Hơn nữa giữa hai nhà văn còn có sự tương đồng trong cảm hứng, nội dung và trong việc đi tìm những phương thức nghệ thuật mới cho một cách nhìn mới trong cùng một đề tài,… Thiết nghĩ việc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Thị Thoa
CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN CỦA BẢO NINH VÀ ERICH MARIA REMARQUE
TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Thị Thoa
CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN CỦA BẢO NINH VÀ ERICH MARIA REMARQUE
TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn trên là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa được công bố ở đâu
Tác giả
HV: NGUYỄN THỊ THOA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng các cơ quan đoàn thể gồm: Khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Tp HCM; Phòng Sau đại học; Trường Dân lập Quốc tế Việt Úc đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi rất biết ơn PGS.TS.Phạm Thị Phương, người đã không ngại khó khăn, tận tình hướng dẫn và động viên tôi mọi mặt về tinh thần cũng như những kiến thức quý báu, giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 03 năm 2012
Người thực hiện
Học viên: Nguyễn Thị Thoa
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ 12
1.1 Quá trình tiếp nhận 12
1.2 Khuynh hướng tiếp nhận 17
1.2.1 Khuynh hướng “hiện thực sử thi” 18
1.2.2 Khuynh hướng “hiện thực tâm lí” 21
Chương 2: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ THỂ HIỆN MỘT KĨ THUẬT MỚI VỚI CÁI NHÌN CHIẾN TRANH 29
2.1 Điểm nhìn trần thuật 31
2.1.1 Ngôi kể 32
2.1.2 Thời điểm truyện được kể 38
2.2 Kết cấu trần thuật 42
2.2.1 Kết cấu dòng ý thức 43
Trang 62.2.2 Kết cấu tiểu thuyết tự thuật 49
2.3 Cấu trúc hình tượng nghệ thuật 56
2.3.1 Hình tượng nhân vật 56
2.3.2 Hình tượng không – thời gian 64
2.3.3 Biểu tượng 75
Chương 3: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ THỂ NGHIỆM MỚI VỀ CÁI NHÌN CHIẾN TRANH 86
3.1 Chiến tranh qua cái nhìn của người lính thời hậu chiến 86
3.1.1 Thân phận người lính chiến 89
3.1.2 Số phận con người thời hậu chiến 93
3.2 Giá trị vĩnh hằng cất lên từ hủy diệt 97
3.2.1 Khát vọng sống, khát vọng tình yêu 98
3.2.2 Lý tưởng nhân văn 103
3.2.3 Sự trăn trở, tìm tòi sáng tạo của người nghệ sĩ 106
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7MỞ ĐẦU
Từ xưa tới nay, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn của nhân loại Những
sáng tác nổi tiếng như: Chiến Tranh và Hòa Bình, Phía Tây không có gì lạ…
đã phác họa lại một thời nhưng lại sống lâu cả đời và thành những tác phẩm kinh điển Và mỗi khi nhắc đến văn học của thế kỉ XX, chúng ta không thể nào quên một bộ phận văn học chống chiến tranh rất nổi tiếng trên thế giới với những đại diện tiêu biểu như H Barbuse, E Hemingway và E M Remarque… Nếu như Barbuse được coi là người đi tiên phong trong phong trào chống chiến tranh đế quốc thì Hemingway, Remarque là những tác giả đã góp phần làm cho dòng văn học này phát triển và đạt được những đỉnh cao nhất định trên diễn đàn văn nghệ thế giới Có thể xem những sáng tác của họ
về Thế chiến thứ nhất là những áng văn chương giàu giá trị nghệ thuật và thấm đẫm tính chất nhân văn, tiêu biểu cho bộ phận văn học chống chiến tranh thời bấy giờ Vì vậy khi nói đến văn học viết về Chiến tranh Thế giới thứ nhất, người ta thường nghĩ ngay đến những sáng tác của Hemingway và
Remarque, đặc biệt là tác phẩm Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria
Remarque
Riêng ở Việt Nam, hai cuộc chiến tranh thần thánh đã đi qua, chúng ta được gì và mất gì? Như người “thư kí trung thành” của thời đại, nền văn học Việt Nam đã ghi lại từng bước hành quân của dân tộc qua chiều dài năm tháng từ 1945 đến 1975 Những tác phẩm văn học chiến tranh trong suốt thời
kì bom đạn ấy phần nhiều nói đến những chiến công Nhưng đằng sau mỗi trận bom chẳng lẽ không có nước mắt và nỗi đau buồn, không có cái giật mình hoảng hốt ghê sợ thần chết? Với tư cách là kí giả của tâm hồn, văn nghệ
đã sử dụng “tiếng nói” của mình để ghi lại những cảm xúc chân thực nhất về những năm tháng đạn bom, trong đó có cả ánh hào quang của chiến thắng lẫn
sự đau thương mất mát của một dân tộc Niềm đau ấy được lột tả qua từng số
Trang 8phận của con người cá nhân Đó cũng chính là những thành tựu nghệ thuật không thể phủ nhận của văn học viết về chiến tranh ở Việt Nam từ sau năm
1975 đến nay
1 Lí do chọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài này vì những lí do sau:
(1) Thế kỉ XX được biết đến như một kỉ nguyên tàn khốc nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với những cuộc đại chiến quy mô và có sức huỷ diệt khủng khiếp, để lại vết tích thương tàn trên thân thể và tinh thần của thế hệ bị
quăng vào máu lửa – “thế hệ mất mát” Vì vậy đề tài chiến tranh sẽ còn tiếp
tục nóng trên diễn đàn văn học, được nhìn thấy trong những lối khai thác mới, khơi sâu hơn nữa mối quan hệ phức tạp giữa số phận con người với
số phận dân tộc, số phận nhân loại Qua đó, chúng tôi nhận thấy chiến tranh
là vấn đề lớn và có nhiều ý nghĩa đối với mọi thời đại rất đáng để mọi người quan tâm
(2) Sở dĩ người viết chọn so sánh Nỗi buồn chiến tranh (từ đây xin viết tắt
là NBCT) và Phía Tây không có gì lạ (từ đây xin viết tắt là PTKCGL) vì đây
là những tác phẩm kinh điển, có cách tiếp cận đầy hiệu quả về đề tài chiến tranh Hơn nữa giữa hai nhà văn còn có sự tương đồng trong cảm hứng, nội dung và trong việc đi tìm những phương thức nghệ thuật mới cho một cách nhìn mới trong cùng một đề tài,… Thiết nghĩ việc tiếp cận so
sánh cách nhìn chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque thông qua hai tiểu
thuyết đầu tay của họ là việc làm mới mẻ và có ý nghĩa thiết thực đối với
quá trình nghiên cứu hai nhà văn này
(3) Chấm dứt chiến tranh, hòa bình vĩnh viễn là ước mơ của nhân loại Nhưng ngày nay nhiều nước trên thế giới vẫn đang quằn quại thương đau trong biển lửa của bom đạn chiến tranh Vì vậy những tác phẩm có tinh thần
phản chiến như PTKCGL (Remarque), Chuông nguyện hồn ai; Giã từ vũ khí
Trang 9(Hemingway), NBCT (Bảo Ninh)… lại càng có ý nghĩa thiết thực đối với mọi dân tộc trên thế giới Nó nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại quá khứ để không bao giờ được quên quá khứ, bởi lẽ “quá khứ sẽ quay trở lại với những kẻ quên quá khứ” (Tạ Duy Anh)
2 Lịch sử vấn đề
Tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đi sâu vào việc so sánh Bảo Ninh và Remarque trong cách
“chiêm nghiệm chiến tranh” Rải rác đâu đó trong các công trình nghiên
cứu cũng như trong một số bài viết riêng lẻ từng tác phẩm của từng nhà văn, một số nhà phê bình đã gặp gỡ nhau trong cách đánh giá sơ bộ về nội dung tư
tưởng được thể hiện trong NBCT và PTKCGL Nhiều độc giả ở Mĩ thường
nhắc đến cuốn tiểu thuyết của Remarque để khen ngợi và lấy làm điểm quy
chiếu khi đọc NBCT của Bảo Ninh Leif A Torkelsen (Columbus, OH United States) một độc giả Mỹ đã đánh giá về NBCT như sau:
Liệt kê đầy đủ các phẩm chất của sách này ở đây là không thể Liên quan đến văn học Việt Nam, đây là một tác phẩm ngoại hạng so với tất cả các tác phẩm khác cùng lĩnh vực Liên quan đến văn học chiến tranh thì
chỉ có Phía Tây không có gì lạ là may ra có thể so sánh được Bảo Ninh
đã viết nên bản tụng ca đẹp đẽ đầy ám ảnh về sự trong trắng bị mất đi
trong dòng xoáy chiến tranh
Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh: “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng
của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía
Tây vẫn yên tĩnh của Erich Maria Remarque […] Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn… một thành quả
lao động tuyệt đẹp”
Trang 10Đã có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu khai thác mặt nội dung
tư tưởng và kĩ thuật kể chuyện của từng nhà văn trong từng tác phẩm
Maxwell Geismar trong Writers in Crisis đã đề cập đến vấn đề nhân tính trong sáng tác của Remarque Theo tác giả, Remarque rất chú ý đến phẩm chất của con người trong chiến tranh để lột tả những cú sốc về mặt tinh thần
của bản thân Còn James Dews ở The language of war lại cho rằng chiến
tranh đối với Remarque là sự khủng hoảng thuộc về ngữ nghĩa Sự khủng hoảng này dựa trên sự mất niềm tin về khả năng hiệu quả của ngôn ngữ để liên hệ và can thiệp vào thế giới thực tại hữu hình hay vô hình Ngôn ngữ trở nên vô nghĩa và thất bại trong việc diễn đạt trước sự hung bạo của chiến
tranh
Riêng ở Việt Nam, khoảng đầu những năm 60 của thế kỉ XX,
PTKCGL đã được tác giả Lê Huy dịch và giới thiệu với bạn đọc trong nước Đâu đó trong các công trình nghiên cứu văn học Phương Tây nói chung và văn học Đức nói riêng, các tác giả không thể không nhắc tới Remarque khi đề cập đến văn học chống chiến tranh Tác giả Lê Đình Cúc trong luận án tiến sĩ
Tiểu thuyết viết về chiến tranh của Hemingway đã có những so sánh thú vị
giữa Hemingway và Remarque Theo ông, tác phẩm của họ phản ánh sự chua chát, cay đắng của một thế hệ thanh niên bị Chiến tranh Thế giới nghiền nát
Họ là nạn nhân và đã bị làm vật hi sinh trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu Tương tự, bài “Sự tham dự của nhà văn trong chiến tranh” Vương Trí Nhàn
cho rằng, Remarque ở PTKCGL đã tự nhận mình muốn “viết về một thế hệ bị
chiến tranh giết, tức viết về những người trở thành vật hi sinh, ngay cả khi họ tránh được những loạt đại bác […] hình ảnh con người đối mặt với chiến tranh hiện ra chủ yếu ở dạng những nạn nhân, những kẻ bị chiến tranh làm cho biến dạng mọi vui buồn yêu thích bình thường Chẳng qua họ chỉ như một
hạt cát trong sa mạc, còn hay mất chả có nghĩa lý gì hết” [54]
Trang 11Lương Ngọc Bính trong cuốn Văn học Đức chống phát xít – những
vấn đề mĩ học và thi pháp đã nhắc đến Remarque như chủ soái của một
khuynh hướng nghệ thuật: khuynh hướng hiện thực tâm lí Tác giả đã đánh giá cao “tư tưởng phản chiến” và “giá trị nhân văn” cao đẹp được thể hiện trong sáng tác của nhà văn
Như vậy, PTKCGL (Remarque) không hề xa lạ với độc giả Việt Nam
Nhiều nhà phê bình nghiên cứu trong nước đã có những công trình so sánh tác phẩm viết về Đại chiến Thế giới thứ nhất giữa E Hemingway và E Remarque Từ sau Đổi mới năm 1986, người ta lại bắt gặp đâu đó tư tưởng của Remarque trong nhiều tiểu thuyết hậu chiến nói chung và sáng tác của
Bảo Ninh nói riêng
Trong Thi pháp học hiện đại, Đỗ Đức Hiểu dành một bài viết riêng về NBCT Tác giả đã đối chiếu mô hình tiểu thuyết của Bảo Ninh với một số tiểu
thuyết Châu Âu thế kỉ XX như Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Prout
Trong Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử có đăng bài viết của
TS Nguyễn Đăng Điệp với tựa đề "Kĩ thuật dòng ý thức qua NBCT của Bảo
Ninh" đã đi sâu khám phá kĩ thuật dòng ý thức qua việc nghiên cứu những
giấc mơ đứt gãy, trạng thái ngủ “mở mắt” của nhân vật Kiên Từ đó tác giả rút
ra kết luận về sức hấp dẫn của thiên tiểu thuyết: “Văn Bảo Ninh hấp dẫn
người đọc ở chính khoảng lặng của ngôn từ, ở màu sắc các biểu tượng được dệt lên từ những giấc mơ, những độc thoại của con người về mình và về chính
cõi người” [23, tr.408]
Đào Duy Hiệp trong Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại đã nghiên cứu thời gian trong tiểu thuyết NBCT Một trong những kết luận quan trọng
mà tác giả đã rút ra là: “Chính những thủ pháp “sai trật, ngoái lại, đón
trước” ở đây đã dệt nên trong tác phẩm của Bảo Ninh một mạng lưới tâm lí
Trang 12truyện kể được xem như một ý thức về thời gian hoàn toàn rõ rệt và những
mối liên hệ không mập mờ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai” [34]
Nhìn chung, qua những tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tập hợp được thì vấn đề về nội dung, nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết đã được các nhà nghiên cứu từng đưa ra bàn luận trong nhiều năm trở lại đây Tuy vậy việc khẳng định giá trị của cuốn tiểu thuyết vẫn là công việc lâu dài của giới phê
bình và công chúng văn học
Riêng ở nước ngoài, đã có rất nhiều độc giả cùng các tờ báo nổi tiếng
dành nhiều lời đẹp đẽ để ngợi ca sáng tác của Bảo Ninh Như tờ báo Anh The
Guardian đã viết: "Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt xuống Bất kỳ nhà
chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần nên đọc cuốn sách này Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được Nó quá hấp dẫn để xứng được thế" Một nhà phê bình khác táo bạo hơn cho rằng NBCT
vượt lên trên tất cả các tác phẩm văn xuôi của Mỹ đã viết về cuộc chiến Việt Nam Dennis Mansker, thành viên của Hội cựu binh vì hòa bình và hội cựu
binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn sách A Bad Attitude: A Novel
from the Vietnam War , đã bất ngờ khi đọc NBCT Ngày 3/10/2008, ông viết
trong niềm xúc động choáng váng:
Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc về bi kịch của một người lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tính của mình sau mười năm tham chiến Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề "binh nghiệp" Tôi đặc biệt giới thiệu nó cho các bạn bè cựu binh của mình; Bảo Ninh thực sự là
"bạn chiến đấu" của chúng tôi, bất kể việc anh ta đứng ở phía bên kia
Hết sức giới thiệu [52]
Trang 13Như vậy, NBCT cũng không hề xa lạ với giới phê bình nghiên cứu lẫn
độc giả trong nước cũng như ở nước ngoài Đâu đó trong các bài viết về văn học Việt Nam từ sau những năm Đổi mới người ta đã ít nhiều đề cập đến tiểu thuyết của Bảo Ninh Trong giới hạn của công trình này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu và liệt kê hết những “chặng lịch sử vấn đề” về tình hình nghiên cứu tác phẩm mà chỉ tìm hiểu ở cấp độ khái quát nhằm phục vụ trực tiếp cho
đề tài so sánh “cách nhìn” chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque thông qua
hai tác phẩm NBCT và PTKCGL
Trong giáo trình Văn học Phương Tây, khi bàn về Hemingway và
Remarque, Đặng Anh Đào đã khẳng định có một mạch nối giữa họ và các nhà văn thời hậu chiến Đối lập với cái tàn khốc, ác liệt của chiến tranh là
những tình bạn, tình yêu như những “sợi chỉ xanh óng ánh” đang bị hủy hoại giữa làn mưa bom bão đạn Môtip này nổi lên trong hầu hết các tác phẩm của ông với một kết cục vô hậu, đau thương và sự tan vỡ của tình yêu cùng những giá trị thiêng liêng khác Đây cũng chính là điều mà ta bắt gặp trong dòng
chảy của tiểu thuyết NBCT Tình yêu và chiêm nghiệm chiến tranh là hai
mạch chủ đề song song, cùng hòa quyện vào nhau làm nên tác phẩm này
Chung quy lại, đã nhiều bạn đọc nhận ra sự gặp gỡ của hai tác
phẩm nhưng hầu như không có bằng cớ nào cho thấy Bảo Ninh có “ảnh hưởng” sáng tác của Remarque Tuy các sách báo, công trình nghiên cứu đã
có đề cập đến vấn đề so sánh hai tiểu thuyết trên nhưng chỉ dừng ở những nhận định rất chung và thoáng qua chứ chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể cách nhìn về chiến tranh của hai nhà văn xem có gì tương đồng và khác biệt Chính vì vậy, trên cơ sở tìm hiểu và tổng hợp những ý kiến, nhận định của các độc giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi đã nhận ra sự tương đồng thú vị trong cách nhìn chiến tranh của hai
Trang 14tác giả để từ đó đi vào nghiên cứu đề tài: Chiến tranh qua cách nhìn của Bảo
Ninh và Remarque trong NBCT và PTKCGL
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là hai tiểu
thuyết NBCT của Bảo Ninh và PTKCGL của Remarque Ngoài ra, để đảm bảo
tính khách quan, ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng, chúng tôi có đọc tìm hiểu thêm về đề tài văn học chiến tranh được viết trước đó cũng như bây giờ qua một vài tác phẩm của Việt Nam lẫn của nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã thực hiện đề tài với sự kết hợp nhiều phương pháp khác
nhau, trong đó có một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp cho luận văn trở nên
chặt chẽ, logic, hiệu quả cao Đồng thời nó còn giúp cho người nghiên cứu nhìn nhận các vấn đề khái quát, có định hướng, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá có sức thuyết phục Nhìn chung chúng tôi sử dụng phương pháp này trong toàn luận văn, nhưng chủ lực vẫn tập trung ở chương 2
Phương pháp đối chiếu so sánh: là phương pháp chủ đạo xuyên suốt
bài nghiên cứu Phép so sánh dùng để làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách độc giả nhìn nhận, đánh giá tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque Đồng thời so sánh nhằm khắc hoạ những điểm giống và khác nhau trong quan điểm cũng như lối trần thuật của hai nhà văn
