1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bút pháp hiện thực trong truyện ngắn của nguyễn công hoan và nam cao những tương đồng và dị biệt

126 2,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 717,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đa dạng, muôn màu muôn vẻ với những con người múa may, cười khóc, rởm, hợm, với những chuyện xấu xa, những chuyện thương tâm hay những sự việc lố lăn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thảo

BÚT PHÁP HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN

NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thảo

BÚT PHÁP HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN

NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

đến:

TS Hoàng Trọng Quyền đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tác giả những

lúc khó khăn Cảm ơn thầy đã dành thời gian và công sức dẫn những hướng đi giúp cho tác giả hoàn thành tốt luận văn

 PGS.TS Lê Thu Yến đã hỗ trợ, giúp đỡ tác giả khi thực hiện luận văn

Các thầy cô giảng dạy lớp Cao học khóa 19 đã truyền thụ cho chúng tôi những

kiến thức và kinh nghiệm quí báu

Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi để các học

viên hoàn thành khóa học

Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên hỗ trợ tác giả trong

suốt thời gian vừa qua

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 được xem là một giai đoạn đột biến của nền văn học nước nhà bởi những thành tựu phát triển rực rỡ của nó ở nhiều phương diện khác nhau như trào lưu, thể loại, phong cách sáng tác, ngôn ngữ nghệ thuật Nổi bật lên trên hết là sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của thể loại truyện ngắn và sự xuất hiện của trào lưu văn học hiện thực phê phán Trong đó nhiều tài năng đã khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn với hàng loạt tác phẩm có giá trị: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Đây là những tác giả đã góp phần làm vinh dự cho nền văn học nước nhà Đồng thời đó cũng là những cây bút mà sự nghiệp văn chương của họ là lời mời gọi không ngừng sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại Điểm nổi bật là họ đã sử dụng chủ nghĩa hiện thực phê phán như một thứ vũ khí lợi hại để chiến đấu trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc thời bấy giờ

Với bút pháp hiện thực, các nhà văn giai đoạn này đã lấy nền tảng là cái xã hội đương thời đang sống để phơi bày, bóc trần, lột tả được mặt trái xấu xa của xã hội và của con người trong xã hội đó Với các tác phẩm của mình, họ đã kéo văn học gần cuộc đời hơn, gần với con người hơn Văn học bây giờ không còn là của một thế giới xa lạ mà trở thành

tấm gương soi chiếu cuộc sống hằng ngày với những nụ cười, những giọt nước mắt, những nỗi nhọc nhằn, khổ đau và bất hạnh trong cuộc sống thật của những con người thật Văn học hiện thực phê phán tuyên chiến với cái ác, cái xấu, chỉa thẳng ngòi bút vào những cái nhố nhăng, kệch cỡm trong xã hội, cười vào những con người sâu mọt của xã hội bấy giờ Với bút pháp hiện thực, các nhà văn còn len lỏi vào phần sâu thẳm của con người để nhìn thấy được những nỗi đau tinh thần, những bi kịch trong cuộc sống của những con người bất hạnh, đáng thương trong xã hội ô trọc đương thời Nói đến các kiện tướng trong dòng Văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945, không thể không nhắc đến Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Sự xuất hiện của họ trên văn đàn Văn học Việt Nam là những hiện tượng độc đáo Và khi có đủ độ lùi lịch sử thì tên tuổi của họ luôn được khẳng định ở tầm thế cao trong lịch sử văn học nước nhà

Trang 7

Là tác giả của trên 200 truyện ngắn và gần 30 truyện dài, truyện vừa với chất lượng nghệ thuật cao, Nguyễn Công Hoan được đánh giá là một nhà văn lớn Phan Cự Đệ trong

Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử Thi pháp - Chân dung đã khẳng định: “Nguyễn Công Hoan

là người đầu tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn

và là một trong những ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945” [17, 494] Các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đa dạng, muôn màu muôn vẻ với những con người múa may, cười khóc, rởm, hợm, với những chuyện xấu xa, những chuyện thương tâm hay những sự việc lố lăng đến nực cười trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến đầy rẫy những ngang trái những bất công, được xây dựng bởi bút pháp hiện thực rất Nguyễn Công Hoan

Cùng với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc có vị trí

hàng đầu trong giai đoạn 1930 - 1945 Theo Hà Minh Đức, “Nam Cao là nhà văn đạt chuẩn mực cao của chủ nghĩa hiện thực trong Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945.” [18,135]

Nếu Nguyễn Công Hoan là người mở đầu thì Nam Cao được coi là đại diện của Văn học hiện thực phê phán trong giai đoạn cuối Có thể nói Nam Cao là người đặt những mảng màu cuối cùng để hoàn chỉnh bức tranh của Văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 Việc chọn hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao để thực hiện luận văn: “Bút pháp hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao - những tương đồng và dị biệt” do các lí do sau:

Thực tế cho thấy, thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn học hiện thực phê phán Trong đó, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hai tác gia có bút pháp hiện thực độc đáo, đậm nét và sâu sắc; đồng thời có sức ảnh hưởng lớn, lâu dài đối với đời sống văn học ở nước ta Do vậy, chúng tôi lựa chọn hai nhà văn trên làm đối tượng để nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực phê phán bởi các tác phẩm của họ có sức sống mãnh liệt trong lòng người đọc về số lượng lẫn chất lượng

Trong địa hạt truyện ngắn hiện thực thời kỳ 1930 - 1945, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao có mối quan hệ tiếp nối giữa người mở đường, đặt nền móng đầu tiên và người khép lại dòng văn học hiện thực Phải chăng giữa họ sẽ có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau bên cạnh những cái rất riêng, rất độc đáo? Phải chăng với sự sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật sáng tác của mình, họ đã góp phần tô điểm cho bức tranh văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 - 1945 được hoàn chỉnh nhất, rực rỡ nhất? Để có câu trả lời thỏa đáng cho

Trang 8

những câu hỏi trên chúng tôi tiến hành so sánh và đối chiếu để phát hiện được những nét tương đồng và dị biệt trong bút pháp hiện thực của hai nhà văn trên

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao như hai đại diện tiêu biểu về nghệ thuật xây dựng truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực

để tìm hiểu và khẳng định những thành tựu về mặt nghệ thuật của Văn học hiện thực thời kì

1930 - 1945

2 Mục đích nghiên cứu

Hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đã có những tác phẩm hiện thực thực

sự có giá trị vững chắc trong lịch sử văn học nước nhà, bám rễ bền lâu trong lòng của người đọc bởi họ không chỉ vận dụng các nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực một cách đúng đắn mà còn rất sáng tạo Đề tài luận văn hướng đến việc khám phá những sáng tạo hết sức độc đáo ấy của mỗi nhà văn Từ đó chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong bút pháp nghệ thuật xây dựng truyện ngắn hiện thực của hai nhà văn

Thực hiện việc so sánh đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt về bút pháp hiện thực giữa hai nhà văn để khám phá ra sự đa dạng, phong phú, độc đáo trong phong cách nghệ thuật xây dựng truyện ngắn hiện thực; đồng thời thấy được quá trình chuyển tiếp, bổ sung và phát triển về phương diện nghệ thuật của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 - 1945

Với những kết quả thu hoạch được sau khi nghiên cứu, người viết mong rằng luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo bổ ích cho quá trình tìm hiểu, học tập về văn học hiện thực thời kỳ 1930 - 1945, đặc biệt là về hai tác gia Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

3 Lịch sử đề tài

Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hai cây bút xuất sắc đạt được nhiều thành tựu trong nền Văn học dân tộc thời kì 1930 - 1945 Đây cũng là hai nhà văn mà sự nghiệp văn chương của họ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm qua nhiều công trình có giá trị Các công trình nghiên cứu ấy đã góp phần khẳng định tầm thế của hai nhà văn này trên văn đàn Việt Nam Ngoại trừ các bài viết về cuộc đời, về chân dung dưới dạng hồi ức, chúng tôi đã thu thập được 52 công trình, bài viết nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của nhà văn Nguyễn Công Hoan và 63 công trình, bài viết về nhà văn Nam Cao Với số liệu ấy, quả thật Nguyễn Công Hoan và Nam Cao chính là mảnh đất màu mỡ cho giới nghiên cứu khai thác

Song, mặc dù với số lượng nhiều nhưng những bài viết, những công trình nghiên cứu hầu

Trang 9

hết chỉ đi vào khảo sát phong cách, bút pháp nghệ thuật của từng nhà văn riêng rẽ Còn bài viết, công trình nghiên cứu so sánh cụ thể, xây dựng thành hệ thống sự tương đồng và khác biệt về nghệ thuật sáng tác các truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực giữa hai nhà văn thì hầu như chưa có Vấn đề so sánh đối chiếu hai nhà văn ở phương diện bút pháp hiện thực dưới dạng những câu nhận xét khái quát chung là khá nhiều, tiêu biểu như sau:

Trần Đằng Suyền trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ XX đã nhận xét: “Nếu như đối với Nam Cao, cuộc đời chỉ là sự chết mòn, chết khi đang sống; đối với Vũ Trọng Phụng

“ đời chỉ có toàn những sự vô nghĩa lí”, đời là một con đường dông tố làm đảo điên tất cả,

là cái “xã hội khốn nạn”; “xã hội chó đểu”; thì đối với Nguyễn Công Hoan đời chỉ là một sân khấu hài kịch, “một tấn trò hề lố lăng, giả dối.” [66, 248] Nhận xét trên đã trực tiếp so

sánh sự khác nhau về lăng kính nghệ thuật giữa Nam Cao, Nguyễn Công Hoan và cả Vũ Trọng Phụng Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nhìn hiện thực cuộc sống và thể hiện nó trong tác phẩm của mình bằng những cách khác nhau Với Nam Cao hiện thực cuộc sống là hình ảnh của những con người sống mà như chết, mòn mỏi đến kiệt sức Còn với Nguyễn Công Hoan, hiện thực cuộc sống hiện ra như một sân khấu hài kịch với tất cả những trò hề

lố lăng, kệch cỡm không hơn không kém Sự so sánh trên cho ta thấy hai nhà văn đã có sự khác nhau trong việc phát hiện cuộc sống, về cách cảm nhận, vậy nên hiện thực được xây dựng trong truyện ngắn của hai nhà văn cũng sẽ có những khác biệt Song, Nguyễn Đăng Suyền chỉ dừng lại ở nhận xét đó Ông chưa đi sâu phân tích và lí giải nó một cách chi tiết,

cụ thể

Phan Cự Đệ cho rằng: “( ) truyện của Nam Cao đi sâu vào tâm lí bên trong của nhân vật thì truyện của Nguyễn Công Hoan nhằm nâng cao năng lực nhận thức và khám phá các hiện tượng phức tạp của xã hội.” [15, 165] Nhận xét trên cho thấy Phan Cự Đệ có

đặt ra việc so sánh điểm khác nhau giữa hai nhà văn về bút pháp Song việc so sánh chỉ dừng lại ở việc rút ra điểm khác nhau mà chưa đi sâu và lí giải một cách rõ ràng chi tiết

Trong bài viết Kỹ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Lê Thị Đức Hạnh cho rằng:“Nếu so sánh Nguyễn Công Hoan với một số nhà văn đương thời như Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao , ta thấy họ gần gũi nhau là bởi họ có sự giống nhau về phương pháp chọn lọc, đánh giá, cũng như biểu hiện những vấn đề của cuộc sống” [25, 375] Ý

kiến trên khẳng định Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đã sáng tác theo cùng một phương pháp Đó là phương pháp hiện thực chủ nghĩa Ý kiến này làm vững chắc hơn cho nội dung

Trang 10

mà luận văn muốn hướng tới Nhưng nó cũng dừng lại ở mức độ gợi mở bởi Lê Thị Đức Hạnh chưa nói rõ và phân tích cụ thể trong bài viết của mình

Nhận xét về hiện thực cuộc sống mà các nhà văn thể hiện trong các tác phẩm, Vũ

Tuấn Anh cho rằng: “Nếu như với Nguyễn Công Hoan, đời là mảnh ghép của những nghịch cảnh, với Thạch Lam, đời là miếng vải có lỗ thủng, những vết ố nhưng vẫn nguyên vẹn, thì với Nam Cao cuộc đời là một tấm áo bị xé rách tả tơi ” [3, 433] Nhận xét này so sánh sự

khác trong quan niệm nhận thức và trong việc tái hiện đời sống vào trang văn của mỗi tác

giả nhưng người viết vẫn chưa làm rõ thế nào là “mảnh ghép của những nghịch cảnh” và

“ tấm áo bị xé rách tả tơi” Đây sẽ là một lưu ý cho chúng tôi khi phân tích sự khác nhau

trong nghệ thuật xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình ở mỗi nhà văn

Nguyễn Hoành Khung cũng khẳng định như sau: “Từ Nguyễn Công Hoan, cây bút kì cựu mà tư duy nghệ thuật và cách viết có nhiều tính chất quá độ đến Nam Cao, nhà văn xuôi tiêu biểu nhất của thế hệ bước vào văn đàn những năm 40 đã đem đến cho văn xuôi những cách tân sâu sắc; cả hai đều rất giống nhau ở sự gắn bó sâu xa với đời sống với con người Việt Nam, văn chương của họ đều rất Việt Nam.” [38, 23] Nhận xét trên cho thấy

