1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quá trình thâm nhập của văn minh phương tây vào đông nam á từ thế kỉ xvi đến năm 1945

176 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề : Khi thực hiện đề tài: “Quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945”, tác giả kế thừa nghiêm túc và có chọn lọc cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

VÕ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA VĂN MINH PHƯƠNG TÂY VÀO ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XVI

ĐẾN NĂM 1945

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

VÕ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA VĂN MINH PHƯƠNG TÂY VÀO ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XVI

ĐẾN NĂM 1945

Chuyên ngành : Lịch sử Thế giới

Mã số : 602250

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS TS Ngô Minh Oanh

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hồn thành đề tài này, trước hết tơi xin cảm ơn PGS.TS Ngơ Minh Oanh cùng quý Thầy Cơ Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tơi hồn thành đề tài này Song song đĩ, tơi cũng xin được cảm ơn quý Linh mục Nguyễn Vinh Thiên (Chánh xứ Lộ Đức, Đồng Nai, Giáo phận Xuân Lộc), Lưu Văn Kiệu (Tổng Đại diện Giáo phận Vĩnh Long, Giáo sư Đại Chủng viện Thánh Quý – Cần Thơ), Dương Văn Thạnh (Phĩ Giám đốc Đại Chủng viện Cần Thơ), Nguyễn Văn Việt (Chánh văn phịng Tịa Giám mục Vĩnh Long), Nguyễn Văn Tài (Philippines), Trung tâm Văn hố – Đức tin Cơng giáo, Đại Chủng viện thánh Giuse, Tịa Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh; các cụ cao niên, các thành viên trong các giáo xứ: Chính Tồ Đà Lạt, Chính Tồ Nha Trang … Đồng thời xin được cảm ơn Thư viện Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Trường và Khoa Lịch sử Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Tỉnh Vĩnh Long và quý đồng nghiệp cũng như gia đình đã quan tâm, chia sẻ và nâng đỡ giúp tơi hồn thành đề tài này

Mặc dù cĩ nhiều cố gắng, song chắc chắn đề tài vẫn cịn nhiều thiếu sĩt nên rất mong nhận được sự chỉ dạy, đĩng gĩp của quý Thầy Cơ và bạn bè đồng mơn để đề tài ngày một hồn thiện hơn

Xin chân thành tri ân

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011

T hực hiện

Võ Thành Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài : 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề : 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : 9

4 Phương pháp nghiên cứu : 9

5 Nguồn tư liệu : 10

6 Đóng góp của đề tài : 11

7 Cấu trúc của đề tài : 11

CHƯƠNG 1 : BỐI CẢNH VĂN MINH PHƯƠNG TÂY THÂM NHẬP VÀO ĐÔNG NAM Á 12

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ……… …… 12

1.1.1 Khái niệm “văn hóa” 12

1.1.2 Khái niệm “Văn minh” 14

1.1.3 Văn minh và lịch sử 18

1.1.4 Khái niệm “phương Tây” 18

1.1.5 Khái niệm “phương Đông” 20

1.1.6 Khái niệm tiếp xúc, giao lưu và thâm nhập văn minh 27

1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử khu vực Đông Nam Á……… ……29

1.2.1 Tổng quan về khu vực Đông Nam Á 29

1.2.2 Đông Nam Á trước khi văn minh phương Tây thâm nhập 35

1.3 Chính sách của thực dân phương Tây đối với Đông Nam Á………… 37

1.3.1 Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Đông Nam Á 37

1.3.2 Đông Nam Á hải đảo và sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây 41

1.3 2.1 Quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Đông Nam Á hải đảo 41

1.3.2.2 Tầm quan trọng của Malacca 42

1.3.3 Đông Nam Á lục địa và sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây 44

1.3.3.1 Bán đảo Đông Dương 44

1.3.3.2 Các vùng còn lại của Đông Nam Á 45

CHƯƠNG 2 : QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA VĂN MINH PHƯƠNG TÂY VÀO ĐÔNG NAM Á 48

2.1 Giao thông – vận tải và bưu điện……….48

2.2 Kiến trúc – xây dựng ………51

Trang 5

2.2.1 Kiến trúc đô thị kiểu phương Tây 51

2.2.2 Kiến trúc Nhà thờ Công giáo 54

2.2.2.1 Phong cách Roman 56

2.2.2.2 Phong cách Gothic 61

2.2.2.3 Phong cách kiến trúc phương Tây kết hợp bản địa 65

2.3 Nghệ thuật……… 95

2.4 Ngôn ngữ - chữ viết………108

2.4.1 Latin hóa hệ thống chữ viết 108

2.4.2 Sự xuất hiện các tờ báo, tạp chí, nhà in, nhà xuất bản 114

2.4.3 Nền văn học mới ảnh hưởng từ phương Tây 115

2.4.3.1 Văn học mang tư tưởng mới du nhập từ phương Tây 115

2.4.3.2 Văn học Đông Nam Á thay đổi toàn diện 118

2.4.3.3 Sự đa dạng thể loại của văn học Đông Nam Á hiện đại 119

2.5 Xuất hiện các phong trào cải cách xã hội……… 121

2.6 Tôn giáo……… 122

2.6.1 Quá trình truyền bá Công giáo vào Đông Nam Á 122

2.6.2 Sự phát triển và ảnh hưởng của Công giáo ở Đông Nam Á 125

2.6.3 Công giáo – cầu nối văn minh phương Tây với Đông Nam Á 138 CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA VĂN MINH PHƯƠNG TÂY VÀO ĐÔNG NAM Á 156

3.3.1 Tiêu cực……… 156

3.3.2 Tích cực……… 158

KẾT LUẬN 161

PHỤ LỤC 164

T ÀI LIỆU THAM KHẢO 168

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Trong mấy thế kỉ Đông Nam Á tiếp xúc và giao lưu với phương Tây, ảnh hưởng của văn minh phương Tây đã tác động một cách khá sâu rộng vào nhiều lĩnh vực văn hóa vật chất và tinh thần Đông Nam Á Tuy tùy lúc tùy nơi, thái độ của cư dân nơi đây có thể khác nhau – chấp nhận hay chống đối – nhưng rồi cuối cùng bao giờ cũng là sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp với tính cách, điều kiện và nhu cầu Đông Nam Á

Do hoàn cảnh và vị thế lịch sử, Đông Nam Á là một trong những nơi tiếp xúc văn minh phương Tây từ rất sớm nhất Ngay từ thế kỷ XVI, việc tiếp xúc văn minh phương Tây ở Đông Nam Á đã diễn ra thông qua các nhà truyền giáo và thương nhân Đến khi chủ nghĩa thực dân phương Tây nổ súng xâm lược Việt Nam, việc tiếp xúc với văn minh phương Tây diễn ra mạnh mẽ hơn Để phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa, chủ nghĩa thực dân đã cố gắng tạo ra một thiết chế văn hóa mới theo kiểu phương Tây trên các lĩnh vực chữ viết, giáo dục, truyền thông, giải trí, kiến trúc, trang phục, ẩm thực… dưới hình thức cưỡng bức

Có thể nói, Đông Nam Á là vùng đất của sự hội nhập văn hóa – văn minh Để

có thể cùng tồn tại và phát triển, hội nhập là một nhu cầu nhất thiết của cư dân nhằm đối phó lại thiên nhiên và tạo nên tính cộng đồng ổn định trong xã hội, hội nhập để thành một cộng đồng xã hội ổn định, bền vững và cộng đồng này chứng tỏ có đủ sức chinh phục vùng đất này Như vậy, việc hội nhập văn hóa đã được người dân Đông Nam Á chấp nhận từ những ngày đầu khai phá và có thể từ đó đã trở thành tính cách đặc trưng của người dân Đông Nam Á sau này Do đó, khi có dịp tiếp xúc với một nền văn minh mới như văn minh phương Tây, tính cách này được bộc lộ rõ

Hiện nay, nhất là trong xu thế hội nhập, quá trình giao lưu văn hóa ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ Nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp bị xói mòn và có nguy cơ bị đào thải trước sức mạnh của văn hóa bên ngoài Vì thế, rất nhiều người đã tìm cách bảo vệ nền văn hóa truyền thống, đóng khung chúng lại trong những định chế hạn hẹp, để rồi ngăn cản, loại trừ tất cả các yếu tố văn hóa ngoại lai, cho rằng văn minh phương Tây chỉ là sự nô dịch, phủ nhận tất cả những điều tích cực, những tinh

Trang 7

hoa văn hóa tốt đẹp từ bên ngoài mà tiền nhân đã tiếp nhận và biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới Rõ ràng, đây là điều rất không nên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay nhưng cũng không phải vì thế mà cổ súy cho lối sống sùng ngoại, nhất là ở giới trẻ - những chủ nhân tương lai của Đông Nam Á Vì vậy, việc nhận thức tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, từ đó nhìn nhận nó một cách khách quan, khoa học là điều cấp bách hiện nay

Với ý nghĩa thực tiễn như vậy, tôi đã chọn đề tài: “Quá trình thâm nhập của

văn minh phương Tây vào Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945” để làm luận

văn tốt nghiệp Là công dân Đông Nam Á, bản thân tôi ngay từ thuở nhỏ đã say mê tìm hiểu, sưu tầm và thực hiện những chuyến hành trình khám phá về sự ảnh hưởng của văn minh phương Tây ở Đông Nam Á Nghiên cứu đề tài này cũng giúp ích rất nhiều cho tôi trong việc giảng dạy, giáo dục và đồng hành với thế hệ trẻ hôm nay đưa khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng hội nhập hơn nữa với thế giới, góp phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển của quê hương

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề :

Khi thực hiện đề tài: “Quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào

Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945”, tác giả kế thừa nghiêm túc và có chọn

lọc các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, bao gồm các nội dung

về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, yếu tố con người và các nhân tố khác có tác động đến quá trình du nhập văn minh phương Tây vào Đông Nam Á

Trước hết phải kể đến Giáo sư Mai Ngọc Chừ trong quyển Văn hóa Đông Nam

Á xuất bản năm 1998, các tác giả Phạm Đức Dương và Trần Thị Thu Lương với Văn

hóa Đông Nam Á (1997), Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc (2005) với quyển Văn hóa Đông Nam Á đã có những nhận xét cũng như trình bày khái quát văn hóa Đông Nam Á trên nhiều lĩnh vực từ thời cổ đại, trung đại cho đến cận – hiện đại Tuy nhiên, giai đoạn văn hóa Đông Nam Á tiếp xúc với văn minh phương Tây chỉ được đề cập tương đối

sơ lược bởi nó chỉ là một phần trong tổng thể tác phẩm

Về mặt lịch sử, một số tác giả đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu

về Đông Nam Á mà phải kể đến Lịch sử Đông Nam Á của Giáo sư Lương Ninh (chủ biên năm 2005), Nguyễn Thành Văn (2003) với Bước đầu so sánh chế độ thuộc địa

Trang 8

Anh ở Malaysia và của Pháp ở Việt Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á

số 4/2003; Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng (Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) với loạt bài nghiên cứu, bài giảng về lịch sử các quốc gia Đông Nam Á từ thế kỉ XII-XIII đến thập niên 1980, lịch sử chế độ thực dân … Tuy nhiên

vì đây là chủ đề lịch sử nên các tác giả đã đi sâu vào lịch sử với quá trình xâm lược Đông Nam Á của chủ nghĩa thực dân phương Tây và đấu tranh giành độc lập của các quốc gia Đông Nam Á mà không đề cập nhiều đến quá trình tiếp xúc và giao lưu văn minh phương Tây với Đông Nam Á

