SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Kiệm TânTổ: Ngữ Văn Đề tài sáng kiến kinh nghiệm Môn Ngữ Văn VẬN DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ TIẾP CẬN TÁC PHẨM C
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân
Tổ: Ngữ Văn
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Môn Ngữ Văn
VẬN DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ TIẾP CẬN TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
Người thực hiện: Ngô Thị XuyếnLĩnh vực nghiên cứu:
Trang 2Năm học: 2012-2013
SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
Tổ : Ngữ Văn
Thống Nhất, ngày 20 tháng 02 năm 2013.
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 - 2013
Tên sáng kiến kinh nghiệm: VẬN DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ TIẾP CẬN TÁC PHẨM CHIẾC
THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
Họ và tên tác giả: Ngô Thị Xuyến Tổ Ngữ Văn
Lĩnh vực:
Quản lí giáo dục Phương pháp giảng dạy bộ môn Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
1 Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới phương pháp đã có
2 Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những phương pháp đã có và đã triển khai
áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
Trang 3XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
( Ký tên và ghi rõ họ tên) ( Ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 4SƠ YẾU LÍ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
- Họ và tên: Ngô Thị Xuyến
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ Văn
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ Văn
- Số năm kinh nghiệm : 12 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm trong 5 năm gần đây: 04
1 Làm và sử dụng ĐDDH trong văn thuyết minh
2 Lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua một số tác phẩm trong trường THPT
3 Một vài suy nghĩ về phương pháp tiếp cận tác phẩm từ ngôn từ văn học
4 Sơ đồ tư duy- phương pháp giúp học sinh 12 hệ thống kiến thức
Trang 5Mục lục
Trang
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 2
I CƠ SỞ KHOA HỌC 2
1 Cơ sở lí luận 2
2 Cơ sở thực tiễn 3
II NỘI DUNG 3
1 Lí thuyết về phương pháp dạy học tích cực 4
1.1 Phương pháp dạy học 4
1.2 Phương pháp dạy học tích cực 4
1.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong học tích cực .4
2 Một số phương pháp dạy học tích cực 6
2.1 Phương pháp nêu vấn đề .6
2.2 Phương pháp thuyết trình .7
2.3 Phương pháp dung sơ đồ tư duy 8
2.3 Phương pháp đóng vai .10
3 Cách thức chung 10
4 Cách thức cụ thể 11
4.1 Tìm hiểu phần tiểu dẫn .11
4.2 Đọc- hiểu .11
4.2.1 Tóm tắt .11
4.2.2 Tìm hiểu tác phẩm .13
4.2.2.1 Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng .13
4.2.2.2 Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án Huyện .13
4.2.2.3 Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấy” .18
5 Thiết kế giáo án cụ thể .20
III HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI .25
C ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA ĐỀ TÀI 26
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 6VẬN DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ TIẾP CẬN TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
A.ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đổi mới phương pháp dạy học không còn là vấn đề mới mẻ trong giáo dụchiện nay mà là vấn đề tất yếu, thường trực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển củathời đại Hàng năm, ngành giáo dục đã tổ chức rất nhiều cuộc thi giành cho giáoviên nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy sự đổi mới trong quá trình giảng dạy Tôicũng như bao nhiêu giáo viên khác luôn trăn trở, lo lắng, làm thế nào để tìm đượcphương pháp thích hợp, tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học? Đặc biệt là vớimôn Ngữ Văn – bộ môn thường xuyên có mặt trong các kì thi Tốt nghiệp, bộ môn
có vai trò đặc biệt trong việc giúp con người trả lời những câu hỏi trong nội tâmmình, giúp học sinh hiểu được hương vị của cuộc sống
Với ngôi trường Kiệm Tân xa xôi, đầu vào của học sinh chưa cao, kinhnghiệm của giáo viên còn ít ỏi như chúng tôi; đổi mới phương pháp dạy học còn