điểm tương đồng lớn nhất ở các tác phẩm của hai nhà văn là ở sự gắn bó sâu xa với đời sống con người Việt Nam Cuộc sống và con người Việt Nam được tái hiện sâu sắc, đậm nét trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Song, nhà nghiên cứu Nguyễn

Hoành Khung chưa làm rõ được “tính chất quá độ” trong cách viết của Nguyễn Công Hoan

và “ những cách tân sâu sắc” trong tác phẩm của Nam Cao

Tóm lại, những ý kiến mang tính so sánh mà chúng tôi thu thập được từ những công trình nghiên cứu có liên quan cho thấy phần lớn các so sánh chỉ nêu nhận định khái quát chung, còn việc lí giải và phân tích là hầu như chưa có Các ý kiến so sánh thể hiện sự cảm nhận có tính chất tổng quát về vấn đề và có giá trị gợi mở mà chưa tập trung đi sâu vào những điểm giống và khác trong bút pháp xây dựng truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực giữa hai nhà văn

Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình chuyên luận nào nghiên cứu vấn đề so sánh đặc trưng bút pháp hiện thực trong truyện ngắn giữa hai nhà văn Nguyễn Công Hoan

và Nam Cao Các bài viết của những người đi trước phần lớn là những bài nghiên cứu, phê bình viết riêng rẽ về mỗi nhà văn Có thể kể đến như sau:

Về nhà văn Nguyễn Công Hoan

Trang 11

Các bài viết, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Công Hoan có liên quan đến đề tài luận văn có thể kể đến như sau:

Trong bài Nguyễn Công Hoan Phan Cự Đệ khẳng định: “Nguyễn Công Hoan là người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán.” và “Có thể nói Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyên ngắn và là ngọn cờ đầu của Văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kì 1930 - 1945.” [15, 163] Khi bàn về nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, nhà nghiên cứu này cho rằng: “Nếu như Ngô Tất Tố tập trung viết về nông dân, Vũ Trọng Phụng đả kích vào giai cấp tư sản thì đóng góp chủ yếu của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là đã xây dựng thành công một phòng tranh châm biếm và đả kích các kiểu quan lại và địa chủ cường hào ở nông thôn.” [15, 164] Những

nhận định trên có ý nghĩa với chúng tôi trong việc xác định vị trí mở đường của Nguyễn Công Hoan trong nền Văn học hiện thực phê phán và xác định các kiểu nhân vật trung tâm trong các truyện ngắn hiện thực của ông Song, những ý kiến trên vẫn còn mang tính chất khái quát, chưa đi sâu vào toàn diện và có hệ thống các đặc trưng bút pháp hiện thực của Nguyễn Công Hoan

Về nhà văn Nam Cao:

Nguyễn Duy Từ trong chuyên luận Truyện ngắn Nam Cao từ lãng mạn đến hiện thực

có một số ý kiến khá xác đáng khi trình bày về quá trình sáng tác của Nam Cao từ lãng mạn đến hiện thực Mặc dù chỉ đi sâu vào tác giả Nam Cao nhưng đối với đề tài luận văn chúng tôi đang nghiên cứu thì đây là một tài liệu rất bổ ích Chuyên luận đã làm rõ hành trình đến với chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Nam Cao Tác giả Nguyễn Duy Từ cho rằng chủ nghĩa hiện thực không phải là lựa chọn đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn này Ông viết: “Trước khi khai sinh ra nhân vật bất hủ Chí Phèo, hơi thở lãng mạn đã làm nên nhịp đập chính của văn chương Nam Cao” và “cảm quan lãng mạn được thể hiện khá rõ từ những không gian nghệ thuật được Nam Cao tạo dựng trong tác phẩm của mình” [70; 16, 19] Nhưng lãng mạn chỉ là khởi đầu của cuộc hành trình, còn điểm cuối của hành trình đó, Nam Cao đã đến với chủ nghĩa hiện thực phê phán Chuyên luận đã phân tích, đánh giá về nghệ thuật xây dựng tính cách điển hình, hoàn cảnh điển hình và bàn đến sự chân thật của chi tiết nghệ thuật trong các truyện ngắn của Nam Cao; đồng thời đi sâu vào các truyện ngắn hiện thực của Nam Cao, song phần phân tích, lí giải còn tập trung chưa đồng đều ở các tác phẩm, chưa chú ý nhiều về ngôn ngữ và giọng điệu

Trang 12

Phong Lê trong bài viết Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao đã nhận định: “Nói bút pháp Nam Cao là nói một bút pháp hiện thực nghiêm ngặt Một bút pháp chủ trương

l ách vào tận đáy sâu sự thật”, “một chủ nghĩa hiện thực, một bút pháp hiện thực Nam Cao, một giọng điệu Nam Cao - đó là nét in dấu và nổi đậm lên trên những trang văn Nam Cao - đầu những năm 40 khiến cho Nam Cao không lặp lại những Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất

Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô Hoài và đưa Nam Cao lên hàng đầu dòng văn học hiện thực Việt Nam đang đi vào chặng cuối - trước khi vào bản lề Cách mạng” [40; 505,

511] Trước khi nhận xét như vậy, Phong Lê đã chỉ ra những độc đáo trong truyện ngắn hiện thực Nam Cao ở các phương diện: ngôn ngữ, nhân vật, tình huống Song, ở dung lượng một bài viết ngắn, tất cả chỉ là những khơi gợi, cảm nhận chung mà chưa đi sâu vào chi tiết cụ thể cũng như chưa bao hàm hết những yếu tố tạo nên những đặc sắc trong bút pháp hiện thực của Nam Cao Do vậy những đặc trưng về bút pháp trong bài viết chưa được sắp xếp thành một hệ thống hoàn chỉnh

Trần Đăng Suyền trong bài viết Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn có một số ý kiến đáng chú ý Thứ nhất, ông cho rằng: “Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lí” Thứ hai, ông khẳng định “cái gốc nền tảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo” [67; 211, 214] Nhà nghiên cứu này trong bài C hủ nghĩa tâm lí trong sáng tác của Nam Cao cũng viết: “đối với Nam Cao, cái quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân thật của tư tưởng, của nội tâm nhân vật ( ), với Nam Cao sự phân tích tâm lí hầu như là điều kiện cơ bản nhất của việc thể hiện con người theo phương pháp hiện thực có chiều sâu của ông”

[67, 212] Những nhận định trong hai bài viết trên tập trung về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong sáng tác của Nam Cao Điều này cho thấy ý nghĩa hiện thực trong những tác phẩm của Nam Cao không chỉ dừng lại ở cái bề rộng, bề nổi mà còn ở chiều sâu trong đời sống tâm lí của con người

Có thể nói rằng, các bài viết về hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là rất phong phú Nhưng hầu hết đều là những bài đánh giá, phê bình riêng rẽ Cũng có một số bài

so sánh, đối chiếu nhưng chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát về khía cạnh này hoặc khía cạnh kia Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào so sánh đặc trưng bút pháp hiện thực giữa hai nhà văn một cách cụ thể, tỉ mỉ, sâu sắc và có hệ thống Các ý kiến, các bài viết riêng rẽ về một nhà văn cũng là những tư liệu hết sức quý báu và cần thiết cho chúng tôi

khi tiến hành thực hiện đề tài này

Trang 13

Tóm lại, đề tài luận văn nghiên cứu ở phương diện so sánh đối chiếu những đặc trưng bút pháp hiện thực trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, tìm và chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt một cách có hệ thống, hoàn chỉnh và sâu sắc

4 Giới hạn của đề tài

Đề tài luận văn khảo sát các đặc trưng bút pháp hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao giai đoạn 1930 - 1945 Vì vậy luận văn không nghiên cứu hai nhà văn trên một cách toàn diện mà chỉ chú trọng ở phương diện những đặc trưng của bút pháp hiện thực như nhân vật điển hình, nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, ngôn ngữ và giọng điệu trong các tác phẩm thuộc thể tài truyện ngắn Thế nên, các sáng tác thuộc loại khác như tiểu thuyết, truyện dài hoặc các tác phẩm mang khuynh hướng lãng mạn của hai nhà văn sẽ nằm ngoài phạm vi khảo sát của đề tài

Vì đặc trưng bút pháp hiện thực gắn với những sáng tạo đạt đến trình độ nghệ thuật cao nên luận văn chỉ khảo sát ở mỗi nhà văn không phải toàn bộ truyện ngắn trong sự nghiệp văn chương của họ mà chỉ chủ yếu ở những truyện tiêu biểu có giá trị nghệ thuật, đại diện cho mỗi nhà văn và được các nhà nghiên cứu đánh giá cao

Luận văn khảo sát tập trung các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan trong

Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, tập 2, NXB Văn học, năm 2006 bao gồm 66 truyện và 48 truyện ngắn của nhà văn Nam Cao in trong quyển Truyện ngắn Nam Cao, NXB Văn học,

năm 2009 Đây là những truyện ngắn tiêu biểu được chọn lọc của hai nhà văn mà người viết cho rằng phù hợp với mục đích khảo sát của đề tài Tất nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, phân tích, tổng hợp, người viết sẽ có sự bổ sung thêm hoặc bớt số lượng tác phẩm theo mục đích và sẽ có ghi chú rõ trong luận văn

Để giải quyết phần cơ sở lí luận, luận văn cũng sẽ đề cập đến những khái niệm: chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực phê phán, bút pháp hiện thực và khái niệm truyện ngắn Những khái niệm mang tính lí thuyết này sẽ là cơ sở giúp cho phần phân tích, lí giải được rõ ràng hơn, thuyết phục hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp hệ thống

Hệ thống là một tập hợp có nhiều thành tố liên hệ chặt chẽ với nhau Qua chỉnh thể

sẽ hiểu rõ thành tố và ngược lại Qua hệ thống sẽ hiểu được cái riêng và ngược lại Khi nghiên cứu, đặt đối tượng vào hệ thống sẽ tránh được cách nhìn chủ quan và phiến diện

Trang 14

Vậy nên khi nghiên cứu về bút pháp hiện thực được thể hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, chúng tôi nhận thấy sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp

hệ thống Phương pháp hệ thống sẽ giúp luận văn có cái nhìn toàn diện, khái quát, sâu sắc khi phân tích, đánh giá những đặc sắc trong bút pháp xây dựng truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực phê phán của hai nhà văn Bút pháp mang tính đa dạng và phong phú nhưng nó cũng thống nhất với nhau Khi phân tích sự đa dạng đó, bằng phương pháp hệ thống, chúng tôi sẽ chú ý tìm ra sự thống nhất ấy

Như ở phần giới hạn của đề tài đã nêu, đặc trưng bút pháp hiện thực luôn gắn với những sáng tác đạt đến trình độ nghệ thuật cao nên luận văn xác lập một hệ thống các tác phẩm tiêu biểu, đạt được trình độ nghệ thuật cao để khảo sát, phân tích và đưa ra nhận định Bên cạnh đó, hệ thống các tác phẩm được xác lập này cũng chỉ nằm trong phạm vi là các truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực phê phán Khi soi chiếu, khảo sát trong hệ thống này, những đặc trưng độc đáo, mang dấu ấn cá nhân của nhà văn cũng sẽ được thể hiện một cách rõ ràng, thuyết phục

5 2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Việc so sánh đối chiếu ngoài mục đích để thấy cái riêng, khác biệt giữa hai bút pháp hiện thực Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, còn để làm rõ những nét tương đồng trong việc xây dựng tác phẩm theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Nếu cái riêng cho thấy sự độc đáo mang dấu ấn cá nhân của mỗi nhà văn thì những nét tương đồng sẽ khẳng định được những đặc điểm chung có của các truyện ngắn hiện thực phê phán thời kì 1930 - 1945 Sự khác nhau thể hiện cái đa dạng, phong phú trong bút pháp nghệ thuật Sự giống nhau sẽ thể hiện cái chung được tiếp nối bổ sung và phát triển qua các thế hệ nhà văn theo chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn 1930 - 1945

5 3 Phương pháp thống kê

Để bổ trợ cho việc phân tích và đưa ra những nhận xét chính xác về đặc trưng bút pháp hiện thực của mỗi nhà văn, bên cạnh phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh đối chiếu, luận văn còn vận dụng thêm phương pháp thống kê Bằng những con số, phương pháp thống kê sẽ giúp cho việc so sánh đối chiếu chính xác, ngắn gọn và thuyết phục hơn

5 4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Dựa trên những tài liệu lí thuyết đã thu thập được luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ vấn đề và xâu chuỗi vấn đề để tạo ra một hệ thống quan điểm Thao tác phân tích giúp ta đi sâu vào từng vấn đề, mổ xẻ để tìm ra nét tương đồng hoặc dị

Trang 15

biệt Phân tích giúp ta nhận rõ và nắm vững bản chất của vấn đề trong từng phương diện Trên cơ sở đã phân tích, ta lại tổng hợp chúng để tạo ra một hệ thống và nhận thấy mối quan

hệ biện chứng giữa chúng với nhau Từ đó, ta sẽ hiểu vấn đề một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn

Các phương pháp nêu trên được vận dụng phối hợp với nhau để việc khảo sát đặc trưng bút pháp hiện thực trong sáng tác của hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đạt hiệu quả cao nhất

6 Đóng góp của đề tài

Đóng góp quan trọng nhất của đề tài là từ việc so sánh đối chiếu những nét tương đồng và dị biệt trong đặc trưng bút pháp hiện thực giữa hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, nhằm khám phá sâu hơn, khẳng định rõ hơn tài năng nghệ thuật của hai nhà văn trong địa hạt truyện ngắn hiện thực Những tương đồng và dị biệt trong bút pháp xây dựng tác phẩm hiện thực của hai nhà văn sẽ cho thấy được sự đa dạng, sự tiếp nối, bổ sung về phương diện nghệ thuật của dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 Tất nhiên hai nhà văn này không phải là tất cả bức tranh văn học hiện thực giai đoạn 1930 –

1945 với đầy đủ sự phong phú đa dạng của nó nhưng qua bút lực đầy tài năng, qua sự nghiệp văn chương của họ, qua các truyện ngắn hiện thực có giá trị của họ, có thể xem họ là những cây bút xuất sắc nhất đã tạo nên những đường nét cơ bản nhất cho diện mạo văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Khi nghiên cứu sâu vào những đặc trưng độc đáo trong nghệ thuật xây dựng các truyện ngắn hiện thực của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, chúng tôi nghĩ luận văn sẽ có đóng góp nhất định vào việc khẳng định một cách cụ thể và có sức thuyết phục về thành tựu của dòng văn học hiện thực phê phán trong lịch sử văn học hiện đại nước nhà

Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hai tác giả có nhiều tác phẩm được học ở trường phổ thông, Cao đẳng và Đại học Do vậy, nghiên cứu đặc trưng bút pháp hiện thực trong các truyện ngắn của hai nhà văn một cách sâu sắc có hệ thống, luận văn hi vọng sẽ có những đóng góp nhất định vào việc khẳng định những thành tựu, những nét nổi bật độc đáo của hai nhà văn về phương diện nghệ thuật Từ đó cũng góp phần bổ ích cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập văn học hiện thực phê phán ở các trường học nói chung Bởi từ trước đến nay, khi giảng dạy và học tập chúng ta thường đi sâu vào nội dung nhiều hơn so với nghệ thuật Nghiên cứu về đặc trưng bút pháp xây dựng các truyện ngắn hiện thực theo hệ thống

Trang 16

sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích khi giảng dạy và học tập về phương diện phong cách nghệ thuật, đặc biệt ở hai tác gia Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có ba chương chính như sau:

Chương I: Vị trí của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong dòng truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Chương II: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Chương III: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

Trang 17

C HƯƠNG 1: VỊ TRÍ NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO

TRONG DÒNG RUYỆN NGẮN 1930 - 1945

1.1 Thời đại

Khi bàn về phong cách của một nhà văn, cũng như sự nghiệp sáng tác của họ thì có một yếu tố không thể không nhắc tới Đó là yếu tố thời đại Có thể nói, thời đại là yếu tố có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ tới con người Con người ấy, nhà văn ấy lựa chọn phong cách như thế nào cũng do phần nhiều sự tác động của thời đại mà họ đang sống, cái hiện thực mà họ đang trải qua Trong tác phẩm của mình, nhà văn luôn có một hệ thống nhân vật, những chuỗi tình huống, những hình ảnh biểu tượng mà với đời sống xã hội hằng ngày, chúng chính là những tấm gương phản chiếu Nói cách khác, yếu tố thời đại góp phần nhiều trong việc định hình phong cách nghệ thuật của nhà văn Vấn đề này có mối liên quan chặt chẽ với chức năng nhận thức của văn học Một nhà văn độc đáo là một nhà văn mà những tác phẩm của họ giúp người đọc biết thêm, có thêm tri thức và những tri thức ấy là những hiểu biết về hiện thực đời sống Văn học nghệ thuật là tấm gương phản chiếu đời sống hiện thực Một nhà văn sẽ lập tức mờ nhạt khi tác phẩm của anh ấy không là hình dung của hiện thực đời sống Có thể nói, một tác phẩm văn học có sức sống vững bền theo thời gian hay không là do cái nó phản ánh Một nhà văn thành công là một nhà văn phải biết tái hiện, khắc họa lại thời đại mà mình đang sống trong những tác phẩm của họ Bởi lẽ, một nhà văn không phải là một anh thư ký chỉ biết cặm cụi ghi chép và mô tả lại đời sống mà nhà văn phải là nhà nghiên cứu, nghiền ngẫm về đời sống xã hội và con người Tác phẩm văn học thể hiện kết quả của quá trình quan sát, trăn trở, lựa chọn và thể hiện về những vấn đề xã hội trong thời đại mà nhà văn đang sống Tài năng càng lớn, độ suy nghĩ càng sâu thì vấn đề nhà văn phản ánh trong tác phẩm sẽ trở thành vấn đề cơ bản của thời đại, đúng với bản chất

xã hội

Nhận thức đúng đắn vai trò của thời đại trong các sáng tác của nhà văn để có thể hiểu

rõ, sâu sắc hơn tại sao nhà văn lại lựa chọn phong cách này mà không là phong cách kia, đồng thời nắm được những yếu tố góp phần định hình phong cách của nhà văn Trở lại với Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, ta thấy rõ ràng thời đại có tác động mạnh và có sức ảnh hưởng lớn trong việc định hình phong cách của hai nhà văn Khi xét về thời gian xuất hiện

Trang 18

và phát triển sự nghiệp trên văn đàn, Nguyễn Công Hoan là lớp trước, Nam Cao là lớp sau

vì vậy việc giới hạn mốc thời gian khảo sát trong giai đoạn 1930 - 1945 đã tạo những thuận lợi nhất định cho người viết khi tìm hiểu về thời đại mà hai nhà văn đã sống

Dân gian có câu: “Thời thế tạo anh hùng” Vậy “thời thế” mà Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đã sống ở giai đoạn 1930 - 1945 có những điểm nổi bật nào đáng lưu ý? Thời kỳ

1930 - 1945 là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức sâu sắc Đến thời kỳ này, thực dân Pháp ngày càng phơi trần bộ mặt thâm hiểm và tàn bạo của tên thực dân đi cướp nước Phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng Châu Á - Thái Bình Dương

Từ 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào công nhân và các phong trào yêu nước ngày càng dâng cao Thực dân Pháp đã dùng vũ lực và chính sách chuyên chế về chính trị để dập tắt phong trào yêu nước Những cuộc bắt bớ, đàn áp, những

vụ thảm sát đẫm máu của bọn thực dân ngày càng tăng cao Có thể kể ra như cuộc đàn áp cực kỳ dã man đối với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc khủng bố trắng có quy mô toàn quốc đầu những năm 30 với 1094 án chính trị, trong đó có 164 bản tử hình mà 88 bản đã thi hành, 114 khổ sai chung thân, 420 người bị đày biệt xứ Tiếp đến là cuộc khủng bố trắng thứ hai đã diễn ra sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại vào tháng 11 năm 1940 Trong cuộc khủng bố này, Pháp đã huy động không quân, lục quân với 20 máy bay ném 263 quả bom phá, 42 bom lửa đốt cháy nhiều làng mạc để đàn áp Tuy bị dìm trong máu lửa nhưng tinh thần của đấu tranh vô cùng dũng cảm của nhân dân ta vẫn không hề bị dập tắt Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng ra sức bóc lột về kinh tế một cách thô bạo Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế độc quyền vơ vét biến Việt Nam trở thành một thuộc địa cung cấp nguồn nhân công rẻ mạt, đồng thời là nơi cung cấp nguồn nhiên liệu béo bở cho chính quốc Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp và phát xít Nhật bắt tay nhau vơ vét đến tận cùng tài nguyên của Việt Nam để phục vụ cho chiến tranh

Đây là thời đại có những sự kiện biến động quan trọng đáng lưu tâm Thời kì 1930 -

1945 là khoảng thời gian mà mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam khá nặng nề và sâu sắc Về mặt chính trị thì đây là giai đoạn thực dân Pháp ra sức tăng cường bóc lột nhằm bù đắp vào những thiệt hại ghê gớm sau thế chiến thứ nhất Người dân lao động Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Một mặt họ phải nai lưng làm bán sống bán chết, vắt kiệt sức để có cái ăn, cái mặc; mặt khác, họ phải gồng mình để gánh đủ các thứ thuế có tên và không tên, rồi phải đối mặt với lũ lụt, hạn hán và nạn đói Đối nghịch với cảnh bị bóc lột đến tận xương tủy, bị đẩy vào cảnh bần cùng hóa và lưu

Trang 19

manh hóa của người dân lao động là sự giàu có một cách trâng tráo của quan lại Pháp và tư sản mại bản Sự đối nghịch này ngày càng làm phân cực rõ nét hơn sự đối lập giàu và nghèo trong xã hội đương thời Người dân lao động nghèo càng bị bóc lột tận xương tủy thì tư sản quan lại càng giàu có, càng ăn chơi hưởng lạc Xã hội thực dân phong kiến ở nông thôn, thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt đang sưng tấy lên ngày càng trầm trọng và khó

có thể che dấu được Con người sống vì đồng tiền, sẵn sàng làm giàu trên mồ hôi, xương máu của đồng loại Họ sẵn sàng chà đạp lên luân lí, đạo đức để làm giàu Người bóc lột người Thuần phong mỹ tục, những nét đẹp văn hóa ngàn đời của cha ông đã bị giấy bạc làm mờ đi Thanh niên bị ru ngủ bởi những phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung”, sống xa hoa, thực dụng, trụy lạc, ăn chơi sa đọa, xa rời thuần phong mỹ tục của dân tộc và chẳng màng đến nỗi đau nô lệ, nỗi đau mất nước của dân tộc Thực dân Pháp không chỉ thực hiện chính sách đàn áp về quân sự, chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế mà còn đầu độc về văn hóa Đời sống người dân ở thành thị cũng như nông thôn đều rơi vào sự xáo trộn đến bế tắc Rõ ràng, thời đại mà Nguyễn Công Hoan và Nam Cao sống là thời đại của một xã hội rối ren, phức tạp, đầy biến động và con người sống trong xã hội ấy cũng ngột ngạt đến khó thở

Tình hình xã hội là vậy Tình hình văn học cũng có những diễn biến mới Hiển nhiên, một khuynh hướng văn học bao giờ cũng xuất hiện, hình thành và phát triển trên cơ sở những tiền đề xã hội nhất định Và những tiền đề xã hội nêu trên đã làm xuất hiện trên văn đàn văn học công khai một dòng văn học hiện thực phê phán Giai đoạn 1930 - 1945 là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học hiện thực phê phán Hiểu rõ bản chất của dòng văn học này ta sẽ thấy được sự đóng góp quan trọng của nó trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc lúc bấy giờ Chủ nghĩa hiện thực là khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ không tìm đến những thế giới xa lạ mà tìm ngay đến những đối tượng quen thuộc phổ biến trong đời sống hằng ngày, thậm chí là ngay cả ở những mảnh đời tầm thường nhàm chán Ở khuynh hướng sáng tác này, đối với người sáng tác, mục đích sáng tác của họ là để phát hiện cái bản chất và quy luật khách quan của đời sống, họ muốn làm khoa học trong văn chương và đặc biệt hứng thú với việc nắm bắt từng chi tiết chính xác của nó Họ đã bỏ ra nhiều công phu cho tính chân thực này Sự chân thực của chi tiết là một khía cạnh quan trọng trong chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực phê phán phát triển trên nền của chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực phê phán không phụ thuộc ý thức hệ tư sản, mà thiên

về phê phán và phủ định hiện thực xã hội tư sản thực dân phong kiến; ca ngợi, khẳng định

Trang 20

những lực lượng tiến bộ trong xã hội, những phẩm chất tốt đẹp của người lao động nhưng nhìn họ như những nạn nhân, bất lực, bi quan về lối thoát của xã hội Các nhà văn hiện thực phê phán quan niệm được “con người xã hội” Có nghĩa là khi có được tư duy lịch sử - cụ thể họ sẽ đặt con người trong hoàn cảnh xã hội cụ thể rồi triển khai sự phát triển tính cách của nó theo sự diễn biến của hoàn cảnh đó Nếu hình tượng nhân vật chủ nghĩa cổ điển nặng

về cái chung mà nhẹ về cái riêng hay chủ nghĩa lãng mạn thì lại nhấn mạnh cái riêng đến độ phi thường ngoại lệ nhưng lại nhẹ về mặt tiêu biểu khái quát thì tính cách điển hình trong chủ nghĩa hiện thực là sự thống nhất hài hòa cao độ giữa tính riêng sắc nét và tính chung có

ý nghĩa khái quát cao, là những nhân vật hoàn toàn xa lạ song qua họ ta lại thấy được “cái quen” rất giống mình và mọi người trong cuộc sống

Với nguyên tắc lịch sử cụ thể, với quan niệm “con người xã hội”, chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng được những hoàn cảnh điển hình Đó là những hoàn cảnh của nhân vật được tái hiện trong thẩm mỹ hiện thực, phản ánh được bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong những tình thế xã hội với một quan niệm giai cấp nhất định Cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu khái quát của hoàn cảnh điển hình phải thông qua tính chất cụ thể riêng biệt của nó Cái hiện lên trước mắt người đọc chính là những hoàn cảnh riêng biệt

cụ thể đó, người đọc cảm thấy được những vấn đề xã hội rộng lớn Khi đã xây dựng những hoàn cảnh điển hình như vậy thì tính cách chính là con đẻ của hoàn cảnh, được giải thích bởi hoàn cảnh Chính vì thế mà những tính cách nhân vật trong chủ nghĩa hiện thực cho dù

có phức tạp đa tầng đến đâu nhưng từ hoàn cảnh có thể giải thích được Là con đẻ của hoàn cảnh điển hình, tính cách điển hình trở nên rất phong phú và đa dạng Các tác phẩm thường được thể hiện bởi các thể loại phù hợp như tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn Ở phạm vi nghiên cứu của đề tài, truyện ngắn là thể loại mà chúng tôi quan tâm khảo sát ở hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Vậy nên, việc giới thuyết đôi nét về truyện ngắn nói chung và vị trí của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao trong địa hạt truyện ngắn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 là điều vô cùng cần thiết