Phương pháp kí hiệu học: Phương pháp này được dùng để so sánh kí
hiệu ngữ nghĩa của những hình ảnh tượng trưng, biểu tượng được sử dụng
trong NBCT và PTKCGL, từ đó thống kê tần suất xuất hiện của các hình ảnh
để đi đến kết luận chung Bên cạnh đó, phân tích những hình thức có giá trị biểu đạt nội dung để làm cơ sở tìm ra những nét đặc thù trong cách nhìn của
Trang 15hai nhà văn Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 2, mục 2.3.3
Phương pháp tâm lí học: Áp dụng lĩnh vực tâm lí học sáng tác vào việc
nghiên cứu nhằm góp phần lí giải cách nhìn chiến tranh của hai nhà văn so với hiện thực lịch sử trước đó Phương pháp này được rải đều trong cả ba chương, nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở chương 1, mục lí giải cách tiếp cận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque từ phía người đọc
Phương pháp tiếp nhận văn học: Đây là phương pháp chủ yếu được
dùng trong chương 1, nhằm tập hợp những ý kiến có xu hướng đối lập từ các nhà phê bình để lí giải và đánh giá tác phẩm một cách khách quan hơn
Phương pháp loại hình: phương pháp này được áp dụng như một
phương pháp nòng cốt của luận văn Bằng việc xác định loại hình tiểu thuyết
và tìm ra những sự gặp gỡ thú vị giữa hai tác phẩm thuộc loại "hiện tượng văn học" viết về đề tài chiến tranh, người viết tiến hành so sánh hai cách nhìn chiến tranh được biểu hiện trong hai tác phẩm này
5 Đóng góp của luận văn
Thông qua đề tài, người viết hi vọng sẽ góp một phần nhỏ trong cách nhìn nhận, tiếp cận đối với hai tác phẩm rất nổi tiếng viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque Bên cạnh đó, luận văn cũng phần nào khái quát lại những ý kiến tản mạn xung quanh hai tác phẩm văn học thuộc loại “hiện tượng văn học”, để thấy được nét độc đáo trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như Remarque
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo ra, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương, chiếm khoảng 2/3 số trang viết,
trong đó chương 2 và chương 3 được xác định là những chương trọng tâm;
chương 1 làm tiền đề cơ sở cho hai chương trên
Trang 16Chương 1 – được trình bày từ trang 12 đến trang 29, chương này đi vào
tìm hiểu một vài ý kiến tiếp nhận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque từ
trước tới nay vì NBCT và PTKCGL là hai tác phẩm từng gây tranh cãi xôn
xao từ phía các nhà phê bình lẫn công chúng văn học Từ đó, chúng tôi cũng thử lí giải một vài nguyên nhân dẫn đến những cái nhìn trái chiều ấy Chương này được coi là tiền đề cơ sở cho các chương sau trong luận văn vì từ đây chúng ta sẽ phần nào nhìn thấy sự khác biệt trong tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của hai nhà văn thông qua bản tập hợp những đánh giá về tác phẩm của các nhà phê bình Đồng thời chương 1 còn góp phần làm rõ tên đề tài là “cách nhìn chiến tranh” của hai nhà văn vì đây là vấn đề chính mà người
ta thường đem ra bàn luận khi đề cập đến văn bản cũng như so sánh hai nhà
văn với nhau
Ch ương 2 – được trình bày từ trang 30 đến trang 87 chiếm một vị trí
trọng yếu trong bài luận Nội dung chính của chương này là so sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết trước và trong chiến tranh, để làm rõ sự khác biệt căn bản về nghệ thuật xây dựng truyện của Bảo Ninh và Remarque so với các tác giả đi trước, nhằm tô đậm nét mới lạ, độc đáo trong lối viết của hai nhà văn Đồng thời chúng tôi cũng tập trung so sánh hai tác phẩm để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt về mặt nghệ thuật của mỗi tác phẩm Thông thường, người ta sẽ tập trung làm sáng tỏ nội dung trước khi đi vào nghệ thuật nhưng ở công trình này, chúng tôi đưa chương nghệ thuật lên trước vì người viết muốn nhấn trọng tâm của đề tài là sự cách tân về mặt nghệ thuật của hai
tác phẩm, đặc biệt là trường hợp NBCT – một "thành tựu cao nhất của văn
học Đổi mới" (Nguyên Ngọc) Sở dĩ đề tài chiến tranh trong tác phẩm của hai
ông khác với đề tài văn học chiến tranh trước đó là do sự khác biệt về quan điểm Và để làm rõ điểm nhìn của mình, nhà nghệ sĩ đã phải sáng tạo một lối viết khác – lối viết thiên về chiều sâu – đòi hỏi sự đồng tình, đồng điệu và sự
Trang 17đồng sáng tạo từ phía bạn đọc
Chương 3 – từ trang 88 đến trang 112 nhằm tái hiện lại những nội
dung thể hiện cách nhìn chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque Qua đó, người viết cũng đặt các tác phẩm trong thế đối sánh để nhận biết điểm giống
và khác nhau trong cách nhìn của từng nhà nghệ sĩ cũng như sự khác biệt so với tiểu thuyết chiến tranh trước đó Điều này không những góp phần lí giải toàn bộ sự đổi mới trong nội dung của hai tác phẩm thời hậu chiến mà còn làm sáng rõ tư tưởng phản chiến được thể hiện trong tiểu thuyết của Bảo Ninh
và Remarque
Trên thực tế, đề tài này có những khả năng cấu trúc khác, tùy theo dụng ý của người trình bày Người viết chọn lối “diễn dịch” và khai thác từng phần theo bố cục của tiêu đề Theo chúng tôi, hướng này khả thủ nhất cho
việc làm rõ mục đích chủ yếu của luận văn là nêu bật được cách chiêm
nghiệm chiến tranh trong hai tiểu thuyết của hai nhà văn thời hậu chiến dù họ
có những khoảng cách nhất định về thời gian và không gian Để đảm bảo tính
hệ thống rõ ràng và tính chính xác khách quan thì khai thác theo bố cục của tiêu đề là hợp lí hơn cả Bên cạnh đó, cấu trúc như trên sẽ mở ra chiều hướng thuận lợi trong khi tìm hiểu cho cả người nghiên cứu lẫn người đọc vì giữa các chương đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: nếu như nội dung chương sau bổ sung và làm rõ ý tưởng cho chương trước, thì nội dung chương trước làm tiền đề cơ sở cho chương sau
Trang 18Chương 1
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ
QUA SỰ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ 1.1 Quá trình tiếp nhận
Như một luồng gió mới thổi vào đề tài văn học chiến tranh, tác phẩm của Remarque và Bảo Ninh đã nhanh chóng chinh phục độc giả, gợi ra
sự quan tâm đặc biệt đối với người hâm mộ lẫn những người phản đối
tác phẩm Ngay từ năm 1991, Hoàng Ngọc Hiến đã viết: “Cách tiếp cận đề
tài của Bảo Ninh giống như một sự liều lĩnh Có thể tác giả sẽ bị trả giá nhưng trong khi không ít người còn viết thiên về cách nghĩ bằng những
“thuận lí”, “một nghĩa”, “bảo đảm an toàn”, thì cuốn tiểu thuyết khác
th ường của Bảo Ninh là “cái được” của văn chương” Thế chiến thứ nhất
cũng như cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã qua đi nhưng cho đến nay đứa con tinh thần của hai ông vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi, gây xôn xao dư luận trong nước suốt mấy mươi năm qua Có nhiều lời ngợi ca dành cho tác phẩm, nhưng cũng không ít bạn đọc công kích, phản đối nội dung của câu chuyện Nhờ những phân tích mổ xẻ trái chiều này, tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque ngày càng được quảng bá rộng rãi hơn Việc tạo ra “sự thay đổi tầm đón đợi [34, 3]" từ phía công chúng trong bản thân nội dung câu chuyện
đã góp phần kiến tạo giá trị cho tác phẩm Sáng tác chỉ mới là quá trình vận động tư tưởng Phải kinh qua người đọc, giá trị, ý nghĩa tiềm năng của văn bản mới trở thành hiện thực
Hơn 10 năm sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, tác phẩm
của Remarque mới chính thức ra mắt bạn đọc Với 20 triệu bản, in bằng 50 thứ tiếng và được coi là “cuốn tiểu thuyết hay nhất về Thế chiến thứ
nhất” (Mencken), đó là PTKCGL của Erich Maria Remarque Tác phẩm
chính thức ra mắt bạn đọc vào ngày 31/1/1929 Ngay trong lần xuất bản đầu
Trang 19tiên, tiểu thuyết PTKCGL đã phát hành được hơn triệu bản ở Đức Tại Anh,
Mỹ, sách còn bán chạy hơn Tới năm 1932, PTKCGL đã được dịch ra 30 thứ
tiếng, bán tới hơn 8 triệu bản Cùng với những thế hệ nhà văn cùng thời như Hemingway, Remarque trở thành một nhà văn được ngưỡng mộ không chỉ ở Đức mà còn trên khắp các nước Châu Âu Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng được
Emest Johannsen và Lewis Milestone chuyển thành phim "Đây được xem là
bộ phim nói đầu tiên trong lịch sử điện ảnh, chấm dứt thời kì phim câm Bộ phim giành giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và Cảnh quay xuất sắc
nhất cùng năm đó Ngoài ra phim còn có hai đề cử không thành công là Quay
phim xuất sắc nhất và Kịch bản chuyển thể hay nhất Năm 1979, tác phẩm
được chuyển thể thành phim truyền hình bởi đạo diễn Delbert Mann chỉ đạo
và nam diễn viên Richard Thomas đóng vai Paul Baumer Hiện một dự án làm phim mới, Daniel Radcliffe dự kiến sẽ đóng vai chính trong phim, dự
định khởi quay năm 2012 (theo Từ điển vi.wikipedia) Cuối tháng 2 năm
2009, giới văn học Đức đã kỉ niệm tròn 80 năm ngày ra đời của tác phẩm văn học bất hủ này
Tuy mang lại danh tiếng và tiền bạc nhưng PTKCGL cũng đã mang
đến cho nhà văn không ít những rắc rối Ban đầu, tác phẩm từng bị một
nhà xuất bản danh tiếng từ chối (sau đó Samuel Fisher – Giám đốc Nxb đã thú nhận mình sai lầm khi bỏ qua một cơ hội về doanh thu khổng lồ) Remarque phải kí một bản cam kết nếu sách không bán chạy, ông sẽ phải hoàn trả chi phí cho việc xuất bản Bản thân nhà văn mới đầu cũng không dám kí tên thật của mình, mà ghi “Kramer” (đọc ngược của từ Remarque)
Vừa ra đời không được bao lâu, tác phẩm đầu tay của Remarque –
PTKCGL đã gây nên những cuộc tranh cãi gay gắt Nếu như một số nhà
phê bình đánh giá cao cuốn sách và cho đây là một tác phẩm kinh điển nói cuộc Đại chiến Thế giới thứ nhất thì cánh hữu ở Đức lúc đó coi đây như một
Trang 20âm mưu nhằm bôi nhọ lực lượng quân nhân Đức Ngày 12/12/1930, nước Đức cấm chiếu bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm của Remarque Tháng 5 năm 1933, sau khi Hitler lên nắm quyền, sách của Remarque cùng những tác phẩm có tinh thần phản chiến của những nhà văn đương thời đã bị đem ra thiêu rụi Năm 1956, nước Ý cũng ra lệnh cấm chiếu phim này Năm 1939, nhà văn bị tước quốc tịch Đức, bắt đầu sống lưu vong và trở thành công dân
Mĩ năm 1947 Sau này, nhà cầm quyền ở Đức đã đặt tên Remarque cho một con đường lớn ở quê nhà và mời gọi ông về lại quê hương Dù rất cảm động
nhưng Remarque đã không bao giờ trở về thành phố quê hương vì cảm thấy thành phố mới xây lại này không còn là những gì thân quen mà nhà văn đã
mô tả trong PTKCGL hay trong Đường về bia mộ đen nữa
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng có cuộc đời với nhiều biến động không kém gì PTKCGL của Remarque Cuốn sách được in lần đầu
tiên vào năm 1987 với nhan đề Thân phận của tình yêu do các biên tập viên
nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được tái
bản với tiêu đề do chính tác giả đặt tên từ trước Nỗi buồn chiến tranh Đến năm 1991, NBCT trở thành một trong ba tác phẩm được giải văn xuôi của Hội
Nhà văn Việt Nam – một giải thưởng danh giá nhất của làng văn nghệ nước ta trong nhiều năm qua Nhà văn Nguyên Ngọc – người lãnh đạo Hội nhà văn
hồi đó đã từng đánh giá cao thành quả sáng tạo của Bảo Ninh trong NBCT
Ông viết:
Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm
lẽ sống hôm nay Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình Cuốn sách này không mô tả chiến tranh Nó "mô tả" một cuộc kiếm tìm nặng nhọc chính hôm nay Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm Trách nhiệm lương tâm Cuốn sách nặng nề này không bi quan Vẫn thấm
Trang 21sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng hy vọng tiềm tàng, chính là vì thế Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hy vọng [52]
Và chỉ sau một thời gian ngắn, tác phẩm đã được đông đảo bạn đọc
trong và ngoài nước yêu thích Tác phẩm được thảo luận trên báo Văn Nghệ với những lời khen ngợi nức lòng Không đầy một năm sau khi xuất
hiện, cuốn sách đã được nhiều người tỏ ý muốn dịch ra tiếng nước ngoài Bản
dịch Anh ngữ The Sorrow of War (bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hảo,
Frank Palmos hiệu đính) được xuất bản tại Úc năm 1993 có lẽ là bản dịch đầu
tiên của Nỗi buồn chiến tranh và từ đó, cuốn sách bắt đầu cuộc chu du trên
khắp thế giới, được dịch hơn 10 ngôn ngữ
Nhưng bên cạnh những lời ngợi khen lại là phong ba bão táp Từ lẻ
tẻ vài lời chê bai đến bùng nổ một phong trào phê phán Tiểu thuyết đầu tay của Bảo Ninh bị coi là tiêu cực, thể hiện cái nhìn sai lệch về cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Nhiều tác giả cũng như nhà phê bình đã lên tiếng phản đối và công kích tác phẩm Tiêu biểu có thể lấy ý kiến của ông Đỗ Văn
Khang, Tiến sĩ mỹ học và Phó tiến sĩ ngữ văn "Ông Khang phẫn nộ vì Bảo
Ninh đã gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là "cuộc chiến tranh Việt - Mỹ", đã thể hiện người lính quân đội nhân dân như một lũ thất trận chứ không phải những người mang tinh thần "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước [52]" Thậm chí có một số nhà văn trong ban giám khảo của Hội nhà văn đã lên tiếng phủ nhận giải thưởng cũng như những phát ngôn của mình trước đó
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn từng cho rằng: “Nếu thời trước thì cứ thế
cuốn sách sẽ chìm dần trong bóng tối và chỉ cần bị ném ra khỏi các thư viện nữa thôi là có thể coi như bị xóa sổ hoàn toàn [52]" nhưng may mắn, nó được
ra mắt vào đúng thời kỳ Đổi mới
Đến năm 2003, tác phẩm này được tiếp tục in lại ở Việt Nam với nhan
đề Thân phận của tình yêu, sau mới chính thức đổi thành NBCT Mới đây,
Trang 22tiểu thuyết NBCT cũng lọt vào top 50 tác phẩm văn học nước ngoài dịch sang
tiếng Anh hay nhất trong nửa thế kỷ qua Ở vị trí thứ 37, cuốn sách được đứng
chung với những kiệt tác lớn của thế giới như Cái trống thiếc (Gunter Grass),
Nghệ nhân và Margarita (Mikhail Bulgakov), Chiến tranh và Hòa bình (Lev
Tolstoy), Trăm năm cô đơn (Gabriel Garcia Marquez) Gần đây nhất, tiểu
thuyết NBCT đã được dịch và giới thiệu ở Iran và là cuốn tiểu thuyết Việt
Nam đầu tiên được dịch ra tiếng Ba Tư
Tính đến nay, NBCT đã đoạt nhiều giải thưởng lớn, được dịch và giới
thiệu ở nhiều quốc gia trên thế giới Những giải thưởng được trao gần đây nhất là giải thưởng Châu Á (Nikkei Asia Prizes) lần thứ 16 của báo kinh tế Nhật Bản và giải sách hay (với 100% số phiếu đồng thuận của hội đồng bình chọn) trong nước năm 2011 Dịp này, vì lý do riêng, nhà văn Bảo Ninh không
vào TP HCM để nhận giải thưởng được Ông gửi đến Ban tổ chức Diễn từ,
trong đó có đoạn:
Tôi hàm ơn các thầy của tôi ở trường Viết văn Nguyễn Du là giáo
sư Hoàng Ngọc Hiến, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà văn Nguyễn Minh Châu, giáo sư Phạm Vĩnh Cư Đối với riêng bản thân tôi, các thầy chính
là hiện thân của sự khai sáng và thức tỉnh trong đổi mới, nhờ các thầy mà tôi có được cho riêng mình tinh thần nhân văn tự do trong sáng tạo văn
học, một cách cụ thể là nhờ các thầy mà tôi đã có thể viết cuốn Nỗi buồn
chiến tranh [30]
Và kể từ tháng 5 năm 2011, Nxb Trẻ đã chính thức mua và độc quyền
tái bản tiểu thuyết NBCT của Bảo Ninh
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh cũng đã lọt vào tầm ngắm của các nhà
làm phim trong nước như Hải Ninh, Khánh Dư Nhưng vì vấp phải nhiều trở
ngại khác nhau, họ đành bỏ dở dự án chuyển thể cuốn sách thành phim Đến năm 2008, sau hơn 10 năm qua lại giữa Việt Nam và Mĩ, đạo diễn Nicolas
Trang 23Simon cũng nhận được sự đồng ý của nhà văn Bảo Ninh và giấy phép của Bộ
Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam cho kịch bản phim NBCT Nhưng đến nay bộ phim được chuyển tải từ NBCT vẫn chưa ra đời Nhiều ý kiến cho rằng
có sự trở ngại từ phía tác giả vì ông không đồng ý kịch bản cũng như việc lựa chọn nhân vật để xây dựng linh hồn của bộ phim
Mặt khác hiện trạng nghiên cứu sáng tác của Bảo Ninh (có đề cập tới
tiểu thuyết NBCT) trong nhà trường cũng diễn ra khá sôi động trong nhiều
năm trở lại đây đặc biệt là ở các trường đại học phía Bắc qua một số luận án, luận văn cao học như: Lưu Thị Thanh Trà (luận văn thạc sĩ đại học Vinh) với
luận văn: Đề tài chiến tranh chống Mĩ trong truyện ngắn của Bảo Ninh; Một
số công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ về Văn học Việt Nam sau 1975
cũng đề cập đến trường hợp NBCT như công trình nghiên cứu cấp bộ của PGS TS Nguyễn Thị Bình (Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ
thời điểm đổi mới đến nay), Phạm Xuân Thạch (Nỗi buồn chiến tranh – viết
về chiến tranh thời hậu chiến – từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp),…
Nhìn chung, NBCT và PTKCGL là hai tác phẩm thuộc loại “hiện tượng văn học”, trở thành những cuốn sách khá nổi tiếng về đề tài chiến tranh Bởi chúng không chỉ viết về “bom đạn và mưu mô quân sự” mà còn
“viết về trái tim con người" (Tim O'Brien) Sáng tác của Bảo Ninh và
Remarque không những có giá trị về nội dung tư tưởng mà còn có tác dụng
vô cùng quan trọng trong việc giáo dục thẩm mĩ, mở rộng chân trời đón nhận từ phía độc giả của ngày hôm qua, hôm nay và cả mai sau
1.2 Khuynh hướng tiếp nhận
Văn học thế kỉ XX – thế kỉ giáp ranh của nhiều khuynh hướng nghệ
thuật – sản sinh ra nhiều cách tiếp nhận khác nhau, và mỗi cách tiếp nhận ấy đều hữu lí với những nền tảng cơ sở lí luận và thực tiễn của mình Vì vậy
Trang 24đã có những phản ứng trái chiều ra đời như một lẽ tất yếu trong cách nhìn
nhận NBCT và PTKCGL Trên cơ sở tổng hợp những bài phê bình, đánh giá
hai tác phẩm của độc giả từ trước tới nay, luận văn sẽ phân ra hai khuynh
hướng chủ đạo thể hiện cách tiếp nhận trái chiều ấy: khuynh hướng hiện thực
sử thi và khuynh hướng hiện thực tâm lí
1.2.1 Khuynh hướng “hiện thực sử thi”
Như M Bakhtin đã nói, thể loại sử thi vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ
trong văn học hiện đại "Nó thấm xuống tận nền móng các thể loại sâu xa đến
nỗi vẫn tiếp tục sống ở đó cả trong các thời đại sau này – cho đến tận thế kỉ XIX và thậm chí lâu hơn nữa [7,43]" Quả thật, cho đến nay thể tài sử thi
không còn là tên gọi một thể loại văn học mà nó trở thành cảm hứng chủ đạo chi phối nguyên tắc sáng tác của văn học viết về đề tài chiến tranh ở Việt Nam cũng như trên thế giới Nguyên tắc phản ánh hiện thực sử thi có đặc điểm: hướng về những đề tài và xung đột mang tầm vóc lịch sử – dân tộc; đặt
ra những vấn đề liên quan đến vận mệnh cộng đồng; tái hiện hiện thực bằng kinh nghiệm cộng đồng (nếu phản ánh đời sống cá nhân từ góc độ cộng đồng thì vẫn có tính sử thi); khắc hoạ hình tượng người anh hùng hay con người lý tưởng của dân tộc trong một bức tranh hiện thực hoặc có quy mô sử thi hoành tráng hoặc có tính sử thi ở cảm hứng tư tưởng, ở chủ đề Vì thế, thể tài sử thi
có thể xuất hiện ở bất cứ thời đại nào có những biến cố lịch sử trọng đại liên quan đến vận mệnh sống còn của dân tộc, hoặc quyết định những bước ngoặt lịch sử của mỗi cộng đồng Với những tiêu chí này, không chỉ tiểu thuyết mà toàn bộ nền văn học Việt Nam 1945 –1975 là một nền văn học mang tính sử thi – một nền văn học mang nội dung lịch sử dân tộc và có hình thức nghệ thuật thấm đẫm chất sử thi
Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945 – 1975 viết về đề tài chiến tranh cách mạng nằm trong cấu trúc của thể tài dân tộc – lịch sử đã lấy cảm hứng sử thi
Trang 25làm cảm hứng chủ đạo của nó Trong phức hợp của cảm hứng tư tưởng này, cảm hứng anh hùng là nguồn ánh sáng phi thường rọi chiếu vào tất cả Các loại cảm hứng khác đều xuất hiện trong sự chi phối của nó Đó vừa là chủ trương, đường lối của các nhà lãnh đạo vừa là kim chỉ nam hành động “trên mặt trận văn hóa nghệ thuật” của các văn nghệ sĩ Người đọc đương thời với
“tầm đón đợi” sẵn có cũng dần hình thành cho mình một hướng tiếp nhận theo “khuynh hướng hiện thực sử thi” là điều không ngoại lệ Khuynh hướng tiếp nhận này được thể hiện rõ nét trong cách cảm nhận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque qua ý kiến của bạn đọc cùng thời
Khi hai tác phẩm PTKCGL (Remarque) cũng như NBCT (Bảo Ninh)
vừa ra đời, một số nhà phê bình cùng các chính trị gia đã cho rằng tác phẩm
của Remarque và Bảo Ninh là "lệch lạc, cực đoan, nhổ nước bọt vào lịch sử"
Bên cạnh sức lôi cuốn diệu kì của PTKCGL, tiểu thuyết này đã bị
nhiều độc giả phản đối Đảng Công nhân Đức Quốc gia xã hội chủ nghĩa cho rằng tác phẩm “có hại” với niềm tự hào dân tộc Đức Không chỉ đốt sách,
Đảng phát xít Đức còn tuyên bố: "Như một cuộc phản kích nhằm vào sự phản
bội dưới hình thức văn chương đối với những người lính của cuộc Đại chiến,
và trên tinh thần giáo dưỡng cho nhân dân về sức mạnh của sự thật, tôi quyết định bỏ các tác phẩm của Erich von Remarque vào đống lửa" (theo Từ điển wikipedia) Sau vụ đốt sách đáng hổ thẹn diễn ra vào năm đó, chính quyền Phát xít còn tung ra những tin đồn thất thiệt, nói Remarque là người Pháp lai
Do Thái, sinh ra trong gia đình khá giả chưa từng biết chiến trận là gì Sau
này khi được nhiều người hỏi đến, ông không bình luận gì mà chỉ đáp: "Tôi
chỉ bị hiểu lầm khi người ta cố tình hiểu lầm"
Số phận của bộ phim được chuyển thể kịch bản từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả cũng không kém phần long đong lận đận Lần đầu tiên được công chiếu ở Berlin, Goebbels, người phụ trách công tác tuyên truyền của Đức
Trang 26Quốc xã đã lệnh cho lực lượng "Thanh niên Hitler" xông thẳng vào rạp, ném những bình hơi thối cùng những con chuột bạch và hét lên: "Nước Đức hãy thức tỉnh" Năm 1931, các chính trị gia đã cấm chiếu bộ phim này Không những vậy, nhà văn còn gặp không ít rắc rối trong việc in ấn tác phẩm Theo cuốn nhật kí mới được công bố gần đây, bản thân Remarque cũng như các tác phẩm của ông đã vấp phải không chỉ thái độ định kiến của các nhà phê bình văn học Đức, mà ngay cả sự kiểm duyệt gắt gao từ phía nhà xuất bản Nhà
văn cảm thấy kinh tởm khi phải sửa đổi và cắt bỏ tác phẩm của mình “Một
dân tộc đang tự biện minh” – Remarque thốt lên trong nỗi đau đớn, tuyệt
vọng
Bản thân các đồng nghiệp cũng không mấy ưa thích Remarque Các bạn ông thường tìm cách né tránh chạm mặt trực tiếp nếu vô tình gặp nhau ngoài đường Có thể là vì những người đồng nghiệp không thích lối sống phù phiếm, xa hoa của thế giới điện ảnh Hollywood, nơi mà Remaque trở nên nổi tiếng và kiếm được rất nhiều tiền Từ đó ta phần nào thấy được những xu hướng trái ngược về tư tưởng của thế hệ các nhà văn cùng thời
Tương tự, NBCT của Bảo Ninh cũng bị một số nhà phê bình trong nước
kịch liệt phản đối: “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội” (Đỗ Văn Khang) Đỗ Minh Tuấn trong bài “Văn học cần bảo hiểm cho sự thật lịch sử” cho rằng:
Trong một số tác phẩm viết về chiến tranh chống Mĩ, tiêu biểu là NBCT của Bảo Ninh, đã xuất hiện sự thay máu anh hùng, tước đi những khát vọng cao cả, những cảm quan anh hùng có thực trong đời sống chiến
sĩ của chúng ta trong chiến tranh” và đó là “sự đánh tráo linh hồn nhân danh một tòa án tối cao của chủ nghĩa nhân văn để ép cung và xáo trộn hiện trường lịch sử, sử dụng nhân chứng giả thay cho các nhân chứng
Trang 27thật đã xuất hiện trong các tác phẩm theo thủ pháp nghệ thuật quen thuộc
[87,1]
Không chỉ phê bình nội dung, tác giả còn chỉ trích các sai lầm nghệ
thuật của Bảo Ninh là không đúng khi “ném đi các thủ pháp nghệ thuật cũ,
làm vỡ luôn các bình quý là hình ảnh người anh hùng có thật trong lịch sử”
Chung quy lại Đỗ Minh Tuấn cho rằng: "không thể giản lược chiến tranh
thành một hành trình đơn điệu từ cái nhão nhoét của bùn và máu tới cái nhão nhoét của con bệnh tâm thần và cuối cùng trở thành cái nhão nhoét của văn chương cải lương, mùi mẫn, một chiều [87,2]" Một bài viết khác trong tạp
chí Văn nghệ Quân đội ra tháng 8/1992, nhà văn Nam Hà nói: "Tác giả không phản ánh đúng sự thật, không nói tới hoặc xa lánh miêu tả chủ nghĩa anh hùng, một trong những sức mạnh tinh thần vô địch, đã biến thành sức mạnh vật chất làm nên chiến thắng cuối cùng"
Nếu như ra với thế giới, NBCT trở thành sứ giả chính của văn học Việt
Nam, nhận được nhiều giải thưởng cùng với những lời ngợi khen, thì ở trong nước, cuốn sách đã bị phản đối kịch liệt và vắng bóng trên diễn đàn văn nghệ một thời gian dài
Nhìn chung, câu chuyện của Bảo Ninh và Remarque không được chấp nhận ở phương diện nội dung là chủ yếu Các nhà phê bình thường chú trọng mặt hiện thực lịch sử so với hiện thực được miêu tả trong tác phẩm Và dựa trên tiêu chí hiện thực ấy, sự tiếp nhận của họ không phải là không có phần hợp lí Nhưng có những chỗ, người đọc cần phải uyển chuyển hơn bởi sự đang dạng, phức tạp của cuộc sống hơn là một vài dạng thức cố định mà văn học từng biết
1.2.2 Khuynh hướng “hiện thực tâm lí”
Hiện thực tâm lí là khái niệm được phát sinh ra như một hệ quả của chủ
nghĩa hiện thực, nhằm đi sâu khám phá hiện thực của tâm hồn, một chủ nghĩa
Trang 28hiện thực trong ý nghĩa cao nhất, một chủ nghĩa hiện thực khám phá con người bên trong con người… [67,8]” Trong cuốn Văn học Đức chống phát xít – những vấn đề mĩ học và thi pháp, tác giả Lương Ngọc Bính đã dựa vào
đặc điểm tư duy nghệ thuật của từng nhà văn để tạm phân chia văn học chiến tranh chống phát xít của Đức thành ba khuynh hướng chủ đạo: khuynh hướng hiện thực sử thi, khuynh hướng hiện thực tâm lí (Remarque là đại diện tiêu biểu) và khuynh hướng hiện thực tự sự – tư liệu Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng khái niệm "hiện thực tâm lí" vào việc phân tích và lí giải hướng tiếp nhận của những nhà phê bình có cái nhìn trái chiềuvới tác giả Xét về mặt tâm lí những nhà phê bình theo chiều thuận có cái nhìn tương đối gần gũi với tác giả Họ có sự đồng cảm đặc biệt với hình tượng nhân vật được nhà văn xây dựng trong câu chuyện Cách người đọc cảm nhận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque chủ yếu ở góc độ bi kịch của con người cá nhân Vì vậy, chúng tôi tạm sắp xếp những độc giả có xu hướng
đồng thuận với nhà văn vào một nhóm và gọi tên là khuynh hướng hiện thực
tâm lí
Ngoài ra khuynh hướng này còn có một cách gọi nữa là: “hiện thực được nhận thức lại” Bởi sáng tác của Bảo Ninh và Remarque có một hiện thực khác với những gì mà văn học trước đó phản ánh Nhà văn không phản ánh, không sao chép hiện thực một cách thuần túy, mà sáng tạo ra một hiện thực về cuộc chiến mà họ từng có mặt và đang tiếp tục trải nghiệm Đó là hiện thực tâm linh, một thế giới tâm lí đậm đặc ẩn ức, dằn vặt, một thế giới của vùng mờ vô thức, tiềm thức
So với khuynh hướng hiện thực sử thi, những nhà phê bình theo hướng
hiện thực tâm lí có cách nhìn đồng điệu, đồng tình với nội dung câu chuyện
cũng như những cách tân nghệ thuật mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm
Trang 29Người ta ca ngợi cuốn tiểu thuyết của Remarque là “một tượng đài cho mọi người lính vô danh đã hy sinh”, là “bản di chúc của tất cả những người đã ngã xuống trên chiến trường”… Nhà viết kịch Carl Zuckmayer đánh giá
PTKCGL là một cuốn tiểu thuyết “sẽ được đọc mãi trong mọi thời đại”; còn nhà văn Leonhard Frank quả quyết một tác phẩm như vậy “một trăm năm mới
có một lần” Tính đến hiện nay, giá trị nôi dung và tư tưởng của tác phẩm được nhiều bạn đọc trên khắp thế giới nhiệt tình ủng hộ
Trần Đình Sử trong một cuộc tranh luận trên Tạp chí Văn nghệ Quân
đội (4/1992), với bài viết “Văn học có nhiệm vụ phản ánh hiện thực không”
có nói: Các tác phẩm đạt giải thưởng hội nhà văn năm 1991 trong đó có Thân
phận của tình yêu (NBCT) của Bảo Ninh cho thấy là các tác giả ấy đã "mở rộng giới hạn phản ánh hiện thực tới những miền trước đây còn cấm kị, hoặc còn bị che khuất đi đôi với việc nêu ra những quan niệm táo bạo, giàu sức phát hiện đối với hiện thực Thực chất của vấn đề là cần giải phóng cho nhà văn quyền được đối diện trực tiếp với hiện thực, tự xác định và phát hiện cho mình cái hiện thực có ý nghĩa cần nói to lên cho mọi người" Nhà văn Nguyễn
Quang Thiều khi viết trong TT&VH số ra 28/10/2006 cho rằng: “NBCT đã
chạm vào mẫu số chung của nhân loại – đó là câu chuyện của số phận của mất mát của tình yêu và chiến tranh” Đồng nhất với ý kiến của Nguyễn
Quang Thiều, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn cho rằng: “NBCT không phải
chỉ là một tác phẩm viết về chiến tranh Bản thân tiểu thuyết đã là một cuộc chiến tranh, một thảm họa chiến tranh, một thế giới chiến tranh thu nhỏ nằm trong bi kịch vĩ đại của Một Con Người [66]” Nhà văn Nguyên Ngọc không
những đánh giá cao tác phẩm của Bảo Ninh về mặt nghệ thuật mà còn cho
rằng NBCT là “cuốn sách nghiền ngẫm về hiện thực”
Trang 30Cách tiếp cận này nói như Phạm Xuân Thạch là cách “đọc sâu” để đi vào những “mạch ngầm của văn bản”, tìm ra những vẻ đẹp tiềm tàng bên trong tác phẩm
Một lối đọc có tính soi sáng lẫn nhau như vậy cho phép phát lộ bản
chất đích thực của NBCT, nó không phải là một đối âm của những tượng
đài văn học chiến tranh mà văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tạo dựng qua hai cuộc chiến tranh lớn của lịch sử dân tộc Nó là một sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong
phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử [73]
Sau này có nhiều bài viết khác của các nhà phê bình hải ngoại cũng đưa
ra một số ý kiến tương đối mới lạ trong cách tiếp nhận NBCT Đoàn Cầm Thi
với rất nhiều bài viết khai thác các khía cạnh khác nhau trong tác phẩm, cũng
đề cập một hướng đọc mới:
NBCT, theo tôi, nên được đọc như một tiểu thuyết mà khởi điểm là
sự chia ly, sự chết chóc, của người mình yêu, của cha, của mẹ, của đồng đội, nhưng mục đích chính vẫn là niềm tin hàn gắn, với người con gái bị
bỏ rơi, với người cha không được hiểu, người mẹ không được yêu, với người sống và người chết, với chiến tranh và hoà bình, với quá khứ và tương lai [74]
Còn Thụy Khuê trong “Sóng từ trường”, có viết về NBCT, đã mở đầu bài
viết như thế này:
NBCT là khúc thương ca, tâm ca, tình ca thơ mộng, tuyệt diệu
và tuyệt vọng, hãi hùng và bi thảm; quyến luyến thực tại và ảo giác, cuộc sống và cõi chết, quá khứ và vị lai Trong những tiểu thuyết viết
về cuộc chiến 20 năm, phát xuất từ những nhân chứng phía Nam hay
ph ía Bắc, đây là tác phẩm xâu sa, đớn đau, tàn khốc, bi quan và cũng lạc quan hơn cả [42]
Trang 31Ở nước ngoài người ta đã không ngừng ca ngợi và đặt NBCT của Bảo Ninh bên cạnh PTKCGL của Remarque Tờ Independent, một trong những
nhật báo có uy tín của nước Anh, đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo
Ninh như sau: “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng của người Mỹ, NBCT đi ra từ
chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ
đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh (PTKCGL) của Erich Maria
Remarque [ ] Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn, một thành quả lao động tuyệt đẹp”
Tại sao lại có những ý kiến trái chiều trong cách hiểu tác phẩm của hai
nhà văn đến vậy? Mà cách hiểu nào cũng có phần hợp lí riêng của nó
Văn học thế kỉ XX với sự ra đời của hàng loạt những tác giả tên tuổi cùng với những học thuyết khác nhau trên lĩnh vực lí luận, phê bình và tiếp
nhận văn học NBCT và PTKCGL vốn ra đời trong một cộng đồng văn học sôi
động như vậy ắt không tránh khỏi những luồng đón nhận có xu hướng trái
chiều nhau Với tư cách là chứng nhân của lịch sử, những độc giả cùng thời với nhà văn sẽ đứng ở nhiều góc độ khác nhau để nhìn về cuộc chiến
mà mình đã tham dự Họ vừa là người trực tiếp xả thân hi sinh xương máu
trên chiến trường, vừa là những người may mắn sống sót trở về, sau những năm tháng gian khổ mà oai hùng Có lẽ sẽ không ai quên được những tháng ngày: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Những âm hưởng hào hùng ấy như lời vọng của núi sông chi phối mọi lĩnh vực nghệ thuật từ văn học, hội họa cho tới âm nhạc và lan tỏa trong trái tim mỗi người Dựa trên hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, với những những hiệu ứng
mà nó mang lại, người đọc cùng thời sẽ rất khó để thấy đồng điệu với cách nhìn “phán xét” hay “hoài nghi lịch sử” như Bảo Ninh và Remarque đã biểu hiện trong sáng tác của mình Đó là cơ sở thực tiễn mà những nhà phê bình trái chiều thường nhắc đến khi “công kích nội dung câu chuyện” của hai ông
Trang 32Cách nhìn nhận của họ không phải không có những phần hợp lí, tuy nhiên, văn học là sản phẩm tinh thần, mà tinh thần thì không chỉ tồn tại ở một trạng thái, vì vậy những nhà phê bình trái chiều cần có cái nhìn uyển chuyển, linh hoạt hơn với sự biến đổi “muôn hình vạn trạng” của đời sống thay vì cố định văn học trong một vài dạng thức sẵn có trước đó
Hơn nữa, đây chỉ là một trải nghiệm cá nhân, một câu chuyện được
hư cấu, một cuộc chiến của riêng nhà văn – một người lính sống sót sau
những năm tháng khốc liệt muốn viết lại kí ức của mình như một “thiên mệnh”, hay là “thử nói về một thế hệ bị chiến tranh hủy hoại” Ở đây, tác giả không chủ trương phản ánh hiện thực lịch sử, mà là nhận thức lại quá khứ – một nửa quá khứ đã không được nhắc đến trong văn học chiến tranh trước đó
Vì vậy sẽ là nỗi thất vọng ghê gớm nếu độc giả vẫn giữ nguyên dạng thức đọc vốn đã được hình thành trong quá khứ cũng như việc đem đối chiếu hiện thực được miêu tả trong tác phẩm so với hiện thực lịch sử của đất nước
Cơ sở lí luận mà các nhà phê bình trái chiều dựa vào để đánh giá tác phẩm là đem những tiêu chí của văn học sử thi đối sánh với tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque, bởi cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo bao
trùm toàn bộ nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 “Và nếu cái chất
sử thì ấy có lấn cái đau thương, cái đời thường thì cũng là lẽ đương nhiên và cũng dễ hiểu trong sự cảm nhận của người đọc hôm qua, hôm nay và cả mai sau [77]” Bởi lẽ chính “thời đại anh hùng sẽ sản sinh ra thơ ca anh hùng” (Gorki) Các sáng tác văn học trước đó thường được kết nối chặt chẽ trong trường nhìn của tác giả, nhân vật lẫn người đọc Vì vậy khi ba
trường nhìn kể trên thống nhất thì cũng xuất hiện sự thống nhất về quan điểm
cảm thụ – đánh giá của cả tác giả, nhân vật và bạn đọc Hiện thực được phản ánh vào tác phẩm trở nên nguyên phiến và hoàn kết để chỉ có một cách đánh giá về nó Buồn bã, cô đơn, mất niềm tin – những tình cảm bị coi là
Trang 33“tiêu cực”, chưa bao giờ tồn tại trong văn học chiến tranh giai đoạn 1945 –
1975 Những ai nói về đề tài này có thể coi là giọng ca “lạc điệu” trong cả giàn hợp xướng Nói như vậy không phải là chúng ta phủ nhận những thành tựu mà văn học trước đây đã đạt được Nhưng khác là ở phong cách thể hiện của mỗi nhà nghệ sĩ trong việc biểu đạt thông điệp của mình với nhiều chiều kích khác nhau Nói cách khác, sự lựa chọn miêu tả dạng bi kịch nào phụ thuộc vào điểm nhìn, quan điểm nghệ thuật của nhà văn ấy Xu hướng nhấn mạnh tính bi thương của hiện thực là rất tiêu biểu đối với sáng tác của Remarque Trong hàng loạt các tác phẩm của mình, ông thường mô tả số phận
bi thảm của các nhân vật chính theo mô hình nguồn gốc – diễn biến bi kịch – kết thúc bi kịch Bởi vậy hiện thực mà ông phản ánh mang đậm tính chất cáo trạng chứ không mang chất anh hùng ca chiến đấu Sau này ta gặp lại lối viết tương tự trong văn học chiến tranh Việt Nam từ sau đổi mới, trong đó có nhà văn Bảo Ninh
Bảo Ninh và Remarque gặp nhau ở tư duy nghệ thuật và cách cảm nhận hiện thực dưới góc độ bi kịch tâm lí cá nhân Nhà văn nhìn nhân vật
với tư cách là nạn nhân của hoàn cảnh thay vì sáng tạo ra khả năng khắc phục hoàn cảnh cho nhân vật Điều này dẫn đến sự khác biệt khá căn bản giữa kiểu nhân vật cô đơn với kiểu nhân vật anh hùng chiến đấu trong văn học Mác-xít
Có lẽ vì vậy mà một số nhà phê bình theo khuynh hướng hiện thực sử thi đã
nhận định tác phẩm của Bảo Ninh là sự “thay máu anh hùng”, “tước đi những khát vọng cao cả” của một thời có thực trong lịch sử
Trong khi đó những độc giả đồng thuận thường tìm thấy những mạch ngầm mới lạ ẩn chứa sau nội dung câu chuyện Họ không những
đồng tình, đồng điệu với tác giả về mặt tư tưởng mà còn thấy được vẻ đẹp trong lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ được thể hiện trên văn bản và trong văn bản Toàn bộ tư tưởng, kết cấu, hình tượng nghệ thuật mà nhà văn
Trang 34xây dựng trong câu chuyện đều trở thành niềm hứng thú bất tận với người đọc Họ là những độc giả “được nhắm gửi đến” (từ dùng của Naoman)
Tóm lại mỗi mô hình/dạng thức nghệ thuật mang trong nó một quan
niệm thẩm mĩ riêng chi phối đến những đặc trưng cơ bản về bút pháp Tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque không hẳn là cắt rời quy luật của truyền thống mà là cố gắng làm mới những gì đã có trước đó Tuy vẫn
còn những cái nhìn “dè dặt, hoài nghi” nhưng không thể phủ nhận quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn Vì vậy những sáng tác của họ ngày càng khẳng định vị thế của mình trên diễn đàn văn nghệ khắp trong và ngoài nước
Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự nên nghệ thuật trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong phương thức biểu hiện, nó còn là yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn Điều này được thể hiện rất rõ trong nghệ thuật kể chuyện của Bảo Ninh và Remarque Tác phẩm của hai ông không những đổi mới về mặt nội dung mà còn có những đóng góp không nhỏ
về mặt nghệ thuật đối với nền văn học đương đại nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng Bằng lối viết độc đáo, sáng tạo, Bảo Ninh và Remarque đã
thể nghiệm một kĩ thuật mới về đề tài chiến tranh trong hai tác phẩm NBCT và PTKCGL
Trang 35Chương 2
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA
SỰ THỂ HIỆN MỘT KĨ THUẬT MỚI VỚI CÁI NHÌN CHIẾN TRANH
Nhắc đến văn học Việt Nam những năm 1945 – 1975, người ta thường nghĩ ngay đến một nền văn học mang đậm cảm hứng sử thi Riêng về thể loại tiểu thuyết thời kì này, ta cũng dễ dàng bắt gặp đâu đó một tên gọi rất gần gũi,
thân quen, gắn liền với thể loại này trong suốt mấy mươi năm: tiểu thuyết sử
thi
Tiểu thuyết sử thi có tên gọi quốc tế là roman – épopée Thuật ngữ này
được nhà khoa học Xô viết A.V.Chicherny đưa ra lần đầu tiên và hầu như chỉ được phổ biến ở các nước XHCN Theo định nghĩa về tiểu thuyết sử thi trong
Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử, Lê Bá Hán chủ biên (2006) thì:
Tiểu thuyết sử thi còn gọi là tiểu thuyết anh hùng ca Tên gọi ước
lệ (ghép tên gọi thể loại "sử thi" épopée với tên gọi "tiểu thuyết" – roman)
để chỉ những tiểu thuyết (từ thế kỷ XIX – XX) có dung lượng lớn, thể hiện những đề tài lịch – sử dân tộc Những tác phẩm này vừa là tiểu thuyết, đồng thời vừa có nhiều thuộc tính gần gũi với thể loại sử thi cổ đại hoặc trung đại (tầm bao quát, tính hoành tráng của sự kiện có tầm thời đại, cảm hứng dân tộc hoặc lịch sử, mô tả các sự kiện và xung đột có tính chất bước ngoặt như chiến tranh cách mạng ) [tr.339]
Trong cuốn Tư tưởng và phong cách (1968) A.Siserin quan niệm, tiểu thuyết sử thi là "tiểu thuyết mà từ trong tới ngoài vượt khỏi cái khung của nó,
trong đó, đời tư con người thấm nhuần lịch sử và triết học lịch sử, con người được thể hiện như là một phần tử sống động của nhân dân mình Tiểu thuyết
sử thi nắm bắt những đổi thay của các thời kỳ lịch sử, sự tiếp nối của các thế
hệ, nó hướng tới các số phận tương lai của nhân dân hay giai cấp" [Từ điển
Trang 36văn học, tập 2, tr.390] Và được ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, tiểu thuyết
sử thi đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhìn lại lịch sử văn học thế giới, chúng ta dễ dàng nhận thấy văn học Xô Viết đã có nhiều tác phẩm đạt đến
mức cao về mặt nội dung và hình thức của thể loại tiểu thuyết sử thi: Cuộc
đời Klim Xamghin (M.Gorky), Con đường đau khổ, Pie đệ nhất (A.Tolstoy), Sông Đông êm đềm (M.Solokhop), Bão táp (I.Erenbua), Đội cận vệ thanh niên (Fadeep) v.v Ở Đức, trong hai cuộc Đại chiến Thế giới, tiểu thuyết sử thi cũng được mùa bội thu với những nhà văn Mác-xít tên tuổi như A
Seghers với Cây thập tự thứ bảy; Những người chết còn trẻ mãi; Bruno Apitz với Trần trụi giữa bầy sói … Riêng ở Việt Nam, lâu nay, nhiều nhà nghiên
cứu vẫn dùng thuật ngữ tiểu thuyết sử thi để gọi các tác phẩm có dung lượng
tương đối lớn như: Cửa biển (Nguyên Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi),
S ống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Dấu chân người lính (Nguyễn
Minh Châu), Vùng trời (Hữu Mai)
Chiến tranh đi qua, những người lính trở về với nhân dạng tật nguyền Chưa kịp thích nghi với cuộc sống thời bình, họ lại phải đương đầu với nỗi lo
“cơm áo gạo tiền” trong thời buổi kinh tế thị trường Rất nhiều người rơi vào khủng hoảng, bế tắc Viết trở thành cứu cánh với các cựu chiến binh Nhưng hôm nay không thể viết như ngày hôm qua, cũng là viết về chiến tranh nhưng
phải: "viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động nổi trái tim con người
như thể viết về tình yêu, về nỗi buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sống đương thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng quá khứ" [59,54] Nghĩa là viết sao cho khác trước Điều này không những đòi hỏi
người viết phải am hiểu về quá khứ mà còn phải có cách nhìn mới về quá khứ; quá khứ chỉ là bàn đạp để anh tái thiết, sáng tạo kí ức Điểm nhìn trở thành mấu chốt quyết định nội dung tư tưởng được thể hiện trong câu chuyện
Trang 37Trong đó NBCT của Bảo Ninh và PTKCGL của Remarque đã có sự thay đổi
điểm nhìn so với các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh trước đó
2.1 Điểm nhìn trần thuật
Trong tác phẩm tự sự, điểm nhìn trần thuật (view point) là vấn đề then chốt của kết cấu Nó giống như một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung văn bản ngôn từ Todorov cho rằng vấn đề điểm nhìn có tính quan trọng hàng
đầu: “Từ hai điểm nhìn khác nhau quan sát cùng một sự thực thì sẽ viết ra hai
loại sự thực tuyệt nhiên không giống nhau [79,65]” Nhà trần thuật học người
Pháp Genette, trong cuốn Trần thuật thoại ngữ, phân biệt người trần thuật và
quan hệ trần thuật thành “ai nói” và “ai nhìn”; “ai nói” tức ai là người trần thuật, “ai nhìn” tức là thông qua điểm nhìn của nhân vật nào để triển khai trần thuật
“Điểm nhìn” đóng một vai trò quan trọng trong việc xác lập mô hình cấu trúc tác phẩm cũng như việc chi phối nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Khó mà hy vọng chạm đáy tác phẩm nếu bỏ qua điểm nhìn trần thuật, bởi nó
là hình thức được đích thân người kể chuyện lựa chọn, chỉ dẫn người đọc một cách nhìn đầy ngụ ý. “Trong văn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí
từ đó chủ thể trần thuật quan sát, cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng
[69,112]" Điểm nhìn nghệ thuật có thể được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau: từ không gian, thời gian, giới tính, tâm lí xã hội,…
Nhìn lại một số tiểu thuyết truyền thống ở Đức thế kỉ XIX và ở Việt Nam những năm 1945 – 1975, ta thấy chủ yếu các tác phẩm được triển khai từ cái nhìn tương đối ổn định Các nhà lý luận gọi đó là cái nhìn “biết trước”, hay còn gọi là “cái nhìn của thượng đế” Nghĩa là người kể chuyện
miêu tả, tái hiện đời sống của nhân vật khi đã nắm rất rõ tuần tự diễn biến câu chuyện Ngoại trừ một số trường hợp hiếm hoi phá chuẩn, hầu hết người kể chuyện trong văn học trước kia đều thông tỏ trước tuần tự diễn biến câu
Trang 38chuyện Đó là điểm nhìn từ bên ngoài Hơn nữa, do sự chi phối của đặc điểm thể loại, trường nhìn tác giả lại luôn thống nhất với trường nhìn nhân vật thậm
chí với cả trường nhìn của người tiếp nhận Khi ba trường nhìn tác giả – nhân vật – bạn đọc cùng thống nhất thì hình thức thể loại của loại tiểu thuyết sử thi
đã phát huy phẩm chất đặc thù của nó: cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo; kết cấu lịch sử – sự kiện đóng vai trò trung tâm; thế giới được miêu tả ở trạng thái phân tuyến – đối lập; nhân vật lý tưởng là người anh hùng dân tộc; giọng điệu ngưỡng mộ, ngợi ca đóng vai trò giọng điệu chủ đạo; ngôn ngữ trang trọng, khoa trương, giàu ẩn dụ…
Không như thế, tiểu thuyết hiện đại, với tinh thần gia tăng tính đối
thoại, đã thực hiện sự thay đổi tương quan hết sức quan trọng: vai trò của nhân vật ngang hàng, bình đẳng, có khi còn cao hơn vai trò của người kể chuyện Tác giả đã tin cậy trao cho nhân vật quyền phát ngôn Người trần thuật mang ý thức của chủ thể làm chứng, có cái nhìn thuần túy khách quan, không thuộc về ai Người kể chuyện hoặc trùng khít, hoặc bé hơn nhân vật Hai trường nhìn này có khi song song tồn tại, có khi nhập vào nhau tuỳ vào chủ ý của người sáng tạo Nói đến điểm nhìn trần thuật thì có nhiều khía cạnh
để bàn như giọng, ngôi, thời điểm Nhưng để thấy rõ nét đổi mới trong
“điểm nhìn trần thuật” của Remarque và Bảo Ninh, chúng tôi chọn bàn xét
hai phương diện chủ yếu: ngôi kể và thời điểm truyện được kể
2.1.1 Ngôi kể
Ngôi kể còn được hiểu là cách thức biểu hiện của người trần thuật
trong câu chuyện Thuật ngữ này mới đầu Genette gọi là person (ngôi), sau
đặt là voice (giọng), Genette nhấn mạnh nhiều lần: "việc sử dụng ngôi thứ
nhất, nói một cách khác, sự đồng nhất về con người của người kể chuyện và nhân vật không hề quy định một tiêu điểm của câu chuyện hướng về nhân vật”, và "tiêu điểm bên trong không nhất thiết đặt ra với việc sử dụng ngôi
Trang 39thứ nhất [21,67]" Như vậy, ta không thể đồng nhất ngôi trần thuật với điểm
nhìn như một số cách hiểu thường thấy trước đây Có khi dùng ngôi thứ nhất – cái nhìn từ bên ngoài và ngược lại Cụ thể ngay trong PTKCGL, thường
xuất hiện “sự can thiệp đột ngột của tác giả” ở những đoạn trữ tình ngoại đề, làm lộ diện một cái tôi trong ngôi kể Hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết sử thi đều được kể ở ngôi thứ ba với mục đích là tạo ra cái nhìn khách quan nhưng vẫn không thoát khỏi tư tưởng thống trị của tác giả Trái lại, đến với tiểu
thuyết của Remarque, đặc biệt là ở NBCT của Bảo Ninh, ngôi kể thường
xuyên được hoán đổi và dịch chuyển giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Người
kể chuyện thường được thay đổi và không hoàn toàn trùng khít với nhân vật
Mỗi nhân vật đều có giọng nói riêng tạo nên tính “đa thanh” cho câu chuyện
Trong NBCT ta bắt gặp hai mạch kể: mạch kể của người trần thuật
(xưng “tôi”) và mạch kể của nhân vật (Kiên cùng một số nhân vật khác được
tái hiện lại qua cái nhìn của Kiên)
Trước hết, chúng ta xem xét lời kể của nhân vật Có vẻ như toàn bộ
câu chuyện của Bảo Ninh được dệt nên từ cái nhìn của nhân vật chính là Kiên Vì vậy người ta thường có cảm giác câu chuyện được trần thuật ở ngôi thứ ba Điều này tạo nên vẻ khách quan, khá giống với văn học truyền thống của ta trước đây nếu như không có những mạch trần thuật ngầm của “tôi” và các nhân vật khác cùng song song thể hiện Chẳng hạn như cha Kiên, một nghệ sĩ “sinh nhầm thời” đã nhận xét về Phương – một vẻ đẹp khác như sau:
"Cháu rất đẹp cái đẹp của cháu không bình thường Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài sẽ khổ đấy Khổ lắm [59,130]" Đó là cái nhìn đồng cảm của một người
nghệ sĩ trước một vẻ đẹp được tạo hóa sinh ra không đúng lúc Trong khi đó,
mẹ Kiên có cái nhìn rất thực tế và khô khan Phương thì hoang dại nhưng giàu
lí trí Ngay từ khi sắp ra trận, Phương đã có cách hình dung về chiến tranh khác với Kiên Kiên nôn nóng ra chiến trường đến “đứng ngồi không yên”
Trang 40còn Phương như nhìn thấy trước sự bi thảm của chiến tranh (về điều này Phương gần gũi với cha Kiên) Vì thế, giữa Phương và người hoạ sĩ có mối giao cảm đặc biệt Đây là sự gặp gỡ của những linh cảm mang tính tiên tri Hay khi ở chiến trường với những nỗi lo toan, mỗi người bạn của Kiên đã bộc
lộ những điểm nhìn khác nhau về chiến tranh và cuộc sống Vào thời bình, lối sống của Kiên đã không thể hòa nhập với bà con trong khu phố bởi họ cho anh là kẻ “dị biệt, khó cắt nghĩa” Anh chìm đắm trong bóng đêm và chỉ biết tâm sự nỗi niềm với người đàn bà câm Mãi về sau, “tôi” mới phát hiện ra
mình cũng có suy nghĩ như Kiên
Như vậy, nhà văn đã trao cho các nhân vật quyền “đối thoại” để tạo nên cái nhìn đa chiều về hiện thực được miêu tả Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu cuộc chiến tranh Nếu như với nhiều người, chiến tranh đã kết thúc thì với Kiên, có một cuộc chiến khác vẫn suốt đời đi theo anh Điều này tạo nên tính độc đáo trong tư duy nghệ thuật của Bảo Ninh Nó khước từ cách nhìn đối tượng một phía vì theo cách nhìn này, chiến tranh chỉ có một khuôn
mặt duy nhất mà thôi
Về lời kể của người trần thuật, đến gần cuối tác phẩm, người kể
chuyện xưng tôi mới xuất hiện Dù rằng trước đó, nhân vật “người kể chuyện”
vẫn thấp thoáng đâu đó trong những lời bình luận mới mẻ, độc về chiến tranh:
Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát ngát Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay bổng lên trong thời gian quá khứ, tuy nhiên với điều kiện không được dừng nỗi buồn chiến trận lại ở cụ thể một điểm nào, một
sự việc nào, một con người nào, bởi vì khi dừng mắt lại thì không còn là nỗi buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và nhất là đừng có nhớ chạm tới những cái chết [59,90]