BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Dương Thị Ngọc Diễm CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ TỐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Ngọc Diễm
CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
GHI NHỚ TỐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Ngọc Diễm
CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
GHI NHỚ TỐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ mơn hĩa học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ KIM THÀNH
T hành phố Hồ Chí Minh năm 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè
và các em học sinh Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến:
- Cô Nguyễn Thị Kim Thành đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, chỉnh sửa cho luận văn
- Thầy Trịnh Văn Biều đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
đã trực tiếp giảng dạy khóa đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận & phương pháp dạy học bộ môn Hóa học khóa 20
các ý kiến quý báu cho luận văn
- Các Thầy, Cô giáo và các em học sinh ở trường THPT Gò Công, THPT Vĩnh Xuân và THPT Nguyễn Thị Định đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
cho tôi tham gia khóa đào tạo sau đại học
thuận lợi để luận văn hoàn thành đúng tiến độ
Một lần nữa tôi xin thành thật cám ơn
Tác giả
Dương Thị Ngọc Diễm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH 9
MỞ ĐẦU 10
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 10
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 11
3.ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 11
4.NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 11
5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 12
6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
7.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
CH ƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1.1.Các tài liệu về luyện trí nhớ 13
1.1.2.Các đề tài nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ trí nhớ của sinh viên đại học 14
1.1.3.Các đề tài nghiên cứu về các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt môn hóa học 14
1.2 TỔNG QUAN VỀ TRÍ NHỚ 16
1.2.1.Khái niệm trí nhớ 16
1.2.2.Vai trò của trí nhớ 17
1.2.3.Phân loại trí nhớ 18
1.2.3.1.Dựa vào nguồn gốc hình thành trí nhớ 19
1.2.3.2.Dựa vào nội dung phản ánh của trí nhớ 19
1.2.3.3.Dựa vào tính mục đích của trí nhớ 20
1.2.3.4.Dựa vào thời gian củng cố và gìn giữ tài liệu 20
1.2.3.5.Dựa theo giác quan chủ đạo trong trí nhớ 20
1.2.4.Đặc điểm của ghi nhớ 21
1.2.5.Các quá trình cơ bản của trí nhớ 21
1.2.5.1.Quá trình ghi nhớ 22
1.2.5.2.Quá trình gìn giữ 23
1.2.5.3.Quá trình nhận lại và nhớ lại (tái hiện) 23
1.2.5.4.Sự quên 24
1.2.6.Các quy luật của trí nhớ 27
1.2.6.1.Qui luật hướng đích 27
Trang 51.2.6.2.Qui luật ưu tiên 27
1.2.6.3.Qui luật liên tưởng 28
1.2.6.4.Qui luật lặp lại 29
1.2.6.5.Qui luật kìm hãm 29
1.2.7.Đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến quá trình ghi nhớ của học sinh 30
1.2.8.Sự tác động của phương pháp dạy học lên trí nhớ của học sinh 31
1.3 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 33
1.3.1.Định nghĩa 33
1.3.2.Cấu trúc 33
1.3.3.Bản chất 34
1.3.4.Nhiệm vụ 34
1.4 THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG GHI NHỚ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY 35
1.4.1.Mục đích điều tra 35
1.4.2.Tiến hành điều tra 35
1.4.3.Kết quả điều tra 35
CH ƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ TỐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 40
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP 40
2.1.1.Khái niệm biện pháp 40
2.1.2.Các kiến thức về triết học 40
2.1.3.Các kiến thức về tâm lý học 40
2.1.4.Các kiến thức về giáo dục học 40
2.1.5.Nội dung chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 THPT, ban cơ bản 42
2.2 CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ TỐT TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 44
2.2.1.Nhóm biện pháp về tâm lý giáo dục học 44
2.2.1.1.Biện pháp liên tưởng 44
2.2.1.2.Biện pháp phân loại kiến thức 60
2.2.1.3.Biện pháp khái quát hóa kiến thức 64
2.2.1.4.Ghi dàn ý 68
2.2.1.5.Ghi nhớ các kiến thức trọng điểm 69
2.2.1.6.Xác định mục đích ghi nhớ 71
2.2.1.7.Lặp đi lặp lại 71
2.2.1.8.Sử dụng mã hóa kiến thức 72
2.2.1.9.Tạo hứng thú học tập 76
2.2.2.Nhóm biện pháp sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học 77
2.2.2.1.Sử dụng các phương pháp trực quan 77
2.2.2.2.Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề 78
2.2.2.3.Sử dụng phương pháp hoạt động nhóm 79
2.2.3.Nhóm biện pháp về tổ chức 81
2.2.3.1.Trò chơi 81
Trang 62.2.3.2.Tạo không khí lớp học 81
2.2.3.3.Thi đua học tập 83
2.2.3.4.Hoạt động ngoại khóa 83
2.2.3.5.Xếp thời khóa biểu, lịch học 84
2.3 ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP GHI NHỚ TRONG MỘT SỐ BÀI HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 11 THPT 85
2.3.1.Giáo án bài “Ankan” 85
2.3.2.Giáo án bài “Anken” 95
2.3.3.Giáo án bài “Luyện tập : Dẫn xuất halogen, ancol, phenol” 104
2.3.4.Giáo án bài “Axit cacboxylic” 109
2.3.5.Giáo án bài “Luyện tập: Anđehit- xeton – axit cacboxylic” 118
CH ƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 123
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 123
3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 123
3.3 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 124
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 145
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tầm quan trọng của các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ 26
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ 27
Bảng 1.3 Các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ bài học và mức độ sử dụng 28
Bảng 1.4.Thời điểm sử dụng các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ bài học 29
Bảng 1.5 Các nguồn tài liệu tham khảo và mức độ sử dụng 29
Bảng 1.6 Những khó khăn khi sử dụng các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ bài học 30 Bảng 2.1 Một số hình ảnh dùng để liên tưởng đến tên của các chất 38
Bảng 2.2 Mô hình dạng rỗng của một số chất hữu cơ 40
Bảng 2.3 Mô hình dạng rỗng của cis – but – 2 – en và trans – but – 2 – en 41
Bảng 2.4 Mô hình dạng rỗng của một số gốc hiđrocacbon 42
Bảng 2.5 Đặc điểm cấu tạo và công thức chung của một số chất hữu cơ 44
Bảng 2.6 Đồng phân nhóm chức ứng với một số công thức chung 48
Bảng 2.7 So sánh đặc điểm cấu tạo và tính chất của anken và ankin 48
Bảng 2.8 So sánh một vài tính chất hóa học của ancol và phenol 50
Bảng 2.9 Qui ước kí hiệu soạn giáo án 77
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 114
Bảng 3.2 Qui ước kí hiệu các tham số thống kê………… ……… 116
Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 117
Bảng 3.4 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 1 118
Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 2 119
Bảng 3.6 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 2 120
Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 3 121
Bảng 3.8 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 3 122
Bảng 3.9 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 4 123
Bảng 3.10 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 4 124
Bảng 3.11 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 5 125
Bảng 3.12 Các tham số thống kê của bài kiểm tra 5 126
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Nhà hóa học Mĩ Charles Goodyear (1800 - 1860) 36
Hình 2.2 Nhà hóa học người Mĩ - Thomas Midgley (1889 - 1944) 36
Hình 2.3 Liên tưởng giữa Rùa với vị trí ortho, meta, para 38
Hình 2.4 Các phân tử etien trùng hợp tạo polietilen (PE) 43
Hình 2.5 Sơ đồ chuyển hóa giữa ankan, anken, ankin 45
Hình 2.6 Sơ đồ chuyển hóa giữa ancol bậc 1, anđehit, axit cacboxylic 45
Hình 2.7 Mô hình dạng rỗng các gốc ankyl được tạo thành từ các ankan tương ứng 46
Hình 2.8 Mô hình propan tác dụng với clo 49
Hình 2.9 Mô hình phân tử toluen tác dụng với brom 50
Hình 2.10 Phân loại hợp chất hữu cơ 52
Hình 2.11 Phân loại đồng phân 53
Hình 2.12 Phân loại công thức cấu tạo 54
Hình 2.13 Phân loại phản ứng hữu cơ 54
Hình 2.14 Sơ đồ khái quát tính chất hóa học của ankan, anken, ankin, ancol 56
Hình 2.15 Các chất tham gia phản ứng tráng gương 57
Hình 2.16 Khái quát số đồng phân 57
Hình 2.17 Sơ đồ cách thiết lập công thức phân tử hợp chất hữu cơ 58
Hình 2.18 Sơ đồ chưng cất, chế hóa và sử dụng dầu mỏ 58
Hình 2.19 Dàn ý bài “Ankan” 59
Hình 2.20 Dàn ý bài “Ancol” 60
Hình 2.21 Đồ thị nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi của các ankan 67
Hình 3.1 Sơ đồ kiểm định kết quả thực nghiệm… ……… 116
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả của bài kiểm tra số 1 117
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích kết quả của bài kiểm tra số 2 119
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích kết quả của bài kiểm tra số 3 121
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích kết quả của bài kiểm tra số 4 123
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích kết quả của bài kiểm tra số 5 125
Trang 10bị hạn chế Đây là một nguy cơ rất lớn, nhưng chưa được cảnh báo một cách đúng mức
Trí nhớ rất quan trọng đối với con người trong mọi hoạt động Chúng ta khó
có thể tồn tại và phát triển nếu không có trí nhớ Hơn nữa, trí nhớ đặc biệt quan trọng đối với các em HS Các em mong muốn mình học là hiểu và thuộc bài tại lớp Thế nhưng, ai trong chúng ta chắc hẳn đã từng nghe HS than phiền như: “Bài này sao khó quá học hoài không thuộc”, hay “Mình mới học xong hôm qua, sao hôm nay quên hết rồi” Nhiều lúc các thầy (cô) hỏi HS các kiến thức liên quan đến bài học Chẳng hạn như: “Em hãy đọc tên mười ankan đầu tiên trong dãy đồng đẳng?”,
“Cho biết tên gọi của este có mùi thơm của chuối chín?”, HS lại than vãn với nhau:
“Tên gì sao khó nhớ quá!”, Vậy làm sao để rèn cho HS của mình có phương pháp ghi nhớ? Và làm sao để sự ghi nhớ kiến thức được bền lâu?