1.2 Vị trí của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong dòng truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Truyện ngắn là một tác phẩm tư sự cỡ nhỏ Nội dung của nó bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống nhưng độc đáo ở chỗ dung lượng thể hiện chỉ trong một phạm vi hạn hẹp Truyện ngắn hiện đại thể hiện một lối tư duy hoàn toàn mới, một cách nhìn cuộc

Trang 21

đời, đánh giá con người, một cách nắm bắt và nhận định đời sống rất riêng Nếu tiểu thuyết với dung lượng rộng lớn, chiếm lĩnh đời sống và thể hiện đời sống trong một phạm vi trọn vẹn, toàn bộ thì truyện ngắn chỉ nhằm mục đích hướng tới và khắc họa một hiện tượng, phát hiện và khám phá không phải toàn bộ hệ nhân sinh rộng lớn mà đi sâu vào một lát cắt của đời sống tâm hồn con người Chính vì thế mà cốt truyện của truyện ngắn thường chỉ diễn ra trong một thời gian hạn định, trong một không gian hạn chế Để thể hiện được một cốt truyện như thế, nhà văn phải xây dựng được một hệ thống nhân vật, tình tiết và ngôn ngữ đặc biệt hàm súc có chiều sâu Bút pháp tự sự của truyện ngắn là bút pháp chấm phá Qua các chi tiết đầy ẩn ý, qua lối hành văn cô đọng của mình, nhà văn phải tạo được cho tác phẩm một chiều sâu chưa nói hết, mà muốn hiểu được tác phẩm, chiếm lĩnh được nó một cách trọn vẹn thì người đọc phải trăn trở, suy tư Do ngắn, do nội dung gần gũi với đời sống nên truyện ngắn là thể loại được tiếp nhận nhanh chóng và có sức ảnh hưởng kịp thời trong đời sống

Trong nền văn học Việt Nam, truyện ngắn hiện đại là thể loại xuất hiện tương đối

muộn so với các thể loại khác Năm 1887, truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng

Quản là một hiện tượng mới và hết sức bất ngờ Tác phẩm này khởi đầu cho một thể loại

văn tự sự mới, xa rời lối viết cổ điển trước đây Theo Phan Cự Đệ trong “Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử - Thi pháp - Chân dung” thì năm 1900 được xem là cái mốc của truyện ngắn hiện đại vì từ năm 1901 đến 1910 đã xuất hiện một loạt truyện ngắn trên Nông Cổ mín đàm

và Nam kì địa phận [17, 249] Cũng theo nhà nghiên cứu này, truyện ngắn Việt Nam hiện đại những thập niên đầu thế kỷ XX “là sự dung hòa giữa văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông, vừa mang thi pháp của truyện ngắn hiện đại, vừa có cái lạc quan khỏe khoắn của văn học dân gian lại vừa có vẻ đẹp trí tuệ của tư duy hiện đại” [17, 250] Rõ ràng, thể loại truyện ngắn là một làn gió mới tươi mát của văn đàn Việt Nam trong một hoàn cảnh lịch sử đầy biến động Có thể tạm chia truyện ngắn hiện đại Việt Nam theo bốn khuynh hướng chính sau:

- Khuynh hướng đạo lí

- Khuynh hướng yêu nước và cách mạng

- Khuynh hướng phê phán hiện thực

- Khuynh hướng lãng mạn thoát li

Do đối tượng khảo sát của đề tài là bút pháp hiện thực của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nên người viết chỉ xoáy vào trọng tâm khuynh hướng phê phán hiện

Trang 22

thực Quá trình vận động và phát triển của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trải qua 4 giai đoạn:

• Giai đoạn 1: Đầu thế kỷ XX đến những năm 30: với sự góp mặt của Hồ Biểu Chánh, một ngòi bút mang phong vị hương đồng gió nội Ông đã Việt hóa các tiểu thuyết, các tác phẩm phương Tây Về truyện ngắn thì có sự góp mặt của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Ngọc

Ở giai đoạn này thì hầu hết các tác phẩm chưa thoát khỏi lối văn biền ngẫu và cách thuyết lí đạo đức trực tiếp của tác giả trong tác phẩm

• Giai đoạn 2: từ năm 1930 đến năm 1935: Tác giả tiêu biểu là Nguyễn Công Hoan,

Tam Lang, Tú Mỡ và đã xuất hiện ngòi bút Vũ Trọng Phụng với phóng sự Cạm bẫy người

(1933) và Kỹ nghệ lấy Tây (1934) Ở giai đoạn này nổ ra cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh Có thể nói, các sáng tác ở giai đoạn này có tầm bao quát

và khám phá hiện thực chưa cao, chưa đặt ra những vấn đề có tính tư tưởng lớn và nền tảng chủ nghĩa nhân văn chưa vững Thế giới nhân vật là các tầng lớp dân nghèo thành thị Các tác phẩm đều bày tỏ thái độ phê phán sự bất công đối với họ và tỏ lòng thương xót họ nhưng chỉ mới nhìn nhận họ như những con người hèn kém, bất lực và những con người dễ bị lưu manh hóa

• Giai đoạn 3: 1936 - 1939: Đây là chặng văn học hiện thực phê phán phát triển phong phú nhất, có những thành tựu tiêu biểu nhất, đóng góp được nhiều nhân vật điển hình nhất Tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng Ở giai đoạn này, hiện thực đời sống được các tác giả phát hiện và bao quát ở chiều rộng và cả chiều sâu Các tác phẩm đã khám phá được những mâu thuẫn giai cấp quyết liệt trong xã hội

và đặt các nhân vật vào trong những mâu thuẫn ấy Đồng thời cũng mang tính chiến đấu cao

• Giai đoạn 4: 1940 - 1945: Vị chủ soái văn đàn hiện thực phê phán giai đoạn này là Nam Cao - cây bút mạnh mẽ và giàu tài năng Với Nam Cao, truyện ngắn đã đạt tới mức độ hoàn thiện của nó Đề tài chủ yếu trong giai đoạn này là truyện phong tục, ít đề tài rộng lớn

có tính chính trị xã hội Về mặt chủ đề tư tưởng thì có những chiều sâu mới: tư tưởng sâu sắc về thân phận con người ở hầu hết tác giả, tư tưởng về vấn đề cải tạo xã hội và tương lai đất nước Ngoài Nam Cao, còn có Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân

Từ 4 giai đoạn đã nói ở trên, có thể thấy rằng ba mươi năm đầu của thế kỷ XX là thời

kỳ thai nghén của truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực phê phán Cái hiện thực đầu tiên được phản ánh trong các truyện ngắn đầu thế kỷ vẫn là cái mâu thuẫn thâm căn cố đế

Trang 23

ngàn đời giữa nông dân với địa chủ, quan lại phong kiến Ở đề tài này, truyện ngắn gây xôn

xao trong lòng người đọc, tạo một ấn tượng mạnh là truyện ngắn Sống chết mặc bay của

Phạm Duy Tốn (viết năm 1918) Truyện có kết cấu độc đáo bằng một tình huống đối lập, bằng những chi tiết tương phản nhau: ngoài đê trời mưa tầm tã, người dân phu phải chân lấm tay bùn, dùng mọi sức lực để chống lại thiên tai, để giữ gìn đê trong tình trạng sắp vỡ thì trong đình, đèn thắp sáng trưng, nha lại, lính tráng đi lại rộn ràng, chực hầu điếu đóm và quan phụ mẫu thì chễm chện ngồi đánh tổ tôm một cách nhàn nhã đường bệ Cao trào truyện tăng cao khi “khắp nơi, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn” thì quan phụ mẫu cũng vô cùng sung sướng hạnh phúc hả hê vì ù lớn ván bài Đó là một niềm vui phi nhân tính Niềm

vui trên sự đau khổ của đồng loại, niềm vui ấy đối nghịch với bất hạnh của dân đen Sống chết mặc bay, với bút pháp hiện thực, với các sự việc liên tiếp được kể ra một cách khách

quan lạnh lùng đã cho thấy hiện thực tăm tối chốn nông thôn với mâu thuẫn cao độ giữa bọn quan lại vô lương tâm và số phận bi đát của người nông dân đương thời Tuy là tạo ấn tượng, song tác phẩm truyện ngắn hiện thực đầu tay của Phạm Duy Tốn vẫn còn một số hạn chế Truyện ngắn hiện thực từ năm 1930 trở đi mới thật sự định hình, trưởng thành và đạt được những thành tựu đáng kể Lúc này, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã xuất hiện và cho ra mắt những tác phẩm truyện ngắn hiện thực đầu tiên

Nguyễn Công Hoan sinh năm 1930 tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên trong một gia đình quan lại phong kiến xuất thân khoa bảng và bắt đầu sa sút Ông sống trong gia đình có truyền thống Nho học, được thẩm thấu niêm luật thơ ca, thanh điệu của ngôn ngữ, có niềm say mê văn học Nguyễn Công Hoan được học chữ Nho, học quốc ngữ rồi sau đó học tiếng Pháp ở trường Bưởi và trường Sư phạm Nguyễn Công Hoan bắt đầu viết truyện từ 1920 Nhà văn có sở trường đặc biệt về truyện ngắn trào phúng theo khuynh hướng hiện thực phê phán

Xuất hiện và nhanh chóng định hình phong cách, Nguyễn Công Hoan viết với bút lực thật khỏe Số lượng tác phẩm của Nguyễn Công Hoan minh chứng bút lực của ông là rất sung sức Từ 1930 đến 1932, Nguyễn Công Hoan viết 24 truyện ngắn, trong đó có 20 truyện đăng trên mục Xã hội ba đào kí (chiếm hơn một nửa tổng số truyện ngắn đăng trên mục này) Xuất hiện với những tác phẩm truyện ngắn hiện thực phê phán có giá trị, gây ấn tượng mạnh và nhanh chóng đi vào lòng người đọc, Nguyễn Công Hoan thời kỳ này luôn được nhắc đến như một nhà văn sáng giá Thực tế, Nguyễn Công Hoan là người cắm ngọn cờ đầu

Trang 24

của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kì văn học Việt Nam đã tiếp biến một cách sáng tạo những mặt tích cực của văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông trên cơ sở là bề dày truyền thống lâu đời của dân tộc Vậy nên đây là thời kỳ mà văn học Việt Nam bước những bước rất dài và rất nhanh trên con đường hiện đại hóa Các dạng truyện ngắn cũng ngày càng tự hoàn thiện, tròn trịa hơn và đổi mới theo xu hướng thời đại để hòa nhập cùng văn học thế giới Nguyễn Công Hoan đã có những đóng góp quan trọng cho truyện ngắn hiện thực thời kỳ này khi ông liên tục cho ra mắt bạn đọc những tác phẩm có giá trị Nguyễn Công Hoan đã chọn cho mình một con đường đi đúng đắn về tư tưởng và sự thể hiện độc đáo Nguyễn Công Hoan đã phản ánh một cách chân thực và sinh động nhiều vấn đề trong xã hội đương thời Đó là một xã hội băng hoại

về đạo đức, một xã hội mà tất cả mọi giá trị đều phải lép vế sau đồng tiền, một xã hội u nhọt

và bất cứ người dân lương thiện nào sống trong xã hội ấy đều cảm thấy ngột ngạt, đau đớn

và bế tắc thì xã hội ấy đáng bị phơi bày, vạch trần, lên án và phê phán Nguyễn Công Hoan trên cái nền là bản sắc dân tộc, là truyền thống văn hóa dân tộc cùng với tư duy hiện đại, ông đã chọn chủ nghĩa hiện thực là ngọn đèn dẫn lối cho các tác phẩm của mình Kế thừa nụ cười trào phúng của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương hay chất tếu và tính phê phán trong các truyện cười dân gian, Nguyễn Công Hoan viết truyện ngắn hiện thực đậm chất hài, hóm hỉnh và rất sâu sắc Không hướng vào những đề tài xa xôi, Nguyễn Công Hoan đi thẳng vào hiện thực nước mình, xung quanh mình, thời đại mình để phơi bày, mổ

xẻ, phẩm bình và bao giờ cũng có cách thể hiện, nhìn nhận hợp với đạo lí của dân tộc Việt Nam

Những truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Công Hoan được tập hợp trong tập truyện

ngắn Kiếp hồng nhan xuất bản năm 1923 gồm khoảng mười truyện ngắn mà theo cách nói của chính ông trong Đời viết văn của tôi là: “không có nghĩa lý gì, không có mục đích nào”

[51, 523] Và dĩ nhiên nó cũng mang tính thử bút vì chưa đạt được độ chín về nghệ thuật

Từ 1930 đến 1932, khi tham gia viết cho mục Hội ba đào ký trên Annam tạp chí do Tản Đà chủ trương, Nguyễn Công Hoan đã viết được 24 truyện, trong đó có 20 truyện được đăng Lúc này, mọi sự chú ý từ bạn đọc đều hướng về Nguyễn Công Hoan - một cây bút đầy tiềm năng Tiếp sau Xã hội ba đào ký, Nguyễn Công Hoan viết đều cho các báo Nhật Tân, Tiểu thuyết thứ bảy, và Phổ thông bán nguyệt san của nhà xuất bản Tân Dân Những truyện ngắn

tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan thời kỳ này là: Răng con chó của nhà tư sản (1929), Hai thằng khốn nạn (1930), Ngựa người và người ngựa (1931), Thằng ăn cắp (1932), Cụ Chánh

Trang 25

bá mất giày (1933), Truyện ngắn hiện thực của Nguyễn Công Hoan là những câu chuyện

thẳng thắn nhìn thẳng vào hiện thực, dù đó có là một hiện thực thối nát, xấu xa đi chăng nữa

Bằng những trang viết đậm chất trào phúng, Nguyễn Công Hoan đã phơi bày mặt trái của xã hội đầy bất công, nhan nhản những truyện trái tai gai mắt, kẻ giàu thì sống phè phỡn, làm giàu một cách bất lương, vô đạo, còn người nghèo thì bị đè bẹp, bị ức hiếp và rơi vào tình trạng đói khổ cùng cực Ông tả thực xã hội, kể những chuyện có thực trong đời sống hằng ngày Qua những gì mà Nguyễn Công Hoan thể hiện trong các sáng tác, ta thấy rõ đó chính là mâu thuẫn có tính giai cấp, là sự đối đầu, đụng độ giữa giàu và nghèo Tiêu biểu

như trong truyện Răng con chó của nhà tư sản, đó rõ ràng là sự đụng độ giữa kẻ giàu và

người nghèo Và trong sự đụng độ ấy, người nghèo luôn là kẻ yếu gặp rủi ro, bất trắc, còn người giàu luôn là kẻ mạnh “À, mày đánh gẫy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng Bất quá ba chục bạc là cùng” Câu nói của tên tư sản giàu có cho thấy kẻ giàu - kẻ mạnh có thể dùng đồng tiền để tàn hại sinh mạng của một con người; đồng thời giúp ta thấy rõ cái giá trị thật rẻ rúng của người nghèo trong cái xã hội đồng tiền đó, giá trị của họ chỉ ở khoảng “ba chục bạc là cùng” Ngoài ra, ta thấy rõ hơn cái khổ của người nghèo trong xã hội đương thời: không chỉ bần cùng, nghèo khổ, đói rách mà họ còn bị xúc phạm một cách thê thảm về nhân phẩm - giá trị cao nhất của con người Họ bị chà đạp, rẻ rúng một cách đáng thương Cái mới mà Nguyễn Công Hoan mang lại cho văn đàn giai đoạn này là những câu chuyện mang tính đời thường, giản dị và sâu sắc Sâu sắc bởi đã kéo con người về với hiện thực, quan tâm hiện thực, thấy được cái đen tối của xã hội mà mình đang sống chứ không phiêu du đến những miền đất xa xôi không tưởng nào khác Nguyễn Công Hoa đã luôn nhìn thẳng vào cuộc sống, nhận thức đúng bản chất của nó để lựa chọn cách sống đúng đắn: đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác một cách quyết liệt, triệt để Đề tài, phương pháp sáng tác hiện thực phê phán là những yếu tố đầu tiên tạo nên tên tuổi Nguyễn Công Hoan

Giai đoạn từ tháng 1-1937 đến tháng 8-1939, ở thời kì Mặt trận dân chủ, thực dân Pháp buộc phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt gắt gao, các nhà văn hiện thực phê phán đều có điều kiện sáng tác tự do hơn, thoải mái hơn Vì thế ở giai đoạn này, Nguyễn Công Hoan đã viết đến 80 truyện với nhận thức sâu sắc hơn về mâu thuẫn xã hội mang tính giai cấp, với tình cảm yêu ghét sâu sắc, chính xác hơn và nhà văn đã cố gắng hướng đến những chủ đề chính trị, thời sự mang tính chiến đấu mạnh mẽ hơn Các truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn

Trang 26

Công Hoan trong thời gian này là: Thằng ăn cướp (1937), Cái nạn ô tô (1938), Gánh khoai lang (1938), Chính sách thân dân (1938) , Sáu mạng người (1938), Phành phạch (1937), Hai cái bụng (1939), Sáng, chị phu mỏ (1938), Lại chuyện con mèo (1939), Tinh thần thể dục (1938), Đồng hào có ma (1937)

Ở giai đoạn này, bút lực của Nguyễn Công Hoan mãnh liệt hơn cả trong quá trình sáng tác Ông chĩa ngòi bút vào bọn quan lại tham lam luôn che phủ bên ngoài là cái vỏ bọc

uy nghi, tôn kính nhưng bên trong đích thực là những tên ăn cướp không hơn không kém

( Thằng ăn cướp, Đồng hào có ma) Nguyễn Công Hoan đã phê phán mạnh mẽ bọn chúng -

những tên ăn cướp sành sỏi và ghê gớm hơn cả ăn cướp Bên cạnh đó, đề tài về đối lập giàu

nghèo cũng được Nguyễn Công Hoan khai thác một cách sâu sắc hơn (Phành phạch, Hai cái bụng, Lại chuyện con mèo) Một xã hội mà công bằng, công lí đều được thẩm định và

đánh giá trên cơ sở là đồng tiền thì than phận người nghèo vô cùng cay đắng Đồng tiền làm con người sống với nhau một cách lạnh lùng, đồng tiền đã bức tử những tình cảm tự nhiên của con người, đồng tiền làm lộ rõ hơn bản chất ghê tởm ở những con người làm giàu không chân chính Và đồng tiền cũng cho ta thấy đời sống cơ cực, túng quẫn của những người lao động nghèo Thời kỳ này, Nguyễn Công Hoan viết về người nghèo sâu sắc hơn Đối tượng không chỉ co cụm ở những thành phần như ăn mày, ăn cắp, gái điếm, phu xe, mà còn có nông dân, công nhân Đặc biệt, cách nhìn của Nguyễn Công Hoan về họ cũng có phần trân trọng hơn Nhìn chung, ở giai đoạn này, Nguyễn Công Hoan đã cống hiến cho người đọc, công chúng một lượng không nhỏ các truyện ngắn có giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật

Nếu ở giai đoạn trước, Nguyễn Công Hoan viết sung sức, xông xáo và quyết liệt thì đến giai đoạn 1940 - 1945 ngòi bút Nguyễn Công Hoan có phần sa sút hẳn Bởi lẽ, tình hình chính trị xã hội lúc bấy giờ rối ren và vô cùng đen tối, cách mạng bị đàn áp dã man Ở giai đoạn này, số lượng truyện ngắn có giá trị của Nguyễn Công Hoan cũng chỉ có vài truyện

tiêu biểu: Công dụng của cái miệng (1940), Người thứ ba (1940), Con ve (1941) Các

truyện này vẫn tiếp tục cái mạch chủ là hiện thực trào phúng phê phán Có thể nói lượng và chất của các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan giai đoạn này giảm hẳn so với giai đoạn trước Và đó cũng là dấu chấm kết thúc cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Hoan giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám

Nhìn chung, trong dòng chảy của truyện ngắn hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945, nhà văn Nguyễn Công Hoan là một trong những người có công đầu trong việc khơi nguồn cho dòng văn học hiện thực phê phán Nếu như “Ngô Tất Tố là người chiếm lĩnh

Trang 27

phương pháp hiện thực phê phán trong thể tiểu phẩm văn học trên báo chí Tam Lang, Vũ Trọng Phụng là những người mở đầu cho thể phóng sự trong văn học hiện thực phê phán thì Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trên lĩnh vực truyện ngắn” [16, 347 ], “là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán những năm

1930 - 1945” [17, 298] Đó là những nhận định đúng đắn khi chữ quốc ngữ còn mới mẻ, truyện ngắn hiện đại còn quá mới lạ với người đọc, khi trên văn đàn còn nhiều tranh luận, nhiều luồng ý kiến khác nhau, thì Nguyễn Công Hoan đã chọn cho mình một con đường đi độc đáo Ông đến với chủ nghĩa hiện thực, thành công trên lĩnh vực truyện ngắn nhờ những sáng tạo mới mẻ của mình Từ đề tài, tình huống, bút pháp xây dựng nhân vật và đặc biệt là ngôn ngữ, Nguyễn Công Hoan đều rất sáng tạo Đề tài tác phẩm giản dị, bình thường, gắn với đời sống hiện thực của con người Việt Nam ở thành thị cũng như ở nông thôn lúc bấy giờ Nhân vật của Nguyễn Công Hoan hiện ra cũ mà mới bởi những gì gắn với các nhân vật cũng gắn rất chặt với hình ảnh con người Việt Nam lúc bấy giờ và quen thuộc với bạn đọc, mới bởi nhà văn luôn có cái nhìn mới, cách thể hiện mới Và đặc biệt là về ngôn ngữ Có thể nói đóng góp chính của nhà văn này thiên về mặt phê phán, về việc xây dựng những hình tượng phản diện Vì thế, ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ để thực hiện mục đích phê phán Ngôn ngữ được Nguyễn Công Hoan sử dụng trong các truyện ngắn là “một ngôn ngữ phong phú sống động rất gần với đời sống, khác hẳn cái thứ ngôn ngữ sạch sẽ, kiểu cách của Tư lực văn đoàn khi đó” [16, 373] Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan tự nhiên, thoải mái, linh hoạt, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, dễ dàng tiếp nhận trong quần chúng nhân dân lúc bấy giờ Đó là tiếng nói, là hơi thở của đời sống hằng ngày Nó không hoa mỹ, “văn chương”, “đài các”; không phô diễn vẻ đẹp lung linh của ngôn từ mà nó hay bởi nó có sức mạnh phê phán Ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan luôn tiềm ẩn và chất chứa nhiều tầng nghĩa Điểm qua như

cách dùng từ trong việc đặt tên truyện Thế là mợ nó đi Tây Cái thú vị là tên truyện tưởng

chừng thông báo sự việc nhưng qua đó cũng thể hiện hàm ý phê phán, chế giễu sự bội bạc một cách phũ phàng của người phụ nữ trong truyện Cách dùng hai nghĩa luôn có một lợi thế khi nhà văn muốn gửi vào tác phẩm hàm ý phê phán của mình Cái mới lạ mà Nguyễn Công Hoan đóng góp vào làng truyện ngắn Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau mà ngôn ngữ là một điểm nổi bật Với những đóng góp đặc sắc đó (tất nhiên không phải là tất cả), Nguyễn Công Hoan đã đóng dấu tên mình vào một thời đại văn học Việt Nam, vào lòng

Trang 28

ngưỡng mộ của bạn đọc, lưu vào dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930

- 1945 những truyện ngắn thật sự có giá trị, thật sự đặc sắc

Quá trình phát triển của truyện ngắn hiện thực phê phán Việt Nam là một chặng đường dài Tùy vào mỗi thời điểm mà chặng đường phát triển ấy có những nét đậm, nhạt khác nhau Nguyễn Công Hoan là một tác giả đã ghi dấu thật đậm nét bằng những truyện ngắn hiện thực phê phán trào phúng đặc sắc Song những dấu ấn đó nổi bật nhất là từ 1930 -

1939 Bởi thời kỳ 1940 - 1945 là thời kỳ bế tắc và lạc hướng của ngòi bút Nguyễn Công Hoan Khi hoàn cảnh xã hội rối ren nhất, khi cuộc đấu tranh xã hội gay gắt ác liệt và giai cấp phong kiến lộ rõ bộ mặt thối nát phản động hơn bao giờ hết thì Nguyễn Công Hoan, với gốc rễ chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa phong kiến đã tìm về với “quá khứ”, sáng tác những tác phẩm mang tính “phục cổ” và thiếu tính chiến đấu Ở ngay thời điểm mà Nguyễn Công Hoan lạc hướng, văn học hiện thực phê phán Việt Nam tưởng chừng như chựng lại trên con đường phát triển của mình thì một cây bút mới xuất hiện: nhà văn Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1915 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống khá chật vật Đói nghèo, bệnh tật đeo đuổi và giày vò Nam Cao ngay từ những năm còn nhỏ Thi trượt Thành chung, Nam Cao theo một người cậu làm thợ may vào Sài Gòn kiếm sống Vào Sài Gòn, Nam Cao mang theo những hoài bão, dự định lớn lao Nhưng vì bệnh tật, Nam Cao trở

về quê cũ Ôn lại vốn học cũ, Nam Cao thi đậu Thành chung nhưng vì bệnh tật nên xin làm công chức không được Sau đó Nam Cao được mời dạy học ở một trường tư ở Hà Nội Cuộc sống khổ của một thầy giáo trường tư đã giúp Nam Cao hiểu sâu sắc thân phận của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong một xã hội ngột ngạt, bế tắc Sau đó, Nam Cao sống chật vật bằng nghề viết văn, làm gia sư và có khi còn lâm vào cảnh “ăn bám” vợ Năm

1943, Nam Cao gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật cùng một số nhà văn như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi Khi cơ sở văn hóa cứu quốc và phong trào cách mạng ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân Nam tiến vào vùng Nam Trung Bộ Năm 1947, ông lên Việt Bắc Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Nam Cao vừa làm biên tập cho các báo Cứu quốc Việt Bắc, Cứu quốc Trung ương, vừa làm mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền Năm 1948, Nam Cao vinh dự được gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương

Trang 29

Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu Ba, Nam Cao bị địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan ( Ninh Bình) Cái chết của Nam Cao là cái chết của người nghệ sĩ chân chính, đã dành trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác nghệ thuật

Nếu Nguyễn Công Hoan nhà văn tiêu biểu cho văn xuôi hiện thực phê phán những năm 1930 - 1939 thì Nam Cao lại là ngọn cờ đầu của văn xuôi nửa đầu những năm 40” [16, 350] “Các nhà phê bình văn học, cho đến hôm nay, đều nhất trí đánh giá Nam Cao là nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu nhất thời kỳ 1940 - 1945” [16, 350] Thật vậy, với những truyện ngắn đặc sắc của mình, Nam Cao đã tiếp tục vẽ tiếp cung đường phát triển của văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 mà sự nghiệp nhà văn Nam Cao chính là một dấu son

đỏ Tiếp bước Nguyễn Công Hoan và những nhà văn tiền bối trên văn đàn, Nam Cao tiếp tục đưa văn học hiện thực phê phán bước tiếp những bước thật vững chắc, đạt được nhiều thành tựu Cũng như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao dùng ngòi bút của mình như một vũ khí lợi hại đấu tranh với những tiêu cực trong xã hội đương thời Yếu tố giúp Nam Cao khẳng định được mình trên văn đàn trong một giai đoạn mà xã hội đang rối ren, đang u tối nhất đó

là thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, nhìn vào những u nhọt của xã hội Truyện ngắn của Nam Cao không chạy trốn hiện thực, không quay về với “quá khứ”, không “phục cổ” mà phơi bày hết, lột trần hết cái đời sống thực đang ngột ngạt, oi bức đến khó thở Truyện ngắn của Nam Cao cũng mang những tiếng cười nhưng thâm trầm, kín đáo và đau hơn so với những tiếng cười rôm rả trong các truyện ngắn hiện thực trào phúng của Nguyễn Công Hoan Trong những sáng tác của ông, ta bắt gặp rất nhiều bi kịch cuộc đời, đa dạng và nhiều chiều Những sáng tác đầu tay của Nam Cao, gồm những thể loại: thơ, truyện, kịch, có tác phẩm đăng báo từ năm 1936 Khi Nguyễn Công Hoan đang nổi danh với hàng loạt tác phẩm hiện thực có giá trị thì những sáng tác của Nam Cao ở thời kỳ này lại chịu ảnh hưởng của khuynh hướng văn học lãng mạn đương thời Đến với văn chương, đầu tiên, Nam Cao theo

xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật” Ông làm thơ với các bút danh là Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê Những bài thơ của ông trong thời kì này đều xoay quanh những chủ

đề quen thuộc của văn học lãng mạn và thoát li thực tế Nhưng không lâu sau đó, Nam Cao thoát khỏi thế giới mộng ảo, phi thực tế ấy và quay về với hiện thực cuộc sống với nỗi lo cơm áo, bệnh tật và nhận ra rằng “nghệ thuật không thể là ánh trăng lừa dối” Một nhà văn

có ích, đúng nghĩa là một nhà văn biết mở rộng lòng mình “đón lấy tất cả những vang động của đời” Một tác phẩm có ích, đúng nghĩa là một tác phẩm được sinh ra từ trong đời sống

Trang 30

và sinh ra để phục vụ đời sống Văn phải có tính thực Từ quan điểm tư tưởng tiến bộ đó, Nam Cao đến với con đường văn học hiện thực và sự nghiệp văn học của ông thật sự bắt

đầu với tác phẩm Chí Phèo (1941) Với Chí Phèo, một truyện ngắn đặc sắc viết về bi kịch

tha hóa của người nông dân đương thời, Nam Cao đã tạo được tên tuổi trên văn đàn văn học hiện thực bấy giờ “Chí Phèo” là cái mốc đầu tiên trên con đường đi theo chủ nghĩa hiện thực của Nam cao Từ đây, tên tuổi của Nam Cao mới được sánh cùng Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng Cũng từ đấy, văn học Việt Nam hiện đại có một cây bút truyện ngắn Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực chính là con đường nghệ thuật mà nhà văn lựa chọn và mãi mãi được lưu danh

Cái mới của Nam Cao chính là nhà văn đã đưa ra được một tuyên ngôn nghệ thuật cho những người đang cầm bút và cho chính bản thân ông Đó là phải ý thức được nghệ thuật có nhiệm vụ phản ánh đời sống xã hội và con người một cách chân thật Nghệ thuật là sáng tạo nhưng không giả tạo Nam Cao phủ nhận giá trị của thứ văn chương mang tính ảo mộng, phi thực tế, chỉ biết tìm vẻ đẹp ở nơi xa xăm nào đó Theo ông, văn chương phải đi vào, nói đến thực tế đời sống, cái đang diễn ra hằng ngày Nam Cao khẳng định: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ kiếp lầm than” Đó chính là tuyên ngôn nghệ thuật, là quan điểm sáng tác của nhà văn Với quan điểm văn chương phải là cuộc đời chân thực, Nam Cao sáng tác hàng loạt truyện ngắn có giá trị hiện thực, Chí Phèo là truyện ngắn khởi

đầu Đầu tiên, tên truyện là Cái lò gạch cũ sau là Đôi lứa xứng đôi và cuối cùng là Chí Phèo Truyện đã đi vào khai thác chủ đề bi kịch của người nông dân đi vào con đường tha hóa trong xã hội thực dân phong kiến Người nông dân trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai đã bị cái xã hội thực dân phong kiến đầy rẫy những cái xấu xa, những bất công đẩy vào con đường bần cùng hóa rồi lưu manh hóa Tên Bá Kiến vì ghen tuông đã đẩy Chí Phèo, anh nông dân chất phác, hiền lành như củ khoai vào tù, và rồi cái nhà tù thực dân đã “giáo huấn” anh Chí thành một tên lưu manh chính hiệu và cuối cùng là kết thúc cuộc đời của anh Chí nông dân lương thiện trên vũng máu đỏ tươi Nam Cao đã phê phán kịch liệt cái xã hội thực dân phong kiến lúc ấy Qua tác phẩm, Nam Cao không lên án con người tha hóa mà ông nhằm lên án hoàn cảnh xã hội với quan niệm muốn con người thay đổi thì bắt buộc phải thay đổi hoàn cảnh xã hội Hoàn cảnh xã hội tốt hơn thì con người có thể sống tốt hơn, hoàn thiện hơn Chí Phèo chính là một cách nhìn đầy nhân đạo đối với số phận của con người trong xã hội đương thời Mặt khác, “Chí Phèo” không chỉ là vấn đề con người tha hóa trong

Trang 31

xã hội cũ mà còn cơ bản là vấn đề bi kịch con người muốn làm người mà không được làm người, muốn lương thiện mà không được lương thiện Cuộc quyết đấu của hai con người trong một Chí Phèo luôn gay gắt, căng thẳng và quyết liệt Bên trong con người quỷ dữ là tiềm ẩn con người lương thiện và ở bước cuối cuộc đấu tranh ấy, con người lương thiện đã kết liễu con người quỷ dữ bằng sức mạnh khát vọng hoàn lương bùng lên lần cuối để rồi

được lưu lại với đời Vì thế, Chí Phèo bước qua địa hạt của kiểu truyện hiện thực cốt mô tả

thực trạng xã hội mà đi và hiện thực tâm lí, hiện thực văn hóa Bi kịch Chí Phèo do vậy mà

trở nên phổ quát và Chí Phèo không chỉ mang tính dân tộc sâu sắc mà còn có tính nhân loại

Trước Cách mạng tháng Tám, tác phẩm của Nam Cao chủ yếu viết về hai đề tài: người trí thức tiểu tư sản nghèo và người nông dân Viết về đề tài nông dân, nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao không phải chạm vào một đề tài hoàn toàn mới bởi đây là “mảnh đất” vốn đã được nhiều nhà văn “cày xới” trước đó Nhưng cái mới của Nam Cao ở đây là cách ông khai thác hoàn toàn sáng tạo một đề tài đã cũ Cũng viết về người nông dân, cũng phơi bày hiện trạng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám, cũng viết

về cái đói, cái khổ, song Nam Cao đã độc đáo hơn khi ông không miêu tả một cách bằng phẳng trên diện rộng, trên bề mặt của hiện thực Ông xới tung tất cả các mảnh đời, ông đi sâu vào từng tâm trạng, khai thác triệt để diễn biến tâm lí của nhân vật trong từng khoảnh khắc Một Chí Phèo bị hoàn cảnh đẩy đưa, bị xã hội khắc nghiệt đưa vào con đường lưu manh hóa rồi tha hóa, để cuối cùng vì khát khao trở thành người lương thiện, Chí đã phải tự vẫn Số phận người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao là những kiếp người bị dày

vò bởi cái nghèo, cái đói Vì nghèo đói mà khi có được cái ăn, họ ăn mà quên cả cách ăn của con người, họ ăn như con vật rồi ngã lăn ra chết Nam Cao không dừng ở phần miêu tả, kể người kể việc mà ông len lỏi vào từng góc khuất nội tâm, khắc họa được tâm trạng của nhân vật Và qua những góc sâu tâm hồn ấy, ta nhận ra vẻ đẹp lung linh của nhân phẩm con người Họ không phải là những người nông dân đáng khinh, thấp hèn mà họ là những con người lương thiện, lúc nào và hơn bao giờ hết, họ luôn ý thức về giá trị nhân phẩm, sẵn sàng chấp nhận cái chết lúc bế tắc để bảo toàn giá trị nhân phẩm cao đẹp ấy Nam Cao luôn thể hiện tình yêu thương, lòng nhân đạo của mình trong từng từ ngữ dành cho nhân vật Có thể

kể hàng loạt truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của ông: Nghèo (1937), Chí Phèo (1941), Trẻ con không được ăn thịt chó (1942), Lão Hạc (1942), Một bữa no (1943), Lang rận (1943)

Mỗi nhân vật một số phận, không nhân vật nào trùng lấp nhân vật nào, song tất cả đều cho thấy được những kiếp người lầm than trong xã hội thực dân phong kiến Họ bị cái đói trói

Trang 32

chặt, bủa vây, một ngày sống là một ngày vật lộn với cái đói Nam Cao không chỉ miêu tả

mà còn bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc đến những nhân vật đáng thương của mình Những

số phận đáng thương, những cái chết thê thảm, những con người túng quẫn, bế tắc tất cả đều mang ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc Bởi họ càng vùng vẫy, càng muốn vươn lên, càng muốn thoát khỏi thì càng bị xã hội thực dân phong kiến tàn bạo ấy nhấn chìm xuống sâu hơn

Nhưng đâu riêng gì những bi kịch của người nông dân, Nam Cao còn khám phá và phản ánh đời sống của những con người thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản vì sinh ra ở nông thôn, Nam Cao am hiểu và tường tận cuộc đời bi đát, cùng cực của người nông dân, đồng thời, cuộc đời của ông cũng đã từng trải qua cuộc sống của một ông giáo khổ trường tư, nếm mùi của một nhà văn nghèo Vì thế, bằng chính những trải nghiệm bản thân, bằng sự quan sát tinh tế, ông đã ghi lại trung thực và chính xác cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản trong tác phẩm của mình Đó là những con người bị dằn vặt khi rơi vào bi kịch vỡ mộng Họ

là những con người biết mơ ước và có những khát vọng đẹp đẽ, song cuộc đời nhỏ nhen, tù túng đã “tầm thường hóa con người và chặt cánh những ước mơ”, “tiếp xúc với thực tế khắc nghiệt, trải qua những cuộc vật lộn kiếm sống, con người trí thức tiểu tư sản bị quăng quật nhừ tử cả thể xác lẫn tâm hồn” [16, 483] Có thể nói, “với một bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, tỉnh táo, với sở trường khám phá và phân tích tâm lí sắc sảo, bức tranh đời sống của giới trí thức tiểu tư sản hiện lên một cách chân thực, sống động trong những tấn bi kịch vỡ mộng” [17, 531] Từ bi kịch vỡ mộng, người trí thức tiểu tư sản lại rơi vào bi kịch “chết mòn” tinh thần, kéo lê cuộc sống thảm hại của họ qua những chuỗi ngày vô vị, nhàm chán

Có thể nói, nhân vật trí thức tiểu tư sản trong những trang viết của Nam Cao khi rơi vào bi kịch này thì rõ ràng “sống cũng như chết” Họ đáng thương bởi họ có nhiệt huyết với đời, song cuộc đời lại ngoảnh mặt khiến họ bế tắc, tuyệt vọng

Tóm lại, dù viết về nhân vật nào, Nam Cao cũng gửi vào đó sự trăn trở, niềm cảm thương với cả tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình Đóng góp mới của ngòi bút Nam Cao trong lĩnh vực truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói chung và truyện ngắn hiện thực phê phán nói riêng trong giai đoạn này chính là về phương diện nghệ thuật xây dựng truyện, phương cách mổ xẻ tâm lí và thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ Bên cạnh đó, Nam Cao còn nâng tầm ngôn ngữ từ ngôn ngữ của tác giả ở ngôi thứ nhất trở thành ngôn ngữ của nhân vật và ngược lại với cách thay đổi điểm nhìn của người trần thuật và sử dụng ngôn ngữ đa thanh, giàu giọng điệu Từ điểm nhìn của “tôi”, nhà văn đã hóa thân vào nhân vật; nhìn nhận, đánh

Trang 33

giá, bày tỏ, suy nghĩ tình cảm của mình thông qua các nhân vật Chính sự kết hợp này làm cho tác phẩm mang tính hiện đại hóa rõ rệt, vì nó mang lại tính đa thanh cho văn bản: lạnh lùng, sắc nhọn, thông cảm, thương xót; nghiêm nghị, hài hước; triết lý sắc sảo nhưng cũng

trữ tình sâu lắng và tất cả tạo nên giọng điệu Nam Cao: tiếng nói yêu thương con người sâu sắc

1.3 Tiểu kết

Nhìn chung, truyện ngắn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 là một chặng đường quan trọng trên hành trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại Chặng đường đó, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đã có nhiều đóng góp cho văn học hiện đại Việt Nam ở lĩnh vực truyện ngắn Trong đó, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hai nhà văn tiêu biểu có vị trí hàng đầu bởi những đóng góp to lớn của họ Nguyễn Công Hoan xuất hiện trong vai trò như người mở đường, là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên xây nên bức tường văn học hiện thực phê phán Ông sử dụng ngòi bút của mình như một vũ khí lợi hại để phê phán, tố cáo xã hội thực dân phong kiến đương thời Song Nguyễn Công Hoan vẫn còn “lệ thuộc” vào lối sáng tác theo kiểu truyền thống Những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan vẫn còn những giới hạn chưa vượt qua được Và khi hoàn cảnh xã hội rơi vào thời kì đen tối, khủng hoảng nhất thì ngòi bút Nguyễn Công Hoan rơi vào tình trạng chệch hướng, lại quay về ca ngợi những cái đã lỗi thời trong quá khứ, không còn phù hợp (Thanh đạm, Danh tiết ) Khi đó, Nam Cao xuất hiện như một làn gió mới, thổi vào vườn

hoa văn học hiện thực làm nó thêm tươi mới và rực rỡ Nam Cao với nhiều đóng góp có giá trị, mang tính cách tân cao từ cốt truyện đến kết cấu, từ ngôn ngữ đến giọng điệu, từ phương pháp khắc họa chân dung nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện đã giúp cho truyện ngắn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 đạt đến độ phát triển cao nhất Đây chính là những đóng góp thật sự có giá trị trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam những thập niên giữa thế kỷ XX Có thể khẳng định Nam Cao là một cây bút bậc thầy trong địa hạt truyện ngắn Với những đóng góp của mình, ông đã trở thành một trong những nhà văn có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến những thế hệ cầm bút đi sau Nếu vẽ một đoạn thẳng để thể hiện chặng đường đi của văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 thì Nguyễn Công Hoan sẽ

là điểm đầu và Nam Cao sẽ là điểm cuối của đoạn thẳng ấy Đi sâu khảo sát, khám phá, phân tích những điểm tương đồng và dị biệt của hai nhà văn trong nghệ thuật xây dựng truyện ngắn hiện thực phê phán, ta sẽ thấy rõ hơn bước phát triển của truyện ngắn theo

Trang 34

khuynh hướng hiện thực ở giai đoạn 1930 - 1945 Từ đó góp phần khẳng định sâu sắc hơn

vị thế của hai nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao ở địa hạt văn học hiện thực phê phán nói riêng và trên văn đàn văn học Việt Nam nói chung

Trang 35

C HƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA

NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO

2.1 Bức tranh hiện thực đa dạng, sinh động về những kiếp người

2.1.1 Từ những kiếp người lầm than

Văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 với sự góp mặt của nhiều cây bút tài năng thực sự đã gặt hái được những thành công nhất định Thành công bởi các văn sĩ đã xác định được con đường đi của mình và dùng hết tâm huyết để sáng tác và để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị Nó trở thành một khuynh hướng văn học chủ lực trên văn đàn văn học ở giai đoạn đầy biến động và căng thẳng về mặt chính trị, xã hội Hiện thực cuộc sống chính là mục đích cuối cùng của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa Vì thế, đề tài

mà họ lựa chọn, những hình tượng nhân vật họ xây dựng, những vấn đề họ đặt ra, những sự việc mà họ phản ánh tất nhiên phải mang hơi thở của cuộc sống, phải là tấm gương phản chiếu thời đại Điều tất yếu, đề tài sẽ là mảnh đất chung mà nhiều nhà văn có thể sẽ cùng gặp gỡ, từ đó sẽ có những kiểu nhân vật mà thoạt nhìn ta sẽ thấy hao hao nhau Song, điều tạo nên thành công, tạo nên tên tuổi và khắc đậm dấu ấn của mỗi nhà văn trong trái tim người đọc không phải ở cái chung đó Điều quan trọng là từ những cái chung, mỗi nhà văn phải tìm tòi, khám phá, thể hiện được tiếng nói nghệ thuật riêng của mình Nguyễn Công Hoan được coi như một trong những người mở đường đầu tiên thành công cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán ở địa hạt truyện ngắn và Nam Cao được đánh giá là vị chủ soái cuối cùng của dòng văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 Là kẻ trước, người sau song cả hai đều chung bước trên một con đường, cùng lao động cật lực trên mảnh đất hiện thực mêng mông, cùng tìm tòi, sáng tạo ở một đề tài, cùng xây dựng những hình tượng nhân vật lầm than trong xã hội đương thời Bởi những cái chung ấy nên những trang viết, những tác phẩm của họ cũng đều đã khắc họa được những nhân vật cùng khổ và những nhân vật phản diện, thống trị Song, dấu ấn của hai nhà văn để lại trong lòng người đọc là những nét riêng sâu sắc Tìm hiểu, khảo sát, phân tích những nét chung, điểm riêng ấy, người viết muốn khẳng định mạnh mẽ hơn tài năng sáng tạo của hai nhà văn và tìm hiểu thêm về bút pháp xây dựng nhân vật theo chủ nghĩa hiện thực

Trang 36

Văn học là nhân học Đối tượng trung tâm của văn học là con người Vì thế “con người” - nhân vật trong tác phẩm văn học là một “linh kiện” quan trọng bậc nhất Nhân vật vừa là phương tiện vừa là đối tượng phản ánh để nhà văn thể hiện được tư tưởng và bộc lộ được phong cách nghệ thuật của mình Một nhà văn có tài năng hay không chính là nhà văn

ấy có biết lựa chọn nhân vật và thể hiện nhân vật một cách độc đáo hay không Một ngòi bút

có dấu ấn riêng trong lòng người đọc chính là ngòi bút đã xây dựng được một thế giới nhân vật đặc sắc, có nét riêng biệt, không lẫn với ai được Thế giới nhân vật ấy bao gồm những

ai, tính cách ra sao chính là điều mà nhà văn phải hướng tới và xây dựng được Tất nhiên, nhân vật văn học chỉ là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ qua lăng kính nghệ thuật từ những điểm nhìn của nhà văn chứ không phải là những con người được sao chụp hoàn toàn trong cuộc sống Nhân vật là yếu tố hàng đầu không thể thiếu trong các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện Bởi lẽ, nó là phương tiện cơ bản nhất để nhà văn thể hiện được nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, hay về một hiện tượng, vấn đề nào đó trong cuộc sống, qua một quá trình bắt gặp một kiểu mẫu người trong cuộc sống, nhào nặn, sáng tạo thành một nhân vật, kiểu mẫu của riêng mình Từ đó có thể nói thế giới nhân vật trong các tác phẩm văn học thể hiện được thế giới quan, tư tưởng nghệ thuật của người nghệ sĩ về hiện thực cuộc sống Một nhà văn lớn là một nhà văn mà thế giới nhân vật họ tạo ra phải vừa là những con người của hiện thực cuộc sống nhưng cũng có những nét cá biệt, gây ấn tượng độc đáo Nhân vật trong tác phẩm văn học vừa thể hiện được cái tâm, vừa bộc lộ được cái tài của người viết Con người là cá thể sống, vận động trong một quá trình phát triển lâu dài Vậy nhà văn hiện thực sẽ chọn lọc “đoản khúc” nào trong quá trình phát triển ấy để khắc họa sao cho việc phản ánh là hiệu quả nhất, nhà văn sẽ chọn lựa giai đoạn nào để tô đậm, giai đoạn nào sẽ bỏ qua trong quá trình phát triển ấy của nhân vật? Sự lựa chọn chính xác sẽ mang đến thành công trong việc xây dựng những nhân vật điển hình; ngược lại, nhân vật sẽ mờ nhạt và chẳng mang lại giá trị nào cho tác phẩm Bên cạnh đó, nhân vật mà nhà văn khắc họa có chuyển tải được tư tưởng lớn của người viết hay không, người viết gửi thông điệp gì qua những số phận nhân vật, bày tỏ điều gì qua những bức chân dung con người mà họ sáng tạo ra Làm được những điều đó là nhà văn thể hiện cái tài, cái tâm của mình và cũng là sự tạo dựng thành công vị thế của họ trên văn đàn

và trong lòng người đọc Nghĩa là, khảo sát về thế giới nhân vật được xây dựng trong các tác phẩm truyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao chính là tìm tòi, phân tích và đánh giá

Trang 37

để khẳng định tài năng trong bút pháp xây dựng truyện và tấm lòng của hai nhà văn ẩn đằng sau những số phận, những nhân vật mà họ khắc họa nên

Qua khảo sát 57 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và 40 truyện ngắn của Nam Cao, người viết thấy rằng 22/57 (chiếm 38,6%) truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và 26/40 (chiếm 65%) truyện của Nam Cao viết về hiện thực đời sống của những con người dưới đáy xã hội Hiển hiện trên những trang viết của hai nhà văn là những con người có số phận nghiệt ngã, có cuộc sống nghèo đói, khổ sở vô cùng Nguyễn Công Hoan và Nam Cao bằng những tác phẩm của mình, họ đã khắc họa được hình ảnh của những con người vật vã với cái đói, bần cùng bởi cái đói và lưu manh tha hóa, cũng vì đói

Ở sáng tác của Nguyễn Công Hoan, đó là tên ăn mày trong Răng con chó của nhà tư sản Hắn “đội cái nón toạc tung cả cạp, đã đóng khố, lại mặc cái áo rách cụt cả tay ( )

Chân tay khẳng khiu, đen thui thủi, dài ngoằng ngoẵng Cái bị lép há hốc miệng, nằm chờ bên cạnh cái dạ dày lép kẹp” Đó là tên ăn mày đang phải khổ sở, vật vã vì đói Và dường như không thể cưỡng lại cái thèm ăn vì đói quá nên hắn tranh luôn phần ăn của con chó nhà giàu “Hắn tưởng con chó chê cơm nhạt, không thèm ăn, thì hắn muốn đánh đổi số phận hắn cho con chó nhà giàu!” và “đĩa cơm ở giữa, người tiến thì chó cũng tiến, người lui thì chó cũng lui Hai bên hầm hè nhau người lườm chó, chó lườm người, đều cùng giữ miếng nhau như hai kẻ thù không đội trời chung vậy” Rõ ràng, cái đói đã làm cho con người đã bớt

“người” hơn và dưới mắt tên tư sản nhà giàu thì tên ăn mày ấy có giá trị không hơn một con chó nhà giàu: “À, mày đánh gẫy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng Bất quá ba chục bạc là cùng!” Các chi tiết ấy cho thấy con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến ấy luôn vật lộn với cái đói, cái ăn Nghèo khổ luôn bám riết họ, sống nhưng không làm gì khác ngoài việc làm cho cái bụng no Và họ đôi khi buộc phải bán luôn đứa con rứt ruột của mình để nó không bị chết đói và mình cũng được no: “Của chìm của nổi đã không còn gì, nhịn cơm từ sáng nhường con đã lả cả dạ dày Nếu mai cũng thế này

nữa, thì bố chết đói, con chết đói” và bác Lan trong Hai thằng khốn nạn đã đau lòng bán

đứa con trai với giá hai hào tám để cái bụng được no Hay như cái “thằng ăn cắp” trong truyện ngắn cùng tên cũng bị một trận đòn tơi tả cũng vì quá đói mà ăn quịt hai xu bún riêu Rồi đến “nó” trong “Cái vốn để sinh nhai” đi ăn mày nhưng không được ai bố thí vì còn lành lặn Thật trớ trêu, “nếu nó chết đói là chỉ vì tội nó lành lặn Nghĩ đến thế, nó đâm chán, ghét, thù hai chân tay nó Nếu nó còn hai chân tay, thì nó sẽ chết đói thật chứ chẳng phải cầu đâu!” Lành lặn là hạnh phúc của mọi người khi được sống trên cuộc đời này, song vì cái

Trang 38

đói, lành lặn lúc này lại là bất hạnh Nguyễn Công Hoan cho ta thấy rõ cái xã hội đương thời với những kiếp người phải quằn quại vì nghèo đói Cái nghèo vây bủa làm cuộc sống của con người tối tăm, ngột ngạt và bế tắc Để có những bữa no, người ta buộc phải làm liều và

no bụng chưa xong thì no đòn đã đến Bữa no đòn đã khắc họa một con người gầy trơ

xương, hình thù thì ghê tởm: “đầu nó chỉ còn hình cái sọ cấp trên cái cổ dai ngoách, mà luồng gân kheo khư kéo nổi lên, mấp mô như thớ chiếc kẹo kéo Da mặt bọc ít thịt quá, thành ra thừa nhiều, nó nhăn nheo lại mà những đường nhăn chi chít như vết rạn của cái men cái lọ cổ Tóc nó chịu nằm ẹp trên đầu, không dậy được, như những ngọn lúa bị bão,

mà chảy cả xuống, quắp vào trán, vào gáy vào mang tai” “Nó là một con ma đói, con quỷ gian” Và nó đã có một trận đòn nhừ tử vì tội ăn cắp một củ khoai lang Nguyễn Công Hoan

có biệt tài miêu tả hành động nhân vật trong những thời khắc căng thẳng nhất bằng những câu có cấu trúc ngắn: “Chửi Kêu Đấm Đá Thụi Bịch Cẳng chân Cẳng tay Như mưa vào đầu Như mưa vào lưng Như mưa vào chân nó” Người ta quyết liệt đánh Nó quyết liệt bỏ cho kì hết củ khoai vào miệng Trận đánh kéo dài Và thực lạ, trong những giây phút này, cái đói có sức mạnh làm quên cả cái đau Và khi cái đói đã được thỏa mãn, nó mới chực nhớ đến cái đau Rõ là no - đòn, đối với nó luôn đi song song nhau

Trong những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, không phải một mà là rất nhiều lần cái đói làm cho con người ta phải khổ sở, phải đau đớn như thế Nhân vật trong các truyện ngắn của ông luôn phải đối đầu với nghèo đói và hành động vì nghèo đói, bị bỏ tù vì nghèo đói: “Nó vẫn không rõ cái sức mạnh nào đã ấn tay nó giơ ra để cướp tấm bánh đó của

bà hàng Nó chỉ còn nhớ là lúc đó bụng nó réo, mắt nó hoa Cho nên nó đã làm như một cái máy” (Thế cho nó chừa) Qua lời của nhân vật “nó”, Nguyễn Công Hoan cho ta thấy sức

mạnh ghê gớm của cái đói Cái đói khiến người ta mất lí trí và không biết tại sao mình trở thành ăn cắp, mình bị bỏ tù: “Cái đói biến người ta trở thành những hình dạng quái dị, ghê tởm Cái đói hành hạ thân xác, biến họ không ra người nữa mà chỉ là của “sự đói khát, kinh

tởm, kết thành hình” (Hai cái bụng) “Nó có cái sọ đếm được tóc Nó có một cái mặt - mẹ

ơi! Không biết có gọi được là mặt không đấy! - Mặt gì mà mắt lại thế kia, mà miệng lại vô dụng thế được Phải mắt đâu có thứ mắt xung quanh là một hình bầu dục, vẽ bằng vành thịt trơ đỏ lầy nhầy, lúc nào cũng ứa ra một dòng nước vàng và giữa thì lờ đờ một hột nhãn, thứ hột nhãn non choèn, vàng ễnh Còn cái miệng thì đỏ ra như miệng khỉ, hai hàm răng to tướng, lúc nào cũng cầm cập, hục hặc với nhau”, “Hôm nay thì nó lả đi rồi Tai nó ù Mắt nó lòa Nó nằm vật ở lề đường Miệng nó há hốc ra vì đói Nó chỉ thèm được ăn” Rõ là cái đói

Trang 39

làm con người ta trở nên xấu xí, thê thảm ra, ghê tởm đến thế ấy Khắc họa nhân vật bị cái đói hành hạ, Nguyễn Công Hoan càng cho thấy được hiện thực cuộc sống đương thời Nó là một bức tranh với gam màu tối, lạnh Các nhân vật mà Nguyễn Công Hoan xây dựng nên phần lớn là những hạng người dưới đáy xã hội, là những con người bần cùng, đáng thương

Họ quần quật quanh năm với nghèo đói Anh Tư Bền trong Kép Tư Bền cũng vì cái nghèo,

cũng vì đồng tiền mà phải ra sức cười đùa bông lơn để mang niềm vui cho mọi người ngay

cả khi trong lòng đang đau đớn khôn nguôi vì cha chết Rõ thật là, khi người ta nghèo khổ thì đồng tiền có sức mạnh vạn năng Nó có thể bắt ta cười ngay cả khi ta muốn khóc, bởi cái cười ấy đã được hợp đồng, đã được trả tiền để mua rồi Cái nghèo khó, đói kém làm cho con

người ta trở thành những kiếp người tội nghiệp, đáng thương Ngựa người - và người ngựa

là một câu chuyện đáng buồn khác Đó là sự đụng độ của anh phu xe và cô gái giang hồ Cả hai cùng ế khách Niềm hi vọng có thêm tiền đêm giao thừa tiếp thêm sức mạnh để anh kéo

xe suốt đêm mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng là sụp đổ, là thất vọng não nề Khi anh phu biết mình bị lừa, cay đắng cả cõi lòng, anh lủi thủi kéo xe về trong tiếng pháo giao thừa Mỗi nhân vật là một cảnh đời, mỗi nhân vật là mỗi kiểu người khổ cực, lao đao vì nghèo đói Khắc họa nhân vật thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội, Nguyễn Công Hoan trong một số truyện

có bật lên tiếng cười nhưng đó là tiếng cười đau đớn, cay đắng, đằng sau tiếng cười ấy là niềm cảm thương, chua xót của nhà văn với những số phận kẻ nghèo - kẻ đói

Cùng nói về cái đói, Nam Cao cũng giống như Nguyễn Công Hoan, khắc họa rõ nét hơn bức tranh hiện thực của xã hội lúc bấy giờ Nhưng nếu như cái đói của Nguyễn Công Hoan phần nhiều nói về những con người bần cùng, nghèo hèn ở thành thị thì cái đói của Nam Cao lại quấn riết, bao phủ ở những mái tranh sau lũy tre làng, chủ yếu trong cuộc đời

và số phận của tầng lớp nông dân Cũng như trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan,

nhân vật trong những truyện ngắn của Nam Cao cũng triền miên ngập sâu trong cái đói Nam Cao cũng tập trung miêu tả, khắc họa những nhân vật khổ sở vì cái đói, cái nghèo

Trong Nghèo, các nhân vật trong một gia đình đều khổ vì nghèo đói Đó là những đứa trẻ tội nghiệp khóc đòi ăn Đó là người mẹ đau xót lòng vì không có gạo thổi cơm cho con, phải nhìn những đứa con hi vọng được ăn chè nấu bằng cám Đó là người cha - anh đĩ Chuột bệnh tật, không thuốc thang nhưng được đặc cách ăn cơm cũng đang lo lắng, xót xa khi nhìn cảnh nhà túng thiếu, con không có cơm ăn, nhà thì nợ nần vây bủa Xót thay khi người cha phải dành tiền thuốc thang của mình để mua gạo cho các con Rồi, như để giải thoát gánh nặng cho vợ con, để nhà bớt một miệng ăn, anh đĩ Chuột tự tử Nhân vật của Nam Cao làm

Trang 40

cho người đọc phải đau thắt lòng Cái nghèo đói khiến cảnh nhà phải tan nát, vợ xa chồng, con xa cha Nhưng cái chết của anh đĩ Chuột cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa khi ngoài sân,

“mẹ con chị Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy Bà Huyện nhất định bắt mẻ gạo mới đong để trừ sáu hào nợ chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống thuốc” Nhưng ngòi bút Nam Cao đâu chỉ dừng lại đó bởi hiện thực đâu phải chỉ có thế Hiện thực lầm than còn có nhiều số phận, cuộc đời tủi cực nghèo khổ hơn nhiều Vì nghèo khổ nên phải đi bán con để

bớt miếng ăn và số phận người con ấy cũng vì nghèo khổ mà bất hạnh (Dì Hảo) Vì nghèo

khổ mà vợ chồng phải lục đục, nặng nhẹ nhau, không khí gia đình nặng nề, ảm đạm ( )

Trong truyện ngắn Bài học quét nhà, cái Hồng, đứa trẻ tội nghiệp ấy cứ mãi thắc mắc tại sao

thầy u nó thay đổi cách cư xử với nó Trước đây, nó được cưng chiều, được thầy u vuốt ve, quan tâm chăm sóc: “Thường thường thầy u chỉ ăn cơm với tương mắm mà thôi Nhưng bao giờ u cũng mua cho Hồng một thức ăn riêng: thịt, cá, trứng hay là đậu U nói với Hồng rất nhẹ nhàng Nhưng bây giờ thì khác hẳn Hồng phải mắng luôn luôn Động một tí gì u cũng mắng” Trong đôi mắt thơ dại của Hồng, những điều tốt đẹp ấy chỉ là những ngày xưa cũ và

nó cảm thấy tiếc Nó không hiểu vì sao có sự thay đổi đó, chỉ biết: “đã ít lâu nay, cả thầy lẫn

u đều có vẻ không vui” Vui làm sao được khi thóc cao gạo kém, khi nỗi lo cơm áo gạo tiền

đã giành mất sự quan tâm của thầy u cho Hồng Mọi quan tâm giờ đây trong gia đình Hồng đều chỉ xoay quanh tiền bạc, thời giá và cái ăn Quả là cái nghèo khó nó làm cuộc sống con người chật vật, ngột ngạt đi và một cách gián tiếp, nó đánh mất đi ngày tháng hạnh phúc của trẻ thơ Nghèo khó khiến con người ta cáu kỉnh gắt gỏng nhau Qua việc miêu tả tâm trạng bất an của người mẹ vì cái ăn cho gia đình mà vô cớ mắng con, qua việc Hồng “bị” mẹ tập quét nhà một cách khổ sở, ta thấy cái nghèo khổ sao mà “bất nhẫn” quá! Không chỉ có Hồng

mà cả thầy u nó cũng đau lòng lắm khi vì quá lo lắng về cái ăn, cái mặc mà xử tệ với con:

“Người mẹ sửng sốt như chợt nhận ra cái cử chỉ vô lý và tàn nhẫn quá Thị đứng ngây người

ra một chút Rồi thị vồ lấy cái chổi, quét như điên, như dại Mặt thị co rúm lại chực khóc

Nước mắt, nước mũi chảy ròng ròng xuống đất” Bài học quét nhà cho ta thấy bi kịch gia

đình vì miếng ăn Đó là một trong vô vàn những bi kịch mà cái đói, miếng ăn là thủ phạm

Nhân vật Dần trong Một đám cưới cũng là một nạn nhân của nghèo đói Là chị cả, Dần phải

đi ở, “hi sinh” để gia đình bớt được miệng ăn, để các em được no hơn Nhưng “cơm nhà giàu thì khó nuốt Ăn của họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra

mà giả họ” Dần trải qua chuỗi ngày tháng đi ở cực khổ mà cũng chẳng than vãn gì Nhưng cái nghèo lại buộc Dần phải xa cha xa em Dần lấy chồng Nói là lấy chồng chứ chẳng qua

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1992), “Nam Cao và cuộc canh tân văn học đầu thế kỷ XX”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm, tr.173-178 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao và cuộc canh tân văn học đầu thế kỷ XX”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1992
2. Lê Hải Anh (2007), “Ngôn ngữ nửa trực tiếp - nét tinh tế của ngôn ngữ trần thuật Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm, tr.548-556 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nửa trực tiếp - nét tinh tế của ngôn ngữ trần thuật Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Hải Anh
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 2007
3. Vũ Tuấn Anh (1992), “Phong cách truyện ngắn Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm ,tr.431-435 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1992
4. Đào Tuấn Ảnh (1992), “Tsêkhốp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr. 218.226 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tsêkhốp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”,"Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1992
5. Hoàng Hữu Các (1993), “Về việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan trong nhà trường”, Phê bình và bình luận văn học , tr.50-53 , NXB Văn học (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan trong nhà trường”, "Phê bình và bình luận văn học
Tác giả: Hoàng Hữu Các
Nhà XB: NXB Văn học (2007)
Năm: 1993
6. Trương Chính (1957), “Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.74-78 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan”, "Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1957
7. Nguyễn Minh Châu (1987), “Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.150- 161 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1987
8. Nguyễn Minh Châu (1985), “Nhà văn Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.187-193 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Công Hoan”, "Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1985
9. Hồng Chương (1962), “Một nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê phán”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.79-85 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê phán”,"Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hồng Chương
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1962
10. Trần Ngọc Dung (1992), “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.227-229 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1992
11. Đinh Trí Dũng (1992), “Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.206-209 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao”,"Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1992
12. Nguyễn Đức Đàn (1966), “Cách mạng tháng Tám và chặng đường phát triển mới của Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.114-125 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám và chặng đường phát triển mới của Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1966
13. Nguyễn Đức Đàn (1968), “Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.91-109 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan”,"Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1968
14. NguyễnVăn Đấu (1999), “Chất kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.430-442 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, "Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: NguyễnVăn Đấu
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1999
15. Phan Cự Đệ (1983), “Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm , tr.163-186 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan”, "Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1983
16. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Minh Đức (2003), Văn học Việt Nam (1900-1945), NXB Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
17. Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử Thi pháp - Chân dung, NXB Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử Thi pháp - Chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
39. Phong Lê (1997), “Nam Cao- nhìn từ cuối thế kỷ”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.162-172 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao-nhìn từ cuối thế kỷ”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1997
40. Phong Lê (1997), “ Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.162-172 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1997
41. Ph ạm Quang Long (1994), “Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao”, Nam Cao về tác gia và tác phẩm , tr.450-457 , NXB Giáo dục (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao”, "Nam Cao về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Ph ạm Quang Long
Nhà XB: NXB Giáo dục (2007)
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w