Thiết nghĩ,nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâmvào dạy làm văn cũng là tìm đến một cách dạy hiệu quả mang tinh thần đổi mới có thể đáp ứng được mục
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT ĐIỂU CẢI
Mã số………
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện: Lê Thị Huyền Trân Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp dạy học bộ môn ngữ văn
Năm học 2012 - 2013
Trang 2MỤC LỤC
I Đặt vấn đề : 1
II Thực trạng của việc dạy và học phân môn làm văn ở các trường THPT hiện nay 2
III Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vào dạy làm văn lớp 12 3
1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm 3
2 Thực nghiệm giảng dạy một số bài làm văn trong chương trình ngữ văn lớp 12 có vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm 4
2.1 Bài soạn 1: Nghị luận về một hiện tượng đời sống 4
2.2 Soạn bài 2: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận 12
2.3 Nhận xét chung 19
IV KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
I Đặt vấn đề
Phần làm văn là phần thực hành tổng hợp các kiến thức, kĩ năng của các phần tiếng Việt và văn học và phần lí thuyết làm văn Làm văn vốn là phân môn kết tinh đầy đủ hơn cả nguyên lí kết hợp học với hành, là phân môn có vị trí quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn thông qua hệ thống các bài tập cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt Mục đích cuối cùng của dạy làm văn là giúp cho người dạy lẫn người học làm văn rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản chính xác về nội dung, chặt chẽ về lập luận, đạt chuẩn về về mặt hình thức, phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp Điều quan trọng hơn là môn làm văn không chỉ là quá trình tái hiện lại những tri thức đã được học trước
đó mà còn là quá trình sáng tạo, phát hiện thêm nhiều điều mới mẻ, riêng biệt
Trang 3của cả giáo viên và học sinh Và cái khó là điều mới mẻ đó lại tùy thuộc vào sựcảm nhận tinh tế của từng cá nhân mỗi người Đáp ứng được tất cả những điềunày không thể chỉ dùng phương pháp dạy học truyền thống mà phải sử dụngphương pháp dạy học tích cực hiện đại
Tổ chức giờ dạy làm văn như thế nào để đạt hiệu quả cao? Giáo viên nêndùng phương pháp nào? Làm thế nào để học sinh có thể vận dụng kiến thức líthuyết vào thực hành để tạo lập được văn bản theo yêu cầu đề ra, đáp ứng đượcmục tiêu của tiết học? Làm sao để học sinh có thể tự nhận thức chất lượng bàilàm của mình để tự khắc phục yếu kém, phát huy năng lực sáng tạo? Thiết nghĩ,nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâmvào dạy làm văn cũng là tìm đến một cách dạy hiệu quả mang tinh thần đổi mới
có thể đáp ứng được mục tiêu đề ra của phân môn làm văn Do đó, tôi quyếtđịnh nghiên cứu đề tài này
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, bài viết chỉ tậptrung nghiên cứu vấn đề trong phạm vi sau:
- Thực trạng của việc dạy làm văn ở trường trung học phổ thông
- Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làmtrung tâm
- Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vàodạy một số tiết làm văn ở chương trình giáo khoa lớp 12
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, ngoài phương pháp nghiên cứu khoa họcchung còn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như phương pháp phân tích,tổng hợp, phương pháp thực nghiệm
II Thực trạng của việc dạy và học phân môn làm văn ở các trường THPT hiện nay
Mấy năm gần đây, mặc dù đã có chủ trương đổi mới phương pháp dạy làmvăn theo hướng tích cực, chủ động, tăng thực hành, gắn với thực tế nhưng việcdạy làm văn ở trường THPT hiện nay vẫn chưa có nhiều tiết dạy đạt chất lượngcao Có nhiều giáo viên chỉ dạy qua loa những tiết học này, thậm chí có nhữnggiáo viên bỏ qua một số tiết dạy làm văn có trong chương trình Họ quan niệm
Trang 4rằng, chỉ tập trung vào dạy tốt các tác phẩm văn học là học sinh có thể làm đượcbài mà không cần dạy phương pháp làm văn Rất nhiều giáo viên bắt đầu tiếtdạy từ ví dụ mẫu có sẵn, sau đó diễn giải rút ra các bước làm bài để học sinh vậndụng làm theo Nếu học sinh không làm bài được thì giáo viên đành cho họcsinh học thuộc lòng những bài mẫu có sẵn để đối phó các kì thi
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do:
Giáo viên và học sinh đều cảm thấy lúng túng trong việc sử dụng phươngpháp dạy và học làm văn, không biết làm cách nào để dạy và học có hiệu quả.Sách giáo khoa hướng dẫn còn sơ sài, lí thuyết làm văn chưa thật tườngminh, sách văn mẫu chỉ tập trung vào một đề tài cụ thể và có rất ít những côngtrình nghiên cứu về phương pháp dạy làm văn hiệu quả
Thực tế đang tồn tại một hiện tượng rất đáng chú ý là giáo viên không hềkhuyến khích những ý tưởng riêng biệt, những cá tính sáng tạo mà chỉ đi theonhững khuôn mẫu định sẵn trong sách hướng dẫn, trong những bài văn mẫu.Nhiều giáo viên còn xem văn mẫu là chiếc phao cứu sinh trong các kì thi.Những bài làm chép nguyên xi văn mẫu thì đạt điểm cao và không cho điểm caovới những bài làm sáng tạo có những luận giải khác với định hướng
Từ thực trạng trên, chúng tôi cho rằng giáo viên dạy ngữ văn cần chú trọngnghiên cứu phương pháp dạy làm văn, vận dụng các phương pháp dạy học tíchcực hiện đại vào dạy phân môn này để tiết dạy làm văn đạt được mục tiêu đề ra
III Vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm vào dạy làm văn lớp 12
1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đề cao vai trò chủ động của ngườihọc nhưng không hạ thấp vai trò của người thầy Người thầy có vai trò thiết kế,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình dạy học nhưng không làm thay trò, học trò
tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, tự tổ chức, tự thi công và tự kiểm tra việc họcdưới sự chỉ đạo của thầy Đây là phương pháp tổ chức quá trình dạy học thànhquá trình tự học, quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa việc học Phương pháp dạy
Trang 5học này cũng tích hợp được nhiều phương pháp khác như phương pháp hợp tác,phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, úng dụng công nghệ thông tin…Phương pháp này có những đặc trưng sau:
Học sinh, chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức bằng hànhđộng của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học
Học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học làm cho kiến thức cánhân mang kiến thức xã hội, tức là xã hội hóa việc học
Giáo viên là người tổ chức hướng dẫn quá trình tự học tự học của học sinh.Học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh việc học của mình
Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên và học sinh:
Đối với học sinh: Đầu tiên học sinh phải tự tìm tòi, phát hiện vấn đề, giảiquyết vấn đề, tự tìm ra tri thức mới Tiếp đến, tự thể hiện mình bằng lời nói hoặcvăn bản, bảo vệ ý kiến của mình qua sự đối thoại với bạn bè và giáo viên Saunhững kết luận của bạn bè và giáo viên, học sinh tự kiểm tra, đánh giá ý kiếncủa mình và tự sửa sai, điều chỉnh thành kiến thức đúng
Đối với giáo viên: Trước tiên giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòikiến thức, sau đó định hướng cho từng cá nhân học sinh tổ chức tự học và canthiệp đúng lúc những vấn đề, tình huống khó khăn mà học sinh mắc phải Giáoviên có thể thực hiện điều này bằng cách giao đề tài, giới thiệu tài liệu, hướngdẫn học sinh tự lập kế hoạch thực hiện, định hướng chương trình làm việc, tổchức cho học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học, làm trọng tài, cố vấntrong các cuộc tranh luận của học sinh và kiểm tra, đánh giá kết quả tự học củahọc sinh