Khi nghiên cứu về quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á chúng ta không thể không đề cập đến thời kì các giáo sĩ thừa sai đến vùng đất này truyền bá đức tin, đặt nền móng cho quá trình giao lưu tiếp xúc với văn minh

phương Tây qua đạo Công giáo Có thể kể ra những tác phẩm như bộ Lịch sử Giáo

hội Công giáo (Tập 1 và 2 xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn, tái bản và hiệu đính tại

Hoa Kì năm 2001) của Linh mục Bùi Đức Sinh, hay Cuộc lữ hành Đức tin – Lịch sử

Giáo hội của Linh mục Tiến sĩ Đào Trung Hiệu dòng Đa Minh, gần đây là tập Kỷ yếu mừng 50 năm Dòng Tên trở lại phục vụ tại Việt Nam (1957-2007) Các tác phẩm này,

ngoài những phần đi sâu về Giáo hội Công giáo, còn cho ta thấy quá trình truyền bá đạo Công giáo ở Việt Nam như thế nào, những biện pháp mà các giáo sĩ đề ra để thích ứng và truyền đạt văn minh phương Tây qua đạo Công giáo vào Đông Nam Á

nói chung và Việt Nam nói riêng Phạm Huy Thông có bài viết về Những đóng góp

của đạo Công giáo vào văn hóa Việt (2003), trong đó ông nhấn mạnh đạo Công giáo

là cầu nối giao lưu giữa văn hóa Việt Nam và thế giới, xây dựng chữ Quốc ngữ, làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh xã hội …

Ngoài ra còn có thể kể đến hàng loạt tác phẩm như Giáo sĩ Đắc Lộ và Giáo hội

Công giáo nguyên thủy Việt Nam, Ngữ pháp tiếng Việt của Đắc Lộ năm 1651 của

Nguyễn Khác Xuyên, Tarberd – Chữ Quốc ngữ và chữ Nôm tự vị, Lịch sử truyền

giáo tại Việt Nam từ thế kỉ XVI – XVII của Linh mục Đào Quang Chính; một số

chương trong Niên giám 2005 của Văn phòng Tổng Thư kí Hội đồng Giám mục Việt Nam … Các tác phẩm Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam – Kiến trúc và Lịch sử của

Trang 9

nhiều tác giả (2004), “Nhà thờ trong làng Việt Nam” in trong Làng xã ở châu Á và ở

Việt Nam (1995), Nhà thờ Công giáo Việt Nam (2003) hay Nếp sống đạo của người Công giáo Việt Nam (2010) của Nguyễn Hồng Dương chủ biên, phần nào cho ta thấy

diện mạo các ngôi nhà thờ Công giáo được ảnh hưởng từ lối kiến trúc và xây dựng kiểu phương Tây như thế nào Tuy nhiên, đa số chỉ là những bộ sưu tập ảnh chỉ có vài dòng chú thích sơ lược về thời gian xây dựng, lịch sử hình thành mà không đi sâu nhận xét, đánh về mức độ ảnh hưởng của lối kiến trúc xây dựng phương Tây đến các công trình xây dựng ở Việt Nam nói riêng và ở Đông Nam Á nói chung từ giai đoạn tiếp xúc với văn minh phương Tây thế kỉ XVI đến năm 1945

Tiếp xúc và giao lưu văn minh trong lịch sử nhân loại còn là một vấn đề lớn

thu hút khá nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Tiếp xúc và giao lưu văn minh

nhân loại của Ngô Minh Oanh (2008) đề cập đến cội nguồn phát triển và những yếu

tố tạo nên bản sắc của một nền văn minh cụ thể, để có thể tiếp thu những cái hay, cái đẹp của thế giới, làm phong phú thêm văn minh truyền thống của đất nước trong xu thế hội nhập hiện nay

Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1997), nhất là trong Chương 6: Văn

hóa ứng xử với môi trường xã hội, phần Phương Tây với văn hóa Việt Nam, Trần

Ngọc Thêm đã nhấn mạnh một cộng đồng cư dân không chỉ sống trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên mà còn luôn phải quan hệ với các dân tộc xung quanh, đó là môi trường xã hội Cách thức ứng xử với môi trường xã hội là thành tố của một hệ thống văn hóa Tác giả cũng đề cập đến vị trí ngã tư đường của các nền văn minh của Việt Nam Văn minh phương Tây đem lại Kitô giáo và những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần mới mẻ Điều cần nhận thấy là, đặc tính xuyên suốt của quá trình giao lưu văn hóa này là, tính tổng hợp – dung hợp – tích hợp của người Việt Nam

Những nội dung được đề cập ở trên chưa có tính hệ thống, chưa có tính liên tục, chưa được đi sâu Như vậy, đề tài này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho giới nghiên cứu

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Chủ đề của luận văn là “Quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào

Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945”, vì thế tác giả đi sâu tìm hiểu sự du nhập

của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á, cụ thể là bối cảnh của quá trình du nhập, từ trước khi văn minh phương Tây thâm nhập, những yếu tố chủ đạo của văn minh phương Tây được du nhập, truyền bá và ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á

Về không gian, vùng đất Đông Nam Á từ trước khi chủ nghĩa thực dân xâm chiếm là vùng rất rộng lớn Vùng đất Đông Nam Á vốn là một địa bàn giao tiếp và đã từng có nhiều lớp cư dân đến khai phá Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lịch sử thuộc phạm vi không gian địa giới khu vực Đông Nam Á hiện nay, Khi giới hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả có tính đến sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kì lịch sử

Về thời gian, luận văn đề cập đến quá trình khai phá Đông Nam Á, những điều kiện tự nhiên, văn hóa Đông Nam Á trước khi văn minh phương Tây thâm nhập Quá trình du nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á được nghiên cứu, phân tích qua hai giai đoạn: Từ thế kỉ XVI cho đến đầu thế kỉ XX và thời kì từ đầu thế kỉ

XX cho đến năm 1945

4 Phương pháp nghiên cứu :

Thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic : Đây là những phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn Trong đó, phương pháp lịch sử đóng vai trò chủ đạo

Phương pháp hệ thống hóa: Hệ thống lại những vấn đề được viết tản mạn, rải rác trong các tư liệu và từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến quá trình

du nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á Phương pháp hệ thống hóa là

cơ sở để trình bày những nội dung trong luận văn

Phương pháp so sánh : Dùng phương pháp này để đối chiếu quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á ở các vùng khác nhau, từ Đông Nam Á lục địa đến Đông Nam Á hải đảo

Trang 11

Phương pháp liên ngành : Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả có kết hợp chủ yếu các loại tài liệu và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các ngành khác nhau như địa lý, thống kê, văn hóa học, …

5 Nguồn tư liệu :

Dựa trên nguồn sử liệu thu thập của các tác giả Việt Nam và thế giới, do vậy nguồn tài liệu chủ yếu là tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp, do luận văn đề cập đến

sự du nhập văn minh phương Tây mà chủ yếu là từ quá trình truyền giáo rồi xâm nhập và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nghiêm túc kế thừa không chỉ tư liệu mà cả về lý luận của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài Nguồn tư liệu bao gồm: sách, báo, tạp chí, các luận văn Cao học được lưu giữ ở Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thông tấn xã Việt Nam, Thư viện Thành phố Cần Thơ, Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện tỉnh Vĩnh Long

Tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ khi được tham khảo các tư liệu gửi về từ Thư viện Lưu trữ Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris - Pháp (M.E.P), Thư viện Đại Chủng viện Thánh Quý – Cần Thơ, Thư viện Đại Chủng viện Thánh Giuse cơ sở 1 (Thành phố Hồ Chí Minh) và cơ sở 2 tại Xuân Lộc – Đồng Nai, Trung tâm Văn hóa – Đức tin Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện các Tòa Giám mục Vĩnh Long, Long Xuyên, Thư viện cá nhân của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Văn phòng lưu trữ Nhà thờ Cái Mơn, Thư viện Dòng Tên, Dòng Đaminh, Thánh Phaolô – Thành phố Hồ Chí Minh …

Một nguồn tài liệu cũng rất có giá trị mà tác giả luận văn thường sưu tầm, đó là nguồn tài liệu từ Internet, những bài viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp có liên quan đến luận văn mà bản thân tác giả tự dịch và một số qua sự hỗ trợ dịch thuật từ quý

Giám mục, Linh mục giáo sư Đại Chủng viện

Trang 12

6 Đóng góp của đề tài :

Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm phong phú khối lượng tư liệu liên quan đến quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của văn minh phương Tây đến Đông Nam Á Nguồn tư liệu này được bổ sung vào tư liệu nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á nói chung

Luận văn còn đóng góp một số kết luận cụ thể về những hệ quả tích cực cũng như tiêu cực, đặc điểm của quá trình tiếp xúc và giao lưu văn minh phương Tây với Đông Nam Á Từ đó có những đề xuất và giải pháp thích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Luận văn cũng cung cấp một số tư liệu, góp phần lấp một khoảng trống trong việc nghiên cứu quá trình du nhập của văn minh phương Tây ở Đông Nam Á, nhất là trong việc biên soạn giáo trình, bài giảng về lịch sử Đông Nam Á

7 Cấu trúc của đề tài :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính gồm có ba chương :

Chương I : Bối cảnh quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á

Chương II: Quá trình thâm nhập văn minh phương Tây vào Đông Nam Á

Chương III: Nhận xét – đánh giá về quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á

Trang 13

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN MINH PHƯƠNG TÂY THÂM NHẬP VÀO ĐÔNG NAM Á

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ

1.1.1 Khái niệm “văn hóa”

Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội

hàm hết sức khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng

để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn…) “Đề cương về văn hóa Việt Nam” của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943 đã xếp văn hóa bên cạnh kinh tế, chính trị và xem nó bao gồm cả tư tưởng, học thuật (khoa học và giáo dục), nghệ thuật Ủy ban UNESCO của Liên hiệp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa

Fedrico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO cho biết: “Đối với một số người, văn

hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [67: 5]

Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng

tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Văn hóa còn có tính giá trị, bởi vì nó có nghĩa là “trở thành đẹp, thành

có giá trị” Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Chúng ta cũng phải kể đến tính nhân sinh của văn hóa Bởi văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người

Trang 14

Văn hóa đối lập với tự nhiên, nó là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người Văn hóa còn có tính lịch sử, thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống (truyền: chuyển giao, thống: nối tiếp)

Như thế, chúng ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là một

hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường

tự nhiên và xã hội của mình [63 : 27]

Từ “văn hoá” (tiếng Latinh cultura có nghĩa là cày cấy, vun trồng, cải thiện), rõ

ràng có liên quan đến lao động tích cực cải tạo của con người, về sau từ này chuyển

nghĩa nói về sự khai trí, có giáo dục của bản thân con người Từ văn hóa (culture,

kultura, kultur…) trong các tiếng châu Âu có nguồn gốc từ tiếng Latinh là cultura, có nghĩa là trồng trọt, luyện tập, cư trú… Có cultura agri (trồng trọt ngoài đồng) và cultura animi (trồng trọt tinh thần) Như vậy văn hóa chỉ toàn bộ sản phẩm cả vật chất

và tinh thần mà con người tạo ra Những sản phẩm đó luôn biến đổi tùy theo sự phát triển của trình độ con người, nó luôn năng động theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại Cùng với sự phát triển của khoa học, nội dung của văn hóa được mở rộng

và được chú ý như đối tượng của một khoa học Sự phát triển của các ngành khoa học như : Xã hội học, Dân tộc học, Nhân loại học… hồi giữa thế kỉ XX đã góp phần trực tiếp vào việc nghiên cứu Văn hóa học Nhà nhân loại học người Anh E B Tylor (1832 – 1917) là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa trong cuốn Văn hóa

nguyên thủy (Primitive culture) xuất bản năm 1871 ở Luân Đôn Ông cho rằng: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [52: 8-9].

Đến năm 1885, nhà nghiên cứu người Đức Klemn trong công trình khoa học chung về văn hóa đã trình bày sự phát sinh và phát triển toàn diện của loài người như

Trang 15

quá trình lịch sử văn hóa Văn hóa đã thực sự trở thành đối tượng của một khoa học riêng biệt – Văn hóa học

Người Trung Quốc và Nhật Bản đã dùng từ văn hóa để dịch chữ culture của

người phương Tây Theo nghĩa gốc Hán, văn có nghĩa là vẻ đẹp, là những hình thức

đẹp đẽ biểu hiện trước hết trong lễ nhạc, cách cai trị, đặc biệt là trong văn chương,

ứng xử Còn hóa có nghĩa là trở thành Văn hóa là làm cho trở thành đẹp

Người Việt Nam chúng ta, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, dùng từ Hán Việt nhưng quan niệm về văn hóa, văn minh của chúng ta không phải là không độc đáo và hiện đại Định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh từ năm 1942 là một điển hình : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [43:431]

1.1.2 Khái niệm “Văn minh”

Là danh từ gốc Hán, “văn” có nghĩa là dáng dấp bề ngoài và thường được hiểu

là đẹp đẽ, tốt lành, trái với nghĩa mộc mạc, thô kệch; “minh” là sáng sủa, trong sáng,

rõ ràng Văn minh là cái tia đạo đức phát hiện ra ở trong chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương… Văn minh là cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt, trái với dã man Nhưng “văn minh” là từ dịch từ phương Tây Từ “văn minh” trong các ngôn ngữ phương Tây (civilisation, civilization…) đều có nguồn gốc

Latinh là civitas, nghĩa là trạng thái đã được khai hóa, không còn ở trong trạng thái ăn lông ở lỗ, hái lượm… nay đây mai đó, mà đã định cư thành những cộng đồng, civitas cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia, chính quyền, luật pháp

Từ văn minh (civilisation, civilization…) được dùng rộng rãi từ thế kỉ XVIII,

tức thế kỉ Ánh Sáng Trong bộ Từ điển bách khoa (Encyclopédie) do Diderot chủ

biên, từ civilisation được giải thích là sự tiến hóa của nhân loại từ trạng thái dã man

hay bán khai sang trạng thái khai hóa Các nhà triết học Ánh sáng tiếp tục phát triển

Trang 16

khái niệm văn minh Nói chung, họ gọi một xã hội dựa trên cơ sở của lí trí và công bằng là văn minh

Trong nửa đầu thế kỉ XIX, “văn minh” được dùng để chỉ chủ nghĩa tư bản [40 : 546] Nhưng quan điểm này không phải là quan điểm duy nhất Nhà xã hội học người Nga, N Ia Danileevski (1822-1885), nêu lên học thuyết phân loại văn hóa (hay văn minh) chung Theo ông, không có lịch sử toàn thế giới mà chỉ có lịch sử những nền văn minh riêng biệt mang tính chất khép kín [52 : 6]

Nội hàm của khái niệm văn minh được xác định và bổ sung nhờ công trình Xã

hội cổ đại của nhà xã hội học L H Morgan (1818-1881) Các thành tố của khái niệm

văn minh theo quan niệm của Morgan được F.Engels đề cập đến trong tác phẩm

Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước [41:53-55] Nhưng

những thành tố của văn minh như: sự sáng tạo ra chữ việt, công nghiệp và nghệ thuật, chế độ hôn nhân một vợ một chồng, sự phân chia xã hội thành giai cấp… chỉ mới được chứng minh qua bốn nền văn minh đã biết lúc đó : Ai Cập, Assyria, Hy Lạp và Roma

Những phát hiện của ngành khảo cổ học đầu thế kỉ XX1 đã phát triển và hoàn thiện khái niệm văn minh Vào những năm 1920, nhà khỏa cổ học người Anh, V Gordon Childe (1892-1957) đưa ra định nghĩa văn minh trong phạm vi những yếu tố

mà ông cho là cơ sở để chuyển từ văn hóa sang văn minh Những yếu tố này bao

gồm: việc phát minh ra chữ viết, ngành luyện kim, các đơn vị đo lường tiêu chuẩn, toán học, kiến trúc, ngoại thương, xe có bánh, thợ thủ công chuyên nghiệp, kĩ thuật tưới tiêu, sử dụng cày và sản phẩm thừa Định nghĩa của Childe mở đầu cho hàng loạt các công trình lịch sử về các nền văn minh đã từng tồn tại và phát triển

Tuy nhiên, sự nghiên cứu sâu vào các nền văn minh cụ thể đã bộc lộ những khiếm khuyết của một định nghĩa tiêu chuẩn Chẳng hạn như, nghề luyện kim vốn được xem như một đặc trưng cơ bản của văn minh, đã từng tồn tại trong các cộng đồng nông nghiệp nhỏ ở vùng Cận Đông cổ đại ít nhất từ 7.000 năm trước Công nguyên, nhưng dùng khái niệm văn minh ở trường hợp này là hoàn toàn không thích

1 Phát hiện nền văn minh Sumer ở Lưỡng Hà (có niên đại 5.000 – 4.000 năm trước Công nguyên, văn minh Minoan và Mycene (3.000 – 1.000 năm trước Công nguyên) ở vùng Aegean vào đầu thế kỉ XX, văn minh Thương (1.600 năm trước Công nguyên) ở Hoàng Hà – Trung Quốc vào năm 1920 Năm 1924, nhà khảo cổ học người Anh, J Marshall công bố những phát hiện về nền văn minh Ấn Độ (3.000 – 1.700 năm trước Công nguyên)

Trang 17

hợp Lại nữa, sự phát triển xã hội của người Inca hoàn toàn đạt các tiêu chí của một

xã hội văn minh khi họ chưa có chữ viết

Ngày nay, nhiều nhà nhân loại học cho rằng, không có một tiêu chuẩn hoặc một bảng các tiêu chuẩn để định nghĩa văn minh Khái niệm văn minh chỉ sự tiến bộ

xã hội, sự vươn tới một trình độ cao hơn về mặt vật chất và tinh thần, ở đây nói lên một trật tự xã hội hợp lí, cho phép con người vươn tới những đỉnh cao văn hóa Nhưng khác với văn hóa, văn minh là một phạm trù lịch sử

Theo W Durant thì: “Xét chung thì văn minh chỉ là sự sáng tạo văn hóa nhờ một trật tự xã hội gây ra và kích thích Nó gồm bốn yếu tố căn bản: sự phòng xa về kinh tế, sự tổ chức chính trị, những truyền thống luân lý và sự tăng tiến tri thức, phát triển nghệ thuật Chỉ khi nào không còn sự hỗn độn, sự bất an nữa thì văn minh mới phát sinh được” [9:5]

Như vậy, văn hóa và văn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử Lâu nay, nhiều người vẫn sử dụng văn hóa và văn minh như những từ đồng nghĩa Thực sự, chúng khác nhau cơ bản Sự

khác nhau giữa văn hóa và văn minh là ở chỗ, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo ra từ khi con người ra đời cho đến nay, còn

văn minh là những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra ở giai đoạn

phát triển cao của xã hội Văn hóa có bề dày lịch sử, còn văn minh là một lát cắt

đồng đại, nó chỉ trình độ phát triển cao của văn hóa Một dân tộc lạc hậu vẫn có thể

có một nền văn hóa phong phú mang bản sắc độc đáo Bất cứ một dân tộc nào dù mông muội hay bán khai, dù lạc hậu hay văn minh đều có văn hóa Người châu Phi hay châu Âu, người da đỏ hay người Mĩ ở Hoa Kì, người thiểu số hay đa số ở mỗi quốc gia đều có văn hóa riêng của họ Về mặt không gian, phạm vi văn hóa thường mang dấu ấn của một dân tộc, một vùng, còn văn minh thường mang tính quốc tế (siêu dân tộc) vì những thành tựu văn minh dễ phổ biến hơn Văn hóa giàu tính nhân bản, vị tha và đồng cảm; nó hướng tới những giá trị vĩnh hằng Còn văn minh là ý muốn vươn tới sự hợp lí, sự tổ chức xã hội sao cho tiện lợi, phù hợp với sự phát triển cao của khoa học – kĩ thuật

Trang 18

Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng “văn minh” như một từ đồng nghĩa với

“văn hóa” “Thực ra, đây là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau, song không đồng nhất Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở, trong khi đó thì văn minh hướng tới sự hợp lí, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi” [63:27]

Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến các tiện nghi vật chất Như vậy văn hóa và văn minh khác nhau trước hết là ở tính giá trị, trong khi văn hóa là một khái niệm bao trùm, nó chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh thiên

về các giá trị vật chất mà thôi

Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử, trong khi văn hóa luôn luôn

có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình

độ phát triển của văn hóa, từ “văn minh” có thể được định nghĩa khác nhau trong các

từ điển, song chúng thường có chung một nét nghĩa là nói đến trình độ phát triển Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại: nếu như vào thế kỉ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỉ XX, nó trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính Một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa rất nghèo nàn và ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú

Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần

và tính lịch sử, mà cái tinh thần và tính lịch sử là của riêng, không dễ gì mua bán hoặc thay đổi được, còn văn minh thì có tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà cái vật chất thì dễ phổ biến, thâm nhập, lây lan

Văn hóa và văn minh còn có sự khác biệt về nguồn gốc Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây

đô thị Các nền văn hóa cổ đại đều xuất phát từ phương Đông: Trung Hoa, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn hóa Hi-La (Hi Lạp và

La Mã) thì cũng có nguồn gốc từ phương Đông, nó được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa Ai Cập và Lưỡng Hà (ngay cả đơn giản như

Trang 19

bộ chữ cái mà ta vẫn quen gọi là Latinh thực ra cũng được vay mượn từ người Phenicia từ phương Đông – vùng Syria-Palestine ngày nay) Các nền văn hóa phương Đông lại cũng đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn là những nơi sản xuất nông nghiệp Ở các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ chữ cultus tiếng Latinh có nghĩa là trồng trọt Từ trồng trọt phát triển ra chăm sóc (cây cối), từ chăm sóc cây cối dẫn đến chăm sóc con người (tức giáo dục) Trong khi đó thì văn minh

trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas tiếng Latinh có nghĩa là

thành phố Nghĩa gốc này kéo theo mình hàng loạt từ và nghĩa phái sinh trong các ngôn ngữ châu Âu: thị dân, công dân … từ đó đến civilization là ‘làm cho trở thành

đô thị’, đầy đủ tiện nghi như đô thị Như vậy, văn minh là khái niệm có nguồn gốc

phương Tây đô thị chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất và mang tính quốc tế [63:29]

1.1.3 Văn minh và lịch sử

Lịch sử văn minh nhân loại là một bộ phận của lịch sử thế giới, bởi vậy cần phải thấy được mối liên quan giữa văn minh và lịch sử, phân biệt được ranh giới giữa hai khái niệm này để từ đó xác định được đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp

Văn minh và lịch sử có liên quan mật thiết với nhau Một nền văn minh nào đó chỉ được hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định Nền văn minh đó mang “dấu ấn” của hoàn cảnh lịch sử, hay nói cách khác, nó là con đẻ của lịch sử Chúng ta không nên đồng nhất văn minh với lịch sử, vì lịch sử là toàn bộ hoạt động của con người trong quá khứ, đó là những hoạt động chinh phục tự nhiên và đấu tranh giai cấp Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Đối tượng của lịch sử rộng lớn hơn còn văn minh chỉ đề cập đến trình độ phát triển sản xuất, trình độ tổ chức xã hội và các thành tựu về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, khoa học…