là vấn đề cấp bách Một câu hỏi lớn đặt ra cho chúng tôi: Làm thế nào để học sinhhứng thú với môn Ngữ Văn? Phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng vàquyết định với hiệu quả của việc dạy hoc Dạy học có phương pháp và đúngphương pháp sẽ không chỉ truyền đạt được kiến thức một cách đầy đủ mà thêmvào đó, khơi gợi được hứng thú, tinh thần tự giác và chủ động cho học sinh Tráilại, việc dạy học sai phương pháp dạy học sẽ làm cho việc học trở thành việc nhồinhét kiến thức, khiến cho học sinh ngày một thụ động, đối phó Thậm chí ảnhhưởng đến cả lối tư duy và đạo đức của các em Giáo viên phải luôn cập nhật vàđổi mới phương pháp dạy học, tạo hiệu quả trong việc học nói riêng và nâng caochất lượng giáo dục đào tạo nói chung
Thiết nghĩ, mỗi bộ môn, mỗi giáo viên đều có một cách riêng để giúp họcsinh tiếp cận với kiến thức trong bài học Với tôi, tôi thường vận dụng kết hợpnhiều phương pháp khác nhau trong cùng một bài học, một đơn vị kiến thức; hơnthế nữa, các lớp khác nhau, các đối tượng học sinh khác nhau cũng phải sử dụngnhững phương pháp khác nhau Tuy vậy, khi giáo viên kết hợp nhiều phươngpháp mà không nắm rõ đặc trưng của các phương pháp đó hoặc thiếu sự linh hoạtthì bài học sẽ rối, học sinh khó tiếp thu bài học Không những không tạo đượchứng thú cho học sinh mà còn gây ra sự chán học cho các em
Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập đến vấn đề “Vận dụng kết hợp một số phương
pháp dạy học tích cực để tiếp cận tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu” Trong đó, tôi chú trọng đến phương pháp nêu vấn đề,
phương pháp thuyết trình, sơ đồ tư duy và phương pháp đóng vai
B NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
I CƠ SỞ KHOA HỌC:
1 Cơ sở lí luận:
- Trong tài liệu tập huấn cán bộ quản lý của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2012
có viết “Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
Trang 7và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy, việc phối hợp đa dạng các phương pháp
và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học”.
- Như tôi đã giới thiệu, môn Ngữ Văn là một trong những bộ môn có vai trò quantrọng trong cuộc sống của mỗi con người Đó không chỉ là bộ môn thường xuyên
có mặt trong kì thi Tốt Nghiệp THPT mà đó còn là bộ môn “dạy cho con người
biết yêu cuộc sống trong toàn bộ tính hiện thực của nó, biết lấy nó từ nguồn sống cho mình để có thể hạnh phúc hơn Dạy văn là một việc làm đích thực trần gian,
vì cuộc đời thật, không mảy may phù phiếm” (Giáo Sư Hồ Ngọc Đại)
2 Cơ sở thực tế:
Học văn giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của lịch sử văn học Học văn làhọc tiếng mẹ đẻ, học để làm người, học những nét đẹp cơ bản của bản sắc văn hóadân tộc Bởi văn học đem đến giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mĩ,làm đẹp nhân cách, tâm hồn, văn hóa của con người Dù khoa học kỹ thuật pháttriển mạnh mẽ như vũ bão, ngoài kiến thức về khoa học tự nhiên, con người cũngrất cần đến kiến thức khoa học xã hội để từng bước hoàn thiện nhân cách củamình
Bởi vì văn học gắn liền với cuộc sống, thực tiễn của cuộc sống đã được cácnhà văn cụ thể hóa qua những tác phẩm văn học ở nhà trường cũng như ở các tácphẩm khác Học văn sẽ bồi dưỡng cho con người tính nhân văn, nhân ái Muốnlàm được điều này giáo viên phải tạo được hứng thú say mê học tập môn văn đốivới các em, giúp các em định hướng đúng để học tập tốt môn văn Học văn nhằmtạo cho tâm hồn các em hôm nay và mai sau được trong sáng hơn, giúp các emnhận thức đầy đủ góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đồng thời xâydựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Học văn mà chưa hiểu văn, chưa cảm thụ được văn học là một hiện tượngđáng báo động cho thầy và trò Hiện nay, một thực trạng đáng buồn vẫn đang diễn
ra là học sinh ít chú ý đến môn Văn, hoặc có chú ý chăng cũng chỉ để thi TốtNghiệp! Còn định hướng lâu dài thì không nhiều
- Theo suy nghĩ của học sinh, môn văn là môn học thuộc lòng, không cần sángtạo Nếu giáo viên dạy theo ý chính của bài thì học sinh không biết triển khaithành đọan văn hoặc bài văn hoàn chỉnh Thậm chí, khi các em làm bài khôngtheo đáp án thì không đạt điểm cao
- Một thực tế khi lên lớp, tôi vẫn thường gặp là dù giáo viên cố gắng dùngphương pháp gợi để tạo hứng thú cho học sinh thì vẫn còn một số em không chịusuy nghĩ để trả lời câu hỏi Các em luôn “thủ” sẵn một câu “em không biết” “emkhông tìm được” “em không làm được”…
