1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn NÂNG CAO HIỆU QUẢ bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn NGỮ văn 9

18 599 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đơn vị công tác: Trường PT Dân Tộc Nội Trú Liên huyện Tân Phú - Định Quán, Đồng Nai II.TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học - Năm nhận bằng: 2005 - Chuyên ngành đà

Trang 1

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Lê Văn Mười

2 Ngày tháng năm sinh: 10/06/1976

3 Nam, nữ: Nam

4 Địa chỉ: Khu 12, thị trấn Tân Phú, Tân Phú, Đồng Nai

5 Điện thọai: 0613856483 ( CQ); 0613697447 ( NR)

6 Fax:

7 Chức vụ: Phó Hiệu trưởng

8 Đơn vị công tác: Trường PT Dân Tộc Nội Trú Liên huyện Tân Phú - Định Quán, Đồng Nai

II.TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học

- Năm nhận bằng: 2005

- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn

III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Môn Ngữ văn

- Số năm có kinh nghiệm: 14 năm

- Các chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm đã làm ( trong 5 năm gần đây):

+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy truyện ngắn Lão Hạc Ngữ văn 8

+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy bằng phương pháp “ đọc sáng tạo”

+ Nâng cao hiệu quả một tiết dạy truyện ngắn Chiếc Lược Ngà Ngữ văn 9

+ Nâng cao khả năng diễn đạt của học sinh khi nói, viết Tập làm văn

+ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh

+ Nâng cao hiệu quả phụ đạo học sinh yếu trong Trường dân tộc nội trú

+ Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường dân tộc nội trú

Trang 2

NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

MÔN NGỮ VĂN 9

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Từ xưa tới nay trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc hiệu, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội Nếu nói người giáo viên là những “Kỹ sư tâm hồn” thì điều đó đúng nhất đối với các thầy cô giáo dạy Văn; vì Ngữ văn chính là bộ môn dễ gây xúc động vui, buồn tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người, giúp con người phát huy đầy đủ năng lực phẩm chất

để xây dựng cuộc sống, và hướng con người tới đỉnh cao của chân, thiện mỹ

Nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn là phải làm cho học sinh hiểu được cái hay cái đẹp cuả văn học, kích thích sự hứng thú học tập học văn cho học sinh Điều đó muốn khẳng định rằng bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn có tầm quan trọng trong nhà trường phổ thông Nó góp phần phát hiện bồi dưỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật Nó kích thích cổ vũ mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học sinh nói chung Nó còn là một việc làm thiết thực góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.

Trên thực tế cho thấy, số học sinh giỏi văn, yêu thích môn văn nói chung và trường Dân tộc nội trú nói riêng có chiều hướng ngày càng giảm đi, mà chất lượng của những em được công nhận cũng không cao Các em ít có cảm xúc khi viết văn, hoặc trí tưởng tượng quá nghèo nàn, không có sáng tạo trong bài viết Hơn nữa các em ít đọc sách tham khảo, ngại viết …Các em còn bị chi phối nhiều bởi “gánh nặng” của các môn học khác, của mạng Internet…

Trong những năm qua trường PT Dân tộc nội trú Tân Phú rất chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn nhưng hiệu quả chưa cao Vậy làm thế nào để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn 9 đạt được kết quả cao ? Đây là một công việc khó khăn đối với giáo viên dạy văn và càng khó hơn đối với học sinh là người dân tộc

Là một Hiệu phó chuyên môn đã nhiều năm tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn lớp 9, tôi luôn trăn trở với vấn đề này Vì vậy, tôi đã chọn

đề tài “nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9” để nghiên cứu, thực nghiệm Qua sáng kiến kinh nghiệm này, để các đồng nghiệp trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ và học tập lẫn nhau; mong muốn góp một phần nhỏ vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn 9 đạt hiệu quả cao

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “… nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội … Quan tâm hơn tới sự phát

Trang 3

triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa…; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi ,học sinh nghèo, học sinh khuyết tật; giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn”

Thực hiện chủ trương trên, trong những năm qua giáo dục dân tộc đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm Học sinh dân tộc vốn là những hạt giống

đỏ từ các địa phương, các vùng kinh tế còn nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số Chính vì vậy, trong quy chế hoạt động của các trường PT Dân tộc nội trú ban hành kèm theo quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 8 năm

2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều 21 đã chỉ rõ “một trong các nhiệm vụ của giáo viên là bồi dưỡng học sinh giỏi”

Theo Giáo trình "Phương pháp dạy học văn" của Đại học Quốc gia Hà Nội

thì "Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hiểu theo nghĩa thông thường tức là giáo viên -người hướng dẫn biết khơi dậy khả năng, năng lực cảm thụ văn học của học sinh trên cơ sở vốn hiểu biết học sinh đã có và cao hơn nữa là cung cấp cho các em những điểm mới, sâu hơn về văn học mà học sinh chưa có Để từ đó các em vận dụng vào việc làm văn hiệu quả"

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có ý nghĩa thật to lớn Nó góp phần đào tạo một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật Nó phát hiện ra những tài năng, nhân tài cho đất nước Phát hiện và bồi dưỡng kịp thời năng lực cảm thụ văn chương là thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn cao đẹp Vì vậy công tác này còn là việc làm thiết thực góp phần nâng cao ý thức và trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ cho giáo viên

Với bề dày thời gian công tác giảng dạy và qua một số năm bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 tôi suy nghĩ là làm sao trong vài tháng ít ỏi mà có thể có được những thành công nhất định Từ các đồng nghiệp và qua trao đổi một số trường, tôi cũng lắng nghe được một số ý kiến này, song chưa thấy có sáng kiến cụ thể nào trình bày về công tác bồi dưõng học sinh giỏi, hoặc nếu có chưa thật sự hoàn thiện

và hiệu quả cao Với chuyên đề này tôi mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ, kinh nghiệm của mình với mong muốn góp phần trao đổi, chia sẻ học tập lẫn nhau để cùng mang lại hiệu quả cao Đó cũng là nội dung, mục đích hướng tới của sáng kiến kinh nghiệm

*Thực trạng nhà trường:

Như đã nói ở trên, trong những năm qua nhà trường rất chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Song chất lượng học sinh giỏi đậu các cấp chưa cao (nhất là môn học tự nhiên) Đây là một vấn đề nan giải, nhà trường cần đưa ra những biện pháp để tháo gỡ

Đứng trước thực trạng nêu trên, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, nhà trường chúng tôi có những thuận lợi và khó khăn như sau:

Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp ban ngành, nhất là Sở Giáo dục và Đào tạo về chế độ đối với những giáo viên, học sinh có thành tích tốt trong giảng dạy, bồi dưỡng và học tập Những giáo viên được phân công bồi dưỡng là những giáo viên giỏi văn cấp huyện, cấp tỉnh, có vốn kiến thức uyên thâm, lại có kinh nghiệm bồi dưỡng; đặc biệt có lòng yêu nghề, tâm huyết với nghề; tất cả đều có một quan điểm “Tất cả vì học sinh dân tộc thân yêu” Đối với

Trang 4

những học sinh được bồi dưỡng: Đa số các em có tố chất, có lòng say mê trong học tập và có động cơ phấn đấu vươn lên để trở thành học sinh giỏi

Bên cạnh những thuận lợi đã nêu thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi gặp không ít khó khăn như: tài liệu sách báo tham khảo ở thư viện còn hạn chế Chưa

có đủ tư liệu để học sinh và giáo viên tham khảo, nghiên cứu trong việc học tập và bồi dưỡng Hơn nữa các em là người dân tộc, nhiều em vốn ngôn ngữ phổ thông còn hạn chế nên cách diễn đạt còn lủng củng, ngại tư duy, hay chán nản Tinh thần học tập và sự quan tâm của học sinh về môn văn chưa cao

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn 9 đạt kết quả cao, cần thực hiện các bước như sau:

Bước 1 Phát hiện học sinh giỏi văn

Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cần được tiến hành từ đầu lớp

6 Các bước tiến hành như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào kết quả học tập ở lớp 5, và kết quả thi khảo sát chất

lượng đầu năm môn Ngữ văn ở lớp 6

Thứ hai, chọn những em có đủ điều kiện như: viết chữ đẹp, có tố chất viết

văn; học lực được xếp loại từ khá trở lên, hạnh kiểm xếp loại tốt Sau đó, tiến hành thi tuyển, tiếp tục sàng lọc một lần nữa để thành lập đội tuyển và phân công giáo viên bồi dưỡng (từ lớp 6 đến lớp 7, lớp 8) Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên cần nắm bắt những mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh; kiểm tra cách diễn đạt, chất văn, cách viết, cách nghĩ của học sinh Khi chấm bài, thầy cô không chỉ chú trọng những bài chu đáo, khuôn mẫu, đầy đủ mà còn quan tâm đến những bài có thể có chỗ chưa sâu, nhưng có chỗ độc đáo, sâu sắc phải sửa kỹ, phê kĩ, thật sự nghiêm khắc khi đánh giá và có nhật kí chấm bài

Thứ ba, sang đầu năm học lớp 9, nhà trường tiếp tục sàng lọc một lần nữa,

chọn những em có đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện theo quy định chung và tiến hành khảo sát (thi tuyển) để kiểm tra năng lực của từng em Nếu em nào có đủ tiểu chuẩn, đủ điều kiện và điểm khảo sát đạt khá giỏi thì đưa vào đội tuyển Nhà trường phân công giáo viên bồi dưỡng cho các em ngay từ đầu năm học

Bước 2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG

Dựa vào kế hoạch của nhà trường, giáo viên dạy bồi dưỡng cần lập ra một

kế hoạch thực hiện chương trình bồi dưỡng cụ thể như sau

THỜI

GIAN

TÊN CHUYÊN ĐỀ

NỘI DUNG CƠ BẢN

Tháng

8

Củng cố, ôn tập một số đơn

vị kiến thức cũ.

- Khái quát một số kiến thức về văn bản trong chương trình Ngữ văn 7,8

- Ôn tập kiểu bài nghị luận chứng minh

- Ôn tập kiểu bài nghị luận giải thích

- Kiểu bài nghị luận tổng hợp

Trang 5

9

Chuyên đề 1:

Khái quát về

văn học trung

đại Việt Nam

- Khái quát chung về văn học trung đại Việt Nam: thành phần cấu tạo, các nội dung chính, đặc điểm nghệ thuật…

- Giới thiệu chi tiết về văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ XVIII

- Luyện một số đề, củng cố chuyên đề

Chuyên đề 2:

Tìm hiểu về

một số vấn đề

lí luận văn

học.

- Cung cấp một số kiến thức lí luận: văn học là gì, các chức năng văn học, thể loại văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, văn học và sự tiếp nhận văn học…

- Hướng dẫn cách vận dụng lí luận văn học trong làm văn nghị luận

Tháng

10

Chuyên đề 3 :

“Truyện Kiều”

Nguyễn Du

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”

- Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và đọc thêm trong “Truyện Kiều”

- Luyện một số đề văn nâng cao mang tính khái quát

so sánh

Chuyên đề 4:

Tác giả Nguyễn Đình

Chiểu và

“Truyện Lục

Vân Tiên”.

- Giới thiệu chung về tác giả và tác phẩm

- Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và các văn bản khác của tác giả để hiểu thêm vẻ đẹp thơ văn và tâm hồn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

- Luyện đề khắc sâu kiến thức và tiếp tục rèn luyện

kĩ năng làm văn

Chuyên đề 5:

Kĩ năng làm

văn nghị luận.

- Rèn luyện các kĩ năng xác định đề, xây dựng dàn

ý, dựng đoạn, hành văn, khái quát, liên hệ, nâng cao, vận dụng lí luận văn học…

- Kết hợp luyện đề với kiến thức các chuyên đề đã học và các kiến thức mở rộng, tổng hợp

Tháng

11

Chuyên đề 6:

Văn học hiện

đại Việt Nam

từ sau Cách

mạng tháng

Tám 1945.

