1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai

180 849 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 6,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước thực trạng thanh thiếu niên phạm pháp ngày một tăng thì lực lượng Công an là những người tiên phong trong công tác phòng chống tội phạm, loại trừ những băng nhóm lưu manh, trộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thanh thiếu niên là một lực lượng to lớn, chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số và lực lượng lao động trong xã hội Đồng thời đây cũng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhận định: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng hay không, chủ yếu là do lực lượng thanh niên ngày nay quyết định" Bên cạnh những thanh thiếu niên đã học tập, rèn luyện và có nhiều cống hiến thì cũng có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên có lối sống không lành mạnh, coi thường các giá trị đạo đức, nhân văn Thậm chí có nhiều thanh thiếu niên

đã đi vào con đường phạm pháp Theo số liệu của Viện kiểm soát nhân dân tối cao, chỉ riêng năm 1998 cơ quan kiểm soát các cấp trong toàn quốc đã tiếp nhận hồ sơ và

xử lý 5133 em, trong số đó đã truy tố 3.533 bị can, đưa ra xét xử 2919 trường hợp Theo thống kê của bộ Công an, số thanh thiếu niên làm trái pháp luật chiếm khoảng 13% đến 15% tổng số vụ án hình sự

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp Chúng

ta thấy rằng khi xã hội đang có những biến đổi to lớn về nhiều mặt, cùng với sự phát

triển của cơ chế thị trường Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì đây cũng chính là môi trường làm nảy sinh những thuận lợi và khó khăn cho quá trình giáo dục Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cũng có quá nhiều những ảnh hưởng tiêu cực tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ em

Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, một lứa tuổi đầy biến động, một lứa tuổi không còn

là trẻ con nhưng lại chưa đủ sức để trở thành người lớn, một lứa tuổi ham khẳng định

và tìm tòi cái mới thì sự ảnh hưởng của những tác động tiêu cực là rất lớn

Để trẻ em nói chung và thanh thiếu niên nói riêng có khả năng chống lại những tác động tiêu cực từ điều kiện, môi trường sống thì hơn ai hết trách nhiệm thuộc về gia đình Cha mẹ không chỉ nuôi dưỡng, chăm sóc mà còn phải giáo dục con cái về

Trang 6

mọi mặt Nhưng ngày nay có một thực tế đáng phải quan tâm là: Do phải bôn ba vất

vả với cuộc sống mưu sinh, với cơm áo gạo tiền, vì chức năng kinh tế mà không ít cha mẹ đã khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường Một nơi mà thực tế không đủ sức để giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ Và cha mẹ đã bù đắp cho con

em mình những thiếu hụt bằng vật chất Đôi khi vì thiếu sự quan tâm đúng mức cha

mẹ đã không thấy được những thay đổi, những khác lạ trong tính cách của con em mình Đến khi trẻ bắt đầu xa chân vào con đường phạm tội, khi phải đứng trước vành móng ngựa thì cha mẹ mới bắt đầu "thức tỉnh"

Không phải ai sinh ra đã mang sẵn trong mình những hành vi phạm tội Đó là kết quả của những biến đổi tâm lí, những biến đổi mà không được quan tâm, thấu hiểu, và được cư xử phù hợp Là kết quả của sự ảnh hưởng tiêu cực từ điều kiện môi trường, xã hội Mà quan trọng hơn hết đó là kết quả của những sai lệch trong giáo dục gia đình

Khi thanh thiếu niên chưa có sự trưởng thành về mặt nhận thức, kinh nghiệm sống, khi lứa tuổi còn có nhiều biến động, nhiều sự thay đổi thì những hành vi làm trái pháp luật của các em đáng được tha thứ Bởi hơn ai hết các em chính là nạn nhân của của những bất ổn trong gia đình và ngoài xã hội

Đứng trước thực trạng thanh thiếu niên phạm pháp ngày một tăng thì lực lượng Công an là những người tiên phong trong công tác phòng chống tội phạm, loại trừ những băng nhóm lưu manh, trộm cắp, đồng thời còn tiến hành tập trung cải tạo các loại đối tượng phạm pháp hình sự, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, nhằm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Để thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng thanh thiếu niên phạm pháp thì các trường Giáo dưỡng là những lực lượng đóng vai trò quan trọng và tiên phong trong công tác cải tạo, giáo dục các em Giúp các em trở thành những người có phẩm chất tốt đẹp, có trình độ văn hóa, có khả năng lao động

để có thể tái hòa nhập cộng đồng

Đó là những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết đòi hỏi các cán bộ, giáo viên ở

Trang 7

trường không chỉ bằng tình thương mà còn phải có những phương pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả Phương pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả chính là những nhân tố quan trọng tạo tiền đề giúp các em có đủ sự tự tin, bản lĩnh, có thái độ tích cực để trở thành những công dân có ích cho xã hội

Quá trình giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp ở các trường Giáo dưỡng chắc chắn sẽ có những nét đặc thù Vậy, các giáo viên tại trường đã sử dụng những phương pháp gì để giáo dục cho các em? Hiệu quả của những phương pháp đó ra sao? Các thầy cô trong quá trình giáo dục các em có những khó khăn nào?

Đứng trước những băn khoăn đó, người nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề tài: Phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường Giáo dưỡng

số 4 - Tỉnh Đồng Nai

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường Giáo dưỡng số 4 - Tỉnh Đồng Nai trên cơ sở đó phân tích những khó khăn khách quan và chủ quan gây ảnh hưởng đến việc sử dụng các phương pháp giáo dục để từ đó đưa ra các ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục tại trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cửu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục tại trường Giáo dưỡng số 4 - Tỉnh Đồng Nai

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Phần lớn các giáo viên tại trường Giáo dưỡng số 4 đã sử dụng phù hợp các phương pháp giáo dục tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp giáo dục này vẫn còn

Trang 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục tại trường

- Đánh giá hiệu quả sử dụng các phương pháp giáo dục tại trường thông qua sự đánh giá của giáo viên và học sinh

-Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp

6 Giới hạn đề tài

1 Về mẫu nghiên cứu

-Nghiên cứu trên giáo viên: Chủ nhiệm,Văn hóa, dạy nghề, trực ban

-Nghiên cứu trên học sinh : Chỉ nghiên cứu ở lứa tuổi thiếu niên và lứa tuổi đầu thanh niên tại trường Giáo dưỡng số4- Tỉnh Đồng Nai

2 Về đối tương nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp

7 Phương pháp nghiên cứu

7 1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Trang 9

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

 Phương pháp thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm

 Kiểm nghiệm Chi- Square

 Kiểm nghiệm T- Test

8 Tiến độ thực hiên đề tài

Tháng 9:

+Xác định tên đề tài và xây dựng đề cương

Tháng 10-11:

+Nghiên cứu tài liệu

+Viết cơ sở lí luận

Trang 10

+Xây dựng bảng câu hỏi mở

Tháng 12-1:

+Trò chuyện với giáo viên và học sinh +Xây dựng bảng câu hỏi chính thức

Tháng 2-3:

+Phát và thu phiếu điều tra

+Hoàn thành cơ sở lí luận

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Bài ca sư phạm thể hiện những quan điểm cơ bản nhất về giáo dục chủ nghĩa Mác-LêNin Quan điểm quan trọng nhất của Macarencô là ý niệm về con người, thái

độ MacXit đối với con người, có thể coi quan điểm này là quan điểm xuất phát cho tư tưởng giáo dục chủ đạo của ông Đó là lòng nhân đạo đối với con người Theo ông khái niệm "trẻ hư" là điều vô nghĩa Ông không công nhận có trẻ xấu từ lúc lọt lòng

mẹ, có trẻ phạm tội mà không thể cứu chữa được Với tài năng sư phạm kiệt xuất và tấm lòng cao cả cuối cùng Macarencô đã thành công với kết quả giáo dục đáng khâm phục Ồng đã giáo dục hàng ngàn trẻ em phạm pháp trở thành người tốt, có ích cho xã hội Từ kết quả đó Macarencô có nhận xét rằng: "Tôi thấy rằng không có trẻ phạm pháp đặc biệt nào hết, chỉ có những người rơi vào khó khăn Tôi hiểu rất rõ ràng, nếu thời thơ ấu tôi cũng rơi vào hoàn cảnh giống vậy thì tôi cũng trở thành như các em

Và bất cứ một đứa trẻ nào bị ném ra hè phố không có người giúp đỡ, không có xã hội, không có tập thể, không có bạn bè, không có kinh nghiệm, không có tương lai, thần

Trang 12

kinh bị cạn kiệt và mệt mỏi và đói khát, mọi đứa trẻ bình thường thì cũng xử sự như các em đó" [8, 260] Nhờ có tầm nhìn biện chứng về con người, luôn luôn mong muốn nâng đỡ dìu dắt, thông cảm và thương yêu con người nên Macarencô đã đạt được những thành công rực rỡ trong việc cải tạo hàng ngàn trẻ em hư, phạm pháp cơ nhỡ không gia đình, không nơi nương tựa

