LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI và dân Bến Tre nói chung, huyện Châu Thành nói riêng đã vượt qua bao khó khăn thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quê hương và làm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGỌC THƯ
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGỌC THƯ
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện tại Trường Đại học Sư Phạm, TP.Hồ Chí Minh
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Ký tên
Trần Thị Ngọc Thư
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, quý Thầy Cô Khoa sử giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn TS Lê Văn Đạt, thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn đến các Ban Ngành huyện Châu Thành, biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trân trọng biết ơn!
Tác giả luận văn Trần Thị Ngọc Thư
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CÁM ƠN 4
MỤC LỤC 5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 7
THỐNG KÊ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN 8
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 5
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7
6 BỐ CỤC 7
CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) TRƯỚC NĂM 1986 8
1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) 8
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 12
1.1.3 Tr uyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) qua các thời kỳ lịch sử 14
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ sau ngày giải phóng đến trước đổi mới (1975-1985) 19
1.2.1 Tình hình kinh tế 21
1.2.2 Tình hình xã hội 24
CHƯƠNG 2: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE) TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010 32
2.1 Huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đất nước đổi mới 32
2.1.1 Bối cảnh lịch sử mới 32
2.1.2 Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng 33
Trang 62.2 Chuyển biến về kinh tế huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm
1986 đến năm 2010 35
2.2.1 Trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp 35
2.2.2 Trong công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 48
2.2.3 Thương mại - dịch vụ - du lịch, xuất nhập khẩu 54
2.2.4 Tài chính ngân hàng 62
2.2.5 Trong giao thông vận tải 68
2.2.6 Trong xây dựng cơ bản 73
CHƯƠNG 3: CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) NHỮNG NĂM 1986 - 2010 86
3.1 Chủ trương đổi mới về xã hội của Đảng 86
3.2 Biến đổi về xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm 2010 87
3.2.1 Biến đổi về đời sống vật chất 87
3.2.2 Biến đổi về đời sống tinh thần 96
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 1
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HĐBT: Hội đồng bộ trưởng
BVBMTE: Bảo vệ bà mẹ và trẻ em
THCS: Trung học cơ sở
TDTT: Thể dục thể thao
GĐTT: Gia đình thễ thao
NDTQ: Nhân dân tự quản
TDĐKXDĐSVH: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Trang 8THỐNG KÊ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1: Thống kê các loại cây trồng của huyện Châu Thành từ năm 1995
đến năm 2010
Bảng 2.2: Giá trị ngành trồng trọt từ năm 1995 đến năm 2010
Bảng 2.3: Thống kê cơ cấu, sản lượng chăn nuôi của huyện Châu Thành từ
nghiệp huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010
Bảng 2.7: Danh mục các chợ của huyện Châu Thành
Bảng 2.8: Doanh số mua bán của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010 Bảng 2.9: Các mặt hàng xuất khẩu của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến
năm 2010
Bảng 2.10: Ngành ngân hàng của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010 Bảng 2.11: Sản lượng vận tải của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010 Bảng 2.12: Nhà ở của nhân dân huyện Châu Thành từ năm 1995-2010 Bảng 2.13: Sản lượng điện thương phẩm của huyện Châu Thành từ năm
1986 đến năm 2010
Bảng 2.14: Thống kê các trạm cấp nước nông thôn của huyện Châu Thành Bảng 2.15: Ngành thông tin liên lạc huyện Châu Thành từ năm 1986 đến
năm 2010
Bảng 3.1: Nhà trẻ của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010
Bảng 3.2: Mẫu giáo của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010 Bảng 3.3: Trung học cơ sở của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010
Trang 9Bảng 3.4: Trung học phổ thông của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
và dân Bến Tre nói chung, huyện Châu Thành nói riêng đã vượt qua bao khó khăn thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quê hương và làm nghĩa vụ trên chiến trường biên giới Tây Nam, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề rất quan trọng để bước vào thời kỳ phát triển mới
với thời gian rất ngắn lại gặp nhiều khó khăn: hậu quả nặng nề của 30 mươi năm chiến tranh, thiên tai liên tục; nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn đơn giản,… nhưng Đảng bộ và nhân dân Bến Tre nói chung, huyện Châu Thành nói riêng cùng cả nước đã giành được những thắng lợi bước đầu quan trọng Tuy nhiên, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở huyện Châu Thành giai đoạn này cũng tồn tại những hạn
đúng đắn đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) nói riêng Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào tình hình thực tế địa phương, từ năm 1986 đến năm 2010, kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) đã có những chuyển biến rõ rệt, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Dù vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong giai đoạn đổi mới cũng bộc lộ những hạn chế
kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ sau ngày đất nước giải phóng đến năm 2010, đặc biệt để thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ về
Trang 11kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010) của huyện là một vấn
đề mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới giai đoạn 1986 – 2010”
giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện, hệ thống, đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới tỉnh Bến Tre nói chung
và huyện Châu Thành nói riêng Đây là cơ sở khoa học cho các cơ quan có thẩm quyền đề ra những chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) đạt được những thành tựu to lớn
việc tìm hiểu, giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu được truyền thống của quê hương, về công cuộc đổi mới của Đảng
và nhà nước Qua đó thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quê hương, Tổ quốc ngày càng giàu mạnh
luyện công tác nghiên cứu khoa học, vận dụng vào công tác giảng dạy, đặc biệt phần lịch sử địa phương trong thời kỳ đổi mới
tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới giai đoạn
1986 – 2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử của mình
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
và các vùng nông thôn nói riêng là vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương quan tâm
để tiến lên” của đồng chí Nguyễn Văn Linh, “Xây dựng nhà nước của nhân dân, thành tựu và kinh nghiệm đổi mới” xuất bản năm 1991 của đồng chí Đỗ
Trang 12Mười,… Các tác phẩm này tập trung vào vấn đề kinh tế - xã hội có tính khái quát trên cả nước, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm, đưa ra định hướng giải pháp phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước
xuất bản năm 1995; “Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – một số vấn
đề lý luận cấp bách” của Trần Xuân Trường, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia năm 1996, … nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới nhưng mang tính khái quát
Nam trong thời kỳ đổi mới như: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp,
thành tựu và triển vọng” của Nguyễn Văn Bích, nhà xuất bản Hà Nội, năm
nghiệp năm 1998; “Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp
nông thôn” của Lương Xuân Quý, xuất bản năm 1999,… các công trình này
đã cung cấp cách đánh giá công cuộc đổi mới trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Tre và kinh tế - xã hội Bến Tre như:
đã cung cấp những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ vào các thế kỷ XVIII – XIX
thiên nhiên, phong thổ, phong tục, tập quán của vùng đất nam Bộ và công
cuộc khẩn hoang vùng biên giới Tây Nam Nguyễn Duy Oanh với “Tỉnh
Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1575 đến 1945)”, xuất bản năm
1971
bằng sông Cửu Long và Bến Tre:
Trang 13- Huỳnh Lứa với tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”, xuất
bản năm 1987, góp phần tìm hiểu về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có Bến Tre Tác giả đã khái quát quá trình di chuyển dân cư, khai hoang lập đồn điền, tổ chức sản xuất nông nghiệp, những biến đổi về mặt xã hội
Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, xuất bản năm 1990 đã nghiên cứu về các tộc người đang sinh sống trên mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long, đề cập mọi mặt trong sinh hoạt về kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống trên vùng đất này
XVII, XVIII, XIX” của Huỳnh Lứa, xuất bản năm 2000, đề cập đến quá trình
xác lập chủ quyền lãnh thổ, khai hoang lập ấp; Cuốn “Đồng bằng sông Cửu
Long vị trí và tiềm năng” xuất bản năm 1991 của Trần Hoàng Kim; “Nghề nông Nam Bộ” của Trần Xuân Kim, xuất bản năm 1992; “Lược sử khai phá vùng đất Nam Bộ Việt Nam” của Huỳnh Lứa chủ biên, xuất bản năm 1987
“Địa chí Bến Tre” do Thạch Phương, Đoàn Tứ chủ biên, xuất bản năm 2001
đã trình bày một cách tổng quát về lịch sử, điều kiện tự nhiên, hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội, danh lam thắng cảnh của tỉnh
Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX” do Trường Đại Học Sư Phạm
Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Cuốn “Bến Tre đất và người” trong Kỷ
yếu hội thảo khoa học về Bến Tre, xuất bản năm 1985,… đều có đề cập đến vấn đề kinh tế - xã hội Bến Tre
các cấp chính quyền Bến Tre đặc biệt quan tâm:
của tỉnh trong 10 năm đầu đổi mới
Trang 14- Quyển “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre 1930 – 2000”, xuất bản năm
2003, đây là sách viết về bối cảnh lịch sử Bến Tre trước giải phóng, những
hội và đã giành được những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội
hương giàu đẹp”, xuất bản năm 2010 viết về những thành tựu kinh tế - xã
hội của tỉnh Bến Tre
đề mang tính khái quát về công cuộc đổi mới đất nước Cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, trình bày có hệ thống về vấn
đề kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm
2010
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Đối tượng
Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010
3.2 Phạm vi nghiên cứu
(tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2010
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm 2010 Dựng lại bức tranh kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1986 – 2010)
Thành (tỉnh Bến Tre), đề tài đã rút ra những đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới, những bài học
Trang 15kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre)
Tre) trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay
4 NGU ỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tư liệu
Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh Bến Tre về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới
Tre, các niên giám thống kê lưu trữ tại phòng thống kê huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre)
chính trị tại những lần Đại hội Đảng bộ huyện từ năm 1975 đến năm 2010, báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm, báo cáo tổng kết và phương hướng hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre và Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, số liệu thống kê lưu trữ ở các Phòng ,
tế tại một số di tích lịch sử, đơn vị kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre, các tư liệu trên báo chí, mạng Internet, để làm phong phú và sáng tỏ nội dung của đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
pháp lịch sử và phương pháp logic
Trang 16Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp của chuyên ngành như phương pháp thống kê nhằm hệ thống các số liệu, kết hợp với phương pháp tổng hợp rút
ra những kết quả tổng hợp giúp hoàn thành đề tài
chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) so với thời
kỳ trước và sau đổi mới
hội huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre (giai đoạn 1986 – 2010)
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
(tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm 2010
phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới
trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay
sử địa phương, giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt đối với huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre)
6 B Ố CỤC
của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người, tình hình kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trước năm 1986
Chương 2: Chuyển biến kinh tế huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm
1986 đến năm 2010
Chương 3: Chuyển biến xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) những năm 1986 – 2010
Trang 17CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH
(TỈNH BẾN TRE) TRƯỚC NĂM 1986
1.1 Khái quát v ề vùng đất, con người huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre)
1 1.1 Điều kiện tự nhiên
huyện thị của tỉnh Bến Tre Huyện Châu Thành nằm ở đầu trên cù lao Bảo
và cù lao An Hóa, cách Thành phố Bến Tre 9 km về hướng Tây Bắc
Bến Tre năm 1929 Về mặt vị trí địa lý, diện tích, ranh giới, lúc này tỉnh Bến Tre chia làm 4 quận: hai quận Châu Thành và Ba Tri nằm trên cù lao Bảo và hai quận Mỏ Cày, Thạnh Phú nằm trên cù lao Minh, tất cả gồm 20 tổng, 94 làng Như vậy, huyện Châu Thành ngày ấy chiếm phần trên của cù lao Bảo (con sông Ba Lai lúc bấy giờ chưa bị bồi lắp, là ranh giới tự nhiên giữa cù lao Bảo và cù lao An Hóa), bao trùm cả ngoại vi thị xã và một số xã của huyện Giồng Trôm ngày nay Cù lao An Hóa lúc ấy thuộc về tỉnh Mỹ Tho
chót cù lao Bảo và đến cù lao An Hóa, bắc giáp tỉnh Tiền Giang (lấy con sông Tiền làm ranh giới), tây giáp ngã ba sông Hàm Luông – sông Tiền, nam giáp huyện Chợ Lách (lấy sông Hàm Luông làm ranh giới), đông giáp huyện Bình Đại, Thành phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm
(nam sông Ba Lai) Năm 1867, sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp chia Lục tỉnh thành 25 sở tham biện Cù lao Bảo nằm trong sở tham biện Bến Tre, còn cù lao An Hóa nằm trong sở tham biện Kiến Hòa Năm 1930, phần đất phía đầu cù lao Bảo nằm giữa sông Ba Lai và Hàm Luông được cắt
ra, lập thành quận Sóc Sải gồm 5 tổng, 27 làng
Trang 18Trước Cách mạng Tháng 8-1945, huyện Châu Thành gồm 5 tổng (Bảo Thành, Bảo Khánh, Bảo Hựu, Bảo Ngãi, Bảo Đức), chiếm phần phía tây cù lao Bảo, tính từ ranh giới các xã Phong Mỹ, Lương Quới, Lương Hòa ngược trở lên
thời một huyện mới cũng được thành lập lấy tên là huyện Tán Kế, gồm một
số xã của huyện Châu Thành và một số xã của huyện Ba Tri hợp lại Huyện Tán Kế chỉ tồn tại đến năm 1948 thì giải thể, các xã bị cắt ra trước đó thì nhập về huyện cũ Cũng trong thời gian này, để việc chỉ đạo được thuận tiện, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh quyết định chia huyện Châu Thành làm hai: một nửa ngang từ xã Sơn Đông, Tam Phước ngược trở lên thành huyện Sóc Sải (gồm 11 xã), phần còn lại vẫn gọi là huyện Châu Thành (gồm 25 xã)
Nam Bộ sáp nhập 6 xã ở phần đầu cù lao Minh (thuộc tỉnh Vĩnh Long), cù lao An Hóa (thuộc tỉnh Mỹ Tho) nhập vào tỉnh Bến Tre để thành một địa bàn thống nhất, tiện cho việc chỉ đạo và tổ chức chiến đấu Từ kênh An Hóa trở lên đến xã Phú Đức gồm 11 xã, thuộc huyện Sóc Sải, từ kênh An Hóa trở xuống đến xã Thới Thuận gồm 14 xã, thuộc huyện An Hóa Tỉnh Bến Tre lúc này gồm trọn diện tích 3 cù lao: Minh, Bảo và An Hóa, chia thành 7 huyện: Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách, Ba Tri, Châu Thành, Sóc Sải và An Hóa
lao An Hóa, sáp nhập vào Mỹ Tho như cũ Cho đến tháng 6-1956, chủ trương chung điều chỉnh lại địa giới các tỉnh phía Nam, cù lao An Hóa lại nhập với cù lao Bảo và cù lao Minh thành một tỉnh mới với tên là Kiến Hòa
định nhập lại hai huyện Sóc Sải và Châu Thành thành huyện Châu Thành (mới) Đến tháng 7-1972 – thời kỳ bình định ác liệt của địch – lại có quyết
Trang 19định của Tỉnh ủy chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây
nhập lại làm một, lấy tên là huyện Châu Thành gồm 24 xã Sau đó, 2 xã Phú Hưng và Sơn Đông được giao về Thị xã Bến Tre
Tiên Thủy, An Hiệp, Sơn Hòa, Mỹ Thành, Tân Phú, Quới Thành, Phú Đức, Phú Túc, Tường Đa, An Khánh, Thành Triệu, Tân Thạch, Quới Sơn, Giao Hòa, Giao Long, An Hóa, An Phước, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Hữu Định, Tam Phước và Thị trấn Châu Thành
người, Châu Thành thuộc loại huyện rộng trung bình của tỉnh, trong đó đất nông nghiệp chiếm 16.364 ha, bằng 72,4% diện tích tự nhiên Địa hình bằng phẳng, đất đai là đất phù sa màu mỡ Nằm ở phía đầu cù lao, huyện Châu Thành có ưu thế lớn về nông nghiệp so với các huyện khác ở trong tỉnh, đặc biệt về kinh tế vườn Tuy nhiên hằng năm, do ảnh hưởng của gió chướng, triều cường, những cánh đồng thuộc các xã phía đông huyện thường bị nhiễm mặn nhẹ
sản như Bình Đại, Ba Tri, hay trồng rừng, nuôi tôm cá nước mặn và lợ, nuôi nghêu như Thạnh Phú, Bình Đại
qua sông Tiền, đồng thời với các trục giao thông quan trọng, về phương diện địa lý kinh tế Châu Thành là huyện ven của khu đô thị thành phố Bến Tre, là huyện đầu cầu, cửa ngõ đối ngoại của tỉnh Bến Tre đối với các luồng giao lưu từ vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Sau khi cầu Rạch Miễu hình thành, vai trò cửa ngõ đối ngoại của huyện ngày càng được phát huy
Trang 20Ngoài ra, với vị trí thuộc đỉnh tam giác châu sông Tiền, đất đai có độ phì cao, chủ động nước theo triều và gần như nước ngọt quanh năm, Châu Thành còn là huyện trọng điểm phát triển kinh tế vườn của tỉnh, phát triển mạnh du lịch sinh thái, gắn kết với các trung tâm dịch vụ - thương mại, các
đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đảm bảo tốc độ
Khí hậu, thời tiết: Huyện Châu Thành có các đặc điểm chung về khí
hậu thời tiết so với tỉnh Bến Tre:
khí,…) phân hóa thành hai mùa tương phản: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11 trùng với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với gió mùa Đông Bắc Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm; chế độ khí hậu
quang năng trái ngược nhau, trong đó đáng lưu ý là lượng mưa thuộc vào loại trung bình thấp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (1.400-1.600 mm)
(10,5% lưu lượng sông Cửu Long), sông Hàm Luông (14% lưu lượng) và sông Ba Lai (<1% lưu lượng), biên độ triều dao động trong khoảng 1,89 – 2,59 m Phần lớn địa bàn phía Tây của huyện khá thuận lợi về thủy văn (không bị ảnh hưởng lũ, không nhiễm mặn 1-3 tháng vào mùa khô) Nhìn chung, điều kiện thủy văn tại địa bàn tương đối thuận lợi cho việc thâm canh cây trồng, phát triển các loại hình sản xuất khác và sinh hoạt dân cư; đây cũng là yếu tố tích cực bù vào hạn chế lượng mưa hơi thấp
một khu vực bị sạt lở tại Phú Đức, Tiên Long Trong khoảng 2 năm
2004-2005, tình trạng sạt lở trên kênh Giao Hòa tại An Hóa diễn ra tương đối nghiêm trọng
Trang 21Đất đai, khoáng sản: Trên địa bàn huyện Châu Thành có 3 nhóm đất
chính là nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất lập liếp
sa gley yếu tại khu vực phía Giao Long, Giao Hòa, An Phước, An Hóa
hoạt động nông chiếm 4,6% diện tích, phân bố tại Quới Sơn, Giao Long, Phú An Hóa; đất phèn hoạt động sâu chiếm 2,7% diện tích, phân bố tại Hữu Định, Tam Phước, An Hòa, An Hiệp
phù sa (phù sa bồi, phù sa gley, phù sa đốm rĩ, phù sa loang lổ đỏ vàng) được lên liếp, phân bố trên khắp địa bàn huyện
thích nghi cho phát triển kinh tế vườn và các loại rau màu
chỉ bao gồm cát san lấp (Phú Đức, Phú Túc, Tân Phú) và một số sét có khả năng làm gạch ngói (Tiên Thủy)
ngọt và ngọt pha lợ trên các thủy vực sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai tương đối đa dạng
1 1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
mưa nắng rõ rệt, nước ngọt quanh năm, đất đai màu mỡ; có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, ở vị trí cửa ngõ của tỉnh Bến Tre, huyện Châu Thành sớm hình thành nền kinh tế đa dạng Cây lúa chiếm diện tích 2.360
ha, dừa 5.000 ha, các loại cây ăn trái như chôm chôm, cam, quýt, sầu riêng chiếm 8.325 ha Ngoài trồng trọt, nhân dân còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá nước ngọt, làm các nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, chế biến
Trang 22đường, thủ công mỹ nghệ,… công nghiệp bước đầu phát triển; một số nhà máy, xí nghiệp lớn của tỉnh được đặt tại Châu Thành như nhà máy đường
An Hiệp, xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh,… đã đóng góp các tiềm năng thế mạnh của vùng đất trù phú này
kỷ chung lưng đấu cật chống chọi với thiên nhiên để sản xuất, xây dựng cuộc sống, giữa người Việt và người Hoa có sự đoàn kết gắn bó, hòa nhập trong cộng đồng dân cư
Cao Đài Tiên Thiên, Tin Lành,… Đạo Phật có nguồn gốc từ lâu đời, có đông tín đồ, chùa xưa nhất còn lại là Hội Tôn Cổ Tự thuộc xã Quới Sơn được xây vào năm 1740 Đạo Thiên Chúa có nhà thờ ở các xã: An Hiệp, Phú Đức, Phú Túc Đạo Cao Đài Tiên Thiên được thành lập vào năm 1927, Hội Thánh Trung ương đặt tại xã Tiên Thủy Đạo Hòa Hảo có ban đại diện
ở xã Quới Thành Nhìn chung, đại bộ phận tín đồ tôn giáo là nông dân
quá trình khai phá cách đây hơn 300 năm Dưới thời các chúa Nguyễn, Châu Thành còn thuộc đạo Trường Tồn Khi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần cho số
di thần nhà Minh dưới quyền chỉ huy của tổng binh Dương Ngạn Địch vào khai khẩn vùng Định Tường năm 1679 đã có những lưu dân người Việt vào sinh sống khai phá
Ngãi vào Việc đi lại bằng đường bộ lúc này còn nhiều khó khăn, nguy hiểm, nên nhiều lưu dân đã dùng ghe, thuyền theo đường biển vào Từ nhiều nơi khác, những lưu dân trong quá trình đi tìm đất mới để về đây hội tụ, cùng chung sức khai cơ dựng nghiệp Họ tập hợp thành những man, nậu, trại khai khẩn các vùng đất cao lập thành thôn xóm Những cư dân đầu tiên
Trang 23đã chống chọi với bao gian lao, nguy hiểm: thiên nhiên khắc nghiệt, rừng hoang, thú dữ (như cọp, heo rừng, cá sấu, trăn, rắn, Những câu chuyện dân gian còn truyền lại như câu chuyện sóng thần trên sông Ba Lai gây đắm thuyền chết người, cá sấu Ba Kè, chuyện Thần hổ ở Phú An Hòa,… đã chứng tỏ những khó khăn gian khổ, mà lớp người đi tiên phong mở đất đã
những ruộng lúa, vườn cau và vườn cây trái xanh tốt trải dài ở nhiều xã như Quới Sơn, Thạch Hồ (Tân Thạch ngày nay), Hàm Luông (Hàm Long), Tiên Thủy, Sơn Hòa Không biết tự bao giờ những câu ca dao đầy tự hào về những sản vật của quê hương như:
“Măng cụt Hàm Long
Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn…”
“Hòa Quới (Quí) với tổng Hòa Thinh (Thanh) Dừa khô thổ sản nổi danh Nam Kỳ…”
“Xoài chua, cam ngọt Ba Lai”
“Dừa xanh Sóc Sải, tơ vàng Ba Tri”
Tân Thành Đông Sự phồn thịnh của Châu Thành xa xưa đã được Trịnh Hoài Đức miêu tả: “Huyện Kiến Hòa (có một phần đất của Châu Thành ngày nay) đất mầu, ruộng tốt, trông bát ngát khôn cùng, dân đều lấy canh nông làm việc căn bản, nhà nào cũng có kho chứa lộ thiên, thóc gạo đầy ắp Tính kiệm cần, trung hậu nghiễm nhiên có thói xưa sót lại”[38; 151]
1.1.3 Truy ền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Châu Thành (t ỉnh Bến Tre) qua các thời kỳ lịch sử
Nam của Tổ Quốc Nhân dân Châu Thành nhất là ở các xã Tân Phú, Phú Đức, Phú Túc (nơi đóng binh của một mũi vu hồi của quân Tây Sơn) đã ủng
Trang 24hộ nghĩa quân Tây Sơn đánh tan 5 vạn quân Xiêm – Nguyễn trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút đưa sự nghiệp giữ nước thắng lợi
nước, nhân dân huyện Châu Thành sôi sục ý chí đánh giặc cứu nước Tụ nghĩa dưới cờ của các sĩ phu yêu nước như Phan Tôn, Phan Liêm (1867), Thủ Khoa Huân (1875), Tán Kế (11.1875), nhân dân huyện Châu Thành đã biểu thị mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất của mình Lực lượng nghĩa quân đã bám sát, tiêu diệt quân Pháp Chính sử sách của bọn thực dân cũng phải thừa nhận tinh thần dũng cảm của nghĩa quân “đã cầm dáo, cầm gậy đến chụp lấy lưỡi lê Người ta không thể phủ nhận sự can đảm của những người cận chiến, đã không sợ chết để chống lại binh lính thiện chiến có vũ khí đáng sợ” [38; 160]
khuất vẫn âm ỉ cháy trong lòng dân, các cuộc đấu tranh chuyển sang hình thức mới với các “Hội Kín”, phong trào Thiên Địa Hội, Hội Khuyến học, để
tự do tạo điều kiện để nhân dân huyện Châu Thành đến với Đảng Cộng Sản Việt Nam
của cho kháng chiến
Thành từ những năm 20 của thế kỷ XX, đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng Phong trào yêu nước của nhân dân diển ra mạnh mẽ, cùng với tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1927 - tổ chức tiền thân của Đảng
cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ đây là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch
Trang 25Từ khi có Đảng lãnh đạo đến cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thời kỳ cách mạng phát triển sôi nổi, khi tạm thời lắng xuống, trải qua biết bao khó khăn gian khổ, với nhiều hy sinh to lớn đến cuối cùng giành được thắng lợi
vẻ vang bằng một cuộc nổi dậy toàn dân dưới ngọn cờ của Việt Minh
dựng lực lượng, bố trí phòng thủ Lúc đầu, do chưa có kinh nghiệm, thiếu
vũ khí, lực lượng vũ trang chưa hình thành, thực dân Pháp tiến công ồ ạt Ngay từ đầu, tự vệ chiến đấu quân đã dũng cảm ngăn chặn chiếm đóng sâu vào nông thôn, chiến tranh nhân dân ở Châu Thành trở lại bao vây địch Tranh thủ thời gian khi Hiệp định sơ bộ ngày 6.3 và Tạm ước 14.9.1946, các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, mặt trận được củng cố Tại các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát, các ban hội tề do địch lập ra đều
bị giải tán
đánh theo chiến thuật du kích, tiêu hao sinh lực địch
đặc, các cơ quan Đảng, chính quyền Châu Thành phải tạm thời về cù lao Lá
phận trung kiên tích cực vẫn trở về cùng với nhân dân xây dựng căn cứ lõm, gây dựng cơ sở, làm du kích chiến tranh kháng chiến lâu dài
trong những năm 1950-1951, các đoàn quân, dân, chánh lần lượt trở lại địa phương và các căn cứ du kích trong lòng địch để hoạt động
xây dựng đời sống cho nhân dân, thực hiện chính sách ruộng đất đối với nông dân, chính sách Đại đoàn kết, chính sách tôn giáo và đẩy mạnh công tác ngụy địch vận
Trang 26Từ giữa năm 1952, Đảng bộ Châu Thành – Sóc Sải từng bước có định hướng đúng và vận dụng sáng tạo phương châm hoạt động hai vùng, đưa phong trào phát triển thành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện góp phần làm thất bại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”, thu hẹp vùng tạm chiếm, mở rộng vùng du kích và vùng giải phóng, phối hợp tích cực với chiến trường toàn tỉnh và đã giành thắng lợi to lớn [16; 34]
Sải kịp thời chuyển hướng tổ chức lãnh đạo chuẩn bị lực lượng và thế trận bước vào cuộc chiến đấu mới
bùng lên và ngay từ đầu bộc lộ rõ tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh
Ngô Đình Diệm – tay sai của Mĩ ngày càng hung ác Chúng thẳng tay đàn
chém giết không chỉ những người cộng sản mà cả những ai yêu nước tán thành thống nhất Tổ quốc Trong bối cảnh đó, Đảng bộ một mặt lãnh đạo giữ vững lực lượng, mặt khác chống lại khuynh hướng nôn nóng đấu tranh
vũ trang, xem nhẹ đấu tranh chính trị, kiên trì chuẩn bị thực lực
rõ nét: quần chúng nhân dân đòi vũ trang, đội Tiền phong lãnh đạo được củng cố, kiên quyết và linh hoạt trong sử dụng bạo lực đánh địch, kẻ thù bộc
lộ nhiều suy yếu
“Lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.” [17; 121] Nghị quyết đã đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng, đáp ứng sự mong chờ của cán bộ, Đảng viên và nhân dân huyện Châu Thành Huyện ủy Châu Thành đã chỉ đạo các xã vận động quần chúng đấu tranh Công tác xây dựng Đảng lúc này là đẩy mạnh
Trang 27phát triển đảng viên, xây dựng củng cố chi bộ để đảm bảo lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh ba mũi ở xã, ấp Quân và dân huyện Châu Thành tiến hành chống phá ấp chiến lược
chiến lược Các xã Quới Sơn, Song Phước, Phú Đức, Phước Thạnh và 70 ấp trong huyện hoàn toàn giải phóng Vùng giải phóng ngày càng được mở rộng
tranh đến mức cao ở nông thôn và tăng cường hủy diệt bằng bom đạn, thuốc độc hóa học
Thành giữ vững chiến lược tiến công, đánh địch với phương châm hai chân,
ba mũi, đánh Mỹ, diệt ngụy Cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 của quân và dân huyện Châu Thành đã có ý nghĩa to lớn và thu nhiều thắng lợi
con đường số 6 tạo điều kiện cho quân dân trong tỉnh tấn công vào Thị xã Sau năm 1968, là những năm khó khăn của phong trào cách mạng Châu Thành bằng kế hoạch “bình định cấp tốc” trong “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ Quân dân Châu Thành quyết tâm bám đất, bám dân, tổ chức đánh địch trong điều kiện hết sức gian khổ
việc tăng cường lực lượng Sau Hiệp định Pa-ri, chính quyền Mỹ - Ngụy đã
sử dụng 60% quân chủ lực, toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương mở trên
36 vạn cuộc hành quân lấn chiếm, giải tỏa hầu hết các vùng giải phóng mới
mở của chính quyền cách mạng Trong hai năm 1972-1973, quân và dân huyện Châu Thành vừa đối phó với kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” càng quét
ác liệt vùng giải phóng của địch, vừa tích cực thực hiện Nghị quyết 21 của
Trang 28Trung ương Cuối năm 1974, quân dân huyện Châu Thành gấp rút xây dựng lực lượng, hoàn thành công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 thắng lợi hoàn toàn Đó là kết quả của 30 năm đấu tranh bền bỉ, anh dũng của Đảng bộ và quân dân Châu Thành; là kết quả của sự quán triệt, chấp hành và vận dụng đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn sáng tạo của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương
dân Hàng ngàn người bị bắt bớ, tù đày, nhiều nhà cửa, ruộng vườn bị tàn phá, hàng trăm gia đình ly tán… Nhưng ngọn lửa cách mạng không bao giờ
bị dập tắt Người trước ngã, người sau tiến lên, quyết lấy máu xương đổi lấy độc lập tự do Cũng trong quá trình đó, Đảng bộ được xây dựng, trưởng thành, luôn kiên định, vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử, lãnh đạo nhân dân Châu Thành thực hiện sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương
1.2 Tình hình kinh t ế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ sau ngày giải phóng đến trước đổi mới (1975-1985)
nước thống nhất, nhân dân huyện Châu Thành cùng nhân dân cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Quân, dân Châu Thành bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, thực hiện đường lối cải tạo và phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước Vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, vừa phải xây dựng lại xã hội mới từ gốc tới ngọn Chiến tranh lâu dài và ác liệt
đã làm cho nền nông nghiệp của huyện gặp muôn vàn khó khăn Hơn 3/5 diện tích đất đai bị bom đạn, chất độc hóa học tàn phá Hàng ngàn ngôi nhà
đổ nát, cơ sở hạ tầng hầu như là con số không Chiến tranh đã làm cho hàng ngàn người dân phải sơ tán, sản xuất đình đốn, phải bắt đầu khôi phục lại từ đầu
Trang 29Hậu quả của chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ để lại vết tích nặng nề trong đời sống kinh tế và xã hội Trật tự trị an sau chiến tranh
có những biến động phức tạp Huyện Châu Thành được giải phóng khá nhanh có nghĩa là sự chuẩn bị quản lý xã hội vẫn chưa đầy đủ; bọn phản động do địch cài lại theo kế hoạch hậu chiến của chúng còn ẩn mặt Kẻ địch đầu hàng và tan rã tại chỗ, về mặt quân sự thì đây là điều có ý nghĩa, song
về mặt quản lý xã hội, nhất là buổi đầu, cần phải có biện pháp để đối phó Trong khi đó phải lo cái ăn, mặc, ở cho nhân dân trong huyện Nạn trộm cướp, lưu manh, văn hóa độc hại còn đầy rẫy
hòa bình, vừa có chiến tranh Hàng ngàn thanh niên của huyện Châu Thành một lần nữa lên đường bảo vệ Tổ quốc
tranh chuyển sang lãnh đạo xây dựng kinh tế và quản lý xã hội đòi hỏi sự trưởng thành về tư tưởng, chính trị và tổ chức với một chất lượng và qui mô hoàn toàn khác Từ những bỡ ngỡ vấp váp ban đầu, từ những thành công và
thành trong nhận thức, vận dụng ngày một đúng đắn đường lối của Trung ương, của Tỉnh ủy vào điều kiện cụ thể của địa phương, xác định được hướng đi, cách làm ngày một rõ mang lại hiệu quả ngày càng cao
những khó khăn riêng Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng bộ huyện Châu Thành đã từng bước tìm kiếm qui luật và mô hình quản lý thích hợp, vừa học tập vừa làm, từng bước khắc phục khó khăn để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới
Trang 301.2.1 Tình hình kinh t ế
Thời kỳ 1975-1978:
thôn, ổn định tình hình chính trị và đời sống nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của Đảng bộ Kinh tế của huyện gần như bị hủy diệt hoàn toàn do bom đạn và chất độc hóa học Vườn dừa bị trụi lá vì bom đạn, thuốc khai hoang,
bị phát quang đốt phá; ruộng lúa không thể gieo cấy được, kênh rạch bị lấp cạn, và còn nhiều bom đạn lép rơi vãi Nhân dân trở về vườn cũ khai hoang phục hóa trồng lại các loại dừa, chuối, mía,… Đội an ninh, du kích đã giúp dân tháo gỡ trái gài, lượm đạn lép còn sót lại để mở rộng diện tích canh tác, những hố bom đìa được nhân dân cải tạo thành những ao nuôi cá hoặc san lấp thành những bãi, lõm gieo cấy lúa Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân chỉ hai năm sau trên 14.000 ha đất đai hoang hóa đã được khôi phục Phong trào làm thủy lợi đã động viên được hàng ngàn lượt người tham gia
vùng cao sản 4,5 tấn/ha; gia cầm vượt hơn năm 1977 là 50%, màu xanh đã phủ kín trên “vùng đất trắng”.[16; 238]
làm thí điểm xây dựng hợp tác xã hóa về ruộng Đến năm 1978, xã Hữu Định đã có cơ sở thực hiện hợp tác hóa về vườn
nghiệp”, Đảng bộ và nhân dân huyện Châu Thành đã khắc phục mọi khó khăn về vật tư, nhân lực,… đẩy mạnh công tác thủy lợi Trong năm 1976, một phong trào thi đua làm thủy lợi dấy lên sôi nổi trong tỉnh Nhân dân các
ấp Phú Nhơn, Phú Ngãi đã tham gia nạo vét các tuyến nội đồng trong xã, đi đào kênh ở Đồng Năng (Tường Đa) và nhiều nơi trong huyện Đi đôi với việc làm thủy lợi nhỏ như đào và nạo vét kênh mương, huyện đã xây dựng các công trình thủy lợi lớn, xây dựng các trạm bơm điện, đưa nước ngọt về tưới tiêu những cánh đồng nhiễm phèn
Trang 31Trong hai năm 1976-1977, toàn huyện Châu Thành đã nạo vét 80 con kênh lớn nhỏ, đào 3 con kênh dài 15.000 m và 29 kênh sườn khoảng 20.000
m, đắp 2 bao ngạn ở Phú Đức cặp sông Ba Lai; hoàn chỉnh một số cống ở Hữu Định, An Hóa, Giao Hòa, Tường Đa và đường 17,…
mặn trữ nước ngọt, những trục kênh chính dẫn nước ngọt thau chua, rửa phèn và hệ thống kênh, mương nội đồng, những trạm bơm điện đã đảm bảo tưới tiêu cho 6.632 ha lúa trong năm 1977.[16; 239]
thời với công tác cải tạo công - thương nghiệp
khăn do nạn thiên tai, hạn hán, sâu rầy liên tiếp gây thiệt hại nặng nề làm nhiều vùng lúa trong huyện bị thất trắng cùng với tình hình biên giới căng thẳng Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành đã vận động nhân dân đẩy mạnh công tác thủy lợi hóa, nạo vét tuyến kênh mương trong huyện bảo đảm đủ nước cho dân gieo cấy, vận động nhân dân chuyển từ tập quán làm lúa 1 vụ
cấy thay cho những giống lúa có năng suất thấp Trong hợp tác hóa nông nghiệp do nóng vội, giản đơn, thiếu chuẩn bị các điều kiện bảo đảm, nhất là cung cách quản lý sản xuất theo kiểu hành chính, quan liêu bao cấp nên đã không khuyến khích người xã viên hăng hái sản xuất, nên tổ chức tập đoàn sản xuất không phát triển tốt, ảnh hưởng đến đời sống nông dân Tác động của những sai sót trong cải tạo công - thương nghiệp đối với nông thôn làm cho giá cả thị trường biến động
nông nghiệp và trên lĩnh vực phân phối lưu thông Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) đã chủ trương cho sản xuất bung ra,
dở bỏ những trạm kiểm soát theo kiểu ngăn sông cấm chợ, cho hàng hóa
Trang 32được lưu thông tự do ở các vùng, miền trong nước tạo điều kiền cho sản xuất phát triển Nhân dân trong huyện vẫn bám ruộng vườn, bền bỉ sản xuất, vẫn hăng hái hưởng ứng các phong trào tòng quân cứu nước, xây dựng các công trình phúc lợi ở nông thôn Điều đó càng khẳng định bản chất cách mạng của nhân dân huyện Châu Thành một lòng theo Đảng
Thời kỳ 1980-1985:
về cải tiến công tác khoán, thực hiện khoán sản phẩm đến tay người lao động trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Trung ương, Huyện ủy đã đề ra chủ trương, phương hướng toàn diện hơn đối với nông nghiệp nông thôn
đổi hàng hóa được thuận lợi hơn Thêm vào đó từ năm 1980, sản xuất nông nghiệp đã bình ổn, nạn thiếu đói được khắc phục Thực hiện chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư, các tập đoàn sản xuất Phú An Hòa đã chuyển sang thực hiện khoán sản phẩm cho các tập đoàn viên thay cho hình thức chấm công điểm Các tập đoàn đã tích lũy vốn mua sắm công cụ, cơ giới phục vụ sản xuất nông nghiệp Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự quan tâm chăm sóc của nông dân, năng suất lúa ở các tập đoàn tăng từ 2-3 tấn/ha/vụ lên 4-5 tấn/ha/vụ, tập đoàn Quyết thắng có năng suất lúa đạt 15 tấn/ha/năm là đơn vị điển hình sản xuất giỏi nhiều năm liền Bên cạnh đó, kinh tế vườn có bước phát triển Các vườn dừa được cải tạo, trồng mới, bón phân tăng thêm thu nhập cho nông dân Đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân tăng gấp 3 lần năm 1975, một số hộ bắt đầu có tích lũy
nghiệp với hình thức phổ biến là tập đoàn sản xuất; tập thể hóa 80% số hộ
Trang 33nông dân sản xuất tập thể, với 152 tập đoàn và 1 hợp tác xã Trong số này
có 2/3 tập đoàn làm ăn tốt
đã tổ chức được 84 tổ đoàn kết sản xuất và tổ nông dân trồng dừa Sản xuất lương thực đã có bước ổn định, vừa giải quyết được cái ăn cho nông dân, vừa giải quyết một phần nghĩa vụ đối với Nhà nước
đã cải tạo sắp xếp lại sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 95% trong đó 50% đưa vào tập đoàn sản xuất Giao thông vận tải đã đưa vào hợp tác xã 100%
xe ô tô, xe lam, đò khách và 14% đò vận tải Hơn 86% hợp tác xã mua bán làm ăn có lãi, trích nộp ngân sách cho xã Toàn huyện đã có trên 300 quầy hàng với 2 vạn khẩu phần xã viên, chi phối gần 70% hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nhân dân Huyện Châu Thành đã hình thành được 5 tổ chức kinh
tế cơ sở: nông, công, thương, tín, vận.[16; 246]
1.2.2 Tình hình xã h ội
hành có kết quả đấu tranh xóa bỏ văn hóa lạc hậu, đồi trụy, phản động, chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, từng bước xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa
tích cực của quần chúng, đặc biệt là phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đã được quán triệt và vận dụng đúng đắn, sự nghiệp văn hóa - giáo dục và xây dựng nông thôn mới của huyện có những chuyển biến mạnh mẽ
1.2.2.1 Về giáo dục – đào tạo
mới”, theo sự chỉ đạo của nhà nước, huyện Châu Thành đã chuyển toàn bộ
hệ thống giáo dục phản động cũ sang hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa
Trang 34Công việc đầu tiên là công lập hóa trường tư, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp một cách hợp lý quan tâm đến các vùng nông thôn sâu Chính quyền cách mạng đã sử dụng số giáo viên kháng chiến (87 người) và thực hiện chính sách lưu dụng giáo viên cũ, giữ lại phần lớn số giáo viên chế độ
cũ (có 521 giáo viên cấp I, II, III), tổ chức bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ
để tiếp tục giảng dạy và mở thêm nhiều lớp đào tạo cấp tốc giáo viên bổ sung cho các trường Ngành giáo dục cho phục hồi các trường lớp cũ, mở thêm trường lớp mới, vận động nhân dân hỗ trợ cây, tre, lá để dựng trường lớp Phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa được phát động
sau 2 năm (năm 1976 và 3 tháng đầu năm 1977) cơ bản hoàn thành xóa mù chữ cho nhân dân Đến năm 1995, huyện được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Sự nghiệp
phục vụ nhu cầu học tập của học sinh Số học sinh đến trường ngày càng tăng Niên học 1976-1977, có 28.662 học sinh Niên học 1977-1978 nâng
triển có 2 trường mầm non, 4 trường mẫu giáo độc lập trong 19 điểm trường của hệ thống giáo dục mầm non, tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi vào lớp đạt 85,5% Bậc tiểu học có 19 điểm trường, tỷ lệ huy trẻ 6 tuổi vào lớp đạt 89,05%, trẻ
tốt nghiệp đạt 89,36%.[88; 67]
phát triển Nguyên lý giáo dục cách mạng đã thể hiện ngày càng tốt hơn trong nội dung chuyển nhà trường theo hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với đời sống, với mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện Nội dung giáo dục quốc phòng, giáo dục lao động và hướng nghiệp ngày càng được coi trọng
Trang 35Đặc biệt là công tác giáo dục truyền thống cách mạng được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức nội dung phong phú
đều ở mỗi vùng và còn nhiều vấn đề đáng lo ngại so với mục tiêu đào tạo, nhưng ở các nhà trường vẫn phấn đấu để “thầy dạy tốt, trò học tốt” Số học sinh các trường phổ thông và cơ sở tăng lên Năm học 1982-1983, có 37.012 học sinh Phong trào thi đua hai tốt được tiếp tục đẩy mạnh Nhiều điển hình tiên tiến xuất hiện trong ngành giáo dục như trường Phổ thông cơ sở Phú Đức, trường Phổ thông cơ sở Tân Phú
các đoàn thể, từng gia đình chăm lo sự nghiệp giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục theo mục tiêu đào tạo người lao động mới cả về đạo đức và kiến thức văn hóa cho thanh thiếu niên Mỗi nhà trường phải thể hiện tốt tính chất xã hội chủ nghĩa mà nội dung cơ bản là cơ chế làm chủ tập thể, mối quan hệ thân ái và bình đẳng, tính khoa học và kỷ luật chặt chẽ của môi trường sư phạm
1.2.2.2 Văn hóa – xã hội
thể thao, đền ơn đáp nghĩa trong sự phát triển toàn diện huyện Châu Thành, ngay sau giải phóng, huyện đã tập trung chỉ đạo các ban ngành tổ chức thực hiện
lại cuộc sống tinh thần vui tươi, lành mạnh cho nhân dân Các hoạt động văn hóa thể hiện qua các câu lạc bộ sáng tác, câu lạc bộ nhiếp ảnh, câu lạc bộ ca nhạc tài tử và chi hội văn học nghệ thuật, hoạt động thư viện mở rộng bằng các tủ sách trong các khu dân cư tiên tiến
người xem Tổ chức tốt các lễ hội, các ngày lễ kỷ niệm lịch sử gắn với việc giáo dục truyền thống Xây dựng phòng truyền thống, bia tưởng niệm của
Trang 36huyện và các xã anh hùng Hoạt động thể dục thể thao phát triển phong phú, phục vụ hàng chục vạn người xem, hàng năm tham gia các giải của tỉnh,
nhiều tranh ảnh, sách báo, phim nhạc cũ được thu gom, bài trừ nạn mê tín dị đoan, đồng bóng, bói toàn
các nhà trường, cơ quan, xí nghiệp Nhiều hoạt động văn hóa – thể dục thể thao được tổ chức Tuy chất lượng và quy mô chưa toàn diện, song đã thu hút đông đảo mọi người tham gia, hưởng ứng tốt phong trào toàn dân rèn luyện thân thể
Từ năm 1975-1985, Ban Thương binh – xã hội đã qui tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ huyện Châu Thành, đề nghị tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi tặng quà gia đình chính sách, lập danh sách thương binh hạng 3-4 và thân nhân liệt sĩ đề nghị cấp bảo hiểm y tế, vận động trong và ngoài huyện, tỉnh xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương cho thương binh
và hộ nghèo Trong 2 năm 1984-1985, đã tổ chức thăm viếng các gia đình thương binh, liệt sĩ, trợ cấp thường xuyên bảo hiểm y tế cho 14 cụ ở độ tuổi 90.[16; 249]
chấp hành chính sách thương binh và xã hội Nổi bật là phong trào tập thể
và cá nhân đỡ đầu thân nhân liệt sĩ, phong trào mở sổ vàng, quỹ bảo trợ, sổ tiết kiệm cho cha mẹ, con liệt sĩ, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, giúp vốn xây dựng kinh tế gia đình cho đối tượng chính sách
trợ kinh phí tặng quà cho trên 5.000 lượt người trong diện chính sách, 84 mẹ Việt Nam anh hùng còn sống Đến cuối năm 1985, huyện Châu Thành đã bàn giao 36 nhà tình nghĩa, 21 nhà tình thương tặng sổ tiết kiệm trên 100
Trang 37triệu đồng và hỗ trợ trên 20 triệu đồng sửa chữa 50 căn nhà cho thương binh hạng 1/4, giúp 100 hộ diện chính sách trên 50 triệu đồng để sản xuất Phong trào đền ơn đáp nghĩa của huyện Châu Thành đã ổn định một bước đời sống gia đình chính sách
phối hợp giữa lực lượng vũ trang, công an nhân dân và phong trào quần chúng nên đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý những vấn đề nảy sinh Các tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện giảm đáng kể Công tác tuyển quân được chỉ đạo chặt chẽ và đi vào nề nếp
ngày giải phóng huyện Châu Thành vừa phải tiếp thu, tiếp quản và cải tạo
cơ sở vật chất, vừa chữa trị một số lượng lớn bệnh nhân, vừa phải giải quyết những hậu quả về môi trường, sức khỏe nhân dân sau cuộc chiến tranh tàn khốc
phục và phát triển, kiện toàn mạng lưới y tế từ các tuyến cơ sở Tiến hành đào tạo bồi dưỡng cả về chính trị và chuyên môn, phát triển đội ngũ Huyện
có 1 Trung tâm y tế, 1 bệnh viện khu vực Sửa chữa nâng cấp tuyến cơ sở 5
xã, đầu tư xây dựng tuyến cơ sở 8 xã Bình quân 900 người dân có 1 cán bộ
y tế
sức khỏe và phòng bệnh hơn chữa bệnh, gắn liền y học dự phòng với thể dục thể thao, kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong chữa trị
gắng giải quyết chữa, trị bệnh xã hội, dập tắt ngăn chặn bệnh sốt rét, sốt xuất huyết xuất hiện hàng năm Các chương trình tiêm chủng mở rộng, phục hồi suy dinh dưỡng trẻ em; phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS được tiến hành thường xuyên
Trang 38Công tác sinh đẻ có kế hoạch đạt được kết quả, quần chúng thấy rõ hơn
sự cần thiết và lợi ích của việc hạn chế sinh đẻ, nên đã hưởng ứng tích cực chủ trương của Nhà nước
ngành y tế của huyện có được, chính là nhờ sự nỗ lực to lớn của đội ngũ cán
bộ, nhân viên toàn ngành Nhiều cán bộ đã thể hiện lương tâm người thầy thuốc thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu”
tế, giải quyết tốt các khâu phát động phong trào quần chúng phòng chống bệnh, dịch, xử lý môi trường Các đội y tế lưu động đã khám chữa bệnh cho nhân dân không lấy tiền, kịp thời dập tắt các ổ dịch bệnh Phong trào vệ sinh phòng bệnh, ăn sạch, ở sạch được phát động thu hút đông đảo nhân dân trong huyện tham gia
Tiểu kết chương 1
lược, trọng yếu về kinh tế và quân sự
đương đầu với thiên nhiên nghiệt ngã và các kẻ thù hung bạo
đã phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua mọi thử thách gian nguy, khẳng định vai trò, vị trí của mình trong việc vận dụng sáng tạo và thực hiện
có hiệu quả đường lối của Đảng để xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương
1945, tiếp đến 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giải phóng quê hương Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Châu Thành đã được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng
Trang 39đầy gian nan thử thách ấy đã chứng minh rằng dù chỉ là một địa phương đất không rộng, người không đông, nhưng Đảng bộ và nhân dân huyện Châu
trọng và tự hào
đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khôi phục, ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Qua 10 năm xây dựng và phát triển (1975-1985), nền kinh tế của huyện Châu Thành
có những chuyển biến rõ nét Trong đó, nông nghiệp với vị trí là ngành kinh
tế mũi nhọn của huyện đạt được nhiều thành tựu to lớn Các nghề thủ công cũng được khôi phục và phát huy thế mạnh, đóng góp đáng kể vào nền kinh
tế Cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện được tu bổ, xây dựng, ngày càng có nhiều công trình phục vụ dân sinh và sản xuất
làm, phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết chế độ chính sách được tiến hành có kết quả đáng kể Với phương châm “Nhà nước
và nhân dân cùng làm”, nhiều công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh xá, nhà văn hóa, đường giao thông, trung tâm sinh hoạt thể dục thể thao,… được phát triển rộng khắp Các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, những người tàn tật, neo đơn được quan tâm giúp đỡ ổn định cuộc sống Công tác an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Phong trào toàn dân xây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa được triển khai rộng khắp, thu hút đông đảo nhân dân tham gia
huyện, công tác quản lý kinh tế còn gò bó, cứng nhắc, đã gây nên những tiêu cực và thiệt hại không nhỏ cho sản xuất kinh doanh Cơ cấu kinh tế
Trang 40công nghiệp còn phát triển chậm nên vẫn chưa phát huy vai trò trong việc thúc đẩy nông nghiệp phát triển
vận động xây dựng nếp sống mới chưa đạt kết quả cao; công tác y tế vẫn
thấp; đời sống gia đình chính sách còn nhiều khó khăn; tỉ lệ lao động chưa
có việc làm cao, dân số tăng nhanh, làm cho bình quân thu nhập theo đầu người thấp
ngỡ, lúng túng trước nhiệm vụ mới Trình độ, năng lực chưa đáp ứng kịp với yêu cầu Các tổ chức đoàn thể cách mạng còn yếu, chưa phát huy được hết vai trò Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu
cụ thể, nhất là trong xây dựng cơ bản Công tác quản lý và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội chưa đạt kết quả cao
quyền huyện Châu Thành cần phải có những giải pháp khắc phục tồn tại Đồng thời vận dụng tốt hơn quan điểm, chủ trương, chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nước để có được phương hướng, biện pháp phát triển kinh
tế - xã hội phù hợp hơn với tình hình của đất nước và thực tế tại địa phương trong thời kỳ đổi mới