Chương trình làm văn lớp 12 tiếp tục hệ thống hóa, nâng cao kĩ năng làmvăn đã được học từ THCS đến lớp 11, cụ thể: hệ thống hóa kiến thức và nângcao kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí, một hiệntượng đời sống, một đoạn thơ, bài thơ, một tác phẩm văn xuôi và một ý kiến bàn
về văn học Tiếp tục rèn luyện kĩ năng thực hành lập luận như luyện tập vậndụng kết hợp các thao tác lập luận, luyện tập vận dung các phương thực biểuđạt, phát hiện và sửa chữa các lỗi về lập luận), viết mở bài và kết bài trong bài
Trang 6văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận Như vậy, phương pháp dạy học tíchcực lấy học sinh là trung tâm đã phát huy được khả năng học tập sáng tạo củahọc sinh, nâng cao được kĩ năng thực hành, ứng dụng sẽ là phương pháp rất phùhợp với phân môn làm văn, đáp ứng được mục tiêu đề ra của tiết dạy học làmvăn
2 Thực nghiệm giảng dạy một số bài làm văn trong chương trình ngữ văn lớp 12 có vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
Để đánh giá hiệu quả của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấyhọc sinh làm trung tâm trong giờ dạy làm văn, tôi tiến hành thiết kế giáo án vàgiảng dạy thực nghiệm ở các lớp mình đang phụ trách là 12a1 và 12b1
2.1 Bài soạn 1: Nghị luận về một hiện tượng đời sống
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
A Mục tiêu bài học:
1 Kiến thức:
- Nội dung yêu cầu của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Cách thức triển khai bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
3 Tư tưởng, tình cảm- Thái độ:
Có ý thức và khả năng tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phánnhững quan niệm sai lầm về hiện tượng đời sống
B Tiến trình dạy- học
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài
Giáo viên (GV) giao bài tập đã định hướng ở sách giáo khoa cho học sinh(HS) chuẩn bị ở nhà:
Trang 7Bài tập 1: Thực hiện tìm hiểu đề và lập dàn ý cho đề bài SGK, tr 66 “Chia chiếc bánh của mình cho ai”.
a.Trả lời các câu hỏi SGK tr 66:
- Đề bài yêu cầu bàn về hiện tượng gì?
- Bài viết cần có những ý nào?
- Nên chọn những dẫn chứng nào?
- Cần vận dụng những thao tác lập luận nào?
b Lập dàn ý cho đề bài dựa theo những ý đã trình bày ở phần tìm hiểu đề và gợi
ý của SGK tr 67
c.Viết bài văn hoàn chỉnh dựa theo dàn ý đã làm (ngắn gọn khoảng 400- 500 chữ)
Bài tập 2: Thực hiện lập dàn ý và viết bài văn hoàn chỉnh cho đề bài 2 SGK, tr
69: Anh/ chị suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện
Hoạt động 2: Hướng dẫn tìm hiểu đề
- GV cho HS xem một số hình ảnh minh họa các hiện tượng đời sống nhưquay cóp, vi phạm trật tự an toàn giao thông, bạo lực học đường, hiến máu nhânđạo, tiếp sức mùa thi, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai…, yêu cầu học sinh nhận xét
sự đa dạng về hiện tượng đời sống và sắp xếp các hiện tượng theo nhóm Nhưvậy, HS sẽ nhận ra hiện tượng đời sống có hai loại: tích cực và tiêu cực Hai bàitập chuẩn bị ở nhà là tiêu biểu cho hai kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống
Trang 8- GV chọn một nhóm ngẫu nhiên và yêu cầu đại diện nhóm thuyết trìnhtrước lớp phần a của bài tập số 1.
- HS trình bày phần đã chuẩn bị
- Trên cơ sở phần trình bày của HS, GV hỏi: Em căn cứ vào đâu để xácđịnh vấn đề nghị luận? Làm thế nào để xây dựng được các ý chính? Em lấy cácdẫn chứng này ở đâu? Dẫn chứng có đáng tin cậy không?
- HS trả lời Trên cơ sở câu trả lời của học sinh, GV nhận xét thái độ làmviệc nghiêm túc hay sao chép máy móc của học sinh Cũng từ phần trình bày,
GV hỏi lớp học: Khi tìm hiểu đề ta cần tìm hiểu những gì? Sau đó, GV gọi ngẫunhiên một học sinh trả lời và từ đó định hướng nội dung bài học:
1 Tìm hiểu đề
Đọc kĩ đề bài và chú ý vào những từ then chốt
Tiến hành tìm hiểu:
- Yêu cầu về nội dung: luận đề, các ý chính (luận điểm)
- Yêu cầu về tư liệu: phạm vi tư liệu
- Yêu cầu về phương pháp: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận, sosánh…
▪ Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân
▪ Hiện vẫn còn có một số bạn trẻ sống ích kỉ, vô tâm đáng phê phán
▪ Tuổi trẻ cần dành thời gian tu dưỡng, lập nghiệp, sống có ích
- Tư liệu: văn bản “Chuyện cổ tích mang tên Nguyễn Hữu Ân”; những tầmgương thanh niên làm việc tốt và những thanh niên lãng phí thời gian vào nhữngtrò chơi vô bổ trong đời sống xã hội
Trang 9- Phương pháp: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận.
Hoạt động 3: Hướng dẫn lập dàn ý
Ở phần lập dàn ý, GV yêu cầu đại diện 2 nhóm khác trình bày phần b/bàitập 1 và phần a/bài tập 2
- HS trình chiếu và thuyết trình trước lớp bài làm đã chuẩn bị ở nhà
- Từ bài làm của học sinh, giáo viên yêu cầu một học sinh ở nhóm khácchuẩn bị cùng đề tài với bạn mình nhận xét về tính chính xác của các luận điểm,luận cứ, trật tự sắp xếp thành hệ thống của các luận điểm, luận cứ ở hai bài làm.Sau đó, GV trình chiếu hai dàn ý của hai bài làm song song với nhau và yêu cầuhọc sinh nhận xét sự giống và khác nhau về cách xây dựng dàn ý của hai kiểunghị luận về hiện tượng tích cực và nghị luận về hiện tương tiêu cực
- Từ phần bài làm của học sinh, GV định hướng kiến thức đúng:
2 Lập dàn ý
Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận
Thân bài: triển khai các ý chính
Kết bài: bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết (bài học nhận thức)
Ví dụ: Dàn ý tham khảo của bài tập 1
a/ Mở bài: Giới thiệu luận đề: Nguyễn Hữu Ân – vì tình thương dành hếtchiếc bánh thời gian của mình chăm sóc hai người mẹ bị bệnh ung thư giai đoạncuối
b/ Thân bài:
- Nêu và phân tích việc làm của Nguyễn Hữu Ân: dành hết thời gian chămsóc hai người mẹ bị bệnh hiểm nghèo, từ đó khẳng định Nguyễn Hữu Ân tiêubiểu cho lòng hiếu thảo, đức hi sinh, là tấm gương về lối sống cao đẹp
- Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân : một sốthanh niên tình nguyên tham gia các phong trào tiếp sức mùa thi, hiến máu nhânđạo…
- Hiện vẫn còn có một số bạn trẻ sống ích kỉ, vô tâm đáng phê phán nhưnhững thanh niên lãng phí thời gian vào rượu chè, cờ bạc, game online…
Trang 10c/ Kết bài: bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết về : tuổi trẻ cần dành thờigian tu dưỡng, lập nghiệp, sống có ích.
