Với đặc thù của vùng nhất là những đặc thù về di cư nghiên cứu di cư và tác động của nó đến sự phát triển KT-XH là một nội dung để qui hoạch tổng thể.. Xluka 1998 "Địa lí dân cư với các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VĂN TUẤN
DI CƯ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ TÀO TẠO
TRƯƠNG VĂN TUẤN
DI CƯ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Những kết luận khoa học của luận án là chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Trương Văn Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Viết Thịnh – PGS TS Nguyễn Kim Hồng đã tận tình hướng dẫn, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt 4 năm nghiên cứu
và hoàn thành luận án
Tác giả xin cảm ơn đến Khoa Địa lý, Ban Giám Hiệu, Phòng Khoa
h ọc công nghệ, Phòng Tài chính Trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong những năm qua
Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cám ơn tới các cơ quan ban ngành
đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tác giả nhiều tài liệu quý:
− Tổng cục Thống kê, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Viện chiến lược
− Cục thống kê các tỉnh của vùng Đông Nam Bộ
− Phòng PC 13 – Công an các tỉnh của vùng Đông Nam Bộ
− Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh của vùng Đông Nam Bộ
− Ban quản lý các KCN các tỉnh của vùng Đông Nam Bộ
− Sở Kế hoạch – Đầu tư các tỉnh của vùng Đông Nam Bộ
− Viện kinh tế TP Hồ Chí Minh
Và cuối cùng là lời cảm ơn gởi tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp gần xa đã động viên, ủng hộ, quan tâm chia sẻ, giúp đỡ cả vật chất và tinh thần trong suốt quá trình làm luận án
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận án
Trương Văn Tuấn
Trang 5
Trang
M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2 1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 2
2 3 Đối tượng nghiên cứu 3
2 4 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu 3
4 Hệ thống các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9
4.1 Các quan điểm được sử dụng trong Luận án 9
4.2 Các phương pháp nghiên cứu 11
5 Những đóng góp mới của Luận án 12
6 Cấu trúc của Luận án 13
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI CƯ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 14
1.1 Di cư 14
1.2 Phân loại di cư 15
1.2.1 Phân loại theo địa bàn di cư 15
1.2.2 Phân loại theo tính chất của tổ chức di cư 16
1.3 Một số thước đo di cư 17
1.4 Khái quát một số lí thuyết tiêu biểu về di cư 19
1.4.1 Lí thuyết E.G.Ravenstein 19
1.4.2 Lí thuyết Lee 19
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư 21
1.5.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên 21
1.5.2 Các nhân tố KT-XH 23
1.6 Tính chọn lọc của di cư 26
Trang 61.6.2 Chọn lọc về giới tính 27
1.6.3 Chọn lọc về nghề nghiệp và học vấn 27
1.6.4 Chọn lọc về mức độ tham gia lao động 27
1.7 Quan hệ tương tác giữa di cư và sự phát triển KT-XH 27
1.7.1 Tác động của di cư đến sự phát triển KT-XH 28
1.7.2 Tác động của sự phát triển KT-XH đến di cư 31
1.8 Một số vấn đề về di cư ở Việt Nam 33
1.8.1.Khái quát về bối cảnh KT-XH ảnh hưởng đến di cư ở Việt Nam 33
1.8.2.Một số đặc điểm chính của di cư ở Việt Nam 37
Chương 2 DI CƯ Ở ĐÔNG NAM BỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRI ỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 49
2.1 Khái quát về các nhân tố ảnh hưởng đến di cư ở vùng ĐNB và những lợi thế của chúng 49
2.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư ngoại vùng 49
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nội vùng 62
2.2 Di cư ở vùng ĐNB và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển KT-XH 64
2.2.1 Di cư 64
2.2.2 Tác động của di cư đến sự phát triển KT-XH 100
Chương 3 D Ự BÁO VÀ CÁC GIẢI PHÁP 111
3.1 Dự báo 111
3.1.1 Cơ sở dự báo 111
3.1.2 Giả thiết về di cư cho các tỉnh và các vùng kinh tế 116
3.1.3 Kết quả dự báo 118
3.2 Định hướng và giải pháp cho vấn đề di cư 120
3.2.1 Định hướng 120
3.2.2 Các giải pháp 130
Trang 71 KẾT LUẬN 139
2 KIẾN NGHỊ 142
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 144
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 145
PH Ụ LỤC 155
Trang 8Trang
Bảng 1.1: Số người và tỉ suất di cư chia theo tình trạng di cư, VN 1999 và 2009 40
Bảng 1.2: Số người và tỉ suất di cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo 6 vùng KT-XH 41
Bảng 1.3: Số người và tỉ suất nhập cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo 6 vùng KT-XH 42
Bảng 1.4: Số người và tỉ suất xuất cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo 6 vùng KT-XH 43
Bảng 1.5: Nơi thực tế thường trú 1/4/2009 và 1/4/2004 chia theo vùng, 2009 44
Bảng 2.1: Dân số chia theo giới tính phân theo các tỉnh vùng ĐNB 58
Bảng 2 2: Dân số chia theo giới tính và 6 vùng KT-XH 65
Bảng 2 3: Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm thời kì 1999-2009 chia theo giới tính các tỉnh vùng ĐNB 65
Bảng 2.4: Số người và tỉ suất di cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo các tỉnh vùng ĐNB 67
Bảng 2.5: Số người và tỉ suất nhập cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo 6 vùng KT-XH 70
Bảng 2.6: 10 tỉnh có di cư đến ĐNB năm 1994 – 1999 71
Bảng 2.7: 10 tỉnh có di cư đến ĐNB năm 2004 - 2009 72
Bảng 2.8: Di cư đến ĐNB 1994 – 1999 72
Bảng 2.9: Di cư đến ĐNB 2004 – 2009 73
Bảng 2.10: Số người nhập cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo giới tính và các tỉnh vùng ĐNB 73
Bảng 2.11: Tuổi của người nhập cư phân theo giới tính ở ĐNB 77
Trang 9theo 6 vùng KT-XH 78
Bảng 2.13: Số người và tỉ suất xuất cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT chia theo các tỉnh vùng ĐNB 79
Bảng 2.14: Số người di chuyển ngoại tỉnh của các tỉnh thuộc vùng ĐNB đến các tỉnh vùng ĐNB chia theo nơi cư trú vào 1/4/2004 và 1/4/2009 80
Bảng 2.15: Tình trạng xuất, nhập cư nội vùng chia theo các tỉnh ĐNB, 2004-2009 81
Bảng2.16: Tương quan giữa các dự án công nghiệp đang hoạt động và số người nhập cư tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1999-2009 81
Bảng 2.17: Tình trạng xuất, nhập cư nội thị TP HCM 1999-2009 83
Bảng 2.18: Tình trạng xuất, nhập cư nội tỉnh Bình Dương, 1999-2009 84
Bảng 2.19: Tình trạng xuất, nhập cư nội tỉnh Đồng Nai, 1999-2009 84
Bảng 2.20: Tình trạng xuất, nhập cư nội tỉnh Tây Ninh, 1999 -2009 85
Bảng 2.21: Tình trạng xuất, nhập cư nội tỉnh Bình Phước, 1999 -2009 86
Bảng 2.22: Tình trạng xuất, nhập cư nội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, 1999-2009 86
Bảng 2.23: Số người và tỉ số giới tính nhập cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT phân theo các tỉnh vùng ĐNB 91
Bảng 2.24: Số người và tỉ số giới tính xuất cư trong 5 năm trước thời điểm TĐT các tỉnh vùng ĐNB 91
Bảng 2.25: Tỉ số giới tính di cư nội và liên tỉnh phân theo các tỉnh ĐNB
2004-2009 92
Bảng 2.26: Tỉ lệ di cư nội và ngoại vùng phân theo tuổi và giới tính ở ĐNB, 2004-2009 93
Bảng 2.27: Tỉ lệ di cư chia theo tuổi và giới tính TP HCM, 2004-2009 97
Bảng 2.28: Tỉ lệ di cư chia theo tuổi và giới tính tỉnh Bình Dương, 2004-2009 98
Bảng 2.29: Tỉ lệ di cư chia theo tuổi và giới tính tỉnh Bình Phước, 2004-2009 98
Trang 10điểm TĐT phân theo các tỉnh ĐNB 99
Bảng 2.31a: Tỉ lệ nhập cư phân theo nghề nghiệp và các tỉnh ĐNB 1999-2009 100 Bảng 2.31b 101
Bảng 2.32: Cơ cấu lao động nhập cư trong tổng số lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương giai đoạn 2003 – 2007 103
Bảng 2.33: Tổng số lao động trong lĩnh vực công nghiệp của tỉnh Bình Phước giai đoạn 2006 – 2008 103
Bảng 2.34: So sánh tỉ suất nhập cư và tỉ suất tăng dân số thành thịcác tỉnh ĐNB 108
Bảng 2.35: Dân số và tỉ trọng dân thành thị chia theo vùng năm 2009 108
Bảng 3.1: Tỉ suất tăng dân số bình quân năm, phương án trung bình, 2009–2034 114
Bảng 3.2: Dự báo dân số các vùng KT-XH, phương án trung bình, 2009–2034 115
Bảng 3.3: Dự báo dân số các tỉnh ĐNB, phương án trung bình, 2009–2034 115
Bảng 3.4: Di cư giữa các vùng KT-XH chia theo giới tính thời kì 2004–2009 118
Bảng 3.5: Di cư giữa các tỉnh vùng ĐNB chia theo giới tính thời kì 2004–2009 119
Bảng 3.6: Số người di cư thuần các vùng KT-XH giai đoạn 2009 - 2024 119
Bảng 3.7: Số người di cư thuần các tỉnh vùng ĐNB giai đoạn 2009 - 2024 119
Bảng 3.8: Số người di cư thuần các vùng KT-XH giai đoạn 2024 - 2034 120
Bảng 3.9: Số người di cư thuần các tỉnh vùng ĐNB giai đoạn 2024-2034 120
Bảng 3.10: So sánh giữa các tỉnh về đóng góp trong gia tăng GDP của Vùng 129
Bảng 3.11: Cơ cấu sử dụng lao động theo ngành của vùng ĐNB 129
Trang 11Bản đồ hành chính vùng ĐNB 57
Hình 1 : Xuất cư vào vùng ĐNB, 1994 – 1999 74
Hình 2 : Xuất cư vào vùng ĐNB, 2004 – 2009 75
Hình 3 : Nhập cư ngoại tỉnh vào ĐNB phân theo huyện, 1994 – 1999 76
Hình 4 : Nhập cư ngoại tỉnh vào ĐNB phân theo huyện, 2004 –2009 77
Hình 5 : Nhập cư nội tỉnh vào ĐNB phân theo huyện, 1994 –1999 89
Hình 6 : Nhập cư nội tỉnh vào ĐNB phân theo huyện, 2004 –2009 90
Trang 12Biểu đồ 1 : Xuất cư đến ĐNB phân theo các vùng kinh tế, 1999-2009 73
Biểu đồ 2 : Tỉ lệ xuất nhập cư nội tỉnh phân theo các tỉnh ĐNB, 2004-2009 85
Biểu đồ 3 : Tỉ số giới tính di cư các tỉnh ĐNB, 2004-20 92
Biểu đồ 4a : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư TP HCM 94
Biểu đồ 4b : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư tỉnh Bình Dương 94
Biểu đồ 4c : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư tỉnh Đồng Nai 95
Biểu đồ 4d : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư tỉnh Tây Ninh 96
Biểu đồ 4e : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư tỉnh Bình Phước 96
Biểu đồ 4f : Tính chọn lọc tuổi và giới tính di cư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 97
Biểu đồ 5 : Tỉ lệ lao động nhập cư có việc làm 1999-2009 100
Trang 13NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
• BTB&DHMT : Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung
• CNH : Công nghiệp hóa
Trang 14M ở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Di cư là hiện tượng xã hội liên quan đến xã hội loài người diễn ra liên tục ở tất cả các châu lục, tất cả các nước và tất cả các dân tộc Các nguyên nhân, động lực của di cư, quy mô và khoảng cách di cư đã thay đổi liên tục và thay đổi rất nhiều trong lịch sử Ở nước ta di cư đã và đang diễn ra khi thì với cường độ mạnh, khi thì yếu tùy theo các điều kiện của mỗi thời kì Ý nghĩa của di cư đối với sự phát triển KT-XH thì ai cũng đã quá rõ: di cư góp phần điều tiết nguồn lao động giữa các vùng, các địa phương; di cư giúp sử dụng hợp lí nguồn lao động phục vụ cho sự phát triển KT-XH; di cư luôn gắn liền với những vấn đề phát triển vùng, với vấn đề sử dụng tài nguyên và vấn đề về môi trường và di cư gắn liền với vấn
đề phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu về di cư giúp phát hiện ra quá trình, đặc điểm và quy luật di chuyển của dân cư từ đó giúp đề xuất những chính sách
về dân số và phát triển KT-XH phù hợp với từng thời kì, từng địa phương, từng Quốc gia
Trong khoảng vài chục năm trở lại đây nền kinh tế Việt Nam đang phát triển khá nhanh, nhưng tình trạng chêch lệch về kinh tế giữa các vùng, các địa phương trong cả nước vẫn còn khá lớn, hậu quả là di cư giữa các vùng và các địa phương trong cả nước diễn ra rất phổ biến với qui mô và cường độ ngày càng cao Vì vậy
di cư đã tác động rất lớn đến sự phát triển KT-XH Bên cạnh những tác động tích cực, di cư cũng gây ra nhiều hậu quả mà các cấp chính quyền phải quan tâm thích đáng Vì thế nghiên cứu di cư và tác động KT-XH của nó là rất cần thiết, thường xuyên và cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Trong vài thập niên trở lại đây, Đông Nam Bộ là vùng có số lượng dân di
cư lớn nhất nước ta Đây là vùng có số lượng và tỉ suất nhập cư luôn ở mức cao nhất trong cả nước và có xu hướng ngày càng tăng Chỉ tính những năm đầu của thế kỉ XXI số người nhập cư vào vùng chiếm trên 60% số người nhập cư của tất
cả các vùng gộp lại, gấp gần 8 lần so với vùng có số lượng nhập cư đứng thứ 2 (ĐBSH) Tính ra, chỉ trong vòng 5 năm (2004-2009) số người nhập cư vào vùng chiếm trên 10% dân số hiện nay Người nhập cư vào ĐNB chủ yếu trong độ tuổi
Trang 15lao động (chiếm 90% số người nhập cư ngoại vùng), đặc biệt là tuổi lao động sung sức (chiếm 72,2% số người nhập cư ngoại vùng) Vì thế có thể khẳng định,
dân di cư là nguồn lực quan trọng bậc nhất đã, đang và sẽ tạo nên lợi thế cho sự phát triển của vùng
Bên cạnh những tác động tích cực tạo ra những lợi thế đáng kể, di cư ở vùng (mà chủ yếu là nhập cư) cũng đã để lại rất nhiều những hậu quả về nhiều mặt ảnh hưởng đến sự phát triển KH-XH
ĐNB là vùng có tốc độ phát triển nhanh nhất nước ta trong 2 thập kỉ qua, là vùng có đóng góp lớn nhất cho ngân sách Nhà nước và là vùng có tiềm năng nhiều mặt, nhất là về dân cư và lao động Muốn duy trì sự phát triển một cách bền vững cần phải làm tốt công tác qui hoạch tổng thể từ đó xây dựng định hướng cho
sự phát triển KT-XH của vùng Với đặc thù của vùng (nhất là những đặc thù về di cư) nghiên cứu di cư và tác động của nó đến sự phát triển KT-XH là một nội dung
để qui hoạch tổng thể Vì thế, điều tra hiện trạng, dự báo tương lai, xác định được vai trò và tác động của di cư đến sự phát triển KT-XH của vùng trong điều kiện mới hình thành và đang phát triển mạnh có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 16- Dự báo về xu hướng di cư dài và ngắn hạn của vùng
- Đưa ra một số giải pháp nhằm chủ động góp phần điều tiết hiện tượng di
cư theo mục tiêu phát triển KT-XH của vùng
2 3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân di cư của vùng ĐNB được đặt trong mối quan hệ với các vùng kinh tế khác trong cả nước
2 4 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của Luận án là di cư ở ĐNB và những ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển KT-XH của vùng Với nội dung trên, không gian và thời gian nghiên cứu của Luận án được xác định là:
• Không gian nghiên cứu: Vùng ĐNB bao gồm các đơn vị hành chính sau đây: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, TP HCM Không gian nghiên cứu trên được đặt trong mối quan hệ với các vùng kinh
tế trong cả nước như hiện nay theo nghị định của Thủ tướng Chính phủ Luận án nghiên cứu cả di cư nội và ngoại vùng – di cư ở vùng trong mối quan hệ với các vùng khác trong cả nước và di cư nội vùng trong phạm vi cấp tỉnh, huyện
• Thời gian nghiên cứu: Cơ sở dữ liệu phân tích dựa trên kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/1999 và 1/4/2009, do vậy, khoảng thời gian nghiên cứu chủ yếu từ cuối thập kỉ 90 của thế kỉ 20 đến thập kỉ đầu của thế kỉ XXI (từ năm
1994 cho đến năm 2009), trong một số trường hợp có mở rộng khung thời gian nghiên cứu đến những năm sau khi giải phóng Miền Nam (1975), có dự báo xu hướng di cư dài hạn và ngắn hạn Các phân tích sâu của Luận án sẽ tập trung vào khoảng thời gian 10 năm trở lại đây Một số trường hợp có sử dụng số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1989
3 Lịch sử nghiên cứu
● Ngoài nước: Di cư là hiện tượng xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của
xã hội loài người Vì thế, các công trình nghiên cứu về di cư của con người có từ rất sớm và di cư là sự quan tâm của tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế như
Trang 17Liên Hiệp Quốc(1)
, Tổ chức Lao động quốc tế ILO, Tổ chức di cư quốc tế IMO, Ngân hàng Thế Giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, cũng như các tổ chức liên kết khu vực như EU, ASEAN, Các công trình nghiên cứu rất phong phú, có thể gộp vào một số hướng chính như sau:
- Nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp Những nhà nhân
khẩu học, địa lí học và những nhà xã hội học là những người quan tâm nhiều nhất đến các khía cạnh này Hai lí thuyết chủ yếu về di cư có ảnh hưởng nhiều đến nghiên cứu di cư hiện đại là "các qui luật của di cư" của E G Ravenstein
[131] của Gary L
[132] chủ yếu đề cập đến ảnh hưởng của khoảng cách và các kiểu di cư, được đưa ra năm 1885 và 1889 và "lí thuyết di cư" của E Lee [126] chủ yếu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư, được đưa ra năm 1966 Hai lí thuyết này chúng tôi
sẽ phân tích kỹ hơn ở Chương 1 Các công trình về nhân khẩu học đều có dành những phần đáng kể cho di cư Chẳng hạn trong công trình mới xuất bản gần đây
của Dudley L Poston, Jr và Leon F Bouvier (2010) có tiêu đề "Dân cư và xã
hội: nhập môn nhân khẩu học" (4) đã dành một chương về di cư nội địa và một
chương về di cư quốc tế Một tuyển tập công trình về "Các khía cạnh nhân khẩu
học của di cư" (5)đã được NXB khoa học xã hội (Đức) xuất bản năm 2010 Trong giáo trình "Địa lí dân cư: các vấn đề, quan điểm và toàn cảnh"
Peters và Robert P Larkin (1989) dành một chương riêng về Di cư và tính cơ động của dân cư, trong đó có đề cập đến các chỉ tiêu đo về di cư, các kiểu di cư, lí thuyết về di cư, tính chọn lọc của di cư,… Một số nhà địa lí Nga cũng viết về các vấn đề lí thuyết chung về di cư, có thể kể đến như: B.X Khorev, V.N Tsanek (1978) "Những vấn đề nghiên cứu về sự di cư", A E Xluka (1998) "Địa lí dân cư với các cơ sở nhân khẩu học và dân tộc học"…
Các đo lường về di cư cũng được nghiên cứu sâu sắc và có những công trình được công bố bởi Liên Hiệp Quốc nhằm tạo sự thống nhất, có thể so sánh được của các kết quả nghiên cứu về di cư giữa các nước Năm 1970, Vụ các vấn đề
1
Đặc biệt là các tổ chức của LHQ như UNDP, Vụ các vấn đề kinh tế và xã hội (DESA), Cao ủy LHQ về người tị nạn UNHCR
4 Dudley L Poston, Jr., Leon F Bouvier Population and Society: An Introduction to Demography
Cambridge University Press, 2010
5
Thomas Salzmann, Barry Edmonston, James Raymer (Eds.): Demographic Aspects of Migration VS
RESEARCH, 2010
Trang 18kinh tế và xã hội của Liên Hiệp Quốc đã xuất bản một series các giáo trình về
phương pháp ước lượng dân số, trong đó có giáo trình về Các phương pháp đo
lường di cư nội địa(1)
- Nghiên cứu về lịch sử di cư Chính thông qua các nghiên cứu địa lí - lịch
sử, các qui luật của di cư đã được phát hiện, và nhiều vấn đề trong sự hình thành các quốc gia - dân tộc đã được làm sáng tỏ Ở Liên Xô trước đây, nổi tiếng có Poksisevxki, với những tác phẩm như chuyên khảo "Khẩn hoang Xibia" (1951),
" Địa lí dân cư Liên Xô" (1971), "Địa lí dân cư các nước ngoài" (1971), trong đó
có các nghiên cứu và các bản đồ về các luồng di cư trong lịch sử Ở Hoa Kỳ, có thể kể đến các công trình nghiên cứu lịch sử nhập cư vào nước Mỹ, chẳng hạn
như tác phẩm “Ethnic Americans: A History of Immigration” của Leonard Dinnerstein and David M Reimers trình bày khá đầy đủ các giai đoạn nhập cư ở Hoa Kì từ năm 1492 đến năm 2008
- Nghiên cứu về các vấn đề di cư quốc tế Trong xã hội hiện đại, sự di cư
giữa các nước diễn ra ở qui mô rất lớn Những cuộc chiến tranh (như Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, Đại chiến thế giới lần thứ Hai, các cuộc xung đột khu vực, nhất là các điểm nóng ở châu Phi, Trung Cận Đông,…) đã làm cho các cuộc tị nạn, rồi các cuộc hồi hương trở thành mối quan tâm quốc tế Quá trình toàn cầu hóa, với sự di chuyển lao dộng dễ dàng hơn giữa các nước, làm cho vấn đề di cư,
từ di cư của những người lao động phổ thông đến di cư của lao động có chuyên môn cao là những dòng di cư rất đặc biệt, giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Rồi những vấn đề về hậu quả của các cuộc di cư quốc tế này tại các nước nhập cư đã ảnh hưởng lớn đến chính sách của nhiều nước, khi "nóng", khi "lạnh" Một hiện tượng trong những năm gần đây thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, gắn liền với vấn đề quyền con người, đó là việc ngăn chặn nạn buôn bán người (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em) qua biên giới
Những vấn đề chung và các mẫu hình di cư quốc tế và nội địa đã được nêu
ra ở Cuộc nhóm họp các chuyên gia về phân bố dân cư và di cư của LHQ tại
1 Department of Economic and Social Affairs Manuals on methods of estimating population Manual VI:
Methods of Measuring Internal Migration UN, New York, 1970 72 p
Trang 19Santa Cruz, Bolivia, tháng Giêng 1993 và được công bố trong cuốn "Population
Distribution and Migration" (1998)[134] Nhiều bài báo về di cư quốc tế được
đăng trên tạp chí quốc tế có uy tín là "International Migration", bản quyền của Tổ
chức quốc tế về di cư (IOM), do NXB Wiley-Blackwell xuất bản Những xu
hướng và những vấn đề lớn trong di cư quốc tế đã được phản ánh trong Báo cáo
di cư thế giới 2010 của IOM với phụ đề: Tương lai của di cư - nâng cao năng lực
để thay đổi1
Tổ chức OECD, vừa công bố nghiên cứu "International Migration
Outlook 2011" (Di cư quốc tế toàn cảnh 2011) với chủ đề "Di cư trong thế giới hậu khủng hoảng", trong đó các phân tích về xu hướng di cư quốc tế đã đề cập đến những người di cư vĩnh viễn, những lao động nhập cư tạm thời, các vấn đề liên quan đến thế hệ con/cháu của người nhập cư và cư dân ngoại kiều ở các nước OECD, vai trò của người nhập cư trong vấn đề tạo việc làm, cũng như việc phát triển chính sách di cư ở các nước này Ngoài ra còn có thể kể đến hàng loạt công
trình nghiên cứu khác như: "Migration in a globalised world" [133] do Cedric
Audebert, Mohamed Kamel Dorai làm chủ biên Trong công trình này các tác giả
đã chứng minh rằng các mẫu hình di cư đã thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa; các vấn đề mới nảy sinh đối với những người nhập cư và các nước nhận người nhập cư, đặc biệt là ở các xã hội hậu công nghiệp; những vấn đề về di cư và phát triển; di cư cưỡng bức; di cư và sự cố kết xã hội,
Cao ủy LHQ về người tị nạn UNHCR hàng năm đều công bố báo cáo toàn cầu về tình trạng người tị nạn, trong đó có các báo cáo về các quốc gia riêng rẽ(3) Các số liệu về tình trạng tị nạn (nơi người tị nạn ra đi, số người tị nạn trong các trại tị nạn) đều được công bố và ta có thể lập dễ dàng bản đồ các vùng nóng trên thế giới từ số liệu trong phần mềm Microsoft Encarta World Atlas được cập nhật hàng năm
- Nghiên cứu về các vấn đề di cư trong nước Có thể nói đây là mảng
nghiên cứu lớn nhất, phong phú nhất về di cư (đôi khi còn dùng thuật ngữ di dân), bởi lẽ di cư nội địa gắn liền với những vấn đề phát triển vùng, phân bố lại lực lượng sản xuất trong nước, những vấn đề về môi trường - tài nguyên, và trong
1 IOM - World Migration Report 2010: Building Capacities for Change Publisher: International
Organization for Migration 295 p
3 Có thể tham khảo UNHCR Global Report 2010 trên trang Web của tổ chức này http:// www.unhcr.org/
Trang 20nhiều vùng, nhất là những vùng mới khai phá, thì chính sách di dân nằm ở vị trí trung tâm trong chính sách phát triển vùng Chúng ta có thể gặp được những công trình nghiên cứu về di dân nội địa ở Trung Quốc, ở Gana,… Những vấn đề chung
và riêng của từng quốc gia, và chúng tôi có thể tìm được nhiều bài học kinh nghiệm từ các trường hợp nghiên cứu này Ở Việt Nam, trong khuôn khổ Dự án VIE/95/004, các chính sách di dân ở châu Á cũng đã được nghiên cứu và công bố(1)
● Trong nước: Trong khoảng 20 năm trở lại đây, vấn đề di cư ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã có một số kết quả đã được công bố, trong đó có di cư liên tỉnh, liên vùng, di cư nhìn từ góc độ lịch sử… Các chuyên đề được nghiên cứu tùy theo từng thời kỳ, với những đặc điểm riêng về luồng chuyển cư, địa bàn chuyển cư Các công trình đã tập trung nghiên cứu các
xu hướng di cư nông thôn - thành thị, di cư nông thôn - nông thôn Địa bàn nghiên cứu có thể là cả nước, các vùng lớn hay trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trong những năm sau thống nhất đất nước cho đến đầu thập kỉ 90 của thế kỉ
XX, quá trình đô thị hóa ở nước ta còn diễn ra rất chậm chạp, thậm chí có thời kì
có dòng người hồi cư từ thành phố về nông thôn sau chiến tranh, hơn nữa việc di dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới là chủ yếu, nên trong thời kì này, các nghiên cứu chủ yếu là về dòng di cư nông thôn - nông thôn Có thể kể ra một số
nghiên cứu điển hình: Đỗ Minh Cương (1998) - Di cư nông thôn đến nông thôn
thực trạng và giải pháp; Nguyễn Thị Bích Hà (2002) - Phân tích thực trạng di dân đến Đắc Lắc và ảnh hưởng của nó tới phát triển kinh tế - xã hội; Phạm Bách
Hợp - Thực trạng và giải pháp vấn đề di dân tự do ở Bình Phước Trong khuôn
khổ dự ánVIE/93/P02 do Bộ Lao động và Thương binh chủ trì đã công bố kết quả
nghiên cứu “ Di cư tự do đến Đồng Nai và Vũng Tàu” Hầu hết các Chi cục phát triển nông thôn các tỉnh trong vùng ĐNB đều có “Báo cáo một số chủ trương,
giải pháp giải quyết tình trạng di dân”, phục vụ cho công tác điều hành của địa
phương, những vùng kinh tế mới
Cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, phát triển khu vực dịch
1Xem: Đỗ Văn Hòa (chủ biên) Chính sách di dân ở Châu Á NXB Nông nghiệp, 1998
Trang 21vụ, cũng như do sự chênh lệch trong phát triển vùng, giữa nông thôn và thành thị, cũng như những thay đổi trong chính sách quản lí đô thị, nên dòng di cư nông thôn đến đô thị ngày càng diễn ra ở qui mô lớn, có nhiều tác động KT-XH đến sự phát triển của đô thị Chính vì thế, di cư nông thôn - thành thị với các khía cạnh khác nhau là chủ đề cho nhiều nghiên cứu Có thể kể ra ở đây: Doãn Mậu Diệp,
Trịnh Khắc Thẩm (1998), Di dân nông thôn – đô thị ở Việt Nam: bản chất – mối
quan hệ và chính sách quản lý Doãn Mậu Diệp (1998), Di dân nông thôn vào đô
thị: Loại hình và giải pháp (trường hợp đô thị Hà Nội); Nguyễn Văn Tài và các
cộng sự (1998), Di dân tự do nông thôn - thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh;Đỗ
Thị Minh Đức (2004), Di cư vào các đô thị lớn ở nước ta trong thập kỉ 90 của thế
kỉ XX Phân tích trường hợp TP HCM và Hà Nội
Di cư liên tỉnh, liên vùng cũng được nghiên cứu trong các công trình của
Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh Đức (2001) - Di cư giữa các tỉnh và các vùng
ở Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến cuối thập kỉ 90 của thế kỉ 20 Đỗ Thị Minh
Đức, Nguyễn Viết Thịnh (2008) - Phân tích dòng di cư và tính chọn lọc của di cư
vào các thành phố lớn ở Việt Nam trong thập kỉ 90 (thế kỉ XX) và thập kỉ đầu thế
kỉ XXI
Những vấn đề về tác động tích cực và tiêu cực của di dân đến vùng tiếp nhận, di cư và phát triển, cũng như các đề xuất chính sách có ở tất cả các nghiên cứu kể trên, tuy nhiên có thể thấy rõ, nhất là đối với vùng đô thị, ở các nghiên cứu sau đây: Lê Văn Thành (1998), “Dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị lớn
như Thành phố Hồ Chí Minh” Phạm Thị Xuân Thọ (2002), “Di dân Thành phố
Hồ Chí Minh và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội” Trần Thị
Hương (2005), Dân nhập cư và những tác động của nó đến sự phát triển kinh
tế-xã hội tỉnh Đồng Nai Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh (2010), Di cư ở Hà Nội và những chính sách quản lý
Một số vấn đề chuyên biệt về người di cư đã được các chuyên gia quan tâm
Chẳng hạn, Đặng Duy Anh với “ Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di
cư” Đinh Thái Hà với “Nghiên cứu thực trạng mức sống người lao động nhập cư tại các khu công nghiệp ở TP HCM Đồng Nai và Bình Dương) Nguyễn Bùi Linh
với “Nghèo đô thị” Năm 2004, Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra về người di
Trang 22cư cả nước Kết quả là ra đời cuốn Chuyên khảo về di cư nội địa và đô thị hóa ở
Việt Nam, các chuyên đề: Di dân và sức khỏe, Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống, Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam Viện
kinh tế thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ dự án VIE/93/P02 cũng đã công
bố công trình “ Di dân, nguồn lực, việc làm và đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí
Minh” Các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, 2009 đều có các nội dung liên quan đến tình trạng nhập cư trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra
Riêng về vùng ĐNB, do đây là vùng thu hút mạnh các luồng nhập cư ngay
từ lúc hình thành nên được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhiều nhất Các nghiên cứu về di cư ở vùng thường được đặt trong khung cảnh chung về di cư của cả nước Do bối cảnh phát triển KT-XH của các tỉnh trong vùng khác nhau, trình độ phát triển không đồng đều, nên việc đánh giá vấn đề di cư và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển KT-XH ở vùng trên quan điểm của địa lí KT-XH cho đến nay vẫn còn có nhiều khía cạnh còn bỏ ngỏ
4 Hệ thống các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm được sử dụng trong Luận án
Đề tài nghiên cứu vận dụng hệ thống các quan điểm và phương pháp đặc trưng của địa lí học như: quan điểm lãnh thổ, quan điểm hệ thống, quan điểm tổng hợp, quan điểm phát triển bền vững…
Quan điểm lãnh thổ được sử dụng trong nghiên cứu Luận án: Khi nghiên
cứu di cư, tác giả đặt vùng nghiên cứu trong không gian nhất định - Di cư nội địa
ở Việt Nam, di cư giữa các vùng kinh tế, di cư giữa các tỉnh, các huyện (di cư giữa các cấp hành chính)
Luận án đã đặt vùng ĐNB vào trong không gian Việt Nam và trong mối quan hệ với các vùng kinh tế khác: TD&MNPB, ĐBSH, BTB&DHMT, Tây Nguyên và ĐBSCL Vùng là một đơn vị khép kín có ranh giới rõ ràng Để đảm báo tính so sánh được cả về không gian và thời gian của các sự kiện, tác giả Luận
án đã tính toán lại các số liệu điều tra trước đây theo vùng ranh giới 6 vùng hiện nay (như sơ đồ của TCTK và của Bộ KH&ĐT) Trường hợp các tỉnh trong vùng ĐNB cũng tương tự - Các số liệu điều tra dùng để so sánh đều phải thống nhất
Trang 23trong không gian chung của vùng hiện nay (gồm 6 tỉnh - Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu và TP HCM) Đối với di cư ngoại vùng, tính toán chi tiết đến cấp tỉnh và cấp vùng; đối với di cư nội vùng sẽ được tính toán chi tiết đến cấp tỉnh trong phạm vi của vùng và chi tiết đến cấp huyện trong phạm vi của tỉnh
Quan điểm hệ thống: Vận dụng quan điểm này, Luận án coi khu vực
nghiên cứu là một vùng trong hệ thống các vùng của Việt Nam, là một cá thể của một khu vực lớn hơn và gồm nhiều khu vực nhỏ hơn nó
Khi nghiên cứu di cư ở vùng ĐNB, chúng tôi coi đây là một vùng kinh tế của Việt Nam, vùng có mối quan hệ chặt chẽ, đồng cấp, bình đẳng với 5 vùng kinh tế còn lại Vùng bao gồm 6 tỉnh, thành (sau đây được gọi là tỉnh) Các hệ thống lớn nhỏ hoàn chỉnh trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì thế khi đưa ra một chính sách nhằm tác động đến di cư của vùng hoặc của một tỉnh nào đó cần phải xem xét hệ quả của nó đến các đơn vị trong hệ thống Khi đề xuất tác động vào một nhân tố nào đó nhằm hạn chế hoặc tăng cường xuất hoặc nhập cư cũng cần phải xem xét tác động dây chuyền của chúng đến nhân tố khác của các vùng kinh tế trong cả nước và các tỉnh trong vùng
Quan điểm tổng hợp: Khi nghiên cứu di cư, ngay từ khi tìm các nhân tố
ảnh hưởng đến di cư, chúng tôi xem kết quả di cư là tổng hợp các nhân tố cả tự nhiên và kinh tế - xã hội, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mức độ di cư,
mô hình di cư của khu vực nghiên cứu là kết quả tổng hợp của các nguyên nhân nói trên Tác động của di cư là tác động tổng hợp, tác động vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến mọi ngành kinh tế, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các giải pháp cho
di cư là tổng hợp đồng thời của các giải pháp vừa ngắn hạn, vừa dài hạn, vừa kết hợp giữa các giải pháp của các địa phương với các giải pháp vĩ mô của vùng, của quốc gia
Quan điểm phát triển bền vững: quán triệt quan điểm phát triển bền vững
có nghĩa là khi nghiên cứu di cư, khi đề xuất những giải pháp phải đảm bảo phát triển bền vững cho vùng lãnh thổ gồm 3 lĩnh vực: phải phát triển kinh tế, ổn định
xã hội và bảo vệ môi trường Di cư sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
Trang 24tế của vùng nghiên cứu và các vùng khác Di cư sẽ làm thay đổi dân số cục bộ, đột biến – dân cư tăng hoặc giảm nhanh dễ làm mất cân bằng sinh thái, làm tổn hại đến tính bền vững của môi trường, đến cộng đồng dân cư nơi đi và nơi đến Vì thế cần phải quán triệt quan điểm này khi đưa ra những khuyến nghị và xây dựng chính sách cho di cư
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thực địa: Thực địa được tiến hành ở các địa bàn đặc thù,
các địa bàn có tính chất đại diện từ góc độ di cư và quan hệ với sự phát KT-XH Trên địa bàn của ĐNB, khi nghiên cứu di cư nội vùng, chúng tôi đã cố gắng tiến hành thực địa ở cả nơi xuất cư và nơi nhập cư Các nghiên cứu thực địa đã được tiến hành nhiều đợt, từ những đợt thực địa khám phá, phát hiện vấn đề đến những đợt thực địa theo chuyên đề, phân tích sâu, nhằm kiểm chứng những giả định những giả thiết, sau đó tổng kết và đưa ra những nhận định khái quát Việc lựa
chọn các địa bàn thực địa thường mang đặc điểm là địa bàn điển hình Các hộ gia đình được lựa chọn có tính ngẫu nhiên và có kết hợp với việc đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau
Khi nghiên cứu di cư ở ĐNB, trong gần 4 năm, tác giả đã nhiều lần đi thực
tế ở các vùng ngoại thành TP HCM một số xã của các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu để khảo sát di cư của vùng Ngoài ra tác giả cũng đã đến tìm hiểu một số nơi điển hình của nông thôn vùng BTB&DHMT và vùng ĐBSCL để tìm hiểu về những thông tin liên quan đến những người nhập cư
đến ĐNB và những người di cư ngược
+ Phương pháp thống kê, bao gồm thống kê mô tả để phân tích các đặc trưng
chung của các luồng di cư và thống kê suy luận để lập các mô hình thống kê
Số liệu sử dụng chủ yếu là số liệu của TCTK, Cục thống kê các tỉnh có liên quan, trong đó nguồn số liệu chính là số liệu của các các cuộc TĐT 1999 và 2009, các chuyên khảo và các cuộc điều tra về di cư Ngoài ra Luận án còn sử dụng số liệu của các cuộc điều tra khác như: Điều tra về biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình hàng năm; các chuyên khảo về di cư; các cuộc điều tra di cư giữa kỳ; một
số cuộc điều tra của các ngành khác, như các cuộc điều tra của các sở nông
Trang 25nghiệp, sở công nghiệp, của công an các địa phương có liên quan Các số liệu trên được xử lí lại theo các đơn vị hành chính hiện nay và theo mục tiêu nghiên cứu
+ Phương pháp GIS – Bản đồ: Nhằm tổ chức, quản lí và kết xuất các kết
quả phân tích địa lí của nội dung nghiên cứu, chủ yếu bằng phần mềm MapInfo để xây dựng các bản đồ, biểu đồ chuyên dụng, biểu đồ minh họa Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng khác (như phần mềm PEOPLE 3.01) để tính toán
+ Phương pháp chuyên gia: Do nghiên cứu có tính chuyên ngành, nên việc
tham khảo các ý kiến của các chuyên gia là cần thiết, đặc biệt trong dự báo các xu hướng di cư gắn liền với qui hoạch phát triển KT-XH của vùng và của cả nước, cũng như tính đến các tác động của liên kết khu vực
+ Phương pháp phân tích, so sánh: Các số liệu thu thập và tập hợp sẽ được
sắp xếp, phân loại và phân tích, so sánh nhằm rút ra những kết luận Các số liệu sẽ được phân tích, so sánh theo không gian và thời gian nhằm tìm ra sự khác biệt về mặt địa lý, tìm ra những kết luận có tính qui luật của di cư
Trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã phân tích, so sánh các nhân
tố ảnh hưởng đến di cư của 6 vùng kinh tế và của 6 tỉnh trong vùng ĐNB để tìm ra lợi thế so sánh các nhân tố nói trên làm cơ sở cho việc tìm ra các nguyên nhân và những giải pháp của di cư
5 Những đóng góp mới của Luận án
- Tồng quan các nghiên cứu đã có trong và ngoài nước từ đó xây dựng cơ sở
lí luận cho di cư và vận chúng vào nghiên cứu ở ĐNB
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư và làm sáng tỏ những lợi thế của chúng đối với di cư ở ĐNB (cả nội vùng và ngoại vùng)
- Điều tra thực trạng quá trình di cư ngoại vùng và di cư giữa các tỉnh trong vùng Kết quả nghiên cứu đã cho ta thấy rõ bức tranh di cư của Vùng trong vòng
20 năm trở lại đây
- Làm rõ ảnh hưởng của di cư đến sự phát triển KT-XH ở ĐNB với tác động tích cực và tiêu cực Các ảnh hưởng được phân tích cho 3 nhóm ngành: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ ở các tỉnh trong Vùng
Trang 26- Đề xuất định hướng cho di cư ở ĐNB
+ Các cơ sở xây dựng định hướng bao gồm: Chức năng của vùng ĐNB trong tổng thể phát triển KT-XH của cả nước, quan điểm phát triển và mục tiêu
- Dự báo di cư ở vùng ĐNB
+ Kết quả dự báo di cư cho ngắn hạn : Từ năm 2009 đến năm 2024
+ Kết quả dự báo di cư cho dài hạn : Từ năm 2024 đến năm 2034
6 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong 3 chương
• Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về di cư và ảnh hưởng của nó đến
Trang 27Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DI CƯ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ-XÃ HỘI
1.1 Di cư
Trong thiên nhiên, hiện tượng di cư gắn liền với tập tính của nhiều loài động vật (chim, thú) Đó là hiện tượng tự nhiên, đặc biệt là di cư theo mùa như di trú
tránh rét, tìm nguồn thức ăn, tránh thảm họa tự nhiên,… Trong lịch sử loài người,
di cư là một hiện tượng xã hội diễn ra liên tục, ở tất cả các châu lục và ở tất cả các dân tộc Tuy nhiên, các nguyên nhân, động lực của di cư, qui mô di cư và khoảng cách di cư đã thay đổi lớn trong lịch sử
Di cư là thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển của con người Khái niệm di cư
có thể được các nhà địa lí định nghĩa không giống nhau, nhưng bản chất thường
giống nhau ở đặc điểm: sự thay đổi nơi định cư, từ đơn vị hành chính này sang
đơn vị hành chính khác, trong một thời gian tương đối dài Tuy nhiên về thời gian
rời bỏ hoặc hội nhập thường không được thống nhất Theo Mangalam và Morgan (1968) thì di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người dân ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lí khác”[70] Theo Lee (1966) thì di cư là “sự thay đổi nơi thường trú” Năm 1973 Liên Hiệp Quốc đưa ra định nghĩa coi người
di cư dài hạn được hiểu là người có ý định ở lại nơi mới đến từ 12 tháng trở lên Định nghĩa này cũng còn một số những nhược điểm như: Người di cư sau khi đến nơi ở mới do nhiều lí do khác nhau có thể thay đổi ý định và do đó không thể xem họ là
người di cư dài hạn, định nghĩa này cũng chưa nói lên được thế nào là dân di cư
Nếu trong cuộc đời của một con người, nơi họ đang cư trú (định cư) không phải là nơi họ được sinh ra, thì họ đã từng là người di cư, Tuy nhiên, nếu xét ở trong một khoảng thời gian nhất định (thường là liên quan đến các cuộc điều tra dân số), liên quan đến di cư trong nước, nếu một người không thay đổi phường/
xã họ cư trú trong khoảng thời gian qui định (1 năm, 5 năm), thì người này được xác định là không di cư, số còn lại là người di cư, có thể phân ra thành di cư nội
Trang 28huyện, di cư nội tỉnh, di cư liên tỉnh Di cư giữa các nước được gọi là di cư quốc
tế Để mở rộng khái niệm di cư, nhất là ở các đô thị, gắn với sự di chuyển lao động là chủ yếu, người ta có phân chia ra di cư theo mùa (tạm thời); di cư con lắc (thực ra không phải là di cư theo đúng định nghĩa thông thường) giữa nơi ở và nơi làm việc, nhất là giữa nội thành và ngoại thành; di cư dài hạn, di cư ngắn hạn…
Trong công tác điều tra biến động dân cư hay Tổng điều tra dân số, tùy theo bối cảnh, mà việc xác định người di cư có khác nhau Chẳng hạn, để điều tra biến động dân số trong năm, thì ứng với câu hỏi: "12 tháng trước thời điểm điều tra, nơi thường trú của ông/bà là?: 1/ Cùng xã; 2/ Cùng huyện; 3/ Cùng tỉnh; 4/ Tỉnh khác; 5/ Nước ngoài" ta sẽ được các tình trạng di cư của người trả lời là: 1/ Không di chuyển; 2/ Di chuyển trong huyện; 3/ Di cư trong tỉnh; 4/ Di cư liên tỉnh; 5/ Di cư quốc tế Cũng trong bối cảnh này, thì tất cả những người thay đổi thời gian cư trú từ 12 tháng trở lên đều là người di cư (lưu ý rằng trong 12 tháng trước khi điều tra, họ có thể đã di chuyển qua một số đơn vị hành chính trước khi đến đơn vị hành chính cuối cùng) Ở nước ta, trong các cuộc Tổng điều tra dân số
và nhà ở hiện nay, thì câu hỏi về tình trang di cư lại là "5 năm trước thời điểm điều tra, nơi thương trú của ông/bà là?: 1/ Cùng xã; 2/ Cùng huyện; 3/ Cùng tỉnh; 4/ Tỉnh khác; 5/ Nước ngoài" Trong trường hợp này, chỉ những người từ 5 tuổi trở lên mới được xác định tình trạng di cư, và chỉ những người thay đổi nơi thường trú hiện nay so với 5 năm trước mới được coi là người di cư Những hiểu biết này là quan trọng để so sánh các dữ liệu về biến động dân số từ các nguồn khác nhau Cũng lưu ý thêm là ở nhiều nước, trong đó có nước ta, việc quản lí hộ khẩu (nhất là ở các thành phố, thị xã) có nhiều thay đổi, số người được chuyển đến và được nhập hộ khẩu chỉ chiếm một phần trong số người di cư đến
1.2 Phân loại di cư
Di cư là hiện tượng KT-XH phức tạp, vì thế để phân tích rõ hơn các nguyên nhân, xu hướng, tác động của di cư, người ta đưa ra một số cách phân loại chính như sau:
1.2.1 Phân loại theo địa bàn di cư
a/ Di cư quốc tế
Là sự di chuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia, tức là di cư từ nước này
Trang 29sang nước khác Trong đó bao gồm cả các dòng di chuyển của dân tị nạn, hợp tác
và xuất khẩu lao động
Theo Liên Hiệp Quốc thì di cư quốc tế ngắn hạn với thời gian dưới một năm, còn di cư quốc tế theo kiểu dài hạn được tính từ hơn một năm trở lên
b/ Di cư nội địa
Là quá trình di cư diễn ra giữa các vùng trong nội bộ của một quốc gia hay một đơn vị hành chính Tùy theo đơn vị hành chính của mỗi nước mà phân chia khác nhau Ở Việt Nam có thể phân chia: di cư nội vùng, sự di cư ngoại vùng, nội tỉnh, liên tỉnh Di cư nội địa có liên quan rất chặt chẽ với sự mất cân đối trong cung, cầu về lao động giữa các địa phương, sự phân bố lại lực lượng sản xuất trong phạm vi đơn vị hành chính, vùng hay cả nước, sự khai thác các vùng đất mới, sự chênh lệch trong phát triển vùng, sự phát triển của các đô thị…
1.2.2 Phân loại theo tính chất của tổ chức di cư
Di cư có tổ chức là một dạng di cư theo kế hoạch để thực hiện các chính
sách hoặc các chiến lược do Nhà nước vạch ra nhằm đạt được mục đích phát triển KT-XH Di cư có tổ chức thường được Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và những người di cư thường được nhận tài trợ về tài chính và các điều kiện
ưu đãi khác nhằm ổn định cuộc sống ở những vùng đất mới trong một khoảng thời gian ban đầu Trong lịch sử, di cư có tổ chức đã từng diễn ra kéo dài nhiều năm, qui mô lớn Tuy nhiên, mặc dù có tổ chức, có sự hỗ trợ của chính quyền, nhưng không phải mọi cuộc di cư đều thành công, và người di cư vẫn phải mất một thời gian mới có thể hòa nhập vào hoàn cảnh ở nơi ở mới
Di cư tự phát (còn gọi là di cư "tự do"), đây là dạng di cư không tổ chức
mà hoàn toàn do cá nhân người di cư tự quyết định Các nhân tố KT-XH hay sự biến đổi môi trường đều chỉ là các tác nhân để người chuyển cư cân nhắc và quyết định Người di cư chịu tác động của "lực hút" ở nơi họ định đến và chịu tác động của "lực đẩy" ở nơi họ xuất cư (theo mô hình lý thuyết của Lee) Tuy nhiên quan
hệ giữa lực hút và lực đẩy hết sức phức tạp và quan hệ này là rất động, và ảnh hưởng này có tính chất rất cá thể và cũng có đặc điểm địa lí rất rõ nét Điều này giải thích tại sao trong một nhóm người di chuyển từ vùng A đến vùng B, thì có
Trang 30một bộ phận trụ lại được, còn một bộ phận thì không trụ lại được, có thể trở lại quê cũ hay lại đến một vùng C nào đó….Trong xã hội hiện đại thì di cư tự phát (tự do) chiếm vai trò ngày càng lớn hơn,
Di cư bắt buộc (cưỡng bức) diễn ra trong hoàn cảnh bắt buộc do các biến
cố về chính trị, quân sự, hoặc do thiên tai…
Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác, trong đó đáng chú ý là cách phân loại dựa vào nguyên nhân chính của di cư Dựa vào ngyên nhân chính, một
số tác giả phân ra di cư công nghiệp (thực ra đó là di cư nông thôn-thành thị), di
cư nông nghiệp (là di cư nông thôn-nông thôn) hay di cư tôn giáo…Căn cứ vào hướng chuyển dịch của dòng di cư có thể phân ra: Di cư nông thôn-nông thôn, di
cư nông thôn-đô thị, di cư đô thị-nông thôn, di cư đô thị-đô thị
1.3 Một số thước đo di cư
Việc đo lường di cư phải dựa trên các cơ sở dữ liệu lớn, thường là từ các cuộc điều tra mẫu (có thể suy rộng) của các cuộc điều tra biến động dân số hàng năm hay điều tra toàn diện (Tổng điều tra dân số) Vì thế, trong Luận án sử dụng một số thước đo di cư được sử dụng trong điều tra dân số ở nước ta Lưu ý rằng trong các cuộc Tổng điều tra dân số 1999, 2009, phân tích tình hình di cư trong 5 năm trước thời điểm điều tra
- Tỉ lệ nhập cư được biểu thị bằng số người nhập cư từ các đơn vị lãnh thổ khác tới đơn vị lãnh thổ này, trong thời gian quan sát (5 năm) tính trên 1000 người dân có độ tuổi từ 5 trở lên tại nơi đến
- Tỉ lệ xuất cư được biểu thị bằng số người xuất cư khỏi một đơn vị lãnh thổ trong thời gian quan sát (5 năm) tính trên 1000 người dân có độ tuổi từ 5 trở lên ở lãnh thổ này(1)
- Tỉ lệ di cư thuần là hiệu số giữa tỉ lệ nhập cư và tỉ lệ xuất cư Nếu tỉ lệ di
1 Sở dĩ tính như vậy, là vì trong bảng hỏi của Điều tra dân số, có câu hỏi: "Trong thời gian 5 năm trước thời điểm điều tra, nơi thường trú của ông bà là…" do vậy, những trẻ em chưa đủ 5 tuổi sẽ không được tính vào trong phân tích tình trạng di cư Tương tự, trong trường hợp tính biến động dân cư trong năm, thì trẻ em dưới 12 tháng không được tính trong tình trạng di cư Sự khác biệt trong thông tin về nơi thường trú trước thời điểm được đề cập đến (ví dụ, 5 năm trước) và nơi thương trú tại thời điểm điều tra sẽ cho biết vê luồng chuyển cư, qui mô xuất cư và nhập cư đối với một lãnh thổ, cũng như các chỉ tiêu về tỉ lệ nhập cư, tỉ
lệ xuất cư,… Việc xử lí cơ sở dữ liệu bằng các phần mềm thống kê như SPSS dễ dàng cho được các kết quả này
Trang 31cư thuần là dương, thì lãnh thổ nghiên cứu là vùng nhập cư, còn trong trường hợp
tỉ lệ di cư thuần là âm, thì đây là vùng xuất cư
- Tổng tỉ suất di cư: tính bằng tổng của tỉ lệ xuất cư và tỉ lệ nhập cư ở một đơn vị lãnh thổ Chỉ tiêu này phản ánh mức độ biến đông dân số chung của lãnh thổ này Chẳng hạn, có hai đơn vị hành chính có tỉ lệ di cư thuần đều thấp, nhưng
ở nơi có tổng tỉ suất di cư thấp, dân cư nói chung ít biến động (ít chuyển đi, chuyển đến), còn ở nơi có tổng tỉ suất di cư lớn thì biến động dân cư trong thời kì quan sát là lớn
Nếu thời gian quan sát là một năm (trong trường hợp điều tra biến động dân số hàng năm), thì tỉ lệ nhập cư được tính bằng số người nhập cư từ các lãnh thổ khác đến lãnh thổ này trong 12 tháng trước thời điểm điều tra trên 1000 người
có độ tuổi từ 1 tuổi trở lên ở lãnh thổ này Tương tư, có thể nêu định nghĩa về tỉ lệ xuất cư,…xuất cư, tỉ lệ di cư thuần
- Tỉ lệ di cư theo độ tuổi: Bằng số người di cư ở độ tuổi nhất định trong thời gian quan sát tính trên 1000 người dân có độ tuổi đó ở lãnh thổ được nghiên cứu (cả nước, một đơn vị hành chính) Chỉ tiêu này rất hữu ích khi phân tích tính chọn lọc của di cư, và đặc thù này cho từng loại hình di cư (ví dụ, nông thôn - thành thị, di cư liên tỉnh hay nội tỉnh, di cư của nam giới và nữ giới)
- Tỉ lệ người nhập cư trong tổng số dân của lãnh thổ (tính bằng phần trăm) phản ánh những lãnh thổ có sự biến động thành phần xã hội của dân cư nhiều hay
ít trong thời kì quan sát, thậm chí là tác động có tính tích lũy do tỉ lệ người nhập
cư lớn so với người dân sở tại
- Tỉ lệ gia tăng dân số chung = (tỉ lệ sinh - tỉ lệ tử vong) + (tỉ lệ nhập cư - tỉ
lệ xuất cư); Nói khác đi: Gia tăng dân số chung = Gia tăng tự nhiên + Gia tăng cơ học Trong nhiều trường hợp các tỉ lệ này được tính trung bình cho thời kì với các
số liệu ở thời điểm đầu và cuối kì quan sát
- Ngoài ra còn nhiều chỉ tiêu khác nhằm phân tích từng khía cạnh xã hội - nhân khẩu học của người di cư (như nghề nghiệp, tình trạng việc làm, tình trạng sức khỏe, tôn giáo, trình độ văn hóa, quê quán…) Các chỉ tiêu này cũng có thể dùng để phân tích quá trình hòa nhập của người di cư vào địa phương mà họ
Trang 32chuyển đến, cũng như các đặc điểm của mạng lưới xã hội trong di cư (một vấn đề rất lí thú về phương diện xã hội học)
Trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu muốn dự báo về di cư, tuy nhiên, đây không đơn thuần là dự báo nhân khẩu học, mà nền tảng của dự báo này lại là dự báo KT-XH, vì thế trong Luận án này, chúng tôi chỉ có thể dự báo một số xu hướng di cư có thể xảy ra trong vài thập kỉ tới ở ĐNB, mà không tính toán cụ thể
1.4 Khái quát một số lí thuyết tiêu biểu về di cư
Như chúng ta biết di cư là một hiện tượng tự nhiên của xã hội Lí do di chuyển của con người rất khác nhau, tuy nhiên nó vẫn tuân theo một số qui luật nhất định Các nhà khoa học đã cố gắng đi tìm qui luật của chúng và đã xây dựng một số lí thuyết về di cư Có thể nêu ra 2 lí thuyết kinh điển nhất mà cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị, đó là lí thuyết Ravenstein và lí thuyết Lee
1/ Phần lớn các cuộc di chuyển diễn ra trên một khoảng cách ngắn
2/ Giới nữ chiếm đa số trong số các di chuyển khoảng cách ngắn
3/ Đối với mỗi dòng di cư đều có những dòng di cư ngược
4/ Sự di chuyển từ các vùng sâu, vùng xa vào thành phố thường phần lớn diễn ra theo các giai đoạn
5/ Động cơ chính yếu của di cư là động cơ kinh tế [70]
1.4.2 Lí thuyết Lee
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu Bogue Donald J (1969) trong sách
Principles of Demography (1) cho rằng con người có xu hướng thích ở nguyên tại nơi họ đang ở, chừng nào xuất hiện nhu cầu thúc bách họ phải di chuyển do nơi ở
1 Dẫn theo Dudley L Poston, Jr., Leon F Bouvier Population and Society: An Introduction to
Demography Cambridge University Press, 2010, tr 174
Trang 33hiện tại không đáp ứng nhu cầu này của họ, họ cảm thấy không thể chịu được nữa
Họ kì vọng ở nơi ở mới các nhu cầu này được đáp ứng tốt hơn Cũng như E Lee (1966), D.J Bogue phân biệt các nhân tố lực đẩy và các nhân tố lực hút đối với hiện tượng di cư Các nhân tố lực đẩy (migration push factors), chẳng hạn như nạn thất nghiệp, bị miệt thị, vợ chồng không được ở bên nhau, các thảm họa tự nhiên như lụt, bão,… Các nhân tố lực hút (migration pull factors) như cơ hội có việc làm, học hành, thu nhập, môi trường sống tốt hơn, gia đình đoàn tụ,
Lee E S (1966) [126] đã đưa ra mô hình di cư, theo đó, ông phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến di cư thành các nhóm sau đây: 1/ các nhân tố có liên quan đến nơi xuất cư; 2/ các nhân tố có liên quan đến nơi nhập cư; 3/ các trở ngại giữa nơi đến và nơi đi mà người di cư phải vượt qua; 4/ các nhân tố cá nhân Lí thuyết của Lee có ảnh hưởng rất căn bản đến các nghiên cứu về di cư
Các nhân tố "lực đẩy" là thực tế tại địa phương xuất cư, tạo nên sức ép về mặt tâm lí - xã hội đối với người có quyết đinh di cư, còn các nhân tố "lực hút" là các thực tế tại địa phương mà người di cư có dự định chuyển đến, nhưng những thực tế này đã biến thành kì vọng của người chuyển cư (ví dụ, họ mong muốn ở
đó, họ sẽ có được việc làm, có được thu nhập cao hơn nơi xuất cư, có được tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế tốt hơn, ) Lực đẩy và lực hút càng lớn, thì các dòng chuyển cư có qui mô càng lớn, và có thể thu hút các luồng chuyển cư ở cự li rất xa (liên vùng, liên quốc gia) Nhưng người di cư có di cư thành công hay không,
Trang 34cũng như họ có quyết đinh di cư hay không, họ phải tính đến các trở ngại mà họ phải vượt qua, cũng như các nhân tố cá nhân Trong nhiều trường hợp, thực tế ở nơi đến chỉ là ảo ảnh (ví dụ, đối với người nông dân nghèo muốn di cư vào đô thị lớn) và các người chuyển cư phải chịu những hậu quả nặng nề do sai lầm trong quyết định chuyển cư
1.5 Các nhân t ố ảnh hưởng đến di cư
Dù các nguyên nhân chuyển cư có liên quan đến các nhân tố điều kiện sống; nhân tố việc làm; thu nhập; khả năng phát triển trong tương lai; phong tục tập quán; các điều kiện tự nhiên…thì chúng ta cũng có thể khái quát chúng thành các nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến hiện tượng chuyển cư Với cách tiếp cận này, trên quan điểm của địa lí học, lưận án sẽ trình bày các nhân tố nói trên trong 2 nhóm nhân tố chính: nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên và nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện KT-XH
1.5.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Trong suốt chiều dài của lịch sử, con người luôn luôn di chuyển khỏi những nơi có điều kiện địa lí khắc nghiệt đến những nơi có điều kiện thuận lợi hơn kèm theo là các cơ hội kinh tế tốt hơn Sự tập trung của con người tại những nơi có môi trường tự nhiên thuận lợi cũng thu hút các hoạt động kinh tế đến đó Khi những hoạt động kinh tế tập trung sẽ tạo ra sức hút di cư, tăng nhập cư Ngược với những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, những nơi khắc nghiệt sẽ là những khu vực xuất cư Nhìn chung địa lí tự nhiên bất lợi thường làm tăng khoảng cách kinh tế, giảm thương mại hàng hóa và dịch vụ, dòng lao động, vốn và cả thông tin qua đó ảnh hưởng đến di cư Đó chính là ảnh hưởng tổng quát nhất của điều kiện
tự nhiên đến di cư
Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hiện tượng di cư thông qua các nhân
tố sau: vị trí địa lí, các điều kiện về khí hậu, địa hình và đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản
+ Vị trí địa lí: là nhân tố quan trọng ở mọi giai đoạn của cả quá trình di cư
Khi nói đến vị trí địa lí, ta nói đến cả tọa độ địa lí (vị trí toán học), vị trí địa lí tự nhiên, vị trí địa lí kinh tế, vị trí địa chiến lược, Vị trí địa lí tự nhiên cùng với các đặc điểm của địa hình, điều kiện giao thông vận tải có thể tạo thuận lợi hay trở
Trang 35ngại cho sự chuyển cư Vị trí địa lí kinh tế, bao hàm cả các quan hệ kinh tế (trong
đó có các quan hệ về sử dụng lao động) sẽ tác động mạnh đến sự hình thành các sức hút đối với chuyển cư Nếu như khoảng cách càng gần, mà sự cộng hưởng giữa lực hút và lực đẩy đối với người di cư càng lớn, thì dường như gradient để tạo ra dòng chuyển cư càng lớn Ngược lại, nếu sự cộng hướng giữa lực hút và lực đẩy đủ lớn, thì cũng khắc phục được khoảng cách địa lí, tạo ra các dòng chuyển
cư trên quãng đường dài(1)
+ Các điều kiện về khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, sinh vật và đất đai: Đây là những điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp di cư, bởi vì tài nguyên là cơ sở để
có được sinh kế, nhất là trong điều kiện của nền kinh tế nông nghiệp, người di cư
là nông dân và họ tiếp tục làm việc trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp Ở đâu
mà tiềm năng về đất, rừng còn lớn (có thể tính các chỉ tiêu này bình quân đầu người) thì tiềm năng thu hút người nhập cư càng lớn Tuy nhiên, các chính sách quản lí tài nguyên có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó cho phép người nhập cư có khả năng dễ dàng tiếp cận các nguồn tài nguyên này hay không Cũng cần lưu ý rằng sự thuận lợi hay khó khăn là có tính tương đối, theo quan điểm của người di
cư, chính vì vậy, trong nhiều trường hợp để đánh giá khả năng trụ lại của những người di cư đến các vùng kinh tế mới, người ta hay tìm hiểu đánh giá của người di
cư về điều kiện tài nguyên, điều kiện sống ở nơi mới so với nơi họ xuất cư
+ Tài nguyên khoáng sản: Những khu vực có các nguồn tài nguyên khoáng sản (ở trong đất liền) có trữ lượng lớn, có thể khai thác công nghiệp trong thời gian dài có sức hút đối với các luồng nhập cư, song hành cùng quá trình phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng và chế biến khoáng sản ở đây Chẳng hạn như vùng mỏ than Quảng Ninh Mặt khác, người nhập cư đến các vùng mỏ sẽ có ưu thế là lao động nam Còn những vùng có tài nguyên khoáng sản quý (ví dụ như các mỏ vàng, đá quý) có thể tạo ra làn sóng người nhập cư đến khai thác ồ ạt, có thể làm phát sinh những điểm dân cư tạm thời, mà Kỉ nguyên khai thác vàng, "săn lùng vàng" ở bang California thời kì đầu phát triển CNTB ở Hoa Kì là một ví dụ điển hình
Trang 36Tóm lại, những nhân tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định chuyển cư của người di cư Bởi vì, người di cư nhìn thấy ở đây tiềm năng về sinh kế, sự thuận lợi về môi trường sống Và sau đó, các hoạt động kinh tế dựa trên việc khai thác tài nguyên (các ngành có định hướng tài nguyên, như người ta thường gọi như vậy) được hình thành và phát triển, thực
sự giúp cho người di cư trụ lại, cũng như thu hút các dòng chuyển cư mới
1.5.2 Các nhân tố KT-XH
Khác với sự di cư của động vật (chim, thú) chịu tác động trực tiếp của các nhân tố tự nhiên, sự di cư của con người diễn ra chủ yếu chịu sự tác động của các nhân tố kinh tế và xã hội Các nhân tố KT-XH có nhiều, và có thể nhìn thấy sự tác động đối với hiện tượng di cư và người di cư có thể là trực tiếp hay gián tiếp Sự tác động thuận chiều hay ngược chiều của các nhân tố này tạo nên sự thuận lợi hay khó khăn đối với người di cư, nhất là khi họ phải đưa ra quyết định không mấy dễ dàng là có chuyển cư hay không, lộ trình di chuyển như thế nào, chuyển cư một mình hay là có cả gia đình, Chúng tôi xin nêu một số nhân tố chính sau đây:
- Sự phân công lao động theo lãnh thổ Sự phân công lao động theo lãnh thổ
là một hình thức của phân công lao động xã hội, ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu cùng với sự phát triển của nền kinh tế Ở trình độ phát triển càng cao, thì phân công lao động theo lãnh thổ càng sâu sắc Chính sự phân công theo lãnh thổ mà hệ quả là sự hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa, các trung tâm công nghiệp và dịch vụ, sự phát triển các đô thị, các trục đường giao thông làm bộ khung hình thành ra các vùng kinh tế Ở một nước đang phát triển như nước ta, sự phân công theo lãnh thổ còn dẫn đến sự phân bố lại lực lượng sản xuất trong phạm vi cả nước và ở từng vùng Chính điều này có ảnh hưởng rất sâu sắc tới các luồng di cư (cả về qui mô chuyển cư và hướng chuyển cư)
Sư chênh lệch trong trình độ phát triển của các vùng Sự chênh lệch này có
thể đo được bằng nhiều chỉ tiêu phản ánh sức mạnh kinh tế (GDP), mức sống chung của nhân dân trong vùng (đánh giá qua chỉ tiêu GDP/người/ năm), các điều
kiện phát triển văn hóa - xã hội Có thể nói, sự chênh lệch trong phát triển vùng càng lớn, thì các lực hút (ở nơi phát triển hơn) và lực đẩy (ở vùng có nhiều khó
Trang 37khăn, kém phát triển hơn) càng lớn, và dòng di cư tự phát giữa các vùng càng lớn Khi mà sự chênh lệch vùng quá lớn, thì người di cư càng có quyết tâm vượt qua các trở ngại trên con đường di cư và định cư, và quá trình chọn lọc các đối tượng nhập cư ở nơi đến cũng như sự kiểm soát dòng di cư sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Những ví dụ về những người nghèo ở nông thôn các nước đang phát triển đổ xô vào các đô thị lớn, và làm hình thành nên tầng lớp đặc biệt của dân nghèo thành thị, chủ nhân của các xóm liều (squatter settlements) là phổ biến trên mọi châu lục
Thu nhập và khả năng có việc làm Một động lực quan trọng đối với người
di cư là thu nhập và việc làm Trong cơ cấu kinh tế, ngành nông - lâm nghiệp - ngư có năng suất lao động bị giới hạn bởi các qui luật sinh học chi phối đối tượng lao động là các động vật và thực vật Khả năng tạo việc làm ở nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên nông nghiệp và khả năng đa dạng hóa kinh
tế nông thôn (trong đó có việc phát triển công nghiệp hóa nông thôn) Khả năng lớn hơn nhiều về tạo ra thu nhập (thường là cao hơn trong nông nghiệp) và việc làm chính là trong khu vực công nghiệp và dịch vụ Do vậy các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng lãnh thổ có thể cho ta phán đoán về khả năng tạo thu nhập và việc làm khác nhau giữa các vùng Chỉ tiêu GDP/ người và chỉ tiêu về thu nhập (qua các cuộc điều tra về mức sống dân cư) là những chỉ tiêu kinh tế có ích trong phân tích di cư Một đô thị lớn, với cơ cấu kinh
tế đa dạng, nằm giữa một vùng nông thôn rộng lớn, thuần nông, thì chắc chắn dòng di cư từ các vùng nông thôn xung quanh vào đô thị này là rất lớn
Khả năng có việc làm đương nhiên là một yếu tố hấp dẫn mạnh người di cư Tuy nhiên, yêu cầu của thị trường lao động tạo nên một bộ lọc khắc nghiệt đối với người di cư Chỉ những ai đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì mới
có được việc làm, mới trụ lại được Vì thế, sự chuẩn bị của người di cư để thích ứng được là hết sức quan trọng, và trong không ít trường hợp, họ phải chuyển đổi nghề nghiệp trong quá trình chuyển cư
Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và dịch vụ xã hội thiết yếu tốt hơn Có thể nói, trong xã hội ngày càng phát triển, thì sự chênh lệch trong khả
năng tiếp cận dịch vụ y tế giáo dục, dịch vụ xã hội thiết yếu giữa các nước, các vùng là một nhân tố không nhỏ tác động tới di cư Người di cư không chỉ quan
Trang 38tâm đến vấn đề thu nhập và việc làm cho cá nhân họ, mà cả nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, học tập cho con cái và các thành viên trong gia đình, các dịch vụ xã hội thiết yếu (trong đó có vấn đề cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, cấp điện sinh hoạt, giao thông công cộng) Như vậy, các đô thị lớn có tăng thêm sức hút với người di cư còn do các dịch vụ này tốt hơn, đồng thời việc điều chỉnh sự phân bố các cơ sở dịch vụ này có thể làm thay đổi qui mô và hướng của một số luồng di
cư Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, còn phụ thuộc vào khả năng chi trả của người sử dụng
Đô thị hóa và công nghiệp hóa Trong xã hội công nghiệp (hoặc xã hội đang
trong quá trình chuyển đối từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp) thì đô thị hóa đi song hành với công nghiệp hóa Đô thị hóa có các biểu hiện cơ bản như sự phát triển mạng lưới đô thị, nhất là các đô thị lớn là các trung tâm phát triển của quốc gia hay của vùng; sự gia tăng vai trò của đô thị trong đời sống xã hội; sự tăng của tỉ trọng dân số thành thị trong dân số cả nước hay của vùng, địa phương; sự phổ biến lối sống thành thị trong dân cư, Đô thị hóa luôn trên cơ sở của sự gia tăng cơ học của dân số
đô thị, hay nói khác đi là luôn đi cùng với quá trình di cư vào đô thị (cả di cư nông thôn
- thành thị và di cư thành thị - thành thị) Tùy theo chính sách đô thị hóa của quốc gia,
mà có thể làm thúc đẩy luồng nhập cư vào các thành phố lớn, hay khích lệ dòng nhập
cư vào các đô thị nhỏ và trung bình Đô thị hóa còn đi cùng với sự mở rộng địa giới của các đô thị, sự chuyển đổi các không gian nông thôn ngoại thành thành đô thị Và điều này không tránh khỏi tác động đến các dòng chuyển cư giữa nội thành và ngoại thành, làm tăng dòng di cư nội tỉnh, Sự thay đổi cấu trúc chức năng của các không gian đô thị cũng có tác động tương tự
Các chính sách phát triển KT-XH của quốc gia và của địa phương Ta
thường nói tới các chính sách vĩ mô, tác động chung đến toàn xã hội hay tới một phạm vi rộng lớn, kéo dài Ta cũng nói tới các chính sách của địa phương Tất cả các chính sách này có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp đến người di cư, và người di cư, do hoàn cảnh KT-XH đặc biệt của họ, có thể chịu tác động khác với những người không di cư Trong số các chính sách đa dạng về KT-XH, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các chính sách phát triển vùng, vì các chính sách này ảnh hưởng trên qui mô lớn các lực hút và lực đẩy đối với người di cư, nó có tác động
Trang 39mạnh mẽ điều chỉnh qui mô và hướng di cư, thành phần người di cư, Các chính sách về đô thị hóa và quản lí đô thị cũng có vai trò quan trọng, đặc biệt như hiện nay ở nước ta, di cư vào các thành phố, thị xã đang ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong các luồng chuyển cư Các chính sách tác động trực tiếp đến người di cư, ví
dụ như các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho người di cư sớm hòa nhập vào xã hội ở nơi ở mới, các chính sách về tiếp cận dịch vụ xã hội đối với người di cư, cũng được khảo sát riêng
Sự tương đồng về các điều kiện văn hóa, nghề nghiệp, truyền thống, giữa nơi đi và nơi đến của người di cư, hoặc của cá nhân người di cư đối với cộng động nơi họ đến có ý nghĩa nhất định đối với quyết định chuyển cư và sự hình thành các mạng lưới xã hội trong di cư, một khía cạnh lí thú của xã hội học di cư
1.6 Tính chọn lọc của di cư
Khi nghiên cứu hiện tượng di cư dễ dàng nhìn thấy, không phải ai cũng chấp nhận và có khả năng di chuyển khỏi “nơi chôn nhau cắt rốn” của mình, những người chấp nhận di chuyển và có khả năng di chuyển thường có một số đặc điểm chung cơ bản, những đặc điểm này là do tính chọn lọc của di cư qui định
1.6.1 Chọn lọc về tuổi
Di cư trước hết là di chuyển lao động nên thành phần tham gia di chuyển chủ yếu là những người còn trẻ (những người trong độ tuổi lao động) Điều này cũng dễ hiểu, vì những người trẻ thường dễ hội nhập và thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường sống, tính ì đối với sự thay đổi nghề nghiệp của
những người trẻ kém hơn người nhiều tuổi, do đó người di cư thường trẻ hơn
nhiều so với người không di cư [78], những người lớn tuổi thường ngại di chuyển,
ngại thay đổi nơi sinh sống
Thống kê của TCTK cho thấy, ở Việt Nam có khoảng 60% người di cư nam
và 66% người di cư nữ ở độ tuổi 15 – 29 [80] Tỉ trọng tương ứng của người không di cư là 25% và 29% [75] Chính vì thế những vùng nhập cư sẽ có dân cư trẻ hơn, những nơi xuất cư có dân cư già hơn
Trang 401.6.2 Chọn lọc về giới tính
Giới tính của dân di cư tùy thuộc vào: khoảng cách di chuyển; loại hình di
cư (di cư nông thôn - thành thị hay loại hình khác); mục đích di cư và tùy thuộc vào mục tiêu phát triển KT-XH của vùng cư dân đến Vì thế giới tính có thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử Thường thì tỉ lệ nam/nữ trong dân di cư chênh lệch nhau tùy theo từng thời kì và tùy theo các điều kiện của nơi đi và nơi đến
1.6.3 Chọn lọc về nghề nghiệp và học vấn
Với những đặc tính chung nêu trên tất yếu dẫn đến tỉ lệ dân di cư có học vấn, có tay nghề cao hơn Học vấn và tay nghề còn tùy thuộc vào khoảng cách di chuyển, thường chúng tỉ lệ thuận với nhau Trong đó đáng chú ý là lực lượng dân
có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề bậc cao chiếm tỉ lệ lớn ở những nơi có điều kiện thuận lợi, tỉ lệ này càng thấp ở những nơi khó khăn hơn Người di cư dài hạn thường có trình độ học vấn cao hơn người di cư tạm thời (Guest, 1998)
1.6.4 Chọn lọc về mức độ tham gia lao động
Mục đích chính di chuyển của người di cư là thu nhập và việc làm do đó so với người không di cư thì người di cư tham gia lao động với mức độ cao hơn và ít thất nghiệp hơn [77], vì thế người di cư là cấu thành quan trọng của lực lượng lao động ở những khu vực họ đến
Với những đặc điểm đặc trưng của mình, dân di cư và hiện tượng di cư sẽ
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển KT-XH của một vùng, một quốc gia, ảnh hưởng đó thể hiện trong quan hệ tương tác giữa di cư và sự phát triển KT-XH
1.7 Quan hệ tương tác giữa di cư và sự phát triển KT-XH
Một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến sự phát triển KT-XH
có tính cơ động cao là dân số Một bộ phận quan trọng của dân số là lao động, lao động mang tính cơ động cao nhất đồng thời tuân theo qui luật di chuyển đến nơi
mà chúng sẽ thu được lợi nhuận cao nhất và đó cũng là những nơi khan hiếm những nhân tố này Sự chênh lệch về trình độ phát triển về KT-XH theo lãnh thổ dẫn đến di cư Sự di chuyển lao động do nguyên nhân kinh tế sẽ dẫn đến sự tập trung lớn hơn con người và vốn vào những địa điểm lựa chọn từ đó làm tăng thêm