Hóa học là một môn khoa học lý thuyết và TN Nó có rất nhiều vấn đề mà các
em HS cần phải học Các công thức, các tên gọi, các tính chất hóa học, tính chất vật
lí, các phương trình phản ứng, các cách điều chế trong phòng thí nghiệm, trong công nghiệp, cách bảo quản, rồi cả đến các cách giải các bài toán định lượng, Vì thế, các khâu của quá trình học tập như: học, hiểu, nhớ và vận dụng là không thể
Trang 11tách rời, chúng có liên quan chặc chẽ và hỗ trợ đắc lực cho nhau Thiết nghĩ nếu chỉ dạy cho HS cách học, cách hiểu mà không luyện cho các em cách nhớ thì cũng chưa thật sự mang lại hiệu quả cao Vì có học, có hiểu nhưng không có cách ghi nhớ tốt thì các em cũng sẽ chóng quên
Việc áp dụng kỹ thuật ghi nhớ trong học tập không chỉ giúp các em HS giảm
áp lực học tập, tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao đáng kể thành tích học tập của từng cá nhân GV có thể thiết kế các bài giảng sinh động, trực quan, giúp HS nắm bắt và thuộc bài dễ dàng ngay tại lớp Nhằm giúp cho các em HS biết ghi nhớ một
cách hiệu quả trong học tập, tôi đã chọn “Các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ tốt
trong dạy học hóa học lớp 11 trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt trong dạy học hóa học lớp 11 THPT góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt trong dạy học hóa học
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT
4 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu các qui luật biến đổi tâm lí của HS trong quá trình dạy học Từ đó nghiên cứu các phương pháp tác động thích hợp lên quá trình biến đổi tâm lí đó
- Nghiên cứu nội dung chương trình hóa học lớp 11 THPT ban cơ bản
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học của
Trang 125 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu có các biện pháp khoa học, thích hợp sẽ giúp cho các em HS có khả năng ghi nhớ tốt bài học, không chỉ riêng môn hóa mà còn áp dụng ở các môn khác và cả trong cuộc sống, các em sẽ hứng thú nghe giảng bài hơn, từ đó nâng cao chất lượng của bài lên lớp
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc các tài liệu về ghi nhớ và các biện pháp ghi nhớ
- Tìm hiểu qui luật biến đổi tâm lí của HS trong giờ lên lớp
- Tìm hiểu quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
- Phân tích, tổng hợp
- Phân loại, hệ thống hóa
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Điều tra và thu thập thông tin
- Phương pháp chuyên gia
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Con người không thể tồn tại nếu không có trí nhớ Do vai trò rất quan trọng
đó nên nó được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu Đa phần các tác giả đều tập trung nghiên cứu các phương pháp cải thiện, nâng cao trí nhớ một cách tổng quát, cho nhiều lĩnh vực Chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về việc rèn luyện trí nhớ cho HS trong khi các em mỗi ngày phải học một khối lượng kiến thức khổng lồ Có thể kể ra các tài liệu sau đây:
1.1.1 Các t ài liệu về luyện trí nhớ
- Trần Minh Anh (1993), Làm thế nào để có trí nhớ tốt, Nxb Thuận Hóa, Huế
- Joyce – Brother và ED Eagan (1995), Luyện trí nhớ trong 10 ngày, Nxb Trẻ
TPHCM
- Hồng Hà (2006), 12 bước cải thiện trí nhớ, Nxb Trẻ
- Nguyễn Đức Lân (2006), Phương pháp ghi nhớ nhanh, Nxb Lao động – Xã
hội
- Nguyễn Khánh Linh (2008), Phương pháp trắc nghiệm trí nhớ, Nxb Hà Nội
- John Medina, Mai Khanh dịch (2009), Luật trí não: 12 quy luật để tồn tại và
phát triển nơi làm việc, ở nhà và trường học, Nxb Thế giới, Hà Nội
- Quỳnh Tân (2009), Nâng cao trí nhớ những phương cách rèn luyện hiệu quả,
Nxb Văn hóa thông tin
- Hoàng Xuân Việt (1972), Luyện trí nhớ, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn
Ưu điểm của các tài liệu này là đã giúp cho con người biết được rằng trí nhớ của mình có thể rèn luyện được Các tác giả đã nêu ra rất nhiều phương pháp giúp con người cải thiện và nâng cao trí nhớ
Hạn chế của các tài liệu này là các phương pháp rèn luyện trí nhớ được áp dụng cho tất cả các đối tượng, từ trẻ đến già, chưa có sự phân hóa sâu sắc Nhất là đối tượng HS, các tác giả rất ít đề cập đến các phương pháp giúp HS ghi nhớ bài học, đặc biệt là môn hóa học
Trang 141.1.2 Các đề tài nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ trí nhớ của sinh viên đại
học
- Nguyễn Thị Thùy Trang (2000), Sử dụng hình ảnh, tranh vẽ trong giảng dạy
hóa học ở trường THPT, Khóa luận tốt nghiệp trường ĐHSP TPHCM
- Tô Thị Ngọc Dâng (2001), Sử dụng tranh vẽ, sơ đồ, mô hình trong dạy học
hóa học, Khóa luận tốt nghiệp trường ĐHSP TPHCM
- Trương Đăng Thái (2001), Sử dụng sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ trong giải
bài tập ở trường THPT, Khóa luận tốt nghiệp trường ĐHSP TPHCM
- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (2001), Mã hóa kiến thức trong dạy học hóa học,
Khóa luận tốt nghiệp trường ĐHSP TPHCM
- Huỳnh Đình Nhân (2009), Sử dụng mã hóa kiến thức để nâng cao hiệu quả
bài lên lớp hóa học ở trường trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp
trường ĐHSP TPHCM
Các đề tài này đã nghiên cứu các biện pháp hỗ trợ cho việc ghi nhớ Nó có ưu điểm là khai thác sâu từng biện pháp như tranh ảnh, hình vẽ, mô hình, hỗ trợ đắc lực cho việc ghi nhớ Tuy nhiên, các biện pháp trên vẫn còn riêng lẽ, chưa có tính
hệ thống cao
1.1.3 Các đề tài nghiên cứu về các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt môn hóa học
• Năm 1995: Tác giả Trần Thị Hiền nghiên cứu đề tài : Nâng cao hiệu quả
của quá trình dạy học môn hóa ở phổ thông bằng phương pháp trực quan kết hợp với phương pháp hình thành và rèn luyện trí nhớ, Khóa luận tốt nghiệp, Trường
ĐHSP TPHCM
Đề tài này đã nêu lên ưu điểm nổi bật của phương pháp trực quan so với các phương pháp dạy học hóa học khác, đồng thời cũng nêu lên được việc kết hợp phương pháp trực quan với phương pháp hình thành và rèn luyện trí nhớ là tổ hợp phương pháp tốt phục vụ cho quá trình dạy học hóa học
Tuy nhiên, tác giả chỉ mới tiếp cận đến các giai đoạn của quá trình ghi nhớ, vai trò của trí nhớ trong dạy học, chỉ nhấn mạnh phương pháp trực quan là phương
Trang 15pháp tốt nhất để giúp HS ghi nhớ Tác giả chưa nghiên cứu được nhiều biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt
• Năm 2002, tác giả Lê Khánh Việt Hà nghiên cứu đề tài : Vận dụng các qui
luật của trí nhớ vào dạy học hóa học ở trường phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường ĐHSP TP HCM
Tác giả đã nghiên cứu:
- Tổng quan về trí nhớ
- Sự tác động của trí nhớ đối với phương pháp dạy học hóa học
- Cụ thể hóa từng qui luật của trí nhớ vào giảng dạy hóa học: Qui luật hướng đích, qui luật ưu tiên, qui luật liên tưởng, qui luật trình tự, qui luật lặp lại, qui luật kìm hãm
- Một số biện pháp giúp HS tự rèn luyện trí nhớ : Tập trung chú ý, ghi nhớ tài liệu, ôn tập
- Các tư liệu để phục vụ cho việc vận dụng các qui luật của trí nhớ vào giảng dạy
Tuy nhiên các qui luật của trí nhớ chưa được tác giả nghiên cứu sâu, còn ít VD minh họa, chưa vận dụng nhiều các quy luật vào các bài học cụ thể Còn nhiều biện pháp khác chưa được khai thác Tác giả chỉ soạn giảng bốn giáo án thuộc phần hóa hữu cơ lớp 11