* Dàn ý tham khảo bài tập 2
a/ Mở bài: Giới thiệu luận đề: Nhiều bạn trẻ ngày nay bị nghiện in-tơ-nét.b/ Thân bài:
- Nêu khái niệm nghiện in-tơ-nét và thực trạng nghiện in-tơ-nét ở lứa tuổithanh thiếu niên hiện nay
- Phân tích tác hại của việc nghiện in-tơ-nét: ảnh hưởng đến sức khỏe (hạimắt, tổn thương thần kinh…); học tập sa sút; tha hóa đạo đức (thiếu tiền chơigame dẫn đến hành vi trộm cướp, lừa đảo…); đánh mất tuổi trẻ và tương lai tươiđẹp
- Nguyên nhân nghiện in-tơ-nét: ham chơi, thiếu ý thức học tập, bạn bè rủrê; thiếu sự quan tâm của gia đình và nhà trường; sự phát triển của công nghệthông tin cùng với sự quản lí chưa chặt chẽ những cơ sở kinh doanh in-tơ-netcủa nhà nước
- Giải pháp: tuổi trẻ cần nâng cao ý thức học tập, tự đấu tranh loại bỏnhững tật xấu; gia đình kết hợp với nhà trường và xã hợi quản lí, tuyên truyền,giáo dục con cái về tác hại của việc nghiện; nhà nước cần có những biện phápmạnh trong việc hạn chế thanh thiếu niên nghiện in-tơ-nét và có biện pháp cainghiện hiệu quả
c/ Kết bài: bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết về học sinh cần nâng cao
ý thức học tập và rèn luyện đạo đức tránh xa thói xấu, sử dụng in-tơ-nét hiệuquả, tích cực không lạm dụng…
Nhận xét chung: Hai bài làm giống nhau là đều có các phần: giới thiệuvấn đề nghị luận, nêu rõ hiện tượng đang nghị luận, phân tích ý nghĩa tích cực
và hạn chế, rút ra bài học nhận thức Hai bài có điểm khác nhau là trong phầntriển khai ý chính, ở hiện tượng tiêu cực cần nhấn mạnh phân tích tác hại,nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục
Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh rút ra lí thuyết về cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Trang 11- GV chọn một nhóm có học sinh giỏi văn của lớp và yêu cầu học sinh đótrình bày phần c/bài tập 1 (viết bài văn hoàn chỉnh dựa theo dàn ý).
- HS trình bày, có trình chiếu văn bản cho lớp theo dõi
- GV gọi học sinh ở nhóm khác nhận xét cách triển khai luận điểm, luận
cứ (có thể cho học sinh bổ sung luận điểm luận cứ) và hình thức diễn đạt (cáchdùng từ, đặt câu, xây dựng đoạn)
- Trên cơ sở bài làm của học sinh, giáo viên nhận xét đánh giá, chỉ ra chỗhay, dở hoặc sai của bài làm, sửa những lỗi sai để học sinh nhìn vào tự đánh giábài làm của mình và sửa chữa phần sai sót
- Từ những bài tập học sinh đã thực hiện ở phần trên, GV yêu cầu họcsinh: hãy rút ra những ghi nhớ về cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đờisống?
- HS sẽ trình bày phần ghi nhớ ở sách giáo khoa GV định hướng về nộidung và hình thức diễn đạt:
3 Cách làm bài
Đề tài nghị luận thường là các hiện tượng đời sống diễn ra hàng ngày, cóliên quan trực tiếp đến thanh niên Các hiện tượng này thường có nghĩa tích cựcnhư những tấm gương giàu lòng bác ái, có ý thức trách nhiệm, có ý chí nghị lực.tuy nhiên, cũng có những hiện tượng mang ý tiêu cực cần phê phán như thóilười nhác, kém ý chí, nghị lực, những thói xấu
Bài làm thường có yêu cầu về nội dung và hình thức như sau:
- Về nội dung:
Với kiểu bài nghị luận về hiện tượng mang tính tích cực:
+ Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận
+ Phân tích, lí giải ý nghĩa tích cực của hiện tượng
+ Phê phán những biểu hiện tiêu cực đối lập với hiện tượng
+ Đề xuất bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bảnthân nói riêng
Với kiểu bài nghị luận về hiện tượng mang tính tích cực:
+ Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận