đi chơi của nó so với hành

động đi chơi cũng của nó trứơc đó Tiền giả đinh: trước đó nó cũng đã đi chơi, có thêm hàm ý

về thái độ không hài lòng của người nói) Hoặc lại cũng biểu hiện ý nghĩa như ngược lại, trái

l ại, khẳng định sự trái ngựơc của hai hành động, hai đặc trưng.'

"V ẫn, còn" khẳng định sự tiếp diễn của hành động này đối chiếu với một hành động khác

xuất hiện trong bối cảnh Ví dụ: Lúc bà ấy đi chợ thì cô còn ngủ

Trang 36

d.Tình thái tất yếu hay không tất yếu: t ất nhiên, dĩ nhiên, đương nhiên, bỗng, bỗng

tr ời đỗ mưa)

e.Tình thái về mức độ: Để khẳng định mức độ của đặc trưng hoặc cường độ của hoạt động tâm lý, tiếng Việt sử dụng các phụ từ như: hơi, khá, rất, quá, lắm, vô cùng Rất, quá, lắm,

h ết sức, vô cùng, cực kỳ biểu thị mức độ cao Tuy nhiên mỗi từ có một sắc thái nghĩa riêng Do

sự kết hợp với các từ khác trong câu mà mỗi từ cũng có thể có sắc thái nghĩa khác nhau

Ví dụ: Ngôi nhà này đẹp quá: biểu thị mức độ cao một cách khách quan

Ngôi nhà này quá đẹp: biểu thị mức độ cao khác thường ngoài dự kiến chủ quan

của người nói

1.2.2.2.Tình thái ch ủ quan

Tình thái chủ quan là dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn, thể hiện ở quan hệ của người nói đối với điều được thông báo và quan hệ giữa người nói đối với người nghe Nó được

thể hiện bởi các trợ từ tình thái trong câu, trợ từ cho câu hoặc trợ từ cho từ và ngữ

Đặc điểm ngữ nghĩa của các trợ từ này mang lại ý nghĩa chủ quan nào đó về thái độ, sự đánh giá của người nói đối với hiện thực khách quan được phản ánh trong câu Ý nghĩa tình thái có thể mang tính bao quát với toàn bộ nội dung phát ngôn (là chức năng của trợ từ cho câu)

hoặc có thể chỉ là đối với một bộ phận, một đối tượng nào đó có mặt trong nội dung phát ngôn (là chức năng của trợ từ cho từ và ngữ) Trong trường hợp ý nghĩa tình thái chỉ thể hiện đối với

một một bộ phận, một đối tượng trong nội dung phát ngôn thì các trợ từ cho từ và ngữ- đứng

trước hoặc đứng sau( chính, đích, ngay cả, đích thị, đến, tới, cái ) thường làm xuất hiện tình

thái nhấn mạnh, nêu bật đối tượng, đặc điểm của đối tượng mà chúng biểu hiện, có khi kéo theo hàm ý về thái độ đánh giá chủ quan của ngưòi nói đối với chính đối tượng được nhấn

Trang 37

danh đối tượng được đề cập đến trong câu, “chính, đích” tập trung được sự chú ý của người

nghe vào đối tượng Những từ, ngữ theo sau nó đột nhiên trở nên quan trọng và trở thành trọng

điểm thông tin của phát ngôn (Chính nó đã làm điều đó Đích thị là hắn ta rồi ) Các ví dụ cho

thấy "đích” có sắc thái nhấn mạnh cao hơn "chính" Tổ hợp có "đích" thường có thể đứng riêng

thành một phát ngôn (câu tỉnh lược), khẳng định nổi bật, xác định của đối tượng được nếu trong toàn bộ tập hợp đồng loại với nó Ở đây duy nhất chỉ có đối tượng ngưòi, sự vật, sự việc

là nội dung thông báo của phát ngôn "đích' có thể xuất hiện dưới dạng kết hợp "đích thị, đích

th ị là, đích là "