• Năm 2004, tác giả Nguyễn Nữ Hoàng Duyên nghiên cứu đề tài: Giúp HS ghi
nhớ hiệu quả trong dạy học chương “Oxi-Lưu huỳnh” lớp 10 THPT, Khóa luận tốt
nghiệp, Trường ĐHSP TPHCM
Trong đề tài này, tác giả có nêu nhiều biện pháp giúp HS ghi nhớ trong từng bài học cụ thể thuộc chương “Oxi-Lưu huỳnh” lớp 10 THPT :
- Xác định trọng tâm và định hướng vào mục tiêu cụ thể
- Cần làm rõ tầm quan trọng và lợi ích của vấn đề
- Gây hứng thú trong lớp học
- Phân loại
- Hệ thống hóa kiến thức
Trang 16- So sánh
- Phương pháp trực quan
- Đặt thành thơ, văn vần, tìm “chữ thần” của câu
- Phương pháp dạy học bằng hoạt động của người học
- Phương pháp lặp đi lặp lại nhiều lần
Tuy nhiên, ở mỗi phương pháp, tác giả chưa có nhiều VD minh họa Đề tài này chỉ tập trung ở một chương thuộc chương trình lớp 10 THPT Tác giả chỉ soạn năm giáo án thuộc chương này Vì thế đề tài chưa có tính hệ thống cao
Kết luận: Có nhiều tài liệu đã nghiên cứu về việc cải thiện và tăng cường trí nhớ nói chung nhưng có rất ít tài liệu nghiên cứu về luyện trí nhớ cho HS phổ thông Đối với môn hóa học, vấn đề luyện trí nhớ cho HS cũng như các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt vẫn còn rất ít, chưa nghiên cứu sâu Chúng vẫn còn rất rời rạc, nhỏ lẻ và chưa có tính hệ thống
1.2 TỔNG QUAN VỀ TRÍ NHỚ
1.2.1 Khái niệm trí nhớ
Có thể nói người định nghĩa sớm nhất là Platon – Một nhà triết học Hy Lạp cổ – Ông đã tiến hành nghiên cứu, tìm tòi về trí nhớ Ông cho rằng trí nhớ giống như lửa hơ giấy nến làm trên giấy nến có rất nhiều hình thù xuất hiện và đó là tín hiệu với ký ức [40]
Năm 1972, Theo tác giả Hoàng Xuân Việt: “Trí nhớ là trí năng bảo thủ và nhìn nhận lại những trạng thái ý thức đã qua như là sự kiện đã xảy ra trong dĩ vãng” [43]
Năm 1975, Theo A R Luria: “Trí nhớ là sự ghi sâu, lưu trữ và tái hiện những dấu vết của một kinh nghiệm đã qua làm cho con người có khả năng tích lũy thông tin và xử lý các dấu vết của một kinh nghiệm cũ sau khi các hiện tượng gây ra các dấu vết đã biến mất” [35]
Theo Đại bách khoa toàn thư Xô Viết: “Trí nhớ là năng lực tái hiện kinh nghiệm đã qua, một trong các tính chất cơ bản của hệ thần kinh, biểu hiện ở khả
Trang 17năng lưu giữ lâu dài thông tin về các sự kiện của thế giới bên ngoài và các phản ứng của cơ thể, nhiều lần đưa thông tin đó vào phạm vi ý thức và hành vi” [35]
Năm 1993, tác giả Trần Minh Anh định nghĩa : “Trí nhớ là khả năng bảo tồn
và tái nhận các trạng thái ý thức có trước như là sự kiện đã xảy ra trong quá khứ” [1]
Năm 1997, tác giả Hoàng Xuân Việt lại định nghĩa: “Trí nhớ là trí năng biểu tượng lại dĩ vãng cá nhân được coi như đã qua” [42]
Năm 2006, tác giả Nguyễn Xuân Thức và các cộng sự định nghĩa: Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng bao gồm sự ghi nhớ, gìn giữ, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải qua [34]
Theo quan điểm của lý luận thông tin hiện đại, trí nhớ là sự phản ánh trong óc người những sự kiện đã trải qua Hay nói một cách khái quát đó là sự tàn trữ và tái hiện thông tin [40]
Như vậy, có nhiều định nghĩa về trí nhớ, theo thời gian thì chúng càng ngày càng hoàn thiện hơn
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng ta có thể hiểu trí nhớ là khả năng lưu giữ thông tin trong não và có thể tái hiện lại khi cần thiết
1.2.2 Vai trò của trí nhớ [3], [34], [46]
Trí nhớ có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của con người
Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để con người có đời sống tâm lí bình thường và ổn định
Nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm và đem những kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống Như vậy không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất cứ một hành động nào, không thể phát triển tâm lí, nhân cách con người I M Xêtrenốp cho rằng: “Trí nhớ là điều kiện cơ bản của cuộc sống tâm lí” là “cơ sở của sự phát triển tâm lí”, “nếu không có trí nhớ thì con người mãi mãi ở tình trạng của một đứa trẻ sơ sinh”
Trang 18Đối với hoạt động nhận thức của con người, trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn
Nó là công cụ để lưu giữ lại kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác, nhờ đó nhận thức phân biệt được cái mới tác động lần đầu tiên và cái cũ đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích hợp tức thì với hoàn cảnh sống Trí nhớ là một điều kiện quan trọng để diễn ra quá trình nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) và làm cho quá trình này đạt kết quả hợp lí Ở đây trí nhớ đã cung cấp các tài liệu do nhận thức cảm tính thu nhận cho nhận thức lí tính một cách trung thành và đầy đủ
Như vậy trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người trong mọi lĩnh vực: nhận thức, tình cảm và hành vi, do đó trí nhớ có tính chất quyết định đời sống tâm lí con người, quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Ở những người bị bệnh hỏng trí nhớ, ta thấy cuộc sống hàng ngày của họ bị rối loạn, không bình thường, họ không có khả năng suy nghĩ, sáng tạo hay dự kiến tương lai trên cơ
sở những hiểu biết và kinh nghiệm đã có
Đối với HS, trí nhớ lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng Trí nhớ giúp HS học tập đạt hiệu quả cao Một HS muốn học tốt thì cần phải có một trí nhớ tốt Trong thời đại bùng nổ thông tin và trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay, nhiều người vẫn cho rằng phương pháp giáo dục mới, hiện đại không cần rèn luyện khả năng ghi nhớ cho HS, bởi vì tài liệu, phương tiện tra cứu ngày nay rất phong phú, đặc biệt là internet Nhưng nếu HS không cần ghi nhớ kiến thức, kiến thức trong đầu không đầy đủ, không hệ thống, vậy lấy gì để tư duy? Bởi vì kiến thức được xem như nền tảng, “viên gạch” để xây “ngôi nhà tư duy” Nền móng càng vững thì ngôi nhà mới được vững chãi, vươn cao Do đó, bên cạnh các phương pháp giáo dục hiện đại, đừng coi thường trí nhớ và việc rèn luyện trí nhớ cho HS Việc rèn luyện và phát triển trí nhớ cho HS là một nhiệm vụ dạy học quan trọng
1.2.3 Phân lo ại trí nhớ [2], [32], [34]
Trí nhớ được chia làm rất nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau, trong đó có năm cách phân chia phổ biến như sau:
Trang 191.2.3.1 Dựa vào nguồn gốc hình thành trí nhớ
Trí nhớ giống loài: là loại trí nhớ được hình thành trong quá trình phát triển
chủng loại, mang tính chung cho cả giống loài và được biểu hiện dưới hình thức những bản năng, những phản xạ không điều kiện
Trí nhớ cá thể: là loại trí nhớ được hình thành trong quá trình phát triển cá
thể, không mang tính chất giống loài, mà mang tính chất cá thể Ở động vật loại trí nhớ này được biểu hiện ở những kĩ xảo, những phản xạ có điều kiện Ở con người, trí nhớ cá thể được biểu hiện trong kho tàng kinh nghiệm cá nhân phong phú của mỗi chúng ta
1.2.3.2 Dựa vào nội dung phản ánh của trí nhớ
Trí nhớ vận động: phản ánh những cử động và những hệ thống cử động Nó
