1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa

154 636 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

để đầu tư và phát huy hiệu quả của ba vùng kinh tế trọng điểm với “ chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa”, phát huy, khai thác tiềm lực kinh tế biển một cách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Hoàng Tấn Tình

PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH TẾ BIỂN – ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Hoàng Tấn Tình

PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH TẾ BIỂN – ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Địa lí học (trừ Địa lí tự nhiên)

Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN KIM HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt thành của quý thầy cô giảng dạy, thầy giáo hướng dẫn, Khoa Địa lý, Phòng khoa học công nghệ và sau Đại học, thư viện trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các cơ quan ban ngành tỉnh Khánh Hòa

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy – PGS.TS Nguyễn Kim Hồng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt ngiệp

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Địa lý, Phòng khoa học công nghệ và sau đại học cũng như thư viện trường đã tạo thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo và quý anh, chị ở Ủy ban nhân dân, Cục thống kê, Sở lao động thương binh và xã hội, Sở kế hoạch và đầu

tư, Sở công thương, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở văn hóa thể thao và du lịch Tỉnh Khánh Hòa đã nhiệt tình cung cấp tài liệu cho tôi viết luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn

Tác giả Hoàng Tấn Tình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng, các biểu đồ, sơ đồ và bản đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 10

Ch ương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH TẾ BIỂN – ĐẢO 10

1.1 Cơ sở lý luận chung 10

1.1.1 Biển 10

1.1.2 Vùng ven bờ 12

1.1.3 Đảo 15

1.1.4 Kinh tế biển – đảo 19

1.1.5 Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 21

1.1.6 Vai trò của phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 22

1.2 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở nước ta và vùng duyên hải Nam Trung Bộ 23

1.2.1 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở nước ta 23

1.2.2 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ 37

Ch ương 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH TẾ BIỂN – ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA 42

2.1 Tiềm năng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 42

2.1.1 Tổng quan về Tỉnh Khánh Hòa 42

2.1.2 Tiềm năng để thực hiện phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 48

2.2 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 53

2.2.1 Chính sách phát triển kinh tế biển – đảo 53

2.2.2 Vấn đề thu hút đầu tư và tổ chức thực hiện 55

2.2.3 Vấn đề nguồn nhân lực 57

2.2.4 Môi trường sinh thái 59

2.2.5 Thực trạng các ngành kinh tế biển – đảo 61

2.2.6 Đánh giá chung 73

Trang 5

Ch ương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP KINH

TẾ BIỂN – ĐẢO TỈNH KHÁNH HÒA 76

3.1 Những cơ sở để xây dựng định hướng và giải pháp 76

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế biển – đảo Việt Nam đến năm 2020 76

3.1.2 Cách tiếp cận mới về chiến lược kinh tế biển – đảo Việt Nam 80

3.1.3 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa và định hướng phát triển kinh tế biển – đảo đến năm 2020 84

3.2 Định hướng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 87

3.2.1 Định hướng cơ cấu ngành kinh tế biển – đảo 87

3.2.2 Định hướng quy hoạch (tổ chức lãnh thổ) kinh tế biển – đảo và vùng ven biển 91

3.2.3 Định hướng thu hút đầu tư 95

3.2.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực 100

3.2.5 Định hướng đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ 101

3.3 Giải pháp phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 105

3.3.1 Tăng cường năng lực quản lý và hoàn thiện hệ thống chính sách 105

3.3.2 Tổ chức thực hiện quy hoạch để phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo 114

3.3.3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho kinh tế biển – đảo 124

3.3.4 Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ 128

3.3.5 Đẩy mạnh khâu quảng cáo, tiếp thị và xúc tiến thương mại 131

3.3.6 Chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường 133

3.3.7 Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo phải gắn với việc bảo vệ an ninh quốc phòng vùng biển – đảo 136

KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

PHỤ LỤC 144

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 : Một số ví dụ về ranh giới vùng bờ 13

Bảng 2.1 : Số dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Khánh Hòa có đến 31-12 hàng năm 56

Bảng 2.2 : Số lao động và cơ cấu lao động theo ngành kinh tế Tỉnh Khánh Hòa từ 2000 đến 2010 57

Bảng 2.3 : Số lao động tạo việc làm mới , tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn (2000-2010) 58

Bảng 2.4 : Số khách du lịch đến Khánh Hòa qua các năm 63

Bảng 2.5 : Doanh thu du lịch 63

Bảng 2.6 : Sản lượng thủy sản từ 2004 – 2010 69

Bảng 2.7 : Sản lượng muối Khánh Hòa qua các năm 72

Bảng 3.1 : Dự báo hàng hóa qua cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong qua các năm 94

Bảng 3.2 : Dự báo xu thế hợp tác giữa nước ta với các nước, khu vực và khả năng hợp tác của Khánh Hòa 98

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1 : Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế biển năm 2010 34

Biểu đồ 2.1 : Số vốn đăng kí và vốn pháp định đầu tư vào Khánh Hòa từ 2003 – 2010 55

Biểu đồ 3.1 : Cơ cấu kinh tế Khánh Hòa năm 2010 và định hướng 2015 88

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 : Mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế biển – đảo 22

Sơ đồ 3.1 : Vị trí cảng trung chuyển quốc tế trên vịnh Vân Phong 93

Sơ đồ 3.2 : Mối quan hệ và tương tác giữa các cơ quan ban ngành trực thuộc Tỉnh trong vấn đề quản lý vùng biển, đảo 108

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ Bản đồ 1: Bản đồ hành chính Tỉnh Khánh Hòa 44

Bản đồ 2: Các địa điểm du lịch và hệ thống cảng biển ở Khánh Hòa 75

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được bao bọc cả 3 phía (Đông, Nam và Tây Nam) bởi Biển Đông, diện tích của biển đạt 3.477.000 km2 Trong đó, vùng biển Việt Nam thuộc biển Đông là hơn 1 triệu km2 Từ xa xưa cho đến nay, biển – đảo luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của nhân dân Việt Nam và được phản ánh trong các truyền thuyết và tư liệu lịch sử Xét cả về 2 mặt tự nhiên và kinh tế xã hội thì biển – đảo là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước; nhất là trong thời kỳ mở rộng hội nhập như hiện nay Vùng biển – đảo nước

ta là vùng giàu tiềm năng về tài nguyên sinh vật, khoáng sản, cảnh quan sinh thái cho việc phát triển kinh tế biển – đảo Vì vậy việc khai thác, phát triển kinh tế biển – đảo được xem là chiến lược của nước ta hiện nay

Mục tiêu thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển; làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển

Việt Nam có 28/63 tỉnh thành giáp biển, mỗi một địa phương đều dựa vào những đặc trưng nhất định về vùng biển của địa phương mình mà có các chiến lược phát triển kinh tế biển phù hợp Khánh Hòa là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ,

là phần đất liền vươn ra xa nhất trong Biển Đông, với đường bờ biển dài 385 km Vùng biển có nhiều vũng vịnh, đảo, quần đảo và nằm trong ngư trường Trường Sa – Hoàng Sa rộng lớn nên có nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế biển – đảo Có thể khẳng định Khánh Hòa là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế biển – đảo lớn nhất nước ta hiện nay Thực tế cho thấy việc khai thác kinh tế biển – đảo

Trang 8

bao đời qua đã đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương cũng như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Tuy nhiên, cũng giống như các địa phương giáp biển khác; việc khai thác kinh tế biển – đảo của Khánh Hòa hiện nay chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương, giữa các cơ quan ban ngành, mặc dù đã có cơ quan chuyên trách quản

lý khai thác kinh tế biển – đảo (Chi cục biển – đảo trực thuộc Sở tài nguyên môi trường) nhưng khả năng điều phối hoạt động còn nhiều hạn chế Cho nên, hiệu quả kinh tế từ khai thác biển – đảo chưa cao; trong khi tài nguyên bị suy thoái và môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng Cụ thể bãi biển Nha Trang đã từng được xem

là 1 trong 29 bãi biển đẹp nhất thế giới, nhưng vừa qua lại bị tạp chí National Geographic xếp biển Nha Trang thuộc loại tồi nhất Có thể thấy rằng biển Nha Trang không thể bao quát hết vùng biển Khánh Hòa và nhận định của tạp chí National Geographic về biển Nha Trang có thể chưa được chính xác Nhưng có thể xem đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho việc khai thác kinh tế biển – đảo một cách bừa bãi, tràn lan, thiếu quy hoạch ở Khánh Hòa nói riêng và các địa phương giáp biển ở nước ta nói chung

Nhằm đánh giá đúng thực chất tiềm năng kinh tế biển – đảo, cũng như mạnh dạn đưa ra một số định hướng, giải pháp để phát triển kinh tế biển – đảo Khánh Hòa theo hướng tổng hợp, bền vững lâu dài Qua đó góp một phần nhỏ nhoi vào việc phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống cho nhân dân, nhất là bộ phận dân cư sống ven biển Nhận thức được ý nghĩa kinh tế và tầm quan trọng của vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo nên tôi chọn đề tài: “Phát triển tổng hợp kinh

tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa”

2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn

2.1 Mục đích

Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI (2010-2015), đã xác định: Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế; tăng cường huy động các nguồn vốn

Trang 9

để đầu tư và phát huy hiệu quả của ba vùng kinh tế trọng điểm với “ chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa”, phát huy, khai thác tiềm lực kinh tế biển một cách đồng bộ, hiệu quả và bền vững; nâng cao chất lượng của các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế; tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu Trên cơ sở mục tiêu cơ bản trên, đề tài của tôi được thực hiện với những mục đích cơ bản sau:

Vận dụng cơ sở lý luận về biển – đảo và phát triển kinh tế biển – đảo vào việc phát triển tổng hợp kinh tế biển - đảo tại địa phương (Tỉnh Khánh Hòa)

Phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển tổng hợp kinh biển – đảo của Tỉnh Khánh Hòa hiện nay

Xác định các định hướng và giải pháp để phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa

2.2 Nhiệm vụ

Xác định tổng quan cơ sở lý luận về phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Tỉnh Khánh Hòa

Căn cứ vào hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Tỉnh Khánh Hòa hiện nay để đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Tỉnh Khánh Hòa trong những năm tiếp theo

2.3 Giới hạn nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài đi sâu phân tích về tiềm năng và hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Đề xuất các định hướng và giải pháp để phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Tỉnh Khánh Hòa

Về phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu trên phạm vi Tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa

có liên quan trực tiếp đến chính sách và sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các địa phương lân cận nên không gian nghiên cứu được xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận và của cả nước

Trang 10

Về thời gian: Các số liệu, tư liệu về hiện trạng phát triển kinh tế biển – đảo phục vụ cho đề tài có giới hạn từ 2000-2010, còn các định hướng và giải pháp có giới hạn đến 2015 và tầm nhìn đến 2020

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ bao đời nay biển – đảo đã gắn bó với đời sống, sinh hoạt của con người Biển – đảo không chỉ cung cấp các sản vật phục vụ cho nhu cầu sống, phát triển của loài người mà còn tạo điều kiện để các dân tộc, các quốc gia trên thế giới giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội Chính vì vậy việc tìm hiểu về biển – đảo để chinh phục biển phục vụ cho nhu cầu của con người là rất quan trọng Từ xa xưa con người đã biết khai thác các sản vật từ biển – đảo, biết chế tạo các con thuyền để vượt biển và nghiên cứu về biển Tuy nhiên do trình độ nhận thức và trình độ về khoa học – kĩ thuật còn thấp nên những hiểu biết của con người về biển – đảo còn sơ sài Họ cho rằng các hiện tượng tự nhiên của biển là do sự tác động của các đấng siêu nhiên, của các vị thần linh Cho nên con người chưa nhận thức hết các tiềm năng của biển - đảo cũng như chưa biết cách khai thác chúng một cách hiệu quả Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và nhận thức con người, cũng như những thành công trong các cuộc phát kiến địa lý bằng đường biển; con người đã ngày càng hiểu rõ hơn về biển – đảo và đã biết cách khai thác chúng phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển của loài người

Việt Nam tiếp giáp với vùng biển rộng lớn, từ ngàn xưa biển đã nuôi nấng

và bảo vệ dân tộc ta trước các cuộc xâm lăng của kẻ thù Các triều đại phong kiến trước đây không chỉ khai thác các sản vật từ biển – đảo mà còn nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên của biển, như: dòng biển, thủy triều, hướng gió, độ sâu…để phát triển giao thông giao lưu với bên ngoài cũng như vận dụng cho quân sự để đánh bại kẻ thù Chính vì vậy các công trình nghiên cứu về biển đã ra đời nhưng nhìn chung còn

sơ sài, mang tính mô tả là chính

Trong những thập niên gần đây, biển – đảo đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính vì vậy đặt ra yêu cầu là phải tìm hiểu chuyên sâu hơn về biển để biết cách khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ

Trang 11

biển cũng như hạn chế những tác hại do biển mang lại Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, ở nước ta đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về biển – đảo mang tính chuyên sâu, như: Địa lý Biển Đông của Nguyễn Văn Âu, Địa lý kinh tế vận tải biển của Nguyễn Khắc Duật, Biển – cái nôi sự sống của Lý Thái Thuận, Nguồn lợi sinh vật Biển Đông của Vũ Trung Tạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta…

Những năm gần đây Chính phủ đã quan tâm và chú trọng đầu tư vào các đề

án, chương trình trọng điểm quốc gia, như: quyết định và cho triển khai Đề án số 47

về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, định hướng 2020; Đề án số 80 hợp tác quốc tế về biển đến năm 2020; chương trình 796 nghiên cứu, điều tra cơ bản tiềm năng khí hydrate ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; Dự án xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu biển quốc gia; chương trình

158 quản lý tổng hợp vùng bờ Trung Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn 2020; Đề án tăng cường năng lực cho hệ thống quản lý nhà nước về biển và hải đảo Đặc biệt,

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cho phép Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng Chiến lược khoa học – công nghệ biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng 2030” nhằm xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, các định hướng và giải pháp lớn để phát triển khoa học – công nghệ biển đến năm 2020 Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã ký thoả thuận hợp tác với Cơ quan quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA) về hợp tác khoa học công nghệ biển và vùng bờ giai đoạn 2010-2015; ký với Viện Hải dương học Viện Hàn lâm Khoa học Viễn Đông (Liên bang Nga) về điều tra nghiên cứu địa chất - khoáng sản biển (chủ yếu là băng cháy-khí hydrate) và hải dương học đến năm 2015; ký với Hàn Quốc về kiểm soát ô nhiễm biển, bao gồm cả ứng cứu sự cố tràn dầu; hợp tác khu vực về quy hoạch không gian biển, về quản lý sinh vật biển xâm hại, về quản lý tổng hợp vùng bờ…

Trong các báo cáo chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010 của Bộ kế hoạch và đầu tư, Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp vùng bờ Việt

Trang 12

Nam, bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững (1996 – 2000) của Bộ Tài nguyên và Môi trường; và của tỉnh Khánh Hòa (Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI) đã đưa ra một số định hướng, giải pháp cơ bản để khai thác, phát triển kinh tế biển Khánh Hòa nói riêng và cả nước nói chung

Nhìn chung, các nghiên cứu của các nhà khoa học và các báo cáo nói trên đã

đề cập và đi sâu nghiên cứu đến những đặc trưng cơ bản của vùng biển – đảo nước

ta, cũng như đã đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa và của cả nước Tuy nhiên, khả năng và hiệu quả phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa lại chưa được đề cập sâu trong các công trình nghiên cứu và bản báo cáo nói trên Vì vậy đề tài: “Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa” được xem như là sự mở rộng các đặc trưng cơ bản về kinh

tế biển - đảo cũng như cụ thể hóa các chiến lược, giải pháp để phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm hệ thống

Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa là một bộ phận của phát triển kinh tế biển – đảo cả nước nói chung và có mối quan hệ với nhiều ngành kinh tế khác và chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội Do vậy, việc nghiên cứu phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa không thể tách rời với việc nghiên cứu các đặc điểm kinh tế biển – đảo của đất nước, cũng như việc nghiên cứu

hệ thống các ngành kinh tế của Khánh Hòa

4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Hệ thống lãnh thổ kinh tế biển – đảo được xem là một hệ thống có đặc điểm tổng hợp hơn bất kì địa hệ nào, là một hệ thống kinh tế - xã hội được tạo thành bởi nhiều ngành, lĩnh vực có mối quan hệ qua lại, mật thiết gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh Trong thực tế các yếu tố của kinh tế biển – đảo luôn có sự phân hóa theo không gian làm cho chúng có sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác Vì vậy,

Trang 13

việc nghiên cứu phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa phải được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định để đạt những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội – môi trường Để mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo cần phải tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế biển – đảo trong cùng một lãnh thổ (Khánh Hòa) cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác

4.1.3 Quan điểm lịch sử - viển cảnh

Sự phát triển kinh tế biển – đảo trong quá khứ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế biển – đảo hiện tại Vì vậy, phải nghiên cứu vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo trong mối quan hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu Sử dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và hiệu quả của các ngành kinh tế biển trên địa bàn Tỉnh

Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo lâu bền và có hiệu quả hơn

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Nghiên cứu vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo phải đi đôi với sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên biển Có sự phát triển hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao cuộc sống của bộ phận dân cư sống liên quan đến kinh tế biển

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thực địa

Thực địa là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về địa lý kinh tế - xã hội nói riêng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, chụp ảnh…Đây là phương pháp đóng vai trò quan

Trang 14

trọng trong việc thu thập các thông tin định tính Nhờ đó, làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực , khắc phục những hạn chế của phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu Việc thực tế vùng biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa cũng như quan sát hoạt động của các ngành kinh tế biển đã giúp bản thân tôi có những kiến thức

thực tế cơ bản để thấy được thực trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo

4.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu – tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu – tài liệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vì dựa vào việc thu thập, phân tích và xử lý số liệu – tài liệu giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn

đề nghiên cứu Từ đó, bản thân tôi có thể rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian và tiền bạc nhưng vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu Số liệu – tài liệu phục vụ cho đề tài được lấy từ các nguồn: UBND tỉnh Khánh Hòa, Cục thống kê, Sở văn hóa – thể thao và

du lịch Khánh Hòa, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở giao thông vận tải,

Sở kế hoạch đầu tư, Sở công thương, báo Khánh Hòa,… và từ các công trình của các nhà khoa học, ý kiến các chuyên gia và nhân dân địa phương

4.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Phương pháp bản đồ - biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa

lý Bởi vì, mọi nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội đều mở đầu bằng bản đồ

và kết thúc bằng bản đồ Ý nghĩa to lớn của nó là góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như: đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành và theo lãnh thổ Sử dụng phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề được toàn diện hơn Đây là phương pháp quan trọng trong việc xác định sự phân bố, mức

độ tập trung và hiệu quả của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời thể hiện mối liên

hệ giữa các đối tượng với nhau

4.2.4 Phương pháp chuyên gia

Trong bài nghiên cứu này bản thân tôi có sử dụng các nhận xét, đánh giá, định hướng của các chuyên gia đầu ngành về kinh tế, về kinh tế biển – đảo Các

Trang 15

chuyên gia là những người có trình độ chuyên môn sâu về một lĩnh vực nhất định

Họ có kinh nghiệm nghiên cứu và điều kiện nghiên cứu Vì vậy, các ý kiến, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia sẽ nâng cao tính thực tiễn, tính xác thực của đề tài Phương pháp chuyên gia góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, định hướng đưa ra kết luận và lựa chọn các phương án phát triển

4.2.5 Phương pháp dự báo

Đề tài có sử dụng phương pháp dự báo trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã

có trước đó hoặc thu thập được Phương pháp dự báo giúp làm rõ vấn đề nghiên cứu trong tương lai Phương pháp dự báo được thể hiện trong đề tài là: khả năng phát triển tổng hợp kinh tế biển và hiệu quả của các ngành kinh tế biển khi phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo

5 Những đóng góp chung của đề tài

- Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo

- Thấy được tiềm năng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo của Tỉnh Khánh Hòa

- Phân tích được hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa

- Đề xuất các định hướng và giải pháp để phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở Tỉnh Khánh Hòa

6 Cấu trúc luận văn

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển về phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo Tỉnh Khánh Hòa

- Kết luận

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN

TỔNG HỢP KINH TẾ BIỂN – ĐẢO

1.1 Cơ sở lý luận chung

1.1.1 Biển

Theo thuật ngữ Địa lý (Nguyễn Dược – Nguyễn Trung Hải, NXBGD – 2001)

đã định nghĩa biển như sau: “Biển là bộ phận của đại dương, nằm ở gần hoặc xa đất liền nhưng có những đặc điểm riêng khác với vùng nước của đại dương bao quanh (như về nhiệt độ, độ mặn, chế độ thủy văn, các vật liệu trầm tích đáy, các sinh vật…)”

Theo cách hiểu thông thường thì biển là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển Chết Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay biển Hồ ở Campuchia Thuật ngữ này được sử dụng trong đời sống thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng nước của đại dương nói chung

Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York Để cố gắng giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán, hội nghị dùng một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số Với hơn 160 nước tham gia, hội nghị kéo dài đến năm 1982 Kết quả là một công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm

1994 Nội dung công ước có một loạt điều khoản Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển - đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển,

Trang 17

nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở (baseline) được định nghĩa kỹ càng (Thông thường, một đường biển cơ sở chạy theo đường bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị thụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường cơ sở) Theo công ước quốc tế thì vùng biển của một quốc gia bao gồm các bộ phận hợp thành dưới đây:

Nội thủy: Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở

(phía đất liền) Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại

tự do trong các vùng nội thủy

Lãnh hải: Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý Tại đây,

quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại" Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc

"qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ

an ninh

V ùng tiếp giáp lãnh hải: Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một

vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập

cư bất hợp pháp

Vùng đặc quyền kinh tế: Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trong vùng

này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn

đề quan trọng Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm

Trang 18

Thềm lục địa: Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới

mép lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt

ra ngoài đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý Tại đây, nước chủ

có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống Bên cạnh các điều khoản định nghĩa các ranh giới trên biển, công ước còn thiết lập các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo vệ quyền tự

do nghiên cứu khoa học trên biển Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban đáy biển quốc tế (International Seabed Authority) Các nước không có biển được quyền có đường ra biển mà không

bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó

1.1.2 Vùng ven bờ

Đối với biển thì vùng ven bờ là khu vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của các hoạt động kinh tế của con người Vì đây là nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và tài nguyên biển phong phú Vùng ven bờ là nơi mà phần lớn các hoạt động về kinh tế -

xã hội diễn ra và cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất Đối với những nước có vùng ven bờ thì hơn một nữa dân số sống tại đây và tầm quan trọng của vùng ven bờ còn gia tăng trong tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc

di dân từ các vùng sâu trong lãnh thổ đến đây Do vậy dẫn đến sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu tiêu dùng hiện tại đối với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên đó trong tương lai Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng ven bờ đã bị ô nhiễm do các nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự phát triển của các đô thị, các hoạt động của nông nghiệp và công nghiệp trên vùng ven biển

Theo Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thì vùng ven bờ là khu vực có giao diện khá hẹp giữa biển và đất liền Đó là nơi các quá trình sinh thái phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa đất liền và biển, các tác động này diễn ra khá phức

Trang 19

tạp và nhạy cảm Vì vậy vùng ven bờ được hiểu như là nơi tương tác giữa đất liền

và biển, bao gồm các môi trường ven bờ cũng như vùng nước kế cận Các thành phần của nó bao gồm các vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn, đầm phá và các đặc trưng ven bờ khác Khái niệm vùng ven bờ thường được xác định một cách tùy tiện, có sự khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới hành chính Ngoài ra, còn có những sai khác về địa văn, sinh thái và kinh tế giữa các vùng khác nhau, do đó chưa có một định nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi về vùng ven bờ Thay vào đó có nhiều định nghĩa bổ sung phục

vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, trong đó có vấn đề ranh giới Ví dụ ở một số nước châu Âu, vùng ven bờ mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác thì lấy đường đẳng sâu làm giới hạn Còn về ranh giới đất liền cũng còn rất mơ hồ

do tác động của biển và khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong Vấn đề ranh giới vùng bờ có thể được xác định một cách thực tế bao gồm các khu vực và các hoạt động liên quan đến các chương trình quản lý Trong nhiều trường hợp, ranh giới vùng đất liền và biển được chọn thường có một khoảng cách nhất định với một mốc tự nhiên chẳng hạn như là mức nước thấp trung bình (MLWM, Mean Low Water Mark) hay mức nước cao trung bình (MHWM, Mean High Water Mark)

Trang 20

ở đó đất và biển tương tác với nhau, trong đó ranh giới về đất liền được xác định bởi giới hạn các ảnh hưởng của biển đến đất và ranh giới về biển được xác định bởi

giới hạn các ảnh hưởng của đất và nước ngọt đến biển”

Do có nhiều khái niệm khác nhau về vùng ven bờ dẫn đến làm nảy sinh các vấn đề trong quá trình thực thi quản lý tổng hợp vùng ven bờ Thứ nhất, pháp luật quốc gia liên quan đến việc giải quyết vấn đề này, nhất là việc đưa ra định nghĩa và tiêu chí biên giới vùng ven bờ một cách chính xác Thứ hai, thường các ranh giới được xác định theo ranh giới hành chính không đồng nhất với ranh giới của hệ sinh thái Thứ ba, việc quản lý vùng ven bờ xuyên quốc gia thường rất khó khăn do nó liên quan đến lợi ích của từng quốc gia

Ngoài khái niệm về vùng ven bờ thì trong phát triển và quản lý kinh tế biển người ta thường quan tâm đến một số thuật ngữ khác, như:

Vùng ven biển: về mặt không gian thì rộng hơn vùng ven bờ, đường biên của nó mở rộng về phía đất liền hơn Vùng ven bờ chỉ là một phần của khu vực ven biển Khái niệm này rất quan trọng vì trong nhiều quy trình về môi trường, nhân khẩu, kinh tế và xã hội trên thực tế bắt nguồn từ vùng ven biển rộng lớn Tuy nhiên những biểu hiện của chúng chỉ thấy rõ được trong phạm vi vùng ven bờ

Vùng nước ven biển: là vành đai hẹp gần bờ có nước biển và nước cửa sông Vùng gian triều: vùng giữa đường ngập triều khi triều thấp nhất và đường ngập triều khi triều cao nhất

Vùng bờ biển: đường tiếp xúc tại điểm chia cắt đất liền với các vùng nước ven biển

Vùng đất ven bờ: vùng đất liền xuống tới đường biên cao nhất bị ảnh hưởng bởi thủy triều

Đới bờ là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển (đại dương), luôn chịu tác động tương hỗ giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thủy triều), giữa các hệ thống tự nhiên và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên bờ) theo cả cấu trúc dọc (trung ương

Trang 21

xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các bên liên quan cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác Các đặc trưng nói trên đa tạo

ra tính đa dạng về kiểu loại và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên – tiền đề cho sự phát triển đa ngành, đa mục tiêu và yêu cầu bảo đảm đa lợi ích cho những người hưởng dụng vùng bờ

1.1.3 Đảo

Định nghĩa đảo trong các công ước quốc tế:

Định nghĩa đảo trong giai đoạn trước công ước 1958 Tại hội nghị La Hay

1930 dự thảo định nghĩa đảo đã được đưa ra “đảo là một vùng đất có nước bao bọc xung quanh, thường xuyên ở trên mức nước cao” Đây là định nghĩa còn khá sơ lược, chủ yếu dựa trên các tiêu chí mang tính khách quan; gần với định nghĩa theo nghĩa địa lý tự nhiên với 3 yếu tố cấu thành: Là một vùng đất, có nước bao bọc xung quanh và thường xuyên ở trên mức nước cao Tuy nhiên, tại hội nghị này các quốc gia đa không thống nhất định nghĩa về đảo

Công ước 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp Tại Hội nghị Giơnevơ 1958 các nước đã đưa ra một định nghĩa thống nhất về đảo, theo đó: “Đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” “Sự hình thành tự nhiên” là nội dung mới được bổ sung vào định nghĩa đảo trong công ước 1958 Yếu tố này đưa ra nhằm phân biệt đảo tự nhiên với đảo nhân tạo, hạn chế trường hợp những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển xây dựng các đảo nhân tạo để thực hiện tham vọng lấn chiếm biển của mình

Công ước Luật biển 1982 Tại hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển lần III

đã kế thừa định nghĩa “đảo” của Công ước 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp Cuối cùng hội nghị đã đi đến một công thức thỏa hiệp về định nghĩa đảo và được đưa vào điều 121 của Công ước Luật biển 1982 như sau:

“1 Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước

Trang 22

2 Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được xác định theo đúng các qui định của Công ước áp dụng cho lãnh thổ đất liền khác

3 Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”

Như vậy, khoản 1 của điều 121 của Công ước Luật biển 1982 có nội dung giống như nội dung của định nghĩa đảo trrong Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp Khoản 2 của điều 121 qui định cách thức xác định các vùng biển do đảo tạo ra như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Các vùng biển này được xác định theo đúng các qui định của Công ước áp dụng cho lãnh thổ đất liền Khoản 3 điều 121 đưa ra tiêu chuẩn để phân biệt một đảo đá

và một hòn đảo bình thường Như vậy, khoản 3 điều 121 gián tiếp quy định là các đảo đá chỉ có lãnh hải và vùng tiếp giáp

Theo Đặng Việt Thủy trong: “Hỏi đáp về các đảo, quần đảo, vịnh, vũng nổi tiếng ở Việt Nam” thì “Đảo là phần đất bị bao bọc xung quanh bởi nước thường xuyên nhô cao lên không bị ngập khi mực nước triều cao nhất Về phần lịch sử hình thành đảo có thể là do 1 phần lục địa lún xuống gây ra hoặc do hoạt động núi lửa dưới đáy biển tạo thành Đảo có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, đảo có thể đứng đơn độc hoặc tụ hợp thành quần đảo hay kéo dài thành vòng cung”

Việt Nam có khoảng 4.000 đảo, trong đó số lượng đảo ven bờ có gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích là 1.600 km2

Việt Nam có 2 quần đảo lớn xa bờ

là Hoàng Sa và Trường Sa Quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) nằm ở phía Đông Nam của nước ta trong khoảng từ 6030’ đến 12000’ Bắc, từ 111030’ đến 117030’ Đông Quần đảo gồm khoảng hơn một trăm hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô nằm rải rác trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 360 hải lý, chiểm một diện tích vùng biển từ 160.000 – 180.000 km2; được chia làm 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 250 hải lý Các đảo của quần đảo

Trang 23

Trường Sa có độ cao thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa Độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 – 5 mét Đảo lớn nhất là đảo Ba Bình rộng 0.65 km2, tiếp sau đó

là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Sông Tử Đông, Sinh Tồn…Các đảo

ở đây cũng có vành đai san hô ngầm rộng hàng trăm mét che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh tràn lên Chất đất trên các đảo của quần đảo Trường Sa là cát san hô, có lẫn phân chim và mùn cây có bề dày từ 5 – 10 cm Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loài cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loài vích là động vật quý hiếm và cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế cao

Ngoài quần đảo Trường Sa thì Khánh Hòa có vô vàn hòn đảo khác nằm trong các vùng vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh Tại Vịnh Nha Trang đã và đang có rất nhiều đảo được khai thác cho phát triển kinh tế, tiêu biểu là hòn Miễu,

hòn Mun, hòn Tằm, hòn Tre, đảo Yến…

Hòn Miễu là đảo gần bờ nhất Nơi đây bạn vừa có thể tắm, vừa thăm thú thế giới dười nước huyền ảo của vùng biển Nha Trang Nó có hai điểm du ngoạn chính

là hồ cá Trí Nguyên và Bãi Sỏi Một tên gọi khác của đảo Hòn Miễu chính là Bồng Nguyên Vì thế hồ cá tại đảo có tên gọi là Trí Nguyên Hồ được ngăn lại bằng hệ thống kè đá.Trong hồ có hàng trăm loại sinh vật biển quý hiếm như cá, rùa biển được nuôi thả tại đây Nó chính là một bảo tàng sống về biển Có thể băng qua đảo

từ hồ cá đến Bãi Sỏi, cách vài trăm mét Bãi Sỏi hướng mặt về phía Hòn Tằm Gọi

là bãi Sỏi vì ở đây, bãi biển không có cát như trong đất liền mà toàn các hòn sỏi nhỏ Du khách có thể lặn ở những ghềnh đá gần Bãi Sỏi và sẽ thấy thế giới san hô

và cầu gai

Hòn Mun là một đảo nhỏ trong Vịnh, sở dĩ có tên là "Hòn Mun" vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác Kết quả khảo sát đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển cho thấy Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam Các nhà khoa học cũng đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới Từ năm 2001 Khu bảo tồn biển Hòn Mun ra đời bao gồm các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn

Trang 24

Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rơm, Hòn Nọc và vùng nước xung quanh Diện tích khoảng 160 km² bao gồm khoảng 38 km² mặt đất và khoảng 122 km² vùng nước xung quanh các đảo Đây là khu bảo tồn biển đầu tiên tại Việt Nam

Hòn Tằm một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn Phía sau đảo này có một hang đá rất đặc biệt, kỳ bí mới được ngành du lịch phát hiện và đưa vào khai thác Đó là hang Dơi, nơi có rất nhiều đàn dơi cư trú trên những vách đá cheo leo ở độ cao 60m Đảo được đầu tư phát triển nhiều loại hình thể thao bãi biển như dù bay, bóng chuyền bãi biển, đua xuồng kayak, leo núi… Ngày 6-2-2010 Công ty Cổ phần Hòn Tằm Biển Nha Trang chính thức đưa khinh khí cầu đầu tiên ở Việt Nam vào phục vụ du khách; khoang hành khách làm bằng thép có sức chứa từ 25 đến 30 hành khách cùng lúc bay lên độ cao 160m để ngắm được toàn vịnh Nha Trang

Hòn Tre đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 30 km², nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5km về phía Đông, cách cảng Cầu Đá 3,5 km vị trí tương đối biệt lập, có bãi tắm thiên nhiên đẹp, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển Khu vực quy hoạch đảo bao gồm 2 khu vực chức năng: Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn được quy hoạch hướng tới một quần thể các dự án du lịch cao cấp bao gồm 7 dự án hiện có: Khu du lịch Con Sẻ

Tre, Vinpearl resort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái Bãi Sỏi,

Khu biệt thự và sân golf Vinpearl Giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpear (tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới) Khu Đầm Bấy được quy hoạch theo mô hình khu du lịch cộng đồng bao gồm khu vực dự án Khu du lịch thế giới biển và dự án Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy

Đảo yến: Đây không phải là tên riêng của một đảo nào, mà cứ đảo nào có yến làm tổ thì gọi vậy Nhưng trong 19 hòn đảo ở Vịnh Nha Trang thì Hòn Nội và

Trang 25

Hòn Ngoại là nơi có nhiều yến nhất Hòn Nội là đảo nằm phía trong, còn Hòn Ngoại nằm phía ngoài Hòn Nội có bãi tắm đôi (có hai bờ biển một mặt hướng ra Vịnh Nha Trang mặt còn lại hướng vào một vũng lớn bị cô lập trong đảo mùa nước lên, nước sẽ tràn qua doi cát vào vũng) với cát trắng rất đẹp nhưng ít dùng cho du lịch chủ hoạt động chủ yếu trên đảo là khai thác Yến sào

Đảo Bình Ba (Cam Ranh): Sở dĩ đảo có tên gọi Bình Ba vì đây chính là hòn

đảo chắn sóng giữ bình yên cho Vịnh Cam Ranh Đảo được bao bọc bởi những rặng san hô, có nơi ta chỉ cần đứng trên mõm đá là có thể thấy được san hô dưới biển Nước xanh vắt như ai trãi dưới biển những tấm thảm màu xanh của trời Ở đảo có rất nhiều bãi tắm đẹp, đáng kể phải nói đến bãi Nồm Một bãi cát mịn kéo dài, con sóng vừa phải Trước khi đến đảo, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt hảo của thiên nhiên với những bãi biển xanh trong vắt, bãi cát trắng trải dài, màu xanh của cây cỏ chen lẫn màu của đá, không gian tĩnh lặng của các đảo nhỏ bao bọc xung quanh Lên đảo còn thú vị hơn Nếu bãi Nồm, bãi Nhà Cũ của đảo Bình Ba đã đẹp như tranh thì bãi Chướng có hai dòng nước nóng lạnh Đứng ở điểm này sẽ bắt gặp dòng nước lạnh, nhưng chỉ cần nhích vài bước chân thì sẽ cảm nhận dòng nước

ấm đang chảy qua Đến đây, người thích mạo hiểm, có thể men theo sườn núi khám phá các di tích đã hoang phế như ụ đại pháo, lô cốt phòng thủ… Người thích thiên nhiên thì đi dọc theo bãi biển ngắm những vỏ ốc ngũ sắc tuyệt đẹp, những khối đá nhấp nhô dưới ghềnh, những vách đá dựng đứng cùng một số hang động gợi trí tò

1.1.4 Kinh tế biển – đảo

Chúng ta có thể thấy rằng kinh tế biển bao gồm cả kinh tế của vùng biển và kinh tế của các đảo, quần đảo nằm trong vùng biển đó Do đó, mọi người thường xem khái niệm kinh tế biển – đảo như khái niệm kinh tế biển

Theo GS Nguyễn Văn Hường (Tạp chí khoa học kĩ thuật, số 5 năm 1996) thì: “Kinh tế biển là một lĩnh vực bao trùm gồm nhiều ngành hoạt động liên quan đến biển như: thủy sản, du lịch, giao thông vận tải, dầu khí nhằm khai thác toàn bộ lợi ích mà biển có thể mang lại để phát triển đất nước”

Trang 26

Hiện nay thế giới thống nhất kinh tế biển là nền kinh tế tổng thành của các ngành công nghiệp do môi trường biển đem lại Môi trường biển được định nghĩa là những vùng biển có chủ quyền: mặt nước ven bờ, lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền Môi trường biển là một chức năng gồm cả công nghiệp và địa lý

Nhưng trong các báo cáo tổng kết và tại các hội thảo về kinh tế biển hiện nay, ta chỉ thấy một bức tranh không toàn cục, chủ yếu là đánh bắt, dầu khí và vận tải Ở các nước, vẫn có nhiều tranh cãi trong các phép đo của từng ngành công nghiệp biển, cũng như sự đối kháng, xung đột của các ngành, cần phải có một sự điều phối thật nhịp nhàng bởi càng ít “cửa” càng tốt

Vì vậy, kinh tế biển phải được định nghĩa bằng cách tách ra giữa hoạt động biển và phi biển Một số hoạt động như đánh bắt và vận chuyển tàu phà dứt khoát là

lệ thuộc vào biển Nhưng có những hoạt động khác lại khó phân loại Chẳng hạn như du lịch chỉ một phần lệ thuộc biển, có những hoạt động mua sắm trên bờ hoàn toàn không lệ thuộc vào biển

Do đó, khi xem xét tới kinh tế biển, chúng ta cần đề cập đến kinh tế vùng ven biển ở một mức độ cần thiết Để có một khái niệm mang tính quy ước khi phân tích, theo tôi quan niệm kinh tế biển bao gồm:

Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản);

khai thác dầu khí ngoài khơi; du lịch biển; làm muối; dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và kinh tế đảo Có thể coi đây là quan niệm về kinh tế biển theo nghĩa hẹp Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng

và sửa chữa tàu biển; công nghiệp chế biến dầu, khí; công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; cung cấp dịch vụ biển; thông tin liên lạc (biển); nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển Có thể coi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt

Trang 27

động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển là quan niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng

1.1.5 Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo

Phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng có nghĩa là mỗi vùng kinh tế phải là một tổng thể kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, phát triển mạnh mẽ và cân đối lẫn nhau

Đó không phải là sự tổng hợp giản đơn các ngành, mà là sự kết hợp hợp lý các ngành sản xuất trong vùng, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế trong nội bộ vùng

Phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng được thể hiện trước hết phải tạo ra

sự hoàn chỉnh trong kết cấu các ngành kinh tế có trong vùng, điều đó có nghĩa là mỗi vùng kinh tế phải gồm các ngành công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ phát triển cân đối với nhau Cùng với đó, cần tạo ra sự hoàn chỉnh trong kết cấu sản phẩm sản xuất ra trong vùng, có nghĩa là trong mỗi ngành cũng đòi hỏi sự phát triển tổng hợp tương ứng với tiềm năng có được của vùng

Phát triển tổng hợp phải đảm bảo cho hướng sản xuất chuyên môn hóa của vùng phát triển thuận lợi, tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích vùng với lợi ích cả nước

Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo là sự phát triển nhiều ngành kinh tế liên quan đến biển – đảo Giữa các ngành có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau để cùng phát triển và sự phát triển của ngành này không được kìm hãm hoặc gây thiệt hại cho các ngành khác

Như vậy, có thể hiểu phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo là sự tăng lên về quy mô kinh tế của tất cả các ngành, các lĩnh vực và của các địa phương Sự phát triển về kinh tế kéo theo sự thay đổi về đời sống của bộ phận dân cư sống ven biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo là sự phát triển lâu bền, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái biển – đảo Mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế biển - đảo được thể hiện qua sơ đồ 1.1

Trang 28

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế biển – đảo 1.1.6 Vai trò của phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo

Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy những bước đột phá phát triển mang tầm thế giới cho đến nay hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia biển (đại dương) Đó là Italia, Anh, Nhật Bản, Xingapo, Trung Quốc Ngày nay, thế giới đang bước vào giai đoạn bùng nổ phát triển mới với xu hướng ngày càng khẳng định tầm quan trọng to lớn của biển và đại dương Tình trạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, dẫn tới cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia thường xuyên và gay gắt Vươn ra biển, khai thác đại dương đã trở thành khẩu hiệu hành động mang tính chiến lược của toàn thế giới

Chính vì lẽ đó mà không phải ngẫu nhiên luận điểm “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” xuất hiện và được nhất trí cao trên toàn thế giới Việt Nam cũng hoà chung xu hướng đó Xác định được tầm quan trọng của kinh tế biển, tại hội nghị lần thứ 4, BCH Trung ương Đảng khoá X đã xây dựng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh: “Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53%-55% tổng GDP của cả nước”

Tuy nhiên, trong vấn đề phát triển kinh tế biển có nhiều thách thức đang được đặt ra Đó là tài nguyên biển thuộc dạng tài nguyên chia sẻ, chứa đựng “yếu tố không gian”, là tiền đề phát triển đa ngành Song, việc quản lý biển - đảo đến nay vẫn theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành

Kinh tế biển, hải đảo

Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản

Trang 29

Trong một thời gian dài, quản lý biển đã thuộc về nhiều ngành, cơ quan và chủ yếu quan tâm đến vấn đề chủ quyền, an ninh trên biển,…quản lý tài nguyên và môi trường biển xem như còn bỏ trống Các phương thức, cách tiếp cận mới chậm được

áp dụng, nếu đã áp dụng cũng chưa có khả năng nhân rộng, như: tiếp cận hệ thống, tổng hợp, liên ngành trong quản lý biển và vùng bờ, quản lý dựa vào hệ sinh thái và đồng quản lý

Khu vực Biển Đông đang có tranh chấp gay gắt, nên việc hợp tác và hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp không ít khó khăn Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, những vi phạm trong quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển chưa có các quy định cụ thể mang tính pháp quy như trong quản lý sử dụng đất trên đất liền và còn nhiều bất cập

Ngoài ra, nước ta là một trong năm nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ Các hệ sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển và trên các đảo là những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ nhất, nhưng đến nay còn thiếu những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, cũng như chưa có giải pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển Do đó kinh tế biển càng phải vượt qua nhiều thách thức Để giàu từ biển, mạnh lên từ biển, nước ta cần phải xây dựng được một nền khoa học - công nghệ biển hiện đại; phát triển được một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế; có một phương thức quản lý tổng hợp biển và bảo đảm được

an ninh chủ quyền vùng biển

1.2 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở nước ta và vùng duyên hải Nam Trung Bộ

1.2.1 Hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo ở nước ta

1.2.1.1 Chính sách phát triển kinh tế biển

Nhận thức rõ vị trí chiến lược của biển, hải đảo đối với kinh tế và an ninh - quốc phòng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương nhất quán về vấn đề này Ngày 6 tháng

5 năm 1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 03-NQ/TW về đẩy mạnh phát triền kinh

Trang 30

tế biển Nghị quyết chỉ rõ: “Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển Phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh

tế biển” Ban Chấp hành Trung ương có Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22-9-1997 về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ý chí chính trị đó tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết của các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và X

Đặc biệt, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 4 (khóa X) năm 2007 đã thông qua Nghị quyết 09/2007/NQ-TW về ban hành Chiến lược biển Việt Nam đến năm

2020 trong đó, xác định một trong những mục tiêu quan trọng là đến năm 2020

“phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”

Quyết tâm nâng cao khai thác tiềm năng biển - đảo để phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc được thực hiện với nhiều chương trình nghiên cứu cấp nhà nước, cấp địa phương đã được tiến hành, và góp phần quyết định xây dựng nên các quyết sách cụ thể để phát triển kinh tế từng ngành, từng địa phương Chương trình đánh cá

xa bờ, thành lập các tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinaline), tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (sau này là Vinashin), tổng công ty dầu khí Việt Nam, các tổng công ty thuỷ sản, đều là dẫn chứng cụ thể, sinh động của định hướng ấy Tuy nhiên, trong báo cáo kiểm điểm của BCH TƯ khoá X cũng đã chỉ rõ một hạn chế là các Chiến lược kinh tế biển của nước ta chậm được triển khai vào đời sống

1.2.1.2 Vấn đề nguồn nhân lực

Nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng và là một trong những điểm mấu chốt của lực lượng sản xuất Nhân lực là nhân tố quyết định mang tính nền tảng cho sự phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng Nhân lực không chỉ đáp ứng vấn đề số lượng mà còn đảm bảo vấn đề chất lượng của lực lượng sản xuất Và bản thân nhân lực còn có thể tự thân vận động và làm phát triển nó bên cạnh việc phát triển sản xuất

Trang 31

Vùng ven biển Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc khoảng 27 triệu người, chiếm gần 30% tổng dân số của cả nước Số người trong độ tuổi lao động có khoảng 18 triệu người

Trong những năm đầu hội nhập kinh tế quốc tế, những điểm mạnh của nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển là dồi dào, tỷ lệ lao động ở nhóm trẻ cao, giá nhân công rẻ, đức tính cần cù ham học hỏi đã có tác động rất tích cực đối việc thu hút đầu

tư vào phát triển kinh tế biển Việt Nam luôn được đánh giá là điểm đầu tư hấp dẫn với lợi thế về lao động, thị trường, tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự phát triển, nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế biển nói riêng đã và đang bộc lộ những bất cập lớn ảnh hưởng tới sự phát triển tổng hợp, bền vững của kinh tế biển Đó là, số lượng người bước vào độ tuổi lao động tăng quá nhanh, gây sức ép về giải quyết việc làm

và ảnh hưởng trực tiếp chất lượng lao động

Việc đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, còn đào tạo thì nửa vời, nhiều người chưa được đào tạo

Người lao động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế biển còn mang tính cá nhân chủ nghĩa, chỉ quan tâm đến lợi ích của cá nhân hay ngành ngề phụ trách mà chưa quan tâm đến cái tổng quan, hiệu quả kinh tế của biển đối với xã hội Ví dụ:

Lao động trong nuôi trồng thủy sản, hay khai thác khoáng sản biển chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà chưa có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển du lịch biển

1.2.1.3 Môi trường sinh thái

Nước ta có khoảng 1/3 dân số sinh sống ở các huyện ven biển, 60% số đô thị

và khu công nghiệp lớn tập trung ở vùng cửa sông, ven biển Do nguồn tài nguyên vùng này đa dạng và phong phú nên trở thành đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế và cộng đồng dân cư Các hoạt động khai thác, sử dụng không hợp lý vùng

bờ đã bộc lộ trên suốt chiều dài hơn 3.260 km bờ biển từ Bắc vào Nam, dẫn tới sự suy thoái các hệ sinh thái tại đây ngày càng gia tăng nghiêm trọng

Trang 32

Môi trường vùng nước biển ven bờ đã bị ô nhiễm dầu, kẽm và các chất thải sinh hoạt; chất lượng trầm tích đáy biển cũng bị ô nhiễm quá mức cho phép Hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật chủng Andrin và Endrin của các mẫu sinh vật đáy vùng cửa sông phía Bắc đều cao hơn giới hạn cho phép Đa dạng sinh học động vật đáy ở ven biển miền Bắc và thực vật nổi ở miền Trung suy giảm rõ rệt Hiện tượng thủy triều đỏ và bùng phát tảo nở hoa xuất hiện thường xuyên hơn ở ven bờ biển miền Trung như ở Nha Trang và Đà Nẵng Đặc biệt, vùng kinh tế trọng điểm ven biển phía Nam đã và đang thải vào các sông bình quân một lượng nước thải sinh hoạt 113.216 m3/ngày và nước thải công nghiệp tới 312.330 m3/ngày Sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ bị axít hóa nặng do rửa trôi phèn từ các kênh rạch và chất thải gây nên Ở vùng nước ven bờ hiện dầu thải lên mức 35-160 tấn/ngày, Nitơ 26-52 tấn/ngày và tổng số chất Amonia 15-30 tấn/ngày cộng với mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu, không những làm gia tăng sự suy thoái các hệ sinh thái mà còn đe dọa đến cuộc sống ổn định của cộng đồng ven biển Một số vùng ven bờ bị đục hoá, lượng phù sa lơ lửng tăng đã ảnh hưởng đến du lịch, giảm khả năng quang hợp của một số sinh vật biển và làm suy giảm nguồn giống hải sản tự nhiên Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hoá do độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3 - 8,2 Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm (Zn), một số chủng thuốc bảo vệ thực vật

Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá huỷ gây tổn thất lớn về đa dạng sinh học vùng bờ Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam Hiệu suất khai thác hải sản giảm Thêm vào đó, tình trạng dùng các ngư cụ đánh bắt

cá có tính chất huỷ diệt diễn ra khá phổ biến như xung điện, chất nổ, đèn cao áp quá công suất cho phép,…làm cạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ Nguồn lợi hải sản

có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt Các hệ sinh thái biển tại Việt Nam đang bị suy thoái nhanh Diện tích rừng ngập mặn giảm mạnh trong vòng 30 năm qua

Trang 33

1.2.1.4 Thực trạng kinh tế biển Việt Nam

Quy mô kinh tế biển: Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước Trong các ngành kinh

tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc, bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước), song trong tương lai sẽ có mức gia tăng nhanh hơn Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá ) Tuy vậy, có thể nhận định một cách khái quát rằng, sự phát triển của kinh tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yếu kém Quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của Xingapo, 1/7 của Malaixia và 1/5 của Thái Lan)

Các ngành kinh tế biển:

Hoạt động du lịch biển: Du lịch biển – đảo đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân cũng như tăng nguồn ngân sách Trung ương và địa phương

Với bờ biển dài trên 3.000 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển là những điều kiện thuận lợi cho

du lịch biển Việt Nam phát triển Những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du

Trang 34

khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang hay bãi biển Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh, đều nói lên sức hút của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước

Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác Trong đó, các khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long - Hải Phòng - Cát Bà; Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam; Vân Phong - Đại Lãnh - Nha Trang; Phan Thiết - Mũi Né; Vũng Tàu - Long Hải - Côn Đảo; Hà Tiên - Phú Quốc

Hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển không ngừng tăng lên, đặc biệt số lượng những cơ sở lưu trú từ 3 sao trở lên phần lớn tập trung ở các địa phương ven biển Theo thống kê, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với trên 45.000 buồng Vùng biển và ven biển tập trung tới 3/4 khu du lịch tổng hợp và 10/17 khu

du lịch chuyên đề

Thời gian qua, du lịch biển – đảo ở nước ta đã phát triển khá mạnh với lượng khách và doanh thu tăng hàng năm Trong đó, du lịch biển – đảo thu hút khoảng 80% lượng khách đến Việt Nam và chiếm khoảng trên 70% doanh thu so với cá nước Trong bối cảnh hội nhập quốc tế với chính sách kinh tế mới, thì du khách quốc tế và nội địa sẽ tiếp tục tăng, tạo thuận lợi cho du lịch biển và du lịch sinh thái phát triển Điều này đồng nghĩa với tăng nhu cầu phát triển du lịch biển bền vững với phương châm: Sạch môi trường, đẹp văn hóa, hiện đại, dân tộc và độc đáo Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp trong lĩnh vực du lịch của cả nước, tập trung nhiều nhất ở, Bà Rịa - Vũng Tàu; Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng; Hải Phòng - Quảng Ninh Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch biển còn tạo việc làm gián tiếp cho 60 vạn lao động là các dân

cư ven biển Tuy nhiên, ngành du lịch biển – đảo của nước ta vẫn còn bộc lộ những hạn chế sau:

Thiếu những sản phẩm dịch vụ biển – đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế

Trang 35

Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch, thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước không có sự thay đổi đáng kể, mặc dù vùng ven biển là lãnh thổ

có nhiều thuận lợi hơn những vùng lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch,… du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch Năm

2006, khách du lịch quốc tế đến VN bằng đường biển chiếm khoảng trên 6% trong tổng lượt khách quốc tế Thời gian neo đậu của tàu du lịch ở các cảng chỉ từ 8 đến

24 giờ, do đó khách du lịch không có nhiều cơ hội tham quan, giải trí, mua sắm Các giá trị văn hóa biển truyền thống như lễ hội nghề cá, chọi trâu; các di tích văn hóa, lịch sử nổi tiếng ven biển như đền thờ, miếu mạo mang sắc thái biển (đền thờ Ông Cá Voi, thú biển…), các kiểu văn hóa làng chài, các thành tựu kinh tế qua các hội chợ triển lãm ở các thành phố ven biển,…đây cũng là những điều kiện hấp dẫn khách du lịch ra biển với nhiều mục tiêu trong một kỳ nghỉ, nhưng đến nay chưa được phát huy và lồng ghép vào kế hoạch phát triển du lịch biển – đảo bền vững

Các địa phương xây dựng Lễ hội du lịch biển cho riêng mình luân phiên theo từng năm Cách làm này tuy có sự chỉ đạo từ Tổng cục Du lịch nhưng vẫn là tình trạng “mạnh ai nấy chạy” mà không có cái tầm tổng thể Vừa không tạo được sức bật thu hút du lịch vừa không có ấn tượng gì về du lịch biển – đảo Việt Nam nói chung Nên chăng, chúng ta nên định vị cho mỗi địa phương giáp biển một phương cách phát triển du lịch biển riêng, như kiểu: resort nghỉ dưỡng tập trung ở miền Trung, du lịch biển mạo hiểm, sinh thái biển – đảo ở Nha Trang Sau đó tập trung

“sức” tiền của để quảng bá tổng thể cho du lịch biển – đảo Việt Nam như một điểm đến lý tưởng

Nằm trong khu vực biển có tính khắc nghiệt về mặt thời tiết, khí hậu, nên nước ta thường chịu nhiều rủi ro thiên tai (bão lũ, áp thấp nhiệt đới…) Nước ta cũng được cảnh báo về nguy cơ sóng thần và ngập lụt nặng nề từ kịch bản của nước

biển dâng do hiệu ứng nhà kính của sự ấm lên toàn cầu Các đợt nắng nóng kéo dài trong các năm gần đây đã khiến cho nhiệt độ nước biển trong mùa hè ở nước ta cao hơn nhiều so với mức thông thường Nước biển ấm lên làm thay đổi điều kiện sinh

Trang 36

thái biển và dẫn đến san hô bị chết trắng hàng loạt ở nhiều vùng biển trong cả nước Nước biển dâng cao và ấm lên sẽ làm ngập và phá hủy các hệ sinh thái ven biển và các ốc đảo san hô ngoài khơi, gây ra “thảm họa” sinh thái và triệt hại nguồn vốn tự nhiên đối với phát triển du lịch ven biển

Cùng với số lượng du khách đang tăng nhanh hàng năm, môi trường du lịch

ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây ngày càng trở nên ô nhiễm, đặc biệt tại các bãi biển du lịch nổi tiếng từ Bắc vào Nam Tình trạng dễ nhận thấy nhất là thói quen vứt, xả rác bừa bãi tại các bãi biển, các điểm tham quan khiến điểm du lịch nào thu hút đông du khách thì nơi đó ô nhiễm môi trường tăng nhanh

Hoạt đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản: Ngành thuỷ sản (chủ yếu

là hải sản) trong những năm gần đây đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta Năm 2010, giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm 17,76% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Đặc biệt ngành thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao, ước đạt 3.024 triệu USD năm 2009, đứng thứ 3 về xuất khẩu của cả nước sau dầu thô và dệt may Năm 2002 ngành thuỷ sản

đã đánh bắt và trồng được 2,57 triệu tấn, trong đó cung cấp cho công nghiệp chế biến khoảng 600 ngàn tấn Đến năm 2010 ngành thuỷ sản đã khai thác và nuôi trồng được khoảng 3,5 - 4 triệu tấn, trong đó cung cấp khoảng 1 triệu tấn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và đạt giá trị xuất khẩu khoảng 4 tỉ đô la và tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trực tiếp

Hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng ven bờ và thềm lục địa chiếm khoảng 80% lượng thuỷ sản khai thác toàn quốc Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ tiến hành ở vùng ven bờ biển đóng góp gần 90% tổng sản lượng thuỷ sản toàn quốc, đáp ứng gần 40% lượng chất đạm (protein) của cả nước Khai thác thủy sản là lĩnh vực kinh

tế đặc trưng của biển và tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Khai thác thủy sản bao gồm (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến) đã trở thành một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao Riêng lĩnh vực đánh bắt khơi xa, Nhà nước đã đầu tư hơn 1.300 tỷ đồng trong giai

Trang 37

đoạn 1997 – 2007 để đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ trong Chương trình đánh bắt cá xa bờ, tuy nhiên chưa đem lại kết quả như mong đợi

Như vậy, phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản ở nước ta ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước nói chung và công nghiệp nói riêng Trong đó ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản đã trở thành ngành mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao của ven biển nước ta

Hoạt động giao thông vận tải biển và các dịch vụ phục vụ vận tải biển: Với hơn 3.200 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng về cảng biển hết sức to lớn Hệ

thống cảng biển bao gồm khoảng 126 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có một số cảng đã

và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Sài Gòn, Cần Thơ Khối lượng hàng hoá thông qua cảng biển Việt Nam tăng nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng bình quân là 17%/năm Các cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn đạt một mức kỷ lục Nhưng nhìn chung các cảng biển vẫn đang ở trong tình trạng kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: Quy mô cảng nhỏ bé, thiết

bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container, những cảng tổng hợp

quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30 km), Sài Gòn (90km) luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn ra vào cảng, mặt bằng chật hẹp, thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt nối vào mạng lưới giao thông quốc gia Năm 2005, trong tổng số 126 cảng biển ở các vùng, miền thì chỉ có 4 cảng có công suất trên 10 triệu tấn/năm và 14 cảng có công suất trên 1 triệu tấn/năm, còn lại đều là cảng quy mô nhỏ, khả năng neo đậu được tàu 3.000 tấn trở xuống Thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của Singapore, 1/7 của Malaysia và 1/5 của Thái Lan) Năng suất xếp dỡ bình quân chỉ đạt mức trung bình thấp so với các nước trong khu vực (khoảng 2.500 - 3.000 tấn/mét/năm) Đội tàu biển mới chỉ có hơn 1.000 chiếc, trong đó tàu container có 20 chiếc Tuổi bình quân của đội tàu viễn dương lớn (15-17 tuổi), chi phí quản lý khai thác cao, trong khi đó các doanh nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, khó vay vốn đẩy mạnh đổi mới đội tàu và thiết bị trên tàu…

Trang 38

Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức Do vậy, việc xây dựng các

cảng nước sâu với trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiên tiến là yêu cầu bức xúc Đến nay, hầu hết các tập đoàn khai thác cảng biển và vận tải biển hàng đầu thế giới với nhiều dự án xây dựng và khai thác cảng container đã có mặt ở Việt Nam Sự đầu tư của các tập đoàn cảng biển lớn trên thế giới tại Việt Nam sẽ góp phần làm cho hệ thống cảng biển Việt Nam hiện đại hơn, thu hút một lượng khách hàng không nhỏ đến với Việt Nam

Nhận rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biển đối với phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghệ nói riêng nên trong 10 năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu tư cho một số cảng trọng điểm như: Hải Phòng, Cái Lân, Sài Gòn và một số cảng khác sẽ được đầu tư cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất hoặc chuyển đổi chức năng như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha Trang

Có thể nói, chính nhờ có hệ thống giao thông biển mà các trung tâm công nghiệp lớn của đất nước đã hình thành và phát triển như khu vực kinh tế trọng điểm Nam Bộ, Bắc Bộ gắn liền với cụm cảng Sài Gòn và Hải Phòng Chính nhờ có cảng biển nên đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hoặc xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chế biến

Hoạt động công nghiệp khai thác và chế biến liên quan đến tài nguyên biển: Ngành dầu khí ngày nay đã trở thành một trong những ngành chủ lực của Việt Nam,

là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước (hơn 3 tỷ USD hàng năm), gắn liền với kinh tế biển Gần như toàn bộ trữ lượng dầu khí của nước ta nằm trong thềm lục địa Trên phần diện tích thềm lục địa có chiều sâu nước đến 200m, đã phát hiện trữ lượng dầu khoảng 540 triệu tấn và 610 tỷ m3 khí Trữ lượng tiềm năng dự báo khoảng 900 - 1.200 tỷ m3 dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m3 khí Như vậy, trữ lượng tiềm năng tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu và các vùng chồng lấn Đến năm 2010, Việt Nam đã khai thác hơn 30 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó dầu thô khai thác khoảng 16 -18 triệu tấn, khí khoảng 11 - 13 tỷ m3 Nhờ có nguồn dầu khí khai thác, chúng ta có thể phát triển công nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hóa dầu) với quy mô lớn Các cơ sở công nghiệp này đều gắn liền với các vùng ven biển như khu

Trang 39

khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau; khu lọc hoá dầu Dung Quất, Nghi Sơn Đặc biệt, nhờ có khai thác dầu khí mà các ngành công nghiệp và dịch vụ tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát triển nhanh trong thời gian vừa qua

Dầu khí Việt Nam tuy chưa khai thác đúng tiềm năng nhưng được xem ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong các ngành khai thác biển Bên cạnh nguồn dầu khí, Việt Nam còn tiến hành khai thác nhiều loại khoáng vật, phi quặng (sa khoáng), photphorit, glauconit, pyrit, thạch cao, kết hạch sắt, mangan, cát vôi san hô và cát sạn sỏi, cát thủy tinh…

Kinh tế đảo: Với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở vùng ven bờ

và các quần đảo ngoài khơi, nước ta có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế hải đảo Mỗi đảo là một “thỏi bạc”, bên cạnh các giá trị cảnh quan nổi, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá và

du lịch sinh thái biển Ngoài ra, một số hòn đảo còn có lợi thế vị trí địa lý để phát triển dịch vụ cảng biển, hàng hải

Tóm lại, các hải đảo của nước ta đa dạng, giàu tiềm năng, song cho đến nay chưa có tài liệu điều tra khảo sát, công trình nghiên cứu đầy đủ và toàn diện nào về hiện trạng, tiềm năng và khả năng phát triển của các hải đảo Thế mạnh của các hải đảo chưa được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển của đất nước Vì vậy, nhiều đảo có điều kiện để phát triển nhanh nhưng chưa được đầu tư đúng mức và toàn diện Một số đảo có điều kiện phát triển kinh tế thì chưa được quy hoạch, thiếu nguồn vốn, thiếu lao động Một số đảo tiền tiêu chưa có dân sinh sống, chưa có chính sách khuyến khích thích đáng những người lao động ra sinh sống ở tuyến đảo Trình độ văn hoá, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nhiều đảo còn thấp kém, còn thiếu nhà trẻ, trường học, bệnh viện, nước ngọt, điện, phương tiện thông tin truyền hình, công cụ để sản xuất

Trong nhiều năm qua, kinh tế hải đảo tiến triển một cách tự phát theo nhu cầu mưu sinh của người dân mà thiếu chiến lược rõ ràng của Nhà nước Thực tế, người dân ra đảo “định cư” vì sinh kế, do đó thường có tâm lý “có cái gì khai thác cái đó” nên hiện tượng phá rừng trên đảo, khai thác hải sản quá mức,… diễn ra khá

Trang 40

phổ biến Nguồn lợi hải sản cũng bị cạn kiệt nhanh chóng Số lượng loài hải sản có mức độ nguy cấp đưa vào Sách đỏ Việt Nam ngày càng tăng Hệ quả là sinh kế của hơn 20 triệu người dân sống ở các đảo và ven biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đời sống của họ vẫn nằm trong cái vòng luẩn quẩn: Nhu cầu sinh kế - khai thác quá mức - cạn kiệt nguồn lợi - nghèo khó…

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng nêu trên, trong đó phải kể đến việc thiếu quy hoạch tổng thể cũng như các quy hoạch chi tiết về phát triển kinh tế - xã hội hải đảo Do thiếu quy hoạch, cho nên từ cấp Trung ương đến cấp địa phương chưa có chính sách và biện pháp quản lý hải đảo phù hợp Việc áp dụng mang tính

rập khuôn mô hình quản lý kinh tế - xã hội trong đất liền cho hải đảo là không phù hợp, bởi vì không gian kinh tế biển đảo hoàn toàn khác không gian kinh tế trong đất liền Hơn nữa, vì biển và hệ thống đảo trải dài qua nhiều vùng tự nhiên nên thế mạnh của từng vùng biển, từng hòn đảo có khác nhau Nếu các nhà quy hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý biển đảo không tìm ra được tính đặc thù của từng hòn đảo thì khó có thể phát triển kinh tế hải đảo thành công

1.2.1.5 Đánh giá chung

Biển Việt Nam chứa nguồn tài nguyên, thiên nhiên phong phú, đa dạng với trữ lượng, quy mô lớn, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư kinh tế biển đóng góp khoảng 47% - 48% GDP giai đoạn 2000 – 2008, trong đó GDP của riêng kinh tế biển chiếm khoảng 22% tổng GDP cả nước

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế biển năm 2010

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Âu (2008), Địa lý Biển Đông, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý Biển Đông
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
2. Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên, Du lịch sinh thái, NXB khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), Nghị quyết 09/2007/NQ-TW ( Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 09/2007/NQ-TW (Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
4. Cục thống kê Khánh Hòa (2010), Niên giám thống kê 2009 , Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2009
Tác giả: Cục thống kê Khánh Hòa
Năm: 2010
5. Phạm Thị Hoàng Dung (2009), Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang, Luận văn thạc sỹ Địa lý học, Trường Đại học sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Dung
Năm: 2009
6. Huỳnh Hiếu, Cầm Văn Kình (2011) , “Nhân lên tình yêu nước, yêu biển đảo” , Báo Tuổi trẻ, (số 132/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân lên tình yêu nước, yêu biển đảo”", Báo Tuổi trẻ
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
8. Nguyễn Kim Hồng (2006), Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập
Tác giả: Nguyễn Kim Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Chu Viết Luân (2004), Khánh Hòa - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khánh Hòa - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI
Tác giả: Chu Viết Luân
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Phạm Trung Lương (2001), Tài nguyên và du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Phạm Trung Lương (chủ biên), Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh, Đỗ Quốc Thông (2001), Du lịch sinh thái – Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái – Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương (chủ biên), Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh, Đỗ Quốc Thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
12. Đặng Văn Phan (2007), G iáo trình tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam , Đại học dân lập Cửu Long, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Phan
Năm: 2007
13. Vũ Trung Tạng (1979), Nguồn lợi sinh vật Biển Đông , NXB KH&KT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi sinh vật Biển Đông
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Nhà XB: NXB KH&KT
Năm: 1979
14. Quách Tấn (1992), Xứ Trầm Hương, NXB Tổng hợp Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Trầm Hương
Tác giả: Quách Tấn
Nhà XB: NXB Tổng hợp Khánh Hòa
Năm: 1992
15. Đặng Ngọc Thanh (2009), Biển Đông ( tập IV – Sinh vật và sinh thái biển ), NXB khoa học tự nhiên và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông (tập IV – Sinh vật và sinh thái biển
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2009
16. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 (số: 251/2006/QĐ-TTg) , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 (số: 251/2006/QĐ-TTg)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
17. Lý Thái Thuận (1990), Biển – Cái nôi sự sống , NXB Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển – Cái nôi sự sống
Tác giả: Lý Thái Thuận
Nhà XB: NXB Long An
Năm: 1990
18. Đặng Việt Thủy (2009), Hỏi đáp về các đảo, quần đảo, vịnh, vũng nổi tiếng ở Việt Nam, NXB quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về các đảo, quần đảo, vịnh, vũng nổi tiếng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Việt Thủy
Nhà XB: NXB quân đội nhân dân
Năm: 2009
19. Tỉnh ủy Khánh Hòa (2010),Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI (2010-2015), Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI (2010-2015)
Tác giả: Tỉnh ủy Khánh Hòa
Năm: 2010
20. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2001), Kỷ yếu diễn đàn các nhà lãnh đạo quản lý tổng hợp vùng bờ tại Việt Nam , Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu diễn đàn các nhà lãnh đạo quản lý tổng hợp vùng bờ tại Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Một số ví dụ về ranh giới vùng bờ - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 1.1 Một số ví dụ về ranh giới vùng bờ (Trang 19)
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế biển – đảo  1.1.6 . Vai trò của phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành kinh tế biển – đảo 1.1.6 . Vai trò của phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo (Trang 28)
Bảng 2.2: Số lao động và cơ cấu lao động theo ngành kinh tế Tỉnh Khánh Hòa - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 2.2 Số lao động và cơ cấu lao động theo ngành kinh tế Tỉnh Khánh Hòa (Trang 63)
Bảng 2.3: Số lao động tạo việc làm mới , tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sử dụng thời - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 2.3 Số lao động tạo việc làm mới , tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ sử dụng thời (Trang 64)
Bảng 2.5: Doanh thu du lịch                                                                                             (Đơn vị: triệu đồng) - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 2.5 Doanh thu du lịch (Đơn vị: triệu đồng) (Trang 69)
Bảng 2.4: Số khách du lịch đến Khánh Hòa qua các năm - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 2.4 Số khách du lịch đến Khánh Hòa qua các năm (Trang 69)
Bảng 2.7: Sản lượng muối Khánh Hòa qua các năm  Năm  2004  2005  2006  2007  2008  2009  2010 - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 2.7 Sản lượng muối Khánh Hòa qua các năm Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 (Trang 78)
Bảng 3.1: Dự báo hàng hoá qua cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong qua các năm - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1 Dự báo hàng hoá qua cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong qua các năm (Trang 100)
Bảng 3.2: Dự báo xu thế hợp tác giữa nước ta với các nước, khu vực và khả - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Bảng 3.2 Dự báo xu thế hợp tác giữa nước ta với các nước, khu vực và khả (Trang 104)
Sơ đồ 3.2: Mối quan hệ và tương tác giữa các cơ quan ban ngành trực thuộc - phát triển tổng hợp kinh tế biển – đảo tỉnh khánh hòa
Sơ đồ 3.2 Mối quan hệ và tương tác giữa các cơ quan ban ngành trực thuộc (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w