1.1.4 Khái niệm “phương Tây”

Về nguồn gốc mà nói, thuật ngữ “phương Tây” có nguồn gốc hoàn toàn từ châu Âu, phương Tây của châu Âu Trong thời kì cổ đại, trung tâm buôn bán, kinh tế

là các vùng ven Địa Trung Hải, người ta dùng thuật ngữ “phương Tây” để chỉ khu

Trang 20

vực phía tây Địa Trung Hải Với sự phát triển của thời gian, do những hoàn cảnh lịch

sử mà thuật ngữ “phương Tây” bao gồm thêm cả Bắc Mĩ Có cách hiểu như vậy vì người ta thấy có sự tương đồng về các yếu tố của văn minh như: lí luận về chính trị

và tổ chức chính trị, lí luận về tổ chức kinh tế, hoàn cảnh sinh hoạt xã hội

Dưới góc độ của người phương Đông, các thuật ngữ phương Tây, Tây Âu, Tây Dương, Thái Tây, … có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn Nó đơn giản hơn và liên hệ nhiều đến phương hướng Phương Tây ở đây là chỉ các vùng đất châu Âu trong buổi đầu khi có sự tiếp xúc của người châu Âu với người châu Á

Thuật ngữ phương Tây cũng được dùng với ý là để chỉ các đặc điểm về chủng tộc: người châu Âu phần lớn là chủng tộc có da trắng, tóc và lông màu hung đỏ do đó trước đây người phương Đông thường hay gọi người phương Tây là “bạch quỷ” hay

“hồng mao”… Người phương Đông hay dùng một khái niệm chung là Tây, hay phương Tây để chỉ người da trắng mà không cần phân biệt người đó là người Âu hay người Mĩ Phương Tây ở đây còn được hiểu là chủng tộc có những tập tục, truyền thống, lối sống khác hẳn với người phương Đông

Trong thời hiện đại, nhất là trong thời kì chiến tranh lạnh, thuật ngữ phương Tây thường được hiểu như là một thế giới đối lập với thế giới cộng sản Thuật ngữ phương Tây và phương Đông được hiểu như trên được xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi trật tự hai cực Yanta được hình thành, thế giới được phân chia thành hai khối đối đầu nhau Một loạt các nước ở Đông Âu sau khi hoàn thành cách mạng dân chủ đã đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Trước tình hình đó, trong bài diễn văn của mình đọc trước Quốc hội Mĩ vào tháng 3 năm 1947, tổng thống H Truman đã tuyên bố về sự “xâm lăng” của cộng sản Các nước Tây Âu đã tập hợp lại với nhau thành một khối để chống lại “nguy cơ” chủ nghĩa xã hội Từ đó một cách hiểu thông thường lúc bấy giờ khi nhắc đến phương Tây có nghĩa là bao gồm các nước tư bản chủ nghĩa Trong thời kì xảy ra hai cuộc chiến tranh Triều Tiên và Đông Dương, phương Tây lại được hiểu bao gồm Mĩ và các nước đồng minh

Trang 21

1.1.5 Khái niệm “phương Đông”

Đông Nam Á được xếp vào các nước phương Đông Khái niệm phương Đông cũng là một trong những khái niệm có nội dung rất rộng, vì vậy, nếu không tìm hiểu một cách tường tận, chính xác, có thể tạo ra sự nhầm lẫn, mơ hồ trong nhận thức

Từ thời cổ - trung đại, cư dân hai bên bờ Địa Trung Hải dùng thuật ngữ

“phương Đông” để chỉ vùng đất nằm ở phía đông Địa Trung Hải, nghĩa là vùng đất phía Mặt trời mọc Dần dần cùng với thời gian, tầm mắt và hiểu biết của con người cũng được mở rộng ra Người châu Âu với ưu thế phát triển của mình, qua các cuộc khám phá, những phát kiến địa lí, họ thấy rằng vùng đất Mặt trời mọc không chỉ là vùng đất chật hẹp nằm ở phía đông Địa Trung Hải, mà còn là những vùng đất xa xôi bên kia các đại dương Họ gọi là vùng đất Tân thế giới

Cùng với quá trình di chuyển dân cư sang vùng đất Tân thế giới, người châu

Âu đã du nhập sang đây ngôn ngữ, lối sống, những thiết chế xã hội… Mặc dù đã diễn

ra quá trình tiếp xúc và giao lưu văn minh, nhưng sự tương đồng về văn hóa, văn minh là rất lớn (đặc biệt là vùng Bắc Mĩ) Từ đó còn có một cách hiểu mới về phương Đông: phương Đông là khu vực các nước ngoài châu Âu và Bắc Mĩ

Trên thực tế, cấu trúc và lịch sử phát triển của các xã hội phương Đông có nhiều điểm khác biệt với phương Tây Từ đó một số nhà văn hóa tư sản đã đi đến những quan điểm cực đoan mang tính chất phản động, như quan điểm của nhà văn

thực dân Anh R Kipling: “Đông là Đông, Tây là Tây; hai cái đó sẽ không bao giờ

gặp nhau” [52:15]

Sử học Marxist trong khi khẳng định một nguồn gốc chung, thống nhất cho tất

cả mọi dân tộc, dù là Đông hay Tây, khẳng định những quy luật chung, phổ biến trong sự tiến hóa kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới, thì vẫn thừa nhận những

sự khác biệt trong quá trình tiến hóa riêng của từng nước, từng dân tộc, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của mỗi dân tộc Sự khác biệt đó là do các điều kiện tự nhiên và cơ sở xã hội khác nhau của các nước

Sử học Marxist thường nhấn mạnh đến khuynh hướng xích lại gần nhau của các xã hội, các dân tộc, nhất là trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Các dân tộc dù

Trang 22

ở phương Đông hay phương Tây trước sau rồi cũng sẽ tiến lên một mục tiêu chung của xã hội loài người

*

* * Như vậy, vấn đề phương Đông, phương Tây là một vấn đề thuộc về nhận thức, lúc đầu đơn thuần dùng để chỉ phương hướng, sau đó nó gắn liền với yếu tố lịch sử và màu sắc chính trị Điều cần thiết là phải đi đến sự thống nhất trong cách tiếp cận và hiểu nó một cách toàn diện và biện chứng

Lâu nay trên thế giới phổ biến cách phân chia nhân loại thành ba đại chủng: chủng Á (Mongoloid, trong cách nói dân gian thường gọi là chủng da vàng), chủng

Âu (Europeoid, dân gian thường gọi là chủng da trắng) và chủng Úc-Phi Negroid, dân gian thường gọi là chủng da đen) Song những nghiên cứu mới hơn trong khoa nhân chủng học cho thấy rằng sự phân loại ấy mới chỉ dựa trên các đặc điểm thích nghi (màu da, hình tóc, mũi, môi…)

(Australo-Căn cứ vào những đặc điểm trung tính, không thay đổi trước những biến động

của môi trường (như nhóm máu, đường vân tay, hình thái răng…) người ta đã chia nhân loại thành hai khối quần cư lớn: Úc-Á và Phi-Âu – đó cũng chính là hai trung tâm hình thành chủng tộc cổ xưa nhất của loài người: Trung tâm phía Tây (Phi-Âu)

và Trung tâm phía Đông (Úc-Á) Theo nhà nhân chủng học nổi tiếng người Nga N.N.Cheboksarov, ngay từ sơ kì đồ đá cũ (khoảng 50 – 30 vạn năm trước Công nguyên), đã xuất hiện hai trung tâm hình thành chủng tộc, sớm hơn là miền Đông-Bắc Phi và Tây-Nam Á, ít nhiều muộn hơn là miền Đông Nam Á Những con người muộn hơn nữa thuộc loại hiện đại Homo Sapiens dần dần phân bố rộng rãi khắp nơi trên trái đất… họ tuy còn giữ lại nhiều đặc điểm trung tính nhưng đồng thời cũng tiếp tục thích nghi với điều kiện tự nhiên khác nhau để phân hóa dần thành các chủng tộc ngày nay [63:38]

Từ trung tâm phía Tây, con người nguyên thủy phân tán ra thành hai đại chủng: Đại chủng Âu (Europeoid) bao gồm các chủng Baltic, Trung Âu, Địa Trung Hải và Đại chủng Phi (Negroid) bao gồm các chủng Nam Ấn (Dravidien), Ethiopie, Đông – Trung – Nam Phi

Trang 23

Từ trung tâm phía Đông, con người nguyên thủy cũng phân tán ra thành hai đại chủng: Đại chủng Á (Mongoloid) bao gồm các chủng Bắc, Đông, Nam, Mĩ (Indian)

và Đại chủng Úc hay phương Nam (Australoid)

Sự phân biệt hai trung tâm vừa trình bày thành Tây và Đông là thuần túy dựa vào địa lí Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, hình thành sự phân biệt hai khái niệm phương Đông và phương Tây về mặt văn hóa văn minh Phương Đông là một khái niệm do chính người phương Tây đặt ra Hai khu vực này có sự khác biệt rất

rõ rệt về mọi phương diện Trong khi các ngôn ngữ phương Tây biến hình thì các ngôn ngữ phương Đông chủ yếu là đơn lập, trong khi người phương Tây coi trọng cá nhân thì người phương Đông coi trọng cộng đồng, trong khi người phương Tây chìa tay ra bắt lúc gặp nhau thì người phương Đông khoanh hoặc chắp tay cúi đầu Những khác biệt này xưa nay đã được nhiều người nhắc đến Có thể thấy sự khác biệt phương Đông – phương Tây bằng các phạm trù “hướng nội – hướng ngoại”, “trầm mặc – hoạt động”, “phẩm – lượng” …

Bởi văn hóa – văn minh là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hóa chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lí – khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) quy định

Môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông (chính xác hơn là Đông Nam) là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên những vùng đồng bằng nằm trong lưu vực các con sông lớn Còn phương Tây lại là xứ lạnh với khí hậu khô, tạo

nên những vùng đồng cỏ mênh mông

Hai loại địa hình đồng bằng và đồng cỏ dẫn đến chỗ cư dân của hai khu vực phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau: trồng trọt và chăn nuôi Kinh tế trồng trọt bắt buộc người dân phải sống định cư, vì khi trồng cái cây xuống thì phải chờ cho nó lớn lên, ra hoa kết trái để còn thu hoạch Ấy là chưa kể đến những loại cây lâu năm, phải trồng công phu, phải chờ 5 – 10 năm mới có quả, rồi lại thu hoạch nhiều lần Lối sống chăn nuôi thì khác: tài sản của dân du mục là đàn gia súc Gia súc ăn cỏ và không bị cố định như cái cây, ăn hết cỏ không thể ngồi đợi cho cỏ mọc mà phải đi tìm bãi cỏ khác Cho nên sống bằng nghề du mục là lối sống du cư – vừa đi vừa ở nay đây mai đó lang thang

Trang 24

Kết quả là hình thành một cách rõ ràng hai loại văn hóa: Văn hóa nông nghiệp thì lo tạo dựng một cuộc sống ổn định lâu dài, không xáo trộn – chúng mang tính chất trọng tĩnh; văn hóa du mục thì lo tổ chức làm sao để có thể thường xuyên di chuyển một cách gọn gàng, nhanh chóng, thuận tiện – chúng mang tính chất trọng động Các nền văn hóa hiện đại dù đang thuộc giai đoạn văn minh nào (nông nghiệp, công nghiệp, hay thậm chí hậu công nghiệp) cũng đều không thoát ra ngoài hai loại hình

ấy Căn cứ theo nguồn gốc, có thể gọi chúng là các nền văn hóa gốc nông nghiệp và các nền văn hóa gốc du mục, căn cứ theo tính chất, có thể gọi chúng là các nền văn hóa trọng tĩnh và trọng động Điển hình cho loại trọng tĩnh (gốc nông nghiệp) là các nền văn hóa phương Đông, cụ thể là khu vực Đông Nam Á; còn điển hình cho loại trọng động (gốc du mục) là các nền văn hóa phương Tây

Chính vì động cho nên các nền văn hóa phương Tây đã chuyển biến rất nhanh Trong khi phần lớn các nền văn hóa phương Đông đến nay về cơ bản vẫn mang tính nông nghiệp thì các nền văn hóa phương Tây đã chuyển sang công nghiệp từ lâu

Con đường chuyển biến từ du mục đến công nghiệp đi qua giai đoạn thương nghiệp: Ban đầu là du mục, nhưng trong khi lang thang từ nơi này sang nơi khác, người ta nhận ra sự khác biệt về giá cả, vì vậy họ đã chuyển sang mô hình kết hợp du mục cộng với buôn bán Khi hàng hóa dồi dào và thấy buôn bán có lợi hơn chăn nuôi, người du mục sẽ từ bỏ chăn nuôi mà chuyển hẳn sang thương nghiệp Nhưng thương nghiệp thì phải có kho bãi, phải có nơi gặp gỡ để trao đổi hàng hóa Và thế là cuộc sống định cư hình thành, dân số tăng lên, các kho bãi, chợ búa sẽ phát triển thành đô thị Để phục vụ nhu cầu của đô thị và có hàng hóa mang trao đổi lấy hàng nông nghiệp về nuôi sống đô thị, đồng thời với sự phát triển của khoa học – sản phẩm của

tư duy phân tích, một xã hội công nghiệp sẽ hình thành

Đặc tính chăn nuôi và thương mại của các nền văn hóa phương Tây là rất rõ ràng Trong Kinh Thánh cả Cựu Ước và Tân Ước, từ “chiên” được nhắc tới trên

5.000 lần [63:42] Theo tác giả cuốn Lịch sử nhân loại thì ngày xưa người Hi Lạp chỉ

nuôi dê và cừu, ít người làm nghề nông, phần đông lo việc mục súc và hàng hải Nằm trên bờ Bắc Địa Trung Hải, Hi Lạp và Roma bao gồm bán đảo và nhiều đảo nhỏ Địa Trung Hải giống như một cái hồ rất lớn, tạo nên sự giao thông thuận lợi giữa các

Trang 25

nước với nhau; do đó từ rất sớm đã có những hoạt động hàng hải, ngư nghiệp và thương nghiệp biển Trên cơ sở đó, Hi Lạp và Roma đã phát triển cao về kinh tế và xã hội, làm cơ sở cho một nền văn hóa rất rực rỡ [88:20] Còn W Durant trong cuốn

Nguồn gốc văn minh thì cho biết: “Tại những bộ lạc săn bắn và mục súc, loài bò là một đơn vị giá trị rất tiện… Vào thời đại Homer ở Hi Lạp người ta đánh giá người và vật bằng số bò… Người La Mã cũng vậy, họ dùng hai danh từ gần giống nhau – pecus và pecuni a để chỉ bò và tiền bạc” [9:33] Xem thế đủ thấy nguồn gốc du mục

và con đường từ du mục đến thương mại của phương Tây đã quá rõ ràng

Sự khác biệt giữa văn minh phương Đông và phương Tây được thể hiện trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên Nếu dân nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đã ở cố định một chỗ với ngôi nhà, cái cây của mình thì phải có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên – đó là mong muốn của cư dân các nền văn hóa trọng tĩnh phương Đông, trong đó có cư dân Đông Nam Á Còn dân du mục thì nếu thấy ở nơi này không thuận tiện, họ có thể dễ dàng bỏ đi nơi khác, do vậy dễn đến tâm lí coi thường thiên nhiên, bởi vậy mà các nền văn hóa phương Tây trọng động mang trong mình tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên

Trong sách Khởi Nguyên của Kinh Thánh Cựu Ước, ta thấy tường thuật lại lời

Thiên Chúa phán với tổ tiên loài người: “Hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy

trên đất Và hãy bá chủ nó! Hãy trị trên cá biển và chim trời cùng mọi loài sinh vật trên đất” (Khởi nguyên, đoạn 1, câu 28) [65:5] Trong Kinh Tiền Tụng Sách lễ

Roma, trước khi vị chủ tế đọc lời truyền phép trong thánh lễ của đạo Công giáo có

đoạn: “Chúa đã tác thành mọi sự trong vũ trụ và đã sắp đặt cho thời gian thay đổi

tu ần hoàn Còn loài người, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Chúa và bắt mọi sự kỳ diệu quy phục loài người, để họ thay quyền Chúa thống trị mọi loài Chúa đã sáng tạo

và luôn ca tụng Chúa vì muôn việc kỳ diệu Chúa đã làm” [68:45] V.C Ferkiss đã

nhận xét rằng tư tưởng phương Tây cổ truyền, từ triết học Hi-La, qua Kitô giáo, đến

triết học duy lý Descartes luôn bộc lộ “khuynh hướng khuyến khích một thái độ thù

địch với thiên nhiên… thiên nhiên phải được chinh phục, vì nó là thù nghịch” [73:

12-18]

Trang 26

Mỗi thái độ đều có mặt hay và mặt dở riêng của nó Tôn trọng thiên nhiên có cái hay là giữ gìn được môi trường sống tự nhiên nhưng có cái dở là khiến con người trở nên rụt rè, e ngại Coi thường thiên nhiên như văn minh phương Tây có cái hay là khuyến khích con người dũng cảm đối mặt với thiên nhiên, khuyến khích khoa học phát triển nhưng có cái dở là hủy hoại môi trường Chỉ trong vài thế kỉ gần đây, sự phát triển công nghiệp của chủ nghĩa tư bản đã làm mất đi gần 50% diện tích rừng nhiệt đới Thảm thực vật bị phá hủy khiến nó không hấp thụ hết khí CO2 mà các nước công nghiệp phương Tây thải ra ngày càng nhiều tạo nên hiệu ứng nhà kính khiến cho trái đất nóng dần lên cùng vô vàn hậu quả không thể lường trước được Từ lâu, F

Engels trong cuốn Phép biện chứng của tự nhiên đã cảnh báo rằng: “Chúng ta không

nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì, cứ mỗi lần, giới tự nhiên lại trả thù chúng ta Vấn đề của con người không phải là chiến thắng thiên nhiên mà là sống trong một sự hòa hợp có ý thức và tế nhị với thiên nhiên” [13: 85] Nhà triết học Nga nổi tiếng V.V.Nalimov cũng nhận xét: “Tham

vọng làm chủ tự nhiên vô hạn đang đẻ ra một loạt hiện tượng tiêu cực ngày càng tăng: môi trường bị ô nhiễm, thổ nhưỡng bị phá hủy, khí quyển bị thay đổi, các bệnh tâm thần và mức độ sinh đẻ các trẻ khuyết tật gia tăng… Những vấn đề xã hội – kinh

tế của quá khứ hàng thế kỉ nay tác động đến thế giới phương Tây, đã bắt đầu nhường chỗ cho những vấn đề sinh tồn Đó là sự từ bỏ khát vọng chiếm lĩnh tự nhiên, là việc

đi tìm những con đường mở ra khả năng tồn tại của con người trong sự hòa hợp với

tự nhiên” [63:44]

Sự khác biệt giữa văn minh phương Đông và phương Tây còn thể hiện ở mặt tổ chức cộng đồng Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp tiêu biểu – khu vực Đông Nam Á này được nhiều học giả phương Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ” (le Pays du Matriarcat) Cho đến tận bây giờ, ở các dân tộc ít chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa như Chăm hoặc hoàn toàn không chịu ảnh hưởng như nhiều dân tộc ở Tây Nguyên Việt Nam (Êđê, Giarai…) và các dân tộc ở Đông Nam Á hải đảo, vai trò của người phụ nữ thường vẫn rất lớn, phụ nữ chủ động trong hôn nhân, quyết định mọi việc, chồng về ở đằng nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ… Wolters trong khi nghiên

cứu đặc trưng văn hóa Đông Nam Á đã nói đến “sự bình đẳng cả nam lẫn nữ và cả

Trang 27

hai phái đều có thể nhận quyền thừa kế” như một nét đặc trưng nổi bật, sự bình đẳng

này giải thích tại sao “có sự giống nhau bề ngoài giữa nam thần và nữ thần ở tiếu

tượng học Java, trong khi đó sự khác biệt về giống đã được thể hiện không thể nhập nhằng trong tiếu tượng học Ấn Độ” [78: 17-29]

Trong khi đó, đối với văn minh phương Tây, vào thời La Mã cổ đại, phụ nữ không hề có tên riêng, cho đến nay, nhiều nước châu Âu vẫn giữ tục lệ phụ nữ mang

họ tên chồng trong cả các văn bản chính thức, ở một số dân tộc phương Tây, con cái mang họ cha chưa đủ mà còn phải luôn kèm thêm cả tên cha bên cạnh Thánh Kinh Cựu Ước coi người đàn bà được tạo dựng từ một xương sườn của người đàn ông (Khởi nguyên, đoạn 2, câu 21-22) [65:7-8] Nguyên tắc tổ chức cộng đồng của phương Tây là trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam giới Tranh giành nhau một người đàn bà, những người đàn ông phương Tây xưa đấu gươm và sau này thì đấu súng với nhau

Khoa học đã chứng minh rằng, nguồn gốc của xã hội loài người là thống nhất

Từ một nguồn gốc chung mà con người cùng phát triển, Đông và Tây là thống nhất

Có những sự khác biệt đầu tiên giữa Đông và Tây là do sự khác nhau về những điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần Con người sống ở các vùng đất khác nhau đã có sự biến đổi để thích nghi, tồn tại và phát triển Từ sự khác biệt về phương thức sinh hoạt vật chất đã dẫn đến những khác biệt về thiết chế xã hội và truyền thống Văn hóa, văn minh đã biểu hiện rõ hơn sự khác biệt trong cấu trúc và

sự phát triển của các nước đó Trong thời cổ - trung đại, do địa hình của các quốc gia

có nền văn minh sớm gần như khép kín và biệt lập với nhau, bị hạn chế về phương tiện giao thông nên đã hình thành những vùng văn minh và văn hóa tương đối biệt lập Trong thời kì này khoảng cách khác biệt giữa Đông và Tây có thể là lớn nhất

Khi lịch sử xã hội loài người bước sang thời kì cận đại, do những tiếp xúc về kinh tế, văn hóa, chiến tranh… nhất là sau những cuộc phát kiến địa lý vĩ đại, Đông

và Tây đã có xu hướng ngày càng xích lại gần nhau Khoảng cách về không gian giữa Đông và Tây ngày càng có xu hướng rút ngắn lại Với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, khoảng cách về không gian gần như không đáng kể, con người có nhiều cơ hội để gần gũi nhau hơn Đây là điều kiện thuận lợi chưa từng có

Trang 28

trong lịch sử để con người rút ngắn khoảng cách đối với nhau Trước đây, đã có lúc văn hóa, văn minh là ranh giới phân cách con người, nhưng hiện nay, chính văn hóa, văn minh đã làm cho con người xích lại gần nhau Mọi sự cực đoan và tuyệt đối hóa

sự khác biệt đều không đúng Quá trình tiếp xúc, giao lưu, thâm nhập văn hóa, văn minh đã và đang diễn ra Quá trình đó không chỉ xóa dần khoảng cách giữa phương Đông và phương Tây mà còn là một động lực và là quy luật của sự phát triển

1.1.6 Khái niệm tiếp xúc, giao lưu và thâm nhập văn minh

Tiếp xúc và giao lưu văn hóa – văn minh được nhiều ngành khoa học xã hội (là những ngành cùng có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội) quan tâm nghiên cứu Khi xã hội loài người chưa đạt đến trình độ văn minh thì quá trình giao lưu văn hóa của nhân loại cũng đã diễn ra một cách lâu dài và bền bỉ Các nhà văn hóa học đã

dùng nhiều thuật ngữ để diễn đạt các quá trình đó: cutural contacts, cultural

exchanges : Sự trao đổi văn hóa (Anh); acculturation: sự tiếp xúc văn hóa (Mĩ);

tránculturation : Sự di chuyển văn hóa (Tây Ban Nha); interpén étration des

civilisation: Sự hòa nhập giữa các nền văn minh (Pháp)… [52:17]