Khi tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học thì những giờ độc thoạigiảm dần, thay vào đó là sự hào hứng của học sinh trong giờ học Đến nay, tôi đãthực hiện thành công việc vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực Tôi đã
có thể khơi gợi được cái hồn của tác phẩm đồng thời giúp học sinh nói lên suynghĩ của mình một cách tích cực
II NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Trang 81 Lí thuyết về phương pháp dạy học tích cực:
Đã có nhiều tài liệu viết về vấn đề này song trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệumột cách ngắn gọn về phương pháp dạy học tích cực
1 1 Phương pháp dạy học:
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác vớinhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học Nói cáchkhác, phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo mộttrình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt độngthực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chínhnhư vậy mà đạt được mục đích dạy học
1.2 Phương pháp dạy học tích cực:
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động,sáng tạo và tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làmtrung tâm trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy, vai tròthực hiện, thi công của trò và sức mạnh của các phương tiện kỹ thuật hiện đạinhằm chinh phục chân lý trên cả ba phương diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ.Người học trở thành chủ thể tích cực trong quá trình tiếp nhận và đồng sáng tạo.Người thầy chính là người định hướng, dẫn dắt trong quá trình phát triển tư duy
và hoạt động học tập của học sinh
1.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong học tích cực:
So sánh vai trò của giáo viên trong dạy học truyền thống và dạy học tích cực:
Tập trung vào sản phẩm học tập Tập trung vào quá trình học tập
Giáo viên là nguồn cung cấp kiến thức Giáo viên là người tổ chức việc tiếp
nhận các kiến thứcGiáo viên như là người “làm hộ” cho
học sinh
Giáo viên là người tạo điều kiện để họcsinh tự học
Tập trung vào chủ đề cụ thể Tập trung vào việc học toàn diện
+ Giáo viên – người dạy – người hướng dẫn: là tác nhân chính trong việc nỗ lựctạo ra các điều kiện tốt nhất giúp học sinh tiếp nhận kiến thức đồng thời phát triểncác kĩ năng ngay tại lớp học bằng việc ứng dụng các nghiệp vụ sư phạm chuyênnghiệp của mình trong mối quan hệ trực tiếp với người học Giáo viên cần khuyếnkhích và hỗ trợ người học suy nghĩ ở mức tối đa
+ Giáo viên còn là người quản lí, điều phối và đánh giá thành tích của họcsinh trong giờ học
Ví dụ: khi tiết học bắt đầu, giáo viên hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động,tùy theo nội dung bài học, đối tượng học sinh để quyết định thời gian cho mỗihoạt động Ngoài ra, giáo viên cần điều phối nhằm góp phần tăng tính năng độngcho các hoạt động trong tiết học
Trang 9Có một số học sinh thờ ơ trước câu hỏi của giáo viên hoặc trả lời theo hướng tiêucực “em không biết” “em không nghĩ ra”…(dù đó là những câu hỏi đơn giản, câuhỏi tái hiên kiến thức) Trong trường hợp học sinh thiếu sự hợp tác, giáo viên cầnđộng viên khuyến khích, động viên bằng những lời lẽ nhẹ nhàng Học sinh khôngmuốn học mà giáo viên còn phản ứng gay gắt thì không khí sẽ trở nên căng thẳnghơn
Trong cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” của Adam Khoo có viết: Suy nghĩ làmảnh hưởng đến cảm xúc của bạn Nếu bạn học cách điều khiển suy nghĩ, chúng ta
có thể làm chủ được cảm xúc Có thể điều khiển suy nghĩ thông qua từ ngữ Việcđầu tiên là là phải kiểm soát những từ ngữ dùng để đối thọai với bản thân Cónhững từ ngữ tích cực mà khi nói với bản thân sẽ giúp ta có được trạng thái dồidào năng lực, thúc đẩy hành động của chúng ta và mang lại kết quả tốt đẹp Đồngthời cũng có những từ ngữ tiêu cực khiến chúng ta cảm thấy tồi tệ và không muốnhành động
+ Giáo viên cũng có thể đặt ra quy định, trong một số trường hợp, khôngđược trả lời câu hỏi “có- không” Ngoài ra, giáo viên cũng cần động viên để họcsinh trình bày suy nghĩ của mình (cô nghĩ là em trả lời được, bạn sẽ cho cả lớpnghe về một câu trả lời thú vị, ….) Người dạy cũng hạn chế thái độ bực tức khihọc sinh trả lời sai, nếu không khéo léo những học sinh khác sẽ không hứng thú
để tìm câu trả lời mà lại hứng thú với thái độ lúc này của giáo viên!
+ Trong giờ học, giáo viên cũng có thể đánh giá thành tích của người học,hướng dẫn học sinh phát hiện và sửa chữa các điểm yếu phát huy các mặt mạnhcủa mình trong các tiết học sau Những lời khen ngợi kịp thời cũng góp phần kíchthích sự tích cực của học sinh trong quá trình học tập
- Vai trò của học sinh trong học tích cực
Với sự cố gắng của giáo viên trong quá trình giảng dạy, vai trò của ngườihọc cũng có sự thay đổi:
Trang 10Từ Đến
Học sinh là người tiếp nhận kiến thức
một cách thụ động
Học sinh là người học tích cực và cùngtham gia
Học sinh vào việc trả lời những câu hỏi Học sinh đặt ra những câu hỏi
Học “nhồi nhét” Chịu trách nhiệm cho việc học của
mình Học – phản ánhHọc sinh cạnh tranh với nhau trong học
tập
Học sinh hợp tác với nhau trong học tập
Học sinh tự nói lên ý kiến của mình Học sinh lắng nghe ý kiến tích cực của
người khácHọc sinh tiếp thu các kiến thức riêng rẽ Học sinh kết nối các kiến thức đã học
được
Học sinh - người học - người tham gia: là người tiếp nhận các kiến thức và pháttriển các kỹ năng trong điều kiện tốt nhất do người dạy và tài liệu học tập tạo ra.Người học chính là chủ thể mọi họat động và là mục đích hướng tới của việc họctập
Như vậy, vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩmvăn chương trong trường phổ thông mới có khả năng khơi dậy và phát huy nhữngtiềm lực, tiềm tàng vẫn còn ngủ quên trong mỗi học sinh Phương pháp dạy họctích cực gõ mạnh vào trí thông minh, sở trường ở người học để phát huy tính tựgiác Phương pháp này thể hiện sự vận động và có định hướng cần thiết của họatđộng trí tuệ trong việc hình thành kiến thức và sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy
và trò theo hướng tích cực
2 Một số phương pháp dạy học tích cực:
Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập đến những phương pháp thường xuyênđược vận dụng và tạo hứng thú cho học sinh
2.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra trước học sinh một hoặc hệthống các vấn đề học tập chứa đựng mâu thuẫn, đưa học sinh vào tình huống cóvấn đề làm nảy sinh nhu cầu nhận thức, hướng dẫn học sinh đề xuất giả thuyết,lập kế hoạch và tự giải quyết vấn đề Trong quá trình đó, học sinh không nhữngnắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy, biết cách phát hiện và giảiquyết vấn đề, hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu Phương pháp này đãtạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tích cực nhất, tạokhông khí tự do tư tưởng, tinh thần dân chủ trong giờ học: “không ai có quyềnnắm giữ chân lí mà chân lí thuộc về mọi người”
- Thực chất của việc dạy học nêu vấn đề là giáo viên đặt câu hỏi hoặc nêuvấn đề, học sinh phải tự lực suy nghĩ, thảo luận, giải đáp dưới sự định hướng củagiáo viên Quá trình suy nghĩ, thảo luận, giải đáp là điều kiện tốt để kích thích tínhnăng động sáng tạo, những suy nghĩ độc lập của học sinh, dần dần hình thànhphong cách học tập và làm việc tích cực Muốn làm được điều này, giáo viên phải
Trang 11biết phát hiện vấn đề Có thể vấn đề ở đây là những điều mà giáo viên đã biết câutrả lời nhưng hư cấu thành chưa biết để lôi cuốn học sinh vào giải quyết Cũng cóthể đó là vấn đề không có câu trả lời chính xác, tùy vào thời điểm, cách thức, kĩnăng của mỗi người để giải quyết nó trong cuộc sống Tình huống có vấn đề làtình huống chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết,một vướng mắc cần tháo gỡ, một câu hỏi cần tìm câu trả lời…
Trong quá trình tạo những câu hỏi, tình huống có vấn đề, giáo viên khơi gợicho học sinh suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo để đưa ra cách giải quyết mới, ý tưởngmới Thậm chí, trong các ý tưởng mới đó lại có một vài vấn đề mới được nảy sinh
và có thể vấn đề đó giáo viên chưa từng nghĩ đến Trong trường hợp này, nhữnghọc sinh khác trong lớp càng có cơ hội để thể hiện suy nghĩ của mình Phát huymạnh mẽ tính độc lập trong suy nghĩ của học sinh, giúp học sinh thực sự trở thànhchủ thể của họat động học tập Phương pháp này còn có thề phát triển khả năngdiễn đạt bằng lời của học sinh, tăng cường hoạt động, kích thích nỗ lực của họcsinh trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn chương
- Đặc trưng của phương pháp dạy học nêu vấn đề: Đây là một phương pháp phứchợp có 3 đặc trưng cơ bản:
+ Phương pháp này gồm một hoặc một vài vấn đề chứa đựng sự mâu thuẫnhoặc có vấn đề (là những tình huống