1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp

117 814 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, tại điều 14 của Luật Bình đẳng giới đã nêu rõ những quy định về bình đẳng giới như “Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo bồi dưỡng” hay “Nam, nữ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 3

Bản luận văn này là một phần kết quả quan trọng của quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:

- Quý Thầy, Cô phụ trách các môn học, Quý Thầy, Cô Khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu

- Cô TS Nguyễn Thị Bích Hà đã hết lòng giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tận tình để tôi

có thể hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình

- Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

- Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Lao động và Thương binh xã hội, Cục Thống kê, Sở Giáo dục, Sở Kế hoạch và đầu tư, Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh, Ban Quản lý Thư viện trường Đại học Trà Vinh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

- Nhân dịp này, tôi xin gửi những lời tri ân tới những người thân yêu nhất của tôi

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2011

Tác giả luận văn

Phạm Thị Tuyết

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu, các sơ đồ, biểu đồ, bản đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4

3.1 Mục đích của đề tài 4

3.2 Nhiệm vụ của đề tài 4

4 Phạm vi và giới hạn của đề tài 4

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Các quan điểm nghiên cứu 5

5.2 Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án 6

6 Cấu trúc của đề tài 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Ch ương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản về giới tính và giới 7

1.1.1 Giới tính 7

1.1.1.1 Định nghĩa 7

1.1.1.2 Biểu hiện của sự khác biệt về giới tính 7

1.1.2 Giới 7

1.1.2.1 Định nghĩa 7

1.1.2.2 Các biểu hiện của giới: 8

1.1.2.3 Vai trò giới 10

1.1.2.4 Định kiến giới 11

1.1.3 Bình đẳng giới 12

1.2 Phương pháp phân tích và đánh giá bình đẳng giới trong giáo dục 14

Trang 5

1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI) 15

1.2.1.1 Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP 15

1.2.1.2 Chỉ số tuổi thọ 16

1.2.2 Chỉ số phát triển giới GDI 21

1.2.3 Chỉ số bình đẳng giới (GEI) 23

1.3 Thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở các châu lục, khu vực trên thế giới và ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 25

1.3.1 Tình hình bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở các châu lục, khu vực trên thế giới 25

1.3.2 Tình hình bình đẳng giới trong giáo dục ở Việt Nam 27

1.3.2.1 Một số quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới 27

1.3.2.1.1 Trong hiến pháp 27

1.3.2.1.2 Hệ thống luật pháp, chính sách 29

1.3.2.2 Tình hình bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta 30

Ch ương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC Ở TRÀ VINH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA LÝ 35

2.1 Một số nguồn lực tác động đến bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh 35

2.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Các nguồn tài nguyên tự nhiên 36

2.1.2.1 Tài nguyên đất 36

2.1.2.2 Tài nguyên khí hậu 37

2.1.2.3 Tài nguyên nước 39

2.1.2.4 Tài nguyên sinh vật 40

2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản 41

2.1.3 Đặc điểm kinh tế-xã hội 41

2.1.3.1 Dân số và nguồn lao động 41

2.1.3.2 Một số nét chính về tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Trà Vinh 45

2.2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở Trà Vinh 47

2.2.1 Vài nét về hệ thống giáo dục đào tạo tỉnh Trà Vinh 48

2.2.1.1 Trình độ học vấn của dân cư tỉnh Trà Vinh 51

2.2.1.2 Thực trạng giáo dục phổ thông ở tỉnh Trà Vinh 52

Trang 6

2.2.1.3 Hiện trạng hệ thống đào tạo đại học-cao đẳng-trung học chuyên nghiệp57

2.2.1.4 Trình độ chuyên môn của người lao động đã qua đào tạo 58

2.2.2 Một số chỉ số phản ánh tình trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh59 2.2.2.1 Chỉ số giáo dục chưa phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh 59

2.2.2.2 Chỉ số giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh 65

Ch ương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở TRÀ VINH 72

3.1 Định hướng 73

3.1.1 Định hướng chung 73

3.1.2 Định hướng cụ thể 74

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở Trà Vinh76 3.2.1 Các giải pháp nhằm phát triển kinh tế một cách bền vững 78

3.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội 81

PHẦN KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐ&ĐH : Cao đẳng và Đại học

ĐH KH XH-NV : Đại học Khoa học Xã hội- Nhân văn

FDI : Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

(Gently Development Index)

(Human Development Index)

KH&ĐT : Kế hoạch và Đầu tư

ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

PCGDTHCS : Phổ cập giáo dục trung học cơ sở

(Purchasing Power Parity)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Các giá trị biên để tính chỉ số HDI 15

Bảng 1.2 Chỉ số Phát triển con người và Chỉ số Phát triển Giới trong khu vực Đông Nam Á 23 Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu MDG của Việt Nam đến năm 2015 28

Bảng 2.1 Nhiệt độ không khí trung bình năm từ 2005 - 2009 38

Bảng 2.2 Độ ẩm không khí trung bình năm từ 2005 – 2009 38

Bảng 2.3 Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử và tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên 43

Bảng 2.4 Số phòng học của trường phổ thông phân theo hiện trạng, năm 1999, 2005 và 2009 49

Bảng 2.5 Trình độ học vấn dân cư tỉnh Trà Vinh (% dân số) 51

Bảng 2.6 Tình hình biết chữ của dân số 15+ và mặt bằng giáo dục ở tỉnh Trà Vinh, phân theo đơn vị hành chính 54

Bảng 2.7 Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất 58

Bảng 2.8 Huy động đúng tuổi vào 3 cấp học (%) 59

Bảng 2.9 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết 61

Bảng 2.10 Chỉ số giáo dục 63

Bảng 2.11 Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 1999 65

Bảng 2.12 Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2009 65

Bảng 2.13 Chỉ số giáo dục theo giới tính 68

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Trà Vinh, năm 2009 37

Biểu đồ 2.2 Khí hậu trạm Càng Long (tỉnh Trà Vinh), năm 2009 38

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu dân cư theo độ tuổi và giới tính, năm 1999 và 2009 44

Biểu đồ 2.4 Huy động đúng tuổi vào mỗi cấp học 61

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết (%) 63

Biểu đồ 2.6 Chỉ số giáo dục năm 1999 và 2009 64

Biểu đồ 2.7 Huy động hai giới đến trường đúng tuổi 65

Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ biết đọc, biết viết của hai giới 66

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh 34

Hình 2.2 Bản đồ dân số và tỷ lệ dân số trên 15 tuổi biết đọc biết viết ở 56

tỉnh Trà Vinh, năm 2009 56

Hình 2.3 Bản đồ chỉ số giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 1999 69

Hình 2.4 Bản đồ chỉ số giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 2009 70

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nguồn lực con người là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng đồng Muốn phát triển nguồn lực con người mạnh mẽ cần chú ý tác động đến nhiều yếu tố, trong

đó giáo dục-đào tạo là quan trọng nhất Theo học thuyết nguồn vốn con người, đầu tư vào

giáo dục có tương quan thuận với phát triển kinh tế Nhiều nước trên thế giới, trong đó có những nước đang phát triển đã và đang dành những khoản kinh phí khổng lồ đầu tư vào giáo dục, kỳ vọng vào một lực lượng lao động có trình độ và làm việc hiệu quả, có thu nhập cao làm đòn bẩy cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, phát triển kinh tế

đã không thành hiện thực bởi lẽ đầu tư cho giáo dục đã không được phân bổ hợp lý Điều này có thể để lại những tác động không tốt, mà biểu hiện cụ thể là sự thụ hưởng không đồng đều của dân cư giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa giới nam và giới nữ…

Năm 1990, trong Báo cáo phát triển con người (Human Development Report-HDR) của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đánh dấu một cách hiểu mới về phát

triển, từ đó đưa con người từ vị trí là một nhân tố sản xuất góp phần làm tăng trưởng kinh

tế, là một động lực kinh tế hướng đến vị trí con người là trung tâm-vừa là động lực vừa là mục tiêu đích thực của phát triển Theo đó, quan điểm mới về phát triển con người có đề

cập đến việc tạo lập sự bình đẳng về cơ hội cho mọi người dân, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch Như vậy, quan niệm này thể hiện đầy tính nhân văn về con người không chủ trương sự phát triển mang tính bình quân, ai cũng như ai mà hướng tới việc tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, phân bổ năng lực công bằng hơn trong các cộng đồng dân cư Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề này cũng hết

sức rõ ràng, đó là sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững bao hàm cả sự tăng trưởng kinh tế

với tiến bộ và công bằng xã hội Vậy bình đẳng giới vừa là mục tiêu, vừa là yếu tố góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội ổn định và bền vững của mỗi quốc gia

Đối với nước ta, vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ đã được khẳng định trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì vấn đề này càng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Quốc hội Khóa XI,

Kì họp thứ 10 đã thông qua Luật bình đẳng giới và nhiều văn bản dưới luật đã được ban hành tạo cơ sở pháp lí cho việc đưa luật Bình đẳng giới vào cuộc sống, thực hiện bình đẳng

Trang 11

giới ở nước ta Trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, tại điều 14 của Luật Bình đẳng giới đã nêu

rõ những quy định về bình đẳng giới như “Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo bồi

dưỡng” hay “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện bình

đẳng giới trong giáo dục ở nước ta cũng như nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới chưa đạt được hiệu quả cao Bởi vì, bất bình đẳng về giới trong giáo dục nói riêng và các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các định kiến xã hội và khó lòng xóa bỏ trong thời gian ngắn Do đó, nâng cao bình đẳng trong việc thụ hưởng các giá trị giáo dục là điều quan trọng và cần thiết trong thời gian tới Điều này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội cho mọi người dân và đồng thời giúp thực hiện bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực xã hội khác Bình đẳng giới trong giáo dục bao gồm những yếu tố

gì, được thể hiện qua những chỉ tiêu nào, đánh giá các chỉ tiêu này ra sao và các phương cách để nâng cao các chỉ tiêu đó hiện đang là những vấn đề cần quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam hiện nay

Trà Vinh là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đông đồng bào Khmer sinh sống Lợi thế về kinh tế của tỉnh là tiềm năng nông - ngư - công nghiệp, dịch vụ, du lịch tương đối phong phú, đa dạng Điều này giúp công tác thực hiện chiến lược quốc gia vì

sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Trà Vinh đến năm 2010 đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao bình đẳng giới Vai trò, địa vị của phụ nữ trong tỉnh được nâng lên một

bước Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đạt được những kết quả khả quan Song Trà Vinh vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn và thử thách lớn trong việc thực hiện các mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ trong giai đoạn tới Vì vậy, trong Kế hoạch hành động giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020 ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ

tỉnh Trà Vinh đã nêu rõ: “Giai đoạn 2011- 2015 tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận

thức; thu hẹp rõ rệt khoảng cách giới và nâng vị thế của người phụ nữ trong một số lĩnh vực

có sự bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, tạo đà cho thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020” và “Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”

Vấn đề phát triển con người trong bối cảnh toàn cầu hóa và những khuyến cáo về một mục tiêu bền vững đang là vấn đề nóng của toàn nhân loại và cũng được thể hiện khá rõ nét

Trang 12

ở một tỉnh thuần nông như Trà Vinh Đó chính là một trong những lý do để tôi chọn đề tài

“Bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh – Thực trạng và giải pháp” Đã từng sống, học tập ở Trà Vinh, tôi cũng có ít nhiều gắn bó với cộng đồng dân cư tỉnh, tôi nhận thấy rõ mong muốn của mọi người về một nền giáo dục phát triển, mang lại cơ hội học tập cho mọi người dân Phân tích được những chỉ tiêu định lượng về vấn đề giới trong giáo dục, từ đó có những định hướng phát triển cho tương lai sẽ là một nghiên cứu có ích cả cho việc nâng cao trình độ hiểu biết khoa học địa lý kinh tế-xã hội cho bản thân tôi đồng thời góp một chút công sức nhỏ vào quá trình phát triển đi lên của tỉnh nhà

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, vấn đề giới trong lĩnh vực giáo dục đã được nghiên cứu riêng lẻ, giới hạn trong một hay một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội Từ sau khi đổi mới, quan điểm về phát triển đã được nhận thức theo cách nhìn mới, chú ý tới những yếu tố phát triển con người nhưng chưa

có một công trình nghiên cứu tổng hợp vấn đề giới trong giáo dục dựa trên một hệ thống các tiêu chí theo quan điểm phát triển của các tổ chức thế giới Gần đây, ngành thống kê trung ương và các địa phương đã tiến hành một số điều tra có đề cập đến lĩnh vực giáo dục trong dân cư Tuy nhiên, các chỉ tiêu chỉ phản ánh thuần túy sự phát triển giáo dục qua số lượng dân cư phân theo các cấp học, bậc học; theo trình độ chuyên môn… chưa đánh giá đầy đủ

sự phát triển con người theo quan điểm phát triển bền vững Vào năm 2002, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã có công trình nghiên cứu: “Báo cáo phát triển con người năm 2001”, ở Việt Nam cũng có công trình nghiên cứu: “Báo cáo phát triển con người Việt Nam” Từ năm 2002, Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập, đi vào hoạt động và đã đưa ra một số chỉ tiêu về việc thực hiện mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đến năm 2010 trong đó có lĩnh vực giáo dục Theo đó, Ban vì sự tiến bộ phụ nữ được thành lập đến cấp tỉnh, huyện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Đến năm

2004, Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam đã có công trình nghiên cứu: “Hệ số GINI trong giáo dục- một công cụ chưa được khai thác trong phân tích chính sách giáo dục- Trường hợp Việt Nam” Năm 2005, Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh cũng có công trình nghiên cứu về: “Chỉ số phát triển con người thành phố Hồ Chí Minh 1999-2004” Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình mang tính tổng hợp đánh giá một cách toàn diện vấn đề giới trong lĩnh vực giáo dục theo quan điểm phát triển con người của tỉnh Trà Vinh dưới góc độ địa lý kinh tế-xã hội

Trang 13

Trong phạm vi đề tài luận văn thạc sĩ địa lý kinh tế-xã hội, lần đầu tiên chúng tôi thực hiện việc đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục tỉnh Trà Vinh một cách

có hệ thống trên quan điểm phát triển con người nhất là trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể tạo điều kiện cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thành công trong thời gian sớm nhất Việc phân tích và đánh giá thực trạng một cách khách quan sẽ tạo điều kiện để vạch ra những phương hướng trong việc nâng cao bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục nói riêng và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung của tỉnh và có những giải pháp khả dĩ khắc phục tình trạng bất bình đẳng về giới ở hiện tại cũng như tương lai

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3 1 Mục đích của đề tài

Vận dụng các cơ sở lý luận về bình đẳng giới, đề tài tập trung phân tích hiện trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Trà Vinh Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và các

giải pháp phù hợp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Trà Vinh

3 2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam

2 Phân tích thực trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở tỉnh Trà Vinh

3 Đề xuất định hướng và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở tỉnh Trà Vinh

4 Phạm vi và giới hạn của đề tài

Bình đẳng giới là một vấn đề xã hội rất rộng Đặc biệt đối với vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp, biến động không

ngừng theo thời gian và lãnh thổ Trong điều kiện thời gian thực hiện đề tài có hạn, phương tiện làm việc còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở các vấn đề sau:

- Khảo sát những chỉ số cơ bản liên quan đến phân bổ công bằng trong giáo dục: tỷ lệ biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ huy động đúng tuổi vào trường phổ thông của học sinh trong độ tuổi 6-17 tuổi và chỉ số giáo dục của hai giới phân theo huyện, thành phố và phân theo thành thị - nông thôn ở Trà Vinh trong hai thời kì năm 1999 và

2009

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu là toàn bộ tỉnh Trà Vinh gồm 7 huyện và 1 thành phố

Trang 14

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Các q uan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống

Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là một hiện thực khách quan nằm trong hệ thống lớn hơn là quốc gia, khu vực và thế giới Ngay trong vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục của tỉnh Trà Vinh cũng bao hàm nhiều thành phần là các chỉ tiêu kinh tế-xã hội khác nhau và theo lãnh thổ Nó cũng được xét theo những đơn vị hành chính là thành phố, huyện hay khu vực thành thị, nông thôn… Các đơn vị hệ thống này có mối quan hệ mật thiết với nhau theo nhiều hướng nên khi nghiên cứu cần phải phân tích sự tác động qua lại giữa các hợp phần trong một hệ thống và giữa các hệ thống với nhau để có sự đánh giá vấn

đề một cách vừa chi tiết vừa khái quát

- Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ

Quan điểm tổng hợp và quan điểm lãnh thổ là các quan điểm nghiên cứu có tính truyền thống của Địa lý học Trong đề tài này, hai quan điểm kết hợp thành một quan điểm thống nhất Vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục được phân tích như là tổng thể đan kết nhiều chiều, phát triển theo thời gian và trong không gian

- Quan điểm lịch sử -viễn cảnh

Quan điểm này được thể hiện ở khía cạnh thứ nhất là chú ý tới vấn đề địa lý-lịch sử của sự thay đổi bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục của cả nước nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng và thứ hai là phân tích quá trình phát triển giáo dục cũng như phát triển kinh

tế-xã hội nói chung trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể

- Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là tiêu chí không thể thiếu trong sự phát triển của các sự vật hiện tượng tự nhiên cũng như kinh tế-xã hội Bền vững về xã hội thể hiện ở chỗ tất cả các sự phát triển đều phải được xã hội chấp nhận, ủng hộ và phải phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội

và đảm bảo sự công bằng xã hội Ở đây, sự công bằng về xã hội phải được thể hiện trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục cũng không nằm ngoài mục đích này

- Quan điểm xã hội học

Trên quan điểm xã hội học, đề tài phân tích các chính sách xã hội tác động tới bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và ý nghĩa của nó trong việc cải thiện bình đẳng giới trong

giáo dục theo quan điểm phát triển con người và phát triển bền vững

Trang 15

5.2 Các p hương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án

Phương pháp nghiên cứu thực địa và đánh giá tổng hợp

Trong quá trình phân tích, chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt điều tra thực địa trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành quan sát trực tiếp và phỏng vấn nhân dân cũng như lãnh đạo của các địa phương Các kết quả điều tra thực địa là cơ sở để rút ra các nhận định tổng hợp ban đầu và để thẩm định lại một số nhận định trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã khai thác tối đa và có hiệu quả đối với những

số liệu thống kê đã công bố Phần lớn các tài liệu về dân cư, kinh tế-xã hội là do chúng tôi khai thác trực tiếp từ Cục Thống kê tỉnh Trà Vinh, Phòng Thống kê các huyện, Sở giáo dục-đào tạo tỉnh Trà Vinh và các cơ quan khác thuộc UBND tỉnh Trà Vinh

Phương pháp bản đồ, biểu đồ và đồ thị

Để tiện việc nghiên cứu và phản ánh kết quả nghiên cứu một cách tổng hợp và chi tiết, tác giả đã sử dụng phương pháp bản đồ, biểu đồ, đồ thị Các bản đồ được sử dụng trong đề tài này là bản đồ hành chính, dân cư tỉnh Trà Vinh, trên cơ sở đó chúng tôi đã xây dựng bản

đồ thực trạng các chỉ số về phân bổ công bằng trong giáo dục trên địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, việc lập các biểu đồ và đồ thị để biểu thị các kết quả nghiên cứu sẽ rất hữu dụng trong việc phân tích, so sánh các nội dung nghiên cứu làm nổi bật vấn đề nghiên cứu là bình đẳng giới trong giáo dục tỉnh Trà Vinh

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam

Chương 2: Phân tích thực trạng bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh nhìn từ góc

độ địa lý

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao bình đẳng về giới trong

lĩnh vực giáo dục ở Trà Vinh

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

C hương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT

NAM 1.1 Một số khái niệm cơ bản về giới tính và giới

1 1.1 Giới tính

1.1.1.1 Định nghĩa

Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa phụ nữ và nam giới

Đặc trưng của giới tính:

Tính bẩm sinh: Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính và đặc điểm này

tồn tại trong suốt cuộc đời

Tính bất biến: Mọi người đàn ông đều có những đặc điểm chung về giới tính và mọi

người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới tính Đó là sự khác biệt phổ thông và không

thể thay đổi được

1.1.1.2 Biểu hiện của sự khác biệt về giới tính

Sự khác biệt giới tính về mặt sinh học được biểu hiện qua:

+ Khác biệt ở bộ phận sinh dục: Nam có tinh hoàn, tinh trùng Nữ có buồng trứng, dạ con…

+ Hệ thống hóoc môn: Hình dáng cơ thể khác nhau, giọng nói khác nhau Ngoài ra, có thể nhận biết nam hoặc nữ qua quan sát

+ Hệ thống gien: Nữ có cặp nhiễm sắc thể giới tính là XX, còn ở nam là XY

Chính những điều trên đã quy định sự khác biệt về cấu tạo của cơ thể, thể chất sinh lý

và chức năng sinh sản của mỗi giới

1 1.2 Giới

1.1.2.1 Định nghĩa

Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Phụ nữ và nam giới khác nhau về mặt sinh học, nhưng mọi văn hóa đều lý giải và quy định chi tiết những khác biệt sinh học vốn có đó thành một hệ thống những kỳ vọng xã hội về những hành vi và hoạt động được coi là thích hợp và những quyền hạn, nguồn lực hay quyền lực mà họ có Tuy những kỳ vọng trong các xã hội khác nhau thì không giống nhau nhưng vẫn có những tương đồng nổi bật

Trang 17

Thí dụ: hầu như tất cả các xã hội đều coi phụ nữ và các bé gái có vai trò chính yếu trong việc chăm sóc trẻ em và con cái, còn nghĩa vụ quân sự hay tham gia quốc phòng là việc của nam giới

đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán

1 1.2.2 Các biểu hiện của giới:

 Biểu hiện bằng tính cách và phẩm chất

 Biểu hiện bằng tư tưởng

Sự phát triển cao hơn trong nhận thức về giới được biểu hiện trên các quan điểm, tư tưởng và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội Chẳng hạn như xã hội mẫu hệ, do vị trí vai trò khách quan của mình, người phụ nữ được đề cao Trong xã hội phụ quyền, tư tưởng thống trị xã hội là tư tưởng đề cao nam giới (hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo) và đi cùng với nó là những chuẩn mực và giá trị văn hóa nghiêng về lợi ích của người đàn ông

Điều này được thể hiện rõ trong một số quan điểm về phụ nữ trong lịch sử tư tưởng trước Mác ở phương Tây và phương Đông Các quan điểm trước Mác về người phụ nữ chưa thể hiện được sự thống nhất giữa tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn cao cả Vì vậy, các quan điểm đó không giúp tìm ra nguyên nhân bất bình đẳng của phụ nữ và đề ra

con đường xóa bỏ sự bất bình đẳng ấy Cụ thể như sau:

Quan niệm về vai trò của người phụ nữ ở phương Tây: Quan điểm về vai trò người

phụ nữ phương Tây trước Mác còn nhiều hạn chế Quan điểm của các triết gia Hy lạp cổ đại: Xốcrát, Platôn và Arixtốt chưa thấy được vai trò người phụ nữ trong xã hội, còn mang tính kỳ thị và xem nhẹ vai trò người phụ nữ Họ mang tư tưởng trọng nam khinh nữ Đặc biệt tư tưởng của Arixtốt có ảnh hưởng lâu dài đến thời Trung cổ và ảnh hưởng tới giáo hội Thân phận người phụ nữ bị xem nhẹ trong chế độ phong kiến lạc hậu Vào thời Phục hưng một số tư tưởng tiến bộ xuất hiện, đặc biệt, từ thế kỉ XVIII, các nhà triết học Khai sáng đã nhìn thấy những bất công với phụ nữ Tuy nhiên, do nhiều hạn chế, các ông vẫn chưa làm

xã hội thay đổi nhiều về vai trò phụ nữ Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã có

Trang 18

phần tiến bộ khi nhìn thấy vai trò của người phụ nữ Bởi lẽ, các ông trước hết là những nhà nhân đạo chủ nghĩa Tuy nhiên để thay đổi cách nhìn nhận của xã hội về người phụ nữ đồng thời nâng cao vai trò phụ nữ thì các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vẫn chưa thực hiện được Như vậy ở phương Tây, quan điểm về vai trò người phụ nữ trước Mác chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng Hy lạp và La Mã thời cổ đại Người phụ nữ bị đánh giá thấp, bị cột chặt trong vai trò sinh học Quan điểm ấy về phụ nữ còn ảnh hưởng đến tận ngày nay Hạn chế của những quan điểm ấy do một số nguyên nhân tạo nên Một là, do hạn chế nhận thức của thời đại nên các nhà tư tưởng phương Tây cổ đại chưa thấy được hết vai trò giới của người phụ nữ Hai là, những nhà tư tưởng phương Tây cổ đại đứng trên lập trường của giai cấp mình khi xem xét thân phận và địa vị của phụ nữ Đến thời kì Trung cổ, cùng với chế độ phong kiến, giáo hội đã có một cách nhìn tiêu cực về vai trò người phụ nữ Các nhà triết học thời kì Phục hưng xuất hiện đã tạo ra một số tín hiệu tích cực cho vấn đề phụ nữ Sang thế kỉ XVIII, mặc dù các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Anh và Pháp đã tiến bộ khi thông cả cho thân phận phụ nữ nhưng họ chưa tìm ra giải pháp khoa học phù hợp cho

vấn đề phụ nữ

Quan niệm về vai trò phụ nữ ở phương Đông: Truyền thuyết xa xưa thường mô tả

một số xã hội ở phương Đông theo chế độ mẫu quyền Rất nhiều truyền thuyết đã ca ngợi chiến công của các nhân vật nữ anh hùng như: các nữ thần sinh sôi Đuốc-ga, nữ thần vui vẻ

và nuôi dưỡng Látxkơmi trong truyền thuyết Ấn Độ, Nữ Oa trong thần thoại Trung Quốc, trong lịch sử Việt nam như mẹ Âu Cơ, Bà Trưng, Bà Triệu,… Qua nhiều thế kỉ, nhiều hình tượng phụ nữ như vậy vẫn là những nhân vật quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian ở phương Đông cũng như Việt Nam Phương Đông chịu ảnh hưởng nhiều bởi các tôn giáo và

hệ tư tưởng Nghiên cứu vai trò phụ nữ theo quan điểm ở phương Đông cần phải có cách nhìn toàn diện theo chiều dài lịch sử với những điểm cốt lõi nhất Cụ thể vai trò người phụ

nữ ở phương Đông chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ và Hồi giáo ở Trung Đông Theo quan điểm Nho giáo thì vai trò người phụ nữ nhìn chung mang tính trọng nam khinh nữ Người phụ nữ phải giữ đạo “tam tòng” và trau dồi “tứ đức” Bên cạnh đó, Nho giáo chủ trương thuyết “phụ nhân nan hóa” Đây là những sợi dây vô hình ràng buộc người phụ nữ Vấn đề phụ nữ trong Phật giáo mang tính chất cởi

mở và từ bi Nhìn chung, Phật giáo chứa đựng tinh thần bình đẳng giới sơ khai Người phụ

nữ trong quan điểm Hồi giáo tuy có rất nhiều quyền nhưng thực tế lại bị ràng buộc bởi các

“truyền thống và luật lệ” nên rơi vào trạng thái phụ thuộc và tự do bị hạn chế Người phụ nữ

Trang 19

lệ thuộc vào gia đình và phải giữ gìn phẩm hạnh Những hệ tư tưởng và tôn giáo này tác động đến vị thế của người phụ nữ suốt hàng nghìn năm trong quá khứ, ở hiện tại và tương lai Ngày nay, tại một số quốc gia Hồi giáo, phụ nữ còn bất bình đẳng so với nam giới

 Biểu hiện bằng phân công lao động

Xét theo mô hình phân công lao động theo truyền thống, có hai hình thức phân công lao động cơ bản: phân công lao động về mặt kĩ thuật và phân công lao động về mặt xã hội

Xét theo mô hình phân công lao động dựa trên giới tính và giới thì có sự phân chia phân công lao động thành hai loại hình cơ bản:

Lao động sản xuất: Bao gồm những việc làm ra hàng hóa, dịch vụ để trao đổi hoặc tiêu

thụ Cả nam và nữ cùng tham gia song hình thức công việc và tiền công khác nhau Nam giới có sức khỏe, trí tuệ và rảnh rỗi việc nhà hơn phụ nữ nên thường nhận được các công việc tốt hơn Phụ nữ yếu hơn, phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình nên thường phải nhận các công việc nặng nhọc, đơn giản, tiền công thấp

Lao động tái sản xuất: Gồm tái sản xuất về sinh học (công việc của phụ nữ rất nặng

nhọc và nguy hiểm và không được trả công hoặc trả công thấp) và tái sản xuất ra sức lao động (là những công việc hỗ trợ cho người sản xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện cho họ nghỉ ngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn)

Sự phân công lao động bất bình đẳng giữa nam, nữ và quá trình xã hội hóa mang định kiến giới đã đưa sự bất bình đẳng trong các vai trò giới: nam giới mang tính xã hội cao còn phụ nữ mang tính gia đình cao Nam giới thường là người lãnh đạo còn phụ nữ thường là người thừa hành

1 1.2.3 Vai trò giới

Vai trò giới được thể hiện trên ba khía cạnh:

Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật

để tiêu dùng hoặc trao đổi

Vai trò tái sản xuất: Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà

cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động

Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng đồng nhằm phục vụ

cho cuộc sống chung của mọi người

Như vậy, vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả ba vai trò trên, tuy nhiên có sự khác biệt:

Trang 20

- Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi công việc: Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ nữ) thì nam giới không được trông đợi làm việc

đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ mà thôi

- Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của phụ nữ: Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo ra một sản phẩm cao quý,

đó là con người là việc không quan trọng

- Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ

Có thể nói, vai trò giới trước đây và hiện nay không bình đẳng là do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị Vai trò giới đã và đang có nhiều thay đổi, nhưng khi thay đổi người ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới Do đó, sự thay đổi định kiến, giá trị và vai trò giới

có thể xóa bỏ khoảng cách giới đem lại sự bình đẳng giữa nam và nữ

nữ giới và lấy đó làm cơ sở để đánh giá và phân biệt giữa nam và nữ trong cuộc sống Định kiến giới còn rất phổ biến trong xã hội chúng ta vì chúng đã ăn sâu, bắt rễ trong nhận thức của nhiều người trong xã hội và trở thành lực cản trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch trên mọi lĩnh vực Định kiến giới có tác động về

vị trí, thái độ và những hoạt động của nam và nữ, đặc biệt là hạn chế những mong muốn, dự định phát triển cá nhân và cả việc đón nhận những cơ hội và điều kiện phát triển, đặc biệt là đối với nữ giới

Vì vậy, để thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến về giới phải có sự tham gia của toàn

xã hội, hướng vào việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và nữ Trong

Trang 21

chính sách và kế hoạch phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực cần phải có sự bình đẳng giữa nam, nữ và xóa bỏ tác động của định kiến giới

- Trong xã hội người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích những khác biệt về giới

- Các quan niệm dập khuôn trong tư duy đã làm cho những điều buộc xã hội chấp nhận đồng thời được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất của mỗi người Chính điều này đã duy trì và tăng thêm khoảng cách giới, trong nhận thức và thực tiễn; khắc sâu những mâu thuẫn giữa các chuẩn mực dựa trên đặc điểm giới tính và yêu cầu thực tế về

vị trí xã hội của phụ nữ và nam giới

- Để thay đổi quan hệ giới và các đặc trưng giới, cần vượt qua những định kiến và quan niệm cũ, tức là bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức của từng người về vị trí, vai trò của mỗi giới và đặc biệt là các quan hệ giới giữa nam và nữ để tiến tới thiết lập những quan hệ mới trên cơ sở bình đẳng và hợp tác giữa hai giới

1.1.3 Bình đẳng giới

Bình đẳng giới có thể được xem xét trên hai quan điểm:

- Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Theo từ điển Bách khoa Việt

Nam (1995) tập I thì: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật Ở đây, nguyên tắc đối sử như nhau, không phân biệt là điều hết sức cần thiết, song có lẽ chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thật sự Cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữ lại có những đặc tính vế giới hết sức riêng biệt do đặc trưng sinh học và đặc trưng xã hội quy định chi phối cho nên, nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau

Trang 22

(căn cứ vào cái chung) mà không chú ý đến cái riêng để có cách đối xử đặc biệt thì sẽ không

có bình đẳng thực sự

Chẳng hạn, hai sinh viên nam và nữ cùng tốt nghiệp đại học, mười năm sau, trình độ, khả năng thăng tiến giữa họ lại rất khác nhau Trong thời gian này, nam giới có thể chuyên tâm vào học tập, nâng cao trình độ, còn phụ nữ lại phải chi phối hơn cho việc sinh đẻ và

nuôi con nhỏ Vậy là đối xử như nhau không thể đem lại sự bình đẳng giữa hai giới nam và

nữ vốn rất khác nhau về mặt tự nhiên và xã hội (do lịch sử để lại)

- Quan điểm bình đẳng với nhận thức giới: Theo đó, khi đã thừa nhận phụ nữ có

những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới, thì đối xử như nhau sẽ không đạt được bình đẳng Cho nên, bình đẳng giới không chỉ là việc thực hiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể có quyền làm tất

cả những gì nam giới có thể và có quyền làm Bình đẳng giới còn là khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ

Như vậy, việc đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống nhau sẽ không đạt tới được sự bình đẳng thực sự Ở đây, điều kiện đạt tới sự bình đẳng chính là cần phải có các đối xử đặc biệt, thậm chí là các điều kiện ưu tiên dành cho các nhóm xã hội yếu thế Trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì để có bình đẳng giới thực sự, cách đối xử đặc biệt như trên đối với phụ nữ là điều kiện cần thiết phải có

Theo đó, bình đẳng giới là một tình trạng lí tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó

Quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng đắn, công nhận sự khác biệt và thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đẳng do sự phân biệt đối xử trong quá khứ và hiện tại Mô hình này không chỉ quan tâm đến cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến kết quả của sự bình đẳng, sự đối xử bình đẳng, tiếp cận bình đẳng và lợi ích bình đẳng Chúng ta cần xem xét cẩn thận những cản trở tiềm ẩn đối với sự tham gia bình đẳng cũng như có cơ hội, điều này có nghĩa là có thể phải đối xử khác nhau đối với phụ nữ và nam giới

để họ có thể được hưởng lợi một cách chính đáng và đó không thể coi là phân biệt giới

Trang 23

Chính vì vậy, trong tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam xuất bản năm 2004 thì “Bình

đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nha giữa phụ

nữ và nam giới” Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng

và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác Và khái niệm này cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hay tỷ lệ ngang nhau mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện chon am, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt Đồng thời khái niệm này còn đề cập đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại

Tóm lại: Bình đẳng giới là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm cả sự bình đẳng trong thù lao cho công việc và việc tiếp cận đến nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra các cơ hội này), và bình đẳng về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển)

Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ

Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ

nữ còn thấp hơn nam giới thì việc đối xử đặc biệt với phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một

số mặt, chính là cơ sở để tạo lập sự bình đẳng thực sự

1.2 Phương pháp phân tích và đánh giá bình đẳng giới trong giáo dục

Nếu chỉ xác định các mục tiêu phát triển bằng cách định tính thì rất khó kiểm tra xem chúng đã được thực hiện đến đâu Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) có cống

hiến quan trọng đã lượng hóa được các mục tiêu phát triển và xây dựng được các tiêu chí

cùng phương pháp đo đạc tính toán chúng Tuy nhiên, những tiêu chí được UNDP thiết kế

có thể còn nhiều khiếm khuyết và nhất là có tiêu chí chưa thích hợp với hoàn cảnh của Việt Nam Song trong khi chờ đợi xuất hiện những cách hay hơn, ta tạm bằng lòng với việc sử dụng các loại thước đo mà thế giới đã áp dụng rộng rãi

Trang 24

1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI)

Chỉ số HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người Nó có thành tựu trung bình của một quốc gia trên 3 phương diện của sự phát triển con người:

- Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh

- Kiến thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn từ 15 – 55 tuổi biết chữ (với quyền số 2/3)

và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3)

- Một mức sống tử tế, được đo bằng GDP thực tế đầu người theo phương pháp sức mua tương đương (PPP USD)

Để tính chỉ tiêu HDI, trước hết phải tính chỉ số của từng phần nêu trên là chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục và chỉ số GDP Các giá trị biên (giá trị tối đa và giá trị tối thiểu) được tổ chức UNDP thống nhất chọn cho từng chỉ số:

Bảng 1.1 Các giá trị biên để tính chỉ số HDI

Trang 25

“hàng hóa và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hóa và dịch

vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm

Khi so sánh các số liệu thống kê kinh tế giữa các nước, các số liệu trước hết phải được chuyển về cùng một đơn vị tiền tệ Để so sánh mức độ GDP thực tế tính trên đầu người giữa các nước trước hết GDP thực tế của các nước phải được tính theo tỷ giá trao đổi theo sức mua tương đương (Purchasing Pwer Parity - PPP) Phương pháp chuyển đổi GDP thực tế của các nước theo tỷ giá PPP loại trừ được sự khác biệt về mức giá giữa các nước Qua đó cho phép so sánh các giá trị thực tế về thu nhập giữa các nước

Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP được tính bằng chỉ tiêu GDP thực tế bình quân đầu người theo sức mua tương đương Trong chỉ số HDI, thu nhập đóng vai trò là đại diện cho mọi thước đo khác về sự phát triển con người chưa được phản ánh các thước đo về tuổi thọ hay kiến thức Thu nhập được điều chỉnh vì để đạt được một mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoảng thu nhập vô hạn Do đó sẽ dùng hàm logarit để điều chỉnh khi tính chỉ số thu nhập

1.2 1.2 Chỉ số tuổi thọ

Tuổi thọ trung bình của dân số là số năm trung bình mà một đứa trẻ khi sinh ra có thể

sống được nếu như trong cuộc đời của mình, đứa trẻ đó có mức độ chết (nguy cơ chết) theo

độ tuổi giống như mức độ chết theo độ tuổi (tỷ suất đặc trưng theo tuổi) của thời kỳ lập bảng sống

Bảng sống là một biểu thống kê bao gồm những chỉ tiêu mô tả một cách hoàn thiện nhất mức độ chết của dân số Nhờ bảng sống ta có thể mô tả “trật tự chết” của một tập hợp dân số trong suốt cuộc đời kể từ khi sinh ra

Tuổi thọ trung bình của dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản của bảng sống, được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được (tổng số năm người sống T0) chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó (I0)

Chỉ số tuổi thọ trung bình đo thành tựu tương đối về tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của một quốc gia hay địa phương Công thức tính chỉ số tuổi thọ bình quân như sau:

log (GDP th ực tế bình quân / người – log (100) Chỉ số GDP thực tế đầu người =

log (40.000) – log (100)

Trang 26

1.2 1.3 Chỉ số giáo dục

Chỉ số giáo dục (CSGD) là một loại thước đo thành tựu của một nước, một địa phương

trên 2 yếu tố: một là tỷ lệ người lớn biết chữ (a); hai là tỷ lệ nhập học các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học (b)

(a) Tỷ lệ người lớn biết chữ được hiểu là tỷ lệ % người từ 15 đến 55 tuổi được công nhận thoát nạn mù chữ Nhằm có dữ liệu để phân tích tình trạng biết chữ của người lớn, người ta cố gắng không những chỉ xác định tỷ lệ trên theo từng địa phương (tỉnh thành, quận, huyện, vùng thành thị, vùng nông thôn) mà còn theo giới tính, theo dân tộc, theo từng

độ tuổi(15-19, 20-24, 25-29,.v.v…), theo tôn giáo, theo nhóm nghề…Cơ sở dữ liệu tốt nhất

để đưa vào phân tích là số liệu Tổng Điều tra dân số được tiến hành 10 năm 1 lần vào ngày

1 tháng 4 năm cuối cùng mỗi thập kỷ Trong các năm còn lại, số liệu của điều tra mẫu suy rộng để đảm bảo độ chính xác cao hơn số liệu báo cáo về người mù chữ của các phường, xã

Vậy để tính tỉ lệ người lớn biết chữ ta cần phải làm như sau:

- Tính giá trị thực người lớn biết chữ

-

- Tính tỉ lệ người lớn biết chữ

Trong đó: Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ = 0 %

Giá trị tối đa người lớn biết chữ = 100%

S ố người trong độ tuổi 15-55 tuổi biết chữ Gía trị thực người lớn biết chữ =

Tổng số người trong độ tuổi 15-55 tuổi

Tuổi thọ bình quân của quốc gia/địa phương

Chỉ số tuổi thọ bình quân =

85 - 25

Giá trị thực người lớn biết chữ - Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ

Tỉ lệ người lớn biết chữ (a) =

Giá trị tối đa người lớn biết chữ - Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ

Trang 27

(b) Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, do những khó khăn trong vấn đề điều tra trong phạm vi từng địa phương nên tỷ lệ nhập học của các cấp chỉ tính tỷ lệ % đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong dân cư từ 6 đến 17 tuổi, không tính

tỷ lệ học đại học Do cách tính này nên tỷ lệ nhập học các cấp của Việt Nam tính được khá cao

Tỷ lệ nhập học hay tỷ lệ huy động đi học cũng có 2 khái niệm:

-Tỷ lệ đi học thô hay tỷ lệ đi học chung cấp học X, là tỷ lệ phần trăm giữa số trẻ em

đang học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tổi cấp học X Như vậy cứ đi học thì tính

đã được huy động vào trường học, dù học trễ tuổi Ví dụ người 13 tuổi còn học ở tiểu

học, 17 tuổi còn họ trung học cơ sở, 20 tuổi còn học trung học phổ thông vẫn cứ được tính

-Tỷ lệ đi học ròng (tỷ lệ huy động tinh) hay tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp học X, là tỷ lệ

phần trăm giữa số trẻ em trong độ tuổi cấp học X đang học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tuổi cấp học X Nghĩa là nếu điều tra thống kê diễn ra trong quý 4 của năm thì 6 tuổi đã phải vào lớp 1 và 10 tuổi phải đang học lớp 5, 11 tuổi phải đang học lớp 6 còn 14 tuổi phải đang học lớp 9, 15 tuổi phải đang học lớp 10 và 17 tuổi phải đang học lớp 12 Còn nếu điều tra vào quý 1, 2 và 3 trong năm thì trẻ 7 tuổi đang học lớp 1, trẻ 8 tuổi đang học lớp 2,…,trẻ 12 tuổi đang học lớp 6, trẻ 16 tuổi đang học lớp 9, trẻ 18 tuổi đang học lớp 12 là học đúng tuổi Trường hợp đi học trễ tuổi phải được loại ra

Tính theo tỷ lệ đi học ròng khiến tỷ lệ huy động vào từng cấp xuống thấp do nhiều học sinh đã bị ở lại lớp hoặc đi học trễ so với độ tuổi quy định cho mỗi cấp

Cần lưu ý là học sinh và nhất là sinh viên chuyển vùng để học là tất yếu nên khi thống

kê số lượng huy động để tính tỷ lệ, sẽ có những địa phương bị “thiệt” và những địa phương được “lợi” Địa phương nào có học sinh chuyển đi qua địa phương khác học sẽ có tỷ lệ huy động xuống thấp, trong khi địa phương nhận về thì có tỷ lệ huy động cao giả tạo Tình trạng này có thể được khắc phục nếu ngành giáo dục quản lí được các dữ liệu về học sinh và sinh viên trên mạng máy tính Khi đó, hoàn toàn có thể thống kê chính xác số trẻ em được huy động đi học theo hộ khẩu thường trú nên không có tình trạng thiệt và lợi của từng địa phương nữa Trong khi chưa nối mạng được thì điều tra mẫu rồi suy rộng ra cho hình ảnh

(Giá trị thực người lớn biết chữ - 0)

Tỉ lệ người lớn biết chữ (a) =

(100 – 0)

Trang 28

chính xác hơn là dựa vào báo cáo của từng Phòng Giáo Dục – Đào Tạo, vì cách tính này thống kê tất cả học sinh đang học trong trường của quận, huyện mà không loại ra các học sinh nơi khác chuyển đến

Điều đáng lưu ý nữa là cách xác định dân số từng độ tuổi Trên phạm vi toàn quốc, 10 năm 1 lần mới có dịp Tổng điều tra dân số, còn lại thì trong những năm khác, việc xác định dân số là một việc không dễ dàng và sai số có thể lớn khiến cho tỷ lệ huy động được tính bị sai lệch (thường là tỷ lệ được nâng cao lên) Điều này khiến cho việc xác định chỉ số (b) kém tin cậy

Trong công trình này (b) được tính trên tỷ lệ huy động tinh, với 3 cấp và bậc học từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông

Vậy để tính tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, THCS, THPT ta cần làm như sau:

Bước 1: Tính tỉ lệ nhập học cấp tiểu học (x)

+ Tính giá trị thực nhập học cấp tiểu học

+ Tính tỉ lệ nhập học cấp tiểu học

Tỉ lệ nhập học cấp tiểu học = (Giá trị thực nhập học cấp tiểu học – Giá trị tối thiểu tỉ

lệ nhập học các cấp giáo dục) / (Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục - Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục)

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Trang 29

+ Tính tỉ lệ nhập học cấp THCS

Tỉ lệ nhập học cấp THCS = (Giá trị thực nhập học cấp THCS – Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục) / (Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục - Giá trị tối thiểu

tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục)

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Biết: Giá trị tối thiểu tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%

Giá trị tối đa tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%

Số người trong độ tuổi 11-14 tuổi đang học THCS Giá trị thực nhập học cấp THCS =

Tổng số người trong độ tuổi 11-14 tuổi

Trang 30

Sau khi tính được tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, THCS, THPT ta dễ dàng

Có thể thấy tỷ lệ người lớn biết chữ được gán cho hệ số gấp đôi tỷ lệ nhập học các cấp

nên giữ vai trò quyết định giá trị của CSGD CSGD lớn nhất là bằng 1 và nhỏ nhất là bằng

0 CSGD càng gần giá trị 1 chứng tỏ địa phương phát triển giáo dục càng tốt

1.2.2 Chỉ số phát triển giới GDI

Nếu HDI là chỉ số được dùng để đo thành tựu phát triển con người nói chung thì GDI

(Gently development index) lại được dùng để đo và so sánh thành tựu phát triển con người

theo giới, từ đó phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ theo 3 chỉ số thành phần đã được

sử dụng để tính HDI Việc tính chỉ số GDI được thực hiện theo 3 bước sau:

Bước 1: Tính 3 chỉ số thành phần cho riêng từng giới nam, nữ

Ở đây, cũng áp dụng công thức tính HDI cho các chỉ số thành phần (chỉ số tuổi thọ,

chỉ số giáo dục, chỉ số GDP/người) nhưng tính cho riêng từng giới nam, nữ

(2a + b) Chỉ số giáo dục =

Trang 31

Bước 2: Tính chỉ số phân bổ công bằng của từng chỉ số thành phần để xác định sự

chênh lệch giữa nam và nữ trên 3 yếu tố- tuổi thọ, giáo dục, GDP Công thức tính như sau:

Bước 3: Tính chỉ số GDI bằng cách tổng hợp 3 chỉ số phân bổ công bằng ứng với 3

chỉ số thành phần theo công thức sau:

GDI có giá trị bằng HDI nếu không có sự bất bình đẳng giới Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài nghiên cứu do hạn hẹp về nguồn tài liệu và thời gian nên chỉ có thể tính toán chỉ

số phát triển về giáo dục của hai giới

Do đó, khi muốn tính chỉ số phát triển giáo dục theo giới ta cần làm các bước sau:

Thứ nhất: Tính tỉ lệ người lớn biết chữ theo giới (a)

Tuổi thọ bình quân của quốc gia/địa phương - 25

đầu người theo giới log (40.000) – log (100)

Tỉ lệ dân số nữ Tỉ lệ dân số nam

Trang 32

Thứ hai: Tính tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, THCS, THPT theo giới (b)

Thứ ba: Tính chỉ số giáo dục theo giới

Trong đó: a- Tỉ lệ người lớn biết chữ theo giới

b- Tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục theo giới

Việt Nam là một nước nghèo đã trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong thời kì quá độ

từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường Từ những cuộc cải

cách quan trọng thông qua công cuộc Đổi mới từ năm 1986, đất nước đã đạt được những

tiến bộ đáng kể thông qua việc thực hiện một loạt các biện pháp phát triển kinh tế-xã hội

Quá trình cải cách cũng đã cải thiện hơn nữa những chỉ báo xã hội Trong năm 2001, Việt

Nam đứng thứ 109 trên tổng số 173 nước về Chỉ số Phát triển con người (HDI)-là vị trí cao

hơn mong đợi từ một nước có mức GDP trên đầu người dưới 400 đô la Mỹ Chỉ số Phát

triển giới của Việt Nam (GDI) xếp thứ 89 trên tổng số 146 nước (UNDP 2002)

Bảng 1.2 Chỉ số Phát triển con người và Chỉ số Phát triển Giới trong khu vực Đông

Nam Á

Nước

Thứ tự xếp hạng Chỉ số phát triển con người trong tổng số

173 nước

Thứ tự xếp hạng Chỉ số phát triển giới trong tổng số 146

Chỉ số bình đẳng giới: là một chỉ số mới được Social Watch (Tổ chức phi chính phủ

quốc tế về giám sát việc thực hiện các vấn đề xã hội) xây dựng vào năm 2004 nhằm đo

2a + b

Chỉ số giáo dục theo giới =

3

Trang 33

lường một cách chính xác mức độ bình đẳng giới của một quốc gia GEI là trung bình số học của bình đẳng giới trong 3 lĩnh vực giáo dục, kinh tế và tham chính

Trong lĩnh vực giáo dục, bình đẳng giới được thể hiện ở trình độ biết đọc, biết viết của

nam và nữ, tỷ lệ nam, nữ được tuyển vào các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông

Tron g lĩnh vực kinh tế, bình đẳng giới được xác định ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ có việc

làm được trả lương (không kể ngành nông nghiệp) và tỷ lệ thu nhập của phụ nữ/nam giới

Trong lĩnh vực tham chính, bình đẳng giới được đo lường ở tỷ lệ phần trăm phụ nữ

trong quốc hội và ở cấp bộ trưởng

Như vậy, việc tính toán về chỉ số bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục cũng tương tự cách tính về chỉ số phát triển giáo dục theo giới đã trình bày ở trên

Thông qua một số phương pháp tính toán được trình bày ở trên, đã đưa ra cho chúng ta cái nhìn tổng quát về một số chỉ số để so sánh về trình độ phát triển các nước trên thế giới theo một số tiêu chí trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị Trong đó, theo quan niệm phát triển mới hiện nay của nhiều nước trên thế giới, chỉ số về giáo dục ngày càng được quan tâm nhiều hơn Bởi giáo dục cũng là thước đo trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nếu có chính sách giáo dục phù hợp sẽ thúc đẩy giáo dục phát triển cũng như các lĩnh vực khác

Theo thống kê của Social Watch, Ôx-trây-li-a, Phần Lan, Ai-xơ-len, Na Uy và Thụy Điển là những nước có chỉ số bình đẳng giới cao nhất Thành tựu đáng kể này có được là do

họ đã có một thời gian dài tích cực thực thi chính sách giới Đứng thứ hai là các nước châu

Âu khác và các nước vùng Caribê Châu Á có điển hình là Mông Cổ và Phi-líp-pin Các nước ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á và tiểu vùng Sahara có chỉ số GEI trung bình Những nước có chỉ số bình đẳng giới thấp nhất phần lớn là những nước nghèo như Yemen, Pakistan, Cốt-đi-voa, Togo, Ai Cập, Ấn Độ, Nepal, Thổ Nhĩ Kỳ, Guatemala, Syria, Angiêri, A-rập Xê-út, Libăng và Sudan

Tuy nhiên, không hẳn là phụ nữ ở những nước giàu hơn thì có vị trí tốt hơn Ở một số nước vào loại giàu nhất thế giới như Pháp và Nhật Bản, phụ nữ chỉ chiếm 10% đến 12% tổng số ghế trong nghị viện, trong khi đó những nước thuộc tiểu vùng Sahara châu Phi được xếp vào diện nghèo nhất trên thế giới thì đạt tỷ lệ cao hơn là 13% Ở các nước đang phát triển như Nam Phi, Cu Ba và Trung Quốc, tỷ lệ phụ nữ tham chính chiếm hơn 20%, trong khi đó, những nước được xếp vào loại tương đối giàu như Hy Lạp, Kuwait, Hàn Quốc,

Trang 34

Singapore thì chỉ đạt 5%, thậm chí còn thấp hơn Mônđôva và Mông Cổ có chỉ số GEI đứng thứ 2 trên thế giới nhưng lại là hai nước có mức thu nhập thấp Một số ví dụ khác là Trung Quốc-thu nhập chỉ bằng 1/5 thu nhập của A-rập Xê-út và Thái Lan-thu nhập bằng một nửa thu nhập của Tây Ban Nha-nhưng cả hai quốc gia trên lại có chỉ số GEI cao hơn A-rập Xê-

út và Tây Ban Nha rất nhiều

Như vậy, GEI đã chỉ ra cho chúng ta thấy rõ ràng rằng “bình đẳng giới và thu nhập thực tế rất ít có liên quan” Có thể lấy một ví dụ minh họa cho sự liên hệ này như sau: Moldova nằm trong số 25 nước dẫn đầu về đảm bảo bình đẳng giới, Ailen nằm ngoài nhóm nước này Tuy nhiên, Ailen lại có chỉ số GDI đứng thứ 10, còn Moldova lại đứng thứ 113

Sở dĩ như vậy vì ở Moldova mức thu nhập bình quân hàng năm của phụ nữ là 1.168 USD, nam giới là 1.788 USD, trong khi đó con số tương ứng ở Ailen là 21.056 USD và 52.008 USD Rõ ràng là, thu nhập của nam giới ở Ailen gấp đôi thu nhập của phụ nữ, còn ở Moldova thì chênh lệch thu nhập ít hơn

Tóm lại, để đánh giá mức độ bình đẳng giới ở một quốc gia, có rất nhiều chỉ số để tính toán Song GEI đã đưa ra một cách tính mới và một cách nhìn nhận mới về bình đẳng giới

Dù mới được công bố, song đến nay GEI đã được áp dụng rộng rãi ở 130 nước trên thế giới

Một kết luận quan trọng mà GEI đem đến cho chúng ta là: không có mối liên quan trực tiếp

nào giữa mức độ bình đẳng giới và sự giàu có của một quốc gia Do vậy, nâng cao mức thu

nhập không phải là cách duy nhất để xoá bỏ bất bình đẳng giới như nhiều người vẫn nhầm tưởng

1.3 Thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở các châu lục, khu vực trên thế giới và ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.3 1 Tình hình bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở các châu lục, khu vực trên thế giới

Mặc dù gần đây đã có nhiều tiến bộ nhưng sự bất bình đẳng giới vẫn diễn ra phổ biến, dai dẳng trong nhiều khía cạnh của cuộc sống, tồn tại trong hộ gia đình, các thể chế xã hội

và nền kinh tế

Cũng như với các quyền cơ bản, phụ nữ và các bé gái thường gặp khó khăn hơn rất nhiều so với nam giới và các bé trai trong việc tiếp cận hàng loạt các nguồn lực Điều này đã thu hẹp các cơ hội cho họ và cũng như với các quyền hạn đã hạn chế khả năng của họ để tham gia và thụ hưởng thành quả của sự phát triển

Trang 35

Giáo dục là vấn đề trung tâm để mỗi người có khả năng phản ứng lại trước những cơ hội mà sự phát triển mang lại, nhưng sự phân biệt lớn vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng Sự phân biệt này diễn ra dai dẳng cả trong tỷ lệ đi học lẫn số năm đi học trung bình Bởi vì theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, trình độ học vấn là một trong ba thành phần cơ bản có liên quan đến sự phát triển con người gồm: tỷ lệ người lớn biết chữ, số năm đến trường, tỷ lệ nhập học các cấp

Tỷ lệ nữ sinh tiểu học, trung học và số năm đi học trung bình của họ đã tăng lên theo thời gian Ở nhiều vùng, như ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, châu Âu và Trung Á, tỷ lệ tổng số nữ sinh tiểu học đạt hoặc gần đạt 100% Tỷ

lệ học tiểu học của các bé gái ở châu Phi Hạ Sahara cũng ổn định nhưng ở mức thấp hơn nhiều Tại châu Phi Hạ Sahara, tỷ lệ học tiểu học của các bé gái rất cao từ năm 1970 đến năm 1980, nhưng kể từ đó, tỷ lệ này đã dừng ở mức 54% Số lượng tuyệt đối phụ nữ đi học

ở châu Phi Hạ Sahara vẫn thấp hơn ở các khu vực đang phát triển khác Tỷ lệ nữ sinh trung học chỉ đạt 14% năm 1995 và số năm đi học trung bình chỉ bằng 2,2 năm tính đến năm

1990

Đông Á, châu Mỹ Latinh, châu Á và Trung Á đạt mức độ bình đẳng giới cao nhất trong giáo dục Ở Châu Âu, Trung Á và châu Mỹ Latinh, tỷ lệ nữ sinh trung học bình quân hiện nay đã cao hơn của nam giới, và xét trung bình số năm đi học của phụ nữ đã bằng khoảng 90% của nam giới

Xuất phát từ điểm khởi đầu thấp hơn về bình đẳng giới, Nam Á, châu Phi Hạ Sahara, Trung Đông và Bắc Phi đều đã cho thấy một sự giảm sút đáng kể về phân biệt giới trong giáo dục tiểu học và trung học từ năm 1970 đến năm 1995 Tuy nhiên, Nam Á vẫn là vùng

có mức độ bình đẳng giới thấp nhất trong giáo dục Phụ nữ ở Nam Á trung bình chỉ có số năm đi học bằng một nửa của nam giới và tỷ lệ học trung học của phụ nữ chỉ bằng một phần

ba tỷ lệ đó của nam giới Hơn nữa, Nam Á còn có mức độ bất bình đẳng giới lớn hơn các khu vực đang phát triển khác vì số lượng tuyệt đối phụ nữ được đi học cũng thấp hơn (Filmer, King và Pritchett 1998)

Ở châu Phi Hạ Sahara, bình đẳng giới trong tỷ lệ đi học đã tăng lên- mặc dù sự cải thiện ở cấp tiểu học trong thời gian từ năm 1980 đến 1990 dường như phản ánh sự giảm sút tuyệt đối trong tỷ lệ số nam sinh hơn là sự cải thiện trong tỷ lệ số nữ sinh Thu hẹp khoảng cách trong giáo dục – và thu hẹp chúng với tốc độ nhanh hơn- vẫn còn là những thách thức quan trọng của sự phát triển đối với các nhà hoạch định chính sách, nhất là ở Nam Á, châu

Trang 36

Phi Hạ Sahara và một số nước ở Trung Đông, Bắc Phi Những thách thức này đặc biệt quan trọng khi thế giới đang chuyển sang thời đại thông tin và các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao đang thay thế cho các cách thức sản xuất truyền thống Giáo dục là cơ sở nền tảng

để phát triển các kỹ năng linh hoạt vốn rất cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế

có hàm lượng chất xám cao Những ai không có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại khỏi những cơ hội mới và ở những nơi mà khoảng cách giới dai dẳng trong giáo dục vẫn còn tồn tại thì phụ nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậu đằng sau nam

giới trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển

1.3 2 Tình hình bình đẳng giới trong giáo dục ở Việt Nam

1.3.2.1 Một số quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn

đề bình đẳng giới

1.3.2.1.1 Trong hiến pháp

Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước mới trong đó có các điều khoản quan trọng: “Tất cả mọi quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1); “ Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); “Đàn

bà ngang quyền với nam giới về mọi phương diện” (Điều 9)

Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1960, Điều 24 đã khẳng định: “ Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ

em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ trẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân

và gia đình.”

Hiến pháp 1946 và 1960 là cơ sở cho việc xóa bỏ các hủ tục khắt khe của chế độ phong kiến đối với phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên thực tiễn trong thời kì đầu tiên xây dựng đất nước Hiến pháp năm 1992 lại khẳng định rõ những nguyên tắc trên

Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên đã kí vào công ước quốc tế về xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Cedaw) Đặc biệt, tại điều 10 của Công ước quy định việc đối xử bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực giáo dục Quy định

về lĩnh vực này đã được cụ thể hóa trong một số mục tiêu như sau:

Trang 37

Mục tiêu 2: Đảm bảo đến năm 2015 mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái đều có cơ hội

tiếp cận và hoàn thành giáo dục bắt buộc và miễn phí có chất lượng tốt

Mục tiêu 4: Đạt được 50% tỷ lệ biết chữ cho người lớn đến năm 2015 đặc biệt là cho

nữ giới

Mục tiêu 5: Xóa bỏ sự mất cân bằng giới trong giáo dục tiểu học và trung học cơ sở

đến năm 2005 và tiến tới đạt được bình đẳng giới vào năm 2015; tập trung phát triển làm sao mọi trẻ em gái đều được tiếp cận đầy đủ, công bằng cũng như hoàn thành giáo dục cơ bản

Tháng 9 năm 2000, 189 vị nguyên thủ quốc gia tham dự Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc tại New York và kí Bản tuyên bố Thiên niên kỷ, cam kết mạnh mẽ về việc đạt các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015 Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên

kỷ MDG – thực chất là Chương trình mục tiêu chiến lược của quốc gia cho đến năm 2015 MDG bao gồm các mục tiêu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, mỗi mục tiêu được lượng hóa và cụ thể hóa thành chỉ tiêu cụ thể có chỉ số để kiểm soát Cụ thể trong lĩnh vực giáo dục bao gồm các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể được lượng hóa như sau:

Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu MDG của Việt Nam đến năm 2015

CÁC MỤC TIÊU VÀ CHỈ TIÊU

CỤ THỂ

MỤC TIÊU 2: ĐẠT PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Chỉ tiêu 3: Đảm bảo cho mọi trẻ em,

trai và gái, ở khắp mọi nơi hoàn

thành đầy đủ chương trình giáo dục

tiểu học vào năm 2015

6 Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở tiểu học

7 Tỷ lệ học sinh theo học từ lớp 1 đến lớp 5

8 Tỷ lệ biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 24

MỤC TIÊU 3: TĂNG CƯỜNG BÌNH ĐẲNG NAM, NỮ VÀ

NÂNG CAO VỊ THẾ CHO PHỤ NỮ

Trang 38

12 Tỷ lệ đại biểu nữ trong quốc hội

Sau 50 năm, việc thực hiện quyền bình đẳng nam và nữ ở nước ta đã có nhiều tiến bộ

Từ quan điểm của Đảng và Nhà nước đến các quy định có liên quan đã có sự đánh giá cao vai trò của phụ nữ, động viên họ tham gia vào quá trình phát triển Tuy nhiên, cho đến ngày nay, khoảng cách giới trong đời sống thực tiễn vẫn còn khá xa Nhiều vấn đề còn bất cập với phụ nữ như cơ hội có việc làm thấp, trình độ nhận thức bị hạn chế Điển hình như, việc tạo ra sự bình đẳng, công bằng về cơ hội cho phụ nữ tham gia vào công việc xã hội, gia đình

và hưởng thụ các quyền lợi chính đáng chưa được đảm bảo Chúng ta có luật pháp, kể cả nhiều luật định liên quan đến quyền nam nữ bình đẳng nhưng trên thực tế, lại chưa tạo ra một sân chơi bình đẳng cho nam, nữ Họ chưa có những cơ hội và điều kiện như nhau trong học tập, nâng cao trình độ trong tiếp xúc với việc làm, tiền lương cũng như trong quyết định công việc gia đình, trong tham gia quản lí xã hội Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận hoàn toàn là trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động … Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu trong một số ngành kinh tế như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ …

1.3.2.1 2 Hệ thống luật pháp, chính sách

Vai trò và vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xây dựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và đã được thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của phụ nữ trong tất

cả các lĩnh vực

Theo quy định tại điều 2 của Luật Bình đẳng giới quy định mọi cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân kể cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam đều phải thực hiện Luật Bình đẳng giới

Hay theo quy định tại điều 4 của Luật Bình đẳng giới, quy định: Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập quan hệ hợp tác hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Trang 39

Riêng đối với vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tại điều 14 đã quy định rõ:

+Thứ nhất: Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng

+ Thứ hai: Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo

+ Thứ ba: Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

+ Cuối cùng: Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

Đồng thời, Luật Bình đẳng giới cũng nghiêm cấm các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực này là:

+ Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ

+ Vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính

+ Từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì

lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ

+ Giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa có định kiến giới

1.3.2.2 Tình hình bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta

Với quan điểm bình đẳng trong cơ hội tiếp cận với giáo dục cho mọi người, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng cho cả trẻ em trai và gái, phụ nữ và nam giới Vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ đã được khẳng định trong hiến pháp đầu tiên của Việt Nam và trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì vấn đề này càng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Quốc hội Khóa XI, Kì họp thứ 10 đã thông qua Luật bình đẳng giới và nhiều văn bản dưới luật đã được ban hành tạo cơ sở pháp lí cho việc đưa luật Bình đẳng giới vào cuộc sống, thực hiện bình đẳng giới Việt Nam Đó cũng là một trong những nguyên nhân góp phần không nhỏ trong việc đạt được những kết quả bước đầu của sự nghiệp thực hiện bình đẳng giới ở nước ta

Nhờ vậy, Việt Nam đã đạt được những thành công rất to lớn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Sau đây, là những kết quả đạt được hướng đến bình đẳng giới trong giáo dục ở nước ta trong những thập niên gần đây:

- Nhận thức của xã hội về bình đẳng giới đã có chuyển biến tích cực

Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã dần được khắc phục, gia đình và xã hội đã quan tâm nhiều hơn và tạo điều kiện cho cả trẻ em trai và trẻ em gái đến trường Chính phủ Việt

Trang 40

Nam đã cho phép các tổ chức xã hội nghề nghiệp và doanh nghiệp thành lập các giải thưởng cho trẻ em nghèo vượt khó, trong đó có trẻ em gái, đến nay đã có hàng nghìn em gái nhận được giải thưởng này

- Tỉ lệ biết chữ của phụ nữ đã tăng lên và khoảng cách giới ngày càng được thu hẹp

Tỉ lệ biết chữ của phụ nữ từ 15 tuổi trở lên đạt mức cao so với các nước trong khu vực, tăng từ 86.46% (năm 2000) lên 90.22% (năm 2004) Đặc biệt, chỉ số cân bằng giới (GEI) đã tăng từ 0.92 (năm 2000) lên 0.97 Tuy nhiên nhìn tổng thể, tỉ lệ nam giới từ 10 tuổi trở lên biết chữ vẫn cao hơn so với nữ giới (nữ 90.5% và nam 96.0%) và không đồng đều giữa nông thôn và đô thị, khoảng cách này càng lớn đối với vùng sâu, vùng xa, trong đó khu vực Tây Bắc luôn đạt tỉ lệ thấp nhất (2002: 80.0%; 2004: 71.3% và 2006: 73.1%)

Ở nhiều địa phương như Hà Nội (Hà Tây cũ), Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Kiên Giang, Bến Tre…hoạt động xóa mù chữ cho phụ nữ ở độ tuổi dưới 40 đã được quan tâm nhiều hơn Nhiều địa phương vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động phối hợp giữa các ngành giáo dục, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên với

Bộ đội biên phòng thực hiện công tác xóa mù chữ và chống tái xóa mù chữ, vì vậy rất nhiều địa phương đã đạt tỉ lệ xóa mù cho phụ nữ dưới 40 tuổi từ 95% trở lên

- Cơ hội đến trường được mở rộng cho tất cả mọi người, đặc biệt là trẻ em gái:

Về cơ bản đã xóa được “xã trắng” về giáo dục mầm non Hệ thống các trường tiểu học

đã được mở tới từng thôn xóm, trường THCS được mở tới từng xã hoặc cụm xã Các điểm trường lẻ, lớp “cắm bản”, lớp ghép được mở ở hầu hết các thôn bản, buôn sóc, vùng cao, vùng sâu, đặc biệt khó khăn, tạo cơ hội cho trẻ em trai và gái các dân tộc thiểu số được đi học Bình đẳng giới về cơ bản đã đạt được trong giáo dục mầm non và tiểu học

Tỉ lệ nhập học thô (GER) của trẻ em trai và trẻ em gái ở giáo dục mầm non đạt mức cao và có xu hướng giảm trong những năm gần đây Điều đó chứng tỏ trẻ em được huy động ra lớp đúng độ tuổi ngày càng tăng Chỉ số cân bằng giới (GEI) về tỉ lệ nhập học thô giáo dục mầm non trong cả nước đã giảm từ 1,06 (năm 2000) xuống 0,97 (năm 2005), trong

đó vùng Đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ giảm nhiều nhất

Tỉ lệ nhập học thô (GER) của học sinh nữ và nam ở bậc tiểu học đạt mức cao và có xu hướng tăng trong những năm gần đây Chỉ số cân bằng giới (GEI) về tỉ lệ nhập học thô cấp tiểu học trong cả nước đã tăng từ 0.97 (năm 2000) lên 1.12 (năm 2005) Vùng Tây Bắc có

GEI không thay đổi so với năm 2005 và thấp nhất trong cả nước Như vậy, để thực hiện triệt

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.  Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh (Trang 43)
Hình 2.2. Bản đồ dân số và tỷ lệ dân số trên 15 tuổi biết đọc biết viết ở - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Hình 2.2. Bản đồ dân số và tỷ lệ dân số trên 15 tuổi biết đọc biết viết ở (Trang 65)
Bảng 2.9. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết (Trang 70)
Bảng 2.10. Chỉ số giáo dục - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 2.10. Chỉ số giáo dục (Trang 72)
Hình 2.3. Bản đồ chỉ số giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 1999 - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Hình 2.3. Bản đồ chỉ số giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 1999 (Trang 78)
Bảng 4. Số học sinh phổ thông trong độ tuổi 6-17 phân theo giới ở - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 4. Số học sinh phổ thông trong độ tuổi 6-17 phân theo giới ở (Trang 101)
Bảng 6. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 6. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, (Trang 102)
Bảng 7. Số người từ 15+ và số người từ 15+ biết đọc biết viết phân theo giới ở tỉnh - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 7. Số người từ 15+ và số người từ 15+ biết đọc biết viết phân theo giới ở tỉnh (Trang 103)
Bảng 9.  Số người trong độ tuổi 6-10 tuổi đang học tiểu học và số người trong độ - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 9. Số người trong độ tuổi 6-10 tuổi đang học tiểu học và số người trong độ (Trang 104)
Bảng 10. Số người trong độ tuổi 11-14 tuổi đang học THCS và số người trong độ tuổi - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 10. Số người trong độ tuổi 11-14 tuổi đang học THCS và số người trong độ tuổi (Trang 105)
Bảng 13. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 13. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, (Trang 107)
Bảng 20. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào từng cấp học chia theo giới ở tỉnh Trà Vinh, - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 20. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào từng cấp học chia theo giới ở tỉnh Trà Vinh, (Trang 112)
Bảng 22. Chỉ số phát triển giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 2009 - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 22. Chỉ số phát triển giáo dục phân theo giới ở tỉnh Trà Vinh, năm 2009 (Trang 113)
Bảng 24. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở - bình đẳng giới trong giáo dục ở trà vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 24. Tỷ lệ huy động đúng tuổi vào ba cấp học phân theo giới ở (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w