1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh bà rịa vũng tàu thời kì 1945 1975

139 763 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin được cảm ơn Công ty cao su Xuyên Mộc, Công ty cao su Bình Ba, Tổng công ty cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ủy ban nhân dân, Liên đoàn lao động, T

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ M ỹ Liễu Linh

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ M ỹ Liễu Linh

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN

Trang 3

thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Lịch sử- Trường ĐH Sư Phạm

Tp HCM và trường KHXH & NV đã truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm thực tiễn cũng như những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn của mình

Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin được cảm ơn Công ty cao su Xuyên Mộc, Công ty cao su Bình Ba, Tổng công ty cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ủy ban nhân dân, Liên đoàn lao động, Thư viện tổng hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực

hiện đề tài nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, các anh chị đang công tác tại Phòng Sau Đại Học và Thư Viện Trường ĐH Sư Phạm Tp HCM đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thu thập tài liệu để thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ, động viên tôi học tập, công tác và hoàn thành luận văn

Tác gi ả luận văn

Võ M ỹ Liễu Linh

Trang 4

TRÀO CÔNG NHÂN CAO SU C ỦA TỈNH TRƯỚC CÁCH

M ẠNG THÁNG TÁM 7

1.1 Sơ lược về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 7 1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 7 1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu 8 1.2 Sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 15 1.2.1 Thực dân Pháp lập các đồn điền cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu 15 1.2.2 Sự hình thành đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 20 1.2.3 Tình cảnh công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trước Cách mạng

tháng Tám 1945 21 1.2.4 Sự chuyển biến về ý thức giai cấp, ý thức cách mạng của đội ngũ công

nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu 30

Chương 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN CAO SU

T ỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU TRONG KHÁNG CHIẾN

CH ỐNG PHÁP (1945 – 1954) 37

2.1 Chính sách của thực dân Pháp đối với ngành cao su và tình hình sản xuất

cao su ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau năm 1945 37 2.1.1 Chính sách của thực dân Pháp đối với ngành cao su sau năm 1945 ở

Bà Rịa – Vũng Tàu 37 2.1.2 Tình hình sản xuất cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu sau Cách mạng tháng

Tám – 1945 39 2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai

đoạn 1945 – 1949 41 2.2.1 Xây dựng Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và các đoàn thể,

cùng cả nước kháng chiến chống Pháp 41 2.2.1.1 Xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng 41

Trang 5

2.2.1.2 Củng cố lại lực lượng, tổ chức kháng chiến chống Pháp 44 2.2.2 Phong trào đấu tranh của công nhân cao su trong những năm 1945 –

1949 ở Bà Rịa – Vũng Tàu 46 2.2.2.1 Xây dựng công đoàn cao su kháng chiến ở Bà Rịa – Vũng Tàu 46 2.2.2.2 Mặt trận cao su chiến 48 2.2.2.3 Công nhân cao su chống chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến

tranh” của địch trên lĩnh vực sản xuất cao su 51 2.3 Phong trào đấu tranh của công nhân cao su những năm 1950 – 1954 58 2.3.1 Công nhân cao su chuyển hướng đấu tranh 58 2.3.1.1 Tình hình sản xuất cao su và đời sống công nhân cao su những

năm 1950 – 1954 58 2.3.1.2 Liên đoàn cao su Nam Bộ được thành lập và sự chỉ đạo chuyển

hướng đấu tranh 59 2.3.2 Công nhân cao su đẩy mạnh đấu tranh trên các mặt trận, góp phần kết

thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp 61 2.3.2.1 Công nhân cao su giữ vững phong trào đấu tranh 61 2.3.2.2 Công nhân cao su đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh

vũ trang, góp phần thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 64

Chương 3: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN CAO SU

BÀ R ỊA – VŨNG TÀU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954 – 1975) 68

3.1 Phong trào công nhân cao su Bà Rịa –Vũng Tàu trong giai đoạn 1954 – 1960 68 3.1.1 Tình hình sản xuất cao su và đời sống công nhân cao su ở Bà Rịa –

Vũng Tàu sau hiệp định Gèvene 68 3.1.1.1 Tình hình sản xuất cao su 68 3.1.1.2 Đời sống công nhân cao su sau hiệp định Genève 71 3.1.2 Chính sách của Mĩ và chính quyền Sài Gòn trên lĩnh vực khai thác cao su 73 3.1.2.1 Các thủ đoạn chính trị của Mĩ và chính quyền Sài Gòn 73 3.1.2.2 Các thủ đoạn hành chính, kinh tế của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn 75 3.1.3 Phong trào đấu tranh của công nhân cao su giai đoạn 1954 – 1960 76 3.1.3.1 Chuyển hướng đấu tranh, củng cố xây dựng cơ sở Đảng, cơ sở

quần chúng trong công nhân cao su 76

Trang 6

3.1.3.2 Đấu tranh đòi dân sinh, cải thiện đời sống, chế độ lao động và đòi

thi hành Hiệp định Genève 78 3.1.3.3 Phong trào “Đồng khởi” của công nhân cao su 82 3.2 Công nhân cao su làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn (1961 – 1965) 84 3.2.1 Quốc sách “Ấp chiến lược” của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn 84 3.2.2 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu đấu tranh chống gom dân lập ấp

chiến lược từ năm 1961 – 1965 87 3.2.2.1 Tình hình sản xuất cao su 87 3.2.2.2 Tình cảnh công nhân cao su 88 3.2.2.3 Phong trào đấu tranh phá ấp chiến lược của công nhân cao su Bà

Rịa – Vũng Tàu từ năm 1961 – 1965 90 3.2.3.4 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu góp phần vào chiến thắng

Bình Giã (1964 – 1965) 92 3.3 Công nhân cao su Bà Rịa- Vũng Tàu chiến đấu chống Mĩ, cứu nước (1965 – 1972) 94 3.3.1 Vùng cao su – Vùng trọng điểm bình định của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn 94 3.3.2 Tình hình khai thác cao su và đời sống công nhân cao su giai đoạn

1965 – 1972 96 3.3.2.1 Tình hình khai thác cao su 96 3.3.3.2 Tình cảnh công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu 98 3.3.3 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu góp phần đánh bại các chiến lược

chiến tranh của Mĩ và chính quyền Sài Gòn 100 3.3.3.1 Phong trào công nhân cao su đấu tranh chính trị, binh vận 100 3.3.3.2 Công nhân cao su đấu tranh vũ trang, phá “bình định”, khôi phục

lực lượng 102 3.3.3.3 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia chiến dịch Nguyễn

Huệ 1972 104 3.4 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trong công cuộc giải phóng các đồn điền góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 – 1975) 105 3.4.1 Tình hình sản xuất cao su và đời sống của công nhân cao su 105 3.4.1.1 Tình hình sản xuất cao su 105

Trang 7

3.4.1.2 Đời sống công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu 106

3.4.2 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu đấu tranh chống địch lấn chiếm phá hoại Hiệp định Paris, tham gia tiến công và nổi dậy giải phóng các đồn điền 107

3.4.2.1 Chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Paris, lấn chiếm, bình định vùng cao su 107

3.4.2.2 Đấu tranh vũ trang đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng 109

3.4.2.3 Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia tiến công và nổi dậy giải phóng các đồn điền 111

K ẾT LUẬN 114

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 117

PH Ụ LỤC 123

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

1.1 Lí do khoa h ọc

Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu

là một lực lượng chính trị, là một đội quân chủ lực của phong trào cách mạng ở địa phương, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng trên địa bàn tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung

Bên cạnh đó, trong quá trình đấu tranh cách mạng, hơn nửa thế kỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu ngày một trưởng thành về mặt nhận thức xã hội, về ý thức giai cấp, ý thức cách

Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, các đồn điền cao

su đã được khai thác khá ổn định Qua quá trình đấu tranh, giai cấp công nhân ngày

một trưởng thành hơn Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, công nhân cao su đã góp phần to lớn trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc

Là một người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đỏ miền Đông, là một giáo viên

dạy lịch sử ở trường phổ thông, tác giả muốn thông qua công trình của mình giúp

thế hệ trẻ không chỉ tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của ông cha mà còn

tự hào về những thành quả mà nhân dân Bà Rịa – Vũng Tàu đã đạt được trong công

cuộc đổi mới hiện nay

Từ lí do khoa học và thực tiễn trên, đề tài “Phong trào đấu tranh của công

nhân cao su t ỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kì 1945 – 1975” nghiên cứu tổng hợp

nhằm để lại thành quả của đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu xưa, ghi

nhận những đóng góp của họ cho cuộc kháng chiến ở Nam bộ nói riêng, của lịch sử dân tộc nói chung trong thời kì 1945 – 1975

Trang 9

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

• Về lịch sử nghiên cứu vấn đề, liên quan đến đề tài, trước năm 1954 có một

số sách tiếng Pháp như cuốn:

- Le Caotutchoue de plantation en 1909, Henri Brenier, Hà Nội 1909

- Economie agricode de L’Indochine, Yves Henry Hà Nội 1932

Viết về khai thác đồn điền cao su và kinh tế nông nghiệp ở Đông Dương Bên cạnh đó, các báo tiếng Pháp như: Echo Annamite, báo La Volonté

Indochinoise và báo Climats… một số tờ báo tiếng Việt như Tiếng Dân, Phụ

nữ Tân Văn…viết về chế độ mộ phu, chính sách cai trị của thực dân Pháp và hoàn

cảnh sống của người công nhân cao su, một số cuộc đấu tranh của công nhân ở các đồn điền Nam bộ

• Sau 1954 có một số sách báo, tiểu luận nghiên cứu viết về tình hình sản xuất cao su, cuộc sống, hoàn cảnh của công nhân cao su như:

- Máu trắng máu đào, Diệp Liên Anh, NXB Lao động mới, Sài Gòn

- Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Trần Văn Giàu, NXB Sự thật, Hà

- Đất đỏ miền Đông, Lê Sắc Nghi, NXB Sự thật, 1980

- Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su miền Đông Nam

Bộ, Thành Nam, NXB Lao Động, Hà Nội, 1982

- Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam (1906 – 1990), Huỳnh

Lứa (chủ biên), NXB Trẻ, TPHCM, 1993

Các công trình trên nghiên cứu về phong trào đấu tranh của công nhân cao

Việt Nam nói chung và công nhân cao su miền Đông Nam Bộ nói riêng

Trang 10

Ngoài ra còn có một số bài viết nghiên cứu khác ở các tạp chí chuyên ngành trong chừng mực nhất định có đề cập đến một số mặt về đội ngũ công nhân cao su ở

miền Đông Nam Bộ nói chung và Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng

Tuy nhiên, mức độ nghiên cứu còn phân tán, lẻ tẻ trong các chuyên đề, các giáo trình, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống

một địa phương cụ thể

• Thời gian gần đây, còn có một số luận văn, luận án như:

- Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học lịch sử của Trần Toản với đề tài “Sự hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Đồng Nai qua các thời kì lịch sử (1906 – 1991), TPHCM, 1994

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mộng Tuyền với đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Thủ Dầu Một trong 30 năm chiến tranh giải phóng”, TPHCM, 2010

Ngoài ra còn có một số tập sách về lịch sử địa phương như “Từ đồn điền Cuộc – tơ – nay đến công trường Cẩm Mỹ” xuất bản năm 1987, “Xà Bang xưa và nay”

xuất bản 1990…

Đây là những công trình nghiên cứu rất cụ thể và gợi mở cho luận văn định hướng về nguồn tài liệu cần thiết khi bước vào nghiên cứu đề tài

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa thể hiện được một cách hệ

thống và toàn diện về phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu thời kì 1945 – 1975

Hi vọng với đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kì 1945 – 1975”, luận văn có thể đóng góp thêm một mảng màu ở

một địa phương cụ thể trong bức tranh đa sắc màu của phong trào đấu tranh của công nhân cao su

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trong đó đi sâu nghiên cứu: Sự ra đời và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu, sự chuyển biến,

Trang 11

phát triển về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân cao su qua các giai đoạn lịch sử: trước Cách mạng tháng Tám 1945, giai đoạn 1945 –

1954, giai đoạn 1954 – 1975

• Phạm vi nghiên cứu :

- Thời gian nghiên cứu: mốc mở đầu: 1945, mốc kết thúc: 1975 Đây là

thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, qua đó thấy được vai trò

của đội ngũ công nhân cao su trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân

tộc

- Không gian nghiên cứu: Vì địa giới hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhiều lần thay đổi qua các giai đoạn lịch sử, quyền quản lí các đồn điền cao su cũng thay đổi theo, do đó luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các đồn điền cao su thuộc công ty cao su Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng chính giải quyết yêu

cầu đặt ra của đề tài Đặc biệt để lý giải rõ hơn các sự kiện, các vấn đề lịch sử đặt

ra

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, đối chiếu để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu trong các thời kì lịch sử, đồng thời cũng để góp

phần xác định tính chính xác của những cứ liệu, số liệu lịch sử

Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu, kế

thừa những thành quả của các bộ môn khoa học xã hội khác như: văn học dân gian,

lịch sử quân sự… để vấn đề được lí giải một cách khoa học và có tính thuyết phục cao

5 Ngu ồn tài liệu

Nguồn tài liệu được khai thác và sử dụng trong luận văn gồm:

- Các tác phẩm, lí luận của chủ nghĩa Mác Lê – nin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về giai cấp công nhân, về đường lối,

tư tưởng quân sự…

Trang 12

- Các công trình nghiên cứu sử học có liên quan đến đề tài được công bố trên sách báo, tạp chí…đang lưu trữ tại Phòng khoa học – công nghệ và Môi trường quân khu 7; thư viện Khoa học xã hội & Nhân văn TP.HCM, thư viện Tổng hợp TP.HCM, Liên đoàn lao động tỉnh BRVT, thư viện tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu…

- Các biên bản hội thảo, hồi kí, lời kể của các nhân chứng lịch sử, tài liệu tổng

kết chiến tranh lưu tại Ban lịch sử của Bộ chỉ huy quân sự và phòng lịch sử Đảng Ban tuyên giáo tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu, khai thác nguồn tài liệu trong các công trình

lịch sử địa phương và các tác phẩm của người Pháp viết về cuộc chiến tranh Việt Nam và Đông Dương

6 Đóng góp mới của luận văn

Qua nghiên cứu, luận văn có những đóng góp mới như sau:

- Trình bày một cách hệ thống, tương đối toàn diện sự ra đời và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hóa xã hội của đội ngũ công nhân qua các thời kì lịch sử từ 1945 – 1975

- Góp phần làm phong phú thêm tư liệu về các phong trào đấu tranh nói chung

và phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng từ năm 1945 – 1975

- Góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, nâng cao lòng tự hào và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

- Góp nguồn tư liệu để giảng dạy lịch sử địa phương

7 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu và phụ lục Luận văn có cấu trúc 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và phong trào đấu tranh công nhân cao su c ủa tỉnh trước Cách mạng tháng Tám – 1945

Đây là chương cơ sở, luận văn giới thiệu tổng quan về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của

Trang 13

tỉnh) Đồng thời, luận văn cũng trình bày về sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân cao su tỉnh trước năm 1945 để có thể tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách trực tiếp, hệ thống và toàn diện

Chương 2: Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trong kháng chi ến chống Pháp (1945 – 1954)

Chính sách của thực dân Pháp đối với ngành sản xuất cao su và sự trưởng thành của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình đấu tranh được thể

hiện qua việc: xây dựng Đảng bộ, chính quyền, lực lượng và mặt trận cao su chiến

Chương 3: Phong trào đấu tranh của công nhân cao su trong kháng chiến

ch ống Mĩ (1954 – 1975)

Luận văn phân tích trong từng giai đoạn lịch sử công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu cùng với nhân dân cả nước đã từng bước làm thất bại các chính sách của

Mĩ và chính quyền Sài Gòn Một lần nữa, khẳng định vai trò của công nhân cao su

tỉnh đã góp phần thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng tỉnh nhà và giải phóng cả nước

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

1.1 Sơ lược về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1.1.1 V ị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trên tọa độ địa lí được xác định từ 10°20’ đến 10°45’ vĩ bắc và 107° đến 107°35’ kinh đông, là vùng đất ở cửa ngõ phía Đông của

miền Đông Nam bộ, là một tỉnh được thành lập trên cơ sở hai địa danh là Bà Rịa – Vũng Tàu, theo nghị quyết kì họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII, ngày 12 tháng 8 năm

1991 bao gồm 7 đơn vị hành chính: thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, huyện Côn Đảo, huyện Long Đất, huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức, huyện Tân Thành Trong đó thành phố Vũng Tàu và huyện Côn Đảo trước 12 – 8 – 1991 được gọi là Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, và các huyện : Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc, được tách ra từ tỉnh Đồng Nai Ngày 2 tháng 6 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 45/CP chia huyện Châu Thành thành ba đơn vị hành chính là thị xã

Bà Rịa, huyện Châu Đức và huyện Tân Thành Ngày nay Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành một tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện như hiện nay

Với 2047,66 km², Bà Rịa – Vũng Tàu có diện tích tương đương thành phố

Hồ Chí Minh, bằng 1/3 tỉnh Đồng Nai và chiếm 0,6% diện tích của cả nước Bên

cạnh đó, Bà Rịa – Vũng Tàu còn quản lí hơn 100,000 km² thềm lục địa Nam biển Đông, có tiềm năng to lớn về kinh tế, có nguồn tài nguyên dầu khí và một ngư trường rộng lớn Trải qua một quá trình tích hợp, trong điều kiện tự nhiên của một vùng ven biển, miền đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã hình thành hai loại thổ nhưỡng chính: hệ Peralit, chủ yếu hình thành trên nền đá của vùng đồi núi thấp, chiếm khoảng 58% diện tích đất tự nhiên (113,000ha), tập trung chủ yếu ở các huyện: Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo Xen lẫn trong hệ đất đỏ Ba-zan, thích

hợp với các loại cây công nghiệp như cao su, chè, cà phê, điều, tiêu… và các loại cây ăn quả nhiệt đới Hệ phù sa được kiến tạo từ sự bồi đắp của các con sông, suối

Trang 15

và chủ yếu tập trung ở phía Nam, chiếm hơn 42% diện tích đất tự nhiên (khoảng 83,000ha) Tuy không tạo được thế mạnh về sản xuất cây lương thực nhưng các loại đất phù sa mới bồi, phù sa cổ bạc màu, phù sa pha cát, phù sa phèn, nhiễm mặn… đều có giá trị riêng khi biết đầu tư và khai thác hợp lý [45]

1.1.2 Khái quát l ịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu

Những phát hiện khảo cổ học gần đây ghi nhận sự có mặt của con người ở trung tâm địa bàn tỉnh, có niên đại cách ngày nay chừng 2500 – 2700 năm Những

chủ nhân này đã ở vào giai đoạn phát triển văn hóa khá cao Họ sinh sống trên

những ngôi nhà sàn, biết tạo khuôn đúc đồng với nhiều nét hoa văn tinh tế, biết dùng bàn xoay để làm đồ gốm, dùng đá, dùng đồng để làm đồng trang sức Một loạt các di chỉ khảo cổ học khác được phát hiện gần đây đã xác định nền văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ từ đầu Công nguyên đến thế kỉ VII, mà đồng bằng Nam bộ là trung tâm

Vùng đất Bà Rịa xưa là địa bàn người Việt đến cư ngụ sớm hơn so với những nơi khác ở Nam bộ Cuối thế kỉ XVII, người Việt đã sinh sống rất nhiều ở xứ này

Mô Xoài – Bà Rịa, là vùng đất địa đầu, một thời nổi tiếng giàu có, gạo trắng nước trong: “ Cơm Nai – Rịa, cá Rí – Rang” như dân gian vẫn lưu truyền Liên tục trong nhiều thế kỉ, những cư dân từ miền Trung đến vùng đất mới Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng đồng bào các dân tộc bản địa đoàn kết một lòng, dựng làng, mở cõi, tạo nên

những cánh đồng rộng lớn, xóm làng trù phú, xanh tươi

Bán đảo Vũng Tàu cũng là nơi cư dân người Việt dừng chân khá sớm Trong

sách “Ph ủ biên tạp lục” (1776), Lê Quý Đôn đã chép chuyện một người ở Nam Bố

Chánh (Quảng Bình) thường buôn bán vào Gia Định kể lại: “… Đến đầu địa giới

Gia Định là xứ Vũng Tàu, nơi hải đảo có cư dân Tới đây, người ta thu xếp thuyền

bu ồm để nghỉ ngơi và để hỏi thăm nơi được mùa, mất mùa như thế nào Sau khi đã

bi ết chắc địa phương nào được mùa lúa thóc, những người buôn mới cho thuyền vào nơi ấy.”[8] Như vậy, khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục, Vũng Tàu đã là

một đầu mối thông tin thương mại, giúp cho các thương nhân nắm được tình hình

Trang 16

sản xuất và nhu cầu của vùng đất Nam bộ

Đến đầu thời Trung Hưng (1788), chúa Nguyễn đã cho lập Phong hỏa đài (đài quan sát, truyền tin) ở núi Ngọa Ngưu (vị trí của Bạch Dinh ngày nay) để bảo

vệ cửa biển và bán đảo, đồng thời tăng cường lực lượng thân binh để ngăn chặn bọn

hải tặc hoành hành, đe dọa đối với dân cư và ghe thuyền buôn bán qua lại Vũng Tàu Đến đời vua Minh Mạng (1820), ba viên đội đã được phái đến trấn ải, lập đồn binh, dẹp nạn cướp biển Theo chính sách “Ngụ binh ư nông”, ba viên đội lần lượt

lập nên các làng Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam Vì vậy, Vũng Tàu thời ấy còn có tên là Tam Thắng và ba viên đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền có công lập làng ngày ấy được nhân dân thờ trong ba ngôi đình của ba làng Tam Thắng cho đến tận ngày nay

Bên cạnh Tam Thắng, làng Núi Nứa dù có muộn hơn nhưng cũng được hình thành theo một mô thức như thế Nứa là tên núi, theo truyền thuyết Bà Trao là tên

một vùng đất phía Đông núi Nứa, cũng mang tên một người phụ nữ đã đến đây khai hoang, lập ấp nhưng không thành Đầu đời Minh Mạng (1820), triều đình phong

kiến cho lập một đồn binh tại Bến Đá, và người Việt đến định cư quanh vùng Bến

Đá, bến Điệp, Rạch Già ngày càng đông Trong khi đó vùng phía Đông Núi Nứa

vẫn còn hoang vu Đến năm 1900, ông Lê Văn Mưu (thường được gọi là ông Trần)

về đây khai khẩn lập ấp Bà Trao Nhiều người dân ở các tỉnh miền Tây Nam bộ đã theo Lê Văn Mưu đến đây định cư sinh sống

Ông Lê Văn Mưu vừa tổ chức khai hoang, lập ấp, vừa truyền bá đạo Hiếu Nghĩa (dân trong vùng quen gọi là đạo ông Trần) Vốn có nguồn gốc từ đạo Tứ Ân

Hiếu Nghĩa, ra đời từ giữa thế kỉ XIX, do Đức Bổn Sư Ngô Lợi sáng lập, nhằm tập

hợp lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Tây Nam bộ Đạo ông Trần

có những nét khác lạ, kì thú với những công trình kiến trúc, lễ hội sinh động, những phong tục, tập quán có sức cuốn hút lòng người Người dân Bà Trao, ngày nay là Long Sơn, hầu như ai cũng theo đạo ông Trần Người theo đạo ông Trần là đàn ông thường để râu và búi tóc củ tỏi, mặc đồ bà ba đen, luôn làm điều nhân nghĩa, cứu giúp người gặp khốn khó, hoạn nạn, căm ghét điều ác Trong suốt hai cuộc kháng

Trang 17

chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân long Sơn luôn là chỗ dựa

vững chắc cho các lực lượng kháng chiến trên địa bàn Rừng Sác Nhà thờ đạo ông

Trần ngày nay vẫn là chốn thâm nghiêm được người dân địa phương giữ gìn như

một chứng tích biết bao thăng trầm của một miền đất được những con người như ông Trần khai mở [78]

Ở vào vị trí cửa ngõ của vùng đất Nam Bộ, Bà Rịa – Vũng Tàu có điều kiện phát triển sớm và thuận lợi hơn nhiều nơi khác trong vùng Suốt nhiều thế kỉ, mảnh đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã ghi dấu những thay đổi của miền đất mới Nam Bộ Cùng

với quá trình khai phá, những đơn vị hành chính cơ sở của Bà Rịa – Vũng Tàu được hình thành, có ranh giới xác định Dân số theo thời gian cũng dần dần tăng lên Cuối

thế kỉ XVIII, vùng Mô Xoài, Bà Rịa đã có gần 60 làng, tập trung trong đó có nhiều người các dân tộc thiểu số Đó là kết quả của quá trình lao động bền bỉ, lâu dài của nhiều thế hệ nối tiếp nhau, là kết quả của bản tính lao động cần cù, sáng tạo, giàu lòng yêu quê hương đất nước và nghĩa hiệp của những người đi mở đất Truyền

thống đó được lưu giữ và phát huy trong các thế hệ kế tiếp trên vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu hôm nay

Cùng với quá trình lao động, xây dựng quê hương đất nước, nếp sống văn hóa, phong tục tập quán của quê hương xứ sở nơi quê cha đất tổ cũng được kế tục, phát triển trên quê hương mới, trong hoàn cảnh lịch sử mới Cư dân của mỗi làng đều dựng đình, chùa, đền, miếu Đình là nơi sinh hoạt tinh thần của làng Đền là nơi

thực hiện những lễ nghi đối với các nhiên thần và nhân dân – các vị anh hung được tôn là thần thánh có công với làng, với nước Chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống Một ngôi đình Long Phượng hay một ngôi chùa Long Bàn, chùa Quan

Lớn, Linh Sơn Cổ Tự, Phước Lâm tự đã lưu chút dấu ấn xưa còn đọng lại qua sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh

Cư dân sống bằng nghề biển, vốn có mặt sớm ở Bà Rịa – Vũng Tàu, họ lập

miếu thờ Bà, thờ Ông Nam Hải, Quan Thánh Đế Quân hay Bà Ngũ Hành, là những

bậc giàu lòng nhân ái, sẵn sang cứu khổ, cứu nạn cho người đi biển gặp chuyện không may Ngày nay, lễ tục ấy vẫn được giữ gìn và phát triển Các lễ hội hàng năm

Trang 18

ở Dinh Cô Long Hải, miếu Bà Ngũ Hành, lăng Ông Nam Hải ở Thắng Tam (Vũng Tàu), Phước Tỉnh (Long Đất) và lễ hội tại các đình thần ở hầu khắp các làng xã trong tỉnh, cầu cho xóm làng bình yên, mưa thuận gió hòa, được mùa tôm cá…phản ánh phần nào nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc, sinh động và có sức hấp dẫn đặc biệt

của cư dân Bà Rịa – Vũng Tàu từ ngày xưa cũng như hiện nay

Trải qua nhiều thế kỉ, địa danh của tỉnh được thay đổi rất nhiều lần Từ năm

1698, Bà Rịa, bao gồm cả Vũng Tàu thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên; năm

1808 là huyện Phước An, trấn Biên Hòa, thành Gia Định Năm Minh Mệnh thứ thứ

13 (1832), nhà Nguyễn cải cách hành chính, chia lại tỉnh, đặt quan cai trị từ trấn

Quảng Nam trở vào thành 12 tỉnh, vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc huyện Phước

An của tỉnh Biên Hòa, một trong sáu tỉnh của xứ Nam Kì [54]

Năm 1837, nhà Nguyễn đặt phủ Phước Tuy (thuộc tỉnh Biên Hòa) gồm hai huyện Long Thành và Phước An Năm 1838, phủ Phước Tuy kiêm thêm huyện Long Khánh; năm 1851, phủ Phước Tuy lại gồm hai huyện Long Thành và Phước

An như năm 1837 Hiện trạng này được duy trì cho đến khi thực dân Pháp xâm lược các tỉnh miền Đông Nam Bộ [54]

Năm 1865, thực dân Pháp chia toàn cõi Nam Kì thành 13 sở tham biện Phủ Phước Tuy của nhà Nguyễn bấy giờ là sở tham biện Bà Rịa Năm 1876, thực dân Pháp chia tỉnh Biên Hòa thành bốn tỉnh Phủ Phước Tuy cũ là tỉnh Bà Rịa mới Địa danh Bà Rịa, với tư cách là tên gọi của một tỉnh tồn tại từ ngày đó đến năm 1956

mới đổi làm tỉnh theo tên phủ cũ Phước Tuy

Trong quá trình tồn tại và phát triển của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu, với tư cách là một đơn vị hành chính độc lập, từ đầu thế kỉ XIX đến nay, địa phận Vũng Tàu được nhiều lần tách ra và nhập vào với Bà Rịa Năm 1887, thực dân Pháp chia

tỉnh Bà Rịa thành Bà Rịa và Cap Saint Jacques Ngày 1 tháng 5 năm 1895, thực dân Pháp thành lập đô thị Cap Saint Jacques (đứng đầu là chức danh Résident maire:Đốc lý) Kể từ đây Vũng Tàu phát triển độc lập theo mô hình, xu hướng của

một đô thị du lịch và nghỉ mát của chính quyền thực dân Năm 1899, thực dân Pháp

lập lại tỉnh Bà Rịa, bao gồm cả Vũng Tàu Năm 1929, Vũng Tàu lại được tách riêng

Trang 19

thành một tỉnh mới có tên là Cap Saint Jacques Tháng 10 – 1956, chính quyền Sài Gòn cải tổ lại địa giới hành chính, nhập Vũng Tàu vào Bà Rịa, lập tỉnh mới, gọi theo tên phủ cũ của nhà Nguyễn là tỉnh Phước Tuy

Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân (tháng 8 – 1945) với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, chính quyền cách mạng ở Bà Rịa và Vũng Tàu cũng đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính thuộc phạm vi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhằm tạo ra điều kiện, phạm vi phù hợp để tổ chức lãnh đạo nhân dân

thực hiện kháng chiến, chống xâm lược

Tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng thành lập tỉnh Bà Rịa và tỉnh Cap (“Cấp”) Tháng 12 – 1945, tỉnh Cấp được vào Bà Rịa Từ tháng 5 năm 1951,

tỉnh Bà Rịa và các huyện Long Thành, Cần Giuộc, Cần Đước, Nhà Bè được sáp

nhập thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhiều lần tách nhập cùng với tỉnh Biên Hòa, Long Khánh với nhiều tên gọi khác nhau Năm 1955: tỉnh Bà Rịa, năm 1963: tỉnh

Bà –Biên; cuối năm năm 1963: tỉnh Bà Rịa; từ 1966 – 1967: tỉnh Long – Bà – Biên, tháng 10 năm 1967: tỉnh Bà Rịa – Long Khánh; tháng 5 năm 1971: phân khu Bà

Rịa, tháng 8 năm 1972: tỉnh Bà Rịa – Long Khánh [79]

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Vũng Tàu được tách riêng, trở thành thành phố

trực thuộc Khu miền Đông Từ năm 1976, địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay thuộc tỉnh Đồng Nai Năm 1979, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, phần còn lại gồm Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc thuộc Đồng Nai

Năm 1991, Quốc hội thành lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bao gồm các thành

phố, thị xã, huyện như hiện nay, mà đó cũng là địa bàn chủ yếu của phủ cũ Phước Tuy hay tỉnh Bà Rịa xưa Như vậy, suốt nhiều thế kỉ, cùng với những biến động không ngừng của lịch sử, đơn vị hành chính Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều lần thay đổi bằng các tên gọi khác nhau, song về cơ bản, vẫn được giới hạn như tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay Điều đó phản ảnh một sự thống nhất trong quá trình tạo lập

và phát triển trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa – xã hội và phong trào yêu nước, đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ trước đến nay

Trang 20

Địa danh Bà Rịa – Vũng Tàu là tên gọi ghép của hai địa bàn xác định là Bà

Rịa và Vũng Tàu Địa danh Vũng Tàu vốn là tên một vịnh biển nhỏ, là bến đỗ của tàu thuyền Vị trí của vịnh biển này được Đại Nam nhất thống chí xác định như sau:

“Núi Lãi K ỵ ở đông nam huyện Phước An 26 dặm, đầu ghềnh thường có con rái

bi ển bơi lặn ở đấy, nên gọi là Lãi Kỵ (Ghềnh Rái)… Đột khởi ba hòn núi đá đứng

s ững như trụ biểu ở giữa biển, nên làm tiêu chí cho ghe thuyền nam bắc qua lại (…) Đầu núi làm cửa hữu cho Ngọc Tỉnh, cuối núi làm ngoại hình cho Cần Giờ, ở trong

có vũng lớn tục gọi là Vũng Tàu, vũng này bảo vệ cho ghe thuyền đậu nghỉ Trên núi có su ối nước ngọt, dưới có dân chài nhóm ở đông được đúc, làm chỗ cửa bể rất

là xinh đẹp” [5]

Địa danh Bà Rịa được Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí,

cuốn địa chí đầu tiên của triều Nguyễn viết về Bà Rịa: “Bà Rịa là ở đầu trấn Biên

Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: “Cơm Nai –

R ịa, cá Rí – Rang là lấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, M ỹ Tho, Long Hồ cũng ở vào trong đó (…) Đất này dựa lưng vào núi, quay m ặt ra biển, rừng rậm tre cao, trên có tuần – trường để chiêu dụ bọn man – m ạch đến đổi chác, dưới có quan – tân để xem xét ghe thuyền lúc đi ra biển Đường trạm thủy lục giao thông, thổ sản núi rừng cung cấp Chế ngự Đê – man phòng ng ự đạo tặc, có huyện, nha, đạo, thủ chia giữ nhiệm vụ, vẫn là địa hạt xung

y ếu thứ nhất” [9, tr 35]

Đại Nam nhất thống chí có chép rõ chuyện việc nhà Nguyễn đã đầu tư vào

việc khai phá vùng đất Bà Rịa: “Sông Xích Lam: ở cách huyện Phước An 31 dặm

về phía đông… Ở bờ phía Đông trước kia úng thủy, không tiện cho việc nông, năm Minh Mệnh thứ 19 mới khơi cho nước úng theo sông mà tiêu, khẩn được hơn 300

mẫu ruộng hoang làm ruộng công cho các xã thôn phụ cận” [5, tập V, tr 60]

Sông Xích Lam được mô tả trong Đại Nam nhất thống chí là sông Ray mà hạ

lưu phía đông của nó bao gồm các xã vùng Long Điền, Đất Đỏ Khu vực này xưa nhiều bàu trũng với câu ca trao duyên “Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thanh hết

nước chúng mình hết thương” Trong mục Từ Miếu (đền miếu), Đại Nam nhất

Trang 21

th ống chí còn cho biết rõ: “ông Hộ phủ Phạm Duy Hinh là người chỉ huy đào sông

Xích Lam, khơi úng thủy”

Đại Nam nhất thống chí còn ghi một số địa danh có tên Bà Rịa là: chợ Bà

Rịa, núi Bà Rịa (gần thôn Hắt Lăng, huyện Long Điền – Đất Đỏ ngày nay), một đồn binh ở làng Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc hiện nay) trước đây cũng gọi là đồn Bà

Rịa Ngày nay, Bà Rịa còn là tên của một ấp thuộc xã Phước Tân, huyện Xuyên

Mộc

Nhân dân ở địa phương còn có một cách giải thích khác về nguồn gốc địa danh Bà Rịa, dựa theo truyền thuyết về một người phụ nữ tên là Rịa, quê ở miền Trung đã có công khai phá vùng đất Mỹ Khê, Phước Liễu (nay thuộc xã Tam An, huyện Long Đất) trong khoảng thời gian từ năm 1789 đến 1803 Tên gọi một vùng đất mà người Việt đã tới lập nghiệp từ khi xuất hiện truyền thuyết ít nhất trên một

thế kỉ trùng tên với một đấng tiên hiền có công khai phá ở một làng thuộc vùng đất

Mô Xoài có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử

Sau Hòa ước Nhâm Tuất (5 – 6 – 1862), thực dân Pháp từng bước thiết lập

nền thống trị của họ ở ba tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường Tỉnh Biên Hòa, từ năm 1864 được chia thành 5 tỉnh hạt (sở Tham biện) là: Thủ Dầu Một,

Thủ Đức, Biên Hòa, Long Thành và Bà Rịa Tỉnh hạt Bà Rịa thâu tóm cả phần đất đai huyện Phước An đời Minh Mạng

Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1871 của Phó Đô đốc Dupré đã sắp xếp 25

tỉnh hạt trong toàn cõi lục tỉnh lại thành 18 tỉnh hạt, trong đó, tỉnh hạt Bà Rịa bao

gồm cả hai tổng Thành Tuy Thượng và Thành Tuy Hạ Từ khi Bà Rịa trở thành tên

gọi một tỉnh hạt, người ta mới chú ý tìm cách giải thích địa danh này và sự tích Bà

Rịa cũng khởi đầu từ đó Vũng Tàu thuở đó có ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhì,

Thắng Tam thuộc tỉnh hạt Bà Rịa, đến năm 1895, mới trở thành tỉnh hạt Vũng Tàu

Từ năm 1956, cùng với việc thành lập tỉnh Phước Tuy gồm đất Bà Rịa, Vũng Tàu và quần đảo Hoàng Sa, người ta không dùng địa danh Bà Rịa chỉ một tỉnh nữa Tháng 8 năm 1991, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập với cách gọi bằng tên ghép của hai địa danh đã từng ghi trong cổ sử

Trang 22

1.2 S ự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 1.2.1 Th ực dân Pháp lập các đồn điền cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Năm 1858, thực dân Pháp do Trung tướng Rigault de Genoiuilly chỉ huy nổ súng vào Cửa Hàn – Đà Nẵng, mở đầu cuộc tiến công xâm lược nước ta Đà Nẵng được xem là cửa ngõ quan trọng đánh vào kinh đô Huế Nhưng chiến lũy Liên Trì, chiến thuật vườn không nhà trống và khí hậu khắc nghiệt đã khiến Rigault de Genouilly thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh

Cuối cùng, Rigault de Genouilly đã quyết định đánh chiếm Nam Kỳ khi yêu

cầu tăng viện của y không được Napoléon III đáp ứng, vì triều đình Pháp đang mở

cuộc chiến chống Áo Nam Kỳ trong mắt người Pháp là nơi có nguồn dự trữ lương

thực của cả nước Đánh chiếm Nam Kỳ vào thời điểm đó còn cắt đứt ngay được ý

đồ xuất hiện của người Anh trong vùng hoạt động của Pháp

Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Rigault de Genouilly đã đưa một phần lớn lực lượng vào đánh chiếm Nam Kỳ Sau 8 ngày chuyển quân, tối ngày 9 tháng 2 năm

1859 (mồng 7 Tết Kỉ Mùi), 12 chiếc thuyền do đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy

tập kết ở vịnh hàng Dừa (Bãi Trước) Vũng Tàu

Suốt ngày 10 tháng 2 năm 1859, pháo đài Phước Thắng phòng thủ bờ biển bên sườn Núi Lớn (khu vực Bạch Dinh ngày nay) đã nã đạn vào đoàn chiến hạm

của liên quân thực dân Pháp – Tây Ban Nha, mở đầu cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ Thống chế Trần Đồng, tổng chỉ huy lực lượng thủy, lục quân nhà Nguyễn đã huy động toàn bộ lực lượng, anh dũng và kiên quyết đánh địch Buổi chiều, thống chế Trần Đồng bị tử trận Cuộc đấu pháo giữa pháo đài Vũng Tàu và liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã diễn ra quyết liệt, làm cho các chiến hạm Pháp

suốt một ngày chỉ đi được 2km, tới cửa Cần Giờ Để đến được thành Gia Định, thực dân Pháp phải mất 7 ngày vì sự giáng trả của quân, dân các địa phương

Ngày 7 tháng 2 năm 1862, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm tỉnh lỵ Bà Rịa Tháng 6 năm 1862, thực dân Pháp chiếm trọn ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đánh dấu

một thời kì bị ngoại bang đô hộ, bóc lột và cũng là thời kì đấu tranh quật khởi của nhân dân Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và cả nước nói chung

Trang 23

Trong con mắt của kẻ thực dân, Bà Rịa – Vũng Tàu không những là vị trí chiến lược về khai thác nguồn lợi mà còn có ý nghĩa đặc biệt về quân sự Bởi vậy, sau khi “ổn định được tình hình”, thực dân Pháp đã chú tâm xây dựng ở đây nhiều

cơ sở hậu cần, cứ điểm quân sự và hệ thống phòng tuyến kiên cố nhằm bảo vệ cửa ngõ Nam bộ nói chung, cũng như hậu cứ an toàn cho sự nghỉ ngơi, dưỡng bệnh và thông tin liên lạc của chúng ở Vũng Tàu

Ngay khi đặt chân lên đất Nam Kỳ, thực dân Pháp đã nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, xám của miền Đông Nam Bộ rất thích

hợp với cây cao su, nên đã có ý định xây dựng ngành khai thác cao su ở đây từ rất

sớm Năm 1877, một người Pháp tên là Pi – e (Pierre) mang hạt giống cây cao su từ Xanh – ga – po (Singapore) về, lập vườn ươm thử ở vườn Bách thảo Sài Gòn, nhưng không cây nào sống được Đến năm 1879, toàn quyền Pôn Đu – me (Paul Doumer) cho lập hai trung tâm nghiên cứu thí nghiệm cây cao su: một, ở vườn thí nghiệm Ông Yêm – Thủ Dầu Một do một dược sĩ người Pháp tên là Ra – un (Raul)

phụ trách và một, ở Suối Dầu (Nha Trang) do bác sĩ Yéc – Xanh (Yersin) trông nom Năm 1897, Ra – un lại đem hạt giống cao su và cây cao su con từ đảo Gia – va (Java) về trồng, và cùng thời gian đó, Yéc – Xanh cũng nhân được cây giống Cả hai trại thí nghiệm này đều thành công

Sau khi trồng thử nghiệm thành công, bọn tư sản Pháp đã hùn vốn thành lập

một số công ty để chuẩn bị khai thác đồn điền cao su Các công ty gồm có:

- Công ty cao su Đồng Nai tức Công ty kỹ nghệ và rừng Biên Hòa trước kia,

được thành lập vào năm 1908, trụ sở đóng tại Pa – ri Đối tượng của công ty này là khai thác đồn điền cao su, cây có dầu và nứa ở Đông Dương Số vốn ban đầu là

500, 000 phơ răng, gồm 5 nghìn cổ phần, mỗi cổ phần 100 phơ răng Năm 1911, số

vốn tăng lên thành 2 triệu phơ răng, năm 1919: 6 triệu phơ răng [19, tr 15] Trong các năm 1914 – 1918, công ty tập trung khai phá rừng vùng Trảng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng và vùng sau này gọi là Chiến khu Đ

- Công ty đồn điền Đất Đỏ (Plantations des terres rouges) thành lập năm

1910, trụ sở đóng tại Sài Gòn Chủ công ty là một viên toàn quyền Pháp làm việc ở

Trang 24

Hà Nội Đối tượng của nó là khai thác các đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa Số vốn ban đầu là 2,300,000 phơ răng, gồm 23,000 cổ phần, mỗi cổ

phần 100 phơ răng Năm 1923, số vốn tăng lên tới 36 triệu phơ răng Năm 1925: 46 triệu, năm 1935: 110 triệu, công ty này có phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu cây cao su đặt tại bàu Ông Yêm, huyện Tân Uyên, tỉnh Thủ Dầu Một cũ (nay là tỉnh Bình Dương) [19, tr 15]

- Công ty cao su Vi ễn Đông (Société de Caoutchoues d’Extrêne – Orient),

tên thường gọi là Công ty CEXO, thành lập năm 1910, trụ sở đặt tại Pa – ri Chủ là

Đờ La – lăng người Pháp Đối tượng của nó là khẩn hoang và canh tác đất đai ở

Viễn Đông, đặc biệt là ở Đông Dương và chủ yếu trồng cây cao su Số vốn ban đầu

là 1,500,000 phơ răng, gồm 15 nghìn cổ phần, mỗi cổ phần 100 phơ răng Sau đó

vốn ngày một tăng lên: 8 – 1903: 3 triệu phơ răng, 1912: 4 triệu 5 trăm nghìn phơ răng, 1917: 6 triệu phơ răng, 1920: 8 triệu, 1934: 28 triệu [64; tr 6,29,47]

- Công ty đồn điền Xuân Lộc (Hàng Gòn): thành lập năm 1911 đóng trụ sở

tại Sài Gòn Chủ công ty là một người Pháp tên là Đờ Ba – bê (De Babet) Đối tượng của công ty là trồng cây cao su và các loại cây công nghiệp khác Số vốn ban đầu là $360,000, gồm 7,200 cổ phần, mỗi cổ phần $50 Năm 1914, tăng them 800

cổ phần nữa, nâng số vốn lên thành $400,000 [64; tr 6,29,47]

- Công ty cao su Tây Ninh (Société des Hévéas de Tây Ninh): thành lập năm 1913, có trụ sở ở Sài Gòn Đối tượng hoạt động của công ty này là kinh doanh đồn điền cao su ở Tây Ninh Số vốn ban đầu là 3,800,000 phơ răng, gồm 38 nghìn

cổ phần, mỗi cổ phần 100 phơ răng Năm 1931, số vốn tăng lên thành 6 triệu phơ răng Tháng 9 – 1937, tăng lên 8,750, 000 phơ răng [64; tr 6,29,47]

- Công ty cao su Đông Dương (Société Indochinoise des Plantations d’ Hév

as, gọi tắt là S.I.P.H) được thành lập năm 1906 [64; tr 6,29,47]

- Công ty các đồn điền cao su Mít – sơ – lanh (Société des Plantations et

pneumatiques Michelin au Việt Nam) ra đời năm 1917, trụ sở chính tại Dầu Tiếng Đối tượng hoạt động của công ty này là kinh doanh đồn điền cao su ở vùng đất xám

ở miền Đông Nam Bộ nằm sát rìa vùng đồng bằng [64; tr 6,29,47]

Trang 25

Những công ty vừa kể trên tuy số vốn ngày một tăng, nhưng hoạt động của Pháp trong thời kì trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất mới chỉ giới hạn ở việc

trồng thử chứ chưa đi vào khai thác qui mô lớn

Vào thời kì trước cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cây cao su mới chỉ được trồng có tính chất thử nghiệm hoặc chỉ trồng có tính chất phụ ở một vài đồn điền bên cạnh cây lúa là chính và các loại cây công nghiệp khác Tính đến năm

1918, tổng số diện tích đất đai bị những tên thực dân người Pháp chiếm làm đồn điền riêng ở Nam Kì là 184,700 hécta, nhưng mới có chừng 7,000 hécta được dùng vào việc trồng cao su, trong đó hai tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa chiếm khoảng 500 hecta[60, tr 25]

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do nhu cầu cao su ngày càng cao của nền công nghiệp Pháp nên giới tư bản Pháp ồ ạt bỏ vốn đầu tư vào ngành khai thác cao

su ở Việt Nam Chỉ trong vòng 3 năm từ 1918 đến 1921 diện tích cao su tăng từ 7,000 hecta lên 29,000 hecta (chủ yếu ở 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một chiếm hơn 20,000 hecta) với số vốn đầu tư khoảng 40 triệu Fr Số lượng mủ cao su khai thác được cũng tăng từ 1000 tấn năm 1918 lên 10,309 tấn năm 1929 [60, tr 25]

Ở Biên Hòa và Bà Rịa, hầu hết các đồn điền đều mở rộng diện tích cây trồng,

lập thêm các phân sở mới Đồn điền Bình Ba lập thêm phân sở Xà Bang, Sông Ray, Ngãi Giao Đồn điền Cuộc – tơ – nay mở thêm các phân sở Nha Trào, Láng Lớn

Diện tích trồng cao su ở Bà Rịa đến năm 1930 lên đến 6,669 hecta trong tổng số 84,100 hecta ở miền Nam.[10, tr 153]

Ngoài sự đầu tư thiết bị máy móc các chủ tư bản còn quan tâm đổi mới kĩ thuật gieo trồng Trong thời gian này số vườn cây lai ghép được trồng ở nhiều đồn điền cao su

Bên cạnh việc trồng mơi các lô cao su ở các đồn điền, các công ty cao su đã

tiến hành xây dựng 3 nhà máy chế biến mủ ở Dầu Giây, An Lộc và Long Thành với công suất hàng ngàn tấn mủ trong 1 năm

Năm 1935 nhiều đồn điền của các Công ty nhỏ ở Biên Hòa và Bà Rịa sáp

nhập vào Công ty cao su Đông Dương Công ty này trở thành một Công ty cao su

Trang 26

lớn nhất trên địa bàn hai tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa với 6 đồn điền Đó là:

- Đồn điền SIHP (còn gọi là Sở Bà Đầm) thuộc quận Long Thành tỉnh Biên Hòa

- Các đồn điền Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc thuộc quận Xuân Lộc tỉnh Biên Hòa

- Đồn điền Gallia (đồn điền Bình Ba) và đồn điền Cam Tiêm (Ông Quế)

tỉnh Bà Rịa

- Trụ sở của Công ty (cơ sở 2) được xây dựng ở khu vực Suối Tre (An

Lộc) thuộc quận Xuân Lộc tỉnh Biên Hòa

Trong các năm chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) diện tích trồng cao su ở miền Đông Nam bộ vẫn tiếp tục phát triển Từ năm 1939 đến 1945 các Công ty tư bản Pháp trồng mới thêm được 17,470 hecta trong đó các đồn điền hai

tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa trồng được 3,500 hecta [11]

Sự phát triển của ngành kinh tế cao su ở Biên Hòa, Bà Rịa đã có mối quan hệ

gắn bó với khu vực kinh tế trung tâm Sài Gòn Chợ Lớn Một số thiết bị máy móc, công cụ phục vụ cho việc trồng, khai thác, chế biến mủ cao su ở Sài Gòn bước đầu được đưa vào sử dụng nhưng còn ở mức độ thấp Đặc biệt hàng cao su xuất cảng qua thương cảng Sài Gòn ngày càng lớn và diện tích trồng cao su ở Biên Hòa, Bà

Rịa cũng theo đó tăng lên nhanh chóng

Trước năm 1945, gần như toàn bộ mủ cao su đều xuất khẩu dưới dạng sơ

chế Ở miền Nam chỉ có 2 công ty kinh doanh công nghiệp cao su là công ty chế

biến cao su và tổng trạm buôn bán cao su Liandina với 3 nhà máy chế biến cao su ở Sài Gòn Sản phẩm chính của các nhà máy này là xăm lốp xe đạp, xích lô Nhưng

nó chỉ đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu của thị trường nội địa Năm 1939 ba nhà máy cung cấp 153,650 chiếc lốp xe đạp trong khi đó phải nhập khẩu thêm 630,000 chiếc Sự phát triển của ngành cao su đã góp phần làm cho cán cân ngoại thương ở

Việt Nam có sự thặng dư lớn Lượng cao su xuất khẩu năm 1939 tăng gấp 7 lần năm 1928, giá trị xuất khẩu của ngành cao su năm 1929 là 11 triệu Fr đến năm 1939 tăng lên 96 triệu Fr [62]

Trang 27

Đây là một động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa trong những năm trước cách mạng tháng Tám 1945

1.2.2 S ự hình thành đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cao su cũng bắt đầu xuất hiện Nhưng trong quãng thời gian trước chiến tranh thế giới lần

thứ nhất, số lượng công nhân cao su chuyên nghiệp chưa nhiều Lý do là lúc bấy giờ công việc của các công ty chủ yếu là phá rừng dọn đất để lập đồn điền, việc trồng cao su chỉ mới bắt đầu và còn mang tính chất thử nghiệm Do đó, việc làm chủ yếu

là chặt cây nên đại bộ phận nhân công lúc này là những nhân công được thuê mướn

tạm thời, tuyển dụng từ những nông dân người địa phương hoặc người dân tộc

Những nhân công này, sau khi hoàn tất hợp đồng, lại trở về với ruộng đồng, nương

rẫy

Đất Bà Rịa – Vũng Tàu vốn thích hợp cho các loại cây công nghiệp, nhất là cao su, nguồn nguyên liệu cần thiết cho tư bản Pháp Để có đất lập đồn điền, thực dân Pháp đã cướp hàng ngàn hecta đất của nông dân và đồng bào dân tộc vùng Đông và Tây lộ 2, vùng phía Bắc lộ 23 để lập đồn điền, đẩy nông dân và đồng bào dân tộc vào tình trạng bần cùng Một bộ phận nông dân còn lại, do nạn mất mùa thường xuyên xảy ra, mặt khác, lại phải gánh chịu bao thứ sưu cao thuế nặng mà

thực dân Pháp và chính quyền phong kiến áp đặt, vì vậy cuộc sống rất cơ cực, lầm than

Năm 1908, thực dân Pháp lập đồn điền cao su đầu tiên trên địa bàn Bà Rịa

tại Bình Ba, mang tên Gallia Theo tài liệu của Công ty cao su Bà Rịa, tính đến năm

1930, đồn điền Bình Ba có 1598 công nhân Năm 1935, đồn điền Bình Ba phát triển thêm các phân xưởng Xà Bang, Xuân Sơn, Sông Cầu Số lượng công nhân cao su tăng nhanh, từ 2 nguồn chính: đồng bào trong vùng bị cướp đất, bần cùng hóa và nguồn phu mộ từ các tỉnh Bắc Kỳ Tình cảnh cùng cực, lầm than của công nhân cao

su đã được phản ánh sống động trong những câu thơ đẫm lệ của Tố Hữu:

“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ

Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu

Trang 28

Bán than đổi mấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”

Trong những năm 1918 – 1935, bọn chủ Pháp đã mộ phu, chặt hạ hàng ngàn

rừng già để mở rộng đồn điền, trồng cao su Công cụ thô sơ, thiếu kinh nghiệm, nên

số người bị cây đổ đè chết hoặc gãy chân, gãy tay rất nhiều Ngày nào cũng có

những tốp xe bò chở người bị thương từ rừng về sở và chở người chết ra chôn ở nghĩa địa Láng Lớn Bọn chủ Pháp bóc lột thậm tệ Công nhân cạo mủ chỉ được hưởng 30 xu/ ngày (sau tăng 35 xu), trong khi chúng ký giao kèo là 50 xu/ ngày

Những người làm việc tạp vụ chỉ được nhận 20xu/ ngày, đó là chưa kể cúp, phạt và

bị hành hạ đủ điều Nhiều người bị đánh chết chỉ vì bọn chủ thấy họ làm chưa đổ

mồ hôi

Khổ đau chồng chất, mang nặng mối thù giai cấp và dân tộc, công nhân cao

su đã sớm giác ngộ cách mạng, sát cánh cùng nông dân và nhân dân lao động chống

thực dân Pháp Từ khi Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh ra đời tại Phước Hải (1934), cùng với Long Điền, Đất Đỏ, vùng công nhân cao su đã trở thành địa bàn,

hoạt động tin cậy của Đảng, góp phần đắc lực vào việc phát triển phong trào cách

mạng ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhất là từ sau chiến tranh

thế giới thứ nhất đã làm biến đổi sâu sắc cơ cấu dân cư và phân hóa xã hội ở Bà Rịa – Vũng Tàu Đội ngũ công nhân cao su hình thành từ 1908 đã phát triển lên hàng ngàn người vào năm 1930 Vừa phải chịu ách áp bức nô dịch dân tộc, vừa chịu sự bóc lột và áp bức trực tiếp của bọn chủ tư bản Pháp, công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu chất chứa tinh thần phản kháng và sớm giác ngộ cách mạng, tích cực đón

Trang 29

điền cao su lên tới 71.740 người (Bắc Kì: 6.440 người, Trung Kì: 16.070 người, Nam Kì: 49.230 người) [10, tr 26]

Nguồn gốc của công nhân đồn điền cao su có sự thay đổi cùng với sự tiến triển việc khai thác cao su Lúc đầu, do quy mô khai thác còn nhỏ bé, các chủ đồn điền tuyển người địa phương – nông dân người Kinh và người dân tộc vào làm Sau

đó, do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc tư bản Pháp phải ra miền Bắc, miền Trung tuyển mộ mà chúng gọi là “mộ phu” hay “chiêu mộ nhân công giao kèo” Nhưng trước và sau năm 1929, đối tượng tuyển mộ của chúng ở miền Bắc, miền Trung cũng có sự khác nhau Trước năm 1929, chủ yếu là mộ những thanh niên trai trẻ chưa lập gia đình, sau năm 1929 chủ yếu là mộ các hộ gia đình Sự thay đổi này bắt nguồn từ ý đồ đảm bảo lâu dài nguồn nhân lực cho các đồn điền, đồng thời hạn chế đấu tranh

chống đối của công nhân Bằng những thủ đoạn dụ dỗ và cưỡng ép, trong vòng 10 năm từ 1919 đến 1929, thực dân Pháp đã mộ được 87.371 người ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì đưa vào Nam vào làm trong các đồn điền

Các đồn điền Bình Ba, Cẩm Mỹ, Cam Tiêm – lực lượng lao động ban đầu các chủ đồn điền sử dụng chủ yếu là dân cư tại chỗ và thuê mướn một số công nhân

ở các địa phương lân cận Tiếp đó có nhu cầu lao động ngày một tăng, diện tích cao

su được trồng cần có một số lao động định hình để chăm sóc vườn cây và bắt đầu khai thác sơ chế mủ, cho nên các chủ đồn điền phải tiến hành chiêu mộ công nhân

từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc đến làm việc Tại các đồn điền này từ năm 1910 đến 1918 cũng có hàng trăm người từ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên… được chiêu mộ vào làm công nhân cao su

Số lao động ban đầu tại các đồn điền cao su ở Biên Hòa và Bà Rịa là những người nông dân cùng khổ ở địa phương Số đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ khoảng 1/3 Phần lớn trong số này là dân cư trong vùng bị chủ đồn điền bao chiếm đất đai Họ buộc phải làm “tá điền” cho chủ tư bản Một số khác từ các địa phương lân cận đến làm thuê cho chủ sở trong thời gian rảnh rỗi hoặc những người lao động

tự do bên ngoài xã hội đăng kí vào làm việc ở các đồn điền cao su

Trang 30

Theo báo cáo của Sở Tổng thanh tra lao động Đông Dương thì số nhân công

Bắc Kì được đưa vào làm hàng năm trong các đồn điền ở Nam Kì, Nam Trung Kì

và Cam – pu – chia trong thời gian từ năm 1919 đến năm 1930 như sau:

B ảng thống kê số nhân công Bắc kì ở các đồn điền Nam Kì, Nam Trung Kì

và Cam – pu – chia t ừ năm 1919 – 1930:

mẽ việc mộ phu đồn điền cao su do các tổ chức cách mạng trong nước phát động,

cộng thêm vào đó là việc xảy ra vụ ám sát Ba – danh (Bazin) – một tên cai mộ gian

ác – gây xôn xao dư luận trong nước, khiến số người ứng mộ giảm hẳn Tổng số nhân công Bắc Kì được đưa vào Nam từ năm 1923 đến năm 1929 là 78.226 người

Trong việc mộ phu cao su ở miền Bắc, miền Trung, bọn cầm quyền Pháp

thực hiện chính sách khoanh vùng mộ cho các công ty để tránh sự tranh chấp

Chẳng hạn công ty S.I.P.H được qui định mộ phu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng

Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam – Đà Nẵng Công ty Mít – sơ – lanh thì được Pháp đặt

“Phòng mộ phu” ở Hà Nội và Bắc Giang Còn “Phòng mộ phu” của công ty CEXO thì đặt ở các tỉnh Thái Bình, Lạng Sơn và Hải Phòng [18, tr 28]

Trang 31

Việc mộ phu đi các đồn điền cao su lúc bấy giờ đã trở thành một tai họa đối

với người dân quê nghèo khổ, một tội ác xấu xa mà ngay báo chí công khai hồi đó

cũng phải lên tiếng phẫn nộ Trên tờ La volonté indochinoise (Ý chí Đông Dương),

số ra ngày 10 – 8 – 1927, Đơ Mông – pơ – da (De Monpezat) đã viết như sau về tình trạng mộ phu: “Đó là sự tái bản trong giữa thế kỉ XX này của cái chợ buôn nô

l ệ” Còn nhà báo Pháp Lu – i Ru – bô (Louis Roubaud) thì viết như sau: “Dù danh

t ừ này chẳng làm cho người ta bằng lòng nhưng người ta cũng vẫn phải viết: người công nhân An Nam đã kí một hợp đồng nô lệ trong vòng ba năm” [63, tr 182-183]

Những người dân nghèo khổ và chất phác là những con mối ngon béo bở cho

bọn mộ phu tang tận lương tâm ở các thành phố và thị trấn Bọn chúng dùng mọi

thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc, lường gạt đến cưỡng ép để có nhiều phu cho chủ đồn điền Chẳng thế mà lúc bấy giờ người ta đã dùng danh từ “Négrier” để chỉ bọn buôn người nô lệ da đen từ châu Phi sang châu Mỹ Nhà báo Pháp Lu – i Ru – bô (Louis Roubaud) có kể lại vài thủ đoạn lừa bịp thông thường của bọn mộ phu: “Cứ mỗi đầu

người phu mộ được thì kẻ mộ phu được từ 10 đồng tới 12 đồng Đây là một nghề khá béo b ở và dễ kiếm tiền trong vòng mấy năm nay Kẻ mộ phu đến những vùng châu th ổ Bắc Kì, đến tỉnh Nam Định dân cư đông đúc Người ta đổ người tại các

b ến tàu, tại các chợ búa và trên đường cái Để đánh lừa họ, kẻ mộ phu đã tha hồ

u ốn lưỡi hứa hẹn đủ điều không có trong bản giao kèo, nào là mỗi ngày làm được

80 xu… và bát g ạo trắng, một lạng cá, có thịt, có nước mắm, nào là có chỗ ở đàng hoàng; ốm đau được thuốc men, ngày làm 6 giờ” [19, tr 15]

Chỉ trong vòng mấy tuần lễ là người ta (chỉ bọn mộ phu) kiếm được món tiền

từ 300 đồng đến 400 đồng bạc Người nào không biết kí tên thì điểm chỉ trên giao kèo.[63, tr182-183]

Nhưng những thủ đoạn mà Lu – i Ru – bô vừa kể chỉ là những thủ đoạn lừa

bịp lúc ban đầu, về sau do nhiều người nhận ra điều này nên bọn chúng đã xoay ra dùng những thủ đoạn vừa tinh vi, vừa trắng trợn so với trước Trong tác phẩm Phú

ri ềng đỏ, Trần Tử Bình – một phu công tra thuộc lớp đầu tiên, sau trở thành một

nhà hoạt động cách mạng – đã kể lại như sau: “Có người còn bị lừa kí hợp đồng

Trang 32

b ằng cách thế này: Chúng bảo phải chụp hình để trình nhà nước Có thế sau này hễ

x ảy ra chuyện gì, chính phủ mới bênh vực cho Thế rồi chúng đưa người đi phu

ch ụp ảnh Chụp nghiêng, chụp thẳng đủ kiểu Sau đó chúng đưa giấy bảo người ấy

l ại chính là một tờ hợp đồng in sẵn Cái người bị lừa ấy không bao giờ biết là mình

đã điểm chỉ vào giấy bán đứt tính mạng và tự do của mình cho chủ tư bản”.[3]

Trong việc mộ phu ở miền Bắc và miền Trung, các chủ đồn điền dựa vào đám kì hào, hương lý ở địa phương Ngoài ra, bọn chúng còn dùng các cố đạo làm cái loa tuyên truyền cho việc chiêu mộ Do chế độ thuê mướn người mộ phu của

bọn chủ đồn điền khá hậu hĩnh nên đám hương lý, kì hào, cố đạo ở các địa phương thi nhau giở đủ mọi thủ đoạn, mánh khóe dụ dỗ, lừa bịp để mộ được nhiều người,

nhờ đó nhiều tên trở nên giàu có

Với những thủ đoạn dụ dỗ và cưỡng ép người như vậy, nên trong vòng 10 năm từ 1919 đến năm 1929, chúng đã mộ được 87.371 người ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì để đưa vào Nam Kì và 14.654 người để đưa sang Tân Đảo và Tân Thế

Giới

Đối với người dân phu được tuyển mộ, các chủ đồn điền cao su thực hiện

một sự quản lý chặt chẽ ngay sau khi họ kí tên vào giấy giao kèo (contract) Sau khi làm xong các thủ tục, họ được tập trung lại và đưa đi dưới sự điều khiển của tên cai mộ Phương tiện đi lúc bấy giờ chủ yếu bằng tàu hỏa Những chuyến tàu chở phu mộ đều do các công ty cao su thuê bao của ngành đường sắt Vé tàu là do bọn

chủ các đồn điền, chủ các công ty lo liệu

Dân phu chỉ mất tiền ăn và nước uống Thông thường mỗi chuyến tàu chở hàng ngàn người Trong mỗi toa, người ngồi chật như nêm cối Tàu vào đến Đà

Nẵng, các dân phu thường phải chuyển sang ô tô đi vào Nha Trang, rồi từ Nha Trang lại đi tàu hỏa đến các ga gần đồn điền Ngoài việc đi bằng phương tiện tàu

hỏa và ô tô, một số dân phu ở các tỉnh miền Bắc còn đi bằng tàu thủy từ Hải Phòng vào Sài Gòn

Khi xuống ga hoặc lên bến cảng, cai mộ điểm danh rồi dẫn phu vào các đồn điền cao su mà chúng đã sắp đặt từ trước Đến đồn điền, cai mộ giao dân phu cho

Trang 33

chủ Chủ đồn điền phái bọn sếp ra nhận người rồi phân bố họ về các làng Chúng bố trí làng theo địa phương quê quán của người dân phu Ví dụ người của tỉnh Nam Định được xếp ở một làng riêng Đối với số người thuộc những địa phương có ít người, chúng ghép chung họ lại thành một làng gọi là làng “Tứ xứ”

Để duy trì số nhân công cần thiết đồng thời để bóc lột tối đa sức lao động của người dân phu, giới chủ đồn điền đã lập ra một hệ thống kềm kẹp hết sức chặt chẽ

và khắc nghiệt Đứng đầu một đồn điền là chủ đồn điền (có thể bao gồm chủ nhất,

chủ nhì) Chủ đồn điền có bộ phận giúp việc chuyên môn Dưới chủ đồn điền là các chánh giám thị (xu – vây – dăng sếp) Các chánh giám thị điều khiển các giám thị viên Các giám thị viên chỉ huy các cai Các cai theo dõi giám sát các kíp sản xuất

Mỗi kíp sản xuất có khoảng 10 công nhân, do một cai trông coi Mỗi tên xu – vây – dăng coi 3 kíp sản xuất Ba kíp sản xuất được phiên chế thành một đội sản

xuất Mỗi tên xu – vây – dăng sếp chỉ huy ba tên xu – vây – dăng Trong một đồn điền có nhiều xu – vây – dăng sếp Những tên này chịu mọi sự điều khiển của chủ

nhất

Trong hệ thống kềm kẹp này, bọn xu – vây – dăng đều là những tên đao phủ,

những con quỷ sứ hung ác ghê gớm của “địa ngục trần gian” Bọn xu – vây – dăng

hầu hết đều được tuyển lựa từ quân đội Pháp và từ đám ác ôn người Việt Nam Cai thì hầu hết là người Việt Nam Tùy thuộc vào bộ máy kềm kẹp nhưng cai thì cấp

thấp nhất, có mức sống không hơn gì công nhân Lương hàng tháng của cai không hơn lương của công nhân bao nhiêu Về quyền lợi thì ngoài gian nhà lán ra, cai không được hưởng quyền lợi nào hơn công nhân Trong khi đó, bọn xu – vây – dăng lại được hưởng rất nhiều quyền lợi Mỗi tên xu được cấp từ 2 đến 3 gian nhà ngói thoáng mát và một ga – ra ô tô Trong nhà được trang bị từ 3 đến 4 giường lò

xo trải nệm, một bộ sa – long cùng rất nhiều thứ khác Mỗi nhà đều có kẻ hầu người

hạ Do cách đối xử quá chênh lệch giữa xu và cai, nên trong hàng ngũ cai có sự phân hóa rõ rệt

Một số cai muốn ngoi lên xu – vây – dăng để được hưởng quyền lợi cao hơn, nên đối với công nhân, chúng thẳng tay đàn áp, còn đối với bọn chủ, chúng sẵn sàng

Trang 34

quỳ gối và làm bất cứ việc gì dù là đê tiện nhất Số cai còn lại thường đứng về phía công nhân trong các cuộc đấu tranh cho quyền lợi dân sinh hàng ngày

Những người đi phu cao su đầu tiên đến Xà Bang (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

ngỡ ngàng trước cảnh rừng thiêng nước độc Rừng bạt ngàn trùng điệp xóa ngay

viễn cảnh thiên đàng mà bọn mộ phu vẽ ra khi đi tuyển phu vào Nam Hành trang

mà chủ trang bị cho phu khi đã đến Xà Bang chỉ có các dụng cụ phát hoang (dao,

rựa, cuốc…) Nhà ở thì dựng tạm bằng phên tre, 4 người một căn 20 mét vuông Sau này, dân vào đợt 1930, cứ hai gia đình được bố trí trong một căn nhà là do công nhân đánh tranh, chặt cây lợp nên

Việc đầu tiên khi đặt chân đến các đồn điền cao su là mỗi công nhân được

chủ thay tên gọi bằng một con số Kiếp sống và lao động của công nhân từ đây gắn

liền với con số “định mệnh” cho đến lúc họ vĩnh viễn nằm xuống

Và đây: “thiên đàng” cao su hiển hiện rõ ràng qua công việc hàng ngày của người phu Sáng 4 giờ, sở gõ kẻng, toàn bộ công nhân phải ra sân điểm số Ai đi

chậm thì roi của cai, xu đến ngay Ngồi không ngay hàng ăn đòn, xu gọi số mà không nhớ không kịp trả lời cũng bị đánh Khi cây cao su đến độ tuổi khai thác, công nhân ra sân điểm, thùng, dao cạo không rửa sạch là roi đòn Những ngày đầu tiên cắt tranh, lợp nhà, công nhân được giao khoán 50 bó một tuần, ai không đạt thì

bị trừ vào lương Khi đi vào khai thác mủ, mỗi công nhân được khoán một phần 200 cây Nhưng công việc làm thì khoán mà lương thì hưởng theo công nhật, mỗi ngày

35 xu và 700 gram gạo, phụ nữ và lao động dưới 18 tuổi, lương 25 xu mỗi ngày

Điểm danh xong công nhân ra hiện trường làm việc Ban đầu bọn chủ cho người đưa cơm ra các lô cho công nhân, sau đó thì phát gạo để công nhân tự nấu và

giỡ cơm theo ăn trưa Như vậy thời gian lao động của công nhân từ 4 giờ 30 sáng đến 5 – 6 giờ chiều Về đến nhà trời đã tối mịt công nhân mới nổi lửa nấu cơm Không chỉ bóc lột phu qua thời gian lao động, bọn chủ sở còn đặt ra những qui định

ngặt nghèo khác để bóc lột cao hơn Công nhân đi khai bệnh, dù được phép nghỉ cũng phải bị trừ lương ngày đó Chế độ lao động, xã hội của công nhân cao su là

chế độ “tự do” do bọn chủ đặt ra một cách tùy tiện có lợi cho chúng Chế độ ăn của

Trang 35

công nhân thường xuyên là gạo ẩm, khô mục, thiếu hẳn chất xanh của rau, làm việc thì quần quật , đi trời còn mù sương, về không còn thấy đất, lam sơn chướng khí, chưa kể đến đòn roi của cai, xu, sếp… Đây chính là nguyên nhân gây bệnh gây

bệnh phù thũng cho công nhân Thuốc không có, chủ bắt phu phải ăn cám thay Hàng tuần hai lần vào khoảng 9 giờ sang thì khi nghe kẻng, công nhân dù làm việc

ở đâu đều phải tập trung về một điểm để ăn

Người đi phu cạo, trút mủ, làm cỏ đều gắn liền với đòn roi của chủ Tây, cai,

xu luôn sẵn trên tay Công nhân cạo phạm da cây, bọn cai, xu đến đập ngay đầu họ vào thân cây đến bật máu Trút mủ không hết chén, làm đổ mủ xuống đất là tai họa đến ngay Làm cỏ không sạch, bọn cai, xu bắt công nhân nằm xuống dùng răng nhổ cho sạch mới thôi

Khi mộ phu, bọn tư bản hứa phát gạo không mất tiền, nhưng khi vào đồn điền, chúng phát gạo (dù rất xấu) và trừ vào lương của người phu Khi kí giao kèo,

mỗi người phu được phát trước 5 đồng, nhưng mỗi người tới kì lương phải trừ lại 5 hào “Công tra” 3 năm chủ tìm cách kéo dài năm bằng cách vịn cớ ngày chủ nhật, ngày lễ công nhân không đi làm phải làm bù

Đã thế bọn chủ Tây sở còn áp dụng chế độ cúp, phạt ác nghiệt đối với công nhân Cứ phạm một lỗi gì đó, chủ Tây lại cúp một ngày lương Nên có công nhân làm đủ 28 ngày (trừ 4 buổi chiều chủ nhật bằng 2 ngày) nhưng đến tháng chỉ lĩnh

15, 16 ngày lương vì bị cúp Hoặc có khi tùy lỗi nặng nhẹ chủ Tây đánh phạt từ 10 đến 100 roi, hoặc nhịn đói, phơi nắng… Chế độ cúp phạt dã man này là một kiểu bóc lột thời Trung cổ, công nhân thường ví: “Trên đầu người có bao nhiêu tóc thì công nhân cao su có bấy nhiêu tội”

Làm việc cực nhọc, ăn thiếu, đói, thiếu chất lại còn bị đòn roi, sơn lam chướng khí, nước độc, không thuốc men đã hủy diệt sức khỏe công nhân Bệnh sốt rét, phù thũng là hai bệnh phổ biến ở các đồn điền cao su cả nước nói chung và ở Bà

Rịa – Vũng Tàu nói riêng Bao lớp phu công tra đã vĩnh viễn nằm lại đây để làm phân bón cho cây cao su, để túi tiền tư bản ngày càng dày lên Tình cảnh công nhân cao su ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chẳng khác gì đồn điền cao su khác ở miền Đông

Trang 36

Nam Bộ, mà nữ kí giả Violles viết: “Tôi trong thấy người nông dân khốn nạn Bắc

k ỳ khỏe mạnh khi đến đây, nhưng chỉ 3 hay 4 năm thì chỉ còn là thân tàn, ma dại:

S ốt rét, phù thũng Họ cố lê những đôi chân phù thũng, bị đục ruỗng bởi sâu quảng

Ph ần lớn họ sẽ không còn trông thấy bà con thân thuộc, hay nếu họ quay trở về được làng quê thì đây là những xác chết thật sự, không còn sức lực…”[4, tr 217]

Chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam cũng đưa ra những nghị định, qui định chế độ làm việc của công nhân công tra cao su, như nghị định 11 – 11 – 1918

của toàn quyền Đông Dương Nghị định này qui định công nhân giao kèo phải hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh của chủ, không được kéo nài, không được nghỉ phép, không được thôi việc, không được ồn ào gây sự, không được trái ý chủ… Ai vi

phạm sẽ bị phạt tiền, phạt tù, có thể bị phạt 5 năm và 10 năm biệt xứ Trong khi đó giao kèo chỉ có giá trị 3 năm

Người phu ở các đồn điền cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng lao động theo khuôn khổ qui định này Rõ ràng những thể lệ này có tính chất nô dịch và tàn bạo

Nó là ý chí của bọn chủ nô lệ thể hiện ra thành nghị định trong tay bọn thực dân Pháp để cưỡng bức người lao động phải làm việc và đàn áp mọi sự phản kháng

chống lại

Để giam hãm người công nhân suốt đời trong sự lao động cực nhọc làm giàu cho bọn chúng, bọn chủ đồn điền dùng mọi thủ đoạn và biện pháp tàn nhẫn để giữ chân người công nhân lại, kể cả những người đã hết hạn giao kèo Người phu công tra bắt đầu đặt chân vào đồn điền là đã bị đánh đòn phủ đầu để răn đe Ý đồ của chúng là làm cho họ khiếp sợ do đó ngoan ngoãn và răm rắp làm theo mệnh lệnh

của chúng

Đối với công nhân có ý định trốn, chúng càng đánh mạnh, đánh đau Nhiều người đã chết sau những trận đòn dữ dội Để giữ chân công nhân, thủ đoạn của chúng là dùng cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện nhằm móc hết tiền trong túi công nhân, làm cho họ tay trắng suốt đời, không còn tiền để về quê hương xứ sở và buộc phải ở

lại mãi mãi làm nô lệ cho chúng Để thực hiện thủ đoạn này, chúng thường tổ chức

ra những sòng bạc, những tiệc rượu, những cuộc cờ, những “lữ quán bàn đèn” và

Trang 37

chúng sẵn sàng cho công nhân vay trước tiền lương để chi vào những khoản ăn chơi

đó

Ngoài các thủ đoạn trên, bọn chủ đồn điền còn tìm mọi cách gây chia rẽ giữa

những người có đạo và những người không theo đạo trong công nhân, hoặc gây mối

hiềm khích giữa dân phu cũ và dân phu mới Về mặt phiên chế tổ chức, chúng thường đưa dân phu công tra mới ở xen vào xóm dân phu cũ, thực hiện ý đồ nham

hiểm “lính mai canh lính tối” Tài liệu còn để lại cho biết, tại một vùng đất đỏ miền Đông Nam Bộ, có lần chúng chở hai tăng nước xuống làng để phát cho công nhân dùng Một số công nhân mới mộ còn đang chờ việc, chưa đi làm, đã tranh thủ ra lấy nước trước Vì số nước chúng chở đến quá ít nên nước bị lấy hết Đến khi những người công nhân cũ đi làm về thấy không còn nước, hỏi xu thì được trả lời: “Dân phu mới lấy sạch rồi” Những công nhân cũ bực tức, liền đánh lộn với những công nhân mới, làm chết hơn 20 người Những thủ đoạn kềm kẹp nói trên đã đẩy người công nhân cao su vào cái thế phải chịu đựng sự bóc lột nặng nề và sự đối xử tàn tệ

của bọn chủ

Rõ ràng số phận của người phu cao su ở các đồn điền là: “sống làm tôi, chết làm phân” Từ những nông dân nghèo khổ đi phu cao su và trở thành công nhân

sống trong điều kiện làm tập thể phải nương tựa vào nhau để sống và làm việc, đó là

sự chuyển biến về tâm lí giai cấp công nhân Cuộc sống tăm tối đã đoàn kết người công nhân lại, ban đầu từng nhóm cùng quê rồi cùng kíp và cả phân sở Sự đàn áp

của bọn thực dân cùng với chế độ quản lí lao động bằng đòn roi, cúp phạt càng làm cho công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gắn chặt vào nhau, làm nâng cao thêm ý thức dân tộc, và đó là động lực thúc đẩy sự hình thành ý thức giai cấp của công nhân

1.2.4 S ự chuyển biến về ý thức giai cấp, ý thức cách mạng của đội ngũ công nhân cao su Bà R ịa – Vũng Tàu

Dưới sự áp bức thống trị của bọn tư bản thực dân, đời sống của công nhân ở các đồn điền cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chìm trong bầu không khí ngột ngạt

Chính sách “ngu dân”, “chia để trị” và các âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác của

Trang 38

thực dân Pháp đã đẩy một bộ phận công nhân đi đến chỗ chia rẽ, hằn thù, nghi kị

lẫn nhau giữa những người cùng cảnh ngộ Trong tình cảnh đó, họ chỉ biết cam chịu

hoặc tự phát đấu tranh bằng các hình thức như bỏ trốn, tự tử, đập phá chén mủ, lãn công, triệt phá cây giống, đánh các xu cai gian ác, chủ Tây…

Tuy vậy, đa số công nhân trong các đồn điền cao su xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ Họ từ giã quê hương đi vào đồn điền với môi trường

sống mới là: sống và làm việc tập thể Cuộc sống tối tăm cơ cực và sự đàn áp dã man của bọn thực dân buộc họ phải nương tựa vào nhau Từ đó, họ đã kết đoàn lại, ban đầu kết thành tùng nhóm cùng quê, cùng kíp rồi cùng phân sở Đây là một trong

những nhân tố thúc đẩy sự hình thành ý thức giai cấp của người công nhân cao su

Sự phản kháng, chống đối của công nhân Xà Bang đối với sự tàn ác của chủ Tây, cai, xu là bỏ trốn khỏi sở Nhưng mấy ai thực hiện được ý đồ đó Rừng sâu nước độc, hơn nữa lô cao su nối liền nhau bạt ngàn trên lộ 2, nếu trốn được ở Xà Bang thì công nhân lại rơi vào một đồn điền khác cũng là “địa ngục trần gian” Người công nhân không biết về đường xá, không có tiền bạc, không có giấy tờ tùy thân, nếu bị bắt lại thì họ phải chịu hình phạt rất tàn ác và khắc nghiệt

Từ những năm 1930, phân sở Xà Bang còn mộ thêm dân líp (Libre: tự do)

tức tuyển dụng lao động cả hộ gia đình Dân líp được chủ tư bản đối xử nhẹ tay hơn

so với dân công tra Chúng mua chuộc một số dân líp làm tay sai và bố trí vào từng kíp cạo, mục đích là phân hóa đội ngũ công nhân, dùng bọn tay sai để theo dõi,

kiểm tra công tra, phát hiện những người bỏ trốn và ngăn chặn những ý đồ chống lại

chủ tư bản Chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp được áp dụng ngay trong công tác quản lý từng đồn điền cao su

Phong trào công nhân cao su Xà Bang chịu ảnh hưởng trực tiếp của phong trào đấu tranh các sở cao su nằm trên lộ 2, trong đó có sở cao su Cam Tiêm (Xuân

Lộc – Đồng Nai) Cuộc đấu tranh lần thứ nhất diễn ra năm 1926, công nhân Cam Tiêm đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ Cuộc đấu tranh lần thứ hai năm 1928, thực dân Pháp cho lính đến đàn áp khốc liệt làm nhiều người chết, bị thương và bị bắt đi

tù đày, một số người khác phải lẩn trốn vào rừng sâu

Trang 39

“Tức nước vỡ bờ” là qui luật tất nhiên khi những người phu cao su bị bóc lột

tận xương tủy phải đứng lên chống lại đòi quyền sống, quyền làm người Tháng 2 năm 1934, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ở Bà Rịa được thành lập ở xã Phước Hải

Đó là tổ chức của công nhân đứng ra vận động lãnh đạo phong trào đấu tranh cách

mạng của nhân dân Bà Rịa và vùng công nhân cao su trên lộ 2 Từ năm 1934 đến khi diễn ra phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936), các đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa (tự Xược từ Biên Hòa về), Trần Văn Cừ (bí thư Chi bộ Phước Hải), Trương Văn Bang (nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kì năm 1933, Bí thư Tỉnh ủy lâm

thời Bà Rịa 1937) đã vào vận động công nhân các sở cao su Bình Ba, Cam Tiêm,

Xà Bang Các đồng chí đã tập hợp công nhân vào các tổ chức hợp pháp như hội tương tế, hội ái hữu, … để giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, vạch trần bản

chất bóc lột của tư bản thực dân Pháp

Năm 1936, đồng chí Nguyễn Văn Sô đảng viên cũ ở Mỹ Tho bị bắt gian ở Côn Đảo được thực dân Pháp trả tự do và phát lưu về Bà Rịa, đã bắt được liên lạc

với Ủy ban hành động Bà Rịa do đồng chí Hồ Tri Tân lãnh đạo Đồng chí Sô làm

phụ xe đò chở khách ở Phước Hải Lấy danh nghĩa buôn cá từ Phước Hải vào các đồn điền cao su trên lộ 2, đồng chí từng bước xâm nhập vào các sở gặp gỡ công nhân, tuyên truyền tập hợp lực lượng Đồng chí đã kết nạp Nguyễn Thị Sanh (tức Sáu Mười Mẫu) công nhân Bình Ba và đồng chí Minh (tức Minh Rỗ) công nhân Xà Bang vào Đảng Cộng sản Đông Dương Đó là hai đảng viên đầu tiên, là hạt giống

đỏ để xây dựng phong trào ở Bình Ba, Xà Bang Ba đồng chí Sô, Sanh, Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Lắm (tức Nghệ thợ máy sở Cam Tiêm), đồng chí Xe (công nhân sở Hàng Gòn), tạo thành một nhóm lãnh đạo phong trào công nhân cao

su trong các sở dọc lộ 2

Từ năm 1936 đến năm 1937, báo Dân Chúng – một tờ báo do Đảng chủ trương ra công khai ở Sài Gòn, được các đồng chí ở Bà Rịa đem vào Xà Bang Công nhân Xà Bang tuy cuộc sống vất vả - nhưng đều quyên góp tiền ủng hộ báo

Những cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp ở Sài Gòn, tin về những cuộc đấu tranh dân

chủ, đòi cải thiện đời sống của công nhân, nhân dân khắp Nam bộ càng cổ vũ và

Trang 40

thôi thúc công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong cuộc đấu tranh Các hội tương tế ái hữu hoạt động khá tốt, đã hướng dẫn công nhân tương trợ giúp đỡ nhau trong đời sống, khi đau ốm, lúc ma chay

Năm 1937, Ban cán sự Đảng lâm thời tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thành lập do đồng chí Trương Văn Bang làm bí thư Theo chỉ đạo của Ban cán sự, công tác xây

dựng phát triển Đảng được đẩy mạnh, nhất là khu vực các đồn điền cao su Chi bộ Đảng ở Xà Bang nam, Xà Bang bắc và Láng Lớn được hình thành Đây là bước ngoặt của phong trào công nhân Xà Bang tiến lên một bước về nhận thức đấu tranh

tự giác cho tập thể, vì quyền lợi của giai cấp

Ngày 14 – 7 – 1939, nhân ngày Quốc khánh Pháp, Chi bộ Đảng lãnh đạo toàn thể công nhân Xà Bang nam, Xà Bang bắc, Láng Lớn đồng loạt bãi công Bản

kiến nghị làm chủ sở ghi rõ công nhân phản đối hành động tàn ác của chủ, bọn cai,

xu, tay sai đánh đập, cúp phạt công nhân Sự đoàn kết của công nhân làm bọn cai,

xu không đàn áp được Chủ Tây không thuyết phục được công nhân, phải mời viên Thanh tra Lao động Nam kì từ Sài Gòn lên tận nơi giải quyết, công nhân mới đi làm

lại

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Thực dân Pháp

tiến hành khủng bố ngay phong trào cách mạng trong các thuộc địa Mọi tổ chức ái

hữu bị cấm đoán, mọi cuộc hội họp có từ 5 người trở lên đều bị cấm đoán, các tờ báo ra công khai đều bị đóng cửa Ở Bà Rịa, các đồng chí lãnh đạo như Trương Văn Bang, Nguyễn Văn Sô, Hồ Tri Tân, Nguyễn Thị Sanh… người được Xứ ủy điều đi công tác khác, người bị bắt tù, người bị trục xuất ra khỏi tỉnh, đã ảnh hưởng trực

tiếp đến phong trào đấu tranh của công nhân cao su

Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở các đồn điền Xà Bang, Láng

Lớn… qua nhanh Nhưng đó là khoảng thời gian mà công nhân biết thế nào là đoàn

kết và họ đã đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của Đảng để bảo vệ quyền lợi giai cấp

Đó cũng là thời gian làm họ ý thức được quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc gắn

liền nhau Bọn chủ Tây, cai, xu, tay sai ác ôn dù đánh đập tàn tệ công nhân, nhưng

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ph ụ lục 2: Hình ảnh người công nhân cao su và chế biến cao su - phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh bà rịa vũng tàu thời kì 1945  1975
h ụ lục 2: Hình ảnh người công nhân cao su và chế biến cao su (Trang 132)
Bảng 1: Diện tích và sản lượng cao su ở miền Nam từ 1920-1945. - phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh bà rịa vũng tàu thời kì 1945  1975
Bảng 1 Diện tích và sản lượng cao su ở miền Nam từ 1920-1945 (Trang 134)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm