L ỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn “Các biện pháp bồi dưỡng h ọc sinh trung bình, yếu môn hóa học lớp 11 THPT”, ngoài những cố gắng của bản thân,
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Y Linh
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí lu ận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã s ố: 60 14 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ HUY H ẢI
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Y Linh
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí lu ận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã s ố: 60 14 10
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn “Các biện pháp bồi dưỡng
h ọc sinh trung bình, yếu môn hóa học lớp 11 THPT”, ngoài những cố gắng của bản thân,
em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của quí Thầy cô cùng gia đình và bạn bè
Nhân đây, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy: TS Lê Huy Hải,
mình hướng dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trịnh Văn Biều, trong suốt những năm học đại học, cao
học và cả thời gian em nghiên cứu luận văn, Thầy luôn tận tình dạy bảo, giúp đỡ và cho chúng em những lời khuyên quí báu để hoàn thành tốt công việc học tập và nghiên cứu của mình
THPT Đa Phước, THPT Hắc Dịch, THPT Châu Thành, THPT Trần Phú, THPT Nguyễn
Huệ đã giúp đỡ em trong suốt quá trình em làm thực nghiệm
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự góp ý từ Thầy cô và các bạn
Tp H ồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011
Sinh viên th ực hiện
Dương Thị Y Linh
Trang 4DANH M ỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1.Các luận văn nghiên cứu về học sinh trung bình, yếu trường ĐHSP TPHCM
5
Bảng 1.2 Phân phối chương trình môn hóa học lớp 11 8
Bảng 1.3 Điều tra nguyên nhân học yếu của học sinh 12
Bảng 1.4 Tỉ lệ học sinh trung bình, yếu của một số trường phổ thông 21
Bảng 2.1 Giải thích các loại IQ 26
Bảng 2.2 Quan điểm của học sinh đối với game online 33
Bảng 2.3 Sự tham gia của học sinh THPT vào hoạt động chơi game online 34
B ảng 2.4 Mẫu danh sách học sinh phụ đạo 35
Bảng 2.5 Các phương án ra bài tập so sánh khó dần .4
Bảng 3.1 Các cặp lớp TN – ĐC 123
Bảng 3.2 Phân phối kết quả kiểm tra bài “Luyện tập Ancol – phenol” (bài 42) 125
Bảng 3.3 Phân phối tần số lũy tích lớp bài 42 125
Bảng 3.4 Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A4, 11A5 127
Bảng 3.5 Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A1, 11A3 127 Bảng 3.6 Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A1, 11A3 128
Bảng 3.7 Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A1, 11A5 128 Bảng 3.8 Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A1, 11A5 129
Bảng 3.9 Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A4, 11A5 129 Bảng 3.10 Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A4, 11A5 130
Bảng 3.11 Phân phối kết quả kiểm tra và tần số lũy tích lớp 11A2, 11A3 131
Bảng 3.12 Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A2, 11A3 132
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học 7
Hình 2.1 T ỉ lệ nghiện game theo các độ tuổi 32
Hình 2.2 Hệ thống khen thưởng 39
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A4, 11A5 126
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A2, 11A3 126
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A1, 11A3 127
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A1, 11A5 129
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A4 (TN), 11A5 (ĐC) 130
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích của lớp 11A2, 11A3 131
Trang 6Đồ dùng dạy học Định nghĩa Giáo dục đào tạo Giáo viên
Hợp chất hữu cơ
Học sinh
Khối lượng phân tử Phụ huynh học sinh Phương trình Phương trình phản ứng Phòng thí nghiệm
Phản ứng Sách giáo khoa Tính chất hóa học Tính chất vật lí Tác dụng Trung học phổ thông Nhiệt độ sôi
Thực nghiệm
Ví dụ
Trang 7M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH 5
DANH M ỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 6
M ỤC LỤC 7
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích của việc nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ của đề tài 9
4 Khách thể và đối tựơng nghiên cứu 10
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Giả thuyết khoa hoc 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Những đóng góp mới của đề tài 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.2 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 13
1.3 TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HÓA HỌC LỚP 11 15
1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỌC SINH YẾU MÔN HOÁ HỌC THPT 16
1.5 THỰC TRẠNG VỀ HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 27
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU HỌC TỐT MÔN HÓA 30
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA 30
2.2 CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU 37
2.3 PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI 60
2.4 THIẾT KẾ VỞ GHI BÀI 65
2.5 HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG DẦN ĐỘ KHÓ 73
Trang 82.6 THIẾT KẾ CÁC GIÁO ÁN HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 11 CƠ BẢN NHẰM BỒI
DƯỠNG HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA 78
2.7 HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ TRÒ CHƠI STUDY GAME 98
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 120
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 120
3.2 NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM 120
3.3 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 120
3.4 TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM 121
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 121
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 130
1 Kết luận 130
2 Kiến nghị 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PH Ụ LỤC 137
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học (đặc biệt là ngành công nghệ thông tin)
là nhu cầu phải thường xuyên nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục; và trong những giai đoạn cần thiết là cải cách giáo dục
Chính vì vậy mà ngày nay học sinh, sinh viên ngày càng năng động hơn, sáng tạo hơn Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại một lượng đáng kể học sinh trung bình, yếu trong hầu
hết các trường học của hệ thống giáo dục nước nhà
đúng mức, có rất ít sách vở, tài liệu đề cập đến
Để hạ thấp dần tỉ lệ học sinh trung bình, yếu đòi hỏi người giáo viên không chỉ phải
biết dạy, biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh mà còn phải có nhiệt huyết và lòng yêu nghề, yêu người
Vấn đề nêu trên là không dễ đối với giáo viên nhưng nếu giải quyết được điều này sẽ đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện và góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức
Đó cũng là lí do em chọn đề tài “Các biện pháp giúp học sinh trung bình, yếu học
t ốt môn Hóa học lớp 11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông”
2 M ục đích của việc nghiên cứu
Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh trung bình, yếu trong dạy học chương “Dẫn xuất halogen – ancol – phenol” và “Anđehit – xeton – axit cacboxylic” hóa học lớp 11 chương trình cơ bản
3 Nhi ệm vụ của đề tài
- Tìm hiểu tổng quan về vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về việc dạy và học môn hóa học ở trường trung học phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết phần hóa học hữu cơ lớp 11
- Điều tra thực trạng về tình hình học sinh trung bình, yếu ở một số trường THPT
trung bình, yếu
Trang 10- Đề xuất các biện pháp nâng cao kết quả học tập của học sinh trung bình, yếu vào việc dạy học chương “Dẫn xuất halogen – ancol – phenol” và “Anđehit – xeton – axit cacboxylic” hóa học lớp 11 ban cơ bản và thiết kế một số giáo án minh họa
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các biện pháp đề xuất và rút ra các bài học kinh nghiệm về phương pháp dạy học sinh trung bình, yếu
4 Khách th ể và đối tựơng nghiên cứu
học
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp giúp học sinh trung bình, yếu học tốt môn hóa học lớp 11 chương trình cơ bản
5 Ph ạm vi nghiên cứu
- Nội dung được giới hạn trong chương “Dẫn xuất halogen – ancol – phenol” và
“Anđehit – xeton – axit cacboxylic” hóa học lớp 11 (chương trình cơ bản) THPT
- Địa bàn nghiên cứu: một số trường phổ thông thuộc TPHCM, tỉnh Bình Phước, tỉnh BRVT
- Thời gian nghiên cứu: từ 08/2010 đến 10/2011
6 Gi ả thuyết khoa hoc
Nếu đề xuất được những biện pháp khoa học thích hợp với điều kiện thực tế thì sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy- học môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
• Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu chương trình hóa học lớp 11
- Truy cập thông tin trên internet
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan
• Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, rút kinh nghiệm với các thầy cô, bạn bè
- Thực nghiệm sư phạm
• Các phương pháp toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lí kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm
Trang 118 Nh ững đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được phần mềm game hóa học
- Tập hợp hệ thống bài tập nâng dần độ khó của hai chương “Dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol” và “Anđehit –Axit cacboxylic”
- Thiết kế được vở ghi bài của chương “Dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol” và
“Anđehit –Axit cacboxylic”
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Theo Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân, thì lâu nay chúng ta chỉ chú ý đến học sinh giỏi mà quên đi học sinh yếu kém có tiến bộ Ngay trong việc khen thưởng, chúng ta cũng thường thưởng cho học sinh giỏi, xuất sắc mà không có phần thưởng nào giành cho các em yếu kém có tiến bộ Bên cạnh đó, ông cũng kêu gọi phải nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém
Thật vậy, từ xưa đến nay lượng đề tài nghiên cứu về học sinh giỏi rất nhiều nhưng các đề tài nói về đối tượng học sinh trung bình, yếu lại rất hiếm hoi Những năm trở lại đây, khi hiện tượng “ngồi nhầm lớp” được phát hiện, các phong trào chống tiêu cực, chống bệnh thành tích trong ngành giáo dục được phát động thì số lượng học sinh yếu đã tăng nhanh đến mức báo động
Vì vậy vấn đề lấy lại căn bản cho học sinh trung bình, yếu đang được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm Bộ Giáo dục & Đào tạo đã họp chuyên đề toàn quốc qua mạng trong tháng 3-2007 bàn về các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém ở từng địa phương trong cả nước
Trên các diễn đàn giáo dục như: “diễn đàn Lâm Đồng dạy và học”, “SREM diễn đàn”,… nóng hổi với các trăn trở về tình trạng học sinh yếu kém như: “Một số giải pháp
khắc phục tình trạng học sinh yếu”, “Giảng dạy giúp đỡ học sinh yếu kém như thế nào?”…
Báo chí cũng đề cập rất nhiều đến vấn đề này Tờ Vietbao.vn với bài “Học sinh yếu kém do đâu”, Bộ Giáo dục và Đào tạo-Mạng giáo dục Education network với bài “Giải pháp giúp đỡ học sinh yếu kém”, hay trên báo Người lao động có bài “Tôi đau lòng khi thấy học
http://www.hcm.edu.vn/tintuc có bài “Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân trả lời chất vất tại
Quốc hội” về vấn đề học sinh yếu kém
Riêng đối với trường Đại học Sư phạm TP.HCM, số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về học sinh trung bình, yếu cũng bắt đầu nhiều hơn trước Sau đây là danh sách các đề tài liên quan đến đối tượng học sinh trung bình, yếu
Bảng 1.1.Các luận văn nghiên cứu về học sinh trung bình, yếu ĐHSP TPHCM
Trang 13Hương (K19) Xây dựng hệ thống lí thuyết và bài tập hóa học dùng cho học sinh trung bình, yếu lớp 10 THPT Lương Thị Hương
Xây dựng hệ thống bài tập hóa hữu cơ 12 nhằm rèn luyện
kĩ năng giải bài tập cho học sinh yếu môn hóa ở trường THPT
Cho đến thời điểm này, các đề tài trên chưa được công bố Trong các đề tài nghiên cứu về
học sinh trung bình, yếu đã được công bố (như khóa luận tốt nghiệp của Trần Đức Hạ Uyên,
chưa rộng, cũng như chưa nêu rõ cách thực hiện cụ thể của mỗi phương pháp
Trong luận văn này, em đã cố gắng thực hiện tốt hai hạn chế vừa nêu trên và tập
Bộ Giáo dục & Đào tạo khuyến khích
1.2.1 Khái ni ệm về quá trình dạy học [1, tr.11]
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động của GV và HS, dưới sự hướng dẫn
nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất nhân cách
đảm nhận) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy và học GV giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều
Trang 14khiển hoạt động học tập của HS HS giữ vai trò tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học của bản thân
(GV) – Kiến thức (nội dung) – Mội trường (những điều kiện dạy học cụ thể) Các nhân tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học không tồn tại rời rạc bên nhau mà luôn có tác động qua lại
lẫn nhau, quy định lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau để mỗi yếu tố hoàn thành chức năng của mình trong tác động dạy học
MÔI TRƯỜNG
KIẾN THỨC
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học
1.2.2 Nhi ệm vụ của quá trình dạy học [1, tr.19]
Dựa trên những cơ sở chủ yếu như mục tiêu đào tạo, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc điểm tâm sinh lí HS và đặc điểm hoạt động dạy học có thể đề ra 3 nhiệm vụ dạy
học sau:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội hệ thống tri thức khoa
học phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
- Nhiệm vụ thứ hai: Tổ chức, điều khiển HS phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động
- Nhiệm vụ thứ ba: Hình thành thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức và phát triển nhân cách cho HS
1.2.3 Nhi ệm vụ của việc dạy học hóa học ở THPT [2, tr.40, 41]
• Nhiệm vụ trí dục của môn hóa học là cung cấp cho HS hệ thống các kiến thức, kĩ năng cơ bản về hóa học, hình thành cho các em phương pháp nghiên cứu khoa học
− Hệ thống các kiến thức cơ bản về hóa học:
+ Các khái niệm hóa học cơ bản và ngôn ngữ hóa học
Trang 15+ Hệ thống kiến thức về cấu tạo chất
+ Hệ thống kiến thức về phản ứng hóa học
+ Các định luật hóa học cơ bản
+ Kiến thức về dung dịch và các quá trình xảy ra trong dung dịch
+ Kiến thức về sự phân loại các chất và các chất cụ thể
+ Trang bị cho HS những kiến thức kỹ thuật tổng hợp
− Hệ thống các kĩ năng cơ bản về hóa học:
+ Kĩ năng tiến hành thí nghiệm
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức
+ Kĩ năng phân tích, tổng hợp
+ Kĩ năng giải bài tập
giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan cho HS
− Giúp HS hình thành thế giới quan
− Nâng cao nhận thức của HS về vai trò, nhiệm vụ của hóa học
− Góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lao động
Chương trình môn hóa học lớp 11 THPT bao gồm những nội dung cơ bản của môn hóa học Chương trình gồm hai phần: vô cơ và hữu cơ Phần hóa vô cơ gồm các kiến thức trọng tâm: thuyết điện li, nhóm nitơ-photpho, nhóm cacbon-silic Phần hóa hữu cơ học sinh
sẽ được học những những kiến thức mở đầu và nền tảng nhất của hóa học hữu cơ
Chương trình chuẩn môn hóa học lớp 11 THPT gồm 70 tiết phân bố học trong 35 tuần ( 2 tiết/tuần)
Nội dung các chương và sự phân bố các tiết học ở chương trình chuẩn được thể hiện ở
bảng dưới đây:
B ảng 1.2 Phân phối chương trình môn hóa học lớp 11
Trang 165 Hiđrocacbon no 3 1 1 5
1.4.1 Khái niệm học sinh yếu
Theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định [14 ]:
Điều 13 Tiêu chuẩn xếp loại học kỳ và xếp loại cả năm
1 Lo ại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5
2 Lo ại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0
3 Lo ại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên
Trang 17thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3,5
4 Lo ại yếu: điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào
điểm trung bình dưới 2,0
5 Lo ại kém: các trường hợp còn lại
6 Nếu ĐTB học kì hoặc ĐTB cả năm đạt mức quy định cho từng loại nói tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này, nhưng do ĐTB của 1 môn học thấp hơn mức quy định cho loại
đó nên học lực bị xếp thấp xuống thì được điều chỉnh như sau:
phải xuống loại TB thì được điều chỉnh xếp loại K
phải xuống loại Y hoặc kém thì được điều chỉnh xếp loại TB
phải xuống loại Y thì được điều chỉnh xếp loại TB
phải xuống loại kém thì được điều chỉnh xếp loại Y
Như vậy, theo qui định của Bộ GD và ĐT học sinh loại yếu là học sinh có điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0
Tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi dùng khái niệm “học sinh yếu” với nghĩa chỉ các học sinh có học lực dưới trung bình – bao gồm các học sinh loại yếu và loại kém theo qui định của Bộ GD và ĐT
1.4.2 Những biểu hiện học sinh yếu
Học sinh yếu thường có một số biểu hiện như sau:
- Dễ bị chi phối, không tập trung
- Thường lúng túng khi giáo viên hỏi bài
- Hay rụt rè, nhút nhát
Trang 18- Ít khi giơ tay phát biểu,
- Khả năng diễn đạt kém
- Kiểm tra thường điểm số thấp so với các bạn trong lớp
- Kết quả học tập cuối năm yếu
1.4.3 Các nguyên nhân d ẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn hóa
Tình trạng học sinh trung bình, yếu đã và đang tồn tại ở hầu hết các trường học, từ nông thôn đến thành thị, từ trường dân lập đến trường công lập
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinhyếu kém,sau đây em xin phân tích một số nguyên nhân chính, để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăngiúp học sinh vươn lên trong học tập
Theo như cuộc điều tra thăm dò ý kiến của 399 học sinh của tám trường trung học phổ thông (gồm các trường của thành thị và nông thôn, trường công lập và dân lập) là: trường THPT Dân lập Ngôi Sao (quận Bình Tân, TP.HCM), THPH Châu Thành (tỉnh BR-
Bửu (TPHCM), Nguyễn Công Trứ (TPHCM), Trường Chinh (TPHCM), Đa Phước (huyện Bình Chánh),các em tự nhận xét thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng học yếu là do:
HS lười học, mất căn bản từ lớp dưới, không có mục đích học tập và do phương pháp dạy của giáo viên không phù hợp Sau đây là kết quả cụ thể của cuộc điều tra
B ảng 1.3 Điều tra nguyên nhân học yếu của học sinh
3 Em thường giành bao nhiêu thời
4 Em sử dụng tài liệu môn hóa như
Trang 195 Công việc nào chiếm nhiều thời
6 Theo em, nguyên nhân nào làm
học sinh học yếu?(xếp theo thứ tự ưu
Tôi xin chia các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học yếu của học sinh thành bốn
nhân về tài liệu học tập, và một số nguyên nhân khác (như hoàn cảnh gia đình, bạn bè rủ rê
- HS lười học: theo kết quả điều tra, 100% học sinh cho rằngnguyên nhân học yếu là
do học sinh lười học và mất căn bản từ lớp dưới Qua quá trình giảng dạy, emcũng nhận
thấy rằng đa số các họcsinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vàoviệc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì
cặpsách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớpthì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó
Một số học sinh đi học thất thường, ham chơi, la cà quán xá, tiệm internet
- H ọc sinh bị hỏng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủnhận, với
chương trình học tập hiện nay, để có thể học tốt, đặc biệt là mônhóa… để việc học tập có
kết quả thì đòi hỏi trước đó học sinh phải có vốn kiến thức nhất định Tuy nhiên, hiện nay
Trang 20càng lên các lớp lớn hơn, học những kiến thức mới có liên quan đến những kiến thức cũ thì
học sinh đã quên hết cho nên việc tiếp thu kiến thức mới trở thành điều rất khó khăn đối với các em, các em trở nên đuối sức trong học tập, không theo kịp các bạn (thiếu kiến thức, kỹ
năng, khả năng để học tập lớp đang học ), sinh ra chán học, sợ học (hội chứng sợ học)và
buông xuôi
Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ
của học sinh
- H ọc sinh không có thời gian cho việc tự học: Với những vùng nông thônnghèo, đa
số các bậc phụ huynh nghĩ học sinh đến trường, học những gì giáo viên giảng là đủ rồi, và chưa chú ý đến vấn đề tự học của học sinh Một số bộ phận học sinh phải làm công việc nhà, chăm sóc em nhỏ, làm công việc ở ngoài đồng… mà đáng lí ra thời gian đó học sinh
phải ngồi trên lớp hoặc thảo luận với bạn bè trong những giờ học nhóm
- H ọc sinh có chỉ số thông minh (IQ) thấp, hoặc không có bán cầu não trái phát triển
nên không có năng khiếu trong các môn khoa học tự nhiên nói chung và môn hóa học nói riêng
b Giáo viên
hưởng không nhỏ là ở người giáo viên
Thầy hay thì có trò giỏi Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ
giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào
là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức Qua quá trình học tập và giảng dạy chúng tôi nhận thấy, đa số thầy cô giáo đều tận tụy và chăm chút học sinh nhưng cũng có trường hợp chỉ thành công trong đối tượng là học sinh khá trở lên, còn đối với học sinh yếu kém thì chưa hiệu quả, hoặc ngược lại Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên chưa
thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính tích cực chủ động của học sinh Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời với thái
độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ, thậm chí còn làm các em thui chột tinh thần học tập
Trang 21Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo
dù là rất nhỏ Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá,
giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp Vì vậy chưa theo dõi sát xao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh
Một số giáo viên không làm tròn trách niệm trong việc kiểm tra đánh giá học sinh, cho học sinh lên lớp khi các em chưa đủ chuẩn, hậu quả là các em phải gánh chịu khi học lên lớp trên
cần đánh giá nên nhiều lúc yêu cầu quá cao so với chuẩn, chưa đầu tư cho việc ra đề kiểm tra, chỉ dạy tốt những giờ thao giảng
Việc dạy cho học sinh tự học hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy hết nội dung đã qui định, lo cháy giáo án Một số giáo viên còn lệ thuộc vào sách tham khảo, coi đây là "sách
gối đầu giường" Khi giảng bài trên lớp còn phụ thuộc quá nhiều vào SGK, giáo án, ít khi
xuống gần học sinh, giọng nói một số giáo viên còn hạn chế
thú cho học sinh thích học môn mình Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết
với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém Từ đó các em cam chịu, dần
dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhục chí không tự vươn lên
1.4.3.2 Nguyên nhân v ề phương pháp
a Phương pháp dạy của giáo viên
học còn dàn trải, còn nâng cao kiến thức một cách tùy tiện
Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của giáo viên chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng; có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm
Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc
tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp
Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế
Còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất lượng
học tập của HS, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên Tinh thần trách nhiệm một số
Trang 22đồng chí chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích vẫn còn, không đánh giá đúng thực chất
của lớp mình giảng dạy
Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp
Chưa chú ý đúng mức tới công tác kiểm tra đánh giá Đặc điểm của HS yếu là không
tự giác và lười học Nếu GV không chú ý đến việc kiểm tra liên tục, thường xuyên thì HS sẽ xao nhãng việc học, về nhà không học bài, không làm bài…kết quả là HS không nhớ được kiến thức nào hết
b Phương pháp học của học sinh
Bên cạnh những HS lười học, cũng có những HS rất muốn học nhưng lại không biết cách học, không biết học như thế nào Phần lớn là chưa có phương pháp học tập khoa học,
hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả ), học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, trong thi cử thì quay cóp
Theo sách giáo khoa hiện hành, để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnhhội được tri
thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khivào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được Tuy nhiên,phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó Học sinh chỉ đợiđến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi chép vào vở, về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì
Thì giờ học thêm quá nhiều, học sinh không "tiêu hóa" hết, sinh ra uể oải, nhàm chán Bên cạnh đó, cũng có những học sinh yếu không chịu đi học phụ đạo
1.4.3.3 Nguyên nhân v ề tài liệu học tập
Ngày nay, thị trường sách rất đa dạng Sách tham khảo được bày bán ở khắp các nhà sách, từ thành thị đến nông thôn Nhưng để ý, chúng ta sẽ thấy hầu hết các sách đều ghi: dành cho học sinh giỏi, học sinh luyện thi vào các trường chuyên, hay dành cho học sinh
luyện thi đại học-cao đẳng….mà không có sách nào ghi dành cho học sinh trung bình, yếu Thật sự là chưa có một chương trình, giáo án nào có sẵn cho riêng đối tượng này Chính điều này gây cản trở lớn cho học sinh yếu, nhất là các em bị mất căn bản từ lớp dưới, khi muốn học cũng không biết bắt đầu từ đâu, học kiến thức nào trước và ở trong sách nào?
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân băn khoăn rằng, “lâu nay chúng ta chưa chú trọng lắm tới phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém Cụ thể như số tài liệu, giáo trình giảng dạy cho đối tượng học sinh này còn rất khiêm tốn Nên chăng, các tỉnh tự nghiên
Trang 23cứu, biên soạn tài liệu, Bộ GD-ĐT sẽ tuyển chọn, tập hợp thành tài liệu chung nhất, phổ biến cho cả nước”
Trong khi chờ đợi một giải pháp vĩ mô, mỗi trường nên tự thống nhất nội dung phụ đạo cho học sinh trung bình, yếu rồi soạn thành tài liệu phát cho học sinh
Ví dụ đối với học sinh yếu khối 10, khối 11, cần được trang bị những kiến thức nền tảng mà các em hỏng, mất căn bản bộ môn, đối với học sinh lớp 12 thì phải bù đắp thật đầy đủ về kiến thức hổng mà còn phương pháp… để chuẩn bị cho các kỳ thi quan trọng
1.4.3.4 Các nguyên nhân khác
a Gia đình
• Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn
Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không quan tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc con cái phải lao động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn bài, học bài cũ, do đó khi đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi thầy cô giáo kiểm tra bài cũ từ đó thua sút bạn bè và phát sinh tâm lí chán học dẫn đến bỏ giờ trốn học, bỏ học
• Gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của con cái
Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả vợ chồng đều đi làm ăn xa, phó mặc con cái cho ông bà hoặc chị em chăm sóc lẫn nhau, một số HS chưa tự giác và thiếu sự quản lí chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh, từ đó ham chơi mà trốn học,
bỏ học
Có gia đình tuy không khó khăn về kinh tế nhưng có tham vọng làm giàu, bỏ mặc con cái, không quan tâm đến việc học tập của con cái kể cả những thói hư tật xấu của con cái, cha mẹ cũng không biết để răn dạy, do đó từ những vi phạm nhỏ dần dần đến việc lớn
• Gia đình có cha mẹ bất hòa, không có hạnh phúc
Lứa tuổi các em rất nhạy cảm, những cuộc cải vả của cha mẹ, sự to tiếng quát nạt, bạo lực của người cha làm cho các em dần dần bị ảnh hưởng, từ đó nẩy sinh những việc làm không lành mạnh, thích đánh lộn để giải tỏa tâm lý, bị ức chế, bỏ nhà đi chơi không thíêt tha đến việc học, từ đó lực học giảm sút dẫn đến chán học, bỏ học Ngoài ra, gặp hoàn cảnh gia đình có người cha nát rượu, cũng ảnh hưởng rất lớn đến HS làm việc học của các em bị sa sút
Trang 24Với môi trường giáo dục của gia đình như vậy, HS khó có thể trở thành con ngoan trò giỏi, nếu không có sự động viên kịp thời của bạn bè, nhà trường và thầy cô giáo
b Nhà trường
Hầu hết các trường đều thiếu thốn quá nhiều về cơ sở vật chất và các trang thiết bị
việc quan tâm đầy đủ đến các đối tượng HS và các em dễ quay cóp trong thi cử
Chưa thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh (ngân hàng đề, bốc thăm đề kiểm tra, quản lý đề, duyệt đề )
Nội dung sinh hoạt chuyên môn còn nghèo nàn, nặng về hành chính, chưa tập trung
thảo luận, bàn bạc để tìm ra những biện pháp tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn Kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ ( tổ chức hội thảo, mở chuyên đề, BDTX, ) làm còn qua loa, chưa triển khai tốt các chuyên đề để phục vụ nâng cao chất lượng dạy và học Đánh giá
xếp loại đội ngũ đôi khi mang tính hình thức, chưa thực chất
Kế hoạch phụ đạo học sinh trung bình, yếu còn chậm
c Địa phương và các lực lượng xã hội
Chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để tham gia giáo dục học sinh ở địa phương
Xã hội phát triển là điều đáng mừng, nhưng khi phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh bạo lực, …
Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bida, internet, karaokê … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các
em dễ dàng bắt chước
Nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, sống thiếu lành mạnh vẫn chưa được xử lý đúng mức làm tác động xấu đến quá trình học tập và rèn luyện của các em Nhiều quán xá còn lợi dụng học sinh để kinh doanh
K ết quả của cuộc trò chuyện thăm dò ý kiến về nguyên nhân khiến học sinh học yếu của một số giáo viên và học sinh [30,tr.34]
a Học sinh
Trang 25- Thầy cô dạy buồn chán,không gây hứng thú, vui vẻ cho lớp học nên em không thích học môn hóa
- Bài tập hóa khó quá, em nản em không làm
- Em không có thời gian để học Khi trên lớp có tiết hóa em mới lấy bài ra coi sơ sơ, về nhà
hầu như không học
- Thầy cô giảng bài em không hiểu
học, còn môn hóa hầu như em không dành thời gian để học,
- Trong giờ học môn Hóa em không tập trung, hay nói chuyện và ít nghe giảng
- Phần hóa hữu cơ em bị mất căn bản
- Gia đình không ai quan tâm về việc học của em (em không ở với bố mẹ mà ở với bà ngoại)
- Em không học bài, không làm bài
- Em bị mất căn bản môn hóa
- Trong lớp học em không nghe giảng nên không hiểu bài
5) Tăng Bảo Ngọc (Lớp 10a14 trường Nguyễn An Ninh)
- Giáo viên giảng bài nhanh quá em không theo kịp
biết
- Em không có thời gian để học bài ở nhà, em phải phụ giúp gia đình buôn bán
- Do em lười học bài
- Trong lớp không tập trung
- Em đi chơi rất nhiều và không thích học
Trang 26- Do em ít học bài cũ
- Do em bị mất căn bản
b Giáo viên
1) Cô Đoàn Thục Anh (giáo viên môn hóa trường Nguyễn Thi Minh Khai)
Học sinh yếu môn hóa chủ yếu do:
- Khả năng tiếp thu kém
- Trong lớp không tập trung nghe giảng bài
- Về nhà không chịu làm bài tập
Phương pháp dạy học sinh yếu:
- Phần lý thuyết dạy đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu
- Nhắc lại nhiều lần
học sinh dễ nhớ bài hơn và thích học
- Phần bài tập giảng kỹ, giải thích rõ, đi từ bài đơn giản đến bài khó dần
- Nguyên nhân học sinh yếu môn hóa:
- Khả năng tiếp thu kém
- Mất căn bản
- Lười học
- Cần cù nhưng học sai phương pháp
- Thấy mình học yếu nên nản không muốn học
Phương pháp dạy cho học sinh yếu:
- Nghiêm khắc
- Kiểm tra thường xuyên, bắt các em phải học bài
- Dạy đơn giản, dùng những từ dễ hiểu
- Dạy phần trọng tâm, không đi lan man
- Bài tập: Trước tiên giáo viên sửa những bài tập cơ bản đến khi học sinh đã hiểu thì cho
những bài tập khác rồi giáo viên hướng dẫn học sinh giải, sau đó cho bài tập về nhà để học sinh tự giải
Trang 271.5 TH ỰC TRẠNG VỀ HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA Ở TRƯỜNG
Chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu về kết quả học tập năm học 2010-2011 của học sinh của bốn trường THPT (trong đó có trường ở thành thị, ở nông thôn, có trường công lập, trường dân lập), gồm các trường là: THPT Ngôi Sao (quận Bình Tân, TP.HCM), Châu
dùng phương pháp toán học để thống kê số học sinh trung bình và yếu của các trường Kết quả như sau:
Bảng 1.4 Tỉ lệ học sinh trung bình, yếu của một số trường phổ thông
HS
Số HS trung bình
THPT Ngôi Sao và Châu Thành là hai trường thuộc thành thị nên tỉ lệ học sinh trung bình yếu có thấp hơn THPT Châu Thành là ngôi trường điểm của thị xã Bà Rịa, xếp thứ hai tỉnh (chỉ sau trường chuyên Lê Quý Đôn của tỉnh) nhưng tỉ lệ học sinh trung bình yếu vẫn chiếm tỉ lệ khá cao 42.09%, vậy thử hỏi các trường khác của tỉnh BR-VT thì con số này còn lớn như thế nào?
Đối với THPT Ngôi Sao, còn được biết đến với tên gọi khác là trường Đào tạo học sinh giỏi, với số lượng học sinh rất ít, đầu vào đã được lựa chọn rất kỹ (ba năm liền là học sinh giỏi ở cấp II mới được vào học lớp 10 ở trường), nhưng vẫn tồn tại học sinh trung bình yếu với tỉ lệ là 25.62% Điều đó để thấy rằng học sinh yếu đang tồn tại ở khắp các trường phổ thông, dù là trường ở nông thôn hay thành thị, công lập hay dân lập
Xin cung cấp thêm vài số liệu thống kê khác
Theo Dân trí, kết thúc năm học 2006-2007, cả nước đã có tới hơn 5 triệu học sinh thuộc diện yếu, kém Gần 14% học sinh bậc THCS có học lực loại yếu kém và hơn 21% học sinh THPT cũng thuộc loại học lực này (“Hàng loạt ưu tiên đặc biệt dành cho học sinh yếu
Trang 28kém”, sinh-yeu-kem/2007/9/197158.vip)
http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/Hang-loat-uu-tien-dac-biet-danh-cho-hoc-Qua kiểm tra chất lượng học kỳ 1 năm học 2007- 2008 của tỉnh Tây Ninh và kết quả khảo sát chất lượng giáo dục cho thấy: ở cấp tiểu học, học sinh yếu kém là 6.585 trên tổng
số 87.686 học sinh, tỉ lệ 7,51%; ở cấp THCS là 14.230/66.653 học sinh, tỉ lệ 21,35%; cấp THPT là 8.974/26.894 học sinh, tỉ lệ 33,37% So với tỉ lệ bình quân chung của cả nước, số học sinh học lực yếu kém ở Tây Ninh ở mức cao
Theo báo cáo sơ kết học kỳ 1 (2009-2010) của Sở GD – ĐT Phú Yên, toàn tỉnh có 3.475 học sinh tiểu học yếu môn Tiếng Việt (chiếm tỉ lệ 4,4%), 3.634 học sinh tiểu học yếu môn Toán (chiếm tỉ lệ 4,6%); bậc THCS có 9.892 học sinh yếu (chiếm tỉ lệ 16,86%), 549 học sinh kém (chiếm tỉ lệ 0,94%); bậc THPT có 7.227 học sinh yếu (chiếm tỉ lệ 22,77%),
326 học sinh kém (chiếm tỉ lệ 1,03%) So với cùng kỳ năm học trước, tỉ lệ học sinh yếu, kém đều tăng
Tóm lại, hiện nay tình trạng học sinh yếu kém có ở tất cả các tỉnh, thành phố Diện học sinh không đủ kiến thức, kỹ năng, khả năng học ở lớp hiện tại tập trung nhiều ở các tỉnh, các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn; vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo Con
số về tỉ lệ học sinh trung bình yếu thật sự đã đạt đến mức báo động Là người giáo viên tâm huyết chúng ta cần tìm những giải pháp để khắc phục tình hình này càng sớm càng tốt
Trang 29TÓM T ẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã thực hiện được các công việc sau:
1 Tìm hiểu một số luận văn của các tác giả có liên quan đến đề tài Từ đó cho thấy để
bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu đòi hỏi phải có nhiều thời gian, tâm huyết
2 Làm rõ các khái niệm có liên quan như: Khái niệm dạy, khái niệm học, các quy luật
học tập để làm sáng tỏ cơ sở lí luận
những biện pháp bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu một cách phù hợp
4 Đã đưa ra các vấn đề liên quan dẫn đến học sinh học trung bình, yếu môn hóa như: khái niệm, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến học yếu
5 Điều tra thực trạng học sinh trung bình, yếu ở một số trường THPT TP.HCM, từ đó tìm ra hướng để vận dụng các biện pháp bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu môn hóa cho phù hợp
6 Tổng quan về chương trình hóa học lớp 11 cơ bản THPT
Trang 30CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU HỌC
T ỐT MÔN HÓA
Có rất nhiều cơ sở để xây dựng các biện pháp giúp học sinh trung bình, yếu học tốt hơn, như: các kiến thức về tâm lý giáo dục (chỉ số thông minh, đặc điểm tâm sinh lý của học
thực trạng về học sinh trung bình, yếu ở các trường phổ thông Sau đây chúng tôi xin phân tích những cơ sở đặc trưng nhất
2.1.1 Ch ỉ số thông minh (IQ) [18], [19]
2.1.1.1 Chỉ số thông minh (IQ) là gì ?
quotient trong tiếng Anh), là một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thế kỷ 19 Sau đó, nó được học trò của ông là J.Cattell và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi học Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một học sinh với kết quả bài trắc nghiệm của ông Sau đó không lâu, nhà tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-
1917 khi nước Mỹ bước vào chiến tranh thế giới thứ nhất
Trong thế kỉ 20, chỉ số IQ trung bình của con người tăng lên một cách rất chậm: đó được gọi là hiệu ứng Flynn Nhưng chúng ta vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn những sự thay đổi đó thể hiện chính xác sự thông minh dần thêm của con người Trung bình chỉ số IQ trong một đời người hầu như không tăng hay giảm Tuy nhiên vẫn có một ít người trải qua những sự thay đổi rất lớn Ví dụ như trong một số tài liệu, một số chứng bệnh ảnh hưởng học tập có thể ảnh hưởng gây giảm chỉ số IQ rất lớn (Shaywitz, 1995)
học Sư PhạmTP.HCM, thì “IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là
“Intelligence Quotient”, thường dịch là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh
Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ của người đó”
Trang 31Chỉ số thông minh, hay IQ (viết tắt của intelligence quotient trong tiếng Anh), là
một con số được xác định ở mỗi người sau khi hoàn tất một bộ kiểm tra Bài kiểm tra đó xác định khả năng hoàn thành một số nhiệm vụ mà những người sống trong một xã hội thường
gặp, và từ đó xác định khả năng học hỏi và lặp lại những cách "sử dụng trí thông minh" Dưới đây là bảng giải thích ý nghĩa từng nhóm điểm IQ
V = sự lĩnh hội ngôn từ (vebal comprehension)
W = hoạt bát ngôn ngữ (word fluency)
N = khả năng vận dụng tài liệu chữ số (Number)
S = năng lực không gian (space)
M = trí nhớ (memory)
Trang 32P = tri giác (perceptual)
R = khả năng suy luận (reasoning)
Học sinh trung bình, yếu thường có chỉ số IQ nằm trong khoảng từ 70 đến 85
2.1.1.2 M ối quan hệ giữa IQ và thành tích học tập [14], [36], [37]
Từ khi trắc nghiệm IQ được phát triển và lần đầu tiên đưa vào sử dụng trong nhà trường, tính giá trị của chúng được nghiên cứu rộng rãi nhất trong việc đo lường sự tương
hiểu hay toán học Một số trắc nghiệm khác dựa vào kết quả đo lường tổng quát về thành tích học tập như kết quả thi cử (ở Anh) hoặc trình độ cấp học (ở Mỹ) Một số nghiên cứu cho thấy biết sự tương quan giữa IQ với khả năng học hết trung học hay lên đại học của học sinh (khả năng này được tính bằng tổng số năm được thụ hưởng giáo dục học đường)
IQ tương quan thuận với cấp học, với kết quả trắc nghiệm đọc hiểu, hiểu biết toán
học và với nhiều nội dung học thuật khác (Lsvin 1965) Nghiên cứu sự tương tác giữa sự
biến thiên trong giáo dục và sự khác biệt ở cá nhân về năng lực, năng khiếu (Cronbach, Snow, 1977) cũng rút ra kết luận rằng: Trí thông minh tổng quát hầu như luôn tương quan thuận với các kết quả đo lường kết quả học tập các môn khoa học cơ bản, khoa học xã hội
IQ đạt được tại điểm khởi một giai đoạn học tập có khả năng tiên đoán thành tích học
tập Nói cách khác, IQ đạt được ở một độ tuổi nhất định có thể dự báo thành tích học ở độ
tuổi sau (Venon, 1947, Mackintosh, Mácie-Taylor, 1986)
IQ cũng có thể tiên đoán số năm được thụ hưởng giáo dục mà cá nhân có thể đạt được Các nghiên cứu theo chiều dọc ở Mỹ đã chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa IQ với tổng
số năm đi học của trẻ 7 tuổi là 0,40, trẻ 11 tuổi là 0,50 (Jencks, 1972, Mc Call, 1977) [36, tr 45]
Trang 33Một điểm cần lưu ý là mối uan hệ giữa IQ với thành tích học tập là mối quan hệ tương hỗ Điểm IQ có thể thay đổi nhằm đáp ứng những cơ hội học tập giành cho cá nhân Bằng
chứng là:
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của Phương pháp giao việc cho học sinh trong một nội dung học tập dành cho học sinh cấp 2 để chuẩn bị giáo dục đại học hoặc để hướng nghiệp cho sinh viên ở Thụy Điển (Hảnqvist, 1968) cho thấy sự giao việc cho một nội dung học tập
cũ làm tăng điểm IQ so với giao việc cho một nội dung học tập cuối cấp [37, tr 549]
- Việc đến trường học giúp học sinh tăng IQ của mình: càng nghỉ học sớm thì nguy
cơ thua kém về IQ so với các bạn cùng trang lứa càng tăng Nghiên cứu tại Nam Phi và Mỹ cho thấy mỗi năm trì hoãn đi học, IQ của trẻ giảm 5 điểm [14]
Qua phân tích người ta thấy người có IQ cao có thể đọc nhiều hơn những người có
IQ thấp, đồng thời họ có thể lưu giữ nhiều hơn những thứ mà họ đọc được Họ cũng có khả năng tốt hơn trong việc tổ chức thông tin Nói cách khác, sự đa dạng trong việc thể hiện và lưu giữ kiến thức có thể góp phần vào mối quan hệ thuận lợi giữa kiến thức và IQ [37, tr 551]
2.1.2 Đặc điểm tâm, sinh lý đặc trưng của học sinh trung bình, yếu [21], [25]
Từ “bảng 1: Giải thích các loại IQ”, ta có thể rút ra IQ của học sinh trung bình, yếu thường nằm trong khoảng từ 70 đến 85 và các học sinh này có một số đặc điểm chung sau:
- Về nhận thức, khâu đầu tiên dễ thấy nhất là các em rất hay quên Khối lượng ghi nhớ, các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp hơn so với tuổi Trí nhớ máy móc khá phát triển nên HS thường hay học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức
- Tiếp thu bài rất lâu nhưng lại rất nhanh quên, song những điều đã ghi nhớ được thì lại nhớ rất bền lâu
dàng nhất trên cơ sở vật thể cụ thể hoặc hình ảnh các sự vật
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến
thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế
- Yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập
do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin
- Khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập chương trình hành động, hoạch định công việc kém Vì thế học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập Để các em đạt được một
Trang 34chút thành tích nào đó trong học tập thì phải nhờ sự kèm cặp, theo dõi sát sao của người lớn.Vì thế giáo viên và phụ huynh phải luôn theo sát để kiểm tra, đôn đốc kịp thời
- Khi làm việc, các em nhanh chóng mệt mỏi Khả năng chú ý và tập trung vào bài
giảng không bền
- Đặc điểm khá nổi bật là các em rất thích được khen Đồng thời với thích khen, các
em rất hay nản chí khi gặp khó khăn và “phản ứng” ra mặt như không nhìn lên bảng, không nhìn vào bài để nghe giảng lại hoặc nghe giáo viên nói về cái không đúng mà mình mắc phải Xu hướng của những học sinh này là thích lặp lại những gì đã biết, đã quen làm
- Học sinh đi học thất thường, có em đi học trong một tuần chỉ được 2 – 3 buổi
Khả năng học tập của HS rất khác nhau, cùng một độ tuổi về trình độ chung các em có thể chênh nhau 1 lớp
- Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng các em chưa biết phát huy khả năng
của mình
Qua phân tích các đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trung bình, yếu ở trên, chúng ta có thể rút ra một số lưu ý khi dạy đối tượng học sinh này như sau:
cần được chỉ bảo từng phần rõ ràng trong một nhiệm vụ phức tạp Các em có nhu cầu giúp
đỡ trong quá trình lập kế hoạch và kiểm soát nhiệm vụ, chúng phải được dạy dỗ những chiến lược hiệu quả để làm việc, để lập kế hoạch, để kiểm soát, và để giải quyết một vấn đề
- Trí nhớ ngắn hạn và dài hạn kém, khoảng thời gian dạy cần ngắn gọn, học sinh cần
sự phản hồi trực tiếp, lặp đi lặp lại nhiều lần bằng nhiều cách khác nhau
- Học sinh không có khả năng xử lý khi gặp những tình huống lạ, chúng cần lặp đi lặp lại bằng nhiều cách và ở những tình huống khác nhau, có nhiều biện pháp động viên và khuyến khích, học sinh phải vận dụng nhiều lần các thông tin mới trong những tình huống mới
- Phần lớn học sinh không được kích thích, các em rất cần môi trường xung quanh
an toàn, tình yêu, sự tin tưởng và kiên trì, hy vọng và tôn trọng
phải khuyến khích và động viên các em phát triển ngôn ngữ, và phải hết sức
nhạy cảm đáp ứng hay phản hồi kịp thời
- Rất ít học sinh yếu biết đặt câu hỏi, vì vậy phải dạy các em biết đặt ra những câu hỏi Cái gì, Tại sao và Như thế nào?
Trang 35- Khi cung cấp thông tin mới cho học sinh, cần có kết cấu rõ ràng, cố gắng liên hệ
nó với cái mà các em đã biết, để trẻ có cơ hội tiếp cận thực tế
- Dành thời gian để bạn hướng dẫn và sau đó để các em có đủ thời gian để tiếp thu
và làm lại
- Bắt đầu bằng những kiến thức mà các em đã biết và làm được Đây là những trải nghiệm tích cực để giúp học sinh yếu tích luỹ kinh nghiệm, chuẩn bị cần thiết cho những mức độ khác
2.1.3 S ức hút của trò chơi điện tử (game) đối với học sinh [5], [7], [17]
Sự ra đời của internet đã đánh dấu một bước tiến lớn của cả nhân loại trong lĩnh vực
kết nối thông tin toàn cầu Với những ích lợi to lớn và những kiến thức mà nó mang lại trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, internet đã được coi như một phương tiện không thể thiếu đối với con người
Một điều hết sức tự nhiên khi những người trẻ tuổi sử dụng internet đó là chúng dễ dàng bị mê hoặc bởi những điều mới lạ, thú vị và bị cuốn hút tới mức không còn kiểm soát được thời gian Tại nhiều quốc gia trên thế giới, thực trạng của việc trẻ em say mê internet
và game online đã lên đến mức báo động Nhiều trường hợp do mải mê với mạng internet,
những đứa trẻ thậm chí quên ăn, quên ngủ trong suốt nhiều ngày
Đối tượng của nó không giới hạn ở riêng lứa tuổi nào mà đã tác động đến hầu hết tất
cả mọi người Vào tháng Mười vừa qua, cuộc khảo sát xã hội về dịch vụ trò chơi trực tuyến (game online) của Viện Xã hội học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam do một doanh nghiệp về Game Online tài trợ, kết quả nghiên cứu đưa ra có 90.4% thanh thiếu niên chơi game online (10-15 tuổi chiếm 26,3%; 16-20 tuổi chiếm 42,1%; 21-25 tuổi chiếm 22%) trong số 27,3 triệu người đang sử dụng Internet tại Việt Nam (số liệu cuối tháng 11/2010)
Hình 2.1 T ỉ lệ nghiện game theo các độ tuổi
Các game online luôn tạo ra sự hấp dẫn, kích thích sự tò mò, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân là sự tự do, khẳng định bản thân của người chơi Do sự hấp dẫn mà người chơi quên cả
ăn, quên cả ngủ, quên hết tất cả mọi sự, mọi nhu cầu của bản thân
Trang 36Trong báo cáo “điều gì khiến internet gây nghiện? Giải thích có khả năng cho việc sử
dụng internet” tại hội nghị lần thứ 105 của hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ 8/1997 Khi được hỏi
“Bạn sử dụng những ứng dụng nào nhiều nhất trên Internet? 28% chơi trò chơi,15% đọc tin
tức, 13% sử dụng thư điện tử
Trong một chương trình nghiên cứu ba năm dưới sự tài trợ của chính phủ, bác sĩ tâm
dưới 18 tuổi nghiện internet 2007, Hàn Quốc tổ chức hội thảo quốc tế về nghiện game online, 10,2% dân số được coi thuộc ranh giới với nghiện internet [35]
Số liệu trung tâm mạng lưới thông tin internet Trung Quốc vào 6/2006: có khoảng
123 triệu người sử dụng internet, trong đó 14,9% dưới 18 tuổi Chou & Hsiao báo cáo rằng
tỉ lệ nghiện game online ở sinh viên Đài Loan là 5,9% Wu & Zhu xác nhận rằng có khoảng 10,6% sinh viên Đại Học tại Trung Quốc nghiện game online [38]
Giám đốc khoa tâm lý thiếu niên của bệnh viện đa khoa quân đội Trung ương Bắc Kinh đã xác định có 3-4 triệu ca nghiện trên 162 triệu người sử dụng internet Theo Block
triệu chứng nghiện internet và game online [38]
Tại Việt Nam, trung tâm tham vấn tâm lý trẻ em và thanh thiếu niên (thuộc bệnh viện Tâm thần trung ương 2-Bộ Y tế), theo thống kê không đầy đủ, có 5-7% trên tổng số hơn 500 người đến khám và điều trị là người nghiện game online [17, tr.116]
Trong bài “ Hiện tượng nghiện trò chơi trực tuyến “ của Nguyễn Thị Hậu Với kết
quả khảo sát trong một cuộc điều tra xã hội học cho thấy yếu tố dễ gây nghiện khi chơi game online chiếm hạng 3 (44,6%) chỉ sau yếu tố tốn tiền (58,6%) và yếu tố thời gian (48,9%) [7]
Theo báo cáo đánh giá tình hình quản lí internet và khảo sát thực trạng chơi game online của Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội năm 2010, có 215568 học sinh chơi game online 1-3/ tuần Thời gian trung bình cho 1 lần chơi có đến 3875 học sinh chơi từ 6-7h, 1120 học sinh chơi từ 8-9h, 625 học sinh chơi đến 10h Sau khi chơi có 194604 học sinh thấy thoải mái và vui vẻ, 37013 học sinh mệt mỏi và lo âu [48]
Theo kết quả khảo sát của Sở Giáo dục & Đào tạo TP HCM về thực trạng học sinh chơi game online năm 2010, trong 105340 học sinh được phỏng vấn, có 32821 học sinh chơi game online 1-3 lần/tuần, 10360 học sinh chơi 4-6 lần.Thời gian trung bình cho 1 lần chơi có 22049 học sinh chơi 2-3 giờ, 1111 học sinh chơi hơn 10 giờ [48]
Trang 37Theo kết quả điều tra năm 2011 của Mai Mỹ Hạnh - khoa Tâm lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm TP.HCM về quan điểm của học sinh một số trường trong thành phố HCM đối vối game online như sau:
B ảng 2.2 Quan điểm của học sinh đối với game online
Quan ni ệm của học sinh THPT về game online S ố lựa chọn Tỉ lệ
B ảng 2.3 Sự tham gia của học sinh THPT vào hoạt động chơi game online
Từ các dẫn chứng trên để thấy rằng game có một sức hút đặc biệt đối với mọi người nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng Nếu chúng ta có thể tận dụng đặc điểm này của game để làm cho học sinh yêu thích, “nghiện” môn học của mình hơn thì đó thật sự
là thành công lớn của bản thân mỗi người giáo viên nói riêng cũng như của ngành giáo dục nói chung
2.2.1 Nhóm bi ện pháp về tổ chức và tư tưởng
Bi ện pháp 1: Lên kế hoạch phụ đạo
Trang 38Phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động cần thiết, không thể thiếu được trong bất
kỳ trường phổ thông nào Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian dài đủ để
giáo viên không nóng vội, có lộ trình hợp lý, có biện pháp hiệu quả và kịp thời, có kế hoạch riêng cho mỗi học sinh
hoặc điểm thi chất lượng đầu năm của học sinh để lập danh sách phụ đạo, và báo cáo cho tổ trưởng
Danh sách phụ đạo càng chi tiết càng tốt Học sinh yếu do nhiều nguyên nhân, vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên nên phân loại học sinh yếu: học sinh mất căn bản hoàn
chăm sóc của phụ huynh nên mê chơi ít dành thời gian cho học tập để thuận lợi trong quá trình phụ đạo Trong danh sách phụ đạo nên có phần thể hiện học sinh yếu kiến thức nào, kỹ
năng nào và nguyên nhân do đâu Có thể lập theo mẫu sau:
B ảng 2.4 Mẫu danh sách học sinh phụ đạo
Giáo viên cũng nên đề xuất với tổ trưởng, nhà trường, phụ huynh học sinh về cách
khắc phục để tất cả cùng tập trung giải quyết, hỗ trợ lẫn nhau để có hiệu quả tốt nhất Nên
có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và
phụ huynh học sinh
Giáo viên lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu ngoài giờ học chính khóa có thể ở trường, ở nhà Chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của HS, cùng với phụ huynh tìm biện pháp khắc phục Nếu gặp trường hợp học sinh yếu không chịu học, ban giám
hiệu, giáo viên chủ nhiệm cần phải tiếp xúc với phụ huynh học sinh để giải thích, thuyết
phục Học sinh học phụ đạo được miễn phí hoàn toàn
Trong tiết dạy học bình thường, giáo viên soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy
học cho những học sinh yếu Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu phải phù hợp với trình độ
học sinh đó
Trang 39Trong một tiết học, chúng ta phải cho tất cả các em hoạt động cho dù học sinh yếu hay giỏi bằng nhiều cách để lôi cuốn các em tham gia vào hoạt động học, trách tình trạng giáo viên để học sinh ngoài lề Chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh yếu, trong mỗi
tiết học phải thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng…
Ví dụ, trong một tiết học đến phần bài tập giáo viên phân ra từng đối tượng học sinh Bài tập
thường từ bài 1 đến bài 3, 4 thì học sinh yếu không biết gì và thậm chí bỏ học vì chán Hoặc trong lớp học có học sinh yếu (không nắm kiến thức lớp học dưới), với đối tượng này khi
dạy giáo viên lưu ý: trong phần lý thuyết bài mới cho học sinh theo dõi bình thường, đến
phần bài tập, hay là tiết luyện tập giáo viên cho những đối tượng này làm các bài tập mà
kiến thức liên quan lớp dưới, cho học sinh nhắc lại kiến thức cũ Nói chung, học sinh hỏng
kiến thức ở đâu thì giáo viên phải có kế hoạch ôn tập, bổ sung ở đó
Tổ chức các nhóm học tập cho học sinh, trong nhóm có đủ các đối tượng học sinh khá, giỏi, trung bình, yếu kém Lên kế hoạch cụ thể cho các nhóm học sinh này hoạt động
và thường xuyên theo dõi, đôn đốc, thường xuyên kiểm tra các nhóm để có thể nắm bắt kịp
thời tình hình của học sinh
lên kế hoạch dạy phụ đạo cho các em, một mặt là giúp các em có thể nêulên những thắc mắc
của các em về những điều các em chưa hiểu trong tiết họcchính khóa để giáo viên có thể
giải đáp cho học sinh đồng thời hướng dẫn cho họcsinh làm bài tập Mặt khác, ở buổi học
hỏng kiến thức của học sinh, giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản nhất về chương trình học Khi thực hiện việc dạy nâng kém, giáo viên phải thường xuyên theo dõi kiểm tra
học sinhđể luôn nắm được tình hình học tập của các em, từ đó giáo viên rút kinh nghiệm cho những giờ học sau
Bi ện pháp 2: Giáo dục ý thức học tập cho học sinh
Ý thức học tập có vai trò rất quan trọng, nó là nền tảng cơ bản của hiệu quả học
tập.Thế nhưng hầu hết các em học sinh yếu lại chưa có ý thức học tập Học sinh chưa tự giác, chưa có động cơ và chưa có quyết tâm trong học tập Theo thuyết động cơ học tập của Williams và Burden thì động cơ học tập là kết quả của các yếu tố ngoại vi (là những yếu tố ngoài mỗi cá nhân) và nội vi (những yếu tố trong bản thân mỗi cá nhân) của mỗi cá nhân
Trang 40Các yếu tố nội vi trong mỗi cá nhân bao gồm chủ yếu là nguyên nhân dẫn đến hành vi học,
khả năng kiểm soát sự thay đổi quá trình học và khả năng thực hiện các mục đích đã đề ra
cha mẹ học sinh, thầy cô, bạn bè Họ không tác động trực tiếp nhưng có khả năng hỗ trợ và thúc đẩy quá trình học tập của học sinh Chính vì vậy giáo viên bộ môn cần kết hợp chặt chẽ
người gần gũi với học sinh, phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình Còn Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng CSVC còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HS Chính vì vậy giáo viên cần kết hợp chặt chẽ với hai lực lượng này thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn
Đầu tiên giáo viên cần tìm hiểu xem động cơ học tập của học sinh là gì, có thể cho các em làm một trắc nghiệm nhỏ gồm các câu hỏi như: theo em việc học là vì ai?, tại sao em
lại đi học? Thường thì các em nghĩ học là để cha mẹ vui, cha mẹ bắt đi học nên phải đi, hay có em học để cha mẹ cho thứ này thứ khác, đi học thì cha mẹ mới cho tiền tiêu
tố ngoài mỗi cá nhân) Từ đó, giáo viên kết hợp với PHHS, dùng tình thương để giúp học sinh hiểu rằng việc học là để có kiến thức cho chính bản thân mình, để làm người, để hoà
nhập với cộng đồng, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp; học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Tuy nhiên không nên gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gũi giúp đỡ em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu
Đặc biệt thường xuyên động viên, đôn đốc phụ huynh đưa con đi học chuyên cần,
học sinh nghỉ học phải có lý do chính đáng, nhắc nhở học sinh học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tạo điều kiện cho học sinh tham gia đầy đủ các buổi học phụ đạo do nhà trường tổ chức, thực hiện tốt đôi bạn cùng tiến…
phương pháp học hiệu quả Tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến
thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực
tiễn