Kết quả nghiên cứu thực trạng về thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất trường đại học Tài chính – Marketing ...45 2.2.1.. 101 2.2.4.Thực trạng về việc
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TÀI CHÍNH – MARKETING
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KH Ó KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu,
kết quả nghiên cứu là trung thực Nếu không đúng như đã trình bày, Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật
Tác gi ả công trình
Lê N ữ Diễm Hương
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được và hoàn thành luận văn này, trước tiên, xin chân thành
cảm ơn quý Thầy Cô và sinh viên trường đại học Tài chính – Marketing đã tạo điều
kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Xin cảm ơn toàn thể quý Thầy Cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn, giảng dạy lớp cao học tâm lý học khóa 20, niên khóa 2009 – 2011
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, TS Lê Xuân Hồng đã tận tình hướng dẫn, động viên em trong quá trình thực hiện đề tài này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03/2012
Trang 5DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Khách thể nghiên cứu 3
8 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN BẬC ĐẠI HỌC 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới 4
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lý luận 12
1.2.1 Hoạt động 12
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động 12
1.2.1.2 Hoạt động học tập 13
1.2.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 33
1.2.2.1 Khái niệm khó khăn 33
1.2.2.2 Khái niệm khó khăn tâm lý 34
1.2.2.3 Biểu hiện khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 35
1.2.2.4 Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập 38
CHƯƠNG 2 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HO ẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING 40
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 40
Trang 72.1.1 Điều kiện nghiên cứu 40
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng: 40
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 40
2.1.3.1 Mô tả phương pháp 40
2.1.3.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 41
2.1.3.3 Phương pháp thống kê và phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS 43 2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng về thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất trường đại học Tài chính – Marketing 45
2.2.1 Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt chung của ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trong các khâu của hoạt động học tập 45
2.2.2 Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở các khâu trong hoạt động học tập .47
2.2.2.1 Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở khâu độc lập làm việc với giáo trình và tài liệu tham khảo 47
2.2.2.2.Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở khâu tự đánh giá và kiểm tra của sinh viên 51
2.2.2.3 Thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở khâu chuẩn bị và tiến hành thảo luận - thuyết trình của sinh viên 55
2.2.2.4 Thực trạng khó khăn tâm lý trong khâu tự học và sắp xếp thời gian tự học của sinh viên 63
2.2.2.5 Thực trạng khó khăn tâm lý trong khâu chuẩn bị bài trước khi học trên lớp của sinh viên 67
2.2.2.6 Thực trạng khó khăn tâm lý trong khâu ôn tập và hệ thống hóa tri thức 72
2.2.2.7 Thực khó khăn tâm lý trong khâu tiếp thu và ghi chép bài vỡ trên lớp của sinh viên 75
2.2.2.8 Thực trạng khó khăn tâm lý trong khâu chuẩn bị cho các kỳ thi và kiểm tra 82
Trang 82.2.3 Thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động của sinh viên trường đại học Tài chính Marketing 87 2.2.3.1 Thực trạng tự đánh giá các nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing 87 2.2.3.2 Thực trạng nguyên nhân tác động đến các kỹ năng trong khâu độc
lập làm việc với giáo trình và tài liệu tham khảo 91 2.2.3.3 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ
biểu hiện ở khâu tự đánh giá và kiểm tra của sinh viên 92 2.2.3.4 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ
biểu hiện ở khâu thảo luận - thuyết trình của sinh viên 93 2.2.3.5 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ ở trong khâu tự học và sắp xếp thời gian tự học của sinh viên 95 2.2.3.6 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ ở trong khâu chuẩn bị bài trước khi học trên lớp của sinh viên 98 2.2.3.7 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ ở trong khâu ôn tập và hệ thống hóa tri thức của sinh viên 99 2.2.3.8 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ ở trong khâu tiếp thu và ghi chép bài vỡ trên lớp của sinh viên 100 2.2.3.9 Thực trạng tác động của nguyên nhân đến khó khăn ở mặt thái độ ở trong khâu chuẩn bị cho các kỳ thi và kiểm tra 101 2.2.4.Thực trạng về việc sử dụng những biện pháp nhằm giảm thiểu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính
Marketing 1042.2.4.1 Thực trạng về việc áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính
Marketing 1042.2.4.2 Một số biện pháp nâng cao thái độ - hành vi học tập cho sinh viên trường đại học Tài chính – Marketing 105
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
Trang 91 Kết luận 110
2 Kiến nghị 112
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 114
PH Ụ LỤC 117
Trang 10DANH M ỤC BẢNG BIỂU
B ảng 1.1 Quan điểm về tám giai đoạn về khó khăn, khủng hoảng của Erikson 5
B ảng 2.1 Mẫu khách thể nghiên cứu 43
B ảng 2.2 Khảo sát kết quả học tập 44
B ảng 2.3 Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt chung của ba mặt
nh ận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trong các khâu của HĐHT 45
B ảng 2.4 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu độc lập làm việc
v ới giáo trình và tài liệu tham khảo 48
B ảng 2.5 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu độc lập làm việc
v ới giáo trình và tài liệu tham khảo 49
B ảng 2.6 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu tự đánh giá và
ki ểm tra của sinh viên 52
B ảng 2.7 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu tự đánh giá và
ki ểm tra của sinh viên 53
B ảng 2.8 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong giai đoạn chuẩn bị
th ảo luận – thuyết trình 57
B ảng 2.9Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong giai đoạn chuẩn bị
th ảo luận – thuyết trình 57
B ảng 2.10Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong giai đoạn tiến hành
th ảo luận – thuyết trình 60
B ảng 2.11 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong giai đoạn tiến hành
th ảo luận – thuyết trình 60
B ảng 2.12 Thống kê mức độ xảy ra các mặt tiêu cực trong quá trình vận hành nhóm
62
B ảng 2.13 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu tự học và sắp
x ếp thời gian tự học của sinh viên 64
B ảng 2.14 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu tự học và sắp
x ếp thời gian tự học của sinh viên 65
Trang 11B ảng 2.15Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu chuẩn bị bài trước khi lên lớp 68
B ảng 2.16 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu chuẩn bị bài trước khi lên lớp 70
B ảng 2.17 Thống kê và so sánh mức độ khó khăn tâm lý trong khâu ôn tập và hệ
Trang 12B ảng 2.30 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu thảo luận - thuyết trình của sinh viên 93
B ảng 2.31 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu tự học và sắp xếp thời gian tự học của sinh viên 95
B ảng 2.32 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu chuẩn bị bài trước khi học trên lớp của sinh viên 98
B ảng 2.33 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu ôn tập và hệ thống hóa tri thức của sinh viên 99
B ảng 2.34 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu tiếp thu và ghi chép bài vỡ trên lớp của sinh viên 100
B ảng 2.35 Thực trạng ảnh hưởng của các nguyên nhân đến mức độ khó khăn các kỹ năng trong khâu chuẩn bị cho các kỳ thi và kiểm tra 101
B ảng 2.36 Thống kê lựa chọn các giải pháp cho khó khăn tâm lý về mặt thái độ của sinh viên 104
Trang 13MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Hoạt động học tập nói chung và hoạt động học tập ở bậc đại học nói riêng là một
hoạt động khó, đòi hỏi chủ thể phải nổ lực, ý chí, có nhận thức, có thái độ, có hành
vi tốt, có phương pháp… để chiếm lĩnh tri thức
Đối với sinh viên trong những năm đầu tiên của bậc đại học, sự hình thành các
yếu tố nói trên là vô cùng quan trọng Nhưng chính sự khác biệt giữa giáo dục phổ thông và đại học: sự gia tăng đột ngột về khối lượng tri thức, sự khác biệt về phương pháp dạy và học…Ngoài ra, sinh viên đến từ rất nhiều vùng miền khác nhau, có sự khác biệt về xuất thân gia đình (như kinh tế, văn hóa, giáo dục…) đã làm cho sinh viên xuất hiện nhiều khó khăn, trong đó có không ít khó khăn do tâm
lý gây nên Nhiều biểu hiện tâm lý như: chán học, cúp tiết, ham chơi, bỏ học, lưu ban, chuyển đổi ngành học, học cho qua ….xảy ra nhiều ở sinh viên Sự tự nhận
thức và vượt qua những khó khăn nói chung và khó khăn tâm lý nói riêng sẽ giúp cho sinh viên xuất hiện nhận thức, thái độ và hành vi đúng đắn trong hoạt động học
tập của mình và từ đó sẽ vượt qua những trở ngại trong việc học tập của chính bản thân, trở thành những kinh nghiệm quý giá làm nền tảng vững chắc cho những năm
học tiếp theo
Đối với sinh viên trường đại học Marketing, số lượng sinh viên hàng năm trúng tuyển vào trường là rất lớn Trong đó, nhà trường luôn quan tâm chất lượng giáo
dục là hàng đầu Vì vậy, thiết nghĩ việc đầu tư nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập từ đó có những điều chỉnh trong hoạt động dạy và học cũng như các chương trình hổ trợ hoạt động học tập khác cho sinh viên là hết sức cần thiết
Với vị trí là một giảng viên chuyên ngành tâm lý học của trường, tôi cực kỳ quan tâm đến thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên hổ
trợ cho chính hoạt động dạy của tôi và hổ trợ hoạt động học của sinh viên mà tôi đảm nhiệm công tác giảng dạy Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tài Chính Marketing”
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing, từ đó có những kiến nghị và đề
xuất giải pháp giúp sinh viên vượt qua những khó khăn nêu trên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài như: khó khăn tâm lý, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing, các khâu trong hoạt động học tập, các khâu trong hoạt động học tập của sinh viên
- Tìm hiểu thực trạng về khó khăn tâm lý trong các khâu của hoạt động học tập
của sinh viên
- Tìm hiểu nguyên nhân khách quan và chủ quan gây nên khó khăn tâm lý trong các khâu của hoạt động học tập của sinh viên
- Đưa ra những giải pháp và kiến nghị giúp sinh viên vượt qua những khó khăn tâm lý trong các khâu của hoạt động học tập của họ
4 Phạm vi nghiên cứu
Với khả năng tài chính và thời gian tôi chỉ nghiên cứu đề tài trên địa bàn ở Trường Đại học Tài chính Marketing với một số Khoa như sau: Khoa tài chính – Ngân hàng, Khoa Marketing, khoa Quản trị kinh doanh, khoa Công nghệ thông tin Khu vực nghiên cứu: tại cơ sở Phổ Quang
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2/2011 – tháng 3/2012
5 Giả thuyết nghiên cứu
Gi ả thuyết 1: Sinh viên trường Đại học Marketing chưa có nhận thức, thái độ,
hành vi chưa đúng đắn làm cho họ gặp nhiều khó khăn tâm lý trong các khâu của
hoạt động học tập
Gi ả thuyết 2: Sinh viên gặp khó khăn nhất về mặt thái độ và hành vi trong tất
cả các kỹ năng thuộc các khâu của hoạt động học tập
Gi ả thuyết 3: Nguyên nhân chủ quan và khách quan hai nhóm nguyên nhân gây
nên sự khó khăn sự khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên Trong
Trang 15đó nhóm nguyên nhân chủ quan gây nên sự khó khăn nhiều hơn nhóm nguyên nhân khách quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tham khảo các sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu chuyên ngành về các vấn đề liên quan đến: khó khăn tâm lý, hoạt động học tập của sinh viên, các khâu trong hoạt động học tập của sinh viên từ đó hệ thống và khái quát hóa những khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket để thu thập dữ liệu định lượng từ đó
có những thống kê mô tả về những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên
Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN BẬC ĐẠI HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
về sự khó khăn tâm lý trên nhiều lĩnh vực nói chung và khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập nói riêng Sau đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề này: 1.1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Erikson (1902 – 1994) nhà tâm lý học, phân tâm học người Đức qua tác phẩm
“Childhood and Society – Tu ổi thơ và xã hội” xuất bản năm 1963 ông đã xác định
các giai đoạn cuộc sống cá nhân có những khó khăn tâm lý có thể là những “khủng
hoảng” hay “khó khăn”, “sóng gió” cần được giải quyết trước khi bước sang giai đoạn kế tiếp Nếu giải quyết được những khó khăn này con người sẽ được cải thiện, phát triển tốt đẹp, ngược lại những khó khăn tiếp tục với những khó khăn mới trong giai đoạn sau con người sẽ thất bại Cũng trong mỗi giai đoạn, con người bị đặt dưới áp lực giữa nhu cầu cá nhân và nhu cần xã hội Nhờ quan hệ nhu cầu hổ tương này, cá nhân tìm cách thích nghi hóa và tìm ra sự thay đổi cần thiết cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Nếu không thể thích nghi hóa, cá nhân sẽ trở thành những nhóm khác biệt, nhóm chống đối, nhóm bị bạc đãi…Erikson là môn đệ của Frued cũng đồng quan điểm với ông ở 5 giai đoạn đầu Tuy nhiên ông bổ sung thêm ở cuối giai đoạn này và đầu giai đoạn kế tiếp có sự trùng hợp và kết nối Cụ thể 8 giai đoạn về
những khó khăn, khủng hoảng trong đó 3 đặc điểm đối chọi nhau và đặc điểm thứ
nhất đã thắng thế:
Trang 17Bảng 1.1 Quan điểm về tám giai đoạn về khó khăn, khủng hoảng của Erikson
Các giai đoạn Thu ận lợi S ự đối
ch ọi Khó khăn Giai đoạn 1 Sơ sinh tới 1.5 tuổi Tin tưởng Ch ống lại Lo sợ
Giai đoạn 2 Tuổi thơ 1.5 – 3 tuổi Tự tin Ch ống lại Nghi ngờ
Giai đoạn 3 Tuổi chơi 3 – 5 tuổi Sáng kiến Ch ống lại Mơ hồ
Giai đoạn 4 Tuổi học 5 – 12 tuổi Tiến bộ Ch ống lại Tự ti
Giai đoạn 5 Tuổi trẻ 12 – 18 tuổi
Giai đoạn 6 Thanh niên 18 – 25
tuổi Hội nhập Ch ống lại Cô lập
Giai đoạn 7 Trưởng thành 25 – 65
tuổi Phát triển Ch ống lại Trì trệ
Giai đoạn 8 Cao niên 65 tuổi trở lên Hồi tưởng Ch ống lại Thất vọng
Ở giai đoạn 6, khả năng hội nhập của sinh viên phải được phát triển Người thanh niên nam hay nữ không thể sống cô lập; trái lại họ phải hội nhập vào xã hội vì đây là tuổi thực sự đã trưởng thành mặc dù một số người còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng một số khác đã thực sự vào đời, lập gia đình, hội nhập với gia đình,
họ hàng và xã hội Nói về giai đoạn này, Erikson nhấn mạnh đến vấn đề quan trọng
cần được quan tâm là quan hệ nam nữ Tuổi này là tuổi lập gia đình hoặc chuẩn bị
lập gia đình Đây là một sự phát triển thiết thực, cần thực hiện, không ai có thể từ
chối Thực hiện mỹ mãn hay không phụ thuộc vào khả năng nhận diện cuộc sống
của thanh niên Thiếu khả năng nhận diện này người thanh niên sẽ gặp những khó khăn về mặt tâm lý trong cuộc sống như sẽ lúng túng, vụng về mỗi khi giao tiếp với
bạn bè khác phái và có thể bị cô lập Hội nhập ở đây không có nghĩa là bắt buộc
Trang 18giới thanh niên từ bỏ quan điểm riêng để hội nhập với bạn bè, xã hội mà là sự chấp
nhận cải tiến những quan điểm chưa phù hợp của bản thân và giữ lại những quan điểm đúng đắn của mình, tôn trọng quan điểm của bản thân và người khác Ở đây đòi hỏi sự nhận định, chọn lọc và cách ứng xử của cá nhân trong cuộc sống Như
vậy, tinh thần thông cảm, tin tưởng, nhận định thích đáng là điều quan trọng trong giai đoạn này nếu không cá nhân sẽ gặp các khó khăn trong tâm lý, có thể bị bạn bè
và xã hội cô lập.[25, tr 36]
Curran là tác giả của tập nghiên cứu: “Adolescent Suicidal – Đường lối tự vẫn
c ủa tuổi trẻ” cũng như nhiều nhà khoa học khác đã xác định rằng đây là giai đoạn
có nhiều sự bất ổn trong tâm lý Chính vì vậy, giai đoạn này (độ tuổi từ 15 – 24 trong đó có lứa tuổi thanh niên – sinh viên) xuất hiện nhiều ca tự tử Điều này cho
thấy, mâu thuẫn nội tại và những vướng mắc tâm lý khó giải quyết ở lứa tuổi này là
rất lớn.[25, tr109]
Theo kết quả nghiên cứu của B.G.Ananhev thì: lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là có vai trò xã hội của người lớn Đây là thời kỳ biến đổi
mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp Đây cũng là
thời kỳ mà sinh viên đạt đỉnh cao trong thể thao, khoa học và nghệ thuật Chính vì
vậy, trong thế giới nội tâm rất phức tạp của họ xuất hiện những mâu thuẫn và chúng
có ba mâu thuẫn chính như sau:
Th ứ nhất, mâu thuẫn giữa mơ ước của sinh viên với khả năng, điều kiện và kinh
nghiệm để thực hiện mơ ước đó
Th ứ hai, mâu thuẫn giữa mong muốn học tập sâu những môn yêu thích và yêu
cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập (quỹ thời gian có hạn phải chia nhiều môn, nên không thể giành nhiều cho môn học mình có hứng thú)
Th ứ ba, mâu thuẫn giữa số lượng thông tin dội vào nhiều vô kể và thời gian để
kịp hiểu sâu các thông tin đó
Như vậy, B.G.Ananhev đã khẳng định rằng đây là giai đoạn chứa đựng ba mâu thuẫn nội tại trong tâm lý của sinh viên Nếu giải quyết được những mâu thuẫn này
Trang 19đồng nghĩa với việc sinh viên đã chuyển đổi từ những yêu cầu bên ngoài thành
những yêu cầu bên trong bản thân họ và họ vượt qua những yêu cầu, đạt được
những giá trị cuộc sống Ngược lại, họ sẽ gặp khó khăn trong tâm lý, là một lực cản
bản thân họ đến với các thành công trong cuộc sống [28, tr85]
Bianka Zazzo trong công trình nghiên cứu một nhóm người lớn ở Pháp, cùng
với các cộng sự của mình thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của đại học Paris 10 đã
tiến hành nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên cấp 1 của trẻ em Tác giả đã
chỉ ra rằng khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ em gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập là “Sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để,
gọi là sự chuyển dạng hoạt động chủ đạo Mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn tính chủ đạo của giáo viên Bước vào lớp 1, học tập là chủ đạo, học sinh phải học nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học”.[15, tr6]
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Trong nghiên cứu của mình về thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của học sinh lớp 3, tác giả Lê Mỹ Dung đã nghiên cứu trên 493 học sinh lớp 3,
493 phụ huynh học sinh và 30 giáo viên giảng dạy ở 4 trường tiểu học ở các khu
vực khác nhau, bao gồm trường tiểu học Quan Hoa, Mê Linh (Hà Nội) và Đoàn Thị Điểm, Âu Cơ (Đà Nẵng) đã phát hiện những loại khó khăn tâm lý và thứ bậc của chúng như sau:
Khó khăn lớn thứ nhất, tiếp thu bài chậm
Th ứ hai, hay quên những gì đã học
Th ứ ba, khó tập trung chú ý
Bên cạnh đó học sinh lớp ba cũng biểu hiện những khó khăn tâm lý khác như: thiếu ý chí vượt qua khó khăn, dễ nản khi gặp thất bại trong học tập, gặp nhiều khó khăn khi phải hoàn thành những nhiệm vụ học tập, hay bỏ dỡ công việc Tác giả cũng cho thấy ở gốc độ thích nghi với môi trường học tập học sinh cũng có những
biểu hiện khó khăn tâm lý ở nhiều mức độ khác nhau như: khó khăn lớn nhất là
“Ki ểm soát cảm xúc của bản thân”, khó khăn thứ hai là “khó thiết lập mối quan hệ
Trang 20b ạn bè” biểu hiện như không có bạn, ít bạn, thích chơi với những anh chị lớp trên
hơn, khó khăn trong diễn đạt quan điểm cho người khác hiểu…và giáo viên phải thường xuyên nhắc nhở về việc vi phạm những nội quy, quy định của nhà trường Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đã xác định được những nguyên nhân chính và thứ bậc của các nguyên nhân này tác động đến những thực trạng nêu trên
cụ thể là: khó khăn lớn thứ nhất là: do khả năng nhận thức của học sinh bị hạn chế,
thứ hai là môi trường gia đình không thuận lợi, bên cạnh đó còn tồn tại những nguyên nhân tác động khác như: học sinh có vấn đề về sức khỏe, những tác động từ phía xã h ội Tác giả cũng đã đề ra những biện pháp giải quyết những vấn đề nêu
trên như: nâng cao ý thức tự giác rèn luyện và học tập của học sinh, đối với giáo viên phải nâng cao nghiệp vụ sư phạm trong việc nhận diện, giúp đỡ và giải quyết
những khó khăn tâm lý nêu trên, gia đình phải theo giỏi, quân tâm và giúp đỡ con
em vượt qua những khó khăn nêu trên [5]
Tác giả Đồng Văn Toàn đã nghiên cứu về những khó khăn tâm lý trong giao tiếp
của lưu học sinh Lào đang học ở trường cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế Công trình nghiên cứu này khảo sát trên 80 lưu học sinh Lào và hơn 130 học sinh Việt và cán bộ giảng viên Kết quả nghiên cứu cho thấy lưu học sinh có một số biểu hiện khó khăn trong giao tiếp như sau:
Khó khăn trong diễn đạt suy nghĩ của bản thân với người khác được xếp bậc cao
nhất và đây là khó khăn phổ biến mà học sinh Lào ở đây nói riêng và cũng như
những học sinh nước ngoài khác nói chung
Khó khăn trong việc lúng túng giao tiếp đứng thứ 2
Khó khăn do e dè, ngại ngùng, thiếu tự tin đứng thứ 3
Những nguyên nhân chính mà tác giả khám phá thấy nguyên nhân chủ quan là
do nhiều nguyên nhân trong đó: do vốn ngôn ngữ hạn chế, khả năng diễn đạt yếu là
xếp bậc cao nhất, do vốn sống và vốn kinh nghiệm hạn chế đứng thứ 2, sợ giảng viên đánh giá không tốt đứng thứ 3 Ngoài ra, cũng có một số nguyên nhân khách quan khác là: 1 Có sự khác biệt về lối sống, văn hóa, ngôn ngữ, 2 Do lưu học sinh Lào sống ở khu vực ký túc xá riêng, 3 Do ít hoạt động chung giữa giảng viên và
Trang 21sinh viên, 4 Do môi trường giao tiếp bị hạn chế, do ít điều kiện gần gũi với giảng viên [30]
Nhận thấy đây là giai đoạn chuyển biến tâm lý quan trọng vì có sự khác biệt
giữa hoạt động học phổ thông và hoạt động học ở đại học Tác giả Đặng Thanh Nga
đã nghiên cứu đề tài “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội” Đề tài này nghiên cứu trên 222 sinh viên thuộc 5
khoa khác nhau, trên đối tượng năm I và năm III) Tác giả đã có một số kết quả như sau: tất cả những sinh viên được nghiên cứu đều gặp khó khăn tâm lý, và sự khó khăn có sự chênh lệch lớn giữa sinh viên năm I và năm III Để nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập tác giả đã tiến hành khảo sát mặt nhận thức, xúc cảm và hành vi của các khâu trong hoạt động học như: đọc tài liệu, tự học, chuẩn bị bài trước khi lên lớp, học tập trên lớp, chuẩn bị xemina, ôn tập, kiểm tra và đánh giá, nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu tác giả thấy sinh viên mức độ
gặp khó khăn tâm lý trong hoạt động học là ở mức bình thường và khâu mà sinh viên khó khăn lớn nhất là nghiên cứu khoa học, kế đến là chuẩn bị xemina, hai hoạt động điển hình nhất của giáo dục bậc đại học thì sinh viên lại nhiều khó khăn nhất, điều đó cũng thể hiện họ chưa hội nhập với môi trường học tập mới và khâu mà sinh viên ít gặp khó khăn nhất là hoạt động học trên lớp Đồng thời khi xét mối quan hệ tương quan nhận thức, xúc cảm và hành vi trong hoạt động học tập của sinh viên, tác giả phát hiện khó khăn về nhận thức là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến hành
vi hơn cảm xúc, cả nhân tố cảm xúc và nhận thức cùng hợp lại làm tăng ảnh hưởng đến khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên rất nhiều lần Tác giả khẳng định muốn giảm khó khăn trong hoạt động học tập cần chú ý giảm khó khăn trong
hoạt động nhận thức của sinh viên Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy mối tương quan giữa các khó khăn của các khâu trong hoạt động học tập có mối tương quan
chặt chẽ với nhau trong đó [23]
Tác giả Nguyễn Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa trong nghiên về “Những rào cản tâm lý trong giao tiếp của sinh viên sư phạm trong quá trình triển khai các hình thức
Trang 22dạy học theo tín chỉ”, đề tài được nghiên cứu trên 6 lớp sinh viên Kết quả nghiên
cứu cho thấy:
Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên khoa sư phạm là gặp nhiều khó khăn: trong đó sinh viên gặp khó khăn lớn nhất là kỹ năng lắng nghe và kế đến là kỹ năng thuyết trình và diễn đạt mạch lạc các vấn đề
Nghiên cứu về rào cản tâm lý trong giao tiếp của sinh viên Sư phạm khi triển khai dạy học theo tín chỉ thì họ gặp phải khó khăn trong quá trình học tập cụ thể như sau: họ gặp khó khăn nhiều nhất về làm việc nhóm, kế đến là lập kế hoạch cho các công việc học tập Sinh viên cũng gặp vấn đề với kỹ năng tự học (đặt mục tiêu,
tổ chức, quản lý quá trình học) ở mức khá cao Mỹ Lộc và Kim Thoa đã phát hiện
những khó khăn mang tính rào cản tâm lý của sinh viên trong quá trình giao tiếp với
bạn bè trong nhóm học tập, đây là một trong những nguyên nhân gây nên những khó khăn trong hoạt động học tập và kết quả nghiên cứu cho thấy họ gặp khó khăn
cả khía cạnh giao tiếp với thầy cô và bạn bè Trong đó, chủ yếu là những khó khăn như: kỹ năng hiểu ý và nội dung của cuộc giao tiếp, của các câu hỏi, câu trả lời, kỹ năng diễn đạt, thương lượng và giải quyết những bất đồng, cũng như kỹ năng nghe
và lắng nghe người khác…với bạn bè trong học tập nhóm Trong giao tiếp với thầy
cô họ gặp phải khó khăn chủ yếu là chưa tự tin khi giao tiếp với giảng viên nguyên nhân là do sợ mắc lỗi, sợ không diễn đạt được hay không biết nói gì…biểu hiện này
đi trái với yêu cầu của đào tạo theo tín chỉ [20]
Cũng quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thế Hùng trường cao đẳng Bến Tre đã nghiên cứu đề tài “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
của sinh viên năm thứ nhất trường cao đẳng Bến Tre” Kết quả tác giả đã cho thấy, sinh viên năm nhất gặp khó khăn với toàn bộ những vấn đề trong học tập, trong đó
thể hiện đa mức độ, tính đa dạng, phức tạp không đồng đều nhau đối với từng khó khăn Theo tác giả, khó khăn lớn nhất là chưa thích ứng với phương pháp học tập;
thứ hai, không biết cách ghi chép và tiếp thu bài giảng; thứ ba, chưa thích ứng với phương pháp giảng dạy của giảng viên; kế đến là không biết sắp xếp thời gian học
tập hợp lý, thụ động trong học tập, không biết nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp,
Trang 23không có tâm thế sẵn sàng cho việc học tập, không tự tin vào bản thân nên chưa cố
gắng vượt qua khó khăn, sợ mắc sai lầm trong học tập là những khó khăn điển hình
nhất của sinh viên trường cao đẳng Bến Tre Theo tác giả, một số nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là do một số nguyên nhân chủ quan như: không có phương pháp học tập hợp lý, chưa quen với môi trường học tập ở bậc cao đẳng, do thiếu kinh nghiệm sống và học tập một cách độc lập, do không hứng thú với ngành
học, do nổ lực của bản thân còn hạn chế, do chưa có ý thức học tập, do động cơ
chọn nghề của sinh viên, do thiếu thốn tình cảm của gia đình nên không an tâm cho
việc học tập Trong đó hai nguyên nhân chính yếu nhất là chưa có phương pháp học
tập hợp lý, chưa quen với môi trường học tập ở bậc cao đẳng Xét về mặt khách quan thì thiếu nguồn tài liệu học tập, giáo trình, sách tham khảo là nguyên nhân chính mà sinh viên gặp phải Trong đó nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn nguyên nhân khách quan Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số hướng giải pháp để
hạn chế khó khăn tâm lý cho sinh viên cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường,
giảng viên và sinh viên Phải thường xuyên tổ chức hội thảo, hướng dẫn sinh viên phương pháp học tập [13]
Cũng nghiên cứu về hoạt động học tập nhưng chỉ nghiên cứu về mảng ngoại ngữ
của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội Một mảng mà sinh viên các trường gặp khá nhiều khó khăn, dường như là một thực trạng chung
mà chưa có hướng giải pháp Tác giả Đặng Thị Lan đã nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên năm thứ nhất (khóa 39) và sinh viên năm thứ hai (khóa 38) năm 2005 –
2006 của các khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh – Mỹ, khoa Văn hóa Trung Quốc và tác giả đã có một số kết luận sau: nhìn chung sinh viên những năm đầu ở đây gặp khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ Trong các mặt biểu hiện khó khăn tâm lý, sinh viên gặp khó khăn về nhận thức và kỹ năng học ngoại ngữ hơn là khó khăn về thái độ học ngoại ngữ Không có sự khác biệt về khó khăn tâm lý trong
hoạt động học ngoại ngữ giữa hai khóa 38 và 39 Có sự khác biệt lớn về khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên các khoa, nhưng sự khác biệt này là không nhiều Sinh viên khoa Pháp và Trung gặp nhiều khó khăn hơn sinh
Trang 24viên khoa Anh Sinh viên gặp khó khăn nhiều hay ít phụ thuộc vào học lực Sinh viên có học lực kém gặp nhiều khó khăn hơn so với sinh viên có học lực tốt hơn Đồng thời tác giả cũng đề xuất những phương pháp nhằm cải thiện thực trạng này như: quan tâm đối tượng sinh viên năm nhất nhiều hơn ở mảng hoạt động học ngoại
ngữ bằng các phương pháp các bộ phận của nhà trường có nhiệm vụ giúp sinh viên làm quen với môi trường học tập mới, với phương pháp giảng dạy và đặc biệt là trang bị phương pháp học Nhà trường và các khoa có phương pháp giúp các sinh viên có học lực trung bình trở xuống như sinh viên khoa Nga và khoa Trung giảm
bớt khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập bộ môn này Nhà trường và các khoa
phải đổi mới phương pháp dạy theo hướng giúp sinh viên hình thành kỹ năng tự nghiên cứu là chính.[17]
Ngoài ra, còn rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập ở bậc đại học nói riêng và các bậc học khác nói chung Những năm gần đây, khi chúng ta mở cửa hội nhập với thế giới trên nhiều lĩnh vực thì ngành giáo dục nói chung và bậc đại học nói riêng rất cần những tiêu chuẩn mang tính quốc tế và chính vì vậy mà nghiên cứu về những hạn chế tâm lý ảnh hưởng đến
kết quả của hoạt động học cũng được quan tâm, một mảng nghiên cứu mà trước đây
có thể nói là bị bỏ rơi
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Hoạt động
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động
Hoạt động là một đặc trưng của loài người, nhờ có hoạt động mà loài người có
thể tồn tại, tiến bộ và đạt được những thành tựu trên nhiều lĩnh vực như ngày nay Như vậy, hoạt động là một hình thức không thể tách rời với đời sống loài người Theo nhà tâm lý học A.N Leontiev: hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu chủ thể Nói một cách khác, hoạt động là mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể, bao gồm quá trình khách
thể hóa chủ thể (tức chuyển năng lực của con người vào sản phẩm của hoạt động,
Trang 25sản phẩm của lao động) và quá trình của chủ thể hóa khách thể (nghĩa là trong quá trình đó con người phản ánh vật thể, phát hiện và tiếp thu đặc điểm của vật thể chuyển thành tâm lý, ý thức, năng lực của chính mình [19]
Như vậy, hoạt động của con người là vô tận Vì hoạt động là sự thõa mãn nhu
cầu mà nhu cầu thì không bao giờ cạn Khi đạt được nhu cầu này, con người sẽ hoạt động để thỏa mãn nhu cầu mới và ở mức độ cao hơn Từ những khái niệm nêu trên,
ta có thể nói rằng hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, hoạt động là nơi nảy sinh tâm lý và cũng là nơi tâm lý vận hành Về mặt bản chất, hoạt động của con người mang 4 đặc điểm: mang tính tương đối, tính chủ thể, tính gián
tiếp và tính mục đích
1.2.1.2 Hoạt động học tập
a Ho ạt động học
Khái ni ệm hoạt động học
Học tập là một nhu cầu thiết yếu của xã hội loài người Nó xuất phát từ nhu cầu
học hỏi những kinh nghiệm xã hội của con người Có rất nhiều cách để lĩnh hội có
thể là học một cách ngẫu nhiên hoặc học tập có chủ định
Học tập một cách ngẫu nhiên là hình thức thông qua phương pháp thử và sai Nó
là phương pháp học tập không có chủ định, việc nắm được các tri thức, kinh nghiệm, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, cũng như các phương thức hành vi khác thông qua việc thực hiện một hoạt động khác trong cuộc sống hàng ngày gọi là học một cách ngẫu nhiên (học tập không chủ định)
Kết quả của phương pháp học tập mang lại là:
Những kinh nghiệm lĩnh hội thông qua cách học không trùng hợp với mục tiêu
trực tiếp của chính hoạt động hay hành vi
Chỉ lĩnh hội được trực tiếp những gì liên quan đến nhu cầu, hứng thú, các nhiệm
vụ trước mắt, còn những cái khác thì bỏ qua
Chỉ mang lại cho con người những tri thức tiền khoa học, có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc và không hệ thống
Trang 26Chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm hàng ngày trực tiếp mang lại
Song thực tiễn cuộc sống của con người đòi hỏi con người phải có những tri
thức khoa học thực sự, phải hình thành năng lực thực tiễn mới Trong hiện thực
cuộc sống con người phải đối phó với những tình huống, những vấn đề cụ thể trong
cuộc sống và phát triển, tác động, cải tạo thế giới hiện thực con người không chỉ
dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm mà đòi hỏi cần có một hệ thống tri thức khoa
học, có tính khái quát cao để áp dụng vào mọi tình huống Để đạt được những mục đích nêu trên con người phải tiến hành hoạt động học tập có mục đích
Khi bàn về khái niệm hoạt động học có rất nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau: [28, tr117-123]
- L B Encônhin nêu lên việc lĩnh hội tri thức là nội dung cơ bản của hoạt động
học tập và được xác định bởi cấu trúc và mức độ phát triển của hoạt động học tập
- I B Intenxơn xác định học tập là loại hoạt động đặc biệt của con người có
mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn
- A N Lêônchiev, P La Ganpêrin và N Ph Talưdina xem quá trình học tập
xuất phát từ mục đích của hành vi Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn
- V V Đavưđôv, quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy lý
luận
- A V Pêtrôvki, nêu tâm lý học hoạt động học tập là vấn đề phẩm chất tư duy
và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy
- D N Bôgôiavlenxki và N A Mentrinxcai chú ý nhiều nhất trong hoạt động
học tập là sự phát triển quan hệ giữa phân tích và tổng hợp
- N V Cudơmina coi học tập là hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình đó, việc nắm
vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai
Trang 27Có rất nhiều khái niệm về hoạt động học, mặc dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việc quan niệm về hoạt động học tập, các tác giả trên đều xem xét hoạt động học tập liên quan đến nhận thức, hay chỉ liên quan đến tư duy và có liên quan đến nghề nghiệp Mỗi một định nghĩa thường nhấn mạnh một khía cạnh nào đó theo quan điểm của tác giả, nhưng có điểm chung của hoạt động học tập là có mục đích
tự giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy
Như vậy, hoạt động học có thể được hiểu là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
mới, những hình thức hành vi và những hoạt động nhất định, những giá trị
Hoạt động học tập là một dạng hoạt động đặc thù của con người Nó chỉ có thể
thực hiện ở một trình độ nhất định khi mà con người có được khả năng điều chỉnh
những hành động của mình bởi một mục đích đã được ý thức Khả năng này chỉ được bắt đầu hình thành vào lúc 5 – 6 tuổi Chỉ có thông qua hoạt động học này mới hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, cũng như cấu trúc tương ứng của
hoạt động tâm lý, sự phát triển toàn diện nhân cách của người học
Trong hoạt động nói chung, hoạt động học tập nói riêng thường diễn ra hai quá trình: quá trình nội tâm hóa và quá trình ngoại tâm hóa Quá trình thứ nhất, quá trình nội tâm hóa là quá trình cá nhân bằng hoạt động tích cực của mình biến những kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người thành vốn kinh nghiệm của chính bản thân Quá trình này diễn ra thông qua hoạt động của các giác quan, diễn ra trong đầu bằng các quá trình tâm lý khác nhau như cảm giác, tri giác (quá trình nhận thức
cảm tính), tư duy, tưởng tượng…(quá trình nhận thức lý tính) Quá trình nội tâm hóa sẽ đạt được kết quả khi cá nhân người học có ý thức tự giác điều khiển, điều
chỉnh được hoạt động của chính mình Quá trình thứ hai, quá trình ngoại tâm hóa là quá trình cá nhân sử dụng những tri thức tiếp thu được vận dụng vào hoạt động thực
tiễn, làm biến đổi theo hướng tích cực các sự vật hiện tượng phục vụ cho con người Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình
học tập [15,tr17]
Trang 28Đặc điểm của hoạt động học tập
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với
nó Cá nhân sẽ tái tạo những kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua hoạt động học và
để có thể diễn ra sự tái tạo này người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học
bằng sự ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình Trong quá trình này, người học không sáng tạo tri thức chỉ tái tạo tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Hoạt động học tập mang những đặc điểm sau:
Có tính độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Trong hoạt động lao động
sản xuất con người làm biến đổi đối tượng vật chất thành những sản phẩm có giá trị
phục vụ cho xã hội Khác với hoạt động lao động, hoạt động học tập làm biến đổi chính chủ thể của hoạt động Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất người chuyên gia tương lai
Hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo Phương tiện hoạt động là các thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm và các thiết bị bộ môn…
Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên diễn ra với nhịp độ căng
thẳng mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải gánh chịu một sự quá tải và điều đó thể hiện rất
rõ các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ khóa luận, luận văn
Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao
Từ những đặc điểm trên cho thấy hoạt động học tập của sinh viên có sự căng
thẳng mạnh mẽ về trí tuệ trong đó bao gồm việc thực hiện các quá trình tâm lý cao (tư duy, xúc cảm, ý chí), các động cơ khác và có thể nói về toàn bộ nhân cách người sinh viên Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau từ
mức độ nhận thức cảm tính (tri giác, quan sát…) đến mức độ lý tính (có sự suy nghĩ tìm tòi, độc lập, sáng tạo…)
Trang 29b Ho ạt động học tập của sinh viên
Sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó cùng nghĩa tương đương với từ student trong tiếng Anh, etudiant trong tiếng Pháp và студент trong tiếng Nga để chỉ những người theo học ở bậc đại học [28, tr57]
Nói một cách nôm na sinh viên là những người đang theo học các ngành khác nhau ở bậc trung cấp, cao đẳng và đại học để tích lũy phẩm chất, tri thức, kỹ năng –
kỹ xảo…về một ngành nghề để đáp ứng yêu cầu công việc của xã hội trong tương lai
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của sinh viên : [28, tr56-84]
Lứa tuổi sinh viên từ 18 đến 25 đã đạt được sự phát triển đạt đến mức trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh thần Những đặc điểm tâm lý của sinh viên bị chi phối
bởi những đặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong
đó họ sống và hoạt động Đây là một nhóm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị trực tiếp tham gia vào cuộc sống tinh thần xã hội Những đặc điểm phát triển tâm lý ở sinh viên rất phong phú, đa dạng và không đồng đều có sự ảnh hưởng lớn đến hoạt động
học tập của sinh viên như lựa chọn ngành học, lựa chọn phương pháp, kiến thức và môn học để chiếm lĩnh tri thức cũng như quyết định tham gia các hoạt động nào để phát triển bản thân ở bậc đại học Lứa tuổi sinh viên bộc lộ một số đặc điểm tâm lý sau đây:
S ự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới: Môi trường học
tập bậc đại học đòi hỏi sinh viên phải thích nghi với hoạt động học tập, hoạt động
xã hội cũng như các sinh hoạt trong đời sống tập thể sinh viên Nếu không thích nghi nhanh chóng hoặc không thích nghi được sinh viên sẽ hòa nhập vào môi trường đại học chậm dẫn đến khoảng thời gian ban đầu kết quả học tập sẽ thấp hoặc
sẽ nghĩ học Với đặc trưng và yêu cầu của giáo dục bậc đại học buộc sinh viên phải thích nghi nhanh chóng với những đặc điểm của môi trường đại học sau đây: nội dung mang tính chuyên ngành; phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu
Trang 30khoa học; môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế; nội dung và cách thức giao tiếp với thầy cô, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú, đa
dạng Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sinh viên cần có một thời gian nhất định để hòa nhập Sự thích ứng của các sinh viên là không hoàn toàn giống nhau, tùy thuộc vào những đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của họ quy định Có những sinh viên dễ dàng nhanh chóng hòa nhập môi trường mới nhưng lại
gặp khó khăn về phương pháp, cách thức học ở bậc đại học, cũng có những sinh viên ít khó khăn trong việc tiếp thu tri thức, dễ vượt qua cách học chuyên sâu ở bậc đại học nhưng trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô lại lúng túng thiếu tự nhiên trong
việc hòa nhập với bạn bè, với các nhóm hoạt động trong lớp, trong trường đại học
Một số sống hòa đồng cởi mở một số lại sống ở dạng khép kín, thận trọng Các công trình nghiên cứu cho thấy nhìn chung sinh viên hòa nhập môi trường xã hội khá nhanh, khó khăn có tính chất bao trùm hơn vẫn là phải thích nghi với nội dung, phương pháp học tập có tính chất nghiên cứu khoa học Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập, nó có ý nghĩa chi phối rõ rệt
Ở đây sinh viên gặp một loạt những mâu thuẫn cần phải giải quyết, chẳng hạn: Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của sinh viên với khả năng, điều kiện thực
hiện ước mơ đó
Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định
Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rất nhiều trong xã hội hiện tại với khả năng và
thời gian có hạn…
Để phát triển sinh viên phải giải quyết các mâu thuẫn trên một cách hợp lý
S ự phát triển nhận thức, trí tuệ của sinh viên ở bậc đại học: Sinh viên phải
đi sâu, tìm hiểu các môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu phải nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó, với mục đích trở thành những chuyên gia về các lĩnh vực nhất định Chính đòi hỏi này tạo nên nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên là sự
Trang 31căng thẳng nhiều về trí tuệ bắt buộc sinh viên phối hợp nhiều thao tác tư duy trong quá trình học Hoạt động nhận thức này bộc lộ một số đặc điểm sau đây:
Với yêu cầu giáo dục bậc đại học là đào tạo chuyên gia tương lai nên hoạt động
nhận thức của sinh viên vừa phải gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học vừa không tách rời hoạt động nghề nghiệp của chuyên gia
Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp đào tạo theo một thời gian chặt chẽ nhưng không quá cứng nhắc mà lại có tính chất mở rộng khả năng theo năng lực, sở trường để phát huy tối đa nhận thức trên nhiều lĩnh vực
Sinh viên phải thường xuyên tiếp cận và khai thác các phương tiện học tập như: thư viện, phòng đọc, phòng thực nghiệm, các chương trình ngoại khóa, các cuộc thi, các tổ chức Đoàn – Hội…
Hoạt động học tập của sinh viên đòi hỏi tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao Điều quan trọng là sinh viên phải tìm ra phương pháp học tập mới, phù hợp với
từng chuyên ngành khoa học mà họ theo đuổi
Luôn luôn có mong muốn đào sâu, suy nghĩ để nắm vấn đề sâu và rộng hơn
Đặc điểm tự ý thức của sinh viên đây là một đặc điểm quan trọng nhất của lứa
tuổi này Sự phát triển ý thức làm cho sinh viên có khả năng tự ý thức và tự đánh giá về hành động và kết quả tác động của mình đồng thời đánh giá tư tưởng, phong cách đạo đức, hứng thú, về tư tưởng, động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn diện
về động cơ của bản thân mình và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức là dấu
hiệu thiết kế nhân cách được hình thức cùng với sự hình thành sau này
Tự ý thức giúp sinh viên phát triển khả năng tự quan sát, tự phân tích, tự đánh giá, tự kiểm…Nói một cách bao quát thì giúp sinh viên tự điều chỉnh, nhận thức và thái độ đối với bản thân mình từ đó điều chỉnh hành vi và cử chỉ của mình Tự ý
thức của sinh viên hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ đến tính tích cực nhận thức của sinh viên Trong học tập sinh viên có kết quả học tập cao thường tích cực trong việc tự giáo dục, mở rộng những mối quan hệ giao tiếp hướng ngoại với bạn bè, thầy cô, đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho bản thân
Trang 32để hướng đến việc chiếm lĩnh những thành tựu khoa học của nhân loại, tìm tòi, học
hỏi những tri thức và kinh nghiệm của người khác, có sự lên kế hoạch cho việc chiếm lĩnh tri thức cho bản thân thì sinh viên đó đã đáp ứng được yêu cầu về mặt phương pháp học ở đại học Ngược lại, những sinh viên có kết quả học tập thấp thường tự đánh giá cao về bản thân, bị động trong việc tự giáo dục, có nhu cầu giao
tiếp mạnh hơn hoạt động tri thức, giao tiếp hướng vào giữ mối quan hệ tốt với cha
mẹ và cán bộ giảng dạy Trong nhận thức, những sinh viên này thường giải quyết nhiệm vụ theo khuôn mẫu và hướng vào sự nhanh trí trong hoạt động trí tuệ
Sự tự ý thức của sinh viên ảnh hưởng đến tính tích cực bên trong của nhận thức Ảnh hưởng đến việc xác định mục đích lâu dài hơn là mục đích trước mắt Nhờ mục đích lâu dài giúp sinh viên tích cực hơn trong hoạt động nhận thức Thực tế cho
thấy sinh viên có kết quả học tập cao thể hiện sự thỏa mãn trong các môn học và hoàn cảnh vật chất của mình còn sinh viên có kết quả học tập thấp thì lại thỏa mãn cao nhất là hướng vào giao tiếp với những người xung quanh bằng thời gian tự do nhàn rỗi của mình Chính mối liên hệ giữa mức độ thỏa mãn và tính tích cực bên trong của tự ý thức trở thành một yếu tố cho hiệu quả quá trình học tập
T ự đánh giá của sinh viên là một trong những thành tố tạo nên sự phát triển ý
thức của sinh viên Tự đánh giá thể hiện bằng thái độ đối với bản thân mình và kết
quả sự biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và
tự giáo dục Tự đánh giá là mức độ thỏa mãn của nhân cách về bản thân, là mức độ
thỏa mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tính cá nhân đó Tự đánh giá
là đánh giá các yếu tố bên ngoài nhưng hình thành giá trị bên trong, đó là lòng tự
trọng của cá nhân Sinh viên tự đánh giá bản thân trên nhiều mặt: đánh giá phẩm
chất trí tuệ, giao tiếp và xúc cảm Trong thời kỳ này sinh viên tham gia vào nhiều
mối quan hệ xã hội và giải quyết các vấn đề có quan hệ với người khác vì vậy học
tập và giao tiếp là hai hoạt động tích cực và có ý nghĩa nhất trong cấu trúc đánh giá nhân cách Tự đánh giá phản ánh năng lực, phản ánh kỹ năng điều khiển của bản thân Một số nghiên cứu bằng thang đo đặc biệt cho thấy kết quả rằng, sinh viên thường đánh giá thấp sự ổn định của cảm xúc, trạng thái không ổn định, không cần
Trang 33bằng, lo lắng, hồi hộp thường phổ biến ở sinh viên, trạng thái này làm ảnh hưởng đến các kỳ kiểm tra và thi cử Sinh viên tự đánh giá mình thấp trong việc gây ảnh hưởng đến người khác, một trong những khả năng rất cần cho sư phạm và quản lý
Tự đánh giá về trí tuệ là một thành phần quan trọng cho quá trình học tập, đặc điểm trí tuệ thấp ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập và ngược lại Khi phát triển tinh thần trách nhiệm cao đối với học tập thì việc tự đánh giá các khả năng trí tuệ hình thành
nên thái độ tốt đối với bản thân Vì vậy, thay đổi sự tự đánh giá này có thể thay đổi thái độ chung đối với bản thân người sinh viên Đánh giá về lòng tự tin cũng rất quan trọng, là phẩm chất của một chuyên gia trong tương lai, thể hiện năng lực chuyên môn của họ
Tự đánh giá về trí nhớ cũng là một vấn đề quan trọng, có giá trị cao và cần thiết cho học tập đạt kết quả ở bậc đại học Sự đánh giá này thể hiện ở tốc độ phản ứng trong học tập và trong giao tiếp Để đạt được kết quả cao trong học tập sinh viên
phải phản ứng đúng và nhanh, kịp thời những đòi hỏi hoàn cảnh bên ngoài là một năng lực của nhân cách và đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động học Là cơ sở để phán đoán, xác định, chọn lọc thông tin để giải quyết các nhiệm vụ học tập
Tự đánh giá về kỹ năng giao tiếp ở sinh viên là thực sự cần thiết cho hoạt động
học ở bậc đại học, bao gồm nhiều kỹ năng như: kỹ năng tiếp xúc với người lạ, kỹ năng làm quen, thái độ cảm xúc tốt đối với quá trình giao tiếp và sự thỏa mãn nhu
cầu giao tiếp xã hội Sự tự đánh giá kỹ năng định hướng là một tính chất quan trọng trong phạm vi tự nhận thức của họ Đánh giá quá cao hoặc quá thấp về năng lực giao tiếp đều không tốt
Định hướng giá trị của sinh viên là một trong những vấn đề được quan tâm cả
mặt xã hội học và tâm lý học Định hướng giá trị của sinh viên là phương thức học
sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với bản thân, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng và động cơ hoạt động của sinh viên Một số nghiên cứu cho thấy sinh viên hiện nay có sự định hướng khá phù hợp với thời đại, yêu cầu của cuộc sống xã hội, họ nhấn mạnh đến 5 giá trị bao gồm: học vấn, niềm tin, nghề nghiệp, sống có mục đích, tự trọng Về định hướng giá trị nhân cách sinh
Trang 34viên lựa chọn những đặc điểm nổi bật của con người hiện nay là: có tư duy kinh tế,
biết tính toán hiệu quả; năng động, nhanh thích nghi với hoàn cảnh; sử dụng thành
thạo tiếng nước ngoài; dám nghĩ, dám làm, dám mạo hiểm; biết xây dựng cuộc sống gia đình hòa thuận Những định hướng nêu trên tác động rất lớn đến tự ý thức về vai trò, nhiệm vụ, lập kế hoạch và giải quyết kế hoạch phát triển hoạt động học của họ cũng như nâng cao ý chí trong quá trình làm việc
K ế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của sinh viên đây là một
trong những điều quan trọng để sinh viên giữ hứng thú và theo đuổi ngành học đến
hết 4 năm đại học và ra trường họ không cảm thấy mình đã đi sai đường Định hướng giá trị nghề nghiệp còn giúp sinh viên nắm được những yêu cầu nghề nghiệp,
vạch những kế hoạch cho hoạt động học trong quá trình học tập
Đặc điểm của hoạt động học tập của sinh viên
Khái ni ệm hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy, nhằm lĩnh hội, nắm
vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nào đó, làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp tương lai (27; tr89)
Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học ở bậc đại học cũng có nhiều điểm khác biệt so với bậc phổ thông,
nếu ở phổ thông học sinh được học những tri thức đã có sự sư phạm hóa cao để dễ
tiếp thu thì ở bậc đại học sinh viên phải tiếp thu những tri thức cơ bản, hệ thống và
có tính khoa học cao của một khoa học nhất định Chính điều này gây nên sự biến đổi mạnh mẽ trong cách học của họ, đòi hỏi sự thích ứng và sáng tạo các phương pháp phù hợp với bản thân để chiếm lĩnh kết quả học tập ở mức độ cao nhất Sự gia tăng liên tục trong một thời gian ngắn về tài liệu học tập (cả về số lượng lẫn độ khó), sự thay đổi hoàn cảnh trong và ngoài nhà trường làm ảnh hưởng mạnh mẽ và
trực tiếp đến học tập và đời sống của họ làm Do đó, có nhiều trường hợp học sinh
giỏi ở bậc phổ thông có thể không giữ được kết quả học tập và ngược lại
Trang 35Tự ý thức là một đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi sinh viên Sinh viên phải tự ý thức
về những mặt sau đây: ý thức về động cơ, phương pháp, hiểu sâu sắc về bản thân là
chủ thể của hoạt động học để tổ chức, định hướng, cụ thể hóa quá trình học tập Trên cở sở đó, giải quyết các nhiệm vụ học tập do chính mình đề ra, phải hoàn thiện các hành động học tập sao cho có hiệu quả, có nhiệm vụ tự kiểm tra và tự đánh giá
kết quả học tập Với yêu cầu giáo dục trong thời gian hiện nay, sinh viên phải biết
tổ chức quá trình học tập của mình và chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập mới mong đạt được kết quả cao
Đại học là một môi trường bao gồm nhiều hoạt động: hoạt động học tập, hoạt động khoa học, hoạt động xã hội, rèn luyện nghiệp vụ…trong đó hoạt động học tập chiếm vai trò chủ đạo và hoạt động này có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển các quá trình, thuộc tính tâm lý, sự lĩnh hội tri thức khoa học, các thông tin các kĩ năng
và kĩ xảo nghề nghiệp quan trọng của sinh viên Việc ý thức về nhiệm vụ chính là
học tập dường như sinh viên nào cũng xác định được tuy nhiên cũng không ít sinh viên trong quá trình thực hiện lại say mê vào những hoạt động khác mà lơ là hoạt động học tập
Hoạt động học của sinh viên bao gồm hoạt động học ở trên lớp và các hoạt động
học bên ngoài lớp Hoạt động học trên lớp được ấn định từ trước và thông thường sinh viên được báo trước kỳ học khá lâu, nên điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong việc sắp xếp thời gian cho các hoạt động khác Ngoài ra, để đạt
kết quả tốt ở bậc đại học sinh viên phải lên kế hoạch cho hoạt động học bên ngoài
lớp rất chặt chẽ và khoa học Nếu không như vậy, thì sự chiếm lĩnh tri thức của sinh viên chỉ là chiếm lĩnh đề cương môn học mà thôi Đây là một sự khác biệt giữa hoạt động học ở phổ thông và đại học, học sinh phổ thông có sự kiểm soát và một phần
là thực hiện theo kế hoạch của giáo viên như rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo chiếm lĩnh tri thức bằng việc ôn tập bài về nhà, bài đọc thêm dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên trong khi đó ở bậc đại học sinh viên phải tự tổ chức, tự tìm hiểu và lên kế
hoạch học tập cho mình Chính điều này bộc lộ rõ rệt các sở trường, năng lực tổ
chức và sự sáng tạo của sinh viên
Trang 36Hoạt động học tập của sinh viên có thể có xu hướng hẹp, nghĩa là sinh viên chỉ
tập trung nghiên cứu các tài liệu cơ bản, những bảng tóm tắt, muốn được điểm đánh giá tốt…có thể là một hoạt động tích cực rộng rãi Chính điều này đã giúp sinh viên
hiểu được ý nghĩa của việc học, có nhu cầu muốn trao đổi với thầy cô, bạn bè;
muốn tham gia vào hoạt động của các nhóm để tranh luận các vấn đề học tập thông qua đó bộc lộ khả năng hiểu sâu sắc mục đích học tập, có óc phê phán, lập luận logic chặt chẽ nên có những ý kiến phát biểu độc đáo, sắc nét trong buổi thảo luận
Hoạt động học tập của sinh viên thực sự là loại lao động trí óc căng thẳng, cường độ
hoạt động phụ thuộc vào nội dung và tính chất phức tạp của những nhiệm vụ, vào trình độ tri thức, vào các kỹ năng và kỹ xảo trí óc, vào động cơ và tâm thế chung
của nhân cách người sinh viên Vì vậy cần có sự động viên một cách có mục đích đối với sinh viên trong quá trình giảng dạy và có sự chỉ dẫn cần thiết nhưng không
áp đặt đối với sinh viên
Học tập là hoạt động chủ đạo ở bậc đại học, là nội dung trung tâm và nhiệm vụ
chủ yếu của cuộc sống đại học, đây là sự chuẩn bị và là sự mở đầu của nghiệp vụ tương lai Chỉ dưới sự chỉ dẫn và thúc đẩy của mục đích học tập chính xác, nổ lực
kiến tạo những kết cấu tri thức hợp lý, tự giác bồi dưỡng học phong cách tốt đẹp, nâng cao toàn diện tố chất của mình, sinh viên mới có thể tạo dựng sự nghiệp Với nhiệm vụ nêu trên đòi hỏi hoạt động học tập bậc đại học còn có những đặc điểm khác sau đây:
Tính chuyên nghi ệp: nhiệm vụ ở bậc đại học là nắm vững lý luận chuyên
nghiệp, những phương pháp cơ bản làm chủ yếu, là quá trình hoạt động triển khai tính chuyên nghiệp đó trong thực tế Học tập bậc đại học là kế thừa những tri thức kinh nghiệm mà giáo dục truyền lại ở mức độ tri thức lý luận chuyên nghiệp cao và sâu, tri thức mũi nhọn của một ngành nhất định Tính chuyên nghiệp này bao phủ
tất cả các vấn đề trong giáo dục ở bậc đại từ nội dung, chương trình, đến phương pháp học, cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động học, hoạt động dạy…
Tính độc lập: quá trình học đại học là vận dụng hình thức, phương pháp học tập
khoa học, bồi dưỡng sinh viên độc lập học tập tri thức, nắm vững lý luận chuyên
Trang 37nghiệp, theo đuổi hoạt động thực tiễn khoa học phát triển Vai trò của giảng viên ở
bậc đại học chỉ là người dẫn dắt sinh viên độc lập tiến hành hoạt động học, trên cở
sở dẫn dắt ấy sinh viên phải hình thành và phát triển khả năng nắm vững lý luận về phương pháp học tập, bồi dưỡng năng lực độc lập học tập, độc lập công tác, độc lập
đi sâu nghiên cứu…
Tính sáng t ạo: học tập bậc đại học là quá trình sinh viên theo đuổi hoạt động
tìm tòi nghiên cứu, phát triển năng lực sáng tạo, có được phương pháp khoa học và tinh thần sáng tạo trên cơ sở kế thừa và nắm vững tri thức lý luận chuyên nghiệp đã tích lũy Giảng viên là người sẽ giới thiệu cho sinh viên những thành quả nghiên
cứu của bản thân và xã hội, ở trong và ngoài nước, những xu hướng mới trong nghiên cứu, định hướng, giới thiệu những cuộc tranh luận học thuật, các quan điểm, các lý luận chưa được thành thục đang đợi đi sâu nghiên cứu, giúp sinh viên có thế
giới quan phía trước của sự phát triển, kích thích nhiệt tình sáng tạo của sinh viên Thông qua hoạt động trên của giảng viên sinh viên phải hình thành tính sáng tạo là
một trong những đặc điểm cơ bản của hoạt động học tập ở bậc đại học
Tính th ực tiễn: hoạt động học tập bậc đại học là quá trình sinh viên vận dụng
những tri thức lý luận trừu tượng ở tầm cao vào hoạt động trừu tượng cụ thể để phát huy kỹ năng ứng dụng và năng lực cải tạo thế giới của sinh viên Sinh viên vào môi trường đại học không chỉ kiếm tấm bằng mà còn là để có khả năng làm việc về một ngành nghề nào đó, chính vì vậy cần có hoạt động thực tiễn để hình thành, trau dồi, rèn luyện, phát triển kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Chính hoạt động thực tiễn trong
học tập giúp sinh viên áp dụng được những tri thức đã học, họ có kế hoạch làm việc
và định hướng tương lai tốt hơn cũng như biết quý thời gian và sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi tốt hơn
Sinh viên trườngTài chính - Marketing
Sinh viên Tài chính - Marketing là nh ững sinh viên đang theo học các ngành tại trường đại học Tài chính - Marketing Họ thực hiện hoạt động học, rèn luyện chuyên môn, nghi ệp vụ nhằm trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định trong tương lai
Trang 38Đặc điểm của hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Tài chính - Marketing
Ngoài những đặc điểm chung của sinh viên thì sinh viên trường đại học Tài chính Marketing mang những đặc điểm riêng của một trường đào tạo những ngành thuộc khối ngành kinh tế Bên cạnh những đòi hỏi chung về hoạt động học tập ở bậc đại học, vì đặc điểm đào tạo này sinh viên cũng có những hoạt động mang tính chất đặc thù của trường đào tạo các chuyên gia khối ngành kinh tế Cụ thể là:
Về kỹ năng: với tính chất đào tạo các chuyên gia cho ngành kinh tế, sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing có lập luận tư duy và giải quyết vấn đề kinh
tế, kinh doanh như phát hiện và hình thành vấn đề, đánh giá, phân tích, tổng hợp và đưa ra giải pháp kiến nghị Bên cạnh đó, sinh viên trường Tài chính – Marketing đã thực hành các kỹ năng, kỹ thuật nghề nghiệp như kỹ thuật nghiệp vụ thương mại, kỹ thuật xây dựng và phân tích quản trị dự án đầu tư, kỹ thuật phân tích tài chính quốc
tế và kỹ năng xử lý các vấn đề thực tiễn của kinh tế đối ngoại của nước ta
Về khả năng tư duy: sinh viên trường Tài chính – Marketing có hệ thống khi
tiếp cận và xử lý các vấn đề nói chung và thuộc lĩnh vực KTĐN (kinh tế và kinh doanh quốc tế) nói riêng Nghiên cứu khoa học và khám phá kiến thức đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực kinh tế và kinh doanh quốc tế Một đặc trưng riêng của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế nói chung và sinh viên viên trường Đại học Tài chính – Marketing riêng
Về phẩm chất cá nhân: với vai trò là chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế sinh
viên trường Đại học Tài chính – Marketing tự tin, linh hoạt, đương đầu với rủi ro, nhiệt tình, say mê, sáng tạo, phản biện, tinh thần tự tôn, hiểu biết văn hóa, khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thực tế… Sinh viên cũng được bồi dưỡng và phát triển các kỹ năng cá nhân tự học tập, quản lý thời gian và bản thân đã hình thành kỹ năng, kỹ xảo tốt về kiến thức tin học
Về kỹ năng phẩm chất nghề nghiệp: qua quá trình giáo dục sinh viên Tài
chính – Marketing đã hình thành đạo đức nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, khả năng lập kế hoạch, tổ chức và sắp xếp công việc, khả năng làm việc độc lập trong
Trang 39môi trường quốc tế, khả năng đặt mục tiêu, tự phát triển bản thân và sự nghiệp Kỹ năng tiếng anh đạt yêu cầu của xã hội cũng như trở thành một chuyên gia của một ngành nhất định họ đã hình thành 2 yếu tố vừa “hồng” vừa “chuyên”
Xét về mặt nhân cách sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing luôn năng động với thời cuộc, nhạy bén về kinh tế, có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp trong
khối ngành kinh tế tốt
Về kỹ năng và thái độ xã hội: Sinh viên trường Tài chính – Marketing sau khi tốt nghiệp có khả năng làm việc nhóm và khả năng hình thành, phát triển và lãnh đạo nhóm thông qua khả năng giao tiếp tốt và hiệu quả (bằng tiếng Việt và tiếng Anh), bằng văn bản (nói và viết)
Về năng lực áp dụng kiến thức vào thực tiễn: Sinh viên Tài chính – Marketing tốt nghiệp có khả năng hình thành các ý tưởng về kinh tế, xây dựng các phương án,
dự án hay chính sách về kinh tế, tổ chức thực hiện các phương án, dự án hay chính sách về kinh tế, đánh giá các phương án, dự án hay chính sách về kinh tế, đặt trong các bối cảnh về xã hội và ngoại cảnh và bối cảnh về doanh nghiệp và kinh doanh cụ thể Các năng lực áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Cũng như những ngành nghề khác, sinh viên trường Tài chính – Marketing rèn luyện chuyên môn vững vàng, hình thành phẩm chất tình cảm sâu sắc Từ đó yêu cầu sinh viên trong những năm tháng học tập phải hình thành tình cảm yêu nghề
c Các khâu trong ho ạt động học tập
Các khâu trong ho ạt động học tập
Hoạt động dạy là hướng đến tổ chức, điều khiển cho hoạt động học, trên cơ sở
đó có thể xây dựng các khâu trong hoạt động học tập của người học như sau:
Chu ẩn bị động cơ, tâm lý, ý thức cho việc học
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, được thực hiện bắt đầu bởi ý
thức được đầy đủ nhiệm vụ hoạt động và xuất phát từ hứng thú đã có động cơ Đối
với hoạt nhận thức cũng vậy, trước hết sinh viên phải ý thức được nhiệm vụ nhận
thức
Trang 40Mục tiêu chính của khâu này là gây mâu thuẫn, tạo hứng thú, nhu cầu và động
cơ học tập của sinh viên nhằm lôi cuốn sinh viên vào hoạt động học tập, kích thích tính tích cực, lòng ham muốn giải quyết vấn đề nhận thức
T ổ chức giải quyết các vấn đề nhận thức
Sinh viên phải tự tổ chức hoạt động nhận thức, tự định hướng mục tiêu và mục đích học tập, phải liên tục tìm tòi tri thức mới
C ủng cố, hoàn thiện tri thức, vận dụng tri thức
Sinh viên phải củng cố tri thức, kỹ năng thông qua sự ghi nhớ có chủ định và có
kế hoạch để ghi nhớ thông tin một cách nhanh, đầy đủ và chính xác đồng thời biết cách vận dụng nó vào thực tiễn
Ki ểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
Tự lên kế hoạch và có phương pháp để kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo từ đó có biện pháp tự điều chỉnh hoạt động nhận thức
Các khâu trong ho ạt động học tập của sinh viên
Dựa trên thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên để tích lũy tri thức, kỹ năng
kỹ xảo ở bậc đại học tôi đưa ra những hoạt động trong hoạt động học tập của sinh viên như sau:
Chu ẩn bị bài trước khi lên lớp
Với đặc điểm giáo dục ở bậc đại học giảng viên chỉ là người giới thiệu nội dung, phương pháp học, giảng giải những kiến thức cơ bản nhất đồng thời tiến hành giới thiệu nhiều thông tin trong một khoảng thời gian ngắn 3 hoặc 5 tiết trên mỗi buổi
học buộc sinh viên phải chuẩn bị bài trước khi lên lớp Chuẩn bị bài trước khi lên
lớp ở bậc đại học là sinh viên tiến hành hoạt động tự nhận thức trước tiên về nội dung học tập, tạo nên những mâu thuẫn về kiến thức, xuất hiện những câu hỏi, thắc
mắc cần trao đổi…suy nghĩ về phương thức sẽ chiếm lĩnh nội dung đó trên lớp như
thế nào Hay nói một cách bao quát lên kế hoạch để chiếm lĩnh tri thức đó một cách
tốt nhất
Với phương tiện học tập hiện đại ngày nay như những trang web tra cứu trực tuyến, thư viện trực tuyến trong và ngoài nước và có sự liên kết với thư viện khác,