Đánh giá quá trình rèn luyện của sinh viên trên các mặt cụ thể như đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của từng sinh viên theo các mức điểm đạt được trên các mặt như ý thức h
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
M Ở ĐẦU 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC 11
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
2 Các khái niệm của đề tài 16
2.1 Giá trị và định hướng giá trị 16
2.1.1 Giá trị 16
2.1.2 Định hướng giá trị 27
2.2 Giá trị đạo đức và định hướng giá trị đạo đức 32
2.2.1 Đạo đức 32
2.2.2 Giá trị đạo đức 39
2.2.3 Định hướng giá trị đạo đức 41
2.3 Định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai 43
2.3.1 Giới thiệu về trường Đại học Đồng Nai 43
2.3.2 Đặc điểm tâm lý sinh viên 45
2.3.3 Nội dung định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường ĐH Đồng Nai 50
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức 46
Chương 2: TH ỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 56
2.1 Thể thức nghiên cứu 56
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai 60
2.2.1 Nhận định về sự thay đổi các giá trị đạo đức hiện nay 60
2.2.2 Nhận thức các giá trị đạo đức của sinh viên 63
2.2.3 Thái độ đối với cá GTĐĐ của sinh viên 79
2.2.4 Kết quả biểu hiện hành vi của sinh viên thông qua các tình huống cụ thể 83
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai 90
2.3 Các biện pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai 96
2.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 96
2.3.2 Các biện pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai 98
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 107
PH Ụ LỤC
Trang 5DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các giai đoạn của quá trình định hướng giá trị 25
Bảng 2.1 Thống kê sinh viên trên toàn mẫu khảo sát 51
Bảng 2.2 Thống kê sinh viên theo ngành học và năm học 51
Bảng 2.3 Thống kê sinh viên theo giới tính và tôn giáo 52
Bảng 2.4 Kết quả nhận định về sự thay đổi các giá trị đạo đức hiện nay 55
Bảng 2.5 Nhận thức chung về các giá trị đạo đức của sinh viên 58
Bảng 2.6 Mười giá trị đạo đức được sinh viên đánh giá cao nhất 61
Bảng 2.7 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với bản thân 63
Bảng 2.8 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với gia đình 64
Bảng 2.9 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với thầy cô 65
Bảng 2.10 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với bạn bè 66
Bảng 2.11 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với người yêu 67
Bảng 2.12 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức trong học tập 68
Bảng 2.13 Kết quả xếp hạng nhận thức các GTĐĐ đối với cộng đồng xã hội 69
Bảng 2.14 Kết quả xếp hạng nhận thức các giá trị đạo đức đối với nghề sư phạm 70
Bảng 2.15 Kết quả so sánh điểm trung bình nhận thức 7 nhóm GTĐĐ theo giới tính, ngành học và năm học 72
Bảng 2.16 Kết quả so sánh điểm trung bình nhận thức các GTĐĐ đối với nghề sư phạm theo giới tính và năm học 73
Bảng 2.17 Thái độ chung về các giá trị đạo đức của sinh viên 74
Bảng 2.18 Kết quả so sánh điểm trung bình thái độ đối với các GTĐĐ của sinh viên theo giới tính, ngành học và năm học 76
Bảng 2.19 Kết quả so sánh điểm trung bình thái độ đối với các GTĐĐ đối với nghề sư phạm xét theo giới tính và năm học 77
Bảng 2.20 Tỉ lệ % đối với hành vi ứng xử tích cực trong các tình huống cụ thể 78
Bảng 2.21 Kết quả điểm trung bình, thứ hạng của từng yếu tố ảnh hưởng 85
Bảng 2.22 Kết quả TB các yếu tố tôn giáo ảnh hưởng đến định hướng GTĐĐ 89
Bảng 2.23 Kết quả so sánh điểm trung bình các nhóm yếu tố ảnh hưởng theo giới tính, ngành học và năm học 91
Trang 6DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Biểu đồ tháp thế giới quan đạo đức 32
Biểu đồ 2 Sự lựa chọn các nhóm giá trị đạo đức 58
Biểu đồ 3 Mười giá trị đạo đức được sinh viên lựa chọn nhiều nhất 61
Biểu đồ 4 Thái độ của sinh viên đối với từng nhóm giá trị đạo đức 75
Biểu đồ 5 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng GTĐĐ 86
Trang 7M Ở ĐẦU
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Hồ Chủ Tịch đã từng nói “Người có tài mà không có đức là người vô dụng; Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Thấm nhuần lời dạy của Người, mục đích giáo dục ở các cấp học, các ngành học hiện nay hướng đến đào tạo con người phát triển toàn diện, hội đủ cả đức lẫn tài, vừa hồng vừa chuyên Trong
đó đạo đức là gốc, là nền tảng cốt lõi
Thực tế hiện nay, mục tiêu giáo dục ở các trường đại học, cao đẳng là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Như vậy, nhân cách của người sinh viên được đánh giá ở cả 2 mặt đạo đức và năng lực Việc đánh giá sinh viên hàng năm không chỉ dựa trên kết quả học tập mà còn căn cứ vào
kết quả rèn luyện của sinh viên Đánh giá quá trình rèn luyện của sinh viên trên các
mặt cụ thể như đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của từng sinh viên theo các mức điểm đạt được trên các mặt như ý thức học tập; ý thức và kết quả chấp hành nội quy, quy chế trong nhà trường; ý thức và kết quả tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, văn hoá, văn nghệ, thể thao, phòng chống các tệ nạn xã hội; phẩm
chất công dân và quan hệ với cộng đồng; ý thức tham gia phụ trách lớp, các đoàn
thể, tổ chức khác trong nhà trường hay các thành tích đặc biệt trong học tập, rèn luyện của sinh viên Như vậy, đạo đức của sinh viên được đánh giá thông qua điểm rèn luyện và việc rèn luyện đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sinh viên
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, song song với đó là quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với
những đổi thay, sự chuyển mình đi lên của đất nước, các hệ thống giá trị cũng ít nhiều có sự thay đổi Nổi bật và đáng quan tâm hơn cả là sự thay đổi về quan niệm đạo đức, hệ thống giá trị đạo đức, thể hiện ở việc định hướng giá trị đạo đức của con người Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều những tư tưởng, hiện tượng tiêu cực
nảy sinh trong một số bộ phận thanh niên sinh viên như: lối sống hưởng thụ, thực
Trang 8dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống sùng ngoại, hay tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm…
Vì thế, việc định hướng giá trị đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay đang trở thành vấn đề
cấp bách và nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Thiết nghĩ, chỉ khi sinh viên có định hướng giá trị đạo đức đúng đắn thì họ mới tích cực trong học tập và rèn luyện
ở trường, tự giáo dục để hoàn thiện nhân cách của bản thân nhằm đáp ứng với
những đòi hỏi của công việc sau này và phù hợp với yêu cầu của thời đại
Nghiên cứu về định hướng giá trị và định hướng giá trị đạo đức là vấn đề đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến Gần đây nhất, ở Việt Nam có
một số đề tài về giá trị đạo đức được quan tâm như: “Thực trạng định hướng giá trị
đạo đức của sinh viên sư phạm thành phố Hồ Chí Minh”, “Thực trạng lựa chọn các giá tr ị đạo đức nhân văn trong lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” Ở tỉnh Đồng Nai nói chung và trường Đại học Đồng Nai nói riêng chưa thấy
có công trình nào nghiên cứu về thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên Trường Đại học Đồng Nai là trường đại học công lập đầu tiên trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, được thành lập theo quyết định số 1572/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của
Thủ tướng Chính Phủ trên cơ sở nâng cấp từ trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai,
với nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Đồng Nai trên các lĩnh vực như giáo dục, kinh tế và kỹ thuật… Do đó, việc định hướng giá trị đạo đức đúng đắn cho sinh viên là việc làm thật sự cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Từ những lý do trên, người nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Định hướng
giá tr ị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai”
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên
3 KHÁCH TH Ể VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Sinh viên hệ cao đẳng trường ĐH Đồng Nai năm học 2011 – 2012
Trang 93.2 Đối tượng nghiên cứu
Định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường ĐH Đồng Nai
4 GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU
− Phần lớn sinh viên trường ĐH Đồng Nai có nhận thức, thái độ và hành vi tích cực đối với đa số các giá trị đạo đức; tuy nhiên còn một số giá trị đạo đức sinh viên có nhận thức, thái độ và hành vi chưa tích cực
− Có sự khác biệt trong định hướng giá trị đạo đức của sinh viên xét theo năm
học, ngành học và giới tính
− Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường ĐH Đồng Nai; trong đó chủ yếu là yếu tố gia đình và tự giáo dục của sinh viên
− Từ kết quả nghiên cứu thực trạng, có thể đề xuất các biện pháp nhằm giáo
dục định hướng một số giá trị đạo đức mà sinh viên có nhận thức, thái độ và hành vi chưa tích cực
5 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
− Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như: Giá trị, đạo đức, giá trị đạo đức, định hướng giá trị đạo đức
− Khảo sát thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường ĐH Đồng Nai So sánh thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên theo ngành,
Trang 106.2 V ề phạm vi
Đề tài nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên hệ cao đẳng sư phạm và sinh viên hệ cao đẳng các ngành ngoài sư phạm đang học tập tại trường ĐH Đồng Nai
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp luận
− Quan điểm lịch sử
− Quan điểm hệ thống cấu trúc
− Quan điểm hoạt động – nhân cách
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tham khảo, thu thập tư liệu, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho
đề tài
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
∗ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng nhằm tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai
∗ Phương pháp phỏng vấn
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn một số sinh viên nhằm tìm hiểu nhận
thức và thái độ của sinh viên về định hướng các giá trị đạo đức
∗ Phương pháp quan sát
Người nghiên cứu quan sát thái độ và các hành vi đạo đức của sinh viên trường Đại học Đồng Nai
∗ Phương pháp thống kê toán học
Thu thập, xử lý và phân tích số liệu trên chương trình SPSS 13
Trang 118 C ẤU TRÚC LUẬN VĂN
− Mở đầu
− Chương 1: Cơ sở lý luận định hướng giá trị đạo đức
− Chương 2: Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên trường Đại
học Đồng Nai
− Kết luận và kiến nghị
− Tài liệu tham khảo
− Phụ lục
Trang 12Chương 1:
C Ơ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
a) Trên th ế giới
* Từ xa xưa, trước công nguyên, đạo đức đã được nhiều triết gia đề cập đến
như Platon, Aristole… Đặc biệt là Khổng Tử với học thuyết Nho giáo đã đưa ra
những chuẩn mực cần có của người quân tử Theo ông, người quân tử phải sống theo chữ “Nhân” và tôn thờ chữ “Lễ”, giữ kỷ cương trật tự của luật gia, phép nước
* Thời hiện đại, các quan niệm về đạo đức lần lượt xuất hiện trong các tác
phẩm của Ănghen, Kant, Heghen, Phơbach… Đặc biệt là Kant đã cho ra đời hẳn
một học thuyết về đạo đức, được gọi là “Đạo đức học Kant”
* Triết học Mac ra đời, quan niệm đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội, luôn vận động biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của lịch sử
* Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của 11 quốc gia lứa tuổi từ 18 - 24 tuổi Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã
hội Châu Âu nghiên cứu trên thanh niên ở 10 nước Châu Âu Cả hai cuộc điều tra đều tìm hiểu thực trạng giá trị và định hướng giá trị của thanh niên để có những
biện pháp giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống
* Năm 1986 - 1987, UNESCO đã đề nghị Câu lạc bộ Rome tiến hành điều tra
quốc tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ 21 trong tình hình có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động thế giới vào những năm cuối thế
kỷ 20
* Năm 1988, UNESCO đã phát hành tập tài liệu nghiên cứu về hệ thống cấu trúc của giá trị, hình thành bộ công cụ đo đạc, kiểm chứng giá trị, giúp cho những công trình nghiên cứu giá trị đúng hướng
* Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia việc nghiên cứu
vấn đề giá trị và định hướng giá trị của thanh niên sinh viên cũng được quan tâm Ngoài các chương trình nghiên cứu chuyên sâu theo mục đích riêng biệt, theo chu
Trang 13kỳ 5 năm (bắt đầu từ năm 1972) người ta tiến hành nghiên cứu theo cùng một phương pháp ở nhiều nước trên thế giới, lấy mẫu ở lứa tuổi 18 - 24 và do Nhật Bản
chủ trì Qua các cuộc nghiên cứu này người ta thấy được sự phát triển ý thức của thanh niên sinh viên cũng như những giá trị đang chi phối nếp nghĩ và hành động
của lớp trẻ ngày nay, góp phần vào việc xây dựng nên những chính sách phát triển thanh niên sinh viên ở mỗi quốc gia
Tóm l ại, các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị nêu ở trên
đã chỉ ra được những giá trị của cuộc sống và định hướng giá trị của thanh thiếu niên Bên cạnh đó, các đề tài cũng chỉ ra những khác biệt trong thang giá trị của thanh niên, xây dựng được những bộ dụng cụ để đo đạc và kiểm chứng cho nghiên
cứu thực tế Ngoài ra các công trình nghiên cứu cũng bắt đầu được ứng dụng vào trong các trường học và cộng đồng dân cư
b) Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị tương đối mới mẻ hơn so với các nước trên thế giới Sau năm 1986, nước ta đã mở cửa để hội nhập với
thế giới Sự hội nhập này mang đến cho đất nước nhiều cơ hội và cũng không ít
những thử thách ở trên mọi lĩnh vực Một trong những lĩnh vực diễn ra sự giao thoa
mạnh mẽ nhất là văn hóa xã hội nói chung và hệ thống giá trị đạo đức nói riêng
Trải qua nhiều biến động thăng trầm, hiện nay xã hội Việt Nam đang có sự chuyển
biến hệ thống định hướng giá trị một cách rõ nét, đặc biệt là nơi các bạn trẻ Tầng
lớp thanh niên sinh viên là nhóm đối tượng nhạy cảm với những thay đổi của xã hội, đặc biệt là hệ thống các giá trị đạo đức Và cũng chính vì thế, từ thập niên 90 của
thế kỷ XX trở lại đây đã và đang có nhiều công trình, đề tài tập trung nghiên cứu
vấn đề này Điển hình như:
* Năm 1991 - 1995 nhiều đề tài KX thuộc chương trình khoa học công nghệ
cấp Nhà nước đã tiếp cận vấn đề giá trị, đặc biệt là các đề tài thuộc chương trình KX-07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã
h ội” Có thể điểm qua một số đề tài sau:
Trang 14+ Đề tài “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách của con người Việt
Nam trong s ự phát triển kinh tế xã hội” mã số KX-07-04 do PGS.PTS Nguyễn
Quang Uẩn làm chủ nhiệm (1995) đã nghiên cứu những giá trị chung, giá trị nhân cách, giá trị nghề nghiệp, giá trị truyền thống và hiện đại của các nhóm học sinh, sinh viên, thanh niên nông thôn [45]
+ Tác giả Thái Duy Tuyên với đề tài “Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh
niên Vi ệt Nam” mã số KX-07-10 (1995) đã khảo sát trên các đối tượng thanh niên
công nhân, nông dân, học sinh - sinh viên, trí thức tại một số thành phố lớn về
“nhu c ầu, nguyện vọng của thanh niên” và “định hướng giá trị của thanh niên”
Các số liệu thu được của đề tài đã phần nào phác họa bức tranh chung về nhân cách
của con người Việt Nam qua các mặt như: Nhận thức và giá trị, tâm trạng và thái độ,
hứng thú và thị hiếu, nhu cầu và động cơ, cảm nghiệm và tự đánh giá, nguyện vọng
và ước mơ [43]
+ Tác giả Mạc Văn Trang với công trình nghiên cứu “Đặc điểm của lối sống
sinh viên hi ện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục” (1995) đã tìm
hiểu thực trạng những đặc điểm lối sống của sinh viên và trên cơ sở để đưa ra các
biện pháp giáo dục phù hợp [42]
* Luận án Phó Tiến sĩ Triết học của Dương Tự Đàm “Định hướng giá trị của
thanh niên sinh viên trong s ự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (1996) đã nghiên cứu
quá trình biến đổi của tình hình thế giới, của sự đổi mới về kinh tế - xã hội của đất nước ảnh hưởng đến nhu cầu, lợi ích và định hướng giá trị của thanh niên sinh viên
Dựa trên phương pháp tổng kết và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc chương trình KX-07, tác giả đã khái quát sự chọn lựa của sinh viên trên
những giá trị chung, giá trị nhân cách, phân tích một số giá trị nổi trội trong thang giá trị và trong mối quan hệ với sự chuyển đổi về kinh tế - xã hội của đất nước Trên
cơ sở đó, đề xuất những con đường và biện pháp giáo dục giá trị cho thanh niên sinh viên [10]
* Năm 1998, Luận án Phó Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Lê Quang Sơn
“Nh ững đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện đại”
Trang 15đã xem định hướng giá trị như là những thái độ của nhân cách đối với bản thân và
thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấu trúc lại trong các thể nghiệm
và biểu tượng của nhân cách [31]
* Tập thể tác giả Phạm Minh Hạc, Thụy Như Ngọc, Rusell J.Daiton với đề
tài “Nghiên c ứu giá trị thế giới - Việt Nam năm 2001” Trong cuộc điều tra giá trị
thế giới năm 2001 tại Việt Nam đã thăm dò về sự hài lòng về chất lượng cuộc sống, quan hệ xã hội và gia đình, mức độ quan tâm và sự tham gia trong lĩnh vực chính trị,
những giá trị kinh tế, niềm tin vào hệ thống chính trị Đề tài cũng đưa ra được bức tranh về sự lựa chọn những giá trị cơ bản trong lối sống trong thực tế xã hội vào
thời điểm trên
* Đầu năm 2002, tác giả Đỗ Ngọc Hà với luận án Tiến sĩ “Định hướng giá trị
c ủa thanh niên, sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội của đất nước” Đề tài cho thấy những giá trị nào điều tiết được cuộc sống hàng ngày và
hành vi xã hội của sinh viên, trên cơ sở đó xây dựng biểu mẫu định hướng giá trị cho sinh viên Việt Nam [12]
* Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Cấn Hữu Hải “Ảnh hưởng của truyền
th ống gia đình đến định hướng giá trị của lứa tuổi đầu thanh niên” (2002) đã đưa
ra một số kết luận cho thấy ảnh hưởng của gia đình đến việc định hướng giá trị của
lứa tuổi đầu thanh niên [13]
* Tác giả Lê Hương với đề tài nghiên cứu “Đánh giá định hướng giá trị của
con người” đã phân chia định hướng giá trị ở 3 mức độ là nhận thức, xúc cảm - tình
cảm và hành vi Trên cơ sở đó đã đưa ra các định hướng giáo dục giá trị thông qua
từng mức độ trên [16]
* Năm 2005, tác giả Đào Thị Oanh nghiên cứu về định hướng giá trị của học sinh trung học Công trình đã chỉ ra những giá trị truyền thống và những giá trị mới
hiện nay của học sinh nước ta Đâu là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chọn lựa
những giá trị mới trong hệ thống giá trị của học sinh [27]
* Bên cạnh đó, trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên
cứu của Ban Khoa Giáo Trung Ương, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, các Viện
Trang 16nghiên cứu, các tổ chức xã hội, đoàn thể, các báo cáo tham luận tại các hội thảo,
diễn đàn bàn về giá trị, định hướng giá trị của con người Việt nam nói chung và định hướng giá trị đạo đức của thanh niên sinh viên nói riêng
* Gần đây nhất, một số đề tài về định hướng giá trị đạo đức, lối sống được
quan tâm như: Tác giả Bùi Thị Bích với Luận văn thạc sĩ “Thực trạng định hướng
giá tr ị lối sống của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM”, Luận văn thạc
sĩ của tác giả Hoàng Anh với đề tài “Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của
sinh viên sư phạm TP.HCM” Cả 2 đề tài trên đều đưa ra nhận định là đa số sinh
viên đều có định hướng giá trị đạo đức tích cực, lối sống đúng đắn, lành mạnh [1], [2]
Đề tài nghiên cứu cấp bộ của tác giả Huỳnh Văn Sơn “Thực trạng lựa chọn
các giá tr ị đạo đức nhân văn trong lối sống của sinh viên TP.HCM hiện nay”, mã
đề tài B2007.19.27 Trong đề tài này, tác giả cho biết trong việc lựa chọn các giá trị đạo đức cụ thể, SV chưa quan tâm đúng mức đến các giá trị hướng đến cộng đồng
và các giá trị hướng đến một cuộc sống hữu nghị hợp tác với người khác Ngoài ra
sự lựa chọn của sinh viên còn rất dao động, chưa thống nhất [30]
Nhìn chung các đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề giá trị và định hướng giá trị
đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó có cả tích cực lẫn tiêu cực của những thay đổi
về định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và của thanh niên sinh viên nói riêng Trên cơ sở đó, các đề tài cũng đã đề ra những phương hướng và biện pháp để giúp thanh niên sinh viên hoàn thiện về mặt nhân cách
Như vậy, thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên đã có tác giả nghiên c ứu trước đây Tuy nhiên, đề tài đó nghiên cứu trên khách thể là SVSP ở trên địa bàn TP.HCM Qua đề tài này đã cho thấy sự lựa chọn các giá trị đạo đức
c ủa SVSP theo chiều hướng tích cực, thể hiện ở trên ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi Bên c ạnh đó đề tài cũng cho thấy sinh viên không chỉ quan tâm đến các giá
tr ị đạo đức truyền thống mà còn quan tâm đến các giá trị đạo đức hiện đại Qua đề tài trên, tác gi ả cũng đưa ra các giải pháp nhằm giáo dục định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên ngành sư phạm ở TP.HCM Xét trên địa bàn tỉnh Đồng Nai – một
Trang 17trong nh ững tỉnh phát triển nhất ở khu vực Đông Nam Bộ thì chưa thấy có đề tài nào nghiên c ứu định hướng giá trị đạo đức của sinh viên
2 Các khái ni ệm của đề tài
2.1 Giá tr ị và định hướng giá trị
2.1.1 Giá tr ị
a) Khái ni ệm giá trị
Những hiểu biết đầu tiên về giá trị và lý luận về các giá trị có từ thời xa xưa,
gắn liền với triết học Cuối thế kỷ thứ XIX, giá trị học mới tách ra thành một lĩnh
vực khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học Người có công lao đầu tiên là Thomas và Zananiecki đã dùng khái niệm giá trị trong tác phẩm “The polish pessant in Europe and American” (1918) (“Người nông
dân Ba Lan ở Châu Âu và Châu Mĩ”) Sau đó, khái niệm giá trị ngày càng được sử
dụng phổ biến hơn trong Triết học, Khoa học xã hội, Kinh tế học Song ở thời kỳ đầu, chưa thấy đầy đủ ảnh hưởng sâu rộng của việc nghiên cứu vấn đề giá trị Vào
nửa sau thế kỷ XX, nhiều lĩnh vực khoa học bàn đến vấn đề giá trị một cách rộng rãi
và sâu sắc hơn
Trong mấy thập kỉ gần đây, khái niệm giá trị được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội học, chính trị học, tâm lí học, nhân
chủng học, kinh tế học…
Trong kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền với giá trị hàng hoá, giá cả và sản
xuất hàng hoá, và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của người làm ra hàng hoá
Trong từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết định nghĩa: “Giá trị là sự khẳng
định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không ph ải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút của các thu ộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú
và nhu c ầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý
Trang 18tưởng, tâm thế và mục đích” Như vậy, giá trị không phải xuất phát từ bản thân nội
tại vốn có của sự vật, mà là sự phù hợp, có ý nghĩa của những thuộc tính tự nhiên
của sự vật đối với hoạt động sống của con người và đối với những mối quan hệ xã
hội mà con người tham gia cũng như đáp ứng và thỏa mãn được hứng thú và nhu
cầu của con người Giá trị của một sự vật được quyết định bởi ý muốn của con người Hay nói cách khác, giá trị của một vật chính là sự phản ánh, sự hiện thân của nhu cầu hay ước muốn của chủ thể phản ánh nó Thêm vào đó, giá trị của một vật không phải chỉ do một người phản ánh, mà có thể là do một nhóm người hay một
cộng đồng xã hội
Trong từ điển Triết học của Liên Xô, do M.M Rozental (chủ biên), “Giá trị là
nh ững định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới xung quanh, nhằm nêu b ật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thế ấy đối với con người và xã
h ội (cái lợi, thiện và ác, cái đẹp, cái xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống
xã h ội hoặc tự nhiên) Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc của
hi ện tượng; tuy nhiên chúng không phải là cái vốn có do thiên nhiên ban cho sự vật
hi ện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà
do khách th ể bị thu hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành cái mang nh ững quan hệ xã hội nhất định Đối với con người, cái giá trị là những đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò là những vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể và xã hội, chúng biểu thị các quan
h ệ thực tiễn của con người đối với các sự vật và hiện tượng xung quanh” [32,
tr.206] Như vậy, theo M.M.Rozental thì giá trị không phải do các đặc tính vật lý hay kết cấu của nó tạo ra; mà do các đặc tính vậy lý ấy gắn liền với ý nghĩa xã hội
và phải được xã hội loài người thừa nhận thông qua việc “đặt tên” cho cái thuộc tính tích cực hay tiêu cực của sự vật, hiện tượng Tác dụng của chúng phải được nhìn, soi dưới “cái gương xã hội”, tức là “chuẩn mực” của các mối quan hệ xã hội
mà sự vật - hiện tượng tham gia vào; cũng như được đối chiếu với hệ thống định hướng giá trị của mỗi chủ thể phản ánh nó Nếu một sự vật - hiện tượng phù hợp với
hệ giá trị của con người và hợp chuẩn các mối quan hệ xã hội thì nó có giá trị tích
Trang 19cực về mặt xã hội; còn ngược lại thì là giá trị tiêu cực Thêm vào đó, giá trị của mỗi
sự vật - hiện tượng còn phải phụ thuộc vào chính hoàn cảnh hay phạm vi hoạt động
của con người, nó không thể tách ra khỏi hoạt động xã hội của con người Chỉ trong
mối quan hệ xã hội của hoạt động đó, giá trị của nó mới được thể hiện và bộc lộ thông qua việc phản ánh hay đáp ứng nhu cầu và mục đích hoạt động của con người Giá trị của sự vật - hiện tượng có thể là mục đích của con người, cũng có thể là phương tiện cần thiết để con người đạt được mục đích khác Giá trị của sự vật phản ánh mối quan hệ thực tiễn giữa nó với con người Đó là mối quan hệ theo chiều hướng tích cực thông qua việc con người tác động, gắn bó, sử dụng sự vật khi
những đặc tính của nó cần thiết cho hoạt động con người, mang lại lợi ích cho chủ
thể Ngược lại, đó là mối quan hệ theo chiều hướng tiêu cực thể hiện qua việc con người xa lánh hay không sử dụng chúng Ngoài mối quan hệ giữa giá trị của một sự
vật - hiện tượng với hoạt động của con người thì giá trị của chúng cũng có tác động
nhất định đến ý thức của chủ thể Nếu chủ thể nhận thức được đó là một giá trị tốt, tích cực, hợp chuẩn và có xu hướng hướng tới Chân, Thiện, Mĩ thì giá trị đó có vai trò định hướng ý thức của con người, hướng suy nghĩ của con người theo viễn cảnh
mà giá trị đó nhắm đến Tuy nhiên khái niệm giá trị theo M.M.Rozental mới chỉ đề
cập đến ý thức và hành vi của con người mà bỏ qua mặt xúc cảm - tình cảm
Trong từ điển Tiếng Việt, “Giá trị là cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa
hay đáng quý về một mặt nào đó” [28, tr.102] Mặt nào đó có thể là mặt đạo đức,
mặt trí tuệ, mặt tài năng; hay những quan niệm và thực tại về cái đẹp, về sự thật, về điều thiện của xã hội; hay tính chất quy ra được thành tiền của một vật trong quan
hệ mua bán, đổi chác; hay độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên Với định nghĩa như trên thì giá trị được hiểu như là “cái chuẩn”, “thang đo” để đánh giá một thuộc tính, đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng, hay của con người trong những hoàn cảnh nhất định và lĩnh vực nhất định
Trong xã hội học và tâm lí học xã hội, khái niệm “giá trị” có nhiều điểm
giống nhau: Khái niệm “giá trị” trong xã hội học tương ứng với khái niệm “tâm thế”,
Trang 20“thái độ” trong tâm lí học xã hội, nó chỉ cơ sở định hướng trong hành vi và hoạt động của con người
Theo H.J.Fichter – nhà xã hội học Hoa Kỳ thì: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng
ham chu ộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có một giá
tr ị”[45,tr.53] Theo định nghĩa trên thì giá trị không những chỉ được xét dưới góc
độ lợi ích vật chất trong đời sống xã hội mà còn được phản chiếu thông qua thái độ
của một cá nhân hay của xã hội Lúc này giá trị mang ý nghĩa tinh thần, phi vật chất Đối tượng mà giá trị hướng đến có thể là một con người cụ thể và cũng có thể là
một cộng đồng xã hội Như vậy, bất cứ một cái gì đó dù tồn tại ở dạng vật chất hay phi vật chất đều có thể có một giá trị nếu nó “đáp ứng” được yêu cầu, nhu cầu nào
đó của cá nhân hay xã hội
Theo tài liệu “Giáo dục giá trị của Bộ văn hoá giáo dục thể thao Philipin”,
khái niệm giá trị có thể được hiểu như sau: “Một vật có giá trị khi nó được thừa
nh ận là có ích và cần có; tiền bạc và nhà cửa có giá trị vì chúng được công nhận là
có ích, và vi ệc mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành
vi c ủa con người Không chỉ có hàng hoá vật chất mà cả lí tưởng và những khái
ni ệm đều có giá trị như “sự thật”, “lương tâm”, và “công lí””[45, tr.53] Như vậy,
giá trị ở đây được hiểu là tính có ích của những sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh
thần trong đời sống con người
Tác giả V.P Tugarinov (Liên Xô) lại cho giá trị là “những khách thể, những
hi ện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích l ợi, hứng thú…) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng l ẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng
th ời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng” [45, tr.54] Định nghĩa này cho rằng chuẩn để xác định giá trị của một sự vật
hiện tượng là nó có thỏa mãn nhu cầu, hứng thú của con người hay là phương tiện
để con người thỏa mãn một nhu cầu nào đó Lợi ích ở đây có thể là lợi ích về mặt
vật chất và cũng có thể là lợi ích về mặt tinh thần
Trang 21L Dramaliev (Bungari) coi “Giá tr ị là một thành tố khách quan của xã hội
Nó là m ột loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một
ý ni ệm), thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người Giá trị là một
ph ẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành rõ r ệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị không th ể tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm
và nh ững hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã
h ội” [45, tr.54]
Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị, trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh
Hạc, Phó Giáo sư Trần Trọng Thủy
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ giữa chủ
th ể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người trong xã hội Giá
tr ị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực
ti ễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn” Ở đây, giáo sư Giàu đã cho thấy tính
“thực tiễn” và “trải nghiệm” của các giá trị, phải thông qua quá trình tương tác giữa
chủ thể và đối tượng trong một hoàn cảnh cụ thể thì giá trị của sự vật - hiện tượng
mới được bộc lộ và được con người nhìn nhận dưới góc độ khoa học
Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực,
đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể” Như vậy, một lần nữa, chính
cái lợi ích mà đối tượng đem lại cho con người là chuẩn để đánh giá giá trị của một đối tượng nào đó
Còn theo Phó giáo sư Trần Trọng Thủy khi nghiên cứu về “Giá trị, định
hướng giá trị và nhân cách” cũng xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình,
biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, các chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển
của cá nhân con người
Trang 22Qua một số quan điểm nêu trên về “giá trị”, có thể khái quát khái niệm “giá
trị” như sau:
− Bất cứ sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật chất hay là tư tưởng, miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như là một nhu cầu,
hoặc là cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ
− Cần phân biệt cái gọi là bản chất và quy luật của bản thân sự vật hiện tượng
với cái gọi là giá trị của sự vật hiện tượng Bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng tồn tại không phụ thuộc vào xu hướng nói chung và nhu cầu nói riêng của con người Còn giá trị thì tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con người Tuỳ theo việc con người có hay không có nhu cầu nào đó mà sự vật hay hiện tượng đối
với con người là có hay không có giá trị
− Giá trị có tính lịch sử khách quan – nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi
của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức con người mà phụ thuộc vào sự xuất
hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người, không phải do ý thức mà
do yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động
− Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá trị, thể hiện
sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể [45, tr.56]
* T ựu chung lại, người nghiên cứu tiếp cận khái niệm “giá trị” là những cái có ích
l ợi, có ý nghĩa, cần thiết đối với một cá nhân, nhóm người hay xã hội Giá trị gắn
li ền với nhu cầu của con người Giá trị có thể là mục đích để con người vươn tới hay là điều kiện để con người đạt được một mục đích nào đó
b) Phân lo ại giá trị
Có nhiều cách phân loại giá trị Tuỳ theo mục đích tiếp cận mà các tác giả phân chia giá trị như sau:
− Căn cứ vào sự thoả mãn nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần của con người, giá trị được chia thành 2 loại: Giá trị vật chất và giá trị tinh thần Trong các
giá trị vật chất, người ta thường nói tới giá trị sử dụng và giá trị kinh tế Trong các
Trang 23giá trị tinh thần, người ta thường đề cập tới các giá trị sau: Giá trị khoa học, giá trị chính trị, giá trị đạo đức, giá trị pháp luật, giá trị tôn giáo,v.v
− Căn cứ vào các giá trị chi phối hệ thống hành vi lớn của con người,
M.Popon và J.R.William đã đề xuất các giá trị chủ yếu gồm có các giá trị như: giá
trị tồn tại sinh học, giá trị tính cách, giá trị văn hoá và giá trị xã hội
− Căn cứ trên các lĩnh vực hoạt động của con người, giá trị được chia thành
các nhóm: giá trị nhân văn, giá trị đạo đức, giá trị văn hoá, giá trị chính trị, giá trị
luật pháp, giá trị kinh tế [47, tr.60]
− Căn cứ trên các hiện tượng xã hội, J.H Fichter – nhà xã hội học Hoa Kỳ cho
rằng mỗi hiện tượng xã hội có thể được dùng làm khởi điểm cho sự phân loại các giá trị Theo ông, có ba căn cứ để phân loại giá trị là nhân cách, xã hội và văn hoá Tuy vậy, theo quan điểm của ông thì những giá trị được phân loại vẫn có sự phối
hợp và xen lẫn trên cả ba bình diện
− Căn cứ theo kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thuộc chương trình
“Con người - mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội”, mã số KX-07-04, trong
đó các tác giả đề cập tới cách tiếp cận hệ thống lịch sử và cho rằng có thể phân loại giá trị theo các nhóm sau:
+ Hệ giá trị phổ quát của nhân loại
+ Hệ giá trị của xã hội hiện đại
+ Hệ giá trị của xã hội thời quá độ
+ Hệ giá trị các thành phần theo cơ cấu xã hội
+ Hệ giá trị của nhóm
− Căn cứ trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giá trị có thể chia thành
giá trị chung và giá trị riêng
+ Giá trị chung là những giá trị được một cộng đồng và xã hội thừa nhận,
trở thành chuẩn chung điều tiết mọi quan hệ xã hội
+ Giá trị riêng mang tính chủ thể và chỉ có giá trị điều tiết nhận thức, thái
độ và hành vi của chính chủ thể; có thể phù hợp và cũng có thể không phù hợp với giá trị chung
Trang 24− Căn cứ theo chiều dài lịch sử, người ta có thể chia giá trị thành hai loại là giá
trị truyền thống và giá trị hiện đại
+ Các giá trị truyền thống bao gồm: hiếu thảo, trung thực, trách nhiệm, tự trọng, chân thành, nhân ái, tôn trọng người khác, kính trọng thầy cô, chung thủy, lạc quan, đoàn kết, biết ơn, dũng cảm, tận tâm, yêu thương, tin tưởng, uy tín, quan tâm, khoan dung, khiêm tốn, hy sinh, cần cù, chịu khó, kiên nhẫn, thế giới quan khoa học, yêu nghề, yêu trẻ, lòng tự hào dân tộc, …
+ Các giá trị hiện đại gồm có: tự tin, năng động, sáng tạo, độc lập, cầu tiến, hợp tác, thẳng thắn, yêu cầu cao, dũng cảm chống tiêu cực, …
Giá trị truyền thống khác giá trị hiện đại ở chỗ nó hình thành và phát triển thông qua một thời gian dài và trải qua nhiều biến cố Nó mang tính ổn định, bền vững và khó thay đổi Giá trị truyền thống hợp với giá trị hiện đại tạo thành một hệ giá trị chung cho toàn thể xã hội
* Như vậy, việc phân loại các giá trị hết sức đa dạng và phong phú Mọi sự phân loại đều mang tính chất tương đối Với mỗi cách phân loại giá trị nêu trên thể
hiện mỗi khía cạnh khác nhau và không có cách phân loại nào thể hiện đầy đủ mọi phương diện giá trị trong cuộc sống Điều quan trọng là khi xem xét các giá trị, cần xác định chúng trong một hệ thống cấu trúc, đặt chúng theo thứ bậc và chú ý tính đa
dạng trong các biểu hiện sinh động của từng giá trị
Trong đề tài này, người nghiên cứu tiếp cận cách phân loại giá trị dựa trên
m ức độ nhu cầu của con người, trong đó đạo đức là một trong những nhóm giá
tr ị tinh thần quan trọng, chi phối nhận thức, tình cảm và hành vi lối sống của
c on người
c) H ệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị
Các giá trị thường được sắp xếp theo những quan hệ nhất định và có những
vị trí thứ bậc khác nhau, được con người sử dụng theo những chuẩn khác nhau
Cuộc sống con người là tổ hợp các hệ thống giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị
H ệ giá trị hay còn gọi là hệ thống giá trị là một tổ hợp các giá trị khác nhau,
được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp
Trang 25mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá
của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị
Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ
bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử
cụ thể Vì vậy, hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi
lịch sử - xã hội Trong hệ thống giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, hiện
tại và có cả những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân văn, nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai
cấp, tính lý tưởng và tính hiện thực
Có hệ thống giá trị là những giá trị xuất hiện từ thời cổ đại và mang tính phổ quát như Chân, Thiện, Mĩ; hay theo nhà giáo dục Nhật Bản T Makiguchi thì hệ giá
trị gồm ba giá trị cơ bản: Thiện, Lợi, Mĩ; hoặc theo tổ chức Unesco thì hệ thống giá
trị bao gồm các giá trị như: hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe, an ninh, tự
trọng, công lý, tình nghĩa, sống có mục đích, niềm tin, tự lập, nghề nghiệp, học vấn
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm chương trình nghiên cứu Nhà nước
“Con người – mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội” đã nhấn mạnh “Hệ thống
giá trị và định hướng giá trị đối với phẩm chất con người Việt Nam trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể là: trung với nước, hiếu với dân, nhân phẩm và các quan hệ tốt đẹp giữa người với người, duy lý và khoa học, tri thức kỹ thuật công nghiệp, tiến bộ xã hội và hạnh phúc con người” [35, tr.78]
Thang giá tr ị hay còn gọi là thước đo giá trị là một tổ hợp giá trị, một hệ
th ống giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định
Thang giá trị được hình thành, thay đổi theo thời gian cùng với sự phát triển,
biến đổi của xã hội loài người, của dân tộc, của cộng đồng và của từng cá nhân Trong quá trình biến đổi đó, thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm người chuyển thành thang giá trị của từng người qua từng giai đoạn lịch sử của con người
Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị nhất định, phục vụ nhu cầu, lợi ích
Trang 26của con người Chính trong hoạt động tạo ra những giá trị và chính những giá trị này góp phần khẳng định, củng cố, phát huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc thay đổi thang giá trị của con người trong các mối quan hệ với tự nhiên - xã hội, với người khác và với chính bản thân mình
Những công trình nghiên cứu về định hướng giá trị của con người Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ XX đã cho thấy hướng lựa chọn chủ yếu của con người Việt Nam và thang giá trị của họ theo thứ bậc từ cao đến thấp như sau:
Như vậy, người Việt Nam luôn luôn yêu hoà bình, tự do và xếp đó là những giá
trị cao nhất trong thang giá trị của mình Kế đến là các giá trị sức khoẻ, việc làm, công
lý, và giá trị học vấn như những biểu hiện về lòng hiếu học và việc chú ý chăm sóc
cuộc sống gia đình riêng của mình là những giá trị trong truyền thống dân tộc [35, tr 68]
Chu ẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí ở thứ bậc cao, vị trí cốt lõi, then chốt
trong thang giá trị, là chuẩn mực chung cho nhiều người, được coi là giá trị chuẩn
Việc xây dựng các giá trị theo các chuẩn mực nhất định về kinh tế, về chính trị, về đạo đức, về xã hội, về thẩm mĩ tạo ra các chuẩn giá trị Hoạt động của cộng đồng, của xã
hội, của nhóm người, cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo các chuẩn giá trị
nhất định, tạo ra những giá trị tương ứng, đảm bảo cho sự tồn tại của con người Con người là giá trị cao nhất của tất cả các giá trị, vì con người tạo ra mọi giá trị Con người là thước đo của mỗi giá trị [45, tr.64]
Chuẩn giá trị luôn tồn tại và phát triển thông qua mối quan hệ tương tác, nhất là các mối liên hệ cấu trúc theo tầng bậc trong bảng giá trị xã hội để đảm bảo tính ổn
Trang 27định và tính đa dạng của thang giá trị xã hội Các chuẩn giá trị xã hội đóng vai trò chuẩn mực cho các giá trị khác và là chuẩn cơ bản cho định hướng giá trị của đại đa số thành viên xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng con người, coi con người là vốn quý nhất
của xã hội, tất cả đều do con người, vì con người Xưa kia khi nói đến giá trị đạo đức
của con người, Khổng Tử nói đến: “Nhân – nghĩa – lễ - trí - tín”; còn Bác Hồ thì nói:
“Nhân – nghĩa – trí – dũng - liêm” và từ đó người lấy hệ thống giá trị cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, trung với nước, hiếu với dân là thang giá trị cao nhất, là thước
đo giá trị của người Việt Nam Trong đó, cái “đức”, cái “thiện” là cốt lõi, là gốc của
m ọi giá trị
Theo giáo sư Trần Văn Giàu, ông dùng hệ “giá trị truyền thống” để chỉ các giá trị
tốt đẹp vốn có của dân tộc để phân biệt với các giá trị nằm trong các nếp tập quán, phong tục xấu Những giá trị đạo đức tốt đẹp, chuẩn mực thường được gọi là phẩm giá,
phẩm chất [45, tr.65]
Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn và qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch
sử, hạt nhân cơ bản của thang giá trị, thước đo giá trị và nhân phẩm của con người Việt Nam ngày nay vẫn là các giá trị nhân văn truyền thống như lòng tự hào dân tộc, trung
với nước, hiếu với dân, ái, cần cù, chịu khó, thông minh, năng động, sáng tạo…
Những năm gần đây, khi kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo cơ chế thị trường thì xã hội ngày càng có những thay đổi, kéo theo đó là sự biến động cực kỳ nhanh chóng của thang giá trị, chuẩn giá trị đạo đức trong xã hội Việt Nam Một số
biểu hiện tiêu cực trong suy nghĩ, lối sống và trong hành vi ứng xử hàng ngày như
sống suy đồi, thoái hoá một cách nghiêm trọng, ham tư lợi, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân,
chủ nghĩa thực dụng, tham nhũng, gian lận trong thi cử, học giả bằng thật,… Tại đại
hội lần thứ IX của Đảng đã nhận định rằng: “Tình trạng tham nhũng, suy thoái về đạo
đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng Nạn tham nh ũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế
là m ột nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta” Nhận thức được điều này, thiết
nghĩ chúng ta không vội vàng lên án hay kết tội một bộ phận lớp trẻ đang có lối sống như trên; mà điều cần thiết là cần có những nghiên cứu sâu rộng để có cái nhìn khách quan, toàn diện về sự biến đổi của các thang giá trị, chuẩn giá trị ngày nay Từ đó có
Trang 28những định hướng giá trị đúng đắn cho xã hội, cho từng nhóm người, từng cá nhân để
họ có thể tạo ra và thiết lập những giá trị tốt cho xã hội
d) Vai trò c ủa giá trị
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định: “Giá trị giữ vai
trò quan tr ọng trong xu hướng định hướng và điều khiển các mối quan hệ của con người và xã hội… Giá trị chính là trục của ý thức, là yếu tố quan trọng của cấu trúc bên trong c ủa nhân cách, là nơi hội tụ kinh nghiệm sống của cá nhân, là hệ thống các
tr ải nghiệm cho phép con người tách biệt được cái bản chất với cái không bản chất”
Giá trị có tác dụng như những chuẩn mực, quy tắc để định hướng con người hướng tới những mục tiêu, thúc đẩy và điều chỉnh hành động của con người nhằm đạt
tới những mục tiêu đó Giá trị là cơ sở của việc đánh giá thái độ, hành vi nào là đúng
và nên có; ngược lại hành vi, thái độ nào là sai, không nên có Sự thống nhất, ổn định
về tâm lý, tinh thần, đạo đức của cá nhân và xã hội được chỉ đạo bởi các giá trị Nó là thang bậc, chuẩn hành vi để các thành viên của xã hội so sánh, đối chiếu, phân biệt được những hành động và suy nghĩ tốt đẹp, tích cực hoặc tiêu cực, phù hợp hay lệch chuẩn Các giá trị hình thành nên ý thức, thái độ và sức mạnh dư luận của đạo đức để đối phó với những hành vi đi ngược lại lợi ích xã hội
Giá trị có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển nhân cách của mỗi người Giá trị có hai chức năng cơ bản:
− Th ứ nhất: Giá trị là cơ sở cho sự hình thành và bảo tồn những định hướng giá
trị trong ý thức của con người, cho phép cá nhân giữ một lập trường xác định, bày tỏ quan điểm của mình, đánh giá và phê phán Các giá trị là một bộ phận của ý thức mà thiếu nó thì không thể có nhân cách được
− Th ứ hai: Giá trị thúc đẩy hành vi, hoạt động của con người Bởi vì sự định
hướng của con người trong thế giới xung quanh và nguyện vọng đạt được các mục đích riêng lẻ của họ đều được đối chiếu với các giá trị nằm trong cấu trúc nhân cách
2.1.2 Định hướng giá trị
Theo cách hiểu thông thường thì định hướng nghĩa là lựa chọn, xác định cho mình lối đi, cách làm hay rộng hơn là cách hành động, cách cư xử sao cho phù hợp với
bản thân và xã hội
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết, “Hệ thống định hướng giá trị tạo thành
nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong các mối quan hệ giữa cá nhân
Trang 29với thực tại” Như vậy, “định hướng giá trị” có liên quan đến “xu hướng” trong Tâm lý
học
Xu hướng là một trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách, là thành phần trong cấu trúc nhân cách 4 thành tố (năng lực, xu hướng, tính cách, khí chất), quy định hành vi và giá trị xã hội của cá nhân Xu hướng được hiểu là một thuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân, bao hàm trong nó một hệ thống những động lực quy định sự lựa
chọn các thái độ
Theo A.G.Côvaliốp, xu hướng của cá nhân là ý định hướng tới đối tượng trong
một thời gian lâu dài nhằm thoả mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới mục tiêu cao đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình [39, tr.222]
Xu hướng được biểu hiện ở một số mặt chủ yếu như nhu cầu, hứng thú, lý tưởng,
thế giới quan, niềm tin Các phạm trù nằm trong xu hướng đều hàm chứa nội dung
những giá trị sống mà mỗi cá nhân hay tập thể cần xác định cho mình trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách Như vậy, xu hướng có thể được xem là nguồn gốc
để nảy sinh những định hướng giá trị của con người Vì chính những động lực (nhu
cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin) sẽ quy định sự lựa chọn các thái độ,
lựa chọn những giá trị vật chất hay tinh thần ở mỗi người
Thuật ngữ định hướng giá trị được sử dụng khá phổ biến trong xã hội học, tâm lý
học và tâm lý học xã hội Jodov cho rằng, định hướng giá trị là “tụ điểm” của xã hội
học, tâm lý học và tâm lý học xã hội
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết, định hướng giá trị là:
− Cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mĩ giúp chủ thể đánh giá thực tại chung quanh và định hướng trong thực tại đó
− Phương pháp phân loại các khách thể của cá nhân theo giá trị của chúng Định hướng giá trị hình thành thông qua sự chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội và thể hiện trong các mục đích, tư tưởng, chính kiến, ham muốn,… của nhân cách Trong cấu trúc của
hoạt động con người, định hướng giá trị gắn liền với các đặc điểm nhận thức và ý chí
của nhân cách Hệ thống định hướng giá trị tạo thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong các mối quan hệ giữa cá nhân với thực tại [45, tr.66]
Trong tâm lý học, có nhiều quan điểm phong phú về định hướng giá trị:
Theo Từ điển tâm lý học tóm tắt của Liên Xô do A.V.Petrovki và Jarosevski chủ biên thì định hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật
Trang 30theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình; từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động
Trong tâm lý học phương Tây, một số tác giả quan niệm định hướng giá trị là một trong những trình độ cụ thể, giai đoạn nhất định của sự phát triển giá trị ở nhân cách Ladov cho rằng: “Định hướng giá trị là những biểu tượng của con người về những
mục đích chủ yếu của cuộc đời và các phương tiện cơ bản đạt những mục tiêu ấy Định hướng giá trị đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các chương trình hành vi ứng
xử lâu dài Chúng hình thành trên cơ sở những nhu cầu của chủ thể về việc nắm vững
những hình thức cơ bản của hoạt động sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể xác định và do tính chất của các quan hệ xã hội quy định Các quan hệ xã hội này là nguồn
gốc khách quan hình thành những nhu cầu ấy” [45, tr.68]
Thái Duy Tuyên thì cho rằng khái niệm định hướng giá trị được hiểu là việc mỗi
cá nhân hay cộng đồng lựa chọn cho mình một giá trị hay hệ giá trị nào đó [43, tr.37]
Hà Nhật Thăng thì cho rằng “định hướng giá trị là một hệ thống giá trị chuẩn phù
h ợp với yêu cầu xã hội, có tính phổ biến được nhiều người thừa nhận, công nhận và tuân th ủ thực hiện, hệ thống giá trị đó có tác dụng vừa như là mục tiêu, đối tượng phải chi ếm lĩnh, vừa như là động cơ thúc đẩy con người nhận thức hoạt động để hoàn thiện nhân cách, phát huy vai trò ch ủ thể của con người trong sự phát triển cá nhân, xã hội
và t ự nhiên” [35, tr.65]
Theo một số tác giả như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ thì “định hướng giá
tr ị là sự lựa chọn, sắp xếp các giá trị với tư cách là những tiêu chuẩn hành vi của mình, định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của cá nhân”
T ừ những quan điểm trên cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về định hướng giá trị, người nghiên cứu tiếp cận khái niệm “định hướng giá trị” theo các ý chung cơ bản sau:
− Định hướng giá trị là sự lựa chọn, sắp xếp các giá trị với tư cách là những tiêu chu ẩn hành vi của cá nhân hay của nhóm
− Định hướng giá trị được hình thành trong quá trình cá nhân hay nhóm người gia nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động đó, hướng vào các giá trị có ý nghĩa cơ bản đối với cá nhân hay nhóm
Trang 31− Quá trình định hướng giá trị bao giờ cũng cũng chứa đựng các yếu tố nhận
th ức (đánh giá), ý chí và cảm xúc (thử nghiệm) cũng như các khía cạnh đạo đức,
th ẩm mỹ trong sự phát triển nhân cách
− Định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của
cá nhân
* Quá trình định hướng giá trị
Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh quá trình định hướng giá trị, Paths, Harmin và Simon đã đưa ra bảy giai đoạn của quá trình định hướng giá trị dựa trên ba quá trình cơ bản như: Chọn lựa, cân nhắc và hành động
B ảng 1.1 Các giai đoạn của quá trình định hướng giá trị
Hành động
5 Làm một cái gì đó theo sự lựa chọn
7 Lặp lại hành động một vài dịp theo mẫu đó trong đời
Bảy giai đoạn của quá trình định hướng giá trị được các tác giả giải thích như
sau:
+ Ch ọn lựa tự do là sự lựa chọn không bị thúc đẩy bởi một quyền lực hay một sự
cưỡng bách nào đó mà cá nhân tâm niệm, gửi gắm vào một sở thích, một mục đích nào
đó
+ Ch ọn lựa từ các khả năng lựa chọn khác nhau là có nhiều khả năng lựa chọn,
cần phải xác định một tiêu chuẩn thích hợp làm cơ sở cho một mối quan tâm, một chủ định hay một hành động
Trang 32+ L ựa chọn trên cơ sở đã dự đoán kết quả có thể có của từng khả năng lựa chọn
+ Cân nh ắc và tâm niệm là người ta ấp ủ một tâm niệm hay cân nhắc một cái gì
mà người ta có cảm tình với nó
+ Kh ẳng định là sau khi cái lựa chọn đã được cân nhắc và tâm niệm, người ta
khẳng định và gắn bó với các lựa chọn đó
+ Hành động theo lựa chọn là giai đoạn quan trọng trong quá trình định hướng
giá trị, thông qua hành động mà cái lựa chọn bộc lộ bản chất của giá trị
+ L ặp lại hành động là bước cuối cùng trong quá trình định hướng giá trị Các
giá trị phải được bộc lộ qua quá trình lặp lại hành động Các cá nhân hành động phù
hợp và kiên trì theo các giá trị mà mình ấp ủ, tâm niệm
Như vậy, tập hợp những quá trình trên xác định sự đánh giá giá trị Kết quả của quá trình định hướng giá trị là khẳng định được giá trị [35, tr.75]
Hệ thống giá trị chuẩn có tính chung vừa là mục tiêu giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và của những người có chí hướng chung theo định hướng xã hội, vừa là chuẩn thước đo đánh giá hiệu quả, chất lượng của quá trình giáo dục nhân cách
Trong thực tế, mỗi cá nhân, mỗi gia đình, cộng đồng có định hướng hệ thống giá
trị riêng Khoảng cách giữa định hướng giá trị xã hội và cá nhân càng ngắn lại thì hiệu
quả hoạt động rèn luyện tự giáo dục của cá nhân càng cao, càng thể hiện sự chín muồi
của sự phát triển nhân cách
Sự lệch lạc của định hướng giá trị (nhất là giá trị đạo đức) sẽ dễ bị kích thích bởi
những yếu tố bên ngoài, những yếu tố không lành mạnh
Sự phát triển định hướng giá trị là dấu hiệu của sự chín muồi nhân cách, là chỉ tiêu đo đặc tính xã hội của nhân cách Sự kém phát triển của định hướng giá trị làm tăng sự khống chế các kích thích bên ngoài đến các cấu trúc nội tại của nhân cách, trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu Con người ta có những nhu cầu lành mạnh hay không lành mạnh là do việc lựa chọn các giá trị của mỗi cá nhân tác động tới Vì
vậy, việc xây dựng hệ thống định hướng giá trị và định hướng giá trị đúng đắn cho học sinh sinh viên là việc làm quan trọng trong công tác giáo dục học sinh sinh viên không
chỉ trong gia đình, nhà trường và xã hội Chính điều này sẽ góp phần hạn chế các hành
vi vô đạo đức, các tệ nạn xã hội đang trở thành vấn đề nhức nhối trong xã hội Việt Nam đương đại
Trang 332.2 Giá tr ị đạo đức và định hướng giá trị đạo đức
2.2.1 Đạo đức
a) Định nghĩa đạo đức
Từ trước đến nay, đạo đức là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như triết học, đạo đức học, tâm lý học, giáo dục học… Dưới mỗi góc nhìn khác nhau,
có những cách tiếp cận như sau về đạo đức:
Theo nghĩa gốc trong tiếng La tinh, đạo đức (Mos) – lề thói; ở đây muốn nói đến
những lề thói tập tục được biểu hiện trong mối quan hệ, giao tiếp giữa người và người Theo từ điển triết học, “Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và hành vi của
con người, quy định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã
h ội Đạo đức là hình thái của ý thức xã hội… Chủ nghĩa Mác – Lênin xây dựng quan điểm về đạo đức và những yêu cầu của đạo đức không phải trên những định nghĩa chung và tr ừu tượng mà trên những điều kiện lịch sử cụ thể Không có đạo đức nào ở ngoài xã h ội loài người… Trong một xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp
Nh ững hình thức kết cấu xã hội và cơ sở kinh tế mà bíến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo…”
Như vậy, dưới góc nhìn triết học thì đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập
h ợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên, trong hiện tại hay quá khứ cũng như trong tương lai Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
th ống và bởi sức mạnh của dư luận xã hội
Dưới góc nhìn tâm lý học, đạo đức được hiểu là thành phần quan trọng trong
c ấu trúc nhân cách (Đức – Tài); là hệ thống những chuẩn mực, biểu hiện thái độ đánh giá quan h ệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của cả xã hội
Theo Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng thì “Đạo đức là một hình thái ý
th ức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và
ti ến bộ xã hội trong quan hệ với con người, giữa cá nhân và xã hội…”
Theo quan điểm của GS.VS Phạm Minh Hạc và các cộng sự trong công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước, được trình bày trong tác phẩm “Về sự phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” , “Đạo đức theo
nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con
Trang 34người Nhưng trong điều liện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng
và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc, với bản thân kể cả với thiên nhiên và môi trường sống…
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành
mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn của cuộc sống Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức
của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý
thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại
Chuẩn mực đạo đức là những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực, được nhiều người thừa nhận, được dư luận xã hội xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước
đo giá trị cần có ở mỗi người Những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mọi người, ở nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngành nghề Đồng
thời chuẩn mực đạo đức đó lại có giá trị định hướng, chi phối, chế ước quá trình nhận
thức, điều chỉnh thái độ và hành vi của mỗi người
Các nhà nghiên cứu Đạo đức học phân tích khái niệm đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội đặc trưng của xã hội loài người, nó có tính lịch sử xã hội, bị chế ước, chi
phối bởi những điều kiện khách quan của kinh tế xã hội, dân tộc, lịch sử Đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nhân cách con người qua các thời kỳ lịch sử Đạo đức gắn liền với hành vi và động cơ hành vi của con người, đạo đức được xác định dựa trên ý nghĩa lợi hay hại của hành vi và động cơ con người
Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức theo một cách hiểu tổng quát là những tiêu
chu ẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Và theo nghĩa hẹp thì đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có
Như vậy, tiếp cận theo định nghĩa trên có thể hiểu đạo đức là một hệ thống những chuẩn mực được nhiều người thừa nhận và tự giác thực hiện do động cơ, nhu cầu của
mỗi người và được dư luận xã hội, hoặc những ràng buộc của pháp luật để đảm bảo
những điều kiện cần thiết cho mọi người được sống trong môi trường bình yên tự do Trong đời sống hàng ngày, khái niệm đạo đức được sử dụng để đánh giá tình cảm, thái độ, hành vi của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội của mỗi thời
Trang 35kỳ lịch sử Những người sống theo chuẩn mực xã hội, gương mẫu, tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội thì được nhiều người quý mến và được coi là người có đạo đức Như vậy khái niệm đạo đức ở đây được dùng để nhận xét nhân phẩm của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội, thể hiện trong quan hệ giao tiếp ứng xử
với mọi người xung quanh và so với những bổn phận, trách nhiệm xã hội đòi hỏi
Tóm l ại, người nghiên cứu tiếp cận khái niệm đạo đức theo nghĩa hẹp nhất là toàn b ộ những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giao tiếp, ứng xử với bản thân, v ới người khác, với cộng đồng xã hội
b) C ấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức
Ba mặt cơ bản, xuyên suốt trong đời sống tâm lý con người đó là nhận thức, tình
cảm và hành vi Khi con người có nhận thức đúng về các giá trị đạo đức, có tình cảm,
niềm tin với các giá trị đạo đức đó thì thiết nghĩ con người đó sẽ có những hành vi đạo đức tốt và ngược lại
Thật khó để đánh giá một người đạo đức hay không có đạo đức; nhưng có thể dễ dàng đánh giá những hành vi của người đó là có đạo đức hay không đạo đức Như vậy,
để đánh giá đạo đức con người phải căn cứ trên những hành vi đạo đức của người đó
với bản thân, với người khác, với xã hội, với môi trường, với Tổ quốc,…
Hành vi đạo đức là một hành động tự giác, được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức; được biểu hiện trong cách đối nhân xử thế, trong phong cách
sống, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người…
Các hành vi đạo đức của con người đều bị chi phối và quyết định bởi những chuẩn mực đạo đức Nói chung, những chuẩn mực đạo đức thể hiện quan niệm về cái thiện và cái ác, được thay đổi tùy theo hình thái kinh tế xã hội và chế độ chính trị
Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức bao gồm: Tri thức đạo đức, niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức, thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức…
Khâu đầu tiên trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên là cung
cấp những tri thức đạo đức cho học sinh thông qua các môn học ở nhà trường như:
Đạo đức, giáo dục công dân, văn học, lịch sử, chính trị, giáo dục học, tâm lý học, cơ sở văn hóa Việt Nam…; thông qua sinh hoạt chủ nhiệm, sinh hoạt ngoại khóa, các buổi sinh hoạt giá trị sống, kỹ năng sống…
Tri thức đạo đức được hiểu là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức, quy định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội Tri thức đạo
Trang 36đức dựa trên cơ sở của quá trình tư duy sâu sắc và độc lập của cá nhân khi họ tiếp xúc
với các chuẩn mực đạo đức Tri thức đạo đức là yếu tố quan trọng chỉ đạo hành vi đạo đức
Tri thức đạo đức chỉ có thể trở nên bền vững, có ý nghĩa đối với cuộc sống, có vai trò định hướng, chỉ đạo con người trong hoạt động, giao tiếp và trong cuộc sống khi và chỉ khi những tri thức đạo đức đó thâm nhập, chuyển thành niềm tin đạo đức Niềm tin
đạo đức là một trong những yếu tố quyết định hành vi đạo đức của con người, là cơ sở
để làm bộc lộ những phẩm chất ý chí của đạo đức (lòng dũng cảm, tính kiên quyết, tính mục đích, tính kiên trì, tính độc lập, tính kiềm chế và tự chủ bản thân)
Có thể thấy, điều quan trọng trong giáo dục đạo đức hiện nay là phải biến những tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức Để làm được điều này, nhà giáo dục trước hết
phải có niềm tin vào những tri thức mà mình giảng dạy Hơn thế, người làm công tác giáo dục cần là một tấm gương đạo đức, gương mẫu Thầy cô, cha mẹ có đạo đức, gương mẫu sẽ tạo được uy tín ở học sinh, con cái và sẽ có sức thuyết phục các em Từ
đó các em có niềm tin vào hành vi đạo đức, những chân lý đạo đức Như vậy, nếu người lớn, nhà giáo dục không có đạo đức, không gương mẫu thì không thể thuyết
phục, không tạo được niềm tin và khó để giáo dục con trẻ
Khi có niềm tin vào những giá trị đạo đức tốt đẹp thì những hành vi đạo đức của con người được thực hiện một cách tự nguyện và tự giác Khi thực hiện một hành vi đạo đức tốt đẹp, hành vi đó sẽ được củng cố và có sức lan tỏa, tạo niềm tin và trở nên
bền vững khi người thực hiện hành vi đó nhận được sự hoan nghênh, khen ngợi, sự trân trọng, sự cám ơn của người khác và của xã hội Vì thế, trong quá trình dạy học và giáo dục ở gia đình cũng như nhà trường và xã hội cần củng cố những hành vi đạo đức
tốt đẹp ở con người như chăm chỉ, cần cù, chịu khó, lòng dũng cảm, tinh thần nhân ái, đức tính trung thực Giáo viên sẽ khen gợi một tấm gương người tốt việc tốt khi học sinh nhặt được của rơi và trả lại cho người bị mất; xã hội sẽ biểu dương, ca ngợi những
tấm gương dũng cảm lao mình xuống dòng nước lũ để cứu bạn; hay sẽ ngợi ca những
tấm gương trung thực, dũng cảm khi tố cáo những hành vi tham nhũng, gian lận trong thi cử…
Hành vi đạo đức của con người luôn gắn liền với động cơ đạo đức Có thể nói, động cơ như thế nào thì hành động như thế ấy Hành vi đạo đức là biểu hiện, hình thức bên ngoài của động cơ đạo đức Động cơ đạo đức là động cơ bên trong, được con
Trang 37người ý thức, trở thành động lực chính làm cơ sở cho những hành động của con người trong mối quan hệ giữa người và người, và với xã hội, biến hành động của con người thành hành vi đạo đức
Thiết nghĩ, giáo dục đạo đức hiện nay không chỉ dừng lại ở việc trang bị những tri thức đạo đức, rèn luyện những hành vi đạo đức tốt đẹp mà quan trọng là xây dựng cho các em học sinh những động cơ đạo đức trong sáng, bền vững, có ý nghĩa đối với
bản thân và xã hội như lòng nhân đạo, tính tự giác, trung thực, dũng cảm…; tránh động cơ cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, thực dụng
Một trong những động cơ thúc đẩy và điều chỉnh hành vi đạo đức ở mỗi cá nhân
đó là tình cảm đạo đức Để có những động cơ đạo đức trong sáng, cần có những tình
cảm đạo đức tốt đẹp Vậy tình cảm đạo đức là những thái độ rung cảm của cá nhân đối
với hành vi đạo đức của người khác và với hành vi của chính mình trong quá trình quan hệ với người khác và với xã hội Tình cảm đạo đức tạo ra “lực hút” của nhân cách, khơi dậy những nhu cầu đạo đức, thúc đẩy con người hành động một cách có đạo đức trong quan hệ giữa người – người và người – xã hội Đôbrôliubôp đã nói rằng:
“Ni ềm tin và tri thức chỉ coi là có thật khi nó đã đi vào trong con người, đã hòa lẫn
v ới tình cảm và ý chí của con người”
Có thể khái quát rằng: Nếu coi thế giới quan đạo đức của con người là một tòa tháp gồm ba bậc thì bậc đầu tiên – thấp nhất đó là tri thức đạo đức; bậc thứ hai – bậc
giữa – cầu nối đó là niềm tin đạo đức và bậc cao nhất – có ý nghĩa nhất đó là tình cảm
Trang 38Giáo dục là quá trình lâu dài và liên tục, đòi hỏi nhà giáo dục phải thật sự yêu nghề và kiên nhẫn Giáo dục đạo đức cũng vậy, để quá trình giáo dục đạo đức đạt đến
mục đích cuối cùng đó là thói quen đạo đức ở mỗi người thì đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn
nại của nhà giáo dục Từ những tri thức đạo đức tốt đẹp, nhà giáo dục giúp người được giáo dục có những niềm tin, tình cảm đối với những tri thức đó, cần nghị lực để vượt qua những khó khăn, để những hành vi đạo đức khẳng định, tồn tại và phục tùng ý
thức đạo đức Những hành vi đạo đức được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách có hệ
thống sẽ thành thói quen đạo đức Khi những hành vi đạo đức trở thành thói quen đạo đức thì những hành vi đạo đức đó mang tính ổn định, trở thành nhu cầu đạo đức của
mỗi người, và mang lại những xúc cảm tích cực nếu như những nhu cầu đạo đức đó được thỏa mãn và ngược lại
Ví dụ: Nếu như đức tính trung thực của học sinh trở thành thói quen đạo đức thì trong bất cứ hoàn cảnh nào học sinh vẫn luôn trung thực: trung thực với chính bản thân mình, trung thực trong các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình,…, trong học tập
và trong cuộc sống Trẻ sẽ cảm thấy khó chịu và sẵn sàng lên án những hành vi, những
biểu hiện thiếu trung thực trong học tập cũng như trong cuộc sống thường ngày Thiết nghĩ, xã hội sẽ tốt đẹp, văn minh biết bao nếu như ai ai cũng có thói quen trung thực
Sẽ không có những hiện tượng thiếu trung thực như quay cóp bài trong thi cử, không
có hiện tượng học giả bằng thật hay làm giả giấy tờ, hồ sơ; cũng như không có hiện tượng tham ô, tham nhũng trong các lĩnh vực của cuộc sống… Con người sẽ cư xử với nhau có đạo đức, có văn minh hơn nếu như người người đều thụ hưởng được một nền giáo dục tốt đẹp, nền giáo dục “sạch” ngay từ thời thơ ấu, ngay từ trong gia đình, nhà trường và xã hội Để rồi mỗi cá nhân trong xã hội sẽ tự ý thức được những gì nên làm
và không nên làm, sẽ biết “gạn đục khơi trong” khi tiếp nhận và lĩnh hội những tri thức trong suốt quá trình sống và học tập của bản thân
Tóm l ại, giáo dục định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên không chỉ dừng lại ở
việc hình thành ý thức đạo đức như tri thức, niềm tin, tình cảm, ý chí đạo đức; mà cần
củng cố những hành vi đạo đức được thể hiện qua lời nói, hành động, lối sống, thói quen đạo đức Và cuối cùng là giúp người được giáo dục đạt tới sự tự giáo dục, tự
kiểm tra, tự đánh giá hành vi đạo đức của bản thân và của người khác
Trang 39c) Vai trò c ủa đạo đức
Khi nghiên cứu về đạo đức và xác định vai trò của đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là “cái gốc” – là nền tảng của người cách mạng “Sông có nguồn thì
m ới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”; hay “Người có tài mà không có đức thì người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” [37, tr.84]
Đối với sự phát triển xã hội, đạo đức có ý nghĩa quan trọng, tạo ra quan hệ xã hội
tốt đẹp hơn
Đối với sự phát triển cá nhân, đạo đức góp phần định hướng mục tiêu hoạt động
của mỗi người, góp phần kiểm tra, điều chỉnh hành động của mỗi người
Giống như hai mặt của tờ giấy, đức và tài là hai mặt không thể thiếu ở con người Đạo đức giúp mỗi người nâng cao phẩm giá của mình, góp phần tạo nên uy tín cho bản thân, giúp con người sáng tạo ra hạnh phúc, giữ gìn và bảo vệ cuộc sống tốt đẹp hơn Trong xã hội, đạo đức thực hiện các chức năng sau:
- Ch ức năng định hướng giáo dục: Đạo đức giúp con người nắm được những
quan điểm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản Từ đó giúp cho
mỗi người có chuẩn để lựa chọn giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa điều cần làm và nên làm với cái cần và nên tránh, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, giữa bổn phận và quyền hạn, giữa cộng đồng nhỏ và dân tộc
- Ch ức năng điều chỉnh hành vi: Trong cuộc sống hiện thực, con người có nhiều
mối quan hệ đa dạng, phức tạp đòi hỏi phải giải quyết; cũng có những vấn đề, những mâu thuẫn giằng xé nhau trong bản thân mỗi người Khi ấy, chủ thể đạo đức dựa trên
hệ thống nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của xã hội và của cá nhân để có thể lựa chọn, cân nhắc, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp, mang lại cho lương tâm sự thanh
thản, thoải mái
Bên cạnh đó, đạo đức còn thực hiện các nhiệm vụ như chi phối các mối quan hệ
xã hội Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, cùng một lúc mỗi cá nhân tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ pháp
luật, quan hệ văn hoá, quan hệ khoa học… Bên trong mỗi mối quan hệ đó đều chứa đựng quan hệ đạo đức sâu sắc và mang sắc thái đặc thù do quan hệ đó chi phối Không
những thế, đạo đức còn vạch ra những yêu cầu, tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức phù
Trang 40hợp với những giá trị tốt đẹp, nhân cách mới của xã hội để cá nhân lựa chọn định hướng, điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trong quan hệ với người khác và xã hội Song song với đó, đạo đức còn có nhiệm vụ đấu tranh, phê phán, chống lại những khuynh hướng vô đạo đức hay những giá trị đạo đức lạc hậu, không lành mạnh, cản trở
cá nhân và xã hội vươn lên những giá trị nhân văn cao đẹp
Xã hội ngày càng phát triển, đạo đức của mỗi con người ngày càng được trân
trọng và đề cao Các giá trị đạo đức hiện nay luôn có sự kế thừa, kết tinh và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống với các giá trị đạo đức đương đại
2.2.2 Giá tr ị đạo đức
Xem xét trên bình diện xã hội, giá trị đạo đức được định nghĩa là những chuẩn
m ực, những khuôn mẫu lý tưởng và những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi c ủa con người
Xem xét tính lợi ích, trên bình diện cá nhân, giá trị đạo đức được định nghĩa là
nh ững cái được con người lựa chọn và đánh giá như một việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương [24, tr.62]
Giá trị đạo đức được hiểu là những tiêu chuẩn lối sống được con người hay nhóm người thừa nhận và áp dụng trong hệ thống hành vi, thái độ của mình một cách có ích đối với các mối quan hệ trong đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận
biểu dương [1, tr.18]
Giá trị đạo đức còn được hiểu là những yếu tố phản ánh mối quan hệ của con người với những chuẩn mực làm người, với luân lý, với yêu cầu chuẩn trên bình diện quy chuẩn xã hội Giá trị đạo đức thể hiện rõ sự chi phối của những yếu tố thuộc về đạo đức được nhiều người và gần như là cả xã hội thừa nhận Đó cũng chính là những thang đo để đánh giá rằng con người có hướng đi phù hợp với những quy chuẩn chung
của xã hội, những chuẩn mực về bộ mặt làm người, về giá trị người một cách đích thực Giá trị đạo đức nhấn mạnh đến yếu tố tự giác của con người, khi được chủ thể
nhận thức thì giá trị đạo đức trở thành động cơ bên trong để thúc đẩy hành vi của con người [36, tr.29]
Tóm l ại, người nghiên cứu đồng ý với quan niệm giá trị đạo đức là ý thức tự giác th ực hiện và tuân theo những quy tắc, quy chuẩn xã hội
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm trong Triết học Mác – Lênin, Hồ Chí Minh
đã xây dựng nên một hệ thống những tư tưởng về đạo đức cách mạng Theo Người,