Vì vậy theo Macarencô nhà sư phạm phải đến với từng người với một giả thiết lạc quan, dù có phải lầm lẫn chăng nữa Cũng như Gorki, ông từ chối không dựa trên những khía cạnh tiêu cực và ốm yếu của con người Ông luôn tìm ra ở mỗi trẻ, mặt

dù cảnh ngộ bi đát tuyệt vọng đến chừng nào, một niềm hi vọng, một khía cạnh tích cực để phát huy lên, làm nảy nở ra mọi tiến bộ Yêu cầu đối với đứa trẻ biểu thị sự tôn trọng đối với sức lực và khả năng của trẻ ngược lại tôn trọng phải đòi hỏi, phải yêu cầu đối với trẻ Điều quan trọng là phải kết hợp một cách đúng đắn sự đòi hỏi cao

ở một con người với sự tôn trọng đối với con người

Quan điểm thứ hai là giáo dục trong lao động Đây là nguyên lý cơ bản nhất của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, một nền giáo dục dựa trên học thuyết Mac-Lenin Qua giáo dục lao động nhiều trẻ "tội lỗi", "phạm pháp" "đã được cải tạo về tư tưởng và về sau đã trở thành những nhà chuyên môn giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ sư, giáo viên dạy nghề "

Quan điểm thứ ba là giáo dục trong tập thể: đây là tư tưởng giáo dục trung tâm của ông xuất phát từ lời dạy của Lênin về những quan hệ mới giữa cá nhân và tập thể trong xã hội chủ nghĩa Macarencô đã nghiên cứu những mối quan hệ từ đó rút ra những ứng dụng thực tế tại trại Gorki Macarencô đã xây dựng một luận lý đồ sộ về

sự phát triển của một tập thể, phong cách của tập thể Trong bức thư gởi cho Gorki, Macarencô viết: "tôi đã được kết quả vì đã xuất phát từ nguyên tắc sau đây: tập thể phải hoạt động và chính trong hoạt động đó các thành viên tự biến đổi " Sự thành công của nguyên tắc giáo dục trong tập thể được Macarencô khẳng định "dần dần quá trình giáo dục tự biến thành quá trình giáo dục của tập thể, thật là đặc sắc và không ngờ" [8,10]

Trang 13

Tư tưởng chủ yếu của Macarencô trong tác phẩm "Bài ca sư phạm" là giáo dục những đứa trẻ lưu manh, phạm pháp, sản phẩm của xã hội bóc lột thành những công dân yêu nước, giác ngộ, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa Để đạt được những mục đích đó ông cho rằng những nhà giáo dục phải tin tưởng sâu sắc vào bản chất tốt đẹp của con người, phải nắm vững quan điểm giáo dục trong lao động, giáo dục trong tập thể và bằng tập thể Bên cạnh những quan điểm trên, nội dung của tác phẩm "Bài

ca sư phạm" còn chứa đựng những bài học quý giá như: nghệ thuật giáo dục, phương pháp giáo dục Một trong những đóng góp quan trọng nhất vào kho tàng lý luận cũng như thực tiễn giáo dục là ông đã sáng tạo ra những phương pháp giáo dục, thể hiện được nghệ thuật, tài năng, khéo léo, điêu luyện của một nhà giáo dục Đó là các

phương pháp giáo dục như: phương pháp bùng nổ sư phạm, phương pháp giáo dục

bằng tác động song song, phương pháp giáo dục bằng viễn cảnh, bằng khen thưởng, trách phạt

-Tác giả A.I CôChêTôp đã bàn đến quá trình giáo dục lại trong tác phẩm ''Những vấn đề lý luận đức dục" Côchêtốp đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của vấn đề giáo dục lại trong việc giáo dục cộng sản Ông cho rằng công tác giáo dục lại bao gồm việc giáo dục những trẻ em vô kỷ luật, cũng như việc tăng cường, chăm sóc những trẻ em lêu lổng và việc cải tạo những trẻ em phạm pháp

Trong tác phẩm, tác giả đã đi sâu phân tích những nguyên nhân của trẻ có biểu

hiện tính chất khó dạy Ông đã chỉ ra ba dạng nguyên nhân dẫn đến trẻ "khó dạy":

nguyên nhân xã hội, nguyên nhân tâm lý, nguyên nhân giáo dục Trong đó ông nhấn mạnh đến nguyên nhân giáo dục, ông chỉ ra một số thiếu sót, sai phạm trong giáo dục

gia đình cũng như là giáo dục ở nhà trường "Thông thường nguyên nhân của sự khó dạy là những sai lầm sư phạm trong việc giáo dục, là sự lạc hậu, sự vụng về về mặt giáo dục "1 1,80] Trên cơ sở đó, ông cũng chỉ ra một số đặc điểm tâm lý của trẻ

"khó dạy" Trong đó thì đặc điểm nổi bật nhất ở trẻ khó dạy là sự phát triển, thể hiện

các nhu cầu (tinh thần và vật chất) dưới những phương thức lệch lạc khác nhau

Từ việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như cách nhìn nhận về các đặc điểm tâm lý của đối tượng giáo dục lại, tác giả cũng đã bàn đến hệ thống phương pháp giáo dục

Trang 14

như phương pháp khuyến khích và trách phạt, phương pháp "bùng nổ", phương pháp chuyển hướng trong giáo dục lại, và cuối cùng là phương pháp tự hoàn thiện Tác giả cũng đi sâu phân tích khái niệm, nội dung cũng như là đề ra những yêu cầu cần thiết trong quá trình sử dụng các phương pháp giáo dục đó

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

-Một công trình nghiên cứu đồ sộ của tập thể tác giả Đặng Vũ Hoạt, Phạm Lăng,

Bùi Thiện Cơ, Phạm Hạnh được thể hiện thông qua tác phẩm "Cơ sở lí luận và thực tiễn của quá trình giáo dục lại học sinh hư, học sinh phạm pháp" Trong tác phẩm

các tác giả đã bàn đến khái niệm học sinh hư, học sinh phạm pháp Trong đó các tác giả cho rằng học sinh phạm pháp là những học sinh có một dấu hiệu rất cơ bản là có hành vi vi phạm một hoặc nhiều qui phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp lý Các tác giả cũng xét đến mối quan hệ giữa học sinh hư, học sinh phạm pháp Học sinh hư nếu

cứ đi sâu vào con đường vi phạm các chuẩn mực xã hội thì có thể đi đến con đường phạm pháp, như vậy thì học sinh phạm pháp thường vốn là học sinh hư, song cũng

có trường hợp học sinh phạm pháp vốn không phải là học sinh hư như trong trường hợp phạm pháp ngẫu nhiên, không cố ý Học sinh hư, học sinh phạm pháp được gọi chung là học sinh chậm tiến

Các tác giả cũng bàn đến những đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi thiếu niên nói chung và các đặc điểm tâm lý của học sinh hư, phạm pháp nói riêng So với quá trình giáo dục bình thường thì quá trình giáo dục đối với học sinh hư, học sinh phạm pháp mang tính đặc thù, quá trình đó nhằm mục đích phục hồi, xây dựng lại nhân cách nói chung và các hành vi nói riêng cho phù hợp với chuẩn mực xã hội đã được quy định Theo các tác giả thì quá trình giáo dục lại là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, mang tính phức hợp đặc biệt, có tính cá biệt cao, đồng thời cũng đòi hỏi rất cao ở nhà giáo dục là sự lạc quan, tin tưởng, khéo léo và tấm lòng yêu thương trẻ sâu sắc

Các tác giả cũng đi sâu phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh

hư, học sinh phạm pháp, các tác giả nhận thấy rằng môi trường kinh tế xã hội ở nước

Trang 15

ta bên cạnh các yếu tố tích cực còn chứa nhiều yếu tố tiêu cực như sự phân hóa giàu nghèo, quan hệ giữa người với người là quan hệ "tiền trao, cháo múc", sự ảnh hưởng của các văn hóa phẩm đồi trụy Bên cạnh đó thì sự thiếu tình thương, tinh thần trách nhiệm, sự thiếu hiểu biết về việc giáo dục con cái, những quan hệ gia đình bị rối loạn cũng như sự thiếu quan tâm của nhà trường đối với học sinh chậm tiến, học sinh cá biệt là những nguyên nhân quan trọng đưa trẻ đến tình trạng hư, phạm pháp Đặc biệt các tác giả cũng bàn đến các phương pháp giáo dục đặc thù đối với học sinh hư, học sinh phạm pháp trong đó có các phương pháp như phương pháp xây dựng lại niềm tin, phương pháp bùng nổ, phương pháp khuyến khích, trách phạt

Về công tác thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng học sinh hư, học sinh

phạm pháp ở một số trường phổ thông và công tác giáo dục đối với đối tượng này thì các tác giả cũng đã xây dựng mô hình tổ chức giáo dục học sinh hư, học sinh phạm pháp trên địa bàn dân cư Mô hình này theo các tác giả là con đường giáo dục - liên kết các lực lượng giáo dục như nhà trường, gia đình, xã hội Các tác giả cũng đã nhấn mạnh học sinh hư, học sinh phạm pháp là một hiện tượng xã hội Vì vậy việc ngăn chặn, giáo dục đối tượng này là nhiệm vụ của toàn xã hội, cho nên mỗi đoàn thể, cá nhân cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa và trách nhiệm của mình trong công tác giáo dục các em Một xã hội văn minh, hiện đại là một xã hội mà mọi quan tâm chăm sóc bảo

vệ trẻ em được đề cao, tất cả đều hướng đến việc làm cho các em không bị thiệt thòi, bất hạnh

-Tác giả Võ Quang Phúc trong tác phẩm "Muốn trẻ em hư thành công dân tốt"

đã dùng khái niệm trẻ hư để chỉ trẻ chưa thành niên (vị thành niên) thuộc hai nhóm: trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp Tác giả đã bàn đến khái niệm trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp Qua đó tác giả cũng xác định được mối liên hệ giữa hai khái niệm này Tác giả cho rằng mối quan hệ giữa hai khái niệm này vừa có tích chất rõ ràng vừa có tính chất tương đối Xét về mặt ảnh hưởng qua lại giữa hai nhóm, những sai lầm trong hành động của trẻ chưa ngoan là cái nền mà trên đó sẽ dựng nên những tội lỗi của trẻ phạm pháp Trong điều kiện những trái ngược xã hội bộc lộ ra gay gắt, trật tự

xã hội không ổn định, các tệ nạn xã hội ở người lớn ngày càng trầm trọng hơn, thì

Trang 16

những lỗi lầm của trẻ chưa ngoan sẽ chuyển thành những tội lỗi của trẻ phạm pháp

Trong trường hợp này khoảng cách giữa "cái chưa ngoan" và "cái phạm pháp" là

rất nhỏ Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là trẻ chưa ngoan sẽ trở thành trẻ phạm pháp, bởi vì đó là một bước sa sút nghiêm trọng trong nhân cách trẻ Trong tác phẩm tác giả đã thể hiện sự thấu hiểu một cách sâu sắc về các quan điểm giáo dục của Macarencô, đồng thời tác giả cũng đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác giáo dục trẻ em chưa ngoan, trẻ em phạm pháp

-Trong bài viết "Sự giao thoa một số đặc điểm tâm lý trẻ em hư, trẻ em phạm pháp với các yếu tô không lành mạnh trong xã hội" của tác giả Phạm Lăng - Viện

khoa học giáo dục Tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm nổi bật ở trẻ em hư, trẻ em phạm pháp như chỉ số trí tuệ giảm sút, học vấn thấp, hầu hết đang học dở dang, sự tập trung chú ý khó khăn, thiếu óc phê phán, năng lực trừu tượng hóa hoặc tư duy logic hạn chế, tính tình thất thường, cư xử thô bạo với người khác, thích các trò chơi giải trí thiếu khả năng kiềm chế Từ đó tác giả cũng nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em hư, trẻ em phạm pháp Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do các em học kém, lưu ban nhiều lần rồi chán học và thường do các em bị cuốn hút vào các trò tiêu khiển có hại Tác giả cũng nhấn mạnh đến nguyên nhân xã hội đó là những yếu tố không lành mạnh từ môi trường bên ngoài như: sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các văn hóa phẩm đồi trụy, của các hàng hóa có hại của các nhà doanh nghiệp vì mục đích làm giàu Tác giả cũng chỉ ra rằng một nguyên nhân quan trọng nữa là do trẻ bị xúi giục, chỉ huy của người lớn và sự rủ rê của bạn bè

"Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường " của tác giả Vương Thanh

Hương (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) đã nêu lên thực trạng tình hình phạm tội của học sinh - sinh viên trong đó nổi lên hàng đầu là các tội như trộm cắp tài sản công dân, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội gây rối trật tự công cộng Qua đó tác giả cũng nêu lên những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội như thanh niên không có việc làm, đời sống của học sinh - sinh viên còn nhiều khó khăn thiếu thốn, thậm chí vì không đủ điều kiện có những em phải bỏ học giữa

Trang 17

chừng Trong khi đó thì công tác quản lý học sinh - sinh viên còn nhiều thiếu sót, nặng về hình thức, chủ yếu quản lý học sinh trong những giờ lên lớp còn ngoài thời gian đó thì nhà trường không quản lý nổi Qua đó tác giả đã nêu lên tầm quan trọng trong công tác giáo dục nhận thức nói chung và công tác giáo dục pháp luật nói riêng cho học sinh - sinh viên, đây cũng là biện pháp để ngăn chặn tình trạng học sinh - sinh viên phạm pháp

Trên thực tế hiện nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại các trường Giáo dưỡng Đây là đối tượng vi phạm pháp luật nhiều lần từ mức chưa nghiêm trọng đến mức rất nghiêm trọng do đó việc giáo dục các em chắc chắn phải được tổ chức và

có những phương pháp, hình thức giáo dục đặc thù Vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành

thực hiện đề tài "Phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường Giáo dưỡng số 4 Tỉnh Đồng Nai"

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản ở lứa tuổi thanh thiếu niên

1.2.1.1 Đặc điểm phát triển sinh lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên

Lứa tuổi thiếu niên (từ 10-11 đến 14-15 tuổi):

-Có sự nhảy vọt về chiều cao, có năm các em nữ có thể cao lên 5 -6 cm, các em nam cao lên từ 8 - 10 cm Tuy nhiên sự phát triển của cơ bắp không theo kịp sự phát triển của chiều cao nên dẫn đến tình trạng chiều cao và chiều ngang của cơ thể bị mất cân đối

-Thiếu niên thường có những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô

cớ, những hành vi bất thường Do quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế nên thiếu niên ít làm chủ được bản thân, khó kiềm chế những cơn xức động mạnh

-Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển sinh lý ở tuổi thiếu niên là hiện tượng dậy thì Hiện tượng này đánh dấu bước phát triển và khá hoàn thiện về cấu tạo và chức

Trang 18

năng của các cơ quan nội tiết Dấu hiệu của hiện tượng dậy thì ở nữ là sự xuất hiện kinh nguyệt, ở nam là sự xuất hiện của hiện tượng xuất tinh

Nhìn chung thì sự cải tổ của các cơ quan nội tiết và hệ thống thần kinh là cơ sở quan trọng để gây ra sự mất cân bằng chung, tính dễ kích thích, dễ nổi nóng, gây gổ, tính hiếu động, hay tính uể oải và thờ ơ có chu kì ở thiếu niên Cũng trong thời gian này, do đặc điểm thiếu niên rất dễ bị lôi kéo, sa vào các nhóm tự phát, các "băng

đảng" có những hành động không lành mạnh, thậm chí vi phạm pháp luật vì những

hành vi thiếu suy nghĩ

Lứa tuổi đầu thanh niên (từ 15-16 đến 17-18 tuổi):

Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của các em đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh như sự gia tăng chiều cao giảm dần, nữ từ khoảng 16-17 tuổi, nam khoảng 17-18 tuổi (±13 tháng)

-Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền,

sự dẻo dai được tăng cường, cơ bắp phát triển mạnh

-Thời kỳ trưởng thành về giới tính, thời kỳ chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn

Như vậy, xét về mặt sinh lý thì ở lứa tuổi đầu thanh niên đã có sự

phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước Sự phát triển của

cơ thể mang tính ổn định là cơ sở quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển tâm lý - nhân cách ở tuổi thanh niên

1.2.1.2 Đặc điểm phát triển tâm lý - nhân cách ở lứa tuổi thanh thiếu niên

Đăc điểm chung về sự phát triển tâm lý

- Những thay đổi cơ bản về mặt cơ thể làm cho thiếu niên nghĩ rằng "Mình

không còn là trẻ con nữa" Thiếu niên ý thức và đánh giá được những biến chuyển

trong sự phát triển thể chất, trong sự phát dục của mình

Trang 19

- Ở thiếu niên xuất hiện nguyện vọng muốn được làm người lớn và được đối

xử như người lớn

- Thiếu niên thường có tâm lý "phóng đại" các năng lực của mình Thiếu niên

thường đánh giá bản thân mình cao hơn hiện thực Tuy nhiên, nhìn chung người lớn thường vẫn xem thiếu niên như những đứa trẻ nhỏ, trong khi đó thì bản thân thiếu niên đã tự coi mình là người lớn, muốn được đối xử như người lớn Để thể hiện sự

bất bình của bản thân với người lớn, thiếu niên thường tỏ ra ngang bướng, tỏ ra "anh

hùng" hay bất cần trong quan hệ với người lớn, trong những công việc hằng ngày hay như những thất bại mà thiếu niên đã trải qua

Những khó khăn mà thiếu niên mắc phải có tính chất tạm thời Tuy nhiên, nếu người lớn vẫn tiếp tục giữ thái độ và cách cư xử với thiếu niên như ở giai đoạn trước thì mối quan hệ giữa người lớn và thiếu niên sẽ chuyển sang kiểu quan hệ đối lập dẫn đến những va chạm, xung khắc Vì thiếu niên tin rằng người lớn không thể hiểu được chúng, từ đó dễ đưa thiếu niên đến chỗ xa lánh người lớn và phủ định người lớn

-Sang lứa tuổi đầu thanh niên thì cùng với sự thay đổi về vị trí xã hội thì các đặc

điểm tâm lý trên đã dần đi vào ổn định

Đặc điểm giao tiếp ở lứa tuổi thanh thiếu niên:

Lứa tuổi thiếu niên:

-Hoạt động giao tiếp là hoạt động chủ đạo ở tuổi thiếu niên Thiếu niên muốn giao tiếp, muốn quan hệ với tất cả mọi người Tuy nhiên, giao tiếp với bạn bè cùng tuổi luôn được thiếu niên hướng tới Giao tiếp với bạn bè ở thiếu niên có ý nghĩa và

có sự "hấp dẫn lạ lùng" Đôi khi, nó đẩy lùi hoạt động học tập xuống hàng thứ yếu,

hạ thấp sự giao tiếp với những người thân trong gia đình Mặt khác, khi quan hệ của thiếu niên và người lớn càng không suôn sẻ thì sự giao tiếp với bạn bè càng lớn và ảnh hưởng đến thiếu niên càng mạnh mẽ

-Bên cạnh khát vọng được giao tiếp, hoạt động chung với bạn cùng tuổi, thiếu niên còn có khát vọng được bạn bè tôn trọng và công nhận Sự bất hòa, sự thiếu bạn

Trang 20

thân, hoặc tình bạn bị phá vỡ đều sinh ra những cảm xúc nặng nề Thiếu niên khó chịu đối với sự phê phán của tập thể, của bạn bè, sự đơn độc là trải nghiệm nặng nề

và hầu như không chịu đựng nổi

-Điều quan trọng nhất đối với thiếu niên trong mối quan hệ bạn bè là những phẩm chất của người bạn, một người bạn tốt là người bạn trung thành, thủy chung,

không bao giờ "phản lại" bạn bè của mình Trong "Bộ luật tình bạn", thiếu niên lên

án sự "thay lòng đổi dạ", sự ích kỷ, tham lam, khát vọng chỉ huy, phô trương ưu điểm

của mình

Hoạt động giao tiếp với bạn bè chiếm một vị trí và ý nghĩa quan trọng Do đó, nếu thiếu niên không được định hướng đúng đắn và nếu không có những nhóm bạn tích cực thì sự ảnh hưởng tiêu cực là rất lớn

Lứa tuổi đầu thanh niên:

- Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là sự giao tiếp với người lớn, bạn bè ngày càng bình đẳng và độc lập, thanh niên thường cho rằng người lớn không đánh giá đúng đắn, nghiêm túc những gì mình nghĩ, những việc họ làm cũng như sự trưởng thành của họ Bởi vậy, thanh niên thường có xu hướng lạnh nhạt xa lánh người lớn mà tìm kiếm sự đồng cảm, đồng tình ở các bạn cùng lứa tuổi

Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động giao tiếp ở giai đoạn đầu thanh niên đã có

sự phát triển đáng kể hơn so với giai đoạn thiếu niên

Đăc điểm về sự tự ý thức, tự đánh giá, ở lứa tuổi thanh thiếu niên:

Ở tuổi thiếu niên:

-Trên cơ sở của sự phát triển về mặt cơ thể và vị trí xã hội mới, thiếu niên tự ý thức bản thân mình có quyền được tôn trọng, được độc lập và được tin cậy như người lớn

-Thiếu niên đã bắt đầu biết phân tích những ưu khuyết điểm của bản thân Khi đánh giá về bản thân mình thì sự đánh giá của thiếu niên có xu hướng cao hơn so với

Trang 21

hiện thực

-Bên cạnh việc đánh giá đối với bạn đồng lứa, thiếu niên thường quan sát đánh giá những người xung quanh trong đó có bố mẹ, thầy cô Biểu hiện của sự đánh giá thường kín đáo, thường được thể hiện thông qua sự trao đổi ở nhóm bạn thân

-Sự đánh giá về người khác, đặc biệt là đánh giá về người lớn như bố mẹ, thầy

cô nói chung khá chính xác và hơi hà khắc Thiếu niên thường đánh giá không chỉ trên lời nói mà chủ yếu trong cách ứng xử

Có thể nói tuổi thiếu niên là thời kỳ mà "cái tôi" được hình thành và phát triển

mạnh mẽ, quá trình này tạo ra những phẩm chất mới, đánh dấu sự chuyển tiếp sang giai đoạn khác về chất trong sự phát triển nhân cách của thiếu niên

Ở lứa tuổi đầu thanh niên:

-Khả năng tự ý thức đến tuổi đầu thanh niên đã phát triển mạnh Thanh niên ý thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội Ở mức cao hơn các

em còn có khả năng tự đánh giá về mình theo những chuẩn mực của xã hội về mặt thể chất, tâm lý, đạo đức

-Sự tự đánh giá về bản thân ở lứa tuổi đầu thanh niên được bộc lộ mạnh mẽ hơn

so với tuổi thiếu niên Thường thì thanh niên không hài lòng với đặc điểm, phẩm chất của bản thân Đặc điểm này nếu được định hướng đúng đắn thì sẽ giúp các em có những bước phát triển tích cực về mặt nhân cách Ngược lại, nếu nhận thức không đúng đắn, đầy đủ thì rất dễ dẫn thanh niên đi lệch hướng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách

-Việc đánh giá bản thân ở thanh niên đôi khi gặp ít khó khăn và ngộ nhận như sự bướng bỉnh, ngang tàng đôi khi được hiểu là gan dạ, dũng cảm

-Việc đánh giá những người xung quanh đặc biệt là sự đánh giá về bạn bè, về cha mẹ, về thầy cô đã tương đối hoàn thiện, chính xác và tỉ mỉ -Sự tự ý thức, tự đánh giá ở thanh niên đã phát triển đầy đủ hơn so với thiếu niên, song sự tự ý thức, tự đánh

Trang 22

giá này vẫn chưa thực sự ổn định

-Trong sự tự đánh giá của thanh niên khi mà kinh nghiệm sống còn hạn chế, nếu thanh niên không đánh giá đúng bản thân mình và người khác thì thanh niên rất dễ bị lôi kéo và những nhóm tự phát không lành mạnh, và thanh niên rất dễ bị hư hỏng do tâm lý của họ rất ưa thích cái mới lạ Trên thực tế, không ít thanh niên bị lôi kéo khá sâu vào những vũng bùn tội lỗi, khi tỉnh lại thì đã quá muộn Điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách

-Đặc biệt trong giai đoạn này ở thanh niên còn xuất hiện một đặc tính quan trọng

của nhân cách đó là tính tự trọng Thanh niên thường không chịu được sự xúc phạm

của người khác đối với mình Một câu nói hay một hành động xúc phạm của người khác có thể là nguyên nhân gây ra xung đột, thậm chí ẩu đả ở lứa tuổi này

Như vậy, so với giai đoạn lứa tuổi thiêu niên thì lứa tuổi đầu thanh niên đã có sự phát triển hoàn thiện hơn, ổn định hơn về mặt sinh lý cũng như tâm lý

Tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi có nhiều biến đổi quan trọng và sâu sắc về nhiều mặt Thanh Thiếu niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn Do

đó, sự cư xử thiếu tế nhị, thiếu hiếu biết về đặc điểm lứa tuổi là những nguyên nhân quan trọng đưa trẻ đến sự phát triển nhân cách lệch lạc, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của thanh thiếu niên

1.2.2 Khái niêm về trẻ phạm pháp

-Theo tác giả Lưu Song Hà (Viện tâm lý học) cho rằng: ''Trẻ phạm pháp là trẻ

có các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội đến mức độ phạm tội, vi phạm nghiêm trọng luật pháp có thể phải truy tố trước các cơ quan pháp luật nhà nước "

-Theo giáo sư Võ Quang Phúc: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành động vi phạm pháp luật, có những hành động xấu lặp đi lặp lại nhiều lần và mức độ sai lầm trong nhân cách là quan trọng, khiến cho trẻ trở thành "nguồn gây bệnh”

-Theo tác giả Bùi Thiện Cơ (Viện KHGD): "Trẻ em phạm pháp được hiểu là

Trang 23

những trẻ em có hành vi lệch chuẩn nhà trường và xã hội qui định (đặc biệt là chuẩn mực đạo đức, pháp luật) Ngoài ra còn có các hành vi vi phạm pháp luật"

-Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành vi chống đối, phản xã hội, nguy hiểm cho xã hội, những hành vi đó vi phạm hoặc trái với qui chế, pháp luật của xã hội"

-Theo tác giả Phạm Lăng "Trẻ phạm pháp là những thanh thiếu niên dưới 18 tuổi đã vi phạm những qui định của nhà nước đang có hiệu lực pháp lý " (Vấn đề

gia đình và trẻ em phạm pháp )

-Theo tác giả Trần Kiểm: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành vi

vi phạm cấc chuẩn mực phấp luật được xã hội thừa nhận và có pháp lý, những hành vi vi phạm này làm tổn hại đến lợi ích xã hội, nhà nước, cá nhân "

Từ những định nghĩa trên, chúng tôi có thể định nghĩa trẻ phạm pháp như sau:

"Trẻ phạm pháp là những trẻ có hành vi vi phạm các chuẩn mực pháp luật của xã hội đang có hiệu lực pháp lý và cần phải được giáo dục lại"

1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ phạm pháp

Những qui luật chung về sự hình thành và biến đổi nhân cách bị khúc xạ một cách rất độc đáo trong sự phát triển của trẻ phạm pháp

-Những hành vi phạm pháp của trẻ thường do những nhu cầu như: nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu về ấn tượng tự quyết định

-Nhưng sự xuất hiện về hành vi phạm pháp bao giờ cũng gắn liền với các phương thức không bình thường để thỏa mãn các nhu cầu (nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) hoặc ở trẻ có những sai lệch lớn trong sự phát triển các nhu cầu Chẳng hạn khi trẻ có nhu cầu giao tiếp với người khác nhưng sự bộc lộ nhu cầu giao tiếp này lại được thể hiện bằng các xung đột, những va chạm thô lỗ, dữ dằn Khi sự bộc lộ giao tiếp bằng những phương thức xung đột, va chạm thành thói quen, đôi khi trẻ tạo

ra xung đột một cách vô ý thức Từ đó nhu cầu giao tiếp biến thành nhu cầu cãi lộn,

Trang 24

va chạm

-Nhu cầu tự khẳng định ở trẻ phạm pháp thường biểu hiện dưới dạng muốn tỏ ra độc lập, can đảm Nhưng sự thể hiện nhu cầu này thường bằng những phương thức lệch lạc như bắt chước người lớn hút thuốc lá, uống rượu bia, chơi cờ bạc

-Nhu cầu về ấn tượng ở trẻ phát triển kém hoặc phát triển phiến diện Ở trẻ thường chỉ phản ứng với những thông tin nào rõ ràng, gây được hiệu quả Từ đó trẻ thường ham mê chơi mạo hiểm, chạy theo ấn tượng mạnh của trò chơi cờ bạc, hút chích

-Trẻ phạm pháp học tập kém không phải do năng lực trí tuệ của trẻ kém mà phần lớn do trẻ không hoàn toàn tập trung vào công việc học tập của mình Trẻ thường giữ vững và bảo vệ cái "tôi" tiêu cực, đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu không lành mạnh

-Sự thiếu xu hướng xã hội hay thiếu mục đích trong cuộc sống cũng là một đặc điểm đặc trứng ở trẻ phạm pháp Sự thiếu mục đích dẫn đến sự vô nguyên tắc, sự nhu nhược, nhát gan trước những khó khăn của cuộc sống Khi không có mục đích sống tích cực, trẻ không thể nào chống lại được những ảnh hưởng tiêu cực, trẻ dễ dàng chịu những tác động ảnh hưởng tiêu cực đầy rẫy trong xã hội

-Trẻ thường có thái độ bất chấp mọi ảnh hưởng giáo dục từ phía người lớn, của thầy cô Trẻ cũng thường phản ứng lại sự chỉ dạy ấy Đặc điểm này xuất hiện là do kết quả giáo dục của gia đình, của người lớn mà trong đó có nhiều mối quan hệ bất đồng, không đúng đắn giữa cha và mẹ, giữa cha mẹ với con cái Sự bất ổn trong các mối quan hệ với người lớn được tích tụ dần dần qua nhiều năm tháng dẫn đến sự mất mát, đổ vỡ niềm tin Hơn thế nữa có nhiều trẻ phải sống trong cảnh thiếu tình thương, thái độ thờ ơ, dửng dưng hoặc sự đối xử bất công, vô lý của người lớn và ngay cả của thầy cô giáo Từ đó thái độ coi thường bất chấp ở trẻ ngày một nghiêm trọng Sự chu đáo và tin cậy trong các mối quan hệ qua lại với con người đã bị thay thế cho sự sợ hãi và lòng căm ghét Sự tan vỡ uy tín của người lớn, đặc biệt là của các bậc cha mẹ

đã làm công tác giáo dục trở nên phức tạp rất nhiều

Trang 25

-Từ sự xung đột với người lớn, với cha mẹ hay với thầy cô giáo ở trẻ phạm pháp còn có sự xung đột với tập thể Đối với trẻ, những đứa trẻ ngoan khác là những đứa trẻ thiếu bản lĩnh, đáng châm chọc và những hoạt động tập thể thường không có ý nghĩa Để chứng tỏ bản lĩnh trẻ thường đứng ngoài các hoạt động tập thể Không những thế trẻ còn cố gắng lôi kéo những đứa trẻ khác tạo thành một "băng nhóm" đối đầu với lợi ích tập thể

-Sự thiếu thốn về những tiêu chuẩn đạo đức vững chắc, sự xung đột với môi

thường giáo dục, sự nhượng bộ ảnh hưởng của "những cá nhân khác " - tất cả

những điều đó dễ đưa trẻ vào những ảnh hưởng nguy hại của những nhóm vi phạm pháp luật bên ngoài

-Tính mâu thuẫn trong hành vi do những mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển nhân cách tạo nên như :

♦ Trí tuệ phát triển nhưng tình cảm không phát triển và ngược lại Chẳng hạn mặc dù trẻ có nhiều hiểu biết về các chuẩn mực ứng xử với gia đình nhưng lại thờ ơ, nhạt nhẽo, thậm chí coi thường hoặc có tình bạn nhưng không hiểu đầy đủ hoặc hiểu sai về tình bạn nên trẻ thường có những hành vi bắt chước bạn hoặc lôi kéo bạn vào những hành vi sai lệch

♦ Lòng yêu lao động kém phát triển nhưng nhu cầu lại cực kỳ phát

triển, chẳng hạn như lười lao động nhưng nhu cầu tiêu xài so với khả năng lại rất lớn, dẫn đến hành vi ăn cắp, ăn quỵt

♦ Tầm hiểu biết rất hạn chế nhưng kinh nghiệm xấu trong cuộc sống hàng ngày lại rất phong phú chẳng hạn như những hiểu biết về nội dung học tập ở trường thì rất

có hạn, kết quả kiểm tra thì yếu nhưng lại có những kinh nghiệm xấu phong phú như

có sự hiểu biết về các phim đen, cách chơi bài bịp bợm, cách nói xiên nói xỏ

-Tích cực kỳ không ổn định của hứng thú, nguyện vọng chẳng hạn, nay có nhu cầu và thích thú đối với rượi chè, mai lại có nhu cầu thích thú đối với cờ bạc, ngày khác lại có nhu cầu và thích thú với các kiểu ăn mặc lập dị

Trang 26

-Trẻ phạm pháp thường có trạng thái căng thẳng, trẻ luôn có những hành vi ngông cuồng, thiếu khả năng tự kiềm chế, thiên về cảm tính và mang tính chất bản năng hoặc có một số trẻ phạm pháp liên quan đến bệnh tật như loạn thần kinh chức năng, bệnh tâm thần, trầm uất do đó khi có điều kiện, cơ hội thuận lợi trẻ dễ rơi vào tình trạng "hưng phấn" và có thể phạm tội Đó cũng chính là tác nhân dẫn đèn hành vi

vi phạm pháp luật

Do vậy khi đánh giá đối tượng cần tìm hiểu cụ thể đúng đắn đặc điểm tâm sinh

lý của từng em để từ đó có những biện pháp xử lý và giáo dục phù hợp, tránh đánh đồng mọi đối tượng như nhau, qui hết tất cả các mức độ phạm tội

Bất kỳ đứa trẻ phạm pháp nào cũng có những đặc điểm tâm lý lứa tuổi chung, những đặc điểm này chỉ bị môi trường bên ngoài và môi trường giáo dục làm cho sai lệch mà thôi Thậm chí một đứa trẻ phạm tội nghiêm trọng nhất cũng luôn luôn có nhiều phẩm chất tích cực mà nhà giáo dục có thể dựa vào, bao giờ ở trẻ cũng chứa nhiều đặc điểm lứa tuổi mà có thể sử dụng để giáo dục trẻ, bao giờ cũng có những sức mạnh, nhiều điều kiện mà nhờ đó chúng ta có thể ngăn ngừa hoặc khắc phục sự

khó dạy Dựa theo quan điểm của Macarencô: "không có những đứa trẻ không thể sửa chữa được mà chỉ có sự giáo dục tổ chức không đúng đắn, những thầy giáo thờ ơ, nhiều bậc cha mẹ vô trách nhiệm Điều chủ yếu trong việc giáo dục trẻ phạm pháp là phải làm cho các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục và chính bản thân đứa trẻ có tinh thần trách nhiệm về công việc, về hành vi của mình "

1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trang trẻ phạm pháp

Theo quan điểm lí luận giáo dục thì trẻ phạm pháp là đối tượng của việc giáo dục lại Việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến trẻ phạm pháp là cơ sở quan trọng để ngăn ngừa cũng như để có nhiều biện pháp tác động phù hợp với đối tượng này

Những công trình nghiên cứu về vấn đề trẻ em phạm pháp đã đưa ra nhiều nguyên nhân dưới nhiều góc độ khác nhau Từ việc tìm hiểu phân tích, tổng hợp các nguyên nhân chúng tôi đã khái quát và rút ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp

Trang 27

Nguyên nhắn từ phía xã hội:

Việc chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã gây ra nhiều biến đổi xã hội to lớn Bên cạnh những yếu tố tích cực thì những yếu tố tiêu cực đã và đang xâm nhập vào đời sống xã hội Các tác động của tệ nạn xã hội như buôn lậu, tham nhũng, mại dâm, sách báo đen, phim sex cùng với một số hàng hóa không có lợi như rượu, thuốc lá đã làm tha hóa một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên Sự xuống cấp về đạo đức trong xã hội và ảnh hưởng của những mặt trái trong

cơ chế thị trường, coi trọng đồng tiền và các giá trị vật chất thì con người vì muốn làm giàu mà bất chấp luân thường và đạo lý

Những yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội có thể xâm nhập vào trẻ bằng con đường này hay con đường khác Bên cạnh sự tiếp nhận một cách bừa bãi, không chọn lọc những ảnh hưởng tiêu cực thi việc sống trong một môi trường đầy rẫy những tiêu cực đấy thì sự tiêm nhiễm những thói hư tật xấu cũng trở nên dễ dàng

Khi đời sống kinh tế, xã hội có nhiều khó khăn phức tạp, sự phân hóa giàu nghèo tăng lên thì vấn đề tạo việc làm cho thanh thiếu niên trở nên khò khăn và cấp bách Thiếu việc làm, trình độ văn hóa thấp là những nguyên nhân đưa thanh thiếu niên đi vào con đường phạm pháp

Bên cạnh đó thì sự quản lý kém hiệu quả của các cấp chính quyền đối với các hàng hóa, văn hóa phẩm đồi trụy đang du nhập vào thị trường, cũng như những thiếu sót, hạn chế trong công tác quản lý và giáo dục thanh thiếu niên là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp như ngày nay

Nguyên nhân từ phía nhà trường:

Thanh thiếu niên phạm tội ở nước ta còn do môi trường nhà trường chưa hoàn thiện, chất lượng giáo dục nhất là giáo dục đạo đức bị xuống cấp Giáo viên chưa quan tâm sâu sắc và có những biện pháp thích hợp để giúp đỡ những học sinh yếu kém Những học sinh yếu kém do không đáp ứng được những yêu cầu của nhà trường

đã trở nên lưu ban, thất học

Trang 28

Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy thì nhìn chung trình độ văn hóa của thanh thiếu niên phạm pháp thấp hơn nhiều so với thanh thiếu niên bình thường cùng lứa tuổi

Việc quản lý học sinh có nhiều thiếu sót, nhà trường thường khoán trắng việc giáo dục học sinh cho giáo viên chủ nhiệm, số học sinh lưu ban, chậm tiến, chưa ngoan về mặt đạo đức chưa có những phương pháp giáo dục đặc thù, trong khi đó thì các môn giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật chưa được chú ý như các môn khác và

chưa có sự phát triền toàn diện hệ thống trong khắp cả nước

Nguyên nhân từ phía gia đình

Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và rất quan trọng ảnh hưởng đến nhân cách thanh thiếu niên Từ khi sinh ra đến khi trưởng thành phần phần lớn thanh thiếu niên sống trong gia đình vì thế mà gia đình đóng vai trò trọng yếu trong việc giáo dục thanh thiếu niên Thanh thiếu niên phạm pháp chủ yếu chịu ảnh hưởng xấu của gia đình, trong đó có thái độ bàng quan, thờ ơ, vô trách nhiệm của các bậc cha mẹ và người lớn

Ngược lại với thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của gia đình thì sự nuông chiều con quá mức, hay sự đối xử hà khắc như đánh đập, chửi mắng là những phương pháp giáo dục không phù hợp làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ em Thực tế cho thấy thanh thiếu niên phạm pháp thường xuất thân trong những gia đình làm ăn phi pháp, cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc, anh chị có tiền án, tiền sự, hay cha

mẹ ly hôn

Một điều quan trọng khác là kinh tế gia đình khó khăn, con cái không được học hành, nhà ở quá chật hẹp, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn cũng là nhân tố góp phần thúc đẩy thanh thiếu niên phạm tội

Một khi tác động của giáo dục gia đình và nhà trường ngày một yếu đi thì những ảnh hưởng tự phát, những ảnh hưởng tiêu cực ở những nhóm bạn bè xấu càng tăng dần và nhanh chóng thâm nhập vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở

Trang 29

thanh thiếu niên

Nguyên nhân từ bản thân thanh thiếu niên

Nguyên nhân này biểu hiện ở những thanh thiếu niên có khuyết tật bẩm sinh Các em có mặc cảm về vị thế, vị trí xã hội, tính tình không ổn định, có những biểu hiện muốn tách biệt với mọi người, với xã hội Bên cạnh đó còn là thái độ chống đối

xã hội, chống đối những ảnh hưởng của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Phần lớn thanh thiếu niên phạm pháp là những em chậm tiến, thua kém bạn bè cùng lớp, cùng trang lứa về mặt trí tuệ Chính vì thua kém bạn bè trong lĩnh vực học tập, để khẳng định bản thân các em thường tỏ ra mình có nhiều kinh nghiệm, tỏ ra hiểu đời, tỏ ra mạnh mẽ hơn những bạn cùng tuổi Do vậy mà ở các em luôn muốn bộc lộ sức mạnh của sự trưởng thành, và nhu cầu bộc lộ sức mạnh này lại được thực hiện bằng những phương thức khó được chấp nhận

Việc tìm kiếm nguyên nhân của tình trạng phạm pháp ở thanh thiếu niên đối với nhà giáo dục cũng cần thiết như việc chuẩn đoán bệnh đối với người thầy thuốc Trong khoa học giáo dục thì cơ sở của việc tìm hiếu nguyên nhân là nghiên cứu các dạng hoạt động muôn hình muôn vẻ và việc quan sát, tìm hiểu thanh thiếu niên trong những tình huống khác nhau

1.2.5 Phương pháp giáo dục

1.2.5.1 Khái niệm chung về phương pháp giáo dục:

Giáo dục con người là một quá trình hết sức khó khăn và phức tạp Trong đó thì

nghệ thuật giáo dục tập trung chủ yếu ở phương pháp giáo

Trong quá trình giáo dục thì phương pháp giáo dục có mối quan hệ biện chứng với mục đích, nhiệm vụ và nội dung giáo dục Vì vậy, để thực hiện quá trình giáo dục thì nhà giáo dục cần phải xác định được mục đích, mục tiêu và nội dung giáo dục Tuy nhiên, để chuyển hóa những yêu cầu giáo dục đó đến với đối tượng giáo dục thì quan trọng là cần phải có những phương pháp giáo dục phù hợp

Trang 30

Phương pháp: Là cách thức, con đường thực hiện một hoạt động cụ thể để

nhằm đạt được mục đích của hoạt động đó

Phương pháp giáo dục: Là cách thức hoạt động của nhà giáo dục và của người

được giáo dục, được thực hiện trong sự thống nhất với nhau, nhằm hoàn thành những

nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đã định [3,95]

Phương pháp giáo dục mang tính chủ thể rất cao, cùng một nội dung hoạt động nhưng mỗi chủ thể có những con đường, cách thức tác động khác nhau Hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, khéo léo các phương pháp giáo dục, chủ thể giáo dục Vì vậy, có thể nói phương pháp giáo dục mang tính

"động" và quyết định đến chất lượng giáo dục Phương pháp giáo dục thể hiện sự

thống nhất biện chứng giữa cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục Trong đó thì nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo, người được giáo dục đóng vai trò chủ động chuyển hóa tích cực những yêu cầu của xã hội dưới sự tác động của nhà giáo dục

Dưới sự tự giác vận động và phát triển theo định hướng giáo dục đã định thi đối tượng giáo dục hình thành được ý thức, tình cảm, tích cực đối với các chuẩn mực xã hội và trên cơ sở đó hình thành được hành vi và thói quen phù hợp

Phương pháp giáo dục bao gồm các biện pháp giáo dục Biện pháp giáo dục là yếu tố hợp thành của phương pháp Trong những tình huống sư phạm cụ thể thì phương pháp giáo dục và biện pháp có thể chuyển hóa chức năng cho nhau

1.2.5.2 Đặc điểm của phương pháp giáo dục

Quá trình giáo dục về bản chất là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động

và giao lưu cho con người Vì vậy phương pháp giáo dục chính là cách thức tổ chức cuộc sống, cách thức tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục theo mục đích giáo dục của xã hội

Quá trình giáo dục diễn ra theo ba khâu, từ nhận thức, đến thái độ, tình cảm, niềm tin và cuối cùng là hành vi thói quen trong cuộc sống Vì thế mà phương pháp

Trang 31

sẽ tác động vào từng khâu và đồng thời tác động vào tất cả các khâu của quá trình giáo dục

Đối tượng của giáo dục là con người, bao gồm mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mỗi con người có những nét riêng, độc đáo về mặt tâm lý, ý thức, về hoàn cảnh môi trường sống, môi trường giáo dục, về trình độ nhận thức lẫn kinh nghiệm sống Vì thế

mà đối với mỗi đối tượng, mỗi tình huống cụ thể cần phải có những phương pháp giáo dục khác nhau Không có một phương pháp nào chung cho tất cả mọi người Vì vậy mà nghệ thuật sử dụng phương pháp giáo dục không cho phép một sự rập khuôn máy móc, có những phương pháp đối với đối tượng này có thể thành công song đối với đối tượng khác có thể sẽ kém hiệu quả Vì vậy, việc sử dụng phương pháp đòi hỏi một sự tế nhị, khéo léo, sáng tạo

Phương pháp giáo dục rất đa dạng và phức tạp Vì vậy nhà giáo dục cần phải sử dụng các phương pháp một cách linh hoạt phù hợp với mục đích, và từng đối tượng nhất định

1.2.5.3 Hệ thống các phương pháp giáo dục

Những phương pháp giáo dục ý thức nhân cách là những phương pháp giáo dục tác động đến nhận thức và tình cảm của đối tượng giáo dục mà mục đích cuối cùng là hình thành niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội đã được quy định Sự cần thiết của nhóm phương pháp này xuất phát từ nguyên tắc thống nhất giữa ý thức và hoạt động

Có thể xây dựng ý thức bằng các phương pháp: Đàm thoại, giảng giải, nêu gương

U

Đàm thoại:UCó đàm thoại riêng và thảo luận

Đàm thoại là phương pháp được thực hiện bằng lời nói để trao đối ý kiến với nhau giữa nhà giáo dục với học sinh hoặc giữa học sinh với nhau về một vấn đề nào

đó (về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, xã hội, đời sống)

Trong đàm thoại, nhà giáo dục và đối tượng giáo dục đặt ra những câu hỏi cho

Trang 32

nhau để đôi bên cùng phát biểu ý kiến của mình

Với phương pháp đàm thoại, nhà giáo dục tạo cơ hội cho người được giáo dục giải thích, đánh giá những sự kiện, những hiện tượng xã hội có liên quan đến các hành vi tiêu cực hay tích cực, giải quyết các tình huống đạo đức, pháp luật để từ đó rút ra được những kết luận bổ ích Đồng thời, củng cố ý thức cá nhân và hình thành niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội đã được quy định

+Thảo luân: là hình thức đặc biệt của đàm thoại giữa học sinh với nhau do nhà

giáo dục hay cán bộ lớp điều khiển nhằm trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đó

+ Đàm thoại riêng: Là biện pháp đặc biệt trong phương pháp đàm thoại Biện

pháp này giúp nhà giáo dục hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh và cá tính của từng em, nhất là những vấn đề mà những học sinh đó không muốn đưa ra bàn bạc trong tập thể

mà chỉ muốn nói riêng với giáo viên Biện pháp này chỉ có tác dụng tốt trong điều kiện quan hệ thầy trò dựa trên sự tin cậy, yêu thương, dân chủ, ân cần

Thử thách lớn nhất đối với người giáo viên là trong đàm thoại riêng với các học sinh bướng bỉnh, chậm tiến, khó dạy Trong những trường hợp đó, đòi hỏi nhà giáo dục phải biết cách giao tiếp khéo léo, tế nhị, thận trọng, và đánh giá học sinh một cách có tình, có lý, nhất là phải có thái độ thật sự yêu thương, trân trọng, chân thành

và tin tưởng, tuyệt đối tránh thái độ thô bạo, cưỡng bức, cứng nhắc, khuôn sáo công thức

Để đạt được hiệu quả cao, trong đàm thoại nhà giáo dục cần phải:

-Trước khi đàm thoại, phải xác định mục tiêu, chủ đề, nội dung đàm thoại, xây dựng hệ thống những câu hỏi phù hợp

-Khi tiến hành đàm thoại cần nêu lại chủ đề, mục tiêu, nội dung đàm thoại và các câu hỏi đàm thoại Trong quá trình đàm thoại, người được giáo dục phát biểu ý kiến với nhau và với nhà giáo dục

-Khi kết thúc đàm thoại, nhà giáo dục cần khuyến khích những người được giáo

Trang 33

dục viết ra những kết luận cần thiết, đồng thời tổng kết và đánh giá chung

U

Phương pháp giảng giải:

Là phương pháp trong đó nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng minh các chuẩn mực xã hội đã được quy định nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung và quy tắc thực hiện các chuẩn mực đó Nhờ vậy, người được giáo dục có cơ hội lĩnh hội những chuẩn mực xã hội, đồng thời hình thành được

niềm tin đối với các chuẩn mực đó

Để giảng giải, khuyên bảo có hiệu quảy nhà giáo dục cần chú ý đến những vấn đề sau:

-Nhà giáo dục cần chọn thời điểm thích hợp để giảng giải, khuyên bảo, cần chuẩn bị nội dung cho đầy đủ, chính xác

-Khi diễn giảng nhà giáo dục cần dùng lời nói rõ ràng, chính xác dễ hiểu, logíc, tạo được sự đồng cảm giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

-Nên thu hút người được giáo dục tham gia giải thích, chứng minh các sự kiện, hiện tượng có liên quan từ đó rút ra kết luận

U

Phương pháp nêu gương:

Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặc của tập thể để kích thích những người được giáo dục học tập và làm theo, phương pháp nêu gương dựa trên cơ chế của sự bắt chước

Phương pháp nêu gương có tác dụng giúp người được giáo dục phát triển năng lực phê phán, đánh giá được những hành vi của người khác, đồng thời rút ra những kết luận bổ ích cho bản thân Từ đó, người được giáo dục biết học tập những tấm gương tốt, tránh những tấm gương xấu, hình thành niềm tin về những chuẩn mực xã hội và mong muốn có những hành vi phù hợp

Để phát huy tác dụng của phương pháp nêu gương,nhà giáo dục cần chú ý:

Trang 34

-Căn cứ vào mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể,vào đặc điểm tâm sinh lý của người được giáo dục, lựa chọn những tấm gương sáng và những tấm gương phản diện phù hợp Song, những tấm gương sáng là chủ yếu, không được lạm dụng những gương phản diện vì dễ gây ra kết quả phản giáo dục

-Những tâm gương nêu ra phải gần gũi với cuộc sống hằng ngày và phải mang tính chất điển hình, tránh tràn lan, chung chung

-Phải có tính khả thi đối với người được giáo dục, tránh nêu "những tấm gương quá lý tưởng”

-Nhà giáo dục có thể nêu gương tốt từ bạn bè, người thân, những tấm gương trên báo, đài, các tác phẩm văn học

-Bản thân nhà giáo dục phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo Sự gương mẫu của nhà giáo dục sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành động của trẻ

Như vậy, các phương pháp xây dựng ý thức nhân cách có tác dụng giúp cho người được giáo dục có những tri thức cần thiết về các giá trị chuẩn mực xã hội Đồng thời, các phương pháp này còn giúp đối tượng giáo dục nhận thấy được những hành vi lệch chuẩn xã hội, không được xã hội chấp nhận, đi ngược với đạo đức và truyền thống của mỗi quốc gia

Trên cơ sở những tri thức về các chuẩn mực, giá trị xã hội, người được giáo dục

sẽ dần dần hình thành thái độ niềm tin tương ứng Từ những tri thức và niềm tin về các chuẩn mực, giáo dục xã hội thống nhất với nhau làm cơ sở định hướng rèn luyện hành vi và thói quen tương ứng

 Nhóm phương pháp tổ chức hoạt đông và hình thành kinh nghiêm ứng

sử xã hội

Hoạt động và giao tiếp là những yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Hoạt động là quá trình con người xác lập các mối quan hệ giữa

Trang 35

mình với thế giới xung quanh, trong đó có cả bản thân chủ thể Chính trong quá trình hoạt động, chủ thể mới bộ lộ ra bên ngoài năng lực, ý chí, tình cảm, hứng thú, tính cách của bản thân Đồng thời, thế giới bên ngoài cũng tác động ngược trở lại, làm phong phú thế giới nội tâm, hình thành và phát triển nhân cách của bản thân

Chính vì vậy, trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần tổ chức và hướng dẫn các hoạt động nhằm chuyển hóa ý thức về các chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói quen tương ứng

Trong nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử

xã hội gồm các phương pháp: phương pháp giao việc, phương pháp tập luyện

+Phương pháp giao việc:

Là phương pháp nhà giáo dục lôi cuốn người được giáo dục và những hoạt động

đa dạng với những công việc nhất định, với những nghĩa vụ nhất định, qua đó hình thành được những hành vi ứng xử phù hợp với những yêu cầu của công việc được giao

Khi giao việc nhà giáo dục cần chú ý:

-Đưa ra những yêu cầu cụ thể mà người được giáo dục phải hoàn thành, giúp cho họ có thể định hướng đúng đắn cho toàn bộ hoạt động của mình nhằm thực hiện công việc được giao

-Cần giải thích cho người được giáo dục biết ý nghĩa của công việc để từ đó kích thích họ tự giác, tích cực thực hiện công việc

-Khi giao việc nhà giáo dục còn phái tính đến hứng thú, năng khiếu của đối tượng nhằm phát huy được thế mạnh của họ trong hoạt động

-Theo dõi, giúp đỡ và uốn nắn những sai sót để người được giáo dục hoàn thành mọi yêu cầu của công việc

Nhà giáo dục có thể để tập thể giao việc cho cá nhân với những yêu cầu rõ ràng

Trang 36

nhằm tạo điều kiện cho họ phát huy ý thức và năng lực tự quản

-Nhà giáo dục cần phải kiểm tra, đánh giá công khai kết quả hoàn thành công việc của cá nhân hay tập thể những người được giáo dục

+Phương pháp tập luyện:

Là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện một cách đều đặn

và có kế hoạch đối với những hành động nhất định nhằm biến những hành động đó thành thói quen ứng xử [3, 106]

Thói quen ứng xử là nền tảng của giáo dục Nó có thể hình thành và biến đổi được kinh nghiệm thực tiễn chứng tỏ rằng: phương pháp tập luyện đặc biệt có hiệu quả trong thời kỳ đầu của quá trình giáo dục và sẽ phát triển thành hành vi đúng đắn Phương pháp tập luyện được tiến hành dưới những hình thức khác nhau tùy theo từng đối tượng giáo dục

Để thực hiện phương pháp luyện tập có hiệu quả cần chú ý đến những điểm sau:

-Nhà giáo dục phải cho người được giáo dục biết được quy tắc hành vi, nghĩa là làm cho đối tượng hình dung rõ hành vi cần được thực hiện như thế nào để người được giáo dục có thể tự định hướng cho việc thực hiện hành vi

-Khi cần thiết có thể làm mẫu cho người được giáo dục về những hành vi cần tập luyện

-Tạo điều kiện cho người được giáo dục tập luyện thường xuyên, lặp đi lặp lại những hành vi đã được tập luyện qua quá trình thực hiện chế độ sinh hoạt và các hoạt động

-Nhà giáo dục cần tiến hành kiểm tra, uốn nắn thường xuyên Đồng thời, khuyến khích họ tự kiểm tra, tự uốn nắn hành vi của mình

Thói quen gắn với nhu cầu, một thói quen khi đã được hình thành thì rất khó

Trang 37

thay đổi Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập luyện thói quen, Uxinxky đã nói:

"Giáo dục mà không có thói quen, ví như lâu đài xây trên cát”

Nhóm phương pháp kích thích hoạt đông và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục

Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục tham gia nhiều hoạt động khác nhau như học tập, lao động, thể dục thể thao qua đó rèn luyện những hành vi ứng

xử Trong quá trình hoạt động đó thì mỗi chủ thể giáo dục sẽ tham gia với những thái

độ khác nhau Có những người tham gia hoạt động một cách tự giác, có những hành

vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội Nhưng cũng có những người không tự giác tham gia các hoạt động, hay có những hành vi ứng xử không phù hợp Thậm chí

có những hành vi lệch chuẩn, không được xã hội thừa nhận Vì vậy, vấn đề được đặt

ra là những thái độ hành vi tích cực cần được kích thích và những thái độ, hành vi tiêu cực cần được điều chỉnh, uốn nắn Do đó, trong quá trình giáo dục chúng ta cần vận dụng nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục

Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của

người được giáo dục bao gồm: phương pháp khen thưởng và phương pháp trách

phạt

U

Phương pháp khen thưởng

Là phương pháp biểu thị sự đánh giá tích cực đối với những hành vi ứng xử của người được giáo dục

Phương pháp khen thưởng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục Nó khẳng định hành vi của mỗi chủ thể là đúng đắn, là phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã được quy định, giúp cho người được giáo dục tự khẳng định những hành vi tốt của mình, giúp cho họ có thêm sức mạnh, niềm tin Từ đó, kích thích người được giáo dục tiếp tục duy trì và phát triển những hành vi tích cực, đồng thời tránh được những hành vi tiêu cực không phù hợp với các chuân mực xã hội

Trang 38

Trong thực tiễn giáo dục, khen thưởng được thực hiện dưới những hình thức khác nhau tùy theo tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng của những hành vi tích cực

và sự nỗ lực riêng của người được giáo dục Các hình thức có thể là:

-Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như mỉm cười, gật đầu

-Tỏ lời khen đúng lúc và đúng mức

-Biểu dương trước tập thể

-Tặng giấy khen, bằng khen, thưởng bằng vật chất Muôn áp dụng phương pháp khen thưởng có kết quả nhà giáo dục cần chú ý:

-Đảm bảo khen thưởng trên cơ sở những hành vi thực tế của người được giáo dục

-Đảm bảo khen thưởng công bằng, khách quan

-Đảm bảo khen thưởng kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ

-Đảm bảo kết hợp khen thưởng thường xuyên với khen thưởng quá trình

-Đảm bảo gây được dư luận tập thể (xã hội) đồng tình với việc khen thưởng Tuy nhiên, không phải bất cứ việc khen thưởng, biểu dương nào cũng có ý nghĩa giáo dục tích cực Ý nghĩa giáo dục của việc khen thưởng càng lớn khi khen thưởng không đơn giản là đánh giá kết quả mà còn nêu bật được sự nỗ lực của cá nhân và cả động cơ, phương thức hoạt động

U

Phương pháp trách phạt:

Là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự phê phán những hành vi sai trái của người được giáo dục, buộc người được giáo dục phải từ bỏ những hành vi sai trái, có hại cho xã hội và điều chỉnh các ứng xử của mình theo đúng các chuẩn mực xã hội đã quy định [3,112]

Trang 39

Trách phạt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục, bởi nó tạo cơ hội buộc những người có lỗi lầm trong ứng xử phải điều chỉnh hành vi của mình theo đúng những chuẩn mực đã được quy định Đồng thời cũng tạo cơ hội nhắc nhở những người không vi phạm, không rơi vào những hành vi sai trái như những người đã bị trách phạt Trách phạt có thể thực hiện dưới những hình thức như nhắc nhở, phê bình, cảnh báo

Khi vận dụng phương pháp trách phạt, nhà giáo dục cần chú ý đến những điểm sau:

-Trách phạt phải công bằng, khách quan, đúng tội, đúng mức độ của hành vi sai trái và lỗi lầm, tỏ thiện ý mong muốn và tin tưởng người bị trách phạt sau này sẽ trở thành người tốt

-Khi trách phạt, nhà giáo dục cần đảm bảo cho người bị trách phạt thấy rõ sai lầm của mình và chấp nhận hình thức, mức độ trách phạt đối với mình

-Đảm bảo tôn trọng nhân phẩm của người bị trách phạt như không làm đau đớn

về thể xác, không dùng hình phạt để trả thù cá nhân

-Việc trách phạt không nên vội vàng, hấp tấp, cần để cho người bị trách phạt có thời gian suy ngẫm, không bao giờ được nhắc đi nhắc lại những lỗi lầm cũ đã qua, không máy móc, hình thức, không trách phạt theo một hình thức sáo mòn Nhà giáo dục cần phải linh hoạt nhạy bén, thay đổi hình thức trách phạt và cần phải cá biệt hoa trong cách thức trách phạt thì mới đạt hiệu quả

Như vậy, phương pháp khen thưởng và trách phạt có tác dụng kích thích, điều chỉnh những hành vi ứng xử của người được giáo dục theo định hướng của những chuẩn mực xã hội đã được quy định

Trong các phương pháp này thì phương pháp khen thưởng là chủ yếu, phương pháp trách phạt là cần thiết nhằm giúp cho người được giáo dục phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm

Trang 40

1.2.6 Một số phương pháp giáo dục lại đôi với trẻ phạm pháp

Quá trình giáo dục lại đối với trẻ phạm pháp về bản chất là quá trình trong đó dưới tác động chủ đạo của các phương pháp giáo dục, học sinh tự giác xây dựng lại nhân cách nói chung, những hành vi nói riêng phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, pháp luật, góp phần thực hiện mục đích giáo dục

Quá trình giáo dục lại là một quá trình mang tính đặc thù Tính đặc thù đó do bản chất, mục đích giáo dục qui định Mục đích của quá trình giáo dục lại xét đến cùng-là nhằm khôi phục lại các phẩm chất nhân cách Đồng thời giúp cho nhân cách phát triển đúng hướng, ổn định và bình thường Vì vậy mà trong quá trình giáo dục lại thì các phương pháp giáo dục cũng mang tính đặc thù

Phương pháp giáo dục lại: Là cách thức hoạt động của nhà giáo dục và của

người được giáo dục, được thực hiện trong sự thống nhất với nhau, nhằm giúp cho người được giáo dục tự giác xây dựng, khôi phục lại nhân cách cho phù hợp với những chuẩn mực xã hội

1.2.6.1 Phương pháp xây dựng lại niềm tin

Đối với các chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật thì ở trẻ phạm pháp có

sự mất niềm tin ở những chừng mực khác nhau Vì vậy trong quá trình giáo dục lại, việc xây dựng lại niềm tin cho các em có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo ra một tác nhân kích thích mạnh mẽ sự phục hồi những hành vi tích cực Để xây dựng lại niềm tin cho các em có thể sử dụng các phương pháp giáo dục thông thường với nhiều cách thức khác nhau như:

Tổ chức cho các em nhận thức lại chân giá trị của các chuẩn mực đạo đức, pháp luật đồng thời thấy rõ những sai lệch trong những hành vi của mình và tác hại do sai lệch đó đem lại cho cá nhân, gia đình, xã hội

+Tổ chức kể chuyện, giảng giải, hỏi đáp về các chuẩn mực

+Tổ chức thảo luận, tranh luận để các em tự rút ra kết luận cái nên làm, cái

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Đặc điểm học sinh được điều tra. - phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai
Bảng 2 Đặc điểm học sinh được điều tra (Trang 57)
Bảng 8: Những nội dung được giáo viên nêu gương: - phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai
Bảng 8 Những nội dung được giáo viên nêu gương: (Trang 68)
Bảng 9: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng, thái độ của học sinh ở  phương pháp nêu gương - phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai
Bảng 9 Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng, thái độ của học sinh ở phương pháp nêu gương (Trang 69)
Bảng 14: Đánh giá của giáo viên về nội dung bị trách phạt - phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai
Bảng 14 Đánh giá của giáo viên về nội dung bị trách phạt (Trang 80)
Bảng 22: Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở  phương pháp trách phạt - phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường giáo dưỡng số 4 tỉnh đồng nai
Bảng 22 Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở phương pháp trách phạt (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w