(16 tiết)

- Khái quát những nét lớn về lịch sử Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 và những đặc điểm của tình hình văn học thời kì này

- Tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu được học trong chương trình

- Tìm hiểu một số hình tượng chủ yếu của văn học giai đoạn này: hình tượng người lính, người lao động, người phụ nữ…

Chuyên đề 7 :

Văn nghị luận

- Nghị luận xã hội: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống; một vấn đề tư tưởng đạo lí

- Nghị luận văn học: Nghị luận về một tác phẩm thơ, truyện hoặc một đoạn trích

- Củng cố khắc sâu kiến thức và kĩ năng làm văn nghị luận với các đề văn cụ thể gắn với các kiến thức HS đã hoc ở các lớp dưới

Trang 6

12&1

Ôn tập tổng hợp và luyện đề

- Củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao trong chương trình

- Hệ thống những nét lớn từng thời kì văn học, từng chủ đề, so sánh, đối chiếu các vấn đề có sự tương đồng trong kiến thức chương trình

- Luyện đề tổng hợp, kết hợp với việc tiếp tục rèn kĩ năng làm văn của HS: làm văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội

- Ngoài các bước tiến hành ôn tập như trên, GV tích cực ra đề kiểm tra đánh giá, HS làm bài, chấm chữa bằng nhiều hình thức khác nhau

- Giải đáp các thắc mắc của HS

- Chuẩn bị điều kiện tốt nhất để HS tự tin tham gia

kì thi HSG các cấp

Bước 3: Giáo dục về tư tưởng và tầm quan trọng của công tác bồi

dưỡng

Sau khi thành lập đội tuyển, năm nào cũng vậy Ban giám hiệu nhà trường cùng với giáo viên chủ nhiệm và thầy cô trực tiếp bồi dưỡng gặp gỡ các em để giáo dục tư tưởng Giáo dục tư tưởng là để động viên học sinh, giúp các em yêu thích môn học, có mục tiêu, lí tưởng phấn đấu, có động lực quyết tâm ôn và thi học sinh giỏi đạt giải Đây là việc vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trên thực tế rất ít giáo viên ôn luyện học sinh giỏi quan tâm đến vấn đề này, phần đa chỉ chú trọng đến mảng ôn luyện kiến thức Điều này cần nhưng chưa đủ bởi sẽ thật khó khơi dậy ở các em lòng đam mê và nhiệt tình theo đuổi môn học nếu không biết mình đi thi học sinh giỏi sẽ có gì, được gì trong khi thời gian và các môn học chính khoá với các em đã là cả một gánh nặng Chính vì vậy công tác giáo dục về tư tưởng là cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, song hành với việc ôn luyện về kiến thức

Ngoài ra, việc động viên khích lệ về tư tưởng cho học sinh được giáo viên giáo dục thường xuyên trong các tiết học, giờ học bằng lời nói, hành động việc làm

cụ thể: Một lời khen ngợi, động viên, một phần quà nhỏ như chiếc bút bi, quyển

vở, hay gói kẹo sẽ giúp các em phấn khởi và tích cực hơn học tập rất nhiều Có thể nói: nếu làm tốt công tác giáo dục về tư tưởng cho học sinh có nghĩa là chúng

ta đã thành công một phần nào trong công tác ôn luyện học sinh giỏi

Bước 4: Tiến hành bồi dưỡng:

1 Giáo viên lựa chọn một số chuyên đề quan trọng và hướng dẫn phương pháp, rèn kỹ năng làm bài cho học sinh:

Như đã trình bày trong kế hoạch, nội dung bồi dưỡng bao gồm nhiều chuyên

đề, chủ đề khác nhau Trong phạm vi SKKN này tôi chỉ đơn cử đưa ra một chuyên

đề rất quan trọng đó là “cách rèn kỹ năng làm văn nghị luận” cho học sinh Vì văn

nghị luận là kiểu văn bản rất khó đối với học sinh Với kiểu văn bản này đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức sâu rộng mà còn phải nắm chắc các bước, kỹ năng làm bài và sử dụng các kỹ năng một cách thành thạo

Trang 7

Hơn nữa, văn nghị luận giúp học sinh nêu ra những suy nghĩ, quan điểm của mình trước một hiện tượng, sự việc đời sống hay ý kiến về một tư tưởng đạo lý, về một vấn đề văn học Qua văn nghị luận, giáo viên bồi đắp thêm cho học sinh về tinh thần yêu nước, yêu con người, đồng cảm, chia sẻ đối với những người bất hạnh hoặc phê phán những quan điểm sai trái… trong cuộc sống

Để rèn kỹ năng làm tốt văn nghị luận tôi thực hiện như sau:

1.1 Cách lựa chọn hướng ra đề

Thực tế giảng dạy giúp tôi ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá và lựa chọn HSG

Đề đúng và hay sẽ phân hoá được trình độ học sinh, giúp người thầy nắm đúng điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh, từ đó có thể đánh giá khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học sinh; đồng thời tạo được niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh, khi hiểu được năng lực của mình Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không đánh giá được chính xác về năng lực học sinh mà còn làm giảm thiểu hứng thú học văn, tính độc lập sáng tạo của học sinh Và hậu quả của nó là việc rèn kỹ năng sẽ trở nên vô nghĩa

Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm qua, chúng

ta nhận thấy, đề thường có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức về lý luận văn học và cảm thụ văn chương Phạm vi thường xoay quanh những vấn đề cốt lõi của chương trình như: chức năng và đặc trưng của văn học nghệ thuật, phẩm chất của người nghệ sĩ, phong cách của nhà văn hoặc phân tích một tác phẩm văn học đặc sắc, hoặc phân tích một số tác phẩm để nêu bật một vấn đề nào đó liên quan đến đề tài, chủ đề hay một đặc điểm quan trọng của tiến trình lịch sử văn học dân tộc Nhìn chung , tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo sát chương trình Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nên tập trung vào một số dạng đề cơ bản sau:

a Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học

Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay, có trong chương trình

Ví dụ:

Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà em đã học, hãy trình bày suy nghĩ của em về nhận định: “Chiếc lược ngà” là bài ca bất tử về tình cảm cha con của người lính trong chiến tranh

Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học sinh về tác phẩm: nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung - nghệ thuật của tác phẩm; năng lực chọn lựa và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác nhau: chỉnh thể tác phẩm - hình tượng - chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ

b.Đề kiểm tra kiến thức về lý luận văn học và cảm thụ tác phẩm

Dạng đề này yêu cầu học sinh phải bao quát được những vấn đề cơ bản của

lí luận văn học và soi sáng nó vào những tác phẩm văn học cụ thể

Ví dụ: “Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là xây dựng thành công tình huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật”.

Bằng hiểu biết của em, hãy làm sáng tỏa nhận định trên

Với dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức của học sinh về những vấn

đề lí luận văn học cơ bản: đặc trưng văn học, đặc trưng thể loại, phong cách nghệ thuật, bản chất của lao động nghệ thuật, giá trị và chức năng của văn học, vai trò

Trang 8

của văn học đối với đời sống v.v đồng thời củng cố kiến thức cơ bản về tác phẩm văn học, gắn lí luận văn học với việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm Qua lí luận văn học, học sinh có căn cứ khoa học để hiểu sâu hơn tác phẩm và ngược lại, qua tác phẩm, học sinh hiểu và biết khái quát nâng cao thành những vấn đề lí luận văn học cơ bản

c Đề rèn luyện kỹ năng so sánh văn học

Đây là một trong những dạng đề khó, nhưng học sinh dễ có cơ hội để phát huy năng khiếu và sở trường riêng của một HSG Nó đòi hỏi học sinh vừa nắm được những vấn đề cụ thể, chi tiết, vừa biết khái quát tổng hợp và lý giải vấn đề

Có thể so sánh tác phẩm cùng đề tài, cảm hứng trong một giai đoạn văn học, của một tác giả hoặc khác giai đoạn, khác tác giả

Ví dụ:

+ Vẻ đẹp hình tượng người lính qua hai bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu

và "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật

1.2 Rèn luyện kỹ năng phân tích đề

Xét đến cùng, việc dạy HS làm bài, rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học là một trong những khâu quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến kết quả thi HSG Đây

là khâu yếu nhất của HS (kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn, đưa dẫn chứng, phân tích dẫn chứng )

Sau khi đã nhận diện đúng yêu cầu đề, việc xác định thao tác nghị luận chỉ cần củng cố và hệ thống lại Điều cần lưu ý với học sinh là dù đề thi HSG có yêu cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều thao tác nghị luận khác nhau trong một bài làm (Phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh ) Điều quan trọng là xác định thao tác nào là chính, thao tác nào là bổ trợ Nắm chắc yêu cầu này, học sinh sẽ có cơ sở để xây dựng hệ thống luận điểm hợp lý và khoa học cho bài viết Thông thường, luận điểm chính của bài viết thường nằm ở những thao tác chính Đây cũng là trọng tâm của bài viết Những thao tác hỗ trợ thường gắn với những ý phụ, ý bổ sung, giúp cho nội dung bài viết hoàn chỉnh, trọn vẹn

1.3 Rèn kỹ năng lập dàn ý

Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý cần yêu cầu học sinh lập dàn ý sơ lược theo yêu cầu:

+ Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết;

+ Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm trong việc thể hiện các yêu cầu của bài;

+ Sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học

Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, GV cần hướng dẫn các em đặt

hệ thống câu hỏi và tự trả lời:

+ Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào?

+ Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung

và rõ nét các yêu cầu trọng tâm của đề?

+ Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung cần nghị luận được trình bày như thế nào là tối ưu nhất?

Trang 9

Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30 phút, sau đó học sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để nhận thức đề, đề xuất luận điểm và sắp xếp ý) Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn chỉnh

Chẳng hạn, với đề văn: Trong kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".

Em hiểu như thế nào về câu thơ trên? Bằng sự hiểu biết về Truyện Kiều của Nguyễn Du, hãy làm sáng tỏ ý thơ trên /

Ở đề trên, học sinh cần nêu được các luận điểm chính sau:

- Giải thích ý nghĩa câu thơ của Nguyễn Du ("những điều trông thấy""?

"Đau đớn lòng"? )

- "Nỗi đau đớn lòng" trước "những điều trông thấy" của Nguyễn Du được thể hiện như thế nào trong Truyện Kiều ?

- Đánh giá về giá trị của Truyện Kiều, về nỗi niềm Nguyễn Du được thể hiện qua tác phẩm của mình về sức sống của tác phẩm

Ở bước này, phần làm việc của học sinh ở nhà là tiếp tục viết thành văn phần

mở, kết bài và các câu, đoạn chuyển ý

Kỹ năng này nếu được rèn luyện nghiêm túc sẽ hình thành được ở học sinh khả năng chủ động và độc lập tư duy trong học tập, khắc phục dần tình trạng học sinh làm bài theo kiểu ngẫu hứng, nghĩ đến đâu viết đến đó, thậm chí làm bài xong không biết mình viết gì Tác dụng của khâu này là giúp các em khi đọc đề thi có thể nhanh chóng hình thành hệ thống luận điểm, định hướng kiến thức cho bài trong một khoảng thời gian ngắn (15-30 phút) đầu giờ; bài viết của các em sẽ đủ

ý và mạch lạc Đây cũng là một trong những biểu hiện của tính khoa học ở một bài văn HSG

Qua thực tế thấy rất rõ, các em trong đội tuyển HSG có khả năng nhận diện

đề và lập dàn ý khá nhanh và tự tin, có ý thức rõ rệt cần phải thiết lập hệ thống luận điểm trước khi bắt tay vào viết bài

1.4 Rèn luyện kỹ năng viết văn

Đây cũng là kỹ năng quan trọng bởi nhận thức đề đúng, đề xuất luận điểm hợp lý, có kiến thức phong phú chưa đủ Muốn có một bài viết hay, học sinh phải biết trình bày những hiểu biết, những rung động, suy nghĩ của mình một cách mạch lạc, sáng sủa và có sức thuyết phục Hơn nữa, việc đánh giá lại căn cứ vào chính bài viết của học sinh

Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, cần tiến hành theo các hình thức sau:

+Viết thành văn một đoạn ý: Đoạn văn giải thích; Đoạn văn chứng minh một luận điểm trong bài (thường là luận điểm chính); Đoạn văn bình luận nâng cao

+Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên chữa (khoảng 1- 2 bài /1 tuần)

+Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian quy định (150 phút) Yêu cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết sạch sẽ,

dễ đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ chính xác, sáng tạo, mới lạ, có giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn, phong cách riêng của người viết

Trang 10

2 Giáo viên cung cấp cho học sinh một số sách tham khảo

Để học sinh có kiến thức sâu rộng thì giáo viên cần cung cấp cho các em một số sách tham khảo Đối với một học sinh giỏi thì yêu cầu kiến thức phải thực

sự phong phú và sâu rộng thì các em mới chủ động, mạnh dạn thể hiện năng lực của mình Các sách này có thể là các tác phẩm văn học của các tác giả lớn mà các

em đã được học chính khóa nhưng cần phải đọc nhiều, biết rộng hơn rất nhiều so với nội dung học ở sách giáo khoa Hoặc có thể là những bài văn mẫu của những bạn đạt giải cao trong kỳ thi các cấp Khi đọc bài văn mẫu giáo viên lưu ý học sinh

là chỉ mang tính chất tham khảo chứ không học thuộc để đưa vào bài viết của mình

Đọc sách là một họat động cực kỳ quan trọng trong yêu cầu của công tác bồi dưỡng Giáo viên đặc biệt phải hết sức quan tâm đối với học sinh và phải đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá trình làm bài Và giáo viên phải thường xuyên kiểm tra để bắt buộc học sinh đọc

và thấy được ích lợi của việc đọc Vì kiến thức văn học phong phú, vững vàng là

cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh viết một bài văn tốt

Giáo viên cần yêu cầu học sinh sưu tầm ghi chép vào một cuốn vở riêng những lời nhận định, đánh giá sắc nét, độc đáo của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học và những câu thơ, đọan thơ hay của nhiều tác giả văn học qua các giai đọan văn học gắn với các chuyên đề mà giáo viên bồi dưỡng

Ví dụ: Khi dạy chuyên đề về văn học, cụ thể là về vai trò của văn học đối

với cuộc sống, mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tác văn chương, giáo viên bồi dưỡng yêu cầu học sinh sưu tầm và chọn lọc những lời nhận định liên quan đến vấn đề này và tìm được những lời nhận định

có ý nghĩa và giá trị nhất Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số lời nhận định sau:

- “ Thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”

(Tố Hữu)

- “ Cuộc đời là điểm xuất phát và cũng là đích đến của văn học”

( Tố Hữu)

- “ Cuộc sống là mảnh đất màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi”

( PusKin)

- “ Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”

( Biêlinxki)

Và còn nhiều những câu thơ, lời nhận định, đánh giá sắc nét khác mà học sinh cần sưu tầm để làm phong phú thêm bài văn của mình

3 Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học và cách làm đề thi

3.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học

Vì thời lượng bồi dưỡng rất hạn chế, giáo viên không thể bồi dưỡng hết được những kiến thức các em đã học, nên phần ôn tập lại những kiến thức căn bản

đã học thì yêu cầu học sinh phải tự thực hiện Điều này không khó đối với một học sinh giỏi Để giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản, giáo viên hướng dẫn cho các em cách tự học, tự ôn

Ngày đăng: 02/12/2015, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w