"Chính" có m ức độ sử dụng phổ biến hơn "đích" và đa dạng hơn "đích" Nó không chỉ

đứng trước danh từ, danh ngữ, đại từ như 'đích' mà còn đứng trước, bổ sung ý nghĩa tình thái cho cả giới ngữ "chính vì , chính tại , chính để , chính từ , chính ở " (Thị muốn nói cho

ch ồng biết chính vì chồng mà thị khổ, NC, 290) "Chính" thích hợp cho văn nói, viết, phong

cách trang trọng nghi thức hay khẩu ngữ Khi có 'là' theo sau, kết hợp 'chính là' làm cho phát

ngôn có vẻ tự nhiên hơn khi được sử dụng trong phạm vi giao tiếp khẩu ngữ hằng ngày

Tr ợ từ "cái " chỉ xuất:

Đặc trưng của trợ từ này là không tham gia vào tổ chức, cấu tạo của ngữ, không có đặc trưng kết hợp với các từ loại khác trong ngữ như các trợ từ trong hệ thống Từ "cái" chỉ xuất có

vị trí ổn định trong kết cấu tổ chức của ngữ danh từ (những cái con mèo đen ấy, cái chuyện đời

th ật rắc rối, cái thằng thật kỳ ) Trong cấu tạo điển hình của danh ngữ, từ " cái" chỉ xuất có vị

trí sau từ chỉ số lượng và ngay trước danh từ trung tâm Từ "cái"(danh từ) thường có định ngữ

theo sau, nhất là các từ chỉ định " ấy, kia, đó, này, nọ " Tác giả Hoàng Tuệ (2001) cho rằng:

"Cái", là một chỉ từ đặc biệt dùng biểu thị tình thái là nhấn mạnh, chỉ xuất sự vật được nói đến

Nó có thể có vị trí trước trung tâm là danh từ không định loại như: Tôi không quên cái ngày

ấy Cũng có thể có vị trí trước trung tâm là danh từ định loại và trước loại từ như: Cái bức thư

ấy vô cùng quan trọng; Thật đáng khinh những cái con người như thế [49, 866]

Về chức năng ngữ nghĩa của một trợ từ, "cái" có tác dụng nhấn mạnh, làm tăng tính xác

định cho đối tượng được bộ phận trung tâm của danh ngữ phía sau thể hiện Đặc biệt, khi đứng trước danh từ chỉ người, nó có thể bộc lộ thái độ xem thường, nhạo báng, chê trách đối

tượng(Tự nhiên đi rước cái anh cu lang Rận ấy về, NC, Truyện ngắn tuyển chọn, tr 229)

Trang 38

Nhờ đặc trưng bản chất của trợ từ tình thái, ‘cái’ thường mang đến cho phát ngôn tính

khẩu ngữ tự nhiên

1.2.2.2.2.Tình thái đánh giá

Loại tình thái này có thể phân xuất thành tình thái đánh giá cao về mức độ, tính chất của

sự việc (đến/ tới, những, chỉ, có, cả, ngay ) và các tình thái đánh giá về lượng, mức độ

♦ "Cả, chính , đến/ tới, ngay" là những trợ từ phục vụ cho việc bộc lộ tình thái đánh giá

cao về mức độ, tính chất của sự viêc: Các trợ từ này thường đứng trước những từ ngữ mà nó

nhấn mạnh nhưng ý nghĩa tình thái mà chúng tạo ra không giới hạn trong phạm vi những từ

ngữ đó mà bao trùm cả phát ngôn

Chẳng hạn, xét phát ngôn: "Từ sợ cả nói với chồng" (NC, 208) Kết hợp "cả nói" chỉ có

thể bộc lộ được giá trị, nội dung ý nghĩa khi được đặt vào nghĩa của toàn bộ phát ngôn Đứng

một mình, kết hợp này mất đi ý nghĩa tình thái mà nó đã thể hiện trong phát ngôn, thậm chí không còn một dây liên hệ nào với phát ngôn Chính nội dung sự việc có ương phát ngôn làm cho kết hợp này phát huy được vai trò của mình về hình thức, trợ từ "cả" gắn với động từ “nói"

nhưng về ý nghĩa tình thái, nó lại nằm trong mối liên hệ với những thành phần khác trong câu

để thực hiện cho được vai trò của mình Nghĩa là nó nhấn mạnh từ "nói" nhưng qua đó hàm ý

đánh giá mức độ cao của sự việc đưa ra: Ở mọi khía cạnh, thị đều sợ chồng Đến cả nói là một điều dễ làm nhưng thị vẫn không dám làm

Những trợ từ này biến những từ ngữ mà chúng phụ trợ thành những giới hạn mà sự việc trong câu đạt đến nhằm chứng tỏ mức độ cao của nội dung sự việc ấy Mặt khác, chúng còn làm cho phát ngôn chứa đựng những hàm ý.Ví dụ: Ông ta nói được cả tiếng Nhật —► Ông ta biết

nói nhiều thứ tiếng, kể cả thứ tiếng rất khó như tiếng Nhật

Những hàm ý suy ra thường cũng có thể là những phát ngôn đi kèm sau đó, làm rõ ý cùa chúng Tuy nhiên, chỉ cần xét phát ngổn có chứa các trợ từ tình thái này thì người nghe cũng đủ

nhận định được ý nghĩa hàm ẩn đằng sau phát ngôn " Ngay, cả, chính" là những trợ từ có ý

nghĩa tình thái nhấn mạnh mức độ của những sự việc, hành động trong phát ngôn cần chú ý

rằng "chính" không chỉ là trợ từ có nhiệm vụ nhấn mạnh, nêu bật đối tượng nhằm mang đến nội dung thông báo thuần tuy về đối tượng mà nó còn có mối liên quan đến toàn bộ phát ngôn Từ

Trang 39

ngữ mà nó phụ trợ là cái cớ để nêu cao tính chất, mức độ của nội dung phát ngôn So sánh hai phát ngôn:

(a) Chính nó làm việc đó

(b) Chính nó còn không hiểu tại sao nó làm việc đó

Kết hợp "chính nó" ở (a) nhằm khẳng định vai trò chủ thể của hành động, nhằm thông báo

nội dung thông tin về "người đã làm việc đó" Trợ từ 'chính’ trong kết hợp ‘chính nó’ ở (b)

mang đến cho phát ngôn một sắc thái ngữ nghĩa khác, mục đích không phải là thông báo chủ

thể hành động, không phải nhằm trả lời câu hỏi "Ai làm việc đó ?" mà là muốn nhấn mạnh mức

độ cao cửa sự việc " Bản thân nó con không hiểu vì sao nó làm như thế thì còn ai có thể hiểu "

Như vậy, tuỳ theo từng phát ngôn cụ thể mà ''chính" thuộc nhóm này hay nhóm kia nhằm biểu

hiện ý nghĩa tình thái cho thích hợp

♦ Các tình thái đánh giá về lương, mức độ bao gồm các nhóm trợ từ như:

hàm ý đánh giá đây là những số lượng ít ỏi, hạn chế, không như mong muốn hoặc không ngờ

tới Đối lập với "chỉ, có, mỗi, lấy" là "những, đến, tới " Đây là nhóm nhấn mạnh số lượng với

hàm ý đánh giá là một số lượng nhiều, lớn, ở mức độ cao Cả hai nhóm đều tuỳ thuộc phát ngôn mà tương hợp với những hàm ý đánh giá cụ thể

Nó may nh ững ba cái áo dài một lúc —► Nó may nhiều áo dài

ấy có đến năm người anh —► Cô ấy có nhiều anh

Con phố này có mỗi hai tiệm ăn -—► Có ít tiệm ăn

Riêng trợ từ "lấy" còn để nhấn mạnh mức thấp, nhỏ, ít tối thiểu chưa đạt được của một hành động, một sự việc, một tính chất nào đó (Eo ôi! Chẳng còn lấy một giọt nước.)

Các trợ từ trên cũng cớ thể kết hợp với nhau như: chỉ có, chỉ mỗi, có mỗi

"Đã" và "mới": Hai trợ từ tạo thành một cặp diễn tả những ý đánh giá trái ngựơc nhau,

đối lập nhau với cùng một nội dung miêu tả (Mấy giờ rồi?-Đã ba giờ rồi (muộn rồi, nhanh thế),

"M ới" đặt nội dung miêu tả ở giai đoạn đầu của quá trình diễn tiến sự việc có liên quan

Theo chủ quan của người nói, sự việc ấy chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu, có thời gian phát triển

Trang 40

chưa lâu nên có thể được tiếp tục Do vậy, nội dung miêu tả mang hàm ý đánh giá như sớm, ít,

sơ lược

"Đã" đặt nội dung miếu tả ở giai đoạn cuối của quá trình diễn biến sự việc có liên quan

Theo chủ quan của người nói, sự việc được đề cập đến lúc cần kết thúc hoặc đã có thời gian phát triển lâu dài Nội dung miêu tả hàm ý đánh giá như muộn, lâu, nhiều

Nhóm " mãi, t ận, tít" đứng trước những từ ngữ chỉ thời gian hay địa điểm, hàm ý đánh

giá lâu, trễ, muộn về thời gian hay cao, xa về địa điểm theo chủ quan của người nói "Tít" có

phạm vi sử dụng hạn chế hơn " mãi, tận", thường dùng để tỏ thái độ đánh giá về địa điểm,

không gian chứ không đánh giá về thời gian.(Mãi đến bây giờ nó mới đến; Gói hàng để tận trong góc t ủ,; Nó đọc sách đến tận một giờ sáng, Tiệm cắt tóc ấy ở mãi Chơ Lớn ) Để tỏ ý

đánh giá đối lập, tức đánh giá thời gian sớm, mau, không gian gần, thấp (so với mãi, tận, tít),

người ta dùng "ngay" Ví dụ Tiệm cắt tóc ấy ở ngay chợ để diễn tả hàm ý đối lập với câu Tiệm

c ắt tóc ấy ở mãi Chợ Lớn Tuy nhiên, ở nhiều trường hợp, muốn diễn tả hàm ý đối lập, người ta không dùng 'ngay’ mà thay vào đó là "chỉ” với một vị trí khác Ví dụ: Tối qua, nó đọc sách chỉ đến một giờ sáng diễn tả hàm ý đối lập với câu Tối qua, nó đọc sách đến tận một giờ sáng

Một hành động tại lời được coi là trực tiếp nếu người nói hiển ngôn bộc lộ ý định của mình và người nghe có thể tri nhận nó trực tiếp từ phát ngôn mà không phải trải qua một quá trình suy ý nào Ngược lại, một hành động tại lời được xem là gián tiếp nếu người nói che giấu

ý định của mình dưới một hình thức tại lời khác, mà để nhận diện được nó thì người nghe phải

thực hiện một sự suy luận Dựa vào mối quan hệ giữa đích phát ngôn và cách biểu hiện của các hành động phát ngôn, người ta phân loại chúng theo mức trực tiếp/ gián tiếp

1.3.1.1.Tình thái nghi v ấn

1.3.1.1.1.Thể hiện bằng câu trần thuật-nghi vấn:

Có năm cách thức tạo câu nghi vấn trong tiếng Việt: câu nghi vấn có chứa đại từ nghi vấn, câu nghi vấn có quan hệ từ "hay" với ý nghĩa lựa chọn, câu nghi vấn sử dụng các cặp phụ từ ,

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w