Hiểu được điều đó và biết rằng hiện nay tuy có nhiều đề tài khóa luận và luận văn đã nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc nhưng chưa có nghiên cứu nào về khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC THƯƠNG
KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÚC
CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Bốn năm trên giảng đường đại học và gần ba năm của chương trình sau đại học, tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì được học tập, nghiên cứu khoa học ở ngôi trường thân yêu: – “Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minhp.HCM” Tôi không thể nào quên sự chỉ bảo tận tình, khơi dậy tình yêu nghề, học tập, và cống hiến, và cả tình cảm yêu thương, quan tâm của Quý Thầy Cô của Trường nói chung và đặc biệt là Khoa Tâm lý Giáo dục nói riêng Tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến toàn thể Quý Thầy Cô
Đặc biệt nhất, tôi xin gửi lời cám ơn, tình cảm quý trọng, chân thành đến
Tiến sĩcô Trần Thị Thu Mai Sự hướng dẫn tận tình và tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc khoa học là điều mà tôi may mắn được nhận từ Tiến sĩ Trần Thị Thu Mai trong suốt thời gian học tập tại trường và đặc biệtnhất là trong khi thực hiện luận văn thạc sĩ
Tôi cũng rất hạnh phúc và muốn nói lời cám ơn, yêu thương nhất gửi đến Ba
– Mẹ, và những người thân yêu, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên tinh thần của tôi, giúp đỡ tôi trên bước đường học tập
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cám ơn và lời chúc học tốt đẹp đến các thầy cô giáo, các bạn học sinh ở các trường trung học phổ thông: Thủ Đức, Trần Phú, Hòa Bình, Đăng Khoa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, một lần nữa,tôi xin trân trọng kính gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô Khoa Tâm lý Giáo dục, toàn thể quý thầy cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4Thành phố p.HCM,Hồ Chí Minh, tháng 8 năm
2011
Trang 5L ỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” chính là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Tâm lí học của tôi tại trường Đại học Sư phạm Tp.HCM
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này được khảo sát và nghiên cứu một cách khoa học, khách quan và chưa từng thuộc bất kì tác giả nào trước đó
Tp.HCMThành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011
Người thực hiện
Lê Thị Ngọc Thương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 5
MỤC LỤC 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 10
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 13
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 3
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4.Giả thuyết nghiên cứu 3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6.Phạm vi nghiên cứu 4
7 4
Phương pháp nghiên cứu 4
8.Đóng góp mới của đề tài 5
Chương 1: 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÚC 7 CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Trí tuệ cảm xúc 13
1.3 Khả năng kiểm soát cảm xúc 23
1.4 51
Đặc điểm của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông 55
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cảm xúc 60
Trang 71.6 Biện pháp nâng cao khả năng kiểm soát cảm xúc cho học sinh trung
học phổ thông 62
Chương 2: 71
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÚC CỦA 71 HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 71
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 71
2.1 Tổ chức nghiên cứu 71
2.2 Kết quả nghiên cứu 75
Chương 3: 118
BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG 118 KIỂM SOÁT CẢM XÚC CHO HỌC SINH TẠI MỘT SỐ 118
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TP.HCM 118
3.1 Tổ chức nghiên cứu biện pháp 119
3.2 Một số biện pháp thử nghiệm 121
3.3 Kết quả thử nghiệm 124
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 10So sánh điểm trung bì của
khả năng kiểm soát cảm xúc của người khác
87
Bảng
2.5
So sánh điểm trung bình
giữa các nhóm biểu hiện
của khả năng kiểm soát
cảm xúc giận dữ
63 Bảng
2.28
So sánh sự khác biệt giữa các trường về khả năng kiểm soát cảm xúc giận dữ
về khả năng kiểm soát cả
ba cảm xúc
91
Trang 11Bảng
2.9
So sánh điểm trung bình
giữa các biểu hiện của
nhóm giọng nói của cảm
xúc giận dữ
66 Bảng
2.32
So sánh sự khác biệt về khả năng kiểm soát cảm xúc cả ba cảm xúc theo các khối, giới, hệ học
93
Bảng
2.11
So sánh điểm trung bình
giữa các nhóm biểu hiện
của khả năng kiểm soát
cảm xúc xấu hổ
69 Bảng
2.34
So sánh sự khác biệt về khả năng kiểm soát cảm xúc xấu hổ theo các khối, giới, hệ học
xúc sợ hãi theo các khối, giới, hệ học
Bảng
2.15
So sánh điểm trung bình
giữa các biểu hiện của
nhóm biểu hiện của giọng
nói của cảm xúc xấu hổ
Bảng
2.17
So sánh điểm trung bình
giữa các biểu hiện của 74 Bảng 3.4
Mô tả về học sinh tham gia thử nghiệm 106
Trang 12nhóm biểu hiện của khả
năng kiểm soát cảm xúc sợ
107
Bảng
2.20
So sánh điểm trung bình
giữa các biểu hiện của
nhóm chức mô và cơ quan
nội tiết của cơ thể của cảm
xúc sợ hãi
77 Bảng
3.7
Phân tích suy nghĩ tự động của học sinh M.T 112
Bảng
2.21
So sánh điểm trung bình
giữa các biểu hiện của
nhóm giọng nói của cảm
xúc sợ hãi
77 Bảng
3.8
Phiếu ghi nhớ cảm xúc hàng ngày
Trang 13DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Hình 2.1 Biểu đồ phân bố các điểm trung bình ứng với mức
độ kiểm soát cảm xúc của học sinh một số trường THPT tại Tp HCM
61
Trang 15M Ở ĐẦU
1 1 Lý do chọn đề tài
Cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tác động mạnh
mẽ đến hiệu quả công việc, học tập, khả năng sáng tạo của con người Thật vậy, có
vô vàn những tình huống dẫn đến hàng loạt cảm xúc nảy sinh Đó là, chúng ta có lúc vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, xấu hổ,… Khi cảm xúc xuất hiện, những hành vi, thái
độ phát sinh ngay tức thì Và dễ thấy là đôi khi chúng ta lại “nóng giận mất khôn” dẫn đến đánh mất bản thân mình Hay những hậu quả có thể là ân hận, hối tiếc, sai lầm, thất bại,… Thế nên, kiểm soát cảm xúc sao cho thật hợp lý nhằm giúp cuộc sống của con người cân bằng, hài hòa hơn là điều mà thật sự nhiều người rất mong muốn Vì vậy, vấn đề đặt ra là cảm xúc của chúng ta đang ở mức nào? Chúng ta có thật sự kiểm soát tốt cảm xúc của bản thân chưa?
Kiểm soát cảm xúc không đơn thuần là kiểm soát hành vi và thái độ ngay khi cảm xúc nảy sinh Có thể thấy rằng, nếu cảm xúc kéo dài quá lâu như giận dữ quá mức có thể dẫn đến tâm lý bị ảnh hưởng nghiêm trọng như là cáu gắt, bực bội, hành động điên rồ; hay là người lúc nào cũng hay giận dữ thì làm việc gì cũng dễ mau chán, thất bại Do đó, xác định kiểm soát cảm xúc cũng có nghĩa là không chỉ dừng lại ở điều chỉnh hành vi, biểu hiện sinh học của cơ thể hay thái độ bên ngoài mà còn phải biết giải pháp kiểm soát cảm xúc, giải tỏa dồn nén cảm xúc kịp thời
Trên cơ sở xác định được vai trò quan trọng của cảm xúc trong đời sống tâm
lý của con người, nhiều nghiên cứu về cảm xúc ngày càng được quan tâm và chú ý Chẳng hạn như các công trình nghiên cứu gần đây về trí tuệ cảm xúc của P.Salovey và J.Mayer, D.Goleman gần đây cho thấy trí tuệ cảm xúc quyết định thành công của con người khá lớn Tuy nhiên, đo lường kiểm soát cảm xúc vẫn chưa được nhấn mạnh mà chỉ mới xem xét khả năng này tồn tại trong thành tố của trí tuệ cảm xúc là “quản lý cảm xúc” Vì vậy, thật sự cần có những nghiên cứu sâu hơn, cụ thể
Trang 16hơn về khả năng kiểm soát cảm xúc nhằm giúp trả lời những câu hỏi mà thực tiễn đặt ra ở trên
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mà nhân cách, trí tuệ đang trong quá trình hoàn thiện nên thiết nghĩ, việc phát triển toàn diện nói chung mà cụ thể là bồi dưỡng và rèn luyện trí tuệ cảm xúc nói riêng cho học sinh THPT là vấn đề cần được
quan tâm Theo Luật Giáo dục năm 2005, Đào tạo con ng ng ười Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mục tiêu giáo dục hiện nay [24] Vậy thực tế cho thấy
phải chăng là cán cân dạy chữ chênh cao hơn dạy người? Rõ ràng, gần đây, mặt đạo đức, mặt cảm xúc, bạo lực học đường của lứa tuổi trung học phổ thông, xảy ra với tình trạng ngày càng nghiêm trọng Rất đáng lo ngại là hiện tượng nhiều học sinh chỉ vì thiếu kiểm soát cảm xúc của bản thân trong các mối quan hệ đã dẫn đến hành
vi tiêu cực và gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra ngày càng nhiều trên toàn quốc Hàng loạt vụ việc như học sinh H.V.H (lớp 12 trường THPT V.T, B.Đ) đâm bạn, Đ.Q.Đ (tỉnh K.H), nữ sinh Đ.T.Th (lớp 10, tình tỉnh N.A) đâm bạn vì cãi nhau, xích mích nhỏ [33] Đây cũng là cảnh báo cấp bách cho việc giáo dục hướng đến những khía cạnh liên quan đến yếu tố thuộc về tình cảm, cảm xúc trong nhân cách của học sinh Làm thế nào để đạt được mục tiêu giáo dục trên? Vì vậy, Nhà trường trung học phổ thông hiện đang có quan tâm đến việc hình thành nhân cách và tác động để hình thành cảm xúc theo chiều hướng tích cưc cho học sinh như thế nào?
Mặt khác, phòng tham vấn, tư vấn tâm lý được thành lập ở khá nhiều trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Tuy nhiên, phòng tham vấn học đường thật sự đóng vai trò hỗ trợ tâm lý học sinh ra sao trong khi cảnh báo về tình trạng đời sống cảm xúc của học sinh đang có dấu hiệu trầm trọng? Thực tế, chúng ta thấy rằng đội ngũ chuyên môn, một chương trình giáo dục cảm xúc, tình cảm, biện pháp tâm lý hỗ trợ, cũng là những dấu hỏi lớn về hiệu quả hoạt động giáo dục ở nhà trường phổ thông Vì trước tiên là chúng ta chưa biết rõ mức
Trang 17độ kiểm soát cảm xúc của học sinh như thế nào Hơn nữa cảm xúc của cá nhân chỉ thể hiện khi gặp tình huống nhưng giáo dục cảm xúc gắn với tình huống thực tiễn cũng chưa được hiệu quả Vì vậy, những vấn đề nan đề nnày cần phải được giải đáp
để nâng cao chất lượng giáo dục
Đánh giá tầm quan trọng của kiểm soát cảm xúc của học sinh và trả lời cho những vấn đề đó là vô cùng cần thiết Hiểu được điều đó và biết rằng hiện nay tuy
có nhiều đề tài khóa luận và luận văn đã nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc nhưng chưa
có nghiên cứu nào về khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh trung học phổ thông
ở thành phố Hồ Chí Minh Với tất cả những lí do này, đề tài “Khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành.đề tài nhằm hướng đến nghiên cứu khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh
2 2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp kiểm soát cảm
xúc cho học sinh THPT
3 3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: khả năng kiểm soát cảm xúc (giận dữ, sợ hãi, xấu hổ) của học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu: học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 4 Giả thuyết nghiên cứu
- Mức độ kiểm soát của các cảm xúc (giận dữ, sợ hãi, xấu hổ) của học sinh ở
một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa cao
- Trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cảm xúc của học
sinh thì yếu tố gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với cảm xúc của học sinh
Trang 18- Có sự khác biệt ý nghĩa về chỉ số kiểm soát cảm xúc (giận dữ, sợ hãi, xấu hổ) của học sinh các khối lớp, giữa nam và nữ, giữa học sinh các hệ công lập và
dân lập
5 5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát cảm xúc
- Đo lường mức độ kiểm soát cảm xúc giận dữ, sợ hãi, xấu hổ của học sinh
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp một số phương pháp
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn đã thực hiện về kiểm soát từng cảm xúc, trí tuệ cảm xúc Các tư liệu trên được nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa và được sử dụng trong đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7 2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến theo các bước:
Trang 19- - Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò mở
- Bước 2: Xây dựng phiếu thăm dò thử nghiệm
- Bước 3: Xây dựng phiếu thăm dò chính thức
Bảng hỏi được xây dựng dựa trên các nội dung chính sau:
- Mức độ biểu hiện của người có khả năng kiểm soát cảm xúc tức giận,
sợ hãi, xấu hổ
- Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh THPT
* Bảng thăm dò được xây dựng thành hai phần:
- Phần một: giới thiệu và hướng dẫn trả lời
- Phần hai: nội dung hỏi
- Bảng thăm dò ý kiến sử dụng thang đo thái độ với 5 mức độ khác nhau
8 Đóng góp mới của đề tài
- Mô tả mức độ khả năng kiểm soát một số cảm xúc của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh Tp.HCM bằng bảng câu hỏi
- - Xác định mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến việc kiểm soát cảm xúc của học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.Tp.HCM
Trang 20- - Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh THPT kiểm soát cảm xúc
Trang 21Chương 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÚC
C ỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát cảm xúc
Arixtôt viết: “ Có lẽ mọi trạng thái của tâm hồn đều có liên quan đến thân thể: căm giận, sợ hãi, e thẹn, thông cảm, dũng cảm cũng như vui sướng, yêu thương và ghét bỏ, cơ thể cảm thấy một cái gì đó với các trạng thái ấy” [9, tr 324] Đây có thể
được coi như là quan niệm mở đầu trong việc xác định mối liên quan giữa cảm xúc
và trạng thái của cơ thể ứng với cảm xúc đó
Vào những năm 1960, Richard Alpert thực hiện những nghiên cứu khoa học đầu tiên về sự lo sợ trong các kỳ thi Nghiên cứu này khẳng định rằng những học sinh bị sự lo lắng gây tác hại tới kết quả học tập và những người thành công bất chấp sự căng thẳng, thậm chí nhờ sự căng thẳng mà thành công hơn [4, tr 114] Nghiên cứu này cho thấy khi cảm xúc nảy sinh thì thái độ, hành vi của con người cũng bị tác động nghiêm trọng
Cũng trong những năm 1960, Walter Mischel đã tiến hành trắc nghiệm để đo năng lực chế ngự cảm xúc tại một nhà trẻ ở Trường Đại học Stanford Trắc nghiệm này cho phép thăm dò tâm lý một đứa trẻ xung đột giữa các xung lực và sự kiềm chế, giữa ham muốn và sự chế ngự bản thân, giữa niềm thích thú tức khắc và sự mong đợi [19, tr 174] Trắc nghiệm này như là một bước khởi đầu khi xác lập mối tương tác giữa kiếm chế bản thân với các thành phần trong cấu trúc của nhân cách như ý chí, nhu cầu
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà thần kinh học có liên quan đến cảm xúc và não bộ cũng xuất hiện Các công trình này một lần nữa giúp con người khám phá ra sự liên hệ đặc biệt của não bộ đối với cảm xúc Chẳng hạn
Trang 22như, vào năm 1992, nhà thần kinh học Josep Ledoux khẳng định mọi cảm xúc vui buồn giận dữ đều được sinh ra từ hệ thống viền (limbic) [19, tr 179]
Kế đến là nhà nghiên cứu Antonio Damasio nhận thấy các bệnh nhân bị tổn thương vùng não này đều không cảm nhận và chế ngự được tình cảm của mình Từ
đó, A Damasio cho rằng không có trí tuệ ở dạng thuần túy, mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc và chính phần tân vỏ não (neocortex) đã chi phối, kiểm soát, chỉ đạo, phối hợp các cảm xúc đó [19,179]
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu như Arnold ( 1990), Ioung (1961), Lazarus (1968) cho rằng nguồn gốc chính của bệnh tâm thần cơ thể, phần lớn các cảm xúc phá vỡ và gây rối loạn hành vi [2, tr 13]
Cuối những năm 1930, E.L Thorndike quan niệm trí tuệ xã hội là năng lực hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con người Đây cũng là một quan niệm thể hiện khả năng kiểm soát của cá nhân đối với người khác [26]
Năm 1983, Howard Gardner xuất bản tác phẩm “Frames of mind” Ông đưa ra
mô hình đa trí tuệ và cho rằng trí tuệ cá nhân gồm hai loại: trí tuệ liên nhân cách (interpersonal intelligence) và trí tuệ về bản thân (intrapersonal intelligence) [25] Bảng kiểm Bar-On EQ- I (emotional quotiet inventory) được phát hành năm
1997 dựa trên thang đo nguyên bản năm 1998 để đo sức khỏe tâm lý Phép đo này
đề cập đến ba trong năm lĩnh vực của trí tuệ cảm xúc đó là :
- Kiểm soát, quản lý những trạng thái do các tác động bên ngoài thể hiện ở sinh lý, tâm lý, hành vi (stress) gồm các kĩ năng như giải quyết vấn đề, đánh giá đúng thực tiễn
- Khả năng thích ứng gồm khả năng chịu đựng những trạng thái do các tác động bên ngoài thể hiện ở sinh lý, tâm lý, hành vi (stress), năng lực kiểm soát xung tính
- Tâm trạng gồm khả năng giữ tâm trạng lạc quan, hạnh phúc [10]
Trang 23Năm 1996 – 1997 -1997, Cooper với phép đo sơ đồ chỉ số cảm xúc EQ MAP chia trí tuệ cảm xúc thành năm thành tố,.Trong đó có: các năng lực của trí tuệ cảm xúc: đo lường năng lực sử dụng xúc cảm có mục đích, sáng tạo, linh hoạt, quan hệ với người khác và giải quyết bất mãn một cách tích cực [10]
Thang đo LEAS- - nhận thức cảm xúc (Level of Emotional Awareness) bằng
cách sử dụng một chuỗi 20 cảnh tượng mà có sự tham gia của hai người, được xây dựng để gợi ra 4 nhóm cảm xúc: giận dữ, sợ hãi, hạnh phúc và buồn bã Từng cảnh tượng được tiếp diễn xoay quanh câu hỏi: Bạn sẽ có cảm giác như thế nào? Và người khác sẽ có cảm thấy như thế nào? Tương ứng với từng câu hỏi, từng ý kiến trả lời của từng người sẽ được chia tách thành 2 điểm cho sự miêu tả cảm xúc: một
là cho chính bản thân họ và một cho người khác [10]
Ngoài ra, năm 1999, Boyatsis với ECI (bảng kiểm năng lực cảm xúc – E-
Emotional Competency Inventory) được thiết kế theo kiểu tự đánh giá và người khác đánh giá Trắc nghiệm này đề cập đến việc đo một trong bốn lĩnh vực của trí tuệ cảm xúc Đó là:
- Tự kiểm soát, làm chủ bản thân, tự kiểm soát xúc cảm của mình, lòng tự tin,
tự ý thức, thích ứng, định hướng thành đạt và sáng tạo
- Các kĩ năng xã hội: giáo dục người khác, năng lực lãnh đạo, năng lực tạo ảnh hưởng, năng lực giao tiếp, tạo xúc tác để thay đổi, kiểm soát, quản lý xung đột, xây dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự hợp tác [10]
Thang đo MEIS (thang đo trí tuệ cảm xúc đa nhân tố –- Mutilfactor Emotional Intelligence Scale) được tác giả Majer, Salovey và Caruso (2000) thiết kế để đo bốn yếu tố cấu thành trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) Trong đó nhánh thứ tư của EI là “quản lý cảm xúc của chính họ và của người khác” [10]
Năm 1995, Daniel Goleman đã tập hợp các kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và cho ra đời cuốn sách đầu tiên “Trí tuệ cảm xúc” vào Mô hình trí tuệ cảm xúc mà D.Goleman đề xuất là một mô hình kiểu hỗn hợp Theo D.Goleman, trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: sự tự chủ, lòng nhiệt thành và kiên nhẫn cũng như khả năng và sự kích thích hành động [4]
Trang 24Kiểm soát, điều khiển các mối quan hệ xã hội được D Goleman nhận định là một trong bốn biểu hiện của trí tuệ cảm xúc bên cạnh các năng lực sau:
- Tự biết mình;
- Tự kiểm soát, tự quản;
- Nhận biết các quan hệ xã hội;
Từ năm 1995, Daniel Goleman – người được xem là nhà nghiên cứu hàng đầu
về trí tuệ cảm xúc hiện nay, đề xuất chúng ta phải có những năng lực cảm xúc cá nhân gồm:
- Năng lực tự nhận biết bản thân;
Vào năm 1997, P Salovey và J Mayer cùng với Caruso đổi mới lại mô hình
EI 90 bằng mô hình EI 97 Trong mô hình mới này, họ đề cập đến một trong bốn năng lực của trí tuệ cảm xúc đó là “Kiểm soát sự kết hợp của lập luận và dữ kiện để đưa ra những quyết định chiến lược” [32]
Vào năm 2002, P Salovey và J Mayer cùng với Caruso chỉnh sửa thang đo
MEIS và phiên bản mới này là MSCEIT (Mayer – - Salovey -– Caruso Emotional
Intelligence Test) Thang đo này chỉ báo khả năng hoạt động của người được đo dưới ảnh hưởng những cảm xúc khác nhau Phép đo này đo lường bốn thành tố: nhận thức về xúc cảm, xúc cảm hóa tư duy, hiểu biết xúc cảm và điều khiển, kiểm soát xúc cảm [10]
tại, đó chỉ là mô hình, cách đo lường, các thành tố của trí tuệ cảm xú c Kiểm soát cảm xúc cũng được đề cập như là một yếu tố nhỏ trong các cấu trúc của trí tuệ
Trang 25cảm xúc Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về kiểm soát cảm xúc Do đó,
có thể nói kiểm soát cảm xúc vấn đề này vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ hiện nay
1.1.2 Câu kết luận chung về hướng nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
về trí tuệ cảm xúc, kiểm soát cảm xúc???
Những nghiên cứu ở Việt Nam về trí tuệ cảm xúc, kiểm soát cảm xúc
Khả năng kiểm soát cảm xúc là một đề tài nghiên cứu mới mẻ trong lĩnh vực tâm lý học Nhiều nhà nghiên cứu coi khả năng này là một bộ phận cấu thành nên trí tuệ cảm xúc của con người Do đó, một số đề tài về trí tuệ cảm xúc cũng nghiên cứu đến khả năng kiểm soát cảm xúc Chúng ta có thể thấy, một số đề tài trong nước có liên quan như sau:
Thuật ngữ “Trí trí tuệ cảm xúc” được chính thức đề cập tại hội thảo của các nhà nghiên cứu thuộc chương trình Khoa học Xã hội cấp nhà nước KX-07 do GS.VS Phạm Minh Hạc chủ biên năm 2001 [22]
Năm 2003, Tác tác giả Nguyễn Huy Tú với một số bài viết như: “ Chỉ số thông minh cảm xúc cao – một tiền đề thành công” trên Tạp chí Giáo dục; “ Trí tuệ cảm xúc – -bản chất và phương pháp chẩn đoán” [23]
Năm 2003, tác giả Nguyễn Công Khanh cũng đề cập đến “ Các mô hình lí thuyết về trí thông minh cảm xúc” trên Tạp chí Giáo dục [14]
Năm 2005, tác giả Trần Kiều (chủ biên) đề cập đến trí tuệ cảm xúc trong sách
“Trí tuệ và đo lường trí tuệ” [23]
Năm 2003, Lương Trí Dũng với khóa luận tốt nghiệp: “ Bước đầu tìm hiểu xúc cảm giận dữ ở học sinh THCS” [6]
Đề tài cấp nhà nước KX-05-06 Trần Kiều và nhóm nghiên cứu trong đó gồm Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh tiến hành nghiên cứu:”“Nghiên cứu phát triển trí tuệ IQ, EQ, CQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa” [26]
Trang 26Tác giả Dương Thị Hoàng Yến với một số bài đăng trên tạp chí Tâm lý học như: “ Mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực chỉnh sửa EI 97 của J.Mayer và P.Salovey” ” “Về mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực của J.Mayer và P.Salovey
– - một đóng góp quan trọng đầu tiên về quan điểm EI là một dạng trí tuệ mới” [30
31]
Tác giả Nguyễn Công Khanh với “ Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học phổ thông” –-một nhánh của đề tài cấp nhà nước KX- 05 -06 đã sử dụng trắc nghiệm MSCEIT J.Mayer, P Salovey, và D Caruso được chuẩn hóa trên
tuệ cảm xúc của sinh viên ở mức độ trung bình [28]
Năm 2007, tác giả Ngô Thị Kim Ngọc tiến hành nghiên cứu: “Trí tuệ cảm xúc
của học sinh trung học phổ thông Thành phố Quảng Ngãi” [11]
Năm 2007, tác giả Nguyễn Hồi Loan với nghiên cứu: “ Trí tuệ cảm xúc
củacảu sinh viên các lớp chất lượng cao thuộc Đại học Quốc Gia gia Hà Nội” Đề tài này đưa ra kết quả là chỉ số EQ của nhóm sinh viên này ở mức độ trung bình và dưới trung bình [21]
Năm 2007, đề tài “ Giáo dục cảm xúc trong thế giới duy lý” do tác giả Nguyễn
Ngọc Thanh làm chủ nhiệm Trong đó, tác giả đưa ra mô hình giáogóa dục cảm xúc
để lấy lại sự quân bình trong giáo dục [26]
Năm 2007, tác giả Phan Trọng Nam với luận văn thạc sĩ bàn về :” : “Mức độ trí thông minh và trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường đại học sư phạm Đồng Tháp” xác định mức độ trí thông mình của sinh viên là trung bình [18]
Trang 27Năm 2008, Cao Văn Quang với khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của học sinh một số trường trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh” [23]
Năm 2010, Võ Hoàng Anh Thư với luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu: “Trí tuệ cảm xúc của học sinh Trung học Phổ phổ thông Thành phố Bảo Lộc –- Lâm Đồng” [26]
Với tính chất quan trọng và cần thiết, khả năng kiểm soát cảm xúc dần trở thành đề tài ngày càng được các nhà nghiên cứu đề cập cụ thể hơn, riêng biệt như một yếu tố quan trọng cấu thành nên trí tuệ cảm xúc của con người Tuy nhiên, vì đây là vấn đề mới mẻ nên nhìn chung bề dày các công trình nghiên cứu cũng chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu vấn đề này trên khách thể là học sinh phổ thông Do
đó, việc tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu khả năng cảm xúc của học sinh trung học phổ thông là việc rất cần thiết
Một cách tổng quát, có nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu về cảm xúc,trí tuệ cảm xúc ở các lứa tuổi đa dạng (học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông, sinh viên) nhưng nghiên cứu về khả năng kiểm soát cảm xúc cũng được manh nha đề cập đến trong một số nghiên cứu ở trên như là kĩ năng xã hội, quản lý cảm xúc của người khác Tuy nhiên, hiện tại, đề tài nghiên cứu về khả năng này vẫn
chưa được nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2 1.2 Trí tuệ cảm xúc
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực tâm thần
Bề dày nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc không nhiều Vì vậy quan niệm về trí tuệ cảm xúc khá đa dạng với nhiều xu hướng khác nhau Nổi bật nhất là những quan niệm sau:
Darwin đã đề cập đến tầm quan trọng của sự diễn đạt cảm xúc của các cá thể trong quá trình chọn lọc tự nhiên và các thay đổi thích nghi [19]
E L Thorndike vào những khoảng năm 1920, đã sử dụng khái niệm “ "trí tuệ
xã hội”" để miêu tả kỹ năng hiểu và quản lý người khác [19]
Trang 28Về sau, Howard Gardner đề cập trí tuệ cảm xúc là khả năng đọc cảm xúc (tôi đang thực sự cảm thấy những cảm xúc gì?) và hiểu cảm xúc (tại sao tôi cảm thấy cảm xúc này? Nó đang ở mức độ nào?) của bản thân hay của người khác [19].
+ Cải thiện các mối quan hệ với người khác [26]
Bên cạnh đó, Steve Mcshane và Mary Ann Von Glinow đề cập khả năng của con người có thể nhận thức và phát biểu cảm xúc, đồng hóa cảm xúc trong tư tưởng thông suốt, lý luận với cảm xúc và điều hợp cảm xúc cho bản thân và những người xung quanh- – chính là trí tuệ cảm xúc [25]
Năm 1990, lần đầu tiên thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc”lần đầu tiên được hai nhà tâm lý học Mỹ là Peter Salovey ( Đại học Yale) và John Mayer ( Đại học Hampshire) sử dụng Trí tuệ cảm xúc được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân [19, tr 175]
Năm 1995, Daniel Goleman thì trí tuệ cảm xúc là khả năng giám sát các cảm giác và cảm xúc của bản thân và của người khác, khả năng phân biệt chúng và khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình [19,
Tác giả Edward De Bono cho rằng: trí tuệ cảm xúc là loại trí tuệ giúp cá nhân
đi sâu phân tích, khám phá và làm bộc lộ cảm xúc của chủ thể ra ngoài [19, tr 176]
Trang 29Năm 1999, Boyatizis cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết những tình cảm của mình và của người khác để tự thúc đẩy mình, kiểm soát, điều khiển cảm xúc của mình và của người khác”[13, tr 22]
Nhìn chung, những quan niệm trên nhận định trí tuệ cảm xúc như là kiểu thuần năng lực tâm thần
1.2.2 Khái niệm trí tuệ cảm xúc kiểu hỗn hợp
Bên cạnh những quan niệm trên, nhiều quan niệm trí tuệ cảm xúc theo kiểu hỗn hợp cũng phát triển khá mạnh
Reuven Bar–-On cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là một dãy các năng lực phi nhận thức và những kỹ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu hiệu quả với những đòi hỏi của môi trường, hoàn cảnh” [23, tr 29]
D Goleman (1995) nhận định: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: tự kiềm chế, kiểm soát, nhiệt tình và năng lực tự thôi thúc mình” [26]
Vào năm 1996, H.Steve cho rằng trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa sự nhạy cảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có được do
tự học hỏi, nhằm giúp con người đạt hạnh phúc trong cuộc sống [19, tr 176]
Nhìn chung, những định nghĩa cảm xúc này xem trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa các năng lực tâm thần và các nét nhân cách không thuộc năng lực trí tuệ [13, tr 18]
Bên cạnh đó, có nhiều quan niệm của một số nhà tâm lý học về trí tuệ cảm xúc như: là khả năng tác động một cách có hiệu quả lên những ham muốn của bản thân (R Busk, 1991; E.L Ykovleva, 1997); khả năng hiểu sự thể hiện của nhân cách ra bên ngoài thông qua cảm xúc, cũng như dùng trí tuệ để phân tích, tổng hợp vấn đề, trên cơ sở đó điều tiết cảm xúc của mình (Peter Salovey, John D.Mayer, 1994; G.G.Gorskova, 1999) [26]
Nhìn chung, những quan niệm của các tác giả nêu trên về khái niệm trí tuệ cảm xúc, chúng ta thấy có những điểm mà chung như sau:
Trang 30- Người có trí tuệ cảm xúc nghĩa là có những năng lực liên quan đến cảm xúc: nhận biết cảm xúc, kiểm soát cảm xúc, phân tích và giải quyết vấn đề liên quan đến cảm xúc của bản thân và người khác
- Trí tuệ cảm xúc quyết định đến sự thành công hay thất bại của con người
- Trí tuệ cảm xúc có cấu trúc đa diện
Thực tế, nhiều năng lực cảm xúc như: kiềmkìmchế tức giận, khống chế nỗi sợ hãi, đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những phẩm chất của nhân cách như khí chất, kiểu nhân cách, kiểu hệ thần kinh, Tuy nhiên những phẩm chất của nhân cách này không phải là trí tuệ Song bản thân những phẩm chất nhân cách này lại chịu ảnh hưởng của môi trường trường sống, chịu chi phối bởi hoạt động- – giao tiếp của cá nhân Điều này lại có liên quan đế trí tuệ Chúng ta có thể thấy rằng, không phải trí tuệ trực tiếp kiểm soát, điều khiển và làm thay đổi cảm xúc Đúng hơn là chỉ bằng cách cung cấp cho chủ thể khả năng nhận thức về cảm xúc của mình
- Thứ hai, thành phần quan trọng bên cạnh khả năng nhận biết cảm xúc nữa
đó là kiểm soát cảm xúc của bản thân và người khác Vì cảm xúc có thể chính là động lực thúc đẩy con người hành động Ví dụ như: vui vẻ hưng phấn giúp cá nhân lạc quan, yêu đời, phấn chấn trong công việc Mặt khác cảm xúc cũng có thể kìm
Trang 31hãm nhận thức, hành vi của con người Do đó, nên sử dụng cảm xúc đã biết rõ để
từ đó điều khiển, kiểm soát hành vi, định hướng hành viđược tốt hơn
- Thứ ba, những khía cạnh của cảm xúc được đề cập ở trên góp phần khẳng định: trí tuệ cảm xúc của con người có khả năng được cải thiện, thay đổi chứ không bất di bất dịch
- Bên cạnh trí thông minh, trí tuệ cảm xúc là thành phần quan trọng mà giáo dục có thể bồi dưỡng để giúp con người thành công trong cuộc sống
Như vậy, trí tuệ cảm xúc thật sự có cấu trúc như thế nào? điều quan trọng mà chúng ta đã đề cập ở trên chính là muốn tìm hiểu xem khả năng kiểm soát cảm xúc được nhắc đến trong mô hình trí tuệ cảm xúc ra sao?
1.2.3 Mô hình trí tuệ cảm xúc
Để trả lời cho câu hỏi trên thì cho đến nay, mô hình trí tuệ cảm xúc vẫn chưa
có sự thống nhất trong nhận định của các nhà nghiên cứu Nhìn chung, chúng ta có thể thấy có hai khuynh hướng phân chia mô hình trí tuệ cảm xúc bao gồm: mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực và mô hình trí tuệ cảm xúc hỗn hợp
* Mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực (Mental ability models of EI)
Năm 1990, P.Salovey và J Mayer đưa ra mô hình EI thuần năng lực tâm thần bao gồm 3 quá trình trí tuệ (mantal process) liên quan đến nhau và hàm chứa các thông tin cảm xúc dựa trên cách hiểu trí tuệ cảm xúc như là năng lực làm chủ, điều khiển, kiểm soát tình cảm của mình và của người khác, để định hướng cách suy nghĩ và hành động của bản thân [26]
Những quá trình của mô hình trí tuệ cảm xúc (1990) bao gồm:
- Đánh giá và biểu hiện cảm xúc (bản thân và người khác)
- Điều khiển, kiểm soát cảm xúc (bản thân và người khác)
- Sử dụng cảm xúc một cách phù hợp để giải quyết vấn đề, bao hàm từ cách suy nghĩ linh hoạt, suy nghĩ sáng tạo, tập trung chú ý trực tiếp và động cơ thúc đẩy Cũng vào năm 1990, hai ông đã đưa ra hai cách đánh giá đo lường trí tuệ cảm xúc như sau: phương pháp đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa vào tự thuật (self-report measures) và phương pháp đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa vào năng lực hành động
Trang 32(ability measures) Lúc này, băn khoăn khó lí giải là cần làm sao để những thành phần của trí tuệ cảm xúc có thể đánh giá như một năng lực
Sau đó, căn cứ trên lý thuyết của hai tác giả trên, thang đo SSRI (Schutte – report inventory) năm 1990 ra đời Thang đo này có đặc điểm là:
- Đánh giá toàn bộ trí tuệ cảm xúc cũng như bốn nhân tố của nó là: nhận thức cảm xúc, những cảm xúc có liên quan, cảm xúc điều khiển khác, tận dụng những cảm xúc
- Đo lường trí tuệ cảm xúc theo kiểu tự đánh giá gồm 33 mục hỏi, còn gọi là EIS [10]
Chúng ta có thể thấy thang đo này không giải thích được cấu trúc năng lực trí tuệ liên quan xúc cảm mà Majer và Salovey đề ra năm 1990 hay sự tồn tại rõ ràng của trí tuệ cảm xúc [30, tr 8]
Năm 1997, Mayer, Salovey cùng David Caruso đã hoàn thiện, đổi mới quan niệm mới về trí tuệ cảm xúc và đề nghị một mô hình trí tuệ cảm xúc mới gồm bốn năng lực cảm xúc sau đây:
- Nhận thức cảm xúc (của bản thân, người khác và môi trường xã hội)
- Sử dụng cảm xúc để đẩy mạnh tư duy và để tạo ra một sự chia sẻ cảm xúc tương ứng
- Hiểu rõ cảm xúc., Chẳng hạn: hiểu nguyên nhân cảm xúc, sự biến đổi của chúng qua thời gian,…
- Kiểm soát sự kết hợp của lập luận và dữ kiện về những cảm xúc để ra những quyết định chiến lược hay còn gọi là kiểm soát cảm xúc
Các tác giả định nghĩa trí tuệ cảm xúc như là một tổ hợp những năng lực xúc cảm Mô hình này thể hiện bốn loại năng lực liên quan đến xúc cảm trải qua từ kỹ năng cơ bản đến kỹ năng cao hơn Trong đó, gồm bốn nhánh sau:
- Nhánh 1: nhận thức, biểu hiện xúc cảm
- Nhánh 2: tạo điều kiện xúc cảm cho suy nghĩ
- Nhánh 3: hiểu và phân tích xúc cảm, sử dụng những tri thức xúc cảm
Trang 33- Nhánh 4: điều chỉnh xúc cảm một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển xúc cảm và trí tuệ [30]
Từ mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực năm 1997, Mayer, Salovey và Caruso đã phát triển hệ thống đánh giá trí tuệ cảm xúc đa nhân tố (the multifactor emotional intelligence scale – MEIS) gồm 12 bài tập để đánh giá 4 bốn nhánh của trí tuệ cảm xúc gồm:
- Nhánh 1: gồm 4 bài test đánh giá năng lực xác định xúc cảm qua nét mặt,
âm nhạc, thiết kế và các câu chuyện
- Nhánh 2 : gồm 2 bài tập được thiết kế để đánh giá ăng lực biến xúc cảm thành quá trình tri giác và nhận thức xúc cảm
- Nhánh 3: gồm 4 bài tập suy luận về xúc cảm và thấu hiểu xúc cảm
- Nhánh 4: gồm 2 bài tập đánh giá năng lực kiểm soát xúc cảm của bản thân người làm trắc nghiệm và của người khác [30]
Năm 2002, Mayer, Salovey và Caruso chỉnh sửa MEIS và cho ra đời phiên bản mới có trên là MSCEIT (Mayer Salovey Caruso Emotional Intelligence Test).Thang đo này đo lường một số thành tố như: nhận thức về xúc cảm, xúc cảm hóa tư duy, hiểu biết xúc cảm, kiểm soát xúc cảm
* Mô hình trí tuệ cảm xúc hỗn hợp (Mixed models of EI)
Bảng kiểm Bar-On EQ–I- I(emotional quotiet inventory) được phát hành năm
1997 Phép đo này đề cập đến năm lĩnh vực của trí tuệ cảm xúc đó là :
- Sự hiểu biết chính mình: gồm các năng lực tự nhận biết mình, năng lực tự khẳng định, quyết toán và năng lực đánh giá mình một cách lạc quan
- Quan hệ với người khác: gồm các năng lực như đồng cảm, năng lực thực hiện các trách nhiệm xã hội
- Kiểm soát, quản lý stress, gồm các kĩ năng như giải quyết vấn đề, đánh giá đúng thực tiễn
- Khả năng thích ứng gồm khả năng chịu đựng stress, năng lực kiểm soát xung tính
- Tâm trạng gồm khả năng giữ tâm trạng lạc quan, hạnh phúc [10]
Trang 34Năm 1996, 1997 Cooper với phép đo EQ MAP chia trí tuệ cảm xúc thành năm thành tố:
- Môi trường hiện tại: đo lường những sức ép trong đời sống và mức độ hài lòng của cá nhân
- Hiểu biết về xúc cảm: đo lường khả năng tự nhận biết xúc cảm của mình, bày tỏ xúc cảm và nhận biết xúc cảm của người khác
- Các năng lực của trí tuệ cảm xúc: đo lường năng lực sử dụng xúc cảm có mục đích, sáng tạo, linh hoạt, quan hệ với người khác và giải quyết bất mãn một cách tích cực
- Các giá trị và thái độ gồm tầm nhìn, tình thương, trực giác, lòng tin, uy lực
cá nhân và tự hòa nhập
- Kết quả: đo những kết quả được nhìn thấy rõ ràng của trí tuệ cảm xúc gồm sức khỏe chung, chất lượng cuộc sống, chỉ số quan hệ và sự hoàn thành công việc một cách tối ưu [10]
Ngoài ra, năm 1999, Boyatsis với trắc nghiệm ECI (Emotional Competency Inventory) được thiết kế theo kiểu tự đánh giá và người khác đánh giá Trắc nghiệm này đo bốn lĩnh vực:
- Tự nhận biết mình: nhận biết cảm xúc của mình, đánh giá mình chính xác,
Thang đo MEIS được tác giả Majer, Salovey và Caruso ( 2000) thiết kế để đo bốn yếu tố cấu thành EI (Emotional Intelligence) Đó là:
Trang 35o Nhánh thứ nhất: đánh giá nhận thức và đánh giá cảm xúc quan những câu chuyện, tranh phác thảo, qua âm nhạc, qua những khuôn mặt
o Nhánh thứ hai: đánh giá khả năng đồng hóa cảm xúc trong tri giác và tiến trình nhận thức
o Nhánh thứ ba: đánh giá nguyên nhân và sự hiểu biết về cảm xúc
o Nhánh thứ tư: quản lý cảm xúc của chính họ và của người khác [10]
Theo H.Steve, có 3 dấu hiệu để nhận dạng loại trí tuệ này Đó là:
- Biết cảm xúc của bản thân cũng như của người khác và biết hành động sẽ xảy ra khi có cảm xúc đó
- Biết nguyên nhân dẫn đến các cảm xúc tích cực và tiêu cực Biết cách chuyển các cảm xúc tiêu cực thành tích cực
- Nhận thức được cảm xúc, sự nhạy cảm và những kỹ năng quản lý cảm xúc, giúp con người tăng tối đa hạnh phúc trong cuộc sống [19, tr.177]
Năm 1995, Daniel Goleman đã tập hợp các kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và cho ra đời sách nói về “Trí tuệ cảm xúc” Mô hình trí tuệ cảm xúc mà D.Goleman đề xuất là một mô hình kiểu hỗn hợp Theo D Goleman, trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực:
Trang 36* Tự kiểm soát, quản lý mình
- Kiểm soát cảm xúc của mình
- Kiểm soát xung đột
- Lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan
- Xúc tác để thay đổi
- Tinh thần đồng đội và sự hợp tác [23]
Từ hai mô hình trí tuệ cảm xúc trên Có thể thấy những điểm như sau:
- Hai mô hình không chỉ khác nhau về thành tố, cấu trúc mà còn khác về phương pháp đo trí tuệ cảm xúc Ví dụ như trắc nghiệm “tự khai” của Schutte hay của Bar-On giống như là đo sức khỏe tâm lý qua con mắt của khác thể hơn là đo lường trí tuệ cảm xúc[10]
- Mô hình thuần năng lực tâm thần đưa ra những tiêu chí đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa trên hành động biểu hiện [30]
- Mô hình hỗn hợp chủ trương đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa vào tự thuật Mô hình trí tuệ cảm xúc hỗn hợp có khuynh hướng pha trộn nhiều nét của nhân cách, vừa không chứng minh được trí tuệ cảm xúc là một dạng trí tuệ, vừa ít có điều kiện
đo lường nó một cách chính xác, tin cậy [26]
Qua việc tìm hiểu hai mô hình trên, chúng tôi xem xét khả năng kiểm soát cảm xúc tồn tại trong mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực của Mayer và Salovey (1997) Mô hình này được cấu thành bởi bốn nhóm năng lực cơ bản: nhận thức – ,
bày tỏ cảm xúc, cảm xúc hóa tư duy, hiểu biết cảm xúc và điều khiển, kiểm soát cảm xúc Đó cũng làm cơ sở lý luận nghiên cứu cơ bản của đề tài
Tóm lại, khả năng kiểm soát cảm xúc được đề cập như một nhánh, một năng lực ở tất cả các mô hình trí tuệ cảm xúc của nhiều nhà nghiên cứu Phần khái niệm, thuật ngữ sau sẽ giải thích rõ hơn về khả năng kiểm soát cảm xúc cụ thể được hiểu
là gì và biểu hiện của nó ra sao
Trang 37c 1.3 Khả năng kiểm soát cảm x úc
1.3.1 Cảm xúc
1.3.1 1 Định nghĩa cảm xúc
Theo Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng: “ Cảm xúc là sự phản ánh tâm lý
về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp”[5, tr 24]
Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, Từ điển Tâm lý, NXB Ngoại văn, 1991 thì : “ Cảm xúc là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích thích vật chất hoặc một sự việc, gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt, ho ăặ c ru mn
rẩy, rối loạn tiêu hóa; những phản ứng tâm lý, qua những thái độ, lời nói, hành vi
và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn [23, tr 19]
Những tác giả như Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn nhận định:
“Cảm xúc là những thái độ thể hiện rung cảm của con người đối với những sự vật hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của con người” [23, tr 20].
Theo Caroll E Jzard thì định nghĩa về cảm xúc một cách đầy đủ thì phải chú ý đến ba khía cạnh của cảm xúc Đó là:
a) Cảm giác này được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc
b) Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và các
hệ khác của cơ thể
c) Các phức hợp biểu cảm cảm xúc mà được đưa ra quan sát, đặc biệt là những phức hợp phản ánh trên bộ mặt[2, tr 17]
Cảm xúc nảy sinh do những nguyên nhân sau:
a) Những mối liên hệ lẫn nhau của chủ thể với môi trường xung quanh gây nên cảm xúc như tri giác theo sau các kích thích: được nảy sinh từ tính tích cực có
Trang 38lựa chọn của cơ quan thụ cảm hay là cơ quan cảm giác, tri giác môi trường xung quanh, tính tích cực của tri giác
a)b) Các quá trình cá nhân gây ra cảm xúc như trí nhớ, tưởng tượng, tư duy hình tượng và tư duy tiên đoán, các xung động cảm giác nội thân xuất phát từ tính tích cực điệu bộ hay tính tích cực vận động khác, hoạt động nội tiết tác động đếncơ chế thần kinh hay cơ bắp của các cảm xúc[2, tr 77]
Trong đề tài này, cảm xúc được nhìn nhận theo quan điểm của tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn Đó là : “Cảm xúc là những thái độ thể hiện rung cảm của con người đối với những sự vật hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của con người”
1.3.1.2 Phân loại cảm xúc
Nhiều công trình nghiên cứu xác định rằng chính các quy tắc biểu hiện cảm xúc trong các nền văn hóa khác nhau, những tâm thế xã hội đối với những thể nghiệm cảm xúc cũng khác nhau [2, tr.107] Trên cơ sở đó, mười cảm xúc nền tảng
đã được mô tả và nhất thể hóa về mặt thực nghiệm (Darwin, 1872; Ekman, Friesen, Ellsworth, 1972; Izard, 1971; Tonkins, 1962)
1 Hứng thú hồi hộp- - cảm xúc tích cực được thể nghiệm thường xuyên nhất tạo động cơ học tập, phát triển các kĩ xảo, kĩ năng và khát vọng sáng tạo Khi ở trạng thái hứng thú thì con người có sự chú ý, ham hiểu biết, say mê đối tượng
2 Vui sướng: trạng thái tích cực của vui sướng được đặc trưng bởi tiình cảm
về sự tin tưởng, về giá trị của riêng mình và cảm giác về điều mà chúng ta yêu thích
3 Ngạc nhiên khác với những loại cảm xúc khác ở điểm là nó luôn ở trạng thái ngắn ngủi Nó tạo khả năng giải tỏa hệ thần kinh khỏi cảm xúc trước và hướng khách thể tạo nên nó vào tất cả các quá trình cảm xúc
4 Đau khổ là cảm xúc mà khi trải nghiệm, con người cảm thấy cô độc, không tiếp xúc với người khác, thấy thương thân
Trang 395 Căm giận có biểu hiện bề ngoài rất dễ nhận ra Khi căm giận, mặt nóng bừng, năng lượng được huy động nhanh làm trương cơ và gây nên cảm giác sức mạnh, tình cảm dũng cảm hay tự tin.
6 Ghê tởm thường biểu hiện cùng với căm giận Ghê tởm có thể kích thích hành vi phá hoại bởi vì sự căm giận thúc đẩy sự tấn công còn sự ghê tởm thúc đẩy mong muốn thoát khỏi một người nào đó hay một cái gì đó
7 Khinh bỉ có thể phát tán như là chuẩn bị đón tiếp kẻ thù nguy hiểm Một trong những đặc trưng của khinh bỉ là cảm xúc lạnh lùng dẫn tới sự mất nhân tính của cá nhân hay của nhóm có quan hệ với sự khinh bỉ vì vậy cảm xúc này có thể tạo
ra những động cơ nguy hiểm
8 Khiếp sợ xảy ra mạnh mẽ có thể đi kèm với sự thiếu tin tưởng và những linh cảm xấu; có thể tê liệt hoạt động hoặc huy động năng lượng cần thiết để làm một việc gì đó
9 Xấu hổ làm thúc đẩy sự mong muốn trốn tránh, muốn “ độn thổ” – không muốn có mặt, làm cho người ta có cảm giác vụng về Nhưng nếu những liên hệ cảm xúc của cá nhân” “từ bên ngoài” chĩa vào thì khi đó xấu hổ đòi hỏi vi phạm các chuẩn mực của nhóm Mặc dù tình cảm xấu hổ mạnh và thường xuyên có thể ngăn cản sưựphát triển trọn vẹn của con ngườinhưng, cảm xúc này thường tạo khả năng bảo toàn sự tự trọng
10 Tội lỗi khác với xấu hổ ở điểm quan trọng là nó chỉ xuất hiện khi con người vi phạm vào các tính chất, chuẩn mực đạo đức, thẩm mĩ và tôn giáo, hoặc trong những tình huống mà chủ thể cảm nhận được trách nhiệm của riêng mình Ngoài ra, một số nghiên cứu của Daniel Goleman cho rằng có những loại xúc cảm như sau [4]:
- Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt, hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch và có thể đạt tới tột cuùng thúùhằn, bạo lực bệnh lý
- Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, ủ rũ, thất vọng và trầm cảm sâu
Trang 40- Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo lắng, rụng rời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trở thành bệnh lý là chứng
sợ, hoảng hốt
- Khoái: sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm bằng lòng, rất hạnh phúc, khoái trá, hoan hỉ, tự hào, khoái cảm, hài lòng, sáng khoái
- Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cạậy, dễ ưa, cảm tình, hâm mộ, …
- Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc
- Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét
- Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc
Hơn nữa, một luận cứ quan trọng của sự phân chia dựa trên sự phát hiện của Paul Dkman (Đại học San Fransisco) là những biểu hiện trên gương mặt tương ứng với bốn xúc cảm (sợ, giận, buồn, thích) đều giống nhau ở tất cả mọi người thuộc các nền văn hóa khác nhau trên toàn thế giới-giới – điều đó chứng tỏ tính phổ quát của chúng Bên cạnh đó, tính phổ quát của biểu hiện xúc cảm trên gương mặt đã được Darwin nhận thấy, ông cho rằng đó là bằng chứng tiến hóa đã in những tín hiệu ấy vào hệ thần kinh trung ương của chúng ta
Tác giả Đinh Phương Duy căn cứ vào dấu hiệu đặc trưng của cảm xúc là cường độ, thời gian tồn tại, để phân chia cảm xúc tiêu biểunhư:
- Tâm trạng: thường có cường độ yếu, thời gian tồn tại kéo dài đáng kể, không rõ ràng, không ý thức Tâm trạng mang tính chất phân tán riêng biệt
- Xúc động: thường xảy ra trong thời gian ngắn, biểu hiện cảm xúc ra bên ngoảài mãnh liệt, có tính chất không ý thức, lan toả rất nhanh [7]
Nhiều nhà nghiên cứu phân chia cảm xúc thành hai loại:
Ccảm xúc tích cực và c
Cảm xúc tiêu cực
Chúng tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta sử dụng thuật ngữ tích cực hay tiêu cực vận dụng vào cảm xúc thì sẽ nảy sinh một số vấn đề như sau Trước hết, nếu xếp giận dữ hay xấu hổ hay sợ hãivào vào nhóm tiêu cực thì chưa hẳn chính xác vì giận
dữ có khi là cách bảo vệ bản thân trước sự tấn công đe dọa từ phía khác; xấu hổ có