Năm 1936, các nhà khoa học Mĩ R Redifield, R Linton đã định nghĩa:

Acculturation là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có nền văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi nhận thức (Pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm [52:18] Giao lưu, thâm nhập và tiếp xúc văn minh là sự vận động thường xuyên của văn hóa, văn minh

Ở Việt Nam, một số nhà văn hóa học đã dịch các thuật ngữ trên thành : đan xen văn hóa, hỗn dung văn hóa, giao thoa văn hóa, giao lưu văn hóa và tiếp biến văn hóa Trải qua năm tháng, con người sống trong những cộng đồng lịch sử với hoàn cảnh địa

lí khác nhau đã tạo nên những nền văn hóa riêng biệt của mình Trong cuộc sống hàng ngày con người có những nhu cầu phục vụ cho cuộc sống của mình như: hoạt động buôn bán trao đổi, ngoại giao, hoạt động truyền giáo, chiến tranh… Những hoạt động đó được tiến hành bằng những cuộc tiếp xúc tập thể hay cá nhân ở vùng biên giới, ở những vùng trung tâm thương mại lớn của khu vực hay của một quốc gia

Giao lưu kinh tế, văn hóa đặc biệt diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc khi các cuộc di chuyển dân cư lớn nhỏ diễn ra trong thời cổ - trung đại hoặc đầu thời cận đại Con

Trang 29

người có điều kiện để gần nhau khi sống xen kẽ với nhau, một nhân tố quan trọng tạo nên sự thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn minh

Quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn hóa, văn minh là sự tiếp nhận những yếu tố bên ngoài của những dân tộc chủ thể Mỗi dân tộc có những thành tựu văn minh riêng độc đáo của mình, đóng góp vào nền văn minh nhân loại những thành tựu đặc sắc của dân tộc mình, đồng thời cũng tiếp thu, kế thừa những nét đặc sắc của các nền văn minh khác, làm phong phú thêm cho nền văn minh của dân tộc mình

Cách tiếp cận có chọn lọc những thành tựu văn minh từ bên ngoài cũng đã là một nét văn hóa Có thể nói không có sự thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn minh thì cũng không có sự phát triển Chính quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn minh đã làm cho các dân tộc biết mình đang đứng ở vị trí nào của tiến trình văn minh nhân loại, và cũng thông qua quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn minh mà các dân tộc có dịp làm giàu thêm nền văn minh của mình

Quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn hóa và văn minh đã diễn ra bằng nhiều con đường và ở những cấp độ khác nhau Có những dân tộc tiếp thu một cách thụ động toàn bộ những yếu tố bên ngoài, nhưng cũng có những dân tộc chỉ tiếp thu một cách có chọn lọc những yếu tố thích hợp cần thiết, có dân tộc lại trên cơ sở tiếp nhận những yếu tố bên ngoài rồi cải biến và phát triển chúng Vì thế trong thực tế lịch

sử, yếu tố bản địa và bên ngoài rất khó phân biệt trong một thực thể văn hóa, văn minh

Con đường thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu văn hóa, văn minh cũng diễn ra khác nhau Có quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu diễn ra một cách hòa bình và

tự nguyện, nhưng cũng có quá trình thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu diễn ra bằng con đường chiến tranh, cưỡng bức Mức độ tiếp nhận văn hóa văn minh phụ thuộc rất nhiều vào nội lực của chủ thể tiếp nhận Một nền văn minh có bề dày phát triển, có sức sống và bản lĩnh mạnh thì sẽ đề kháng được với những yếu tố bên ngoài, tiếp thu một cách có chọn lọc, có chủ định, biến đổi và phát triển nó Một nền văn minh yếu

ớt, phát triển không bền vững thì sẽ nhanh chóng bị các nền văn minh khác đè bẹp

Thực ra dưới góc độ lịch sử, bản sắc và truyền thống của một nền văn minh không phải là yếu tố không thay đổi Sự thay đổi đó chính là quá trình khẳng định

Trang 30

những yếu tố trường tồn của văn hóa dân tộc và làm mới, làm phong phú thêm nền văn hóa, văn minh dân tộc nhờ tiếp thu có chọn lọc những yếu tố bên ngoài Ngoại trừ những nền văn minh bị các nền văn minh bên ngoài đồng hóa hoàn toàn, còn các

sự thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu, biến đổi khác cũng góp phần làm cho nền văn minh phát triển

Thâm nhập, tiếp xúc và giao lưu là quy luật phát triển của văn minh, một nhu cầu tự nhiên của con người, là quy luật của xã hội loài người Không có sự giao tiếp văn minh thì cũng không có sự phát triển

1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử khu vực

Đông Nam Á

1.2.1 Tổng quan về khu vực Đông Nam Á

Trước khi người phương Tây đặt chân đến Đông Nam Á, vùng đất này đã được nhận biết từ xa xưa, đặc biệt là đối với các nước nằm ở gần Đông Nam Á

Ấn Độ: Từ xưa trong các sách Arthasastra của Katilya, Jataka, Katha, Niddesa

và nhiều tác phẩm khác đã có nói đến Đông Nam Á Các tên gọi thường dựa vào tên cây cối và khoáng sản như Suvarnabhumi (đất Vàng), Savarnadvipa (đảo Vàng), Takkola (đất Hương Liệu), Narikeladvipa (đảo Dừa), Karpuradvipa (đảo Long Não),…

Trung Quốc: Thường dùng từ Nam Dương tức vùng biển phía nam để chỉ

Đông Nam Á

Nhật Bản: Cũng dùng từ Nan Yo tức Nam Dương như người Trung Quốc Arap: Thời kì đầu gọi Đông Nam Á là Qumz, sau dùng từ Waq – Waq để chỉ các vùng rộng lớn chưa được biết cụ thể Từ cuối thế kỉ VII, các thuyền Arap thường xuyên đến Đông Nam Á để tìm hương liệu và dược liệu

Những tên gọi thời cổ đại cho thấy Đông Nam Á là một vùng đất có nhiều của cải quý báu, có sức hấp dẫn đối với cư dân các vùng khác Tuy chưa xác định rõ ranh giới địa lí và vị trí của Đông Nam Á, nhưng thế giới cổ đại đã xem Đông Nam Á là một vùng sản xuất những sản phẩm kỳ lạ, hương liệu và dân cư là những người đi biển thành thạo và can đảm [12:35-37]

Trang 31

Những ghi chép của Trung Quốc, Ấn Độ chỉ là những điều tai nghe mắt thấy, rất có giá trị nhưng chưa phải là những công trình nghiên cứu Việc nghiên cứu chỉ thực sự bắt đầu từ khi người phương Tây đến Đông Nam Á, có thể chia thành hai thời kỳ:

- Thời kỳ 1: Người phương Tây phát hiện ra ảnh hưởng của Ấn Độ, Trung Hoa ở Đông Nam Á Khi mới đến Đông Nam Á, người châu Âu thấy ngay được ảnh hưởng của Ấn Độ nên đã gọi Đông Nam Á là Viễn Ấn (Farther India), Đại Ấn (Greater India) Họ cũng thấy ảnh hưởng của Trung Hoa ở Việt Nam nên đã gọi Việt Nam là Tiểu Trung Quốc (Small China) Vì thấy Đông Nam Á nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc nên người châu Âu gọi nó là Trung - Ấn (Indochina, Indochine) Chính người

Ấn Độ cũng không biết văn hóa Ấn Độ đã lan rộng đến Đông Nam Á, vì Ấn Độ không hề thống trị ở đây, mà nhờ khoa nghiên cứu Đông Nam Á của phương Tây họ mới biết Đây là thời kì đầu: châu Âu phát hiện ra những ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài ở Đông Nam Á Sở dĩ như vậy, theo D.G.E Hall, là vì các học giả châu Âu chỉ tập trung sự chú ý của mình vào lịch sử của người cầm quyền, nhà chùa, tầng lớp trên, người có học Ở những nơi đó, thành phần đó, thì rõ ràng ảnh hưởng bên ngoài tới có phần đậm hơn, sâu sắc hơn Đời sống của người bình dân, ít học còn chưa được biết đến Thậm chí họ xem Đông Nam Á khi chưa có ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Quốc còn rất lạc hậu, thấp kém Theo họ, văn hóa Đông Nam Á hoàn toàn do bên ngoài mang đến G Coedes gọi văn minh Đông Nam Á là “văn minh ánh sáng mặt trăng” (moonlight civilization) Toynbee gọi Đông Nam Á là “văn minh vệ tinh” (satellite civilization) [12:193-194]

- Thời kỳ 2: Cùng với thời gian, sự nghiên cứu của các học giả phương Tây đi sâu hơn Nó không dừng lại ở phần văn hóa bên trên, ở cung đình, đô thị, các trung tâm tôn giáo, … mà đi sâu vào văn hóa của người bình dân, tầng lớp dưới, không biết chữ Bấy giờ, các học giả phương Tây mới phát hiện ra nền văn hóa bản địa Đông Nam Á Đó là một nền văn hóa có nhiều chỗ khác với văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, chẳng hạn như hệ thống đẳng cấp không có ảnh hưởng lớn ở Đông Nam Á, rõ ràng chế độ xã hội của các nước Đông Nam Á không chịu ảnh hưởng nhiều lắm của Ấn Độ; địa vị người phụ nữ còn cao theo truyền thống cổ, không chịu ảnh hưởng của hệ

Trang 32

thống trọng nam nghiêm nhặt… Chính D.G.E Hall đã cao giọng nói rằng cần chống lại khuynh hướng tai hại là đánh giá cao vai trò của văn hóa bên ngoài và hạ thấp ý nghĩa của văn hóa bản địa Đông Nam Á [12:195]

Phương Tây: Sang thời kì cận đại, đặc biệt là từ thế kỉ XVII – XVIII, người

phương Tây đã có những ghi chép ban đầu về Đông Nam Á, từ những nhà thám hiểm, nhà buôn hoặc giáo sĩ đi truyền giáo ở Đông Nam Á Tiếp đến là các nhà khoa học phương Tây đi sâu nghiên cứu lịch sử, xã hội, văn hóa của các nước này Những tài liệu họ thu thập được và kết quả khoa học họ rút ra đều có giá trị to lớn Người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp đã đến Đông Nam Á Người Anh đã thành lập Công ty Đông Ấn từ năm 1600 Đến năm 1832 lập Royal Asiatic Society (Hội Hoàng gia châu Á) Sau Ấn Độ và Trung Quốc, Anh cũng chú ý nghiên cứu một

số nước ở Đông Nam Á

Người phương Tây nhận thấy vị trí quan trọng của Đông Nam Á nên đã tìm cách kiểm soát trực tiếp, nhằm nắm độc quyền buôn bán ở đây Sự đô hộ của các thế lực thực dân về sách vở, tri thức, học vấn trong một thời kì khoảng 300 năm cũng như sự thống trị về chính trị trong khu vực đã chia cắt tính thống nhất khu vực của Đông Nam Á về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế Mỗi nước thực dân phương Tây chỉ chú ý nước mình đô hộ chứ không nghiên cứu cả khu vực Nhưng cũng thật kỳ lạ, chính vào thời thuộc địa mà những chi tiết về sự giàu có của văn minh Đông Nam Á mới bắt đầu được thế giới biết đến Việc tìm thấy lại và tu sửa những di tích lớn như Angkor ở Campuchia, Pagan ở Myanmar, Mỹ Sơn ở Việt Nam hay Prambanan và Borobudur ở Indonesia, việc nghiên cứu về xã hội nông dân, về ngôn ngữ và về các mặt văn hóa khác của các nước Đông Nam Á của các học giả châu Âu đã cung cấp cơ

sở cho sự hiểu biết chung về khu vực Đông Nam Á ngày nay [86:10-11]

Người Pháp muốn xây dựng ngành Đông phương học thành một khoa học thực

sự Pháp là nước có khá nhiều trung tâm nghiên cứu và tạp chí về Đông Nam Á, như École Francaise d’Extrême – Orient (Trường Viễn Đông Bác Cổ), viết tắt là EFEO,

ra đời năm 1901 ở Hà Nội Nhiệm vụ của nó là phát hiện, sưu tầm, khai thác và nghiên cứu các di tích khảo cổ, sưu tập các văn bản chép tay và nghiên cứu các ngôn ngữ ba nước Đông Dương Năm 1907, EFEO đã xây dựng viện bảo tàng và thư viện

Trang 33

ở Hà Nội, có tạp chí khoa học là Bulletin d’Ecole Francaise d’Extrême – Orient, viết tắt là BEFEO

Người Pháp vẫn có cách gọi khác nhau về Đông Nam Á: Đông – Nam của châu Á hay châu Á phần Đông - Nam (l’Asie du Sud-Est), Viễn Đông, hay cụ thể hơn “Viễn Đông thuộc Pháp”, để phân biệt với Trung - Ấn (Indo-China) được hiểu gồm cả các nước hải đảo ; nhưng từ khi khái niệm “châu Á gió mùa” được phát hiện (1928), người ta vẫn chưa thực sự thấy một nghiên cứu nào chung về lịch sử và văn hóa Đông Nam Á [85:17] Người Anh, Mỹ gọi Viễn Đông trước đây, cả người Nga nữa, là để chỉ vùng Đông-Bắc Á Người Pháp đưa ra một khái niệm mang nặng tính chất văn hóa : “Ấn Độ bên ngoài” (l’Inde Exterieure) và người Anh thì gọi là “nước

Ấn Độ rộng lớn hơn” – (The Greater India), mà như thế, không thể hiểu là Đông Nam

Á, là đầy đủ Đông Nam Á (chỉ có phần ảnh hưởng Ấn Độ) Cũng cần nhắc lại rằng

khi Susan Brown Cowing (Honolulu, 1968) dịch quyển sách của G.Coedes, The

Indianized States of Southest Asia , là không sát, bởi nguyên tác là Các quốc gia cổ

Hindu hóa ở Viễn Đông (Histoire ancienne des Etats Hindouises d’Extreme-Orient,

Hà Nội, 1944), hai mươi năm sau, tái bản, không có sửa chữa gì đáng kể, chỉ thay đổi

chút tên: “Các quốc gia Hindu hóa ở Đông Nam Á và Nam Dương” (d’Indochine et d’Indonesie) Ông đã lý giải sự khác biệt giữa Hindu hóa và Ấn Độ hóa, tuy lần tái

bản thứ hai năm 1968, một năm sau khi ông qua đời, tên sách đã được đổi lại là Ấn

Độ hóa Các học giả Âu – Mỹ thường có ý gọi Southest of Asia, l’Asie du Sud-Est,

hàm ý Đông Nam Á là bổ ngữ của châu Á

Như thế có lẽ, công trình Lịch sử Đông Nam Á của D.G Hall (A history of

South-Est Asia, Luân Đôn, 1960) là công trình đầu tiên gọi riêng, gọi đúng tên Đông Nam Á, từ đó, mở ra một cách hiểu, cách gọi thông dụng, như “thương mại Đông Nam Á, tương tác xã hội Đông Nam Á” (Bennet Bronson, 1976)

Tuy nhiên, theo Giáo sư Lương Ninh trong Lịch sử Đông Nam Á (2005), về

mặt lịch sử, các nước Đông Nam Á có mối quan hệ “dây mơ rễ má” từ thời văn hóa Hòa Bình – nền văn hóa cuội (Hoabinhian pebble Culture), tới giao lưu văn hóa thời cường quốc Phù Nam và tới cảnh ngộ giống nhau thời chủ nghĩa thực dân Về mặt

Trang 34

lịch sử, sự tương đồng, gần gũi, quan hệ gắn kết, nhất là từ thời Hiện đại (từ năm

1945 đến ngày nay) trong khu vực, đã trở thành thực tế hiển nhiên [48: 4-5]

Về sau, ngày càng rõ hơn quan niệm Đông Nam Á không còn là những khu vực khác nhau chịu ảnh hưởng bên ngoài, những vùng / quốc gia nằm trong các khối

thuộc địa khác nhau, mà là chỉnh thể một khu vực, chứa đựng những vấn đề thiết yếu

đối với đời sống khu vực cũng như toàn thế giới, nên đã có những công trình, giáo

trình Đại học, như quyển Đông Nam Á – một nhập để lịch sử của Milton Osborne, Australia, 1979, mở đầu bằng chương 1 – Đông Nam Á là gì ? Tiếp đến chương 3:

Triều đình – Vua – Nông dân: Đông Nam Á trước tác động của châu Âu hay như

quyển Lịch sử Đông Nam Á hiện đại của Clive J.Christie, Tauris – Hull – Anh quốc,

1993, chú ý đến các vấn đề tôn giáo và sắc tộc ở Đông Nam Á, tức là đã gọi rõ tên khu vực là Đông Nam Á

Đông Nam Á vốn vẫn là một khu vực, một chỉnh thể với những nét riêng của

nó, nhưng người ta chỉ mới dần dần nhận thấy từ khoảng một nửa thế kỉ trở lại đây

Không phải là vài thập kỉ nay, khi trở thành một điểm nóng bỏng trong đời sống chính trị của hành tinh chúng ta mà Đông Nam Á nổi lên như một khu vực địa

lý – lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với loài người Cũng không phải bắt đầu từ chủ nghĩa thực dân hoặc xa hơn nữa, từ phát kiến địa lý, khi những quốc gia già cỗi, bắt đầu tàn tạ, nơi các nước thực dân xông đến, tìm cách chiếm đoạt và chia nhau xâu xé,

mà Đông Nam Á được quan tâm nhiều hơn của toàn thế giới

Thực ra, Đông Nam Á vốn có một ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ lịch sử thế giới, từ những bước đi đầu tiên của loài người do những điều kiện tự nhiên thuận lợi của khu vực, và trong từng chặng đường lịch sử do vị trí địa lý của khu vực Không phải ngẫu nhiên mà mối liên hệ của khu vực này với thế giới, đã được xác lập thường xuyên trong mấy chục thế kỉ qua Và cũng không phải ngẫu nhiên mà đã có mặt ở Đông Nam Á những nhà địa lý hay du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao, của cả phương Đông và phương Tây, trong suốt chiều dài lịch sử như Ptoleme, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Pháp Hiển, Marco Polo, Châu Đạt Quan, Ibn Batutah, … Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý cho đời sau

Trang 35

Trước đây, người ta thường hiểu tầm quan trọng lịch sử của Đông Nam Á chủ yếu là ở vị trí địa lý của nó Khu vực này được coi là hành lang, cầu nối giữa phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản …) và phương Tây (Tây Á, Địa Trung Hải, …) Thậm chí cho đến gần đây khi đã đánh giá lại sự cống hiến về văn hóa và vai trò lịch sử của Đông Nam Á, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là “ống thông gió” hay

“ngã tư đường” Quan niệm này rõ ràng là chưa đầy đủ Do những điều kiện riêng về

tự nhiên , tộc người, do vị trí địal lý và quá trình lịch sử, Đông Nam Á phải được coi

là một trong những trung tâm văn minh – ít ra là ở những giai đoạn lịch sử nhất định – một trong những trung tâm thu – phát văn hóa và một trong những trung tâm kinh

tế (chứ không phải chỉ là cái chợ chuyên buôn bán hàng hóa nước ngoài)

Đông Nam Á là một khu vực rộng, trải ra trên một phần Trái Đất, từ khoảng

920 kinh Đông đến 1400 kinh độ Đông, và từ khoảng 280 vĩ độ Bắc, chạy qua xích đạo đến 150 vĩ độ Nam, rất không thuần nhất về những điều kiện tự nhiên Lẽ thường,

có thể bị khô cằn, thậm chí trở thành sa mạc, hoặc ngược lại, những vùng nằm trên hay gần xích đạo sẽ bị nóng quanh năm và có mưa thường xuyên tầm tã vào chiều tối

Nhưng những điều kiện riêng của tự nhiên lại tạo nên và đem tới cho Đông Nam Á những ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Gió mùa đã điều hòa bớt những điều kiện thông thường, giảm bớt sự không thuần nhất, sự gay gắt về khí hậu đáng lẽ phải

có và tạo nên đại thể hai mùa, mùa khô tương đối lạnh mát và mùa mưa tương đối nóng

Chính gió mùa và khí hậu biển đã làm cho những địa điểm như Hà Nội, Mandalay đáng lẽ có thể khô cằn đã trở nên xanh tốt trù phú, hoặc làm cho các khu vực gần xích đạo đáng lẽ chỉ có rừng cây rậm rạp, dân cư thưa vắng và lạc hậu như trong các sách giáo khoa địa lý thông thường nói về châu Phi xích đạo, thì lại có những đô thị đông đúc và thịnh vượng như Kuala Lumpur, Singapore, Jakarta, …

Mùa mưa với những cơn mưa nhiệt đới có quy luật ổn định đã cung cấp nước

đủ dùng trong năm cho đời sống con người và cho sản xuất, đã tạo nên những cánh rừng nhiệt đới, phong phú về các loại thảo mộc và muông thú

Những điều kiện tự nhiên đó làm cho Đông Nam Á thích hợp với sự sinh trưởng của một số loài cây cỏ nhất định, Đông Nam Á trở thành quê hương của

Trang 36

những loại cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng (hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương, …) và cây lương thực đặc trưng là cây lúa nước Như thế, Đông Nam Á làm thành một khu vực thực vật – dân tộc học và đồng thời cũng là một khu vực động vật – dân tộc học, tương đối riêng biệt

Bởi những lẽ đó, gió mùa đã tạo nên một khu vực được gọi từ lâu là “châu Á gió mùa” Có thể hiểu “châu Á gió mùa” là một phần của địa cầu, nơi trồng lúa nước

từ thuở xa xưa, bao gồm miền nam Trường Giang (Trung Quốc), miền Nam Nhật Bản, miền Đông Ấn Độ và các nước Đông Nam Á ngày nay Nhưng quá trình phát triển của lịch sử cùng với sự can thiệp của con người làm cho bản đồ của các nước Đông Nam Á không bao gồm toàn bộ “châu Á gió mùa” mà chỉ có phần chủ yếu và tiêu biểu của “châu Á gió mùa” Một phần khác, như ta đã thấy, đã gắn với lãnh thổ

và do đó với những nền văn hóa Nam Á và Đông Á

Phải nói rằng, gió mùa không chỉ mang lại thuận lợi cho con người, mà những yếu tố tự nhiên vẫn tác động và tạo nên sự thất thường tuy với biên độ không lớn lắm Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực làm thành những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển và đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng, với độ ẩm khá cao Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội với quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiên cho

sự phát triển những kĩ thuật tinh tế, phức tạp

Tuy nhiên, nhìn chung những điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á tỏ ra rất thuận lợi cho những bước đi đầu tiên của con người Những mùa ổn định với khí hậu không quá gay gắt về cả nhiệt độ và lượng mưa, địa bàn sinh tụ nhỏ và phong phú, kết hợp rừng – suối, đồi – ruộng, đã tạo nên những không gian lý tưởng cho con người thời ấy Không phải ngẫu nhiên mà con người đã in dấu vết sinh sống và phát triển của mình trên khu vực này từ những thời gian rất xa xôi

1.2.2 Đông Nam Á trước khi văn minh phương Tây thâm nhập

Ở Đông Nam Á, trước khi có sự xâm nhập của văn minh Ấn Độ và Trung Hoa,

đã từng tồn tại một truyền thống văn hóa bản địa lấy nông nghiệp lúa nước làm nền tảng và lấy giao lưu sông biển làm dây liên kết giữa các cư dân trong khu vực Nền

Trang 37

văn minh bản địa Đông Nam Á đó đã đạt đến một trình độ phát triển khá cao và đã được định hình thành một chỉnh thể [53:13-14]

Mưa nắng là hai yếu tố chủ đạo cho hoạt động trồng lúa nước, tạo thành thế lưỡng hợp, trở thành một khái niệm thiêng liêng phổ biến trong thần thoại, cổ tích, hội hè Thế lưỡng hợp đó đã tạo thành một nền tảng ý thức cơ bản và truyền thống cho mọi biểu hiện sinh hoạt tinh thần ở các thời kì sau Đồng thời, ba nhân tố rừng, biển và đồng bằng là ba cơ cấu văn hóa bản địa truyền thống ở Đông Nam Á đã được hình thành từ trước khi tiếp nhận các nền văn minh Ấn Độ và Trung Quốc sau này Các cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa một cách chọn lọc, trên cơ sở văn hóa bản địa đã định hình từ trước Văn hóa các dân tộc không ngừng biến đổi tạo nên sự đa dạng văn hóa trên toàn vùng

Khi nghiên cứu văn minh Đông Nam Á, các nhà nghiên cứu thường đưa ra các quan điểm khác nhau về các giá trị văn minh chung và riêng biệt của mỗi quốc gia Tuy vậy, nhìn tổng thể điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở Đông Nam Á dẫn đến

sự ra đời của văn minh, có thể thấy những giá trị chung, những thành tựu đại diện cho văn minh khu vực mà vẫn không làm lu mờ sự đặc sắc riêng biệt của mỗi nước

Tiến trình lịch sử văn minh Đông Nam Á theo thời gian luôn có quá trình tiếp thu, biến đổi các thành tựu văn minh nhân loại mà trước hết và quan trọng nhất là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ Cả hai nền văn minh lâu đời, rực rỡ và rất lớn này đã để lại dấu ấn ở Đông Nam Á và trong thời cận đại là ảnh hưởng của văn minh phương Tây Nhưng cũng không thể phủ nhận sức sáng tạo của cư dân Đông Nam Á, làm nên những thành tựu văn minh của mình, một nền văn minh bản địa, đặc sắc Các cộng đồng dân tộc ở Đông Nam Á đã phát triển không ngừng vươn tới, vừa tiếp thu vừa tự mình hoàn thiện các giá trị văn minh bên ngoài và tạo nên bản sắc riêng của mình

Trong suốt chiều dài lịch sử văn minh, Đông Nam Á đã có lúc đóng vai trò quan trọng, đây là nơi có cuộc cách mạng nông nghiệp lớn nhất thế giới Nhận xét

này cho thấy vị trí của văn minh Đông Nam Á trong lịch sử văn minh nhân loại và sức sáng tạo nội sinh của Đông Nam Á [38:31]

Trang 38

Các quốc gia Đông Nam Á có cùng lúc một số tôn giáo khác nhau và không có xung đột tôn giáo, cho dù ở quốc gia đó có thể có tôn giáo được coi là quốc giáo Sự tồn tại của các cơ sở thờ cúng, tề tựu bên nhau của các tôn giáo khác nhau là điều dễ thấy Chẳng hạn, nhà thờ Công giáo, muslim Islam giáo kề bên ngôi chùa Phật giáo Phật giáo được truyền bá vào Đông Nam Á từ rất sớm, tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và lan tỏa, tôn giáo này dần dần mất ưu thế ở một số quốc gia để nhường bước cho Hồi giáo chiếm vị trí Song, dù được tôn xưng là quốc giáo hay không, các tôn giáo ngoại sinh được truyền bá vào Đông Nam Á đều có quá trình bản địa hóa Một số yếu

tố giáo lí, nghi lễ và hình tượng đã được biến đổi cho phù hợp với tín ngưỡng, tập quán, lối sống đã được hình thành ở Đông Nam Á, không còn giữ nguyên gốc như ban đầu và ở nơi phát sinh Cũng vì lẽ đó, các tôn giáo được truyền bá vào Đông Nam Á, trong cùng một quốc gia luôn diễn ra quá trình “đồng lưu” – tức là cùng tồn tại bên nhau và đôi khi vay mượn các yếu tố giáo lý, hòa cùng nghi lễ và nơi thờ tự, hành lễ

Chẳng hạn, đạo Phật và đạo Bà-la-môn cùng tồn tại ở Campuchia và pha trộn các lễ thức của nhau Trong nhiều ngôi chùa ở Đông Nam Á thờ Phật xen cả biểu tượng của Bà-la-môn giáo Gốc rễ của sự pha trộn, hòa đồng này là lối sống và tập quán luôn coi trọng sự khoan hòa, nhân ái, là tính dễ thích nghi, dễ chấp nhận và cởi

mở của cư dân Đông Nam Á Đức tính này thể hiện cả đến sau này, trong thời cận đại khi Kitô giáo được truyền bá vào Đông Nam Á, người ta vẫn thấy trong các nhà thờ những hình ảnh, biểu tượng quen thuộc với cư dân nơi đây: tòa sen, tam quan…

1.3 Chính sách của thực dân phương Tây đối với Đông Nam Á

1.3.1 Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Đông Nam Á

Đông Nam Á là một khu vực được tạo hóa ban tặng nhiều thuận lợi, khu vực được nuôi dưỡng bởi gió mùa, điều kiện môi sinh thuận tiện cho sự sinh sống ban đầu: đủ nước, đủ nóng ấm mà không quá nóng hay quá lạnh Đông Nam Á đã đi tiên phong trong những thế kỉ đầu Công nguyên Trình độ và văn hóa của cảng thị Phù Nam vào đầu Công nguyên có thể đặt nó ở vị trí một số ít địa điểm hàng đầu thế giới Khu vực cứ thế vươn lên qua hàng thế kỉ Khoảng thế kỉ XII-XIII, nó thực sự xứng

Trang 39

đáng coi là ở vị trí “hàng đầu thế giới về sự phát triển vương quốc thống nhất về

trình độ văn hóa, giá trị tinh thần, đạo đức, về ý chí kiên cường chiến thắng bạo tàn Trên thế giới thời gian này không có nơi nào có thể so sánh được với các quốc gia Đông Nam Á về các mặt này” [48:187-188]

Đến thế kỉ XVI, ở các nước Đông Nam Á cơ bản vẫn là xã hội phong kiến Nhưng thế kỉ XVI cũng đã trở thành mốc đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển của khu vực Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân ở khu vực, thì tiền đồ phát triển lịch sử của Đông Nam Á cũng từng bước có những thay đổi

Sau các cuộc phát kiến địa lý các nước phương Tây lần lượt xây dựng các thương điếm buôn bán, những trạm tiếp tế cho các đội thuyền ở một số địa điểm của Đông Nam Á Tiếp đó, các nước thực dân phương Tây tranh chấp nhau, chiếm các quốc gia ở khu vực, thiết lập chế độ thuộc địa, lôi cuốn các quốc gia này vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, làm biến dạng quá trình phát triển lịch sử của Đông Nam Á Nước duy nhất của khu vực Đông Nam Á là Xiêm, giữ được độc lập về chính trị, nhưng về kinh tế cũng bị lôi cuốn vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Bản đồ chính trị các nước Đông Nam Á dần dần có sự thay đổi, từ các quốc gia độc lập trở thành những nước thuộc địa hoặc phụ thuộc của thực dân phương Tây

Khi các nước phương Tây bước vào thời kì cận đại, chủ nghĩa tư bản ra đời và thống trị, thì ở phương Đông, các quốc gia còn đang ở trong chế độ phong kiến lạc hậu, trì trệ Ở khu vực Đông Nam Á, sau thời kì phát triển thịnh đạt của chế độ phong kiến, từ thế kỉ XVI trở đi, ở nhiều nước, chế độ phong kiến đã bước vào thời kì suy thoái, từng bước lún sâu vào các cuộc khủng hoảng triền miên về chính trị, kinh tế, xã hội Các cuộc xung đột, rtanh giành quyền lợi giữa các tập đoàn phong kiến, giữa các tộc người dẫn đến chia cắt đất nước Mâu thuẫn giai cấp – xã hội căng thẳng do các tầng lớp nhân dân bị bóc lột nặng nề, không còn con đường sống Nhân dân, trước hết

là nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa Những cuộc khởi nghĩa nông dân vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân góp thêm đẩy chế độ phong kiến, nhà nước phong kiến lâm vào suy yếu nhanh hơn Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các cuộc xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây

Trang 40

Vào thời cận đại, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập ở nhiều nước châu Âu, mặc dù có những nước chưa trải qua cách mạng tư sản Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản châu Âu ngày càng đòi hỏi vốn, nguyên liệu và thị trường, nhất là khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, những đòi hỏi càng trở nên bức thiết

Để đáp ứng nhu cầu này, các nước châu Âu đã hướng sang phương Đông và họ đã tìm đường sang phương Đông, trong đó có các nước Đông Nam Á mà đi đầu là các thương nhân Từ những hoạt động buôn bán, trao đổi, truyền giáo (Công giáo và Tin Lành), người phương Tây đã chuyển sang chính sách xâm lược, biến các nước phương Đông nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng thành thuộc địa Để buôn bán, trao đổi, đặc biệt là để thăm dò, buổi ban đầu người phương Tây thường dùng vũ lực để chiếm các vùng đất ở ven biển thuận lợi, rồi đặt các trụ sở, các thương điếm Tại đây, họ xây dựng những đồn bốt, hệ thống cửa hàng, đưa hàng hóa từ châu

Âu tới để buôn bán, trao đổi lấy các sản vật và từ đây bành trướng thế lực

Sau những cuộc phát kiến địa lí, Đông Nam Á trở thành một trong những đối tượng xâm lược quan trọng của thực dân Bồ Đào Nha, sau đó là các cường quốc thực dân Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và Pháp…Kỉ nguyên của chủ nghĩa thực dân được bắt đầu vào một phần tư đầu tiên của thế kỉ XVI Đông Nam Á trở thành một trong những vùng đất đầu tiên ở phương Đông mà thực dân phương Tây quan tâm và tiến hành xâm lược [38:193-194]

Bồ Đào Nha là cường quốc châu Âu đầu tiên có mặt ở châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á và tiến hành xây dựng đế quốc thuộc địa của mình Sau khi chiếm được vùng Goa (Ấn Độ), năm 1509, người Bồ Đào Nha toan tính mở rộng thế lực sang Đông Nam Á Nhận thấy eo biển Malacca có vị trí quan trọng thông thương từ Tây sang Đông, thuận lợi cho việc đi sâu vào Đông Nam Á, người Bồ Đào Nha mưu toan chiếm con đường qua eo biển này Năm 1511, đoàn tàu chiến Bồ Đào Nha đã chiếm thủ đô của vương quốc Hồi giáo Malacca, xây dựng được điểm chốt thương mại quan trọng Malacca thuộc Bồ Đào Nha từng bước trở nên thịnh vượng, việc buôn bán của

nó tiếp tục được mở rộng và thu được những khoản lợi nhuận lớn Malacca chẳng những trở thành một trung tâm thương nghiệp sầm uất, mà còn là căn cứ cửa ngõ đi vào Đông Nam Á thuận lợi

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w