Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh lớp 9 THCS .... Sử dụng câu hỏi để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hải Ninh
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TRI GIÁC
NGÔN NGỮ VÀ TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG
TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH CHO
HỌC SINH LỚP 9 Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hải Ninh
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TRI GIÁC
NGÔN NGỮ VÀ TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG
TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý chân thành và sự giúp đỡ từ quý thầy cô trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, khoa Ngữ văn và Phòng sau đại học trường Đại học sư phạm TP HCM đã tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn trong thời gian cho phép Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến người hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Viết Chữ Dù có những hạn chế nhất định về khoảng cách nhưng PGS.TS Nguyễn Viết Chữ đã nhiệt tình hỗ trợ và hướng dẫn tôi suốt quá trình làm luận văn
Dù đã cố gắng thực hiện và hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết
và năng lực của mình nhưng luận văn sẽ không thể tránh khỏi những mặt thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô và các bạn
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 3 năm 2012 Học viên
VŨ THỊ HẢI NINH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
PHẦN NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ RÈN NĂNG LỰC TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 9 THCS 17
1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương 17 1.1.1 Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật 17 1.1.2 Hình tượng, hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật 21
1.2 Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật của học sinh THCS 25
1.2.1 Năng lực và năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật 25
1.2.2 Năng lực tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ 28
1.2.3 Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh lớp 9 THCS 30
1.2.3.1 Học sinh lớp 9 với thơ trữ tình 30
1.2.3.2 Ba bài thơ trữ tình trong ấn tượng của học sinh 31
1.3 Những nhân tố chi phối việc rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình cho học sinh lớp 9 THCS 32
1.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình 32
1.3.2 Đặc điểm hình tượng thơ trữ tình 35
Trang 51.3.3 Đặc điểm thơ trữ tình hiện đại 37
1.3.4 Những nguyên tắc và yêu cầu định hướng rèn năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng thơ trữ tình 40
1.3.4.1 Nguyên tắc trong dạy học thơ trữ tình 40
1.3.4.2 Yêu cầu luyện tập kĩ năng cho học sinh 41
CHƯƠNG II THỰC TIỄN DẠY HỌC VÀ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 9 THCS 44
2.1 Khảo sát khả năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh 44
2.1.1 Mục đích khảo sát 44
2.1.2 Địa bàn khảo sát và đối tượng khảo sát 44
2.1.3 Phương pháp khảo sát 44
2.1.4 Nội dung khảo sát 44
2.1.5 Thời gian khảo sát: tháng 3, 4 năm 2010 45
2.1.6 Kết quả khảo sát 45
2.1.6.1 Khảo sát rèn năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ trữ tình đặt ra trong sách giáo khoa 45
2.1.6.2 Khảo sát phương pháp dạy thơ trữ tình của giáo viên THCS 46
2.1.6.3 Khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh qua giờ học 48
2.1.7 Kết luận về năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 9 THCS 51
2.2 Một số biện pháp rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh 56
2.2.1 Tích hợp kiến thức để giải mã ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình 56
2.2.2 Bằng biện pháp đọc thơ để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật 58
Trang 62.2.3 Sử dụng hệ thống bài tập rèn năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái
hiện hình tượng thơ 63
2.2.3.1 Mục đích, nguyên tắc thiết lập bài tập 63
2.2.3.2 Nội dung và hình thức bài tập rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật 64
2.2.4 Sử dụng câu hỏi để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật trong quá trình tổ chức cho học sinh tiếp cận văn bản thơ trữ tình 71
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM 76
3.1 Mục đích thực nghiệm 76
3.2 Yêu cầu thực nghiệm 76
3.3 Địa bàn, đối tượng và bài thực nghiệm 76
3.4 Thời gian và quá trình tiến hành thực nghiệm 77
3.4.1 Thời gian và quy trình thực nghiệm 77
3.4.2 Quá trình tiến hành thực nghiệm 78
3.5 Giáo án thực nghiệm 78
3.5.1 Yêu cầu chuẩn bị 78
3.5.2 Giáo án 80
3.5.3 Đánh giá thực nghiệm rèn năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, tái hiện hình tượng thơ trữ tình cho HS lớp 9 THCS theo một số biện pháp luận văn đề ra 106
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Thống kê số câu hỏi tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của các bài thơ trữ tình hiện đại lớp 9
Bảng 2 Thống kê kết quả khảo sát giáo án
Bảng 3 Thống kê kết quả phiếu khảo sát giáo viên
Bảng 4 Thống kê kết quả khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
Bảng 5 Thống kê kết quả khảo sát năng lực tái hiện hình tượng thơ trữ tình Bảng 6: Thống kê kết quả thực nghiệm để đánh giá năng lực tri giác của học
sinh trong sự so sánh đối chứng
Bảng 7: Thống kê kết quả thực nghiệm để đánh giá năng lực tái hiện hình tượng
thơ của học sinh trong sự so sánh đối chứng
Bảng 8: Tổng hợp và so sánh tỉ lệ năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình
tượng thơ trữ tình
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Luật giáo dục của nước ta thông qua ngày 5/5/2005 có nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Gần đây, trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”, Đảng ta cũng xác định: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc tiếp nhận tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh” Như vậy, những yêu cầu về nội dung, nhiệm vụ và phương pháp giáo dục đã được Đảng
và Nhà nước xác định rõ Tuy nhiên, trong thực tế, để đạt được nhiệm vụ và mục đích trên vẫn còn là thách thức đối với ngành giáo dục Nhiệm vụ của công tác giảng dạy ở trường phổ thông nói chung và việc dạy học môn Văn nói riêng là làm sao để khi ngồi trên ghế nhà trường, ngoài việc học được kiến thức cơ bản, các em còn hình thành được kĩ năng tự học
“Mỗi tác phẩm có phần “nói ra” và có phần “không nói ra”; có “ý tại ngôn ngoại” trong thơ, tính nhiều nghĩa của biểu tượng, đa nghĩa của liên tưởng và liên
tưởng ngoài tác phẩm ở bạn đọc” [31,215].Hình tượng tác phẩm là “tảng băng trôi”
có phần nổi và phầm chìm Điều đó tạo nên hệ thống mở cho tác phẩm văn học Vì thế, hoàn toàn có cơ sở khi lí thuyết tiếp nhận cho rằng tiếp nhận văn học chính là
sự “đồng sáng tạo” của bạn đọc với tác giả để tạo ra giá trị mới cho tác phẩm Nghĩa
là mỗi người đọc đều có cách hiểu, cách thưởng thức, đánh giá tác phẩm tùy thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm và thị hiếu thẩm mĩ theo tâm trạng chủ quan của mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là bạn đọc (học sinh) “đồng sáng tạo” với tác giả như thế nào, đến mức độ nào để không thoát li hình tượng tác phẩm theo suy diễn chủ quan của bản thân, không rơi vào phân tích xã hội học dung tục… Làm thế nào
Trang 10để trong giờ học văn nói chung và giờ học tác phẩm thơ trữ tình nói riêng học sinh không bị giáo viên áp đặt lối nghĩ mà được cất lên tiếng nói sáng tạo của mình nhưng không rơi vào sự cảm thụ tùy tiện chủ quan
Tác phẩm văn học là một nghệ thuật - nghệ thuật sử dụng ngôn từ Vì thế,
“Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (Groki) xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật Quá trình tiếp nhận tác phẩm là quá trình người đọc tiếp xúc lớp vỏ vật chất (ngôn ngữ) của tác phẩm để cảm thụ vẻ đẹp của chất liệu ngôn từ; từ đó cảm nhận được giá trị của hình tượng và cuối cùng là xúc cảm thẩm mĩ trước giá trị tác phẩm Như vậy, để hoàn thiện quá trình tiếp nhận văn học, học sinh phải đi từ bước khởi đầu có tính chất quyết định là tri giác đặc điểm ngôn ngữ và tiếp đến là tái hiện hình tượng tác phẩm đúng Bước khởi đầu này sẽ giúp các em hiểu và cảm được sâu sắc tư tưởng nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm Hơn nữa, thơ trữ tình là cả một thế giới vẻ đẹp của tâm hồn con người, của cuộc sống, dễ tạo hứng thú cho học sinh nhưng cũng thật khó cảm thụ trúng tư tưởng tình cảm mà thi nhân gửi gắm Do đó, đọc hiểu thơ trữ tình đòi hỏi học sinh phải được rèn luyện thực sự, đúng phương pháp để bồi dưỡng, phát huy hết khả năng tiềm ẩn, tạo cho các em yêu thích bộ môn
và có những năng lực văn học nhất định
Với học sinh lớp 9 THCS, việc rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình là bước đi vững chắc, phù hợp Học sinh lớp 9 đang ở thời kì phát triển mạnh về thể chất cũng như tâm lí Lứa tuổi này đã có ý thức về cá nhân, thích thể hiện cá tính, cảm xúc của bản thân, thích được người khác lắng nghe Kinh nghiệm sống, vốn văn học của các em cũng phong phú hơn lớp dưới Các em đã có sự phát triển về năng lực văn học; biết đánh giá, thưởng thức nghệ thuật…
Rất tiếc, trong dạy học văn giáo viên Ngữ văn THCS tuy có cố gắng thực hiện đổi mới phương pháp nhưng còn xa rời đặc trưng thi pháp thể loại, chưa chú ý rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh Vì thế, đứng trước một bài thơ trữ tình cụ thể, các em thường băn khoăn, lúng túng không
Trang 11biết phải bắt đầu từ đâu, tiến hành từng bước ra sao… Vì vậy, hiện tượng cảm thụ
mơ hồ, hời hợt, phiến diện tác phẩm đang diễn ra phổ biến ở học sinh phổ thông
Xuất phát từ các lí do trên, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu “Biện pháp rèn kĩ
năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình cho học sinh lớp 9 ở THCS” với mong muốn góp phần thực thi việc đổi mới phương
pháp dạy học môn Ngữ văn ở THCS và góp phần hiện thực hóa một phần nhiệm vụ của giáo dục
2 Lịch sử vấn đề
Thơ trữ tình vốn chiếm vị trí quan trọng trong các thể loại văn học Với các tác phẩm văn học trong nhà trường thơ trữ tình cũng chiếm tỉ lệ khá lớn Vì thế, quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường không thể không nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy học thơ trữ tình Có nhiều công trình nghiên cứu về thơ và giảng dạy thơ Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi lưu tâm đến những ý kiến thuộc hướng nghiên cứu về năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình
Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về
đổi mới PPDH môn Ngữ văn của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2005 có đề cập
chuyên đề: Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ
dạy học văn trong nhà trường là quá trình bồi dưỡng kĩ năng đọc, kĩ năng nghe mà biểu hiện ra ở kĩ năng nói, kĩ năng viết và quá trình phát triển năng lực tiếp nhận văn học Theo tác giả, “phát triển năng lực tiếp nhận của học sinh là hạt nhân của quá trình dạy học văn hiện đại” [7, 5] Đó là các năng lực: tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; tái hiện hình tượng; liên tưởng trong tiếp nhận văn học; cảm thụ cụ thể kết hợp với khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể; nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận; tự nhận thức và năng lực tự đánh giá
Trang 12Cuốn Hiểu văn, dạy văn, Nxb Giáo dục 2001, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh
Hùng cho rằng muốn cắt nghĩa văn bản “…phải nghiên cứu và xác định mối quan
hệ bên trong mỗi tác phẩm trữ tình thông qua tác động và chức năng của hình tượng
âm thanh, của cấu trúc câu thơ, của khổ thơ, của tính hình ảnh” [26,98] “Phân tích tác phẩm trữ tình cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt ngôn ngữ nghệ thuật” [20,103] Như vậy, để cắt nghĩa văn bản đòi hỏi người dạy và người học phải nhận diện được hình thức nghệ thuật, các mối quan hệ bên trong của tác phẩm trữ tình
Trong bài viết Về sự phân tích tác phẩm ngôn ngữ trong nhà trường (Tạp chí
ngôn ngữ số 2/ 1975), giáo sư Đinh Trọng Lạc đã nêu khá cụ thể quá trình phân tích tác phẩm nghệ thuật: Đó là quá trình đi từ hình tượng từ ngữ đến hình tượng nghệ thuật; từ việc làm sáng tỏ hình tượng nghệ thuật để làm nổi bật tư tưởng chủ đề Hoặc có thể nêu ngay tư tưởng chủ đề rồi dùng hình tượng nghệ thuật để chứng minh; nêu ngay những hình tượng nghệ thuật rồi phân tích các yếu tố ngôn ngữ Vấn đề quan trọng là biết xuất phát đúng; nghĩa là biết tìm ra đúng hình tượng từ ngữ và biết phân tích chúng một cách chính xác và tinh tế
Suy nghĩ về một phương pháp phân tích văn bản thơ của Trần Ngọc Thêm
đăng trên Tạp chí văn học số 5/1981 cho rằng phương pháp phân tích văn bản thơ
có những nguyên tắc chính Văn bản thơ là một thể thống nhất hoàn chỉnh có chứa một hệ thống các mối liên kết bên trong và các mối liên kết bên ngoài Theo tác giả
“Việc phát hiện các mối liên kết bên ngoài sẽ được tiến hành theo một qui trình đi
từ cái có mặt trên văn bản đến cái vắng mặt, từ hình thức đến nội dung, hình thức ngôn ngữ - thông tin sự kiện – khôi phục thông tin sự kiện – thông tin khái niệm” [54,36]
Giáo sư Phan Trọng Luận trong nhiều cuốn sách của mình như: Phương pháp giảng dạy văn( xuất bản 2001), Văn chương bạn đọc sáng tạo, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn…đều đề cập đến các năng lực tiếp nhận văn học Trong
cuốn Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục 1977 giáo sư cho
rằng: “Con đường đi vào tác phẩm văn học là con đường trải qua nhiều chặng,
Trang 13nhiều bước, nhiều giai đoạn để đi dần từ bề ngoài đến bên trong tác phẩm (…) Con đường đó bao giờ cũng bắt đầu từ công việc tri giác ngôn ngữ và lĩnh hội hình tượng tác phẩm từ những bình diện thấp cao khác nhau” Giáo sư cũng khẳng định
“việc xác định tư tưởng chủ đề tác phẩm chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở tái hiện những hình ảnh cụ thể sinh động trong tác phẩm” [30,110] “Tái hiện hình tượng tác phẩm không những là một thao tác tư duy để đi vào tác phẩm mà cũng là một bí quyết truyền thụ bài văn thành công” [30,113]
Rèn tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương của Nguyễn Trọng
Hoàn đã trình bày các nội dung của phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học văn Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng cho công việc dạy học tác phẩm văn chương Nhưng tác giả chủ yếu đi vào nghiên cứu năng lực liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương nói chung
Đề cập tới ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mã Giang Lân, Vũ Quần Phương, …đã chú ý tới sự đổi mới ngôn ngữ thơ
Việt Nam hiện đại Hữu Đạt có Ngôn ngữ thơ Việt Nam Trong cuốn Ngôn ngữ thơ
Nguyễn Phan Cảnh đã dành mục cuối cho “Sự khai thác về mặt tổ chức ngôn ngữ của thơ hiện đại”
Trên đây là những tài liệu đã đặt nền móng cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, các tài liệu trên mới chỉ là những gợi dẫn còn nặng về mặt lý thuyết
mà chưa đề cập cụ thể đến rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình cho học sinh lớp 9 ở THCS Trân trọng, kế thừa các tư tưởng đi trước, vận dụng linh hoạt phương pháp, biện pháp dạy học, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn này mong muốn tìm ra các biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ tình ở THCS và hiện thực hóa một trong những nhiệm vụ của giáo dục: Dạy cho học sinh biết tự học suốt đời
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm thực hiện những nhiệm vụ và mục đích sau:
Trang 14- Rèn cho học sinh lớp 9 THCS năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng – khâu then chốt là tìm biện pháp giúp các em hiểu văn và yêu thích học tập bộ môn Văn Đề tài cũng mong muốn tạo ra một hướng đi cụ thể để giáo viên áp dụng trong giảng dạy, học sinh cũng có thể tự rèn luyện, vận dụng kiến thức vào thực hành bài tập
- Đi sâu nghiên cứu các vấn đề lí thuyết có liên quan làm cơ sở cho những nghiên cứu về việc rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng
- Bám sát mục tiêu rèn luyện bốn kĩ năng đọc, nghe, nói, viết, đề tài tập trung khảo sát các văn bản thơ trữ tình ở lớp 9; khảo sát, đánh giá việc dạy học thơ trữ tình của giáo viên, học sinh THCS Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho các em
- Dạy học thể nghiệm ở một số trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh
và trình bày một số giáo án đã thiết kế theo định hướng của đề tài để kiểm chứng, đánh giá, khẳng định tính khả thi của những đề xuất khoa học đã nêu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với tính chất bước đầu, luận văn giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
- Đề tài đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm hình tượng thơ trữ tình làm cơ sở lí luận để đề xuất biện pháp rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh
- Vận dụng các biện pháp rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình
tượng trong dạy học một số tác phẩm thơ trữ tình tiêu biểu ở lớp 9: Ánh
trăng của Nguyễn Duy; Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải; Sang thu
của Hữu Thỉnh
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, chúng tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: được sử dụng để thu thập những tài liệu thực tế về tình hình dạy học văn đang diễn ra ở THCS Bàn Cờ, Quận 3
và một số THCS khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để tìm ra hướng rèn luyện tích cực, phù hợp với đối tượng học sinh THCS thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lí học lứa tuổi; Xã hội học; Lí luận văn học; Lí luận và phương pháp dạy học Văn
- Phương pháp thực nghiệm: Nghiên cứu, soạn giảng thể nghiệm một số tác phẩm nhằm kiểm chứng những định hướng đã trình bày; từ đó rút ra kết luận sư phạm cho đề tài
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan
6 Đóng góp của luận văn
- Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng của học sinh trong giờ học văn nếu được đánh giá đúng đắn và thực hiện tốt sẽ tránh được khuynh hướng phân tích xã hội học, tán dương hay suy diễn tùy tiện văn bản Từ nhận thức trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra một số giải pháp
sư phạm giúp học sinh chiếm lĩnh tác phẩm một cách khoa học, toàn diện, tránh hiện tượng đơn điệu, công thức trong tiếp nhận văn học; góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn
Trang 16- Luận văn đưa ra một số thiết kế cụ thể cho một số văn bản được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 9, giúp giáo viên tham khảo và vận dụng trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những tiền đề lí luận về rèn năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện
hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 9 THCS Chương này làm rõ cơ
sở lí luận để trên cơ sở đó nguời viết đưa ra những biện pháp hữu hiệu phù hợp với đặc trưng thơ trữ tình
Chương 2: Thực tiễn và những biện pháp rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ, tái
hiện hình tượng cho học sinh trong dạy học ba bài thơ trữ tình ở lớp 9 THCS Chương này đi vào trọng tâm khảo sát việc tiếp nhận thơ trữ tình của học sinh ở lớp 9 để từ đó rút ra kết luận, đưa ra các biện pháp giúp học sinh tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng hiệu quả
Chương 3: Thực nghiệm
Chương này mô tả quá trình thực nghiệm để từ đó đánh giá được khả năng ứng dụng của các biện pháp mà người viết đưa ra bằng phiếu lấy ý kiến giáo viên và học sinh làm cơ sở thực tiễn để vận dụng vào giảng dạy tác phẩm văn chương trữ tình ở phổ thông cơ sở
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ RÈN NĂNG LỰC TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 9 THCS 1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn
chương
1.1.1 Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu thực hiện các chức năng nhận thức và giao tiếp trong quá trình hoạt động của con người Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể truyền đạt cho nhau tư tưởng, tình cảm… của mình Ngôn ngữ có hai dạng: ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ tự nhiên (ngôn ngữ phi nghệ thuật) có bản chất tín hiệu Một tín hiệu bao giờ cũng có hai mặt: mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhờ vậy, một tín hiệu có thể biểu thị nhiều nội dung, nhiều tín hiệu biểu thị một nội dung, nội dung mỗi tín hiệu vừa chứa đựng hiện thực được phản ánh, vừa gợi ra tình cảm, cảm xúc, cách đánh giá sự vật, hiện tượng…
Ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ)
là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống ngôn ngữ tự nhiên nhưng được tổ chức, cấu tạo lại chức năng thẩm mĩ trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm và trong quan
hệ với những nhân tố của hoạt động sáng tác, tiếp nhận văn chương Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng Muốn vậy, ngôn ngữ nghệ thuật phải
Trang 18Châu, Đinh Trọng Lạc và Trần Đình Sử Tổng hợp các quan điểm trên, chúng tôi
lựa ra các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật chi phối tới việc rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh THCS
Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ
thuật là tính chất theo đó “Các yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm nghệ thuật phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung” [6,18] Tất cả các yếu tố với mối quan hệ như thế làm cho văn bản trở thành “một bản hòa tấu, có một tổng hợp lực mạnh mẽ, tác động tới người tiếp nhận văn bản” [58,30] Vì thế, chỉ cần bỏ
đi một từ thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng một câu thơ, phá tan cái nhạc điệu của nó, xóa sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh Tính cấu trúc cho thấy một yếu tố ngôn ngữ không thể sống đơn độc; ý nghĩa thẩm mĩ của nó chỉ có được khi nằm trong tác phẩm Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật chi phối đến nhiệm vụ dạy học thơ trữ tình ở phổ thông Học sinh muốn tri giác và tái hiện hình tượng tốt trước hết phải thuộc thơ chính xác; giải mã từ, tái hiện hình tượng phải đặt trong văn cảnh cụ thể
Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật còn đặt ra vấn đề phạm trù “hình tượng tác giả” Đó là những quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm Người đọc nắm vững quan điểm nghệ thuật, lập trường tư
tưởng ấy sẽ hỗ trợ cho việc tri giác ngôn ngữ diễn ra nhanh hơn Khi học Bài thơ về
tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, nếu nắm được phong cách thơ hồn
nhiên, tinh nghịch, tếu táo của nhà thơ, học sinh dễ dàng nhận ra các từ nghệ thuật ở
khổ 3-4: chưa cần rửa, chưa cần thay, phì phèo, ừ thì,…
Tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật Tính hình tượng là thuộc tính của
lời nói nghệ thuật truyền đạt không chỉ thông tin lôgic mà còn cả thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống những ngôn từ hình tượng Ở cấp độ từ ngữ, một từ trong tác phẩm nghệ thuật có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình: Nó vừa có một nét nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên, vừa mang nét nghĩa văn
Trang 19cảnh (nghĩa của ngôn từ nghệ thuật) Có thể nói, bất kì một từ nào của ngôn ngữ phi nghệ thuật trong điều kiện một ngữ cảnh nhất định đều có thể chuyển thành từ thi ca nếu có thêm một nghĩa hình tượng nào đó Tuy vậy, trong văn bản nghệ thuật không phải từ nào cũng là từ thi ca Vẫn có những từ có giá trị về mặt giao tiếp mà không hoặc ít có giá trị về mặt nghệ thuật Vì thế, dạy học thơ trữ tình đòi hỏi cần tri giác đúng từ nghệ thuật mang nghĩa tạo hình để dựng lại hình tượng nghệ thuật; tìm ra phần thông tin hình tượng ẩn dưới bề mặt ngôn từ và giá trị biểu hiện của nó Chẳng
hạn để hiểu, cảm từ nho nhỏ trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, cần đặt từ
đó trong ngữ cảnh để tìm được giá trị hàm ẩn của nó Bài thơ thể hiện khát vọng sống, khát vọng cống hiến cao đẹp, rất đỗi khiêm nhường của nhà thơ Từ láy “nho nhỏ” đã bật sáng vẻ đẹp ấy
Ở cấp độ văn bản, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật còn thể hiện ở sự thống nhất giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bản Trong quá trình tìm hiểu văn bản nghệ thuật phải đi từ mặt tạo hình đến mặt biểu đạt của ngôn từ Coi nhẹ yếu tố tạo hình, việc phân tích tác phẩm sẽ mắc phải tình trạng thiếu căn cứ, võ đoán, chủ quan, phiến diện Ngược lại, chỉ dừng lại ở bình diện tạo hình sẽ không khai thác được lớp nghĩa văn cảnh của ngôn từ trong tác phẩm nghệ thuật Tìm hiểu
Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, nếu ngay từ đầu không thấy
ngôn ngữ thô mộc, nghịch ngợm rất “lính” nhưng lại rất thơ sẽ không cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng: những chiếc xe không kính, trong đó nổi bật lên là hình ảnh người chiến sĩ lái xe hiên ngang, dũng cảm Như vậy, tính hình tượng là sự hiện thực hóa chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật Tính hình tượng nảy sinh ra do việc sử dụng các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ… Tuy nhiên, có những từ thông thường, không có tính hình tượng cũng có thể trở thành những từ có tính hình tượng khi các từ này mang cá tính của chủ thể tác giả
Tính truyền cảm được xem là một phương diện của tính hình tượng vì nó là
thông tin cảm xúc từ hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật Khả năng tác động của ngôn ngữ nghệ thuật là trạng thái có khả năng thanh lọc cảm xúc thông thường trở thành giá trị tinh thần, tạo nên thế giới tâm hồn con người
Trang 20Tính truyền cảm tạo nên quá trình tác động thẩm mĩ, kích thích tưởng tượng
và cảm xúc một cách có định hướng rõ rệt; giúp con người có khả năng tự ý thức, tự soi chiếu Điều này phụ thuộc vào năng lực riêng của mỗi cá nhân Khả năng truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật có đạt được đến đích cuối cùng của nghệ thuật hay không còn phụ thuộc tư chất, trình độ học vấn, vốn trải nghiệm, … của từng người
Đặc tính này định hướng cho giáo viên Ngữ văn cần chú ý phân định đối tượng tiếp nhận trong quá trình dạy học Từng bước hướng dẫn các đối tượng tham gia quá trình tiếp nhận ở các mức độ khác nhau
Tính cá thể hóa của ngôn ngữ nghệ thuật Tính cá thể hóa của ngôn từ nghệ
thuật là dấu ấn phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật Mỗi nhà văn do xu hướng, sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lí xã hội, cá tính mà có giọng nói riêng
Đó là cái độc đáo, đặc sắc, không lặp lại, cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy mộc mạc, dân dã gần với khẩu ngữ đời thường mà tha thiết sâu lắng, có sức biểu cảm cao Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên thấm đẫm triết
lí suy tư, sắc sảo Cái giọng nói riêng ấy để dấu ấn trong tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ thông qua lối cảm, lối nghĩ, lối thể hiện mà cụ thể là cách lựa chọn, kết hợp cụ thể các chi tiết; cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ,…
Sự giải thích phong cách ngôn ngữ một nhà văn đòi hỏi sự phân tích những cấu trúc vốn làm thành và xác định hệ thống Rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh là phải rèn được cách khám phá cái độc đáo, không lặp lại làm nên phong cách riêng đó
Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật là
thuộc tính chung nhất, khái quát nhất nhằm giải thích bản chất của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, bản chất sáng tạo thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật Sự cụ thể hóa nghệ thuật hình tượng là sự di chuyển từ bình diện khái niệm của ngôn ngữ sang bình diện hình tượng Nghệ thuật không nói bằng khái niệm mà bằng hình ảnh, sự
Trang 21vật cụ thể Những hình ảnh, sự vật được xây dựng nên từ việc “chưng cất ngôn từ toàn dân” đặt vào ngữ cảnh của tác phẩm để tạo nên hình tượng nghệ thuật
Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở việc nhà văn thường sử dụng những từ ngữ có sức gợi hình ảnh, cách sử dụng các biện pháp tu từ, sử dụng kết cấu, sử dụng các hình thức giao tiếp đối thoại, độc thoại, các phương thức biểu đạt,… để tạo thành hình tượng cụ thể tác động vào trí tưởng tượng của người đọc Nhà văn cũng có thể sử dụng các biện pháp trùng điệp ở các cấp độ để xoáy sâu ý tình, hình tượng quan trọng Đặc biệt, trong thơ tính trùng điệp góp phần quan trọng
tạo nên âm điệu, nhạc tính cho câu thơ, khổ thơ Trong Lượm, Tố Hữu sử dụng hàng loạt từ láy ở cuối câu: loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh… vừa tạo
nhịp điệu cho câu thơ, đồng thời gợi nên hình tượng em Lượm hồn nhiên, nhí nhảnh
Như vậy người đọc muốn nhìn ra cách lựa chọn, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ và giá trị tiềm tàng của nó bắt buộc phải đọc tác phẩm văn học một cách
kĩ lưỡng để tri giác ngôn ngữ tốt, tái hiện hình tượng được hoàn chỉnh
1.1.2 Hình tượng, hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật
Mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau sẽ có quan niệm về hình tượng khác nhau Trong nhận thức luận, khái niệm “hình tượng” chỉ những kết quả từ hoạt động nhận thức của con người và độc lập với hình thức của hình tượng Trong tâm lí học, người ta khái niệm về hình tượng là sự phản ánh thực tế một cách cụ thể cảm tính Trong nghiên cứu văn học, hình tượng là khái niệm được xem xét ở nhiều khía cạnh: Hình tượng như là một chi tiết có màu sắc, hình ảnh, một ẩn dụ hoặc một hình thức chuyển nghĩa khác gắn với nghĩa bóng; hình tượng như là một nhân vật văn học; hình tượng như là một kiểu nhận thức và phản ánh thế giới khách quan một cách đặc biệt
Trong nghệ thuật, nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình thông qua hình tượng nghệ thuật Như
Trang 22vậy, hình tượng nghệ thuật là một bức tranh về cuộc sống con người Bức tranh vừa
cụ thể, vừa khái quát, vừa có tính chủ quan lẫn tính khách quan, được xây dựng bằng hư cấu, tưởng tượng, có giá trị thẩm mĩ, có ý nghĩa nhân sinh
Hình tượng nghệ thuật là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật Nó tác động tới con người với tất
cả “tính thực tại” tinh thần của nó Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng
Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn Nghĩa là hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm
mĩ của nghệ thuật Như vậy, tổ chức cho học sinh tiếp nhận văn học, thầy cần giúp trò tri giác cho ra “điểm sáng thẩm mĩ”, những chi tiết “biết nói” mà nhà văn đã chọn lọc, sáng tạo để xây dựng hình tượng, tái hiện lại hình tượng để từ đó lần ra ý nghĩa tác phẩm
Cuộc sống trong tác phẩm nghệ thuật “hiện hình qua pho tượng nhưng không chết cứng cùng khối đá, hiện hình qua bức tranh nhưng không bị đóng khung trên mặt vải, hiện hình qua bài thơ nhưng không chấm hết cùng bài thơ (…) từ một số chi tiết ít ỏi mà gợi lên rõ ràng một chỉnh thể toàn vẹn” [36,145] Điều này tạo nên tính sinh động và biến hóa bất ngờ của hình tượng nghệ thuật Nó tạo cho hình tượng nghệ thuật có sức truyền cảm mạnh mẽ, sức thức tỉnh tư tưởng lớn lao và lôi cuốn con người tham gia vào đời sống xã hội Như vậy, phát triển năng lực tiếp nhận văn học cho học sinh, người thầy cần “tích cực hóa” khả năng cảm thụ văn học của các em; giúp các em xúc cảm trước vẻ đẹp của hình tượng để từ đó hoàn thiện quá trình tự nhận thức của bản thân Biểu hiện của “tích cực hóa”, trước hết là
Trang 23tái hiện hoàn chỉnh được tính sinh động của hình tượng trong trí tưởng tượng của người học
Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật không đơn giản là sự thống nhất giữa cái
cá biệt, cảm tính với cái chung, mà ở chỉnh thể các quan hệ xã hội – thẩm mĩ được thể hiện Đó là quan hệ giữa thời gian nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh; quan
hệ của tác giả với cuộc sống trong tác phẩm, với người đọc; quan hệ hình tượng với ngôn ngữ; quan hệ của các yếu tố của bức tranh đời sống, …Phức hợp quan hệ này làm hình tượng nghệ thuật mang nội dung đa nghĩa, hàm súc, lời hết mà ý vô cùng
Bài thơ Ánh trăng (Ngữ văn 9) trước hết là tiếng lòng, là sự suy ngẫm của riêng
Nguyễn Duy Nhưng hình ảnh “ánh trăng”, đặt trong kết cấu của bài thơ làm ý nghĩa bài thơ không chỉ có thế Vầng trăng không chỉ là hình ảnh của đất trời thiên nhiên mà còn biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình Bài thơ không chỉ là chuyện thái
độ đối với hi sinh mất mát của thời chiến tranh khi được sống trong hòa bình mà còn là tình cảm nhớ về cội nguồn, nhớ về những người đã khuất, là lời nhắc nhở con người về lẽ sống thủy chung của chính mình
Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một chất liệu riêng biệt để xây dựng hình tượng Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Vì vậy, hình tượng văn học là hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ
Chất liệu của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không phải là một thực thể vật thể
mà là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ Do đó, hình tượng ngôn từ ít tính biểu hiện thị giác so với hình tượng nghệ thuật tạo hình Ngay khi sử dụng đậm đặc các từ mô tả, tạo hình cụ thể, cái mà nhà thơ tạo ra vẫn không phải là một diện mạo thị giác về sự vật mà chỉ là những liên hệ liên tưởng về ngữ nghĩa Chính tính phi hình thể của hình tượng ngôn từ tạo ra sự đa dạng về hình tượng trong sự tiếp nhận của bạn đọc (học sinh) Một trăm bạn đọc “Chí Phèo” của Nam Cao sẽ có một trăm hình ảnh Chí Phèo khác nhau trong trí tưởng tượng của bạn đọc Như vậy, việc tri giác ngôn ngữ
và tái hiện hình tượng đúng, trúng có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức chính xác giá trị của nội dung tác phẩm
Trang 24Hình tượng ngôn từ có sự khúc xạ của một yếu tố này trong một yếu tố khác,
có sự xuyên thấm lẫn nhau về ngữ nghĩa Do mang tính ước lệ, hình tượng ngôn từ thu hẹp và khắc phục tính kí hiệu của bản thân ngôn từ (….) Giữa hàm nghĩa từ vựng và hàm nghĩa nghệ thuật có sự liên hệ giữa hữu cơ, liên hệ hình tượng Nghĩa
từ vựng là cơ sở, tiền đề của nghĩa hình tượng Việc phát hiện nghĩa từ vựng chuẩn xác, sâu sắc sẽ giúp hoạt động tái hiện hình tượng được hoàn chỉnh Trong tiếp nhận văn bản, tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, trước hết cần tri giác được nghĩa từ vựng Trên cơ sở nghĩa từ vựng, người đọc mới liên tưởng, tưởng tượng để tìm ra nghĩa hình tượng Chẳng hạn để tìm ra hình tượng nghệ thuật trong câu thơ:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều”
trước hết học sinh cần nắm được nghĩa cơ bản của từ “chảy”, “máu”, ”đâm”, “nát” (chảy: “chất lỏng di chuyển thành dòng”, “thoát ra ngoài”); (máu: “chất lỏng màu
đỏ chảy trong các mạch của người và động vật, có vai trò quan trọng nhiều mặt đối với sự sống của cơ thể”); (đâm: “đâm nhanh hoặc di chuyển thẳng đến chỗ mũi nhọn có tính chất rắn, chạm mạnh vào làm thủng, làm tổn thương”, …); (nát: “ở trạng thái rời ra thành những mảnh nhỏ, vụn hoặc bị làm dập nát tới mức không còn hình thù”) Từ hệ thống các nét nghĩa từ vựng trên, đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong câu thơ, một hệ thống ý nghĩa mới được hình thành, được chuyển hóa để
tạo nên hình tượng văn học: Phác họa hình tượng Tổ quốc Việt Nam thân thương bị
kẻ thù tàn phá, hủy diệt
Một trong những chức năng quan trọng của hình tượng ngôn từ là truyền cho các từ một tải trọng đời sống, một tính toàn vẹn và giá trị tự tại; tức là những cái mà sự vật vốn có; là khắc phục cái tác hại bản thể luận của kí hiệu; là vạch ra cái riêng ước lệ ở đằng sau tính ước lệ Hình tượng ngôn từ thu hút và làm biến đổi tính kí hiệu của ngôn ngữ Đặc trưng này cho thấy nghĩa văn cảnh là nghĩa quan trọng nhất, quyết định nghĩa hình tượng Để có những hình tượng hiện lên sinh động trong trí tưởng tượng của học sinh, trước hết các em cần tri giác nghĩa văn
Trang 25cảnh của từ Nghĩa văn cảnh của từ nghệ thuật nhiều khi không trùng vời nghĩa từ vựng, không có trong từ điển Đó là sự sáng tạo của nhà thơ Từ luôn chuyển hóa đa dạng, từ ý nghĩa cụ thể sang ý nghĩa khái quát, từ ý nghĩa đơn trị sang ý nghĩa đa trị,
từ ý nghĩa chung sang ý nghĩa riêng… trong tay người nghệ sĩ có tài Nghĩa văn cảnh của từ nghệ thuật được hình thành từ việc sử dụng đậm đặc các phép chuyển nghĩa, từ việc sáng tạo từ ngữ, nhịp điệu, nhạc điệu, vần điệu, tiết tấu…
Như vậy, tri giác tốt lớp từ của văn bản, nắm vững từ trong sự chuyển hóa sinh động của nó từ âm thanh, nhịp điệu, từ vựng ngữ nghĩa để nhận ra nghĩa văn cảnh là bước khởi đầu quan trọng trong tiếp nhận văn học
1.2 Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật của học
sinh THCS
1.2.1 Năng lực và năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
Năng lực là “sức làm việc, trình độ thành thạo của một người có điều kiện tự nhiên hay do rèn luyện, học tập, … tạo ra để làm tốt mọi việc” [11, 546] Theo các nhà tâm lí: Năng lực của con người chính là sự tổng hợp của trình độ, kĩ năng, kĩ xảo của cá nhân để đáp ứng yêu cầu nào đó Con người muốn hoạt động tốt phải có năng lực Nếu thiếu năng lực thì con người sẽ khó hoàn thành bất cứ một công việc nào Do đó, năng lực là tiền đề cho mọi hoạt động của con người Năng lực không phải thuộc tính bẩm sinh, cũng không phải hình thành một lần là xong mà là một quá trình rèn luyện của cá nhân Trong giáo dục, việc phát hiện, rèn luyện, bồi dưỡng năng lực cho học sinh là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Năng lực của học sinh cơ bản dựa trên tư chất, nhưng điều chủ yếu là nó được hình thành, phát triển trong hoạt động rèn luyện tích cực của quá trình dạy học và giáo dục
Trong dạy học Ngữ văn, nhiều nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến năng lực văn của học sinh Theo Giáo sư Phan Trọng Luận, “trong nhà trường phổ thông, năng lực cần thiết nhất là năng lực tiếp nhận văn học (…) [35,189] Phát triển năng lực tiếp nhận của học sinh là hạt nhận của quá trình dạy học văn hiện đại
Trang 26Tiếp nhận văn học là một giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của văn học Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ nhân cách con người – tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, trực giác – đòi hỏi sự bộc lộ cá tính, thị hiếu và lập trường xã hội, sự tán thành và phản đối… [36, 223] Tiếp nhận tác phẩm văn chương là một quá trình lâu dài, có nhiều cấp độ Thực chất đó là quá trình tái tạo mới hình tượng nghệ thuật dựa vào đặc điểm cá nhân và cảm xúc của từng người Đó là quá trình tri giác tác phẩm, cụ thể hóa và khái quát hóa nghệ thuật
để hiểu được giá trị đích thực của tác phẩm Quá trình tiếp nhận là một quá trình vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Tính chủ quan trong tiếp nhận
là một thuộc tính vì quá trình tiếp nhận là quá trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí bạn đọc Tiếp nhận văn học ở mỗi bạn đọc phụ thuộc vào tư chất, trình độ vốn sống của từng người Tính khách quan trong tiếp nhận tác phẩm văn học được qui định bởi đặc trưng thể loại của tác phẩm, ý đồ nghệ thuật của tác giả và phạm vi đời sống mà tác phẩm phản ánh Sự tiếp nhận khác nhau về một tác phẩm cũng phụ thuộc vào các khái quát nghệ thuật của nó có liên hệ được với thực tại hay không Như thế, tiếp nhận văn bản là một quá trình cụ thể hóa, hiện thực hóa tác phẩm, là cuộc đối thoại liên tục giữa người đọc với tác giả trên mọi lĩnh vực, là quá trình chờ đợi, thắc mắc, giải đáp Điều này đòi hỏi người tiếp nhận phải có năng lực nhất định Trong đó năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật là các năng lực đóng vai trò “khai sơn phá thạch” đầu tiên của quá trình tiếp nhận văn chương
Mục đích tiếp nhận là hiểu được tác phẩm văn chương “Hiểu văn không chỉ
là kết quả hoạt động trí tuệ mà còn bao hàm rất nhiều những hoạt động khác của trực giác, phát hiện, tưởng tượng sáng tạo và luận giải những mối liên hệ nội bộ tác phẩm và ngoài tác phẩm” [21, 116] Những hoạt động đó muốn đi đến đích như đã nói ở trên cần phải được rèn luyện thành năng lực Giáo sư Phan Trọng Luận đã thể hiện ra ở tám hoạt động của năng lực tiếp nhận văn chương trong đó năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng là hai năng lực đầu tiên của quá trình tiếp nhận văn học
Trang 27Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta
Trong tiếp nhận văn học, đối tượng của tri giác là tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ với đặc trưng nổi bật là phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng Vì vậy, năng lực tri giác ngôn ngữ ở đây là cảm nhận được những thông tin nghệ thuật từ hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hình tượng Hoạt động này đối với văn xuôi đã khó, với thơ trữ tình còn khó hơn nhiều Bởi thơ có độ nén cao, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, là thứ ngôn ngữ “quái đản”, không dễ cảm nhận Hình tượng thơ trữ tình được dệt nên
từ các loại từ hình tượng; ở việc sử dụng dày đặc các biện pháp tu từ, các phương thức chuyển nghĩa của từ; ở cách sử dụng sáng tạo vần, luật, tiết tấu, âm điệu, vần điệu, kết cấu; ở cách phối hợp các con chữ trong một dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ; ở việc lựa chọn tiêu đề cho bài thơ của nhà thơ…
Như vậy, năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện ra trước hết ở khả năng học sinh nhận ra được các tín hiệu nghệ thuật trên Nghĩa là các em biết tri giác từ thần, nhận ra kết cấu lạ, phát hiện ra mối liên kết bên trong và bên ngoài văn bản, nhìn ra các biện pháp nghệ thuật tu từ, phát hiện ra “khoảng trắng” của bài thơ
Khả năng này diễn ra ở học sinh là không như nhau Những người có năng lực văn chương thì quá trình tri giác ngôn ngữ diễn ra mau lẹ “như là sự nhạy cảm của một thứ linh giác nghệ thuật”
Biểu hiện tiếp theo của năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật là khả năng giải mã các thông tin nghệ thuật vừa tri giác được “Văn chương là trò diễn của ngôn từ” Trong tay người người nghệ sĩ có tài, sự chuyển hóa của từ thật đa dạng,
từ ý nghĩa cụ thể sáng ý nghĩa khái quát, từ một ý nghĩa đơn trị sang ý nghĩa đa trị,
từ một ý nghĩa chung sang một ý nghĩa riêng Do vậy, không giải mã được các thông tin nghệ thuật sẽ không hiểu được tác phẩm
Tuy nhiên, việc tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh ở bước này thường gặp khó khăn Các em bị trói buộc bởi kinh nghiệm sống của bản thân; ngôn ngữ tác phẩm có thể chỉ là những kí hiệu hoặc cao hơn là những từ ngữ xã hội học Cho
Trang 28nên quá trình khêu gợi trí tưởng tượng giúp cho học sinh thâm nhập vào tác phẩm là một quá trình vượt qua ý nghĩa trực tiếp của ngôn ngữ bài văn và nghĩa đen của từng từ để nắm lời ngầm, linh hồn tác phẩm Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh còn được biểu hiện ở khả năng biết tri giác “điểm sáng thẩm mĩ” có định hướng Nghĩa là các em biết chọn lọc thông tin nghệ thuật để tái hiện hình tượng một cách có chủ định theo yêu cầu của bài học Có như vậy, học sinh mới
không bị rơi vào tri giác vụn lẻ, không định hướng, tản mạn, làm vỡ tính chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật
Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm văn chương tạo ra được những ấn tượng ban đầu, những cảm xúc, những rung động thẩm mĩ vô cùng quan trọng ở người đọc Việc định hướng giải mã các thông tin nghệ thuật càng chu đáo càng tạo điều kiện giảm nhiễu để bạn đọc học sinh đến với tác phẩm nghệ thuật Lượng thông tin càng tinh khiết, cường độ càng mạnh thì hứng thú tiếp nhận văn chương càng đúng hướng Tri giác ngôn ngữ tốt, việc cảm thụ hình tượng càng sâu sắc, ít chủ quan
1.2.2 Năng lực tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ
Sức mạnh của văn chương là ở hình tượng Không có hình tượng được dệt bởi ngôn ngữ nghệ thuật thì không có ngành nghệ thuật này Vì vậy, để có được khoái cảm thẩm mĩ khi tiếp nhận tác phẩm văn chương, người học phải có năng lực tái hiện hình tượng Tái hiện hình tượng nghệ thuật là làm cho nhân vật “đi đứng, nói năng, khóc cười, cuộc sống đang vận động, đang chuyển trước mắt người đọc” Nói như Stanilapxki là phải làm cho người đọc “nhìn bên trong” tác phẩm Muốn được như vậy, bạn đọc học sinh cần có khả năng tưởng tượng để dựng lại hiện thực cuộc sống mà nhà văn đã xây dựng nên Để cảm nhận bức tranh mùa xuân tươi vui,
đầy sức sống trong Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, trước hết các em cần tái hiện
bức tranh mùa xuân trong trí tưởng tượng của mình dựa trên các tín hiệu nghệ thuật tri giác được Tưởng tượng càng chân xác, càng hoàn chỉnh, càng có tính chất trọn
Trang 29vẹn càng tạo điều kiện đi vào linh hồn tác phẩm một cách vững chắc, nhanh nhạy Tái hiện hình tượng tốt giúp cho văn bản là thế giới những kí hiệu được sống dậy như một sinh mệnh nghệ thuật đích thực, giống như tác giả đã sống với nó Nói cách khác, tái hiện hình tượng tốt giúp cho tác phẩm không còn là tổng hợp kí hiệu chết, phi vật thể nữa mà là những tác phẩm đích thực đang tồn tại trong trí tưởng tượng của người đọc – học sinh
Hoạt động tái hiện hình tượng là một thao tác tư duy để đi vào thế giới nghệ thuật Hơn nữa “năng lực tái hiện hình tượng còn là năng lực cơ sở của các năng lực khác Bám sát hình tượng văn chương trong từng thể tài, tái hiện được hình tượng của nó theo đặc trưng riêng là chúng ta đang từng bước đi đúng bản chất của quá trình dạy học văn” [7, 9]
Năng lực tái hiện hình tượng của học sinh được biểu hiện ở chỗ các em biết bám sát bài thơ, trung thành với văn bản, tái hiện chính xác các chi tiết nghệ thuật
do tác giả xây dựng nên Có như vậy công việc tái hiện hình tượng mới không rơi vào trạng thái qua loa, hời hợt, “diễn nôm” Bên cạnh đó, người có năng lực tái hiện tượng sẽ biết hướng sự tái hiện vào việc làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của bài thơ, biết lấy ý nghĩa của các hình tượng thơ làm đích cho sự tái hiện của mình Với học sinh khá giỏi, năng lực tái hiện hình tượng còn biểu hiện ở khả năng biết khái quát các chi tiết theo một hệ thống hình tượng thống nhất hoàn chỉnh Ở những học sinh
có trường cảm xúc mạnh (thường là học sinh có khiếu văn), trong khi tái hiện hình tượng nghệ thuật đã có sự rung động thực sự của tâm hồn và tình cảm, được biểu hiện bằng cách diễn đạt trong sáng, có sức cuốn hút, lay động tâm trí người đọc
Muốn tái hiện hình tượng tốt cần phải biết tưởng tượng Vấn đề năng lực tưởng tượng lệ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện vốn sống, vốn văn hóa, thói quen văn học, năng lực đọc và hiểu biết về ngôn ngữ nghệ thuật,… Việc bồi dưỡng năng lực này cần tiến hành song song với nhiều năng lực văn học khác một cách đồng bộ,
có hệ thống
Trang 301.2.3 Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh lớp 9 THCS
1.2.3.1 Học sinh lớp 9 với thơ trữ tình
Học sinh lớp 9 THCS là lứa tuổi thiếu niên, chuyển từ thơ ấu lên trưởng thành Đây là thời kì phát triển mạnh mẽ đến mức thiếu cân đối về thể chất, tâm lí, ngôn ngữ và trí tuệ Tư duy nói chung và tư duy trìu tượng nói riêng phát triển mạnh Tính phê phán của tư duy cũng được phát triển; các em biết lập luận, giải quyết vấn đề một các có căn cứ Việc ghi nhớ từ ngữ, tài liệu trìu tượng, được phát triển ở mức độ cao Vì vậy, hoạt động tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng của học sinh lớp 9 có bước phát triển so với học sinh lớp dưới Hơn nữa, lứa tuổi này dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất bồng bột, hăng say Sự phát triển mạnh mẽ về cảm xúc giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình – là tiếng nói của cảm xúc thi nhân
Bên cạnh đó, sự chuyển biến trong phát triển năng lực văn ở lứa tuổi học sinh lớp 9 cũng ảnh hưởng quyết định đến năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng ngôn từ của các em Các em “bắt đầu xem tác phẩm chỉ là nguồn cung cấp những niềm vui hoặc nỗi buồn giận riêng và đánh giá chúng trước hết là tùy mức độ phù hợp với các thể nghiệm của cá nhân mình” [68, 91] Như thế, tư chất cá nhân trong tính cách của học sinh bắt đầu ảnh hưởng lớn tới việc cảm thụ nghệ thuật Sự khác nhau ở độc giả này là tùy thuộc vào sức đọc, tri thức, kinh nghiệm sống, mức độ hứng thú đối với môn học Trong thực tế, so với học sinh lớp dưới, học sinh lớp 9 nhanh nhạy hơn trong cảm thụ và tiếp nhận văn học; khả năng liên tưởng và tưởng tượng linh hoạt và lôgic hơn; khả năng ghi nhớ và tái hiện hình tượng bền vững hơn; dễ hứng thú tích cực nhưng cũng dễ chán nản trong hoạt động đọc, tìm tòi, khám phá tác phẩm; định hướng đọc và học tác phẩm chưa tốt; với một
số tác phẩm chỉ tự đọc, tự học khi có sự thúc ép của giáo viên
Nhìn chung, với học sinh lớp 9, các phẩm chất tư duy như: ghi nhớ – tái hiện, liên tưởng – tưởng tượng; phân tích - tổng hợp, tìm tòi – phát hiện, … đã có
Trang 31bước phát triển hơn nhưng việc phát hiện “điểm sáng thẩm mĩ” chưa nhanh nhạy, chưa trúng; khả năng tái hiện hình tượng còn vụn vặt, chưa có hệ thống Rất cần các biện pháp hỗ trợ, kích thích của giáo viên thì khả năng đó mới có thể phát triển bền
vững và ổn định
1.2.3.2 Ba bài thơ trữ tình trong ấn tượng của học sinh
Hữu Thỉnh đều là các bài thơ trữ tình hiện đại được sáng tác vào giai đoạn sau
1975 Các bài thơ đã tái hiện cuộc sống, đất nước và con người Việt Nam trong công cuộc lao động và xây dựng đất nước; thể hiện chính tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người trong thời kì lịch sử có nhiều biến động lớn lao, nhiều thay đổi sâu sắc Đó là tình yêu quê hương đất nước; những tình cảm gần gũi và bền chặt của con người như tình đồng chí, tình đồng đội, tình cảm gia đình, khát vọng sống và cống hiến cho đời…Ở hầu hết các tác phẩm, ngôn ngữ thơ bình dị; tình cảm, cảm xúc được thể hiện trực tiếp tạo cho người đọc niềm tin vào cuộc sống, vào tình người Vẻ đẹp giản dị, gần gũi quen thuộc với cuộc sống ở những bài thơ trữ tình hiện đại là thuận lợi cho học sinh trong việc nắm bắt các trạng thái cảm xúc của chủ thể trữ tình; việc tái hiện hình tượng cảm xúc cũng vì thế mà dễ dàng hơn Vì thế, các em rất thích thú khi học các bài thơ này
Mang trong mình đặc điểm thơ trữ tình hiện đại, các bài thơ trên thể hiện cái
tôi đa diện, nhiều bất an, giằng xé, hướng nội Sang thu của Hữu Thỉnh là suy ngẫm
về cuộc đời được gắn qua hình ảnh tả thực về hiện tượng thiên nhiên: Khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước tác động bất thường của ngoại
cảnh, của cuộc đời Ánh trăng của Nguyễn Duy lại là trăn trở, giằng xé của một
người lính sau chiến tranh về thái độ tình cảm đối với năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu, …Cái tôi đa diện, nhiều bất an, giằng xé được ẩn dấu sau những ngôn ngữ, hình ảnh cô đọng, hàm súc Vì vậy, việc phát hiện và giải mã được những ngôn từ cô đọng, hàm súc ấy để lần ra tình cảm thiết tha, tâm hồn tinh tế của chủ thể trữ tình với những suy ngẫm gửi gắm
Trang 32trong bài thơ không phải là việc dễ dàng đối với học sinh Bên cạnh đó, có những bài thơ mà hình ảnh thơ khá xa lạ với các em cũng là khó khăn cho việc tái hiện
hình tượng Ví dụ Sang thu của Hữu Thỉnh rất gần gũi với học sinh miền Bắc nhưng
lại lạ lẫm với học sinh Nam Bộ vì phần lớn các em chưa được trải nghiệm sự chuyển mùa từ hạ sang thu Đó là khó khăn cho học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình Việc giúp học sinh phát hiện ra “điểm sáng thẩm mĩ”, tái hiện chính xác hình tượng nghệ thuật để nhận ra tư tưởng nhà văn gửi gắm là nghệ thuật lên lớp của mỗi giáo viên
1.3 Những nhân tố chi phối việc rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình cho học sinh lớp 9 THCS
1.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình
Tác phẩm trữ tình là thế giới cảm xúc chủ quan của con người Thế giới nội tâm ấy lại vô cùng tinh tế và phức tạp, có trăm nghìn mối quan hệ đan chéo Tìm hiểu bài thơ trữ tình trong nội dung tinh vi và đa dạng của nó, trong thái độ của nó đối với cuộc sống, trước hết phải nắm vững đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ Ngôn ngữ thơ trữ tình vừa mang đặc điểm chung của ngôn ngữ tác phẩm văn học là tính hình tượng và tính hàm súc nhưng cũng có những đặc điểm riêng
Trước hết, ngôn ngữ thơ trữ tình cô đọng, gợi cảm, bão hòa cảm xúc Ngôn ngữ thơ trữ tình không khách quan như ngôn ngữ tự sự; lời thơ trữ tình thường là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện một quan hệ của chủ thể với cuộc đời Ngay khi miêu tả, lời thơ cũng là lời đánh giá Chẳng thế mà những câu thơ:
Ông đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay
gợi nên sự hoài niệm, khơi gợi nỗi buồn nhẹ mà thấm, cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên
Trang 33Trong thơ trữ tình, sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ… bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể được nổi bật:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
(Huy Cận – Đoàn thuyền đánh cá) Mỗi câu thơ dường như đều có những hình ảnh tập trung tất cả sức nặng tình cảm của chủ thể trữ tình Mỗi từ trong thơ mang sắc thái nhất định, giữ vai trò cụ thể trong cấu tứ bài thơ, tạo ra cách diễn đạt cô đọng, hàm súc Từ đó, người đọc có thể nhìn thấu vào tâm hồn, tư tưởng tác giả
Hơn nữa, lời thơ trữ tình phải khác thường Sự khác thường nói theo Lí luận
văn học “là tính chất “mê hoặc”, làm cho người đọc thơ như chạm vào luồng điện,
gây ám ảnh trong tâm trí Sự “mê hoặc” ấy bắt nguồn từ chân lí của cuộc đời mới,
có được “ma lực” thực sự” [36, 366] Chế Lan Viên viết trong Con Cò:
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ, Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi
Mai khôn lớn, con theo cò đi học, Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
là cách nói khác thường từ hiện thực cuộc sống Trong tâm thức của người Việt, sự cất cách của tâm hồn con trẻ không thể xa rời những cánh đồng bát ngát, những lời
ru êm ái ngọt ngào Và cả hai thường hòa vào một hình ảnh ngây thơ: Con cò trắng cánh Hay chính là đôi cánh tuổi thơ của cuộc đời mỗi người
Nhờ những từ ngữ và cách nói như thế, ngôn ngữ thơ trở nên cô đọng, kết tụ
chất thơ, kết tụ mối quan hệ với đời sống được tích lũy lâu đời Vì vậy, việc phát
Trang 34hiện vẻ đẹp ngôn ngữ thơ có ý nghĩa đặc biệt để lí giải những biểu hiện cảm xúc, tiếp nhận giá trị thẩm mĩ tác phẩm thơ Rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ trữ tình phải rèn kĩ năng đọc, kĩ năng nghe để nhận
ra hình tượng được gửi gắm qua từng con chữ thơ
Một trong những đặc điểm nổi bật nữa của ngôn ngữ thơ trữ tình là ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính “Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ – mà bằng cả âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy (…) Âm thanh nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết…” [36, 367]
Ngôn ngữ thơ gắn liền nhạc điệu, nhịp điệu Nhạc điệu của thơ thể hiện ở âm thanh Mỗi loại âm (nguyên âm, phụ âm), mỗi loại thanh (bằng, trắc) có một giá trị biểu hiện nhất định Sự phối hợp giữa âm thanh với cách ngắt nhịp và vần cốt để ngôn ngữ thơ có nhạc tính Nhạc tính trong thơ thể hiện ở sự trầm bổng, sự trùng lặp, sự cân đối
Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Tính chất này được qui định chặt chẽ trong thơ cổ điển, thơ Đường Còn thơ hiện đại phóng khoáng hơn Sử dụng hiệu quả phép đối xứng sẽ tạo nên giá trị bất ngờ Chính Hữu đã diễn
tả sự gắn bó, chia sẻ, sự giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính qua những
câu thơ sóng đôi, đối ứng nhau trong Đồng chí: Áo anh rách vai / Quần tôi có vài
mảnh vá / Miệng cười buốt giá / Chân không giày
Lời dặn con tha thiết, trìu mến của nhà thơ Y Phương vang lên từ sự sóng đôi
hài hòa của các dòng thơ: Sống trên đá không chê đá gập ghềnh / Sống trong thung
không chê thung nghèo đói
Nhạc tính còn là sự trầm bổng, sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ Sự trầm bổng
là sự thay đổi âm thanh cao thấp khác nhau giữa bằng và trắc; và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tùy theo nhịp cắt để tạo nhịp Nhiều nhà thơ đã tạo ra cách ngắt nhịp riêng phù hợp với cảm xúc, tạo ấn tượng về giọng điệu Tố Hữu
Trang 35nghẹn ngào trước sự hi sinh anh dũng của Lượm: Ra thế / Lượm ơi! Dòng thơ bị cắt
đôi tạo ra nhịp thơ như tiếng nấc xúc động lòng người Sự trùng điệp trong thơ thể hiện ở việc gieo vần, ở điệp câu, điệp ngữ Với cách phối hợp điêu luyện giữa các vần oắt, inh, oăn, ênh, … với các phụ âm l, ch, x, th, … Tố Hữu đã tạo nhạc điệu riêng cho bài Lượm, dựng lên hình ảnh chú bé liên lạc hồn nhiên, yêu đời:
Chú bé loắt choắt
Cái sắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh…
Như vậy, âm thanh, nhịp điệu góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh tinh vi của tình cảm con người Giọng điệu, nhạc điệu tạo ra những điều kì diệu mà chữ nghĩa không thể nói hết Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng trong thơ trữ tình cho học sinh là rèn kĩ năng đọc cho ra chất nhạc kì diệu ấy; nhận biết những yếu tố tạo nên giọng điệu thơ; cảm nhận được thế giới nội tâm tác giả gửi gắm
1.3.2 Đặc điểm hình tượng thơ trữ tình
Tác phẩm trữ tình nói chung và thơ trữ tình nói riêng phản ánh thế giới bằng cách biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người Vì thế, hình tượng thơ trữ tình là hình tượng con người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Đó có thể là nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Cũng bởi thế
mà ta dễ nhận ra vẻ đẹp hiên ngang, bất chấp khó khăn, nguy hiểm của người lính
lái xe Trường Sơn qua giọng điệu ngang tàng, sôi nổi, trong Bài thơ về tiểu đội xe
Trong tác phẩm trữ tình, hình tượng nhân vật trữ tình còn được thể hiện gián tiếp qua nhân vật trong thơ trữ tình Để tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình
Trang 36tượng thơ trữ tình chúng ta cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn cảm xúc của tác giả Người đọc phải liên kết chuỗi tình cảm giành cho nhân vật trong thơ trữ tình để hình dung ra nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân của tác giả Vì thế, đọc thơ, ta
như đọc những bản tự thuật tâm trạng Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ là nhân
vật trong thơ trữ tình Đọc bài thơ, ta còn thấy nổi rõ hơn một nhân vật nữa với những cảm xúc và tình cảm: Từ tâm trạng ngao ngán, chán ghét, căm phẫn trước cái
tù túng, tầm thường đến nỗi nhớ tiếc về một thời vàng son và khát vọng về một thế giới tự do Liên kết chuỗi tình cảm đó cho ta hình dung ra nhân vật trữ tình
Thơ trữ tình luôn mang lại quan niệm về một cá nhân con người cụ thể, sống động, một cái “tôi” có nỗi niềm riêng Tuy nhiên, bài thơ muốn vượt thời gian thì tình cảm riêng của nhà thơ bao giờ cũng gắn với tình cảm chung, có ý nghĩa khái quát Cũng vì thế mà nhân vật trữ tình trong thơ là một hình tượng khái quát Muốn vậy, tác giả phải tự nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ cho
một loại người, thế hệ người Ánh trăng của Nguyễn Duy không chỉ là chuyện
riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả một thế hệ, với nhiều người, nhiều thời bởi nó đặt ra vấn đề thái độ sống đối với quá khứ, với những người đã khuất và cả đối với chính mình
Trong thơ trữ tình, nhà thơ có thể hóa thân trong một nhân vật khác, tạo
thành nhân vật trữ tình nhập vai Tất nhiên, yếu tố nhập vai và yếu tố tự thuật tâm
trạng có liên hệ mật thiết với nhau Tâm trạng riêng của nhà thơ có thể tiêu biểu cho tâm trạng của một nhóm người, một giai cấp, một thời đại Như thế, thơ trữ tình, tuy biểu hiện thế giới nội tâm, chủ quan, lại cũng có thể theo cách riêng của mình, phản ánh gương mặt tinh thần của xã hội
Như vậy, hình tượng thơ trữ tình là hình tượng cảm xúc, mang tính chân thực, tính khách quan, tính biểu hiện Do đó, tiếp nhận tác phẩm trữ tình cần phải tránh sự đồng nhất giản đơn hình tượng nhân vật trữ tình với cá nhân nhà thơ, tiểu
Trang 37sử nhà thơ Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng ngôn từ
là giúp học sinh nhận ra nhân vật trữ tình, nhân vật trong tác phẩm thơ trữ tình và nhân vật trữ tình nhập vai Phải phát hiện ra mạch vận động cảm xúc của chủ thể trữ tình để từ đó làm sống dậy hình tượng cảm xúc của bài thơ
1.3.3 Đặc điểm thơ trữ tình hiện đại
Thơ Việt Nam hiện đại, tạm lấy một khởi đầu từ phong trào “thơ mới” Hiện đại theo ý nghĩa khác biệt về mặt lịch sử và tư duy nghệ thuật so với thơ ca dân tộc trước đó Sự “mới mẻ” của thơ trữ tình hiện đại được thể hiện chủ yếu qua vẻ đẹp sáng tạo của ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng thơ
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ mới mẻ, chân thực, gần gũi với đời sống Nếu thơ chữ Hán nặng từ chương, biền ngẫu, bằng trắc, trang nghiêm thì thơ hiện đại tự do, khoáng đạt, trực tiếp thể hiện cảm nhận riêng độc đáo, giàu cảm xúc Việc thay đổi
từ ngữ đã tạo ra kiểu kết hợp mới Những từ ngữ đậm chất biểu cảm, diễn tả những rung động đa dạng trong tâm hồn con người, diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên xã hội Những từ ngữ thể hiện cảm xúc trực tiếp, phù hợp với cách cảm nghĩ của thời hiện đại: vừa mới mẻ, vừa chân thực, vừa cụ thể, gần gũi và cũng rất gợi cảm Điều này được thể hiện rõ trong ngôn ngữ thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận,
…Đọc Nhớ rừng, Thế Lữ khiến ta phải bàng hoàng về thể cách mới của thơ: “Mới
từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh”
Ngôn ngữ thơ chân thực, gần gũi với đời sống còn được thể hiện ở thơ ca kháng chiến Ngôn ngữ đời sống, thậm chí cả khẩu ngữ và tiếng địa phương các vùng đã làm nên vẻ tươi mới, khỏe khoắn trong sáng cho thơ Sự việc đời thường đi
vào thơ ca bằng những lời kể chân thực mà thấm thía Đọc Bài thơ về tiểu đội xe
lính lái xe Trường Sơn Sự tiếp nhận một cách táo bạo các yếu tố văn xuôi trong thơ hiện đại Việt Nam là một bằng chứng thể hiện mối quan hệ giữa thơ ca và cuộc
Trang 38sống Dạy thơ trữ tình hiện đại phải giúp học sinh nhận ra vẻ đẹp sáng tạo đó; phải
rèn cho học sinh biết so sánh để tìm ra điều mới mẻ trong ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ thơ trữ tình hiện đại còn thoáng đạt về cấu trúc, đa dạng về giọng điệu Nếu thơ ca truyền thống gò ép trong khuôn thước thể Đường thi: niêm, luật chặt chẽ với cấu trúc đề, thực, luận, kết khó có thể bứt phá thì thơ trữ tình hiện đại
“có thể gây ấn tượng bề bộn – cái thứ bề bộn dễ thương” vô cùng thoáng đạt về cấu trúc, phong phú về thể thơ, tạo nên giọng điệu riêng Nhớ rừng của Thế Lữ, nhờ thể
thơ tám tiếng kết hợp với ngôn ngữ tạo hình đặc sắc và giọng điệu thiết tha đã tạo được xúc cảm đặc biệt
Các nhà thơ hiện đại có cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của thời đại mới nên
đã tạo được tứ thơ từ cấu trúc mới lạ và sáng tạo riêng Thơ tự do của Chính Hữu
cấu Số lượng từ ngữ trong câu co giãn linh hoạt tạo bởi mạch ngầm “tình đồng chí” chảy dọc bài thơ Kết thúc mạch ngầm đó là một hình ảnh đẹp vừa lãng mạn, vừa giàu chất thơ, để lại ấn tượng sâu đậm Đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính của
Phạm Tiến Duật ta lại bắt gặp những câu thơ mà như không phải là thơ: “Không có kính không phải vì xe không có kính” Nhưng lại đích thị là thơ bởi câu từ bất ngờ táo bạo: “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” Cái cách kết cấu văn xuôi như lời nói thường ấy là một sáng tạo Nó làm cho thơ đời hơn, ngôn ngữ thơ phóng khoáng hơn Nhờ có sự gia công nghệ thuật ở cách lặp tứ thơ, chọn lọc hình ảnh, những câu thơ mang đậm chất văn xuôi đã chuyển hóa thành ngôn ngữ thi ca thực
sự
Biểu hiện nổi bật là thơ sau 1975 Thơ thời kì này luôn tìm tòi những vấn đề phức tạp của đời sống Đó là những suy tư, chiêm nghiệm về năm tháng đã qua và hiện tại Ngôn ngữ thơ ở các tác phẩm giai đoạn này mang giọng điệu riêng Thơ
năm chữ tạo ra mạch kể, mạch cảm xúc cảm biến( Ánh trăng – Nguyễn Duy, Sang
Trang 39cho những suy tư lặng lẽ Giọng điệu thơ có cái gì thấm thía, lắng sâu tạo nên ý nghĩa tư tưởng lớn
Sự mới mẻ của ngôn ngữ thơ trữ tình hiện đại Việt Nam tạo nên vẻ đẹp riêng
có sức hấp dẫn độc đáo Dạy thơ trữ tình hiện đại phải khai thác được những giá trị của vẻ đẹp đó Rèn năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật cho học sinh là rèn năng lực phát hiện chính xác những tìm tòi, sáng tạo ấy và tái hiện hình tượng cảm xúc xuyên suốt bài thơ
Hình tượng trữ tình thơ hiện đại cũng mới mẻ, đa dạng Hình tượng trữ tình thơ hiện đại được xây dựng bằng những xúc cảm mang đậm dấu ấn của cái tôi chủ thể được bộc lộ một cách trực tiếp Đó là cái tôi biểu hiện khao khát của tồn tại trong tự do
Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại được bắt đầu từ thơ mới Nếu
thơ trung đại, bản sắc riêng tư bị kiềm tỏa, không có điều kiện phát triển thì đến thơ hiện đại cái tôi trữ tình mới dần rõ nét Trong thơ ca kháng chiến, cái tôi trong thơ
là cái tôi đại diện, mang tính sử thi Còn ở thơ hiện đại sau 1975 cái tôi được nảy lộc đâm chồi trong một bối cảnh lịch sử khác Không phải cứ sau chiến tranh khốc liệt là có hòa bình yên ả Sau chiến tranh, con người phải đối mặt với những vần đề phức tạp và khó khăn Vấn đề số phận dân tộc và đời tư cá nhân được đề cập Vì
thế, cái tôi trong thơ trữ tình sau 1975 vẫn tiếp nối âm hưởng sử thi, nhưng đã nghiêng sang phía kiểm nghiệm cái được, cái mất của cả dân tộc và từng con người Vấn đề đời tư gắn liền với số phận cá nhân, với hạnh phúc và giá trị mới được đặt
ra Do cách nhìn rộng mở, do đất nước đổi mới hòa nhập, cái tôi trong thơ trữ tình hiện đại khao khát nhận thức đánh giá lại cuộc sống và lẽ sống trong những khía cạnh nhỏ nhất của đời sống con người, đời sống xã hội; tìm tòi, phát hiện và phân tích những hiện tượng, sự việc lớn nhỏ xung quanh mỗi cá thể
Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại sau 1975 được khắc họa nhiều vẻ và nhiều mức độ khác nhau, nhưng tựu chung nó được công khai và có thái độ sòng phẳng với thói quen đánh giá theo con mắt chung không cần đến sự thật Để có niềm tin
Trang 40vào cuộc sống hôm nay, các nhà thơ tự bộc lộ mình và gửi số phận cá nhân vào thơ
Có thể nói thơ trữ tình hiện đại sau 1975 dung nạp cái tôi trữ tình có ý nghĩa dứt khoát, mạnh mẽ hơn trong việc khai phá lại, đánh giá lại chuẩn mực và giá trị làm người trong bối cảnh văn hóa xã hội rộng mở, trong cơ hội và thách thức mới với con người
Như vậy, tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng trong thơ trữ tình nghĩa là người đọc từ việc nhận ra phương thức trình bày nghệ thuật độc đáo,
cụ thể mà phát hiện được thế giới chủ quan của nhân vật trữ tình Cần bám sát vào quan niệm nghệ thuật ở mỗi giai đoạn để phát hiện ra “điểm sáng thẩm mĩ” của hình tượng cảm xúc trong thơ
1.3.4 Những nguyên tắc và yêu cầu định hướng rèn năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng thơ trữ tình
1.3.4.1 Nguyê n tắc trong dạy học thơ trữ tình
Thứ nhất, dạy thơ trước hết phải bám vào phương pháp giảng dạy các tác phẩm văn học nói chung “Thơ có đặc trưng của thơ, nhưng thơ cũng là văn học nên cũng mang những đặc trưng chung của văn học là tính hình tượng hình thành trong ngôn ngữ Một bài thơ cũng là một tác phẩm văn học Dạy thơ có những điều chú ý riêng, nhưng trước hết dạy thơ cũng phải phục tùng những phép tắc và phương pháp của việc giảng dạy một tác phẩm văn học nói chung” [12,73]
Thứ hai, dạy thơ trữ tình nói chung và thơ trữ tình hiện đại nói riêng phải bám vào đặc điểm thi pháp của nó Mỗi bài thơ trữ tình cũng có tính độc đáo riêng
về nội dung và hình thức Giảng dạy thơ trữ tình chủ yếu là giảng hình tượng thơ, qua hình thức để giảng nội dung, là thông qua việc phân tích các yếu tố về thể loại, kết cấu, ngôn ngữ để làm sống dậy hình tượng với tất cả vẻ đẹp chiều sâu của nó
Từ đó, tiếp thu và truyền đạt tư tưởng, tình cảm của tác phẩm phù hợp với mục đích, yêu cầu giáo dục, giáo dưỡng
“Học thơ là cảm và hiểu Dạy thơ là đọc và giảng Khi cảm và hiểu, đọc và giảng thơ đều cần lưu ý đến đặc trưng của thơ” [12,74] Ngôn ngữ thơ có tính hàm