Ngoài ra, với quan điểm dạy học tích hợp, thông qua các giờ đọc- hiểu, người giáo viên có thêm cơ hội để củng cố một số kiến thức cũng như rèn luyện thêm một số kỹ năng làm bài nghị luận
Trang 1SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC, CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong dạy- học môn Ngữ Văn ở trường THPT nói chung, chương trình lớp 12 nói riêng, các tiết đọc- hiểu Văn bản văn học (VBVH) trong phân môn Đọc văn có tầm quan trọng đặc biệt Không hề vô lý khi có ý kiến cho rằng hứng thú và chất lượng dạy- học môn Văn phần lớn được quyết định bởi các giờ học này Các tiết đọc- hiểu VBVH đã bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, năng lực thẩm mỹ cho học sinh Bên cạnh đó, nó còn cung cấp cho các em những kiến thức căn bản, phong phú, đa dạng,
bổ ích và thiết thực về tác giả, tác phẩm văn học Xét trong mối quan hệ với phân môn Làm Văn, các tiết đọc- hiểu VBVH thực sự trở thành trợ thủ đắc lực giúp học sinh thực hiện những bài nghị luận văn học một cách thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất Ngoài ra, với quan điểm dạy học tích hợp, thông qua các giờ đọc- hiểu, người giáo viên có thêm cơ hội để củng cố một số kiến thức cũng như rèn luyện thêm một số kỹ năng làm bài nghị luận văn học mà các em đã được học trong các tiết lý thuyết Làm Văn như thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận so sánh,…
Trong thực tế, chúng ta cũng đã nhiều lần bắt gặp những đề nghị luận văn học yêu cầu học sinh phải biết sử dụng phương pháp so sánh để làm bài Ví dụ:
Đề thi tuyển sinh Đại học khối C năm 2010:
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
(…) Con Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình,đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dóng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)
(Người lái đò Sông Đà- Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12)
(…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn,vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ
đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như một tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế vẫn thường miêu tả (…)
(Ai đã đặt tên cho dòng sông- Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ Văn 12)
Trang 2Đề thi tuyển sinh Đại học khối D năm 2010:
Cảm nhận của anh/ chị về chi tiết “bát cháo hành” mà nhân vật Thị Nở mang
cho Chí Phéo (Chí Phèo- Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm”
mà nhân vật Từ dành cho Hộ (Đời Thừa- Nam Cao).
Đề thi tuyển sinh Đại học khối D năm 2012:
Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh: “Đột nhiên thị
thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…” (Ngữ Văn 11, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155).
Truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh: “Trong óc Tràng
vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…” (Ngữ Văn 12, tập 2, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2011, tr.32) Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của những kết thúc trên
Sử dụng phương pháp so sánh khi giảng dạy tác phẩm văn học không phải là điều quá mới mẻ, song trên thực tế, có không ít giáo viên còn gặp khó khăn, vướng mắc khi sử dụng phương pháp dạy học này Chẳng hạn:
Giáo viên sai lầm trong việc xác định vấn đề, đối tượng, nội dung cần so sánh
và cái được dùng để so sánh dẫn đến so sánh tùy tiện, thiếu căn cứ Đôi khi, cái cần phải so sánh thì không được so sánh mà lại tiến hành so sánh những vấn đề không căn cốt, khiến việc đọc- hiểu tác phẩm không đạt hiệu quả
Hoặc, giáo viên lạm dụng phương pháp so sánh Sử dụng nhiều hoạt động so sánh trong một tiết dạy, so sánh tràn lan không vào chủ đề gây ảnh hưởng đến tiến trình giảng dạy, biến giờ dạy học tác phẩm văn học thành giờ thực hành sử dụng phương pháp của mình Cũng có khi giáo viên tiến hành so sánh vượt quá giới hạn: so sánh những yếu tố của tác phẩm với những vấn đề quá rộng hoặc quá xa vời, không phù hợp với năng lực học tập của học sinh
Ngoài ra, có một số giáo viên lúng túng trong việc sử dụng kết quả so sánh nên đã dùng nội dung so sánh để thay thế cho nội dung phân tích tác phẩm; biến hoạt động so sánh từ một phương tiện để khám phá tác phẩm thành mục đích của quá trình phân tích, khám phá
Tất cả những khó khăn trên đều ảnh hướng không tốt đến quá trình khai thác các nội dung kiến thức của bài dạy, phá hủy tính hệ thống của chuỗi kiến thức bài học
mà học sinh cần chiếm lĩnh
Xuất phát từ nhận thức của bản thân về tầm quan trọng của tiết dạy đọc- hiểu VBVH trong dạy học môn Văn; xuất phát từ những khó khăn của một số đồng nghiệp khi sử dụng phương pháp so sánh trong dạy-học; với mong muốn các tiết dạy đọc- hiểu VBVH không chỉ cung cấp, mở rộng, khắc sâu được kiến thức bài học mà còn củng cố thêm kỹ năng so sánh trong nghị luận văn học để học sinh có thể giải quyết được những đề bài tương tự như các đề đã nêu, trong quá trình giảng dạy các tiết đọc-
Trang 3đã sử dụng phương pháp so sánh trong sự phối hợp với các phương pháp dạy- học
Văn khác Trân trọng trình bày cùng quí đồng nghiệp một vài kinh nghiệm “Sử dụng
phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp lớp 12”
II CƠ SỞ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
1.1 Về khái niệm Văn bản văn học và đọc- hiểu Văn bản văn học
Văn bản văn học là văn bản nghệ thuật được sáng tạo bằng ngôn từ và luôn thể hiện cách nhìn, cách cảm cũng như tâm tư, tình cảm, khát vọng của người nghệ sĩ trước cuộc đời Văn bản văn học chỉ thực sự trở trở thành tác phẩm văn học khi được độc giả đọc, hiểu, cảm, rung động và biến cái hiện thực do thế giới ngôn từ của văn
bản gợi ra thành cái hiện thực trong tâm khảm của mình (Trong đề tài này để thuận
tiện, người viết tạm thời đồng nhất khái niệm VBVH và tác phẩm văn học) Đối với
học sinh việc thực hiện hành trình đó được tiến hành trong các giờ đọc- hiểu VBVH (Đọc Văn) với sự hướng dẫn của giáo viên thông qua các phương pháp dạy học thích hợp
Đọc- hiểu là thang độ cao của việc đọc VBVH Bởi “Đọc-hiểu văn bản văn học bao gồm cả việc thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, cái thông điệp
tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả những giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Đọc văn theo tinh thần đó là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản
(kể cả việc hiểu và cảm thụ)” (Đỗ Ngọc Thống, 2003, “Chương trình Ngữ văn THPT
và việc hình thành năng lực văn học cho học sinh”, Tạp chí giáo dục số 66, trang
26-28)
1.2 Về phương pháp so sánh trong tìm hiểu, giảng dạy VBVH
So sánh là xem xét, đối chiếu sự vật, sự việc, hiện tượng, vấn đề này với sự vật, sự việc, hiện tượng, vấn đề khác nhằm làm rõ điểm giống nhau, điểm gần gũi, điểm khác biệt hoặc sự hơn kém và khẳng định giá trị của chúng Nền tảng của so sánh là sự liên tưởng, từ điều này nghĩ đến điều khác do chúng gần gũi, tương đồng hoặc tương phản với nhau Do đó, so sánh cũng có hai loại so sánh tương đồng và so sánh tương phản
So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản và được con người sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Văn học cũng là một lĩnh vực của tư duy, của nhận thức mang tính đặc thù nên việc sử dụng so sánh trong nghiên cứu, tìm hiểu văn học là điều hết sức tự nhiên So sánh các hiện tượng văn học đã trở thành phương pháp nghiên cứu văn chương nên việc sử dụng nó trong dạy đọc- hiểu VBVH hoàn toàn có cơ sở
So sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH là phương pháp đối chiếu các tín hiệu nghệ thuật, các vấn đề nội dung, tư tưởng, quan điểm,… tương đồng, gần gũi hoặc
Trang 4tương phản, khác biệt giữa VBVH này với VBVH khác hoặc giữa phần này với phần khác trong cùng một VBVH
VBVH thể hiện sâu sắc cá tính sáng tạo của người viết ở cách nhìn, cách cảm, cách diễn đạt hiện thực đời sống Nó mang dấu ấn và hơi thở của thời đại người nghệ
sĩ sống và viết Vì thế, trong dạy đọc- hiểu VBVH, giáo viên cần quan tâm so sánh phong cách nghệ thuật của các tác giả hoặc phong cách của một tác giả qua những chặng đường sáng tác khác nhau
2 Cơ sở thực tiễn
Mọi sự sáng tạo nghệ thuật đều bám rễ sâu sắc vào hiện thực đời sống con người Vì thế, trong quá trình sáng tác, chắc chắn các nhà văn sẽ có những điểm gặp
gỡ hoặc gần gũi nhất định về cảm hứng, đề tài nghệ thuật hoặc thông điệp muốn truyền tải,… Thậm chí, sự gặp gỡ này không giới hạn trong phạm vi quốc gia mà đã
mở rộng trên phạm vi quốc tế, bất chấp ranh giới và sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ Mặt khác, nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng lại là sự tái tạo cuộc đời qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Cho nên, mỗi VBVH đã là một thế giới nghệ thuật độc đáo đúng như nhận định: Với nghệ thuật thế giới xuất hiện trong tác phẩm luôn là cái mới đầu tiên Bởi vậy, tự thân các văn bản văn học, trong đó có các văn bản được đưa vào chương trình Ngữ văn THPT và Ngữ Văn lớp 12 đã luôn tiềm ẩn những điều kiện để vận dụng phương pháp so sánh trong tìm hiểu, giảng dạy
Đặc biệt hơn, các VBVH trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 lại có khả năng khơi gợi liên tưởng của học sinh về khá nhiều những văn bản văn học các em đã được học ở lớp dưới, đã biết qua các nguồn tài liệu tham khảo khác hoặc ngay trong
chương trình đang học Ví dụ bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có thể khiến người
dạy, người học nghĩ đến nhiều bài thơ viết về người lính thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, trong đó có Đồng Chí của Chính Hữu Truyện Vợ Nhặt của Kim Lân dễ gợi liên tưởng về Chí Phèo của Nam Cao hay Tắt đèn của Ngô Tất Tố Hình tượng người lái
đò Sông Đà trong bài tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân có sức gợi nhắc đến nhân vật
Huấn Cao trong Chữ người tử tù của nhà văn này bởi sự thay đổi hình tượng nhân vật
trong văn ông trước và sau Cách mạng,…
III NỘI DUNG, CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Xác định phạm vi so sánh
Khi có ý định sử dụng phương pháp so sánh để hướng dẫn học sinh đọc- hiểu một tác phẩm văn học cụ thể, câu hỏi đầu tiên xuất hiện trong tâm thức người giáo viên chắc chắn sẽ là: Tác phẩm này có mối quan hệ tương đồng hay tương phản với tác phẩm nào? vấn đề nào? Việc trả lời đúng câu hỏi này sẽ giúp chúng ta xác định được có hay không thể vận dụng pháp so sánh khi dạy tác phẩm này? Nếu có, thì cần
so sánh trong những phạm vi nào? Nhờ đó, chúng ta tránh được việc so sánh tùy tiện, thiếu căn cứ, làm đứt mối đường dây chủ đề của tác phẩm, khiến việc so sánh không
Trang 5mang lại hiệu quả tích cực mà còn làm cho giáo viên không thể chủ động trong việc thực hiện mục tiêu bài học
Về phạm vi so sánh, chúng ta có thể quan tâm đến một số phạm vi cơ bản sau: Phạm vi thứ nhất là so sánh VBVH đang được đọc- hiểu với VBVH của tác giả khác hay văn bản khác của cùng một tác giả
GV có thể sử dụng phương pháp so sánh văn bản này với văn bản của tác giả khác khi đó là những tác phẩm có cùng đề tài, cùng mô típ, … nhưng khác nhau về
loại hình, thời điểm sáng tác,… như Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh và Bình
Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; Vợ Nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô
Hoài với Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao; Đất nước của Nguyễn
Khoa Điềm với Đất nước của Nguyễn Đình Thi…
Khi dạy bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, giáo viên có thể xác định ngay phạm
vi so sánh là những bài thơ viết về đề tài tình yêu của Xuân Diệu, Bùi Minh Quốc,
Đoàn Thị Lam Luyến,… Trong đó nên ưu tiên so sánh Sóng với một số bài thơ tình
của Xuân Diệu Sự so sánh này giúp ta nhận ra điểm khác biệt độc đáo trong việc chọn lựa hình tượng thơ cũng như quan niệm khác nhau về tình yêu, cách biểu hiện xúc cảm và những rung động trong tình yêu của hai tác giả, hai người khác phái Nhất
là phải nhấn mạnh được chất “nữ tính” đằm thắm trong thơ tình của nữ sĩ
Khi dạy đọc –hiểu VBVH Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, phương pháp so sánh cũng hỗ trợ
tích cực để giáo viên hướng dẫn học sinh nhận ra nét khác biệt trong phong cách nghệ thuật của hai tác giả Cùng là sự tài hoa, uyên bác khi khám phá vẻ đẹp của quê hương, xứ sở qua hình ảnh những dòng sông nhưng Nguyễn Tuân vô cùng cá tính khi dụng công ngôn từ để khai thác cái tuyệt mỹ, cái dữ dội đỉnh điểm, vượt qua giới hạn thông thường của Sông Đà Còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại độc đáo trong lối hành văn hướng nội, giàu xúc cảm với trí tưởng tượng lãng mạn, bay bổng làm mê đắm độc giả khi khắc họa sông Hương trên các bình diện lịch sử, thi ca, nhạc họa,
Bên cạnh đó, phạm vi so sánh còn là văn bản đang đọc- hiểu với văn bản khác
của cùng một tác giả Ví dụ, khi dạy Sóng của Xuân Quỳnh có thể so sánh nó với
những bài thơ tình khác của chị như Hoa cỏ may, Tự Hát, Thuyền và Biển,… Trong
trường hợp này, so sánh sẽ giúp học sinh cảm nhận đặc điểm xuyên suốt, thống nhất trong thơ tình Xuân Quỳnh là nỗi âu lo thường trực, rất phụ nữ về sự mong manh,
ngắn ngủi của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Hướng dẫn đọc- hiểu Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân có thể so sánh nó với Chữ người tử tù nhằm nhận ra sự ổn
định và vận động trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám
Ngoài ra, có thể đem các tác phẩm ra đời trong cùng một giai đoạn, bối cảnh lịch sử, xã hội, có chung một cảm hứng, một đề tài,… nhưng nhấn vào những chủ đề khác nhau hoặc có cách thức tổ chức tác phẩm khác nhau,… để so sánh đối chiếu
Trang 6Chẳng hạn dạy bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, giáo viên không nên bỏ
qua việc so sánh bài thơ này với bài Đồng Chí của Chính Hữu Lý do: Trong chương trình Ngữ Văn THCS, học sinh đã được học bài thơ Đồng Chí Mặt khác, hai bài thơ
này cùng tập trung vào đề tài người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Hoặc, cùng thể hiện chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
cùng được sáng tác trong thời kỳ chống đế quốc Mĩ xâm lược nhưng Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành lại thể hiện
những tư tưởng chủ đề khác nhau Nguyễn Thi muốn truyền đi thông điệp: Truyền thống yêu nước và anh hùng bất khuất của nhân dân Miền Nam, của dân tộc Việt Nam xuất phát từ chính truyền thống của mỗi gia đình Sự hài hòa giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương, đất nước là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Trong khi đó, Nguyễn Trung Thành lại
muốn khẳng định chân lý cách mạng của mọi thời đại “Chúng nó đã cầm súng, mình
phải cầm giáo”- phải dùng bạo lực cách mạng để đập tan và tiêu diệt bạo lực phản
cách mạng, biết cầm vũ khí mới có thể chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ được quê hương
Phạm vi thứ hai là so sánh VBVH đang được đọc- hiểu với các yếu tố ngoài văn bản như bối cảnh, không khí thời đại khi tác phẩm ra đời; nhân vật trong tác
phẩm với những nhân vật nguyên mẫu ở ngoài đời thật hoặc với chính tác giả (một số
tác phẩm tự truyện hoặc có yếu tố tự truyện).
Phạm vi thứ ba chính là so sánh các yếu tố nghệ thuật trong cùng một tác phẩm Ở phạm vi này, có thể so sánh hình ảnh thiên nhiên miền Tây Bắc Bộ với
những nét trái ngược trong phần thứ nhất và phần thứ hai của bài thơ Tây Tiến Một
miền Tây hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, kỳ bí đầy sức mạnh đe dọa với người lính trong đoạn thơ đầu và một miền Tây thơ mộng, huyền ảo làm nao lòng người trong
đoạn tiếp theo Đối với Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, phạm vi so sánh
cũng có thể được tiến hành trong nội bộ tác phẩm với hình tượng Sông Đà vừa hung
bạo lại vô cùng trữ tình, gợi cảm Khi tìm hiểu tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông,
trong việc khám phá vẻ đẹp của Sông Hương, nên chăng chúng ta cho học sinh đối chiếu nét phóng khoáng, man dại, hùng vĩ của dòng sông khi ở thượng nguồn với nét đẹp quý phái, kiều diễm khi chảy giũa lòng thành phố Huế để cảm nhận trọn vẹn vẻ
đẹp độc đáo, đa dạng của dòng sông này? Với Đàn ghi-ta của Lor-ca, tác giả Thanh
Thảo,… có thể cho học sinh so sánh khổ thơ thứ 5 và thứ 6 với khổ thơ thứ 2 của bài thơ
2 Lựa chọn nội dung, vấn đề cần so sánh
Để sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH, sau khi khoanh vùng phạm vi so sánh, người giáo viên phải lựa chọn được những nội dung, vấn đề cần so sánh thật đích đáng
Trang 7Như đã nói ở trên, không phải VBVH nào khi giảng dạy cũng cần phải áp dụng phương pháp so sánh Và ngay trong những VBVH có vấn đề cần so sánh hoặc
để so sánh thì cũng không thể so sánh bất kì chi tiết, hình ảnh hay tín hiệu nghệ thuật nào Vì vậy, khi sử dụng phương pháp so sánh, chúng ta nhất thiết phải trả lời đúng câu hỏi: Cần so sánh cái gì trong VBVH đang được đọc- hiểu? Việc xác định vấn đề
và nội dung so sánh một cách chính xác và hợp lí là cơ sở quan trọng giúp giáo viên thành công trong sử dụng phương pháp so sánh
Có thể kể đến một số vấn đề so sánh khi dạy đọc- hiểu VBVH như đề tài, khuynh hướng và cảm hứng sáng tác, hình tượng, nhân vật, bút pháp nghệ thuật, kết cấu tác phẩm, chi tiết nghệ thuật,… Nhưng dù chọn vấn đề hoặc nội dung nào đem ra
so sánh, người giáo viên cần lưu ý những điều sau:
Nội dung, vấn đề so sánh phải là những yếu tố hàm chứa vẻ đẹp, sự độc đáo, nét đặc sắc có khả năng biểu hiện cho nội dung, tư tưởng chủ đạo, có ý nghĩa quan trọng, nổi bật hoặc giá trị nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm cũng như của phong cách nghệ thuật ở tác giả
Nội dung, vấn đề so sánh được chọn phải có mối quan hệ tương đồng hoặc tương phản trên một số phương diện với những những đối tượng khác ở trong hoặc ngoài văn bản đang tìm hiểu mà học sinh đã được tiếp cận
Khi xác định vấn đề so sánh, cần phải lưu ý cái dùng để so sánh và cái đem ra
để so sánh phải có mối tương quan “bình đẳng”, “ngang hàng” với nhau Nghĩa là không thể so sánh đề tài sáng tác của tác phẩm này với bút pháp nghệ thuật của tác phẩm khác, nhân vật trong tác phẩm này với tình huống truyện của tác phẩm kia,…
Đặc biệt, việc lựa chọn nội dung so sánh phải đảm bảo tính chỉnh thể của VBVH Nghĩa là việc chọn các yếu tố thuộc về nội dung hay nghệ thuật của VBVH
để so sánh không làm cho ý nghĩa văn bản bị cắt vụn và trở nên thiếu hệ thống
Trong tiết dạy đọc- hiểu Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, giáo viên có
thể hướng dẫn để học sinh so sánh cách mở đầu của tác phẩm- trích dẫn những lời trong Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mĩ và Tuyên ngôn Nhân quyền và dân
quyền (1791) của Cách mạng Pháp- với một số câu mở đầu của bài Bình Ngô Đại
Cáo do Nguyễn Trãi sáng tác: “Như nước Đại Việt ta từ trước/Vốn xưng nền văn hiến
đã lâu/Núi sông bờ cõi đã chia/Phong tục Bắc Nam cũng khác/Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương/ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có”.
Với Tây Tiến của Quang Dũng, có thể chọn một trong các vấn đề như cảm
hứng, bút pháp hoặc hình tượng người lính được khắc họa trong bài thơ để so sánh
với cảm hứng, bút pháp hoặc hình tượng người lính được khắc họa trong Đồng Chí
của Chính Hữu Việc chọn hình tượng người lính trong Tây Tiến để so sánh với hình
tượng người lính trong Đồng Chí của Chính Hữu là một hướng đi khá phù hợp Lý
do: Người lính Tây Tiến là hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp độc đáo, khác lạ và
Trang 8được Quang Dũng tô đậm với tất cả tình cảm chân thành, nỗi nhớ sâu sắc dành cho đồng đội cũ Đó cũng là hình tượng nổi bật nhất, có giá trị nhất của bài thơ
Khi hướng dẫn học sinh đọc- hiểu đoạn trích Đất nước (Trường ca Mặt
đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm, giáo viên sẽ đứng trước vấn đề: Đây là bài
thơ viết về một đề tài rất lớn, rất quen thuộc, rất nổi bật và bao trùm văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 Bài thơ lại có nhiều biểu hiện độc đáo về giọng điệu, cách cảm nhận, khám phá và thể hiện hình tượng Đất nước,… Vậy trong quá trình dạy- học tác phẩm này sẽ chọn cái gì để so sánh với những tác phẩm cùng đề tài nhằm làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật cũng như nét độc đáo của tác phẩm? So sánh giọng thơ đậm chất suy tư, chính luận của bài thơ với giọng thơ hào sảng, đậm chất sử thi
của Đất nước- Nguyễn Đình Thi? So sánh khả năng vận dụng chất liệu văn học dân
gian của Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ này với khả năng vận dụng ca dao, dân ca
của Tố Hữu trong Việt Bắc? So sánh vai trò của nhân dân, tư tưởng đất nước của nhân dân trong bài với những câu thơ nói về nhân dân trong Tiếng hát con tàu- Chế Lan
Viên hay trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu? , Trong trường hợp này, bản thân tôi cho rằng, giáo viên nên chọn hình tượng Đất nước làm nội dung so sánh
Lý do: Hình tượng này đã xuất hiện rất nhiều trong thơ văn 1945- 1975 và học sinh đã
có cơ hội tiếp cận Quan trọng hơn, đây là hình tượng thể hiện sắc nét nhất nội dung
tư tưởng chủ yếu của bài thơ: Những cảm nhận mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về vẻ đẹp của Đất nước qua sự khám phá Đất nước trên các phương diện không-thời gian, lịch sử, địa lý và chiều sâu văn hóa dân gian Nhờ thế, Đất nước hiện lên thiêng liêng, cao đẹp nhưng vô cùng giản dị, thân thuộc với mỗi người
Đối với bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca, tác giả Thanh Thảo, chúng ta có thể
chọn so sánh là hình tượng Lor-ca trong những câu “Lor-ca bơi sang ngang/trên
chiếc ghi-ta màu bạc/chàng ném lá bùa cô gái Di-gan/vào xoáy nước/chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt” với hình tượng Lor-ca được thể hiện trong đoạn “Tây Ban Nha/hát ngêu ngao/bỗng kinh hoàng/áo choàng bê bết đỏ/Lor-ca bị điệu về bãi bắn/ chàng đi như người mộng du” Bởi vì đây là hình tượng trung tâm của bài thơ và
sự so sánh này sẽ đem lại bức chân dung hoàn chỉnh về nhà thơ thiên tài của Đất nước Tây Ban Nha, người khiến Thanh Thảo và cả nhân loại tiến bộ ngưỡng mộ
Vẻ đẹp của hình tượng người lái đò trong sự so sánh với vẻ đẹp của hình
tượng Huấn Cao trong Chữ người tử tù cũng là một vấn đề thú vị khi dạy đọc- hiểu
VBVH Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu các tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và
Vợ Nhặt của Kim Lân, giáo viên có thể chọn hình tượng người nông dân hoặc cách
kết thúc trong hai tác phẩm này để so sánh với hình tượng người nông dân và cách kết
thúc trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Chí Phèo của Nam Cao.
Trang 93 Xác định mục đích và cách thức so sánh.
Khi đã hoàn thành 2 bước trên, để việc so sánh không trở nên sai lệch, lan man, và phát huy được tác dụng của nó đối với việc đọc- hiểu VBVH, người giáo viên cần đặt ra và trả lời các câu hỏi: So sánh trong trường hợp này là để làm gì? Phải tiến hành việc so sánh như thế nào? bằng cách thức gì? Đây là công việc hết sức cần thiết
và không kém phần khó khăn
Về mục đích so sánh:
Nhìn chung, với mỗi tác giả, tác phẩm văn học, mỗi loại tín hiệu nghệ thuật khác nhau trong tác phẩm, người so sánh sẽ nhắm tới những mục đích cụ thể Nhưng
có một nguyên tắc chung cần tuân thủ đó là: Mục đích của so sánh không bao giờ tách rời hoặc đi ngược lại mục tiêu, kiến thức, kỹ năng cần đạt khi tổ chức đọc- hiểu tác phẩm Nói cách khác, việc sử dụng phương pháp so sánh phải hướng đến khắc sâu kiến thức căn bản, trọng tâm của bài học; làm rõ những điểm độc đáo, những nét đặc sắc nổi bật của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật hoặc làm sáng tỏ sự thống nhất và vận động trong phong cách nghệ thuật của một tác giả,… Thậm chí, qua việc sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu một tác phẩm văn học cụ thể, người giáo viên có thể giúp học sinh có cái nhìn khái quát về một giai đoạn văn học hoặc về một số mảng đề tài tiêu biểu của từng thời kỳ văn học,…
So sánh phần mở đầu trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh với đoạn
mở đầu bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi nhằm làm rõ thêm một dụng ý khác
của tác giả khi trích dẫn có chọn lọc những lời trong tuyên ngôn của nước Pháp và nước Mĩ Bằng việc trích dẫn này, Bác đã kín đáo thể hiện niềm tự hào dân tộc được
kế thừa từ truyền thống của cha ông ta xưa kia Bác đặt cuộc Cách mạng của ta “sánh tầm” với cuộc cách mạng của nước Pháp và nước Mĩ như Đại thi hào Nguyễn Trãi đã từng đặt các triều đại phong kiến Việt Nam, nền văn hiến Việt Nam bình đẳng, ngang hàng với các triều đại phong kiến và văn hóa Phương Bắc
Khi so sánh hình tượng người lính trong Tây Tiến với người lính trong Đồng
Chí, Giáo viên cần hướng đến mục đích tô đậm vẻ lãng mạn, bi tráng, chất hào hoa,
kiêu bạc của người lính Hà thành như nét đẹp độc đáo, hiếm gặp trong thơ ca viết về
đề tài người lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đồng thời nhấn mạnh cách nhìn, cách cảm, cách thể hiện mới của Quang Dũng trước một đề tài quen thuộc của thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đó là một trong những nguyên nhân làm nên giá trị của tác phẩm và là một đóng góp lớn của nhà thơ
Việc so sánh hình tượng Đất nước trong đoạn trích Đất nước của trường ca
Mặt đường khát vọng với hình tượng Đất nước trong bài thơ cùng tên của Nguyễn
Đình Thi không nằm ngoài mục đích khắc sâu giá trị nội dung, tư tưởng quan trọng của tác phẩm: Bài thơ thể cách nhìn và sự cảm nhận, lý giải mới mẻ, độc đáo của Ngyễn Khoa Điềm về Đất nước từ cự ly gần và trên nhiều phương diện không-thời gian, địa lí, lịch sử, văn hóa dân gian Nó đem lại cho người đọc một Đất nước to lớn,
Trang 10thiêng liêng nhưng vô cùng gần gũi, thân thương, đáng yêu, đáng quý bởi sự hóa thân
và sáng tạo không mệt mỏi của nhân dân qua mấy nghìn năm lịch sử Đất nước hiện hữu trong cuộc sống đời thường, trong trái tim, tình cảm và hành động của mỗi con người
So sánh hình tượng Lor-ca trong khổ thơ thứ 5 và thứ 6 với khổ thơ thứ 2 của
bài Đàn ghi- ta của Lor-ca, giáo viên nên giúp các em cảm nhận được: Bằng tình
cảm ngưỡng mộ chân thành với nhà thơ thiên tài Tây Ban Nha, Thanh Thảo đã phục dựng hình ảnh tuyệt đẹp của Lor-ca khi đi vào cõi vĩnh hằng Ông chủ động, ung dung, thanh thản chấp nhận quy luật cuộc sống Hình tượng này khác hẳn với một Lor-ca bị sát hại bất ngờ và bi thảm trong đoạn thơ thứ 2 của bài Tài năng của Thanh thảo là đã chọn cho Lor-ca một cái chết đẹp và sang trọng, xứng đáng với tầm tầm vóc của một thiên tài
Thực hiện việc so sánh hình tượng người lái đò với hình tượng Huấn Cao
trong Người lái đò sông Đà và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nên chăng chúng
ta cho học sinh nhận ra: Người lái đò là kiểu nhân vật tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám Tác phẩm này đã góp phần thể hiện khá rõ sự ổn định và vận động trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân Trước Cách mạng, nhà văn chủ yếu ca ngợi cái đẹp và chất nghệ sĩ trong tầng lớp trí thức thích hoài cổ do bất mãn với thời cuộc Sau Cách mạng, ông hướng ngòi bút vào khám phá chất tài hoa, nghệ sĩ, chất anh hùng, chất “vàng mười” trong những con người lao động với công việc bình thường, lặng thầm, vất vả nhưng không kém phần cao cả
Từ Chữ người tử tù đến Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã khẳng định
một quan niệm mới mẻ về con người: Người anh hùng không chỉ xuất hiện trong chiến đấu mà còn xuất hiện trong cuộc sống đời thường Phẩm chất nghệ sĩ không chỉ
có ở người trí thức biết sáng tạo nghệ thuật mà còn hiện hữu ở những con người bình thường khác
So sánh hình tượng Tràng/ Thị /Mị/A Phủ trong Vợ Nhặt và Vợ chồng A Phủ
với Chị Dậu trong Tắt đèn hay Chí Phèo của Nam cao để học sinh khám phá nét mới
mẻ, độc đáo trong việc thể hiện giá trị nhân đạo của các tác phẩm do Tô Hoài và Kim Lân sáng tạo khi cùng khai thác đề tài quen thuộc: Người nông dân bị áp bức
Trong điều kiện bị tước quyền làm người như Mị và A Phủ hay trong hoàn cảnh nhân phẩm, danh dự, giá trị con người bị rẻ rúng đến thảm hại như Thị, người lao động vẫn tiềm tàng sức sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt Họ sẵn sàng
“vượt qua dự luận” và “cưỡng lại định mệnh nghiệt ngã” để tìm đường sống cũng như
tự giải thoát
So sánh cách kết thúc của các tác phẩm này với cách kết thúc của Tắt đèn hay
Chí Phèo cũng góp phần làm rõ: Vợ chồng A Phủ và Vợ Nhặt có kết thúc mở, kết
thúc có hậu Cách kết thúc ấy chịu sự chi phối của quan niệm sáng tác mới, thế giới