lưu giữ động tác con người đã từng thao tác (VD học bơi, đi xe đạp ) Ý nghĩa to lớn của loại trí nhớ này là nó là cơ sở để hình thành những kĩ xảo thực hành và lao động khác nhau: đi đứng, viết lách… sự “khéo chân khéo tay”, hay “bàn tay vàng”
là những dấu hiệu của trí nhớ vận động tốt
Trí nhớ cảm xúc: là trí nhớ của con người đối với tình cảm, cảm xúc đã trải
trải nghiệm được trực lại trong trí nhớ bộc lộ như là những tín hiệu hoặc kích thích hành động, hoặc kìm hãm hành động mà trước đây đã gây nên những rung cảm dương tính hoặc âm tính Khả năng đồng cảm với người khác, với các nhân vật
Trí nhớ hình ảnh: là loại trí nhớ phản ánh những hình ảnh, biểu tượng thị
trước đây Loại trí nhớ này có thể đạt đến trình độ phát triển cáo một cách lạ thường trong điều kiện nó phải bù trừ hoặc thay thế cho những loại trí nhớ đã bị mất, chẳng hạn như những người mù, điếc, Nó phát triển rất mạnh ở người làm nghề “nghệ thuật” Đôi khi ta gặp những người có trí nhớ thị giác, nghĩa là loại trí nhớ mà biểu tượng của nó nảy sinh trong óc một cách sống động, tựa như sự vật, hiện tượng không có trước mặt, “nghe thấy” những vật trong hiện tại - đó là loại biểu tượng đặc
Trang 20biệt, rất chi tiết, đầy đủ như là hình ảnh của tri giác vậy VD như khuôn mặt của nhân vật Tề Thiên Đại Thánh trong Tây Du kí, hình ảnh bảy sắc cầu vòng,
Trí nhớ từ ngữ - logic: phản ánh những ý nghĩ, tư tưởng của con người Ý
nghĩ, tư tưởng không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, vì vậy người ta gọi loại trí nhớ này là trí nhớ từ ngữ - logic Hệ thống tín hiệu thứ hai có vai trò chính trong loại trí nhớ này Đây là loại trí nhớ đặc trưng cho con người, ở con vật không có Trên cơ sở phát triển của các loại trí nhớ kể trên, trí nhớ từ ngữ - logic trở thành loại trí nhớ chủ đạo ở con người, nó giữ vai trò chính trong sự lĩnh hội tri thức của HS trong quá trình dạy học VD, trí nhớ đối với định lý, công thức,
1.2.3.3 Dựa vào tính mục đích của trí nhớ
Trí nhớ không chủ định: là loại trí nhớ mà trong đó việc ghi nhớ, gìn giữ và
tái hiện một cái gì đó được thực hiện mà không theo mục đích định trước
Trí nhớ có chủ định: được diễn ra theo những mục đích xác định
1.2.3.4 Dựa vào thời gian củng cố và gìn giữ tài liệu
Muốn cho một tài liệu nào đó được củng cố trong trí nhớ, thì nó cần được ta chế biến một cách thích hợp Việc chế biến đó đòi hỏi một thời gian nhất định, gọi
là thời gian củng cố các dấu vết
Trí nhớ ngắn hạn: Thời gian củng cố các dấu vết diễn ra ngắn ngủi, chốc lát
hạn được con người sử dụng trong trường hợp phải thực hiện những hành động, những thao tác cấp bách, nhất thời Sau khi hành động hay thao tác được thực hiện thì trí nhớ trở nên không cần thiết nữa Vì vậy người ta còn gọi trí nhớ ngắn hạn là trí nhớ tác nghiệp
Trí nhớ dài hạn: Thời gian củng cố các dấu vết được kéo dài sau nhiều lần lặp
lại và tái hiện nó, và do đó, những dấu vết ấy được gìn giữ lâu dài Tùy theo nhiệm
vụ và yêu cầu cụ thể trong từng hoạt động của con người mà cả hai loại trí nhớ này đều có vai trò quan trọng trong đời sống và trong công tác của chúng ta
1.2.3.5 Dựa theo giác quan chủ đạo trong trí nhớ
Trí nhớ bằng mắt, bằng tai, bằng tay,
Trang 21Mỗi người chúng ta thường thiên về sử dụng một loại giác quan nào đó là chính trong quá trình ghi nhớ, gìn giữ và tái hiện (bằng mắt, bằng tay, bằng tai, )
Đó là một đặc điểm cá nhân của trí nhớ mỗi người mà khi rèn luyện trí nhớ ta cần phải tính đến
Tóm lại, tất cả các loại trí nhớ trên đây đều liên hệ qua lại với nhau, bởi vì các tiêu chuẩn phân loại trí nhớ trên đây đều liên quan đến các mặt khác nhau trong hoạt động của con người, các mặt này được biểu hiện không phải một cách riêng lẻ,
mà thành một thể thống nhất Ngoài ra, giữa các loại trí nhớ trong cùng một tiêu chuẩn phân loại cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau
1.2.4 Đặc điểm của ghi nhớ [53], [54], [55]
Trí nhớ có các đặc điểm sau đây:
- Về nội dung phản ánh: Trí nhớ phản ánh sự vật, hiện tượng đã tác động vào
ta trước đây mà không cần có sự tác động của bản thân chúng trong hiện tại Kinh nghiệm này là những hình ảnh cụ thể, những hành động, những rung động, trải nghiệm, cảm xúc, những tư tưởng, ý nghĩ…
- Về phương thức phản ánh: Trí nhớ phản ánh bằng cách ghi nhớ, giữ gìn và
tái tạo lại những hình ảnh, kinh nghiệm,
- Về sản phẩm phản ánh: là những biểu tượng Tức là hình ảnh của sự vật,
hiện tượng nảy sinh trong óc chúng ta khi không có sự tác động trực tiếp của chúng vào giác quan của ta
Trí nhớ của người này khác trí nhớ của người khác phụ thuộc vào:
- Khối lượng thông tin nhớ lại
- Tốc độ ghi nhớ
- Độ chính xác của thông tin nhớ lại
- Độ bền của thông tin nhớ lại
1.2.5 Các quá trình cơ bản của trí nhớ [3], [34]
Trí nhớ của con người là hoạt động tích cực phức tạp, bao gồm nhiều quá trình khác nhau và có mối quan hệ qua lại với nhau, đó là các quá trình: ghi nhớ, gìn giữ, nhận lại, nhớ lại và quên lãng
Trang 221.2.5.1 Quá trình ghi nhớ
Đây là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động trí nhớ cụ thể nào đó Ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết, “ấn tượng” của đối tượng mà ta đang tri giác (tức là tài liệu phải ghi nhớ) trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình hình thành mối líên hệ giữa tài liệu mới và tài liệu cũ đã có, cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận của bản thân tài liệu mới với nhau
Quá trình ghi nhớ rất cần thiết để tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiệm Có nhiều loại ghi nhớ khác nhau:
Ghi nhớ không chủ định: Ghi nhớ một cách tự nhiên, không có chủ ý, không cần đặt ra mục đích từ trước, không cần nổ lực ý chí Độ bền vững phụ thuộc cảm xúc, hứng thú, đặc điểm của đối tượng, phụ thuộc kích thích lặp đi lặp lại Hứng thú
có vai trò rất to lớn đối với ghi nhớ không chủ định
Ghi nhớ không chủ định có ý nghĩa rất to lớn trong đời sống, nó mở rộng và làm phong phú kinh nghiệm sống của con người mà không đòi hỏi một sự nổ lực đặc biệt nào
Trong quá trình dạy học, việc đặt ra nhiệm vụ phải ghi nhớ tài liệu học tập quá sớm sẽ ảnh hưởng xấu đến sự thông hiểu tài liệu Trong trường hợp này, nên để HS suy nghĩ về tài liệu mới, khi đó việc ghi nhớ tài liệu sẽ diễn ra một cách không chủ định
Ghi nhớ chủ định: Đây là loại ghi nhớ có mục đích đã được định trước, có sự nỗ
lực của ý chí, thủ thuật và phương pháp ghi nhớ Hiệu quả của ghi nhớ có chủ định phụ thuộc vào động cơ, mục đích của sự ghi nhớ
Hoạt động học tập của HS và giảng dạy của GV chủ yếu được dựa trên loại ghi nhớ có chủ định Thông thường có hai cách ghi nhớ có chủ định là ghi nhớ máy móc và ghi nhớ có ý nghĩa
- Ghi nhớ máy móc: là loại ghi nhớ dựa trên sự lặp đi lặp lại tài liệu nhiều lần
một cách giản đơn Sự học vẹt là một hình thức của sự ghi nhớ này Lối học vẹt như vậy không phát huy óc suy luận, óc sáng tạo cho HS
HS ghi nhớ máy móc trong những trường hợp sau:
Trang 23+ Không thể hiểu hoặc lười không chịu tìm hiểu ý nghĩa của vấn đề
+ Các phần tài liệu rời rạc, không có quan hệ logic với nhau
+ GV thường xuyên yêu cầu trả lời đúng nguyên văn trong sách
Ghi nhớ máy móc thường dẫn đến sự lĩnh hội tri thức một cách hình thức và tốn nhiều thời gian Tuy vậy vẫn có ích khi ghi nhớ số điện thoại, ngày tháng năm sinh,
- Ghi nhớ ý nghĩa: là ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung cơ bản của tài
liệu, mối liên hệ logic giữa các bộ phận của tài liệu đó
Loại ghi nhớ này gắn với quá trình tư duy, bảo đảm sự lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững và nếu quên thì cũng dễ nhớ lại hơn Nó tốn ít thời gian hơn
so với ghi nhớ máy móc nhưng lại tiêu hao năng lượng thần kinh nhiều hơn
Học thuộc lòng và thuật nhớ
Học thuộc lòng là sự kết hợp ghi nhớ có ý nghĩa với ghi nhớ máy móc nghĩa là
ghi nhớ máy móc trên cơ sở thông hiểu tài liệu Nó hoàn toàn khác với học vẹt
Thuật nhớ là sự ghi nhớ có chủ định bằng cách tự tạo ra những mối liên hệ bề ngoài, giả tạo để nhớ
- Gìn giữ tích cực: được thực hiện bằng cách nhớ lại (tái hiện) trong óc tài liệu
đã ghi nhớ mà không phải tri giác lại tài liệu đó
Khi con người ghi nhớ và gìn giữ đó là lúc con người tích lũy được kinh nghiệm, khi cần sẽ tái hiện
Trong hoạt động học tập của HS, quá trình gìn giữ được gọi là ôn tập
1.2.5.3 Quá trình nhận lại và nhớ lại (tái hiện)
Là quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã ghi Quá trình này có thể diễn ra dễ dàng (tự động) hoặc khó khăn (phải có nhiều nỗ lực) Đây là khâu quan
Trang 24trọng vì có ghi nhớ và lưu giữ được mà không nhớ lại được thì đó không được xem
là trí nhớ tốt
Kết quả của quá trình ghi nhớ và gìn giữ được thực hiện trong quá trình nhận lại và nhớ lại Nhận lại là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác lại đối tượng đó Nhận lại diễn ra là do cái được tri giác trong lúc này giống với cái được tri giác trước đây
Hình thức tái hiện thường được phân làm 3 loại:
- Nhận lại: là hình thức tái hiện khi sự tri giác đối tượng được lặp lại Khi tri
giác lại cái đã tri giác trước đây, ở ta sẽ xuất hiện một cảm giác quen thuộc đặt biệt, chính cảm giác này là cơ sở của sự nhận lại
VD: Khi gặp một người quen trên đường nhiều khi bạn chưa nhận ra ngay, mà sau một thời gian tri giác lại các hình ảnh về người ấy thì bạn mới nhận ra được
- Nhớ lại (tái hiện): khác với nhận lại ở chỗ các hình ảnh đã củng cố trong trí
nhớ được làm sống lại mà không cần sự tri giác lại những đối tượng đã gây nên các hình ảnh đó
Nhớ lại không diễn ra tự nó, mà bao giờ cũng có nguyên nhân theo qui luật liên tưởng, mang tính chất logic chặt chẽ có hệ thống
VD: Khi dạy tính chất hóa học của một axit, những tính chất hóa học có làm thí nghiệm sẽ giúp HS nhớ lại ngay, còn những tính chất khác HS phải xem lại tập, nhớ lại lâu hơn
- Hồi tưởng: là hình thức tái hiện phải có sự cố gắng rất nhiều của trí tuệ Đây
là một hành động trí tuệ phức tạp mà kết quả của nó phụ thuộc vào chỗ cá nhân ý thức rõ ràng, chính xác đến mức nào nội dung của nhiệm vụ tái hiện
Trong hồi tưởng những ấn tượng trước đây không được tái hiện máy móc mà thường sắp xếp khác đi, gắn với những sự kiện mới, được coi như là một bộ phim sắp trình chiếu
1.2.5.4 Sự quên
Mặc dù trí nhớ của con người là vô hạn, có dung lượng lớn, là điều kiện không thể thiếu cho sự lĩnh hội các hoạt động lao động và trí tuệ Sự tích luỹ và bảo
Trang 25tồn các tri thức phong phú là nền tảng cho tầm nhìn rộng rãi và sự uyên bác, tuy có lợi ích rõ ràng, nhưng không phải tất cả mọi thứ đều cần ghi nhớ, không phải dấu vết ấn tượng nào trong não chúng ta cũng đều được gìn giữ và làm sống lại một cách như nhau, nghĩa là trong trí nhớ của chúng ta có hiện tượng quên
Quên là biểu hiện sự không nhận lại hay nhớ lại được hoặc nhận lại, nhớ lại sai lầm Sự quên diễn ra theo qui luật nhất định:
- Con người thường hay quên những cái gì ít liên quan đến cuộc sống của mình, những cái không phù hợp với nhu cầu, hứng thú, ít liên quan đến học tập, nghiên cứu và sở thích của bản thân
- Những cái gì không được sử dụng thường xuyên trong hoạt động hàng ngày của cá nhân thì cũng dễ bị quên
- Người ta cũng hay quên khi gặp những kích thích mới lạ hoặc những kích thích mạnh
- Sự quên diễn ra theo một trình tự xác định: Chi tiết quên trước, ý chính quên sau
- Sự quên diễn ra với tốc độ không đồng đều: Ở giai đoạn đầu tốc độ quên khá lớn, về sau tốc độ quên càng giảm dần
Về nguyên tắc, quên cũng là một khoa học, chỉ có quên một cách đúng đắn khôn ngoan mới thực sự là người có trí nhớ hoàn hảo, không lãng phí trí nhớ Một trí nhớ tốt không chỉ là kĩ năng ghi nhớ những gì cần nhớ mà còn là năng lực quên
đi những gì không cần nhớ
Trong xã hội bùng nổ thông tin ngày nay, mỗi con người hàng ngày phải tiếp thu một lượng thông tin quá lớn Trong số ấy có những thông tin cần thiết với chúng ta, nhưng cũng có những thông tin thừa, vô ích, phải tìm cách quên đi
Mặc tích cực của sự quên:
- Giúp ta giải phóng những điều vụn vặt, vô ích
- Gạt bỏ những chi tiết, chỉ giữ lại những khái niệm và kết luận chủ yếu nhất
và khái quát nhất
Trang 26- Quên một cách có ý thức giúp ta tiết kiệm năng lượng tinh thần, giảm bớt gánh nặng cho não
- Giúp ta tập trung tinh thần vào những việc trọng đại đối với bản thân
Nguyên nhân của sự quên:
- Thiếu tập trung tư tưởng để ghi nhớ
- Khả năng quan sát sự vật còn yếu
- Tổ chức công việc chưa thật khoa học
- Vấn đề cần ghi nhớ không gắn với thực tiễn cá nhân
- Thể lực yếu kém
Một số biện pháp hạn chế và chống lại sự quên:
- Phải tiến hành ôn tập ngay sau khi ghi nhớ tài liệu
- Ôn xen kẽ các tài liệu, không nên ôn liên tục một loại tài liệu
- Phân chia thời gian ôn tập hợp lí Không nên ôn liên tục trong một thời gian dài
- Phải ôn tập một cách tích cực, tức là phải tích cực ghi nhớ và tư duy khi ôn tập
- Ôn tập kết hợp với nghỉ ngơi hợp lí
- Cần thay đổi hình thức ôn tập để đạt được hiệu quả cao
Như vậy, vận dụng các qui tắc trên, GV nên có các biện pháp giúp HS nhớ bài tốt, hạn chế tối thiểu sự quên như:
- Tạo cho HS sự hứng thú, yêu thích đối với môn học, những biểu tượng, hình ảnh mới lạ sẽ lôi cuốn HS, làm cho các em dễ nhớ và dễ hoài niệm lại và khó quên
- Gắn vấn đề cần ghi nhớ vào mục đích học tập của HS, làm cho nội dung đó trở thành mục đích của hành động, hình thành được nhu cầu, hứng thú của HS đối với tài liệu đó
- Tổ chức hoạt động dạy học một cách khoa học như không nên dạy kế tiếp nhau 2 bộ môn có nội dung tương tự
- Yêu cầu HS làm bài tập ứng dụng ngay tại lớp và sau khi ở trường về nhà, ôn tập ngay sau khi học tài liệu mới, sau đó việc ôn tập có thể thưa dần
Trang 27- Sau mỗi bài hoặc mỗi chương, GV nên có tóm tắt một cách logic để HS dễ ghi nhớ
1.2.6 Các quy luật của trí nhớ [2], [12], [16]
1.2.6.1 Qui luật hướng đích
Muốn ghi nhớ tốt cần tập trung chú ý vào một mục tiêu rõ ràng, cụ thể Tập trung giúp ta không thể nào quên Đỉnh điểm của chú ý là tập trung tinh thần Tập trung tinh thần cần sự can thiệp của ý chí Sức mạnh của ý chí chính là thứ tài sản
vô giá Vì thế, chúng có thể rèn luyện để không để ý đến thế giới bên ngoài mà tập trung vào vấn đề cần ghi nhớ Tập trung tinh thần không làm mệt mỏi toàn bộ trí óc
mà chỉ một phần trí óc bị ảnh hưởng bởi sự tập trung ấy
Để luyện trí nhớ cần sử dụng tích cực yếu tố tập trung tinh thần chứ không phải là phó mặt cho nó tuỳ nghi hành động Muốn tập trung chú ý cần đánh tan sự chia trí tán loạn khiến ta nhảy từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, từ cảm xúc này qua cảm xúc khác một cách vô trật tự, bất hợp lý
Mục tiêu càng quan trọng bao nhiêu thì khả năng ghi nhớ càng lớn lao bấy nhiêu Như vậy có một mục đích là điều quan trọng để phát triển ký ức Người ta cho rằng kí ức hoạt động tốt hơn hết khi mà tâm trí đang theo đuổi một mục đích Người ta làm thí nghiệm sau: cho HS A đọc một bài văn dài nửa trang cho 10
HS khác, 10 HS này có nhiệm vụ phải thuộc để đọc cho cả lớp nghe A đọc từ 15 đến 20 lần và 10 HS kia đã thuộc bài nhưng A thì lại không thuộc (vì A có tích cực đọc nhưng không có mục đích nhớ)
1.2.6.2 Qui luật ưu tiên
Nếu có điều gì đó khiến ta quan tâm thì ta đặc biệt chú ý và ưu tiên ghi nhớ
nó Nếu không quan tâm thì không có động cơ để tập trung và dĩ nhiên là ghi nhớ kém Nên nhớ rằng sự ghi nhớ có chọn lọc theo mức độ ưu tiên khác nhau tuỳ đặc điểm của từng tài liệu hay vấn đề cần ghi nhớ Bao giờ hình ảnh cụ thể cũng dễ nhớ hơn ngôn từ trừu tượng Sự việc, hiện tượng càng hấp dẫn, sinh động, gây hứng thú
để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí thì càng dễ hình dung và hoài niệm lại
Trang 28VD: Các bài giảng có thêm phương tiện trực quan (hình vẽ, thí nghiệm, mô hình, ) hỗ trợ thì sẽ làm cho người học nhớ bài học sâu sắc hơn
Tài liệu cũng dễ nhớ khi:
- Có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, bổ ích
- Gây tranh cãi
- Có vấn đề giải quyết chưa trọn vẹn
1.2.6.3 Qui luật liên tưởng
Biện pháp liên tưởng là cách kết nối một vấn đề đang học, một vấn đề đang gặp phải cần được ghi nhớ, một vấn đề chưa thật quen thuộc, chưa thật hiểu rõ, nay
ta móc nối nó vào cái mà mình đã biết rành rẽ thì sẽ rất dễ nhớ và nhớ rất lâu Liên tưởng là yếu tố then chốt của trí nhớ Vận dụng liên tưởng là biện pháp thường dùng và rất có hiệu quả để tăng cường trí nhớ Liên tưởng xảy ra khi điều bạn nói hay nghĩ tuỳ thuộc vào ý tưởng đã có trước, chúng là nền tảng cho một ký
Muốn nhớ điều gì phải tìm cách liên kết nó với những cái khác Khi rèn luyện
trí nhớ điều quan trọng là phải biết rằng sự vật không tồn tại một cách cô lập mà có liên hệ với sự vật xung quanh Khi muốn ghi nhớ phải tìm cách phát hiện ra những mối liên hệ đó, chúng sẽ làm cho hình ảnh sự vật dường như nổi lên rõ nét và in sâu vào trí nhớ
Các luật liên tưởng:
- Luật tương tự: Các sự vật tương tự về tính chất hoặc đặc trưng có thể hình
thành liên tưởng Như sắt thép làm ta liên tưởng đến sự cứng rắn, truyện “Tấm Cám” làm ta liên tưởng đến tình cảm gia đình,
Trang 29- Luật tương phản: Các sự vật có những đặc điểm tương phản có thể hình
thành liên tưởng Như: sáng-tối, nóng-lạnh, nhút nhát-can đảm, thành công-thất bại,
thành liên tưởng Như thấy hoa thì có thể liên tưởng đến bướm, đến ong,
- Luật quan hệ: Hình thành liên tưởng do mối quan hệ giữa các sự vật Chẳng
hạn như: thấy cây cối ta nghĩ đến rừng, thấy ong ta nghĩ đến mật lại có thể tiếp tục liên tưởng đến sự ngọt ngào,
Lưu ý:
- Liên tưởng càng rõ ràng thì ấn tượng càng sâu sắc
- Ấn tượng càng sâu sắc khi liên tưởng được lặp đi lặp lại nhiều lần
- Thời gian hình thành liên tưởng càng gần càng sâu sắc, càng xa chúng ta thì càng mờ nhạt
Mỗi loại liên tưởng sẽ là một kết nối, là một “móc dính” với các nội dung tư liệu cần ghi nhớ Vì thế, nếu ta muốn có một trí nhớ tốt hãy thường xuyên rèn luyện, khéo léo kết nối nó với những sự vật, sự việc muôn màu muôn sắc trong cuộc sống chung quanh Chắc chắn ta sẽ có một trí nhớ ngày càng tốt hơn Ngoài nhiệm
vụ chính là liên tưởng, ta cần tìm ra sự liên hệ giữa các kiến thức với nhau để dễ ghi nhớ Biện pháp tư duy liên tưởng còn giúp chúng ta có thể tự học được nhiều hơn, phát huy tính khám phá, tính sáng tạo
1.2.6.4 Qui luật lặp lại
Lặp lại là tác nhân mãnh liệt trong việc bảo tồn hoài niệm, nó là điều kiện thiết yếu nếu muốn tạo được ký ức máy móc
Muốn nhớ điều gì phải lặp lại nhiều lần Ôn tập là mẹ của trí nhớ Cách nhớ tốt nhất là lặp đi lặp lại
1.2.6.5 Qui luật kìm hãm
Sự ghi nhớ sau bao giờ cũng làm giảm sự ghi nhớ trước Do đó:
- Cần quên đi những gì không cần thiết bằng cách không nhắc lại, gợi lại
- Cần xác định rõ mức độ cần ghi nhớ với mỗi tài liệu
Trang 30- Lựa chọn thật kỹ những gì sẽ học thuộc lòng
1.2.7 Đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến quá trình ghi nhớ của học sinh
Ở lứa tuổi THPT, các em dễ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống và môi trường học tập Các em không giữ được sự điều độ trong hoạt động học tập, lao động vui chơi…
Các em HS THPT, nhất là ở một số em HS lớp 10, do các em còn ảnh hưởng của lứa tuổi THCS nên các em còn lơ là trong học tập, chưa tập trung nhiều vào việc học của mình Khối lượng kiến thức trong từng môn học nặng hơn nhiều so với
ở thời THCS nên các em chưa thể thích ứng kịp thời
Hoạt động học tập của các em đã có sự tích cực và độc lập trí tuệ Tuy vậy, trong quá trình học tập các em vẫn gặp nhiều khó khăn, trở ngại do sự thiếu kỹ năng học tập trong điều kiện mới
Ở lứa tuổi các em THPT đã có sự lựa chọn môn học, nên ở một số em có hiện tượng chỉ lo “chúi đầu” vào học những môn mà mình yêu thích và dửng dưng với những môn khác làm cho các em mất kiến thức ở môn học đó
Khả năng tri giác ở các em đã phát triển rõ rệt Tuy nhiên, sự quan sát của các
em thường bị phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát sự vật, hiện tượng vẫn còn mang tính phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế
Trí nhớ của các em phát triển rõ và mang tính chọn lọc cao Các em đã biết ghi nhớ những gì cần thiết Tuy vậy, ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có khi các em coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn bài
cũ
Hoạt động tư duy của HS THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén Khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề nhanh Nhưng ở một số em vẫn chưa phát huy hết năng lực của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính hoặc thiên về tái hiện tư tưởng, cách luận chứng của người khác
Trang 31Ở một số ít HS THPT còn ham chơi, ít lo cho việc học tập, hăng hái trong học tập và công việc, rất lạc quan yêu đời nhưng dễ bị chán nản khi gặp khó khăn, thất bại
Một số HS lớp THPT chủ yếu là học thuộc lòng một cách máy móc, không nắm vững cốt lõi những vấn đề đã học
Một số HS còn ham chơi hơn ham học Một số em không học bài cũ và làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, làm mất căn bản kiến thức cũ và làm cho các em khó tiếp thu kiến thức mới thật tốt, vào lớp thụ động, các em chủ yếu là nghe giảng
và ghi chép hầu như toàn bộ những gì mà GV ghi lên bảng như thời THCS, ít phát biểu ý kiến, ít tư duy về kiến thức mới Một số em trong giờ học không tập trung chú ý nghe GV giảng bài
Các em chưa vận dụng được những phương pháp học mới, nên quá trình học của các em còn gặp nhiều khó khăn Một số HS chỉ lo học những môn mình thích nên bỏ qua những môn khác Vì vậy mà các em mất đi những kiến thức cơ bản của môn mình bỏ qua
1.2.8 Sự tác động của phương pháp dạy học lên trí nhớ của học sinh [14], [17]
Bên cạnh việc các HS tự rèn luyện cho mình phương pháp ghi nhớ tốt bài học thì vai trò của GV trong việc giúp HS ghi nhớ bài nhanh tại lớp là rất quan trọng Thực tế cho thấy một số GV cứ giữ giọng đều đều khi giảng bài, ít sử dụng các phương tiện dạy học, trong quá trình dạy học thì GV rất nghiêm khắc Kết quả, không khí lớp học nặng nề, HS thì căng thẳng Sau tiết học, HS không nhớ bài được bao nhiêu
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ kiến thức mới của HS trong đó phương pháp dạy của thầy và cách học của trò là yếu tố quyết định
- Phương pháp dạy của GV:
+ Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là GV độc thoại, độc quyền đánh giá, thuyết giảng làm HS nhàm chán không tập trung, chú ý những gì GV nói
+ Nội dung bám sát SGK, ít liên hệ thực tiễn đời sống nên không giúp các
em ghi nhớ bài một cách tốt nhất
Trang 32+ GV giữ vai trò chủ động điều khiển
+ Không phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy
+ Ít cho bài tập thêm để các em có thể ghi nhớ bài tốt hơn
+ Phương pháp, dụng cụ giảng dạy không khoa học
+ Gây áp lực đến với HS dẫn đến HS bị ức chế
- Phương pháp học của HS:
+ Không rèn luyện được năng lực tự học, luôn ỷ lại vào GV
+ Quan điểm các em học để đối phó, để kiểm tra, thi cử lấy điểm, thành tích + Trong quá trình học, đa số các em thụ động, ít phát biểu ý kiến, chỉ mãi nghe, ghi những gì mà GV ghi lên bảng Khi về nhà thì học thuộc bài một cách máy móc không cần hiểu rõ bài để hôm sau trả bài
+ Học thuộc lòng một cách thụ động ít liên hệ thực tế nên dễ quên đi những kiến thức vừa học
+ Phần lớn các em đợi gần đến thi hoặc kiểm tra mới học
+ Ngoài những kiến thức do GV cung cấp và tài liệu trong SGK thì các em ít đọc hay tìm hiểu những kiến thức mới
+ Các em chưa biết tổ chức cách học theo nhóm, theo tổ
+ Một số em không chịu khó làm những bài tập cơ bản để ghi nhớ các kiến thức tốt hơn và lâu hơn
Do đó, GV cần lưu ý đến vấn đề tâm lý HS Và những công trình TN cho biết rằng việc lĩnh hội những khái niệm hóa học thông qua những mô hình đơn giản phụ thuộc rất nhiều vào tuổi và hệ số trí tuệ Trong sự nhận thức bản chất sự vật, hiện tượng trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng, trí nhớ giúp lưu lại các hình ảnh (màu sắc và các diễn biến của phản ứng hóa học), khái niệm tư duy, những biểu tượng tưởng tượng Trí nhớ là điều kiện quan trọng để HS tư duy logic và tư duy trừu tượng trong việc lĩnh hội các khái niệm hóa học mới, giúp các em phát hiện những dấu hiệu bản chất và những qui luât của thế giới vi mô
Trong quá trình học tập, trí nhớ không chỉ tái hiện những cái gì đã ghi chép lại Hơn thế sự tái hiện có tính chất tư duy gắn liền với ngôn ngữ làm thay đổi hình
Trang 33thức những nội dung học tập đã được lưu giữ trong trí nhớ theo những dạng đã xác định, một mặt nó phân tích chính xác, mặt khác khái quát hơn những nội dung đó, rồi một phần nội dung đó được thâu tóm chính xác, một phần được nằm dưới hình thức những mối liên hệ cơ bản khác
Tóm lại: Phương pháp dạy của GV chỉ đạo phương pháp học của HS Phương pháp học của HS phụ thuộc rất nhiều vào trí nhớ Muốn tiếp thu và tự học tốt HS phải có trí nhớ, trí nhớ đó phụ thuộc vào cách dạy của GV và tự rèn luyện của HS
1.3 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.3.1 Định nghĩa
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò, nhằm làm cho trò đạt được mục đích dạy học [25]
Theo lý thuyết thông tin: Quá trình dạy học là quá trình truyền đạt, thu nhận,
xử lý, lưu trữ và sử dụng thông tin
Sự lĩnh hội là sự thông hiểu thông tin, ghi nhớ nó và có khả năng tích cực vận dụng nó
Trang 341.3.3 Bản chất [18], [44]
Bản chất của quá trình dạy học là hoạt động nhận thức và thực hành độc đáo của HS dưới sự hướng dẫn của GV theo một chương trình, một mục tiêu đã định Quá trình học tập của HS bao gồm hai hoạt động: học và tập Học là quá trình nhận thức, tìm tòi, tích lũy những giá trị văn hóa xã hội Tập là quá trình rèn luyện, hình thành kĩ năng, kĩ xảo trên cơ sở vận dụng kiến thức đã học, làm biến đổi năng lực hoạt động của bản thân
Tuy nhiên, hoạt động nhận thức của HS đặc biệt ở chỗ:
- Không tìm ra cái mới của nhân loại, mà chỉ tái tạo lại chân lí loài người đã khám phá
- Con đường nhận thức ngắn, ít khó khăn
- Trong thời gian ngắn có thể lĩnh hội được khối lượng tri thức lớn nên cần phải củng cố, ôn tập và kiểm tra
- Trên con đường nhận thức có sự can thiệp kịp thời của GV để lĩnh hội kiến thức một cách đúng đắn nhất
1.3.4 Nhiệm vụ
Thứ nhất, Tổ chức, điều khiển HS lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn, đồng thời rèn luyện cho các em hệ thống kĩ năng, kỉ xảo tương ứng
Thứ hai, Tổ chức, điều khiển HS phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động
Thứ ba, Hình thành thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung của HS
Ba nhiệm vụ trên có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
Nhiệm vụ thứ nhất là cơ sở và nền tảng vì thiếu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, thiếu phương pháp nhận thức thì không thể phát triển trí tuệ và thiếu cơ
sở để hình thành thế giới quan khoa học
Nhiệm vụ thứ hai là kết quả và điều kiện của việc nắm vững tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo và là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo
Trang 35đức vì phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp cho HS cách nhìn,
có thái độ và hành động đúng đắn
Nhiệm vụ thứ ba là mục đích và kết quả của hai nhiệm vụ trên vì nó kích thích
và chỉ đạo việc nắm tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực nhận thức của HS
1.4 THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG GHI NHỚ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
1.4.2 Tiến hành điều tra
- Thăm dò ý kiến của các GV giảng dạy ở các trường THPT đang theo học lớp cao học ngành Hóa học khóa 20 và 21 tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Số phiếu phát ra: 60
- Số phiếu thu vào: 54
1.4.3 Kết quả điều tra
Câu 1: Theo quí thầy cô, vai trò của các biện pháp giúp HS ghi nhớ là
không quan trọng ít quan trọng quan trọng rất quan trọng
Bảng 1.1 Tầm quan trọng của các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ
Vai trò của các biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học
TB Không quan
trọng
(1)
Ít quan trọng (2)
Quan trọng (3)
Rất quan trọng (4)
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta thấy: Đa số các GV đều cho rằng việc rèn
luyện các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt là có vai trò quan trọng hoặc rất quan
Trang 36trọng, không có GV nào phủ nhận vai trò quan trọng của các biện pháp giúp HS rèn luyện trí nhớ Ngoài ra, một số GV cho rằng các biện pháp này là ít quan trọng
Câu 2: Thầy cô có thường dùng các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt bài học không?
Không dùng Rất ít dùng Thường xuyên Tất thường xuyên
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng cácbiện pháp giúp học sinh ghi nhớ
Mức độ sử dụng các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt bài học
TB Không dùng
(1)
Rất ít dùng (2)
Thường xuyên (3)
Rất thường xuyên
(4)
Nhận xét: Qua việc thăm dò về mức độ sử dụng các biện pháp giúp HS ghi
nhớ bài học ta thấy: Đa số các GV đều sử dụng các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt bài học một cách thường xuyên, không có GV không sử dụng các biện pháp Tuy nhiên, số lượng GV rất ít dùng cũng chiếm số lượng không nhỏ, số lượng GV sử dụng rất thường xuyên chỉ chiếm lượng thấp
Như vậy, do ý thức được tầm quan trọng của các biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học nên các GV đã sử dụng chúng một cách thường xuyên vào quá trình dạy học
để nâng cao hiệu quả dạy học nhưng cũng còn một bộ phận không nhỏ các GV ít sử dụng các biện pháp Điều này chứng tỏ nhiều GV ít tiếp cận với các biện pháp này
Câu 3: Biện pháp GV sử dụng để giúp HS ghi nhớ bài học (mức độ 1: sử dụng ít nhất, mức độ 5: sử dụng nhiều nhất)
Trang 37Bảng 1.3 Các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ bài học và mức độ sử dụng Các biện pháp giúp
HS ghi nhớ
Mức độ sử dụng (mức độ 1: ít nhất;
1 Mã hóa kiến thức bằng câu
Nhận xét: Trong 10 biện pháp điển hình nhất được đưa ra để thăm dò ý kiến,
ta nhận thấy các biện pháp đặt câu hỏi và làm bài tập được GV sử dụng ở mức độ cao Nhóm các biện pháp mã hóa kiến thức bằng câu thơ, câu văn, liên tưởng, sơ đồ
tư duy, dùng chữ thần GV chỉ sử dụng ở mức độ thấp Các nhóm biện pháp làm thí nghiệm, tóm tắt bài học, lặp đi lặp lại nhiều lần cũng được các GV sử dụng tương
đối thường xuyên Biện pháp dùng tranh ảnh chỉ được sử dụng ở mức độ trung bình
kiến thức bằng câu thơ, câu văn, liên tưởng, sơ đồ tư duy, dùng chữ thần các GV
chưa sử dụng nhiều trong khi vai trò của nó cũng rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc giảm tải, tăng hứng thú, nâng cao khả năng ghi nhớ Bên cạnh đó vẫn
Trang 38còn rất nhiều các biện pháp khác cũng góp phần giúp các em ghi nhớ tốt bài học cần được khai thác và áp dụng
Câu 4: Thầy cô sử dụng các biện pháp ghi nhớ tốt bài học khi nào?
Bảng 1.4 Thời điểm sử dụng các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ bài học
Nhận xét: Dựa vào bảng số liệu nêu trên, ta có thể nhận thấy: Đa số các GV
rèn luyện cho HS khả năng ghi nhớ bài học nhiều nhất ở giai đoạn củng cố bài học (4.04), khi dạy bài luyện tập (4.13), dạy bài ôn tập (4.26) Các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt khi mở đầu bài học (2.30) hoặc khi dạy bài mới (2.93) được GV ở mức
độ chưa cao (2.93) Như vậy, các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt bài học chưa được
sử dụng rộng rãi ở tất cả các khâu của quá trình dạy học
Câu 5: Mức độ GV sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo các biện pháp giúp
HS ghi nhớ bài học
Bảng 1.5 Các nguồn tài liệu tham khảo và mức độ sử dụng
Nguồn tài liệu
Nhận xét: Nguồn tham khảo kiến thức về các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt
bài học của các GV đa số không tập trung vào một nguồn tài liệu tham khảo mà
Trang 39phân bố ở nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên, mức độ sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo vẫn còn thấp Điều này chứng tỏ các GV đang rất cần một tài liệu viết sâu hơn về các biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học
Câu 6: Những khó khăn khi GV thiết kế và sử dụng các biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học
Bảng 1.6 Những khó khăn khi thiết kế và sử dụng các biện pháp
giúp học sinh ghi nhớ bài học
Stt Những khó khăn khi GV thiết kế và sử dụng các biện
1 Chưa biết nhiều kiến thức về trí nhớ và các qui luật của
2 Ít tài liệu tham khảo về các biện pháp giúp HS ghi nhớ
4 Nội dung bài học nhiều nên không có thời gian để rèn
5 Không có nhiều hóa chất và thiết bị để thí nghiệm và cho
6 HS lười học, không chú ý đến bài vì thế không có ý thức
Nhận xét: Phần đông các GV gặp nhiều khó khăn trong quá trình sử dụng các
biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học Trong đó, khó khăn: HS lười học, không chú ý
đến bài vì thế không có ý thức để ghi nhớ bài học chiếm tỉ lệ cao nhất (22.83%)
Một bộ phận không nhỏ các GV gặp khó khăn về: Ít tài liệu tham khảo về các biện
- Các GV chưa biết nhiều biện pháp giúp HS ghi nhớ bài học, đa số chỉ tập
trung ở các biện pháp làm bài tập, đặt câu hỏi, làm thí nghiệm
- Đa số GV gặp khó khăn ở khâu tìm nguồn tài liệu tham khảo về các biện pháp giúp HS ghi nhớ tốt bài học
Trang 40CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH GHI NHỚ TỐT
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
2.1 C Ơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP
2.1.1 Khái niệm biện pháp
Theo Đại từ điển tiếng Việt [45, tr161]: Biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành để giải quyết các vấn đề cụ thể”
2.1.2 Các kiến thức về triết học
Triết học là khoa học của tư duy, nghiên cứu các hoạt động của tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, để đi đến các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận
2.1.3 Các kiến thức về tâm lý học
Dựa trên các đặc điểm tâm lý của HS trong quá trình dạy học, ta nhận thấy có nhiều yếu tố tâm lý tác động lên quá trình ghi nhớ của HS Để HS ghi nhớ tốt bài học, GV cần vận dụng tốt các qui luật của trí nhớ như:
- Qui luật lặp lại
- Qui luật hướng đích
- Qui luật ưu tiên
- Qui luật liên tưởng
- Qui luật kìm hãm
Để HS ghi nhớ bài học được tốt thì cần có một số điều kiện cơ bản như sau:
- Hiểu rõ nội dung cần ghi nhớ
- Hứng thú với nội dung cần ghi nhớ
- Phải có sự tập trung chú ý cao độ và có quyết tâm cao đối với nội dung cần ghi nhớ
- Phải kết hợp giữa học tập và thư giãn
- Có sức khỏe tốt
2.1.4 Các kiến thức về giáo dục học
• Nguyên tắc giáo dục: