Trên địa bàn tỉnh Bến Tre có khoảng 31 làng nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp được hình thành và phát triển, sản xuất rất đa dạng các mặt hàng truyền thống như: bánh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thùy Linh
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LÀNG NGHỀ TỈNH BẾN TRE: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thùy Linh
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LÀNG NGHỀ TỈNH BẾN TRE: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Địa lý học (Trừ Địa lý tự nhiên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Khoa địa lý, Phòng Khoa
học Công nghệ và Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Bằng tất cả tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn PGS.TS Đặng Văn Phan – người đã
tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện
luận văn
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Sở NN và Phát triển NT, Chi cục phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Cục
thống kê tỉnh Bến Tre đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp các tài liệu quí giá để tác giả
có thể hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trong Khoa Địa Lý, cùng các anh chị học viên cao học chuyên ngành Địa lý học khóa 20 đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, những người thân và các bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả Đó là nguồn động lực rất lớn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình
Tác giả luận văn
Trần Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở NÔNG THÔN 10
1.1 Các khái niệm và đặc trưng của làng nghề 10
1.1.1 Các khái niệm 10
1.1.2 Các tiêu chí làng nghề và nghề truyền thống 11
1.1.3 Đặc điểm của làng nghề 12
1.2 Phân loại làng nghề 14
1.2.1 Phân loại theo lịch sử tồn tại và phát triển 14
1.2.2 Phân chia theo chức năng và công dụng sản phẩm 15
1.2.3 Phân loại theo số lượng làng nghề 15
1.3 Vai trò của các làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương 16
1.3.1 Tính tất yếu của việc hình thành làng nghề ở nông thôn 16
1.3.2 Vai trò của làng nghề 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề 21
1.4.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 21
1.4.2 Trình độ phát triển kinh tế 22
1.4.3 Điều kiện xã hội 26
1.4.4 Các nhân tố khác 27
1.5 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số nước và ở Việt nam 28
1.5.1 Một vài kinh nghiệm ở một số nước 28
1.5.2 Khái quát làng nghề ở Việt Nam 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TỈNH BẾN TRE 43
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các làng nghề 43
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lí 43
2.1.2 Trình độ phát triển kinh tế 48
Trang 52.1.3 Điều kiện văn hóa xã hội 52
2.2 Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre 55
2.2.1 Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre trước năm 2000 55
2.2.2 Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre năm 2000 – 2010 56
2.3 Những tồn tại, hạn chế của phát triển hệ thống làng nghề tỉnh Bến Tre 89
2.3.1 Hiệu quả và vai trò của làng nghề tỉnh Bến tre 89
2.3.2 Những khó khăn trong quá trình phát triển hệ thống làng nghề tỉnh Bến Tre 93
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2020 104
3.1 Định hướng phát triển làng nghề Bến Tre đến năm 2020 104
3.1.1 Cơ sở của định hướng 104
3.1.2 Nâng cao vai trò, vị trí của làng nghề trong quá trình CNH-HĐH nông thôn 106
3.1.3 Phát triển làng nghề, mở rộng quy mô và chất lượng các làng nghề Phát triển làng nghề gắn với làng nghề văn hóa du lịch 110
3.1.4 Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm 111
3.1.5 Phát triển làng nghề trên cơ sở kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại 113
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre 115
3.2.1 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 115
3.2.2 Đổi mới công nghệ, kỹ thuật và đa dạng hóa sản phẩm trong làng nghề 117
3.2.3 Mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường cho làng nghề 119
3.2.4 Hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế xã hội làng nghề 125
3.2.5 Hoàn thiện bộ máy quản lý, thực hiện chính sách nhà nước 126
3.2.6 Về môi trường sinh thái 129
3.2.7 Quy hoạch làng nghề, vùng nguyên liệu 130
3.3 Đề xuất và kiến nghị 132
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng số liệu
Bảng 1.1 : Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ năm
2006 – 2010 36
Bảng 1.2 : Cơ cấu xuất khẩu của các nhóm hàng 36
Bảng 1.3 : Khảo sát các nhóm hàng xuất khẩu vào tháng 4 - 2009 36
Bảng 2.1 : Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 49
Bảng 2.2 : Cơ cấu kinh tế qua các năm 2000 – 2005 – 2010 50
Bảng 2.3 : Diễn biến dân số phân theo Huyện – Thành phố (năm 2000 và ngày 01/04/2009) 53
Bảng 2.4 : Hiện trạng làng nghề phân theo địa bàn Huyện (TP) năm 2010 58
Bảng 2.5 : Hiện trạng các làng nghề phân theo nhóm ngành nghề năm 2010 64
Bảng 2.6 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành chế biến – bảo quản nông, lâm, thủy sản 65
Bảng 2.7 : Sản lượng, thu nhập lao động và giá trị xuất khẩu của làng nghề kẹo dừa 67
Bảng 2.8 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành vật liệu XD, may, mây, tre đan, cơ khí,… 70
Bảng 2.9 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành chế biến – nguyên liệu phục vụ NNNT 73
Bảng 2.10 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ 78
Bảng 2.11 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành gây trồng – kinh doanh sinh vật cảnh 81
Trang 8Bảng 2.12 : Hiện trạng làng nghề trong nhóm ngành nghề khác (diêm
nghiệp, đánh bắt thủy sản) 85
Bảng 2.13 : Thu nhập của lao động chính tại làng nghề qua các năm 90
Bảng 2.14 : Vốn đầu tư cho các đơn vị sản xuất kinh doanh 95
Bảng 2.15 : Phân loại chất thải tại các làng nghề 101
Biểu đồ Biểu 2.1 : Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Bến Tre năm 2000 - 2010 50
Biểu 2.2 : Số cơ sở và lao động làng nghề phân theo huyện (TP) tỉnh Bến Tre năm 2010 59
Biểu 2.3 : Giá trị sản lượng phân theo huyện (TP) tỉnh Bến Tre năm 2010 59
Biểu 2.4 : Biểu đồ giá trị sản lượng các làng ghề phân theo nhóm ngành nghề 64
Biểu 2.5 : Giá trị xuất khẩu của làng nghề sản xuất xuất chỉ xơ dừa qua các năm 75
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, hệ động thực vật phong phú, có không khí thoáng mát quanh năm và một môi trường sinh thái trong lành Bến Tre được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều so với các vùng lân cận, có bờ biển dài 65 km, có rừng ngập mặn, lắm sông nhiều rạch,
cù lao, cồn bãi, nên bốn mùa khí hậu ôn hòa, mát mẻ, có những vườn cây ăn trái bốn mùa trĩu quả cùng với các sản phẩm từ dừa nổi tiếng trong và ngoài nước Người dân Bến Tre đã tận dụng tất cả các thành phần của cây dừa như thân, cọng,
vỏ, gáo dừa,… để làm ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo Và từ việc tận dụng các sản phẩm từ cây dừa, các cây trồng khác với tài nghệ khéo léo của người dân ở đây đã xuất hiện ra những làng nghề thủ công nghiệp mang đậm văn hóa xứ
sở
Với xứ dừa Bến Tre, làng nghề ở đây hiện hữu rất đa dạng và phong phú Trên địa bàn tỉnh Bến Tre có khoảng 31 làng nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp được hình thành và phát triển, sản xuất rất đa dạng các mặt hàng truyền thống như: bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc; kềm kéo cắt móng Mỹ Thạnh; dệt chiếu An Hiệp, Nhơn Thạnh, Thành Thới B; chế biến cá khô Bình Thắng, An Thủy; rượu nếp Phú Lễ; đan đát Phước Tuy; kẹo dừa phường 7…;
và đang xuất hiện thêm một số làng nghề mới như: sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
từ dừa, chỉ xơ dừa, than gáo dừa, đúc lu, đan giỏ cọng lá dừa, đóng ghe thuyền có quy mô, hình thức tổ chức khác nhau, đã góp phần tích cực trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao tỉ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế chung trên địa bàn Hệ thống các làng nghề hiện có trên địa bàn tỉnh đã góp
phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là giải quyết việc làm, tạo thu nhập và làm giảm các tệ nạn xã hội
Giai đoạn (2006 -2010) ngành công thương đã chủ trì phối hợp các ngành có liên quan và các huyện, thành phố tiến hành thẩm định và trình Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận 17 làng nghề đạt tiêu chuẩn theo Quyết định tại thông tư
Trang 10116/2006/TT-BNN ngày 26/06/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với tổng số lao động hơn 11.000 người, thu nhập bình quân từ 1 triệu đến 1,2 triệu đồng/người/tháng
Kết quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở làng nghề: tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2005 đạt 186.701 tỷ đồng; năm 2010 đạt 330,8
tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 12,12%/năm, chiếm 9 đến 10% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp
Hoạt động của làng nghề chủ yếu hướng vào việc sử dụng lao động và phù hợp với sự khéo léo của người dân Các làng nghề góp phần xóa đói giảm nghèo cho hàng vạn lao động tại địa phương, là bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển làng nghề còn nhiều mặt hạn chế; số đông làng nghề làm ăn theo kiểu tự phát, chưa nắm bắt được thị trường, chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, còn hạn chế về dự báo cung cầu Vốn, công nghệ, thiết bị sản xuất, thông tin thị trường, trình độ kỹ thuật và quản lý còn non yếu, tay nghề thấp, mẫu mã sản phẩm chậm được cải tiến, đổi mới, giá thành cao, sức cạnh tranh còn hạn chế Vì vậy, để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển tốt trong thời gian tới cần đề ra các chính sách giải quyết và định hướng phát triển sao cho làng nghề hoạt động có hiệu quả hơn góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ở địa bàn nông thôn
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn với hy vọng làng nghề ở Bến Tre ngày
càng phát triển và quy mô ngày càng mở rộng nên tôi đã chọn đề tài: “Phát triển hệ thống làng nghề tỉnh Bến Tre: Thực trạng và giải pháp”
2 Mục tiêu – nhiệm cụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng hoạt động của các làng nghề, từ
đó đưa ra định hướng và giải pháp để phát triển làng nghề
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu đã nêu, đề tài phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
Trang 11- Xác lập cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển làng nghề để vận dụng vào việc nghiên cứu hoạt động làng nghề ở Bến Tre
- Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành
Về thời gian, đề tài tập trung điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và phân tích trong giai đoạn từ năm 2000 - 2010
Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Bến Tre Nghiên cứu tình hình phát triển làng nghề ở tỉnh Bến Tre, tập trung vào các làng nghề đã được công nhận gồm 31 làng nghề trong đó nghiên cứu sâu hơn các làng nghề sản xuất
đồ thủ công mỹ nghệ từ dừa, kẹo dừa
3 Lịch sử vấn đề
Làng nghề ở nước ta có từ lâu đời và đã đóng góp rất quan trọng vào việc giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Nên làng nghề Việt Nam đã được các nhà khoa học kinh tế nghiên cứu trên nhiều phương diện, đã đạt được những kết quả nhất định Về mặt cơ sở lý luận, có những lý luận chặt chẽ về làng nghề làm nền tảng lý luận cho đề tài:
- Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH (2003) của Trần Minh Yến
- Phát triển làng nghề truyền thống với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh
Trang 12- Ngành nghề nông thôn Việt Nam (1998) NXB nông nghiệp Hà Nội
- B ảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa
(2001) của Dương Bá Phượng
- Tổng quan về làng nghề, Kinh nghiệm các nước về làng nghề của Trương
Quang Thông
- Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2005) của Mai Thế Hiển
- Thủ công nghiệp từ Thăng Long đến Hà Nội (2010) của Nguyễn Lang
Các công trình nghiên cứu nêu lên các quan điểm khác nhau về cơ sở lý luận của làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam, quá trình phát triển làng nghề trong quá trình CNH – HĐH Bên cạnh đó còn rút ra được kinh nghiệm phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp ở một số nước Các công trình này chủ yếu đưa ra
lý luận cho vấn đề phát triển làng nghề nhưng chưa nêu rõ được cần phát triển làng nghề theo hình thức nào hay chưa phân tích cụ thể hiện trạng sản xuất hay tình hình
ở các làng nghề
Trên cơ sở lý luận thì vẫn có các công trình nghiên cứu sâu sắc hơn về tình hình sản xuất, thực trạng của làng nghề, giải pháp cho phát triển làng nghề cụ thể ở từng vùng, địa phương
- Vấn đề môi trường trong các làng nghề truyền thống ở vùng ven đô Hà Nội
của Mai Thế Hiển
- Hỏi đáp về các làng nghề truyền thống Hà Nội của Đậu Xuân Luận
- Một số vấn đề về việc phát triển làng nghề đồng bằng sông cửu long trong thời gian tới của Nguyễn Lực
- Làng nghề truyền thống Việt Nam (2004) của Phạm Côn Sơn
- Phát triển thị trường làng nghề TTCN vùng ĐBSH (2004 – 2005) do Trần
Văn Chử làm Chủ nhiệm đề tài
- Về các giải pháp phát triển TCN theo hướng CNH, HĐH ở vùng ĐBSH
(1998) của Đặng Quang Lễ
- Làng nghề thủ công truyền thống Bắc Ninh của Đỗ Thị Hảo
Trang 13- Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội (2000) của Mai Thế Hiển
- Làng nghề nông thôn nước ta: Những vấn đề phát sinh cần giải quyết và giải pháp chủ yếu để phát triển trong quá trình CNH – HĐH nông thôn (2005) của
Nguyễn Văn Chiến
Các công trình trên đã đưa ra được cơ sở lý luận và phân tích được thực trạng của làng nghề ở từng vùng từng địa phương, hướng giải quyết và giải pháp chủ yếu
để phát triển làng nghề trong quá trình CNH – HĐH nông thôn
Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển cũng như hướng giải quyết và giải pháp phát triển đây là nền tảng giúp cho tôi có kiến thức đầy đủ hơn khi thực hiện đề tài của mình Trên địa bàn tỉnh Bến Tre mặc dù các làng nghề đã phần nào góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà nhưng các làng nghề ở đây chưa có công trình nghiên cứu nào về làng nghề tỉnh Bến Tre Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu tôi sẽ phân tích thực trạng hệ thống làng nghề tỉnh Bến Tre có những thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển từ đó đưa ra giải pháp và định hướng để làng nghề được phát triển ổn định và bền vững
4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Hệ quan điểm
4.1.1 Quan điểm hệ thống – lãnh thổ
Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong tổ chức lãnh thổ do tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu Trong bất cứ một lãnh thổ nào ở một trình độ sản xuất nhất định, một tổng thể tự nhiên nhất định, một kết cấu tài nguyên nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế tương ứng Việc sử dụng các điều kiện tự nhiên , kinh
tế, lịch sử, vị trí địa lí khác nhau, là cơ sở của sự tác động qua lại của các thành phần đó Như vậy với mỗi lãnh thổ đều có lịch sử hình thành nhất định, hay nói rõ hơn là đều có một phạm vi không gian kinh tế - xã hội riêng mình, trong đó chứa đựng các thành phần con người - tự nhiên và sản xuất Mỗi thành phần đó bao hàm các yếu tố cấu thành không đứng riêng lẻ, cô lập nhau và chúng có vai trò nhất định, tác động qua lại, quan hệ theo các kiểu khác nhau
Trang 14Vì vậy khi nghiên cứu về làng nghề của tỉnh Bến Tre được xem là một hệ thống lãnh thổ bao gồm các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên, hệ thống dân cư Các hệ thống này quan hệ và tác động qua lại tạo nên quá trình phát triển KT-XH của tỉnh và sự kết hợp hài hòa với sự phát triển KT-XH của vùng ĐBSCL và cả nước
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Làng nghề được xem là một hệ thống có đặc điểm tổng hợp lãnh thổ, là một
hệ thống xã hội được tạo thành bởi các nhân tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người,… có mối quan hệ qua lại, mật thiết gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh
Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển KT-XH của tỉnh Bến Tre thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định
để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt KT-XH và môi trường Giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển với việc nâng cao chất lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra các biện pháp cụ thể nhằm phát huy lợi thế của các ngành nghề dưới cái nhìn khách quan và tổng hợp tạo động lực phát triển KT-XH của tỉnh
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Bến Tre là một vùng đất mới hình thành nhưng các làng nghề hiện hữu ở đây rất đa dạng và mang đậm văn hóa của vùng ĐBSCL Ngành nghề nông thôn, làng nghề, làng nghề truyền thống cũng là một ngành kinh tế đem lại hiệu quả kinh tế cao Nên nó luôn vận động và phát triển không ngừng theo thời gian Tùy theo từng giai đoạn nhất định mà nó có các nguồn lực và thế mạnh khác nhau tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của các ngành nghề này Đánh giá đúng chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từng giai đoạn trong quá khứ, hiện tại đó là một tiền đề thuận lợi cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh cho sự phát triển của các ngành nghề trong tương lai Sử dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả sản xuất của các làng nghề diễn ra trên địa bàn tỉnh Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển lâu bền và hợp
Trang 15lý hơn
4.1.4 Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT-XH Quan điểm này thể hiện thông qua một chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế,…Trong cơ chế thị trường, sản xuất phải đem lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt cái mục tiêu kinh tế bằng mọi giá
Phát triển kinh tế làng nghề cũng không nằm ngoài mục tiêu trên chúng ta thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề là nhằm góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung, nhưng chúng ta cần phải tính đến mục tiêu lâu dài, sự phát triển bền vững trong tương lai chứ không phải chỉ vì mục tiêu trước mắt
mà bất chấp tất cả
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững
về cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT-XH nói chung và của ngành nghề nông thôn (làng nghề, làng nghề truyền thống) nói riêng là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động qua lại, mang tính thang cấp rõ rệt Muốn hiểu rõ những đặc điểm và tính quy luật vận động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa chiều bên trong
và bên ngoài hệ thống về các mặt số lượng, cường độ, mức độ chặt chẽ
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong đề tài nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và thường xuyên có sự biến động theo thời gian và không gian như các làng nghề
4.2.2 Phương pháp điều tra thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh,…tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ
Trang 16quan quản lí, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương, chủ doanh nghiệp, nông dân, người lao động,
4.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nghiên cứu về mặt định lượng của các chỉ tiêu phát triển trong làng nghề Những thông tin, số liệu có liên quan tới làng nghề của vùng được thu thập làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích và đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài đã đề ra
Phương pháp này cho phép tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng, phức tạp của các đối tượng nghiên cứu làng nghề trong thực tiễn, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản, quy luật vận động của đối tượng
và điều khiển tối ưu, phương hướng phát triển của chúng
4.2.4 Phương pháp dự báo định hướng
Phương pháp này giúp ta định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu và kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của các đối tượng nghiên cứu làng nghề một cách khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển thực tại Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan, dựa trên các nguyên nhân, hệ quả và tính chất hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ, từ đó dự báo sự phát triển của các làng nghề trong tương lai
4.2.5 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Để kết quả nghiên cứu được trực quan, đề tài đã áp dụng phương pháp bản
đồ, biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định tính Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng (làng nghề nghiên cứu), đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của từng làng nghề Bản đồ được thành lập bằng việc sử dụng kĩ thuật GIS với phần mềm Mapinfo 7.5
Trang 175 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các làng nghề ở
nông thôn
Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề tỉnh Bến Tre đến
năm 2020
Trang 18Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở NÔNG THÔN
1.1 Các khái niệm và đặc trưng của làng nghề
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Làng nghề
Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với các thôn làng và các làng nghề
Chúng là đặc trưng kinh tế cho truyền thống kinh tế, văn hóa của xã hội nông thôn
Các làng nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện tại, là nấc thang quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa ở nông thôn nước ta
Nói đến làng nghề chúng ta cần chú ý 2 yếu tố cấu thành đó là làng và nghề Làng là một khu vực địa lí, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân cùng sinh sống, cùng sản xuất Các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi công nghiệp, các ngành nghề thủ công ở các thôn làng
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, phục
vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu
Trang 19hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng
Làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa bàn ở nông thôn Trong làng đó có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hoá, dịch vụ trong đó có ít nhất một loại hàng hoá dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập dân
cư được tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử
và còn tồn tại đến ngày nay, những làng nghề với những giá trị đặc sắc đã tồn tại hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm Các làng nghề truyền thống thường có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa, có bí quyết nghề nghiệp và đặc biệt là tạo ra những sản phẩm tiêu biểu độc đáo cho Việt Nam, có giá trị, chất lượng cao, vừa là hàng hóa và là sản phẩm văn hóa nghệ thuật
Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí của làng nghề nhưng
có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống
Trang 20Nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghị công nhận
Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
Nghề gắn với nhiều tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Làng nghề:
Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước
1.1.3 Đặc điểm của làng nghề
Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt
chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau
đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn,
sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân
Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là
chủ yếu Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công
Trang 21nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có
sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất
sản phẩm
Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ Hầu
hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một số nguyên
liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều
Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa
học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có
một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền
thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn
Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản
phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công
sở Nhà nước Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo
với sự sáng tạo nghệ thuật Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt
Trang 22được đâu là gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Ninh), Đông Triều (Quảng Ninh) Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các họa tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc
Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ
của các địa phương Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay,
thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên
tỉnh và một phần cho xuất khẩu
Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô
hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân
1.2 Phân loại làng nghề
1.2.1 Phân loại theo lịch sử tồn tại và phát triển
Theo tiêu chí trên người ta phân chia các làng nghề thành làng nghề và làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử
và còn tồn tại đến ngày nay
Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác Một số làng mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương mình
Chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo ra một sức sống mới cho các làng nghề Rất nhiều làng nghề trước đây bị mai một nay đã bắt đầu phát triển và lan rộng ra các nơi khác Theo số liệu thống kê cả nước hiện có 2.790 làng nghề với 53 nhóm nghề Việt Nam ước tính có khoảng 200 loại sản
Trang 23phẩm thủ công khác nhau, trong đó rất nhiều sản phẩm có lịch sử phát triển: Tơ lụa Vạn Phúc, Đồng Ngũ Xã, gỗ Sơn Đồng, thêu Quất Động có hàng nghìn năm lịch sử, mây tre đan Phú Vinh, gốm sứ Bát Tràng, kim hoàn Định Công, khảm Chuôn Ngọ
có bề dày lịch sử gần 100 năm
1.2.2 Phân chia theo chức năng và công dụng sản phẩm
Nhóm I: bao gồm các nghề gốm sứ, sơn mài thêu rèn, thảm, chạm khắc gỗ chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm mây tre đan các loại Đây là những làng nghề thủ công mỹ nghệ có sản phẩm được ưa chuộng không những trong mà cả ngoài nước
Nhóm II: Các làng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường gồm dệt chiếu, làm nón, đan mành rổ rá bồ sọt, dệt vải các loại Đây là những làng nghề mà sản phẩm của chúng đang bị chèn ép lớn do sự phát triển của khoa học công nghệ của vật liệu mới…
Nhóm III: Gồm các làng nghề làm thuốc và chế biến lương thực thực phẩm: làm bún, bánh, làm đường, làm mật…
Nhóm IV: Các làng nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như nề, mộc rèn, hàn đúc làm cày bừa…
Việc phân loại như trên chỉ mang tính tương đối bởi lẽ một số nghề có thể vừa thuộc nhóm này lại vừa thuộc nhóm khác Một số nghề đối với địa phương cơ
sở được coi là nghề truyền thống nhưng trên phạm vi vĩ mô thì có thể chưa được coi
là làng nghề truyền thống Ngoài ra để thuận tiện cho quản lý người ta còn thực hiện phân chia làng nghề theo địa giới hành chính, tỉnh, huyện, xã
1.2.3 Phân loại theo số lượng làng nghề
Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một
nghề thủ công duy nhất
Làng nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc
nhiều nghề khác
Trang 241.3 Vai trò của các làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
1.3.1 Tính tất yếu của việc hình thành làng nghề ở nông thôn
Phát triển ngành nghề ở nông thôn là vấn đề mang tính lịch sử Từ xa xưa khi sản xuất còn giản đơn, việc mua bán các sản phẩm công nghiệp chưa phát triển sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và thời điểm nông nhàn người nông dân từ sản xuất ra các đồ dùng sinh hoạt cho gia đình, bản thân Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn bắt đầu có phân công lao động xã hội sự trao đổi hàng hóa đã dần dần hình thành nên các làng nghề để trao đổi sản phẩm cho nhau Những hoạt động đó dần dần được đúc kết lại lưu truyền qua các thế hệ và trở thành các ngành nghề truyền thống
ở nông thôn Cùng với những kỹ thuật truyền thống và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương các ngành nghề phát triển mạnh và có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp có đến 70% dân số ở nông thôn, một đặc điểm lớn của nghề nông là tính thời vụ và thu nhập thấp Hàng năm người nông dân sau những mùa cấy gặt vất vả là lúc nông nhàn Diện tích đất bình quân đầu người ngày càng thấp đã khiến cho tình trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng Hơn nữa lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động chân tay không kỹ năng lao động, không có tay nghề, chính vì thế để tạo việc làm cho lực lượng này không gì hơn là phát triển các ngành nghề ngay tại địa phương Do yêu cầu của vấn đề việc làm, thu nhập cùng với các điều kiện sẵn có ở địa phương mà đã hình thành nên các làng nghề Tuy nhiên để các làng nghề tồn tại phát triển được còn phải dựa vào nhiều nhân tố khác nữa
Trong điều kiện của một nền kinh tế còn nhiều yếu kém với tiềm lực về khoa học, công nghệ còn hạn chế, vốn thiếu, lao động dư thừa nhiều chưa có khả năng tiến thẳng lên nền đại công nghiệp thì phải chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp coi đó là một bước song song với tích lũy tạo tiềm lực cho CNH – HĐH
Trang 25Cùng với quá trình phân công lao động xã hội bộ phận lao động TTCN sẽ được giải phóng tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, từ công nghiệp nông thôn ngày càng lớn mạnh góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
1.3.1.1 Con đường hình thành nên các làng nghề
Các làng nghề dù là làng nghề gì, sản xuất kinh doanh như thế nào, thành lập
từ bao giờ, tuy thời điểm xuất hiện của chúng có khác nhau nhưng tựu chung lại chúng thường xuất hiện theo một số con đường tương đối phổ biến là:
- Được hình thành trên cơ sở có những nghệ nhân với nhiều lý do khác nhau
mà đến truyền nghề cho dân làng
- Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có những kỹ năng và sự sáng tạo nhất định Từ sự sáng tạo của họ, qui trình sản xuất và sản
phẩm không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Rồi họ truyền nghề cho dân cư trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan truyền ra khắp làng và tạo thành làng nghề
- Những người đi nơi khác học nghề rồi về dạy lại cho những người khác trong gia đình, dòng họ và mở rộng dần phạm vi ra khắp làng
- Một số làng nghề hình thành trong những năm gần đây, sau năm 1954 được hình thành một cách có chủ ý do các địa phương thực hiện chủ trương phát triển nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp
- Trong thời kì đổi mới hiện nay một số làng nghề đang được hình thành trên
cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề truyền thống, tạo thành một cụm làng nghề trên một vùng lãnh thổ lân cận với làng nghề truyền thống
Trang 26- Hai là, gần nguồn nguyên liệu Hầu như không có làng nghề nào lại không
gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản
xuất của làng nghề
- Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thị trường chính Đó là những nơi tập trung dân
cư với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần hoặc không quá
xa các trung tâm thương mại
- Bốn là, sức ép về kinh tế Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và phát triển của các làng nghề ở những nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao, đất chật người đông, thêm vào đó có khi còn là do chất đất hoặc khí hậu không phù hợp làm cho nghề nông khó có điều kiện phát triển để đảm bảo thu nhập và đời sống dân cư trong làng
- Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng Nếu không có những người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khả năng ứng phó với những tình huống xấu, bất lợi thì làng nghề cũng khó có thể tồn tại một cách bền vững
Trang 27văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, văn hoá xã hội Làng nghề là nơi cộng đồng dân
cư có lối sống văn hóa: sống yêu lao động; sống cần cù, giản dị, tiết kiệm; sống đùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề Làng nghề là nơi không có đất để văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè, đua xe… nẩy nở Phải chăng chính vì lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực, thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
1.3.2.2 Góp phần giải quyết việc làm
Bất chấp sự thừa nhận muộn màng chính thống đối với vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế hàng hóa, làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết
việc làm cho hàng chục ngàn, trăm ngàn cư dân, đặc biệt là thanh niên Tại các làng nghề, thanh niên - đa số là nữ thanh niên – có được "tay nghề", dù tay nghề cao hay
thấp thì những người lao động này cũng thoát khỏi cuộc đời chạy tìm việc lao động
phổ thông Để làm nghề thủ công truyền thống, người thợ không cần có nhiều vốn,
chỉ cần một ít công cụ thủ công cùng đôi bàn tay khéo léo và đặc biệt là sự siêng năng cần mẫn Với điều kiện như thế, khi sản phẩm nghề thủ công có chỗ đứng trong nền kinh tế hàng hóa, thì làng nghề thu hút được nhiều lao động
Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao động nông thôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỉ lệ
rất lớn trong tổng số lao động của cả nước Tính mỗi năm có thêm một triệu lao động ở nông thôn không có việc làm Trong khi đó hàng năm có khoảng 20 vạn đất
sản xuất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng nên tiếp tục có thêm hàng
ngàn người lao động ở nông thôn không có việc làm
Các làng nghề thủ công hoạt động chủ yếu dựa vào lao động cá nhân, lao động
sống thường chiếm tỉ lệ lớn (50%-60%) giá thành sản phẩm, cho nên việc phát triển làng nghề truyền thống được xem là cơ sở để giải quyết việc làm cho người lao động Điều này được thể hiện như sau:
Trang 28- Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho người lao động,
thể hiện được chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta là xoá đói giảm nghèo, tạo cơ
hội làm giàu ngay tại địa phương
- Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động dư thừa và
lao động thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao động nông
nhàn không những ở gia đình mình làng xóm mình mà còn thu hút lao động ở các
địa phương khác, do đó góp phần giải quyết lao động dư thừa trên diện rộng
- Làng nghề thủ công truyền thống ngoài việc tạo việc làm cho người tại chỗ,
còn cung cấp việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu, dịch vụ
hoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm
- Như vậy làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làm
cho người lao động một cách hiệu quả theo phương châm "ly nông bất ly hương"
1.3.2.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa
Mục tiêu cơ bản của CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơ cấu
kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển
các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và du lịch dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp
Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút
nhiều lao động đồng thời nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán
sản xuất từ sản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá,
hoặc tiếp nhận công nghệ mới làng thuần nông
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấu ngành
công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần bố trí lực
lượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất ly hương" Đặc biệt sự phát triển
của những làng nghề mới đã phá thế thuần nông, tạo đà cho công nghiệp phát triển,
thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế ở nông thôn
Trang 29Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên công nghiệp lớn Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên kết công nông nghiệp có hiệu quả
1.3.2.4 Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh
tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hàng hoá ở nông thôn
Sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng cho nhu cầu quốc tế Theo bộ NN-PTNT, hiện nay cả nước đã có hơn 40%
sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường hơn 100 nước trên
thế giới Kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng tăng cao: năm 2004 đạt 450 triệu USD tăng 22% so với năm 2003, năm 2005 đạt 520 triệu USD tăng 16% so
với năm 2004 Trong đó nhiều nghề truyền thống phát triển như thêu, dệt thổ cẩm,
gốm sứ, nghề mây tre đan
1.4 Các nhân t ố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề
1.4.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm sản xuất do đó nó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các ngành nghề Mỗi vùng với khí hậu thời tiết đặc trưng tạo nên những nguồn nguyên liệu cho các làng
nghề khác nhau, hầu hết các sản phẩm thủ công truyền thống đều nhằm phục vụ đời sống của người dân mà mỗi nơi người dân có những nhu cầu khác nhau cho phép phát triển những ngành nghề khác nhau VD: vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông Nó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành may mặc, ngành dệt len, chế biến lương thực và một số ngành khác ngoài ra nó còn ảnh hưởng tới việc vận chuyển bảo quản phơi sấy, đi lại, giao dịch buôn bán…Đất đai cũng là
Trang 30nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề nhất là việc thành lập các cơ sở ngành nghề, các cụm công nghiệp tập trung ở nông thôn
Vị trí địa lý là một yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển, đảm bảo sự phát triển lâu dài đối với các ngành nghề đặc biệt là các ngành nghề truyền thống
Thực tế cho thấy các làng nghề thường ở vị trí thuận lợi về giao thông thủy
bộ, gần nguồn nguyên liệu Ở những nơi lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cầu, sông Đồng Nai, sông Cửu Long,… đã quần tụ nhiều làng nghề tạo thành các trung tâm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Hàng làm ra cần tiêu thụ ở nhiều tỉnh xa thậm chí ở hầu hết các địa phương trong cả nước mà xuất khẩu sang các nước khác yêu cầu vận tải lớn do đó không thể thiếu đường bộ, đường sông, đường biển Các cụ tổ nghề nhất định là ngay từ đầu đã quan tâm đến yếu tố “bến sông, bãi chợ” vốn có ấy
để quyết định mở nghề lập nghiệp ở một nơi Các cụ còn quan tâm đến nguồn nguyên liệu thích hợp cho yêu cầu sản xuất lâu dài, nhất là nguyên liệu tại chỗ Bởi cho dù các cụ có lựa chọn làng nào có đức để truyền nghề thì thực sự dân làng nào cũng có thể đào tạo thành thợ được chứ vị trí địa lí giao thông vận tải và nguồn nguyên liệu tại chỗ có sẵn cho sản xuất và tiêu thụ hàng làm ra thì không thể tạo ra được, nhiều khi không thể muốn là được có thể khẳng định rằng nếu thiếu hai điều chuyện (nguyên liệu, bến sông) chắc chắn không thể tồn tại những làng nghề lâu đời
và nổi tiếng như hiện nay
Phần lớn làng nghề ở nước ta làm nghề theo cấp độ là nghề phụ Một số ít làng nghề khác đã lấy nghề thủ công làm nghề nghiệp chính phát triển nghề thủ công nghiệp đến mực thoát ly hẳn ngay tại làng quê mình thường diễn ra ở những làng nghề ít ruộng đất canh tác Điều này giải thích tại sao ĐBSH lại là nơi có số lượng làng nghề tập trung đông nhất so với cả nước
1.4.2 Trình độ phát triển kinh tế
Nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường đối với hàng thủ công truyền thống, nhu cầu này rất lớn và hết sức đa dạng thời nào cũng có không bao giờ chấm dứt Nhìn chung đó là nhu cầu ăn, mặc ở đi lại, vận tải, học hành đó còn là nhu cầu
Trang 31chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc, nhu cầu thời cúng tôn giáo tín ngưỡng Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử ở giai đoạn nào nhu cầu về tiểu thủ công nghiệp tăng thì làng nghề cũng tăng cả về quy mô và số lượng và ngược lại thu nhập càng tăng thì càng tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm
Trong những năm vừa qua ngành tiểu thủ công nghiệp có nhiều biến động thăng trầm thị trường cũng có nhiều thay đổi nhất là do trình độ kinh tế ngày càng phát triển mức sống người dân được nâng cao, sự biến động của nền kinh tế thế giới khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng rất lớn đến sản phẩm thủ công nghiệp Nhưng
để thích hợp đáp ứng được nhu cầu của người dân cho đến ngày nay cùng với sự cải tiến về mẫu mã chất lượng sản phẩm đặc biệt là chủ trương mở rộng quan hệ ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta đã tạo đà cho ngành tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, một số mặt hàng tiêu dùng trong nước trước đây do ngành nghề thủ công sản xuất và cung cấp song nay do công nghiệp phát triển đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn phù hợp với nhu cầu của người dân khiến nhiều làng nghề thủ công nghiệp đã phải thu hẹp dần quy mô sản xuất hoặc chuyển sang làm nghề khác VD: làm nón, làm giấy, quạt và một số nghề đan lát,…
1.4.2.1 Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề
Cần khẳng định rằng vai trò của nghệ nhân đối với nghề và làng nghề thủ công truyền thống là rất lớn Không có nghệ nhân thì không có làng nghề hay ít nhất cũng không có làng nghề lừng danh Chính tài năng của các nghệ nhân với đôi “bàn tay vàng” của họ đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo những sản phẩm văn hóa sống mãi với thời gian, góp phần làm vẻ vang cho dân tộc và cho mỗi làng nghề Chính nghệ nhân, thợ cả đã giữ cho làng nghề tồn tại đã đào tạo ra những nhóm thợ mà trước hết là con cháu của họ, những người trong gia đình, dòng tộc rồi đến con em trong làng thuộc các dòng họ khác Kiên trì dạy nghề hết ngày này qua ngày khác theo lối “cầm tay chỉ việc”, “vừa học vừa làm” các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề ngay tại làng xóm mình Cứ như thế thợ thủ công
kế tiếp, đan xen nhau lớp này đến lớp khác đời sau nối tiếp đời trước Do đặc trưng sản xuất thủ công cả gia đình từ ông bà, anh em con cháu đến cùng làm nghề mỗi
Trang 32người mỗi việc cho nên cùng một lúc ở làng nghề thường có vài ba thế hệ thợ thủ
công cùng sản xuất
1.4.2.2 Kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời
Về kỹ thuật hầu như các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật truyền thống lâu đời của Việt Nam trong sản xuất Mỗi nghề đều có kỹ thuật sản xuất riêng, kỹ thuật ấy bao gồm nhiều công đoạn, từ khâu khai thác chế biến nguyên liệu đến khâu cuối cùng là hoàn thành sản phẩm để bán ra thị trường cho người tiêu dùng Trong đó còn bao hàm cả thủ pháp nghệ thuật, tuy các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật chung, nếu các làng nghề ấy đều làm một nghề nhưng từng công đoạn kỹ thuật thì mỗi nơi một khác Làng nghề nào cũng biến cách ứng dụng kỹ thuật chung ấy theo cách riêng của mình Riêng thủ pháp nghệ thuật người ta còn tiến hành đa dạng hơn nữa, bởi mỗi nghệ nhân đều có thủ pháp nghệ thuật theo trình độ sáng tạo và kinh nghiệm của riêng mình Điều đó giải thích tại sao làng nghề cụ thể này không thay thế được làng nghề kia, nghệ nhân này không thay thế được nghệ nhân khác mặc dù các làng ấy các nghệ nhân ấy đều làm một nghề và sản xuất ra những sản phẩm cùng loại sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay vô cùng nhanh chóng thay thế sức lao động của con người ở nhiều công việc nặng nhọc làm tăng hiệu quả của các làng nghề VD: máy móc trong nghề mộc, vi tính trong thiết kế mẫu và vẽ họa tiết nghề thêu,…
1.4.2.3 Kết cấu cơ sở hạ tầng ở nông thôn
Một trong những nguyên nhân làm quy mô sản xuất của các làng nghề chậm
lại chính là cơ sở hạ tầng ở nông thôn
Từ xưa, các làng nghề truyền thống thường được hình thành ở những vùng
có giao thông thuận lợi Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không còn bó hẹp tại địa phương mà đã vươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài Bên cạnh đó nguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làng nghề ngày càng cạn kiệt,
bắt buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giao thông càng thuận lợi thì làng nghề càng phát triển
Trang 33Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển của các làng nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, xử lý nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Ngoài ra, sự hoạt động của các làng nghề trong nền kinh tế thị trường chịu tác động mạnh mẽ bởi hệ thống thông tin nói chung Sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc, nhất là internet giúp cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất nắm
bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về nhu cầu, thị hiếu, giá cả,
mẫu mã
1.4.2 4 Vốn cho sản xuất
Vốn là một yếu tố quan trọng của một nền sản xuất hàng hóa trong các làng nghề nhu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh doanh cũng rất khác nhau giữa các đối tượng, các thành phần kinh tế thông thường các doanh nghiệp càng lớn thì nhu cầu
về vốn càng nhiều, các hộ gia đình và cá thể người lao động thì nhu cầu về vốn
không lớn lắm
Mặc dù những năm gần đây chúng ta có một số loại vốn cho vay để phát triển sản xuất và giải quyết việc làm như vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, vốn cho địa phương thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vốn xóa đói giảm nghèo Nhưng số lượng và tỉ lệ các hộ được vay vốn trong các làng nghề còn ít ỏi trong khi nhu cầu vay vốn là rất lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển chỗ làm việc mới như đầu tư theo chiều sâu của các doanh nghiệp trong các làng nghề
Thực tiễn trong một số nghề cho thấy nếu đáp ứng được nhu cầu về vốn và
có chính sách hỗ trợ hơn nữa đối với người sản xuất thì chắc chắn sẽ phát triển mạnh được sản xuất, giải quyết tốt được công ăn việc làm cho người lao động của các địa phương và cơ sở
Trong điều kiện ngày nay, nhất là khi nền kinh tế thị trường phát triển, nhu
cầu về vốn để mở rộng sản xuất ngày càng gia tăng
Trước đây, qui mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh trong các làng nghề
rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của gia đình nên khả năng mở rộng qui mô sản xuất cũng bị hạn chế Hầu hết các hộ sản xuất đều có qui mô vừa và nhỏ và lại thuộc
Trang 34thành phần kinh tế quốc doanh cho nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay là rất khó Đây chính là một trở ngại lớn cho sự phát triển của làng nghề
1.4.3 Điều kiện xã hội
Sự phân bố và tập trung số lượng làng nghề nhiều ở vùng ĐBSH cho thấy mật độ dân số cao là một trong những điều kiện cho việc ra đời các ngành nghề bởi nhu cầu việc làm Do dân số quá đông diện tích đất đai để sản xuất lại ít dẫn đến vấn đề giải quyết tình trạng thất nghiệp Điều đó thúc đẩy việc hoàn thành và phát triển các làng nghề
Trình độ dân trí và tay nghề của người lao động: một địa phương có trình độ phát triển cao sẽ có các nội lực mạnh như vốn: khoa học công nghệ, trình độ quản lí,…đó là những yếu tố quyết định sự lớn mạnh của các làng nghề trong kinh tế thị trường ngày nay Trình độ dân trí sẽ ảnh hưởng tới sự nhận thức, tiếp thu mỹ thuật của các ngành nghề, ảnh hưởng đến việc quản lí phục hưng, tái chế và phát triển các làng nghề, ngành nghề
Chính sách của Đảng và nhà nước rất quan trọng đối với sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế nói chung và làng nghề nói riêng Sự thay đổi của chính sách có thể làm mất đi làng nghề hoặc có khả năng khôi phục hoặc tạo ra những làng nghề mới
Chẳng hạn như nghề làm gạch ở Cẩm Hà- Hội An, vì sự ảnh hưởng của nó đến môi trường và chủ trương phát triển làng nghề văn hóa du lịch nên nghề đó đã không tồn
tại
Trước năm 1996, với quan điểm duy ý chí muốn thiết lập nhanh chóng quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam chỉ chấp nhận hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nên các làng nghề vốn là các hộ sản xuất cá
thể không có cơ may tồn tại, phải chuyển thành các hợp tác xã, do đó làng nghề không thể phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế tư nhân, các
hộ gia đình được thừa nhận là những thành phần kinh tế độc lập thì các nghề đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển Gần đây, một trong những nội dung định hướng phát triển kinh tế nông thôn do đại hội Đảng lần thứ IX đề ra là: " mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất
Trang 35hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu " đã tạo tiền đề cho các làng nghề phát triển nhanh hơn, mạnh hơn
Đặc biệt, trong năm 2005 Bộ NN-PTNT đã xây dựng đề án " mỗi làng một nghề" theo đó hàng năm mỗi tỉnh sẽ chọn 2 đến 4 làng điểm để xây dựng dự án phát triển, trong đó có 1 đến 2 dự án được chọn làm trọng điểm cấp quốc gia, được hỗ
trợ kinh phí từ ngân sách trung ương Dự án này đã góp phần phát triển làng nghề
1.4.4 Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên còn có nhiều nhân tố khác cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của các làng nghề như hương ước, quy chế của mỗi làng nghề,…
Trong hầu hết các hàng thủ công lâu đời nổi tiếng ở nước ta đều có quy chế
về nghề thủ công hoặc thành văn bản hoặc không thậm chí ở mỗi phường nghề trong cùng một nghề ở cùng một làng cũng có quy chế riêng dưới dạng “lời thề”,
“lời nguyền”
Trước kia ở các làng, các xã điển hình là ở vùng đồng bằng Bắc bộ, hương ước và quy chế được là những văn bản pháp lý chúng được mặc nhiên thừa nhận và tồn tại song song với hệ thống pháp luật của Nhà nước phong kiến trung ương
Trong bối cảnh lịch sử đó các phường nghề, hội nghề gia tộc làm nghề thủ công cũng soạn ra các văn bản về nghề nghiệp gọi là “lời thề”, “lời nguyền”,… Những quy chế này được truyền từ đời này sang đời khác bắt buộc các thành viên trong gia tộc, trong phường hội nhất nhất tuân theo thực hiện 1 cách khá nghiêm ngặt
Những quy định trong làng nghề, phường nghề, tộc nghề,…là những biện pháp giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của những người thợ ở các làng nghề thủ
Trang 36công cổ truyền Điều đó có tác dụng tích cực đối với việc duy trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề Nhưng chính sự tuyệt đối bí mật mang tính độc quyền
đã làm kìm hãm sự phát triển nghề nghiệp trong phạm vi cả nước
Chỉ sau này khi các trường dạy nghề mở ra các khóa học thực hành ngắn hạn, dài hạn đã tạo nên những thế hệ trẻ cho nhiều tỉnh, thành phố thì tình hình hạn chế nói trên có thay đổi tích cực hơn
1.5 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số nước và ở Việt nam
1.5.1 Một vài kinh nghiệm ở một số nước
1.5.1.1 Phát triển tiểu thủ công nghiệp ở Thụy Điển
Tiểu thủ công nghiệp ở Thụy Điển phát triển trong điều kiện công nghiệp đã lớn mạnh Năm 1902, Liên đoàn tiểu thủ công nghiệp của Thụy Điển ra đời dưới hình thức tư nhân, có nhiệm vụ đại diện cho các hiệp hội và địa phương trong quan
hệ giao dịch với Nhà nước Năm 1922, Liên đoàn lập học viện Cao đẳng đào tạo nghề nghiệp cho tiểu thủ công nghiệp nhằm chế tạo thiết bị mới, kĩ thuật mới, sản phẩm mới
Về vốn, năm 1934 đã cho thành lập công ty quỹ tín dụng để tài trợ vốn cho tiểu thủ công nghiệp, cấp vốn lâu dài cho việc xây dựng và hiện đại hóa cơ sở Một nửa vốn của công ty là của Nhà nước một nửa kia là sự đóng góp của 16 ngân hàng
Năm 1942 Học viện được chuyển cho chính phủ quản lí Năm được đổi tên là Học viện Quốc gia các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Thụy Điển, đặt dưới quyền quản lí của một Hội đồng quản trị Liên đoàn có 45000 thành viên, hoạt động trong
40 hiệp hội trong thương nghiệp, 450 hội viên địa phương Liên đoàn cung cấp dịch
vụ cho từng cơ sở, từng thành viên, giúp đỡ về mặt luật pháp, về sản xuất, về quản
lí, tổ chức nghiên cứu và đào tạo nghề nghiệp Theo sự đề nghị của Liên đoàn tiểu thủ công nghiệp quỹ hàng năm cần khoảng 1triệu USD Nhà nước đài thọ 1/3 còn 2/3 do sự đóng góp và thu nhập từ dịch vụ của Học viện Học viện còn có phòng thí nghiệm, có máy móc và dụng cụ nghiên cứu, chế tạo nguyên vật liệu, các xưởng thí nghiệm,…
Trang 371.5.1.2 Quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp của Ấn Độ
Lúc đầu Ấn Độ chỉ quan tâm tới công nghiệp lớn mà ít quan tâm tới tiểu thủ công nghiệp Nhận thức được thiếu sót này Chính phủ đã tổ chức chương trình phát triển tiểu thủ công nghiệp do ủy viên tiểu thủ công nghiệp chính phủ liên bang phụ trách, trực thuộc là một mạng lưới các Viện dịch vụ gọi tắt là SISO, lúc đầu có 4 Viện sau thành lập 16 Viện trong 16 bang
Đến năm 1960 chương trình đã xây dựng được 36.457 cơ sở tiểu công nghiệp, sử dụng 1.337.000 người (chiếm 38% công nhân công nghiệp: 17% vốn cố định, 26% giá trị tăng thêm trong công nghiệp) Ngoài ra toàn liên bang còn 4,2 triệu người làm tiểu công nghiệp không đăng kí Cũng trong thời gian đó Chính phủ quyết định thành lập Viện phổ biến và đào tạo tiểu công nghiệp, lấy tên là SIET
Sự nỗ lực về nhiều mặt đã đưa nền tiểu công nghiệp lên vị trí chiến lược đối với nền kinh tế quốc dân và Chính phủ Ấn Độ đã xây dựng được một hệ thống tổ chức chuyên ngành có khả năng phát triển tiểu công nghiệp vững chắc lâu dài trên phạm vi cả nước
1.5.1.3 Kinh nghiệm của INDONEXIA
Chính phủ Indonexia đã đề ra chương trình phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn trong các kế hoạch năm năm Từ xây dựng các xưởng và trung tâm để bán sản phẩm tiểu thủ công nghiệp đến thực hiện các dự án hướng dẫn phát triển công nghiệp nhỏ nhằm giáo dục đào tạo mở rộng các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ rồi tổ chức ra một cơ quan để quản
lí, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ sản xuất kinh doanh và làm các dịch vụ cung cấp thiết bị vật tư, tiêu thụ sản phẩm Chính phủ tổ chức ra trung tâm hỗ trợ công nghiệp nhỏ đặt mối quan hệ với công nghiệp lớn và chương trình nghiên cứu tiềm năng sản xuất và thị trường làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp nhỏ Chính phủ đã đề
ra chính sách thuế ưu tiên công nghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu Cùng với
đề ra các chính sách Chính phủ đã tổ chức ra “Hội đồng tiểu thủ công nghiệp Quốc gia Indonexia” nhằm thúc đẩy ngành tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh tổ chức thi thiết kế mẫu mã, tổ chức hội chợ, triển lãm các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp và
Trang 38“trung tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp” để quản lí, hỗ trợ tiểu thủ công nghiệp,
kế hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp được lồng vào các chương trình đào tạo việc làm ở nông thôn Ngoài ra chính phủ còn phát động chương trình giúp đỡ người nghèo do nhà nước đầu tư vốn để hỗ trợ các làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển tạo thêm công ăn việc làm cho các hộ nông dân
1.5.1.4 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực châu
Á Nhật Bản lại là một nước hiếm có trên thế giới có một kho tàng ngành nghề sản xuất thủ công truyền thống phong phú và đa dạng, được bồi đắp và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử Từ một nước nông nghiệp với hàng trăm nghề thủ công phục vụ cho đời sống hàng ngày của cư dân, trải qua những năm tháng dài của lịch
sử, nghề thủ công ở đây đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm Ngoài những sản phẩm tiêu dùng thì nhiều đồ thủ công đã trở thành những mặt hàng mỹ nghệ được người Nhật Bản tự hào và được cả thế giới ngưỡng mộ, như những sản phẩm gốm, sứ, sơn mài, nhuộm, dệt Việc làm có ý nghĩa quan trọng trước hết của chính phủ Nhật Bản đối với nghề thủ công truyền thống là ban hành một pháp lệnh chính quy của nhà nước về việc bảo tồn và phát triển nghề thủ công tuyền thống – Luật Nghề truyền thống Song song với luật nghề truyền thống là hàng loạt chính sách và luật có liên quan được thực thi đồng bộ Về chính sách chấn hưng nghề truyền thống, trước hết Nhật Bản rất chú trọng đến việc đào tạo, dạy nghề, đảm bảo đủ số người kế tục nghề Hạng mục về đào tạo, giáo dục chiếm vị trí hàng đầu trong các mục được nhà
nước bảo trợ Đây có lẽ là điều mà Việt Nam cần phải học tập
Ngoài chính sách về đào tạo thì đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong nghề, tôn vinh nghệ nhân…cũng là việc làm hết sức cần thiết Nhật Bản đã có hẳn một chính sách về phúc lợi y tế cho những người lao động đang theo nghề, những người lao động khi về già và những người lao động lành nghề; công nhận danh hiệu
“nghệ nhân công nghệ truyền thống”, tặng thưởng cho những người có công lao đóng góp cho sự nghiệp khôi phục, phát triển nghề truyền thống ở các địa phương,
cấp học bổng cho thanh niên theo học nghề
Trang 39Đối với vấn đề kế thừa và cải tiến kỹ thuật trong nghề thủ công, Chính phủ Nhật Bản đã có hướng giải quyết khá toàn diện Chính phủ xác định tầm quan trọng
và tính cấp thiết của việc công khai hóa các kỹ thuật, bí quyết trong nghề thủ công
truyền thống
Một trong những điều kiện thiết yếu để duy trì nghề truyền thống là thị trường tiêu thụ sản phẩm, Nhật Bản đã thực hiện các công tác khai thác nhu cầu người tiêu dùng như mở triển lãm, hội chợ, phát động tháng “thúc đẩy phát triển công nghệ truyền thống”, tổ chức hội thi tài năng, tay nghề, tiến hành các chiến dịch quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng…Cách làm rất hay của Nhật Bản đó là tăng cường công tác nghiên cứu điều tra về sản phẩm thủ công, tiến hành liên kết, cộng tác giữa các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu với khu vực sản xuất (làng nghề) để cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu tìm nguồn nguyên liệu thay thế đối với những tài nguyên đã cạn kiệt và công bố những kết quả này đối với toàn xã hội Chính những điều đó đã dẫn đến thành công
trong nghề thủ công truyền thống của Nhật Bản
Những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam
Qua kinh nghiệm tổ chức và phát triển tiểu thủ công nghiệp các nước nói trên
ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Về cơ cấu ngành nghề sản xuất kinh doanh của công nghiệp nông thôn ở các nước rất đa dạng từ sản xuất dịch vụ, nghề cổ truyền và nghề mới với công nghệ thủ công nửa cơ khí và cơ khí hóa Công nghiệp nông thôn bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau
Về hình thức và quy mô cơ sở, xí nghiệp công nghiệp nông thôn ở mỗi nước cũng rất khác nhau Tổ chức cơ sở công nghiệp nông thôn có các xí nghiệp gia đình của từng hộ riêng rẽ hoặc một số hộ đứng ra tập hợp các hộ nông dân trong xóm làm gia công theo hợp đồng xí nghiệp, hợp tác xã Các ngành nghề cổ truyền chủ yếu dựa vào lao động thủ công, công nghệ thô sơ Nhưng cũng có những ngành nghề thủ công mỹ nghệ cần tay nghề điêu luyện và sáng tạo của những nghệ nhân
Trang 40cao tay nghề Để tăng năng suất các cơ sở ngành nghề đã từng bước áp dụng máy móc vào thay thế sức lao động của con người
Các nước đã đánh giá đúng vị trí chiến lược của tiểu thủ công nghiệp trong phát triển kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động xã hội, từ đó xây dựng được chương trình phát triển toàn diện và tổ chức hệ thống quản lý toàn ngành có hiệu lực
Các nước này đã rất coi trọng đầu tư chất xám cho (đào tạo cố vấn, cán bộ quản lý, xây dựng các dịch vụ cố vấn, phát triển các Viện nghiên cứu ngành nghề): đầu tư vốn thích đáng cho phát triển ngành nghề ở nông thôn
Một điều cần chú ý là nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng đối với phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp nông thôn bằng việc đề ra một hệ thống đồng bộ các chính sách có tác dụng khuyến khích từ nghiên cứu, dịch vụ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo cho tiểu thủ công nghiệp phát triển
Phát huy tốt hiệu lực các văn bản pháp luật để bảo hộ và bảo vệ sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Các nghề tiểu thủ công nghiệp là nền tảng để hình thành ngành công nghiệp phụ trợ Đây là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đưa lực lượng sản xuất của ngành công nghiệp từ sử dụng công nghệ thủ công, chuyển lên sử dụng công nghệ cơ khí hóa, tự động hóa,…
Chú trọng công tác thị trường, quảng bá, phân phối, xây dựng hệ thống tiêu thụ,…
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp nông thôn của các nước cũng bộc lộ những tồn tại đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu như:
Nảy sinh sự tranh chấp đất đai giữa công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Ngoài đất đai còn có sự tranh chấp về lao động, vốn giữa ngành này với ngành khác đặc biệt là lao động có tay nghề cao
Công nghiệp nông thôn nhiều nước gây ô nhiễm môi trường sinh thái Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp phát triển đã phá vỡ hệ sinh thái nông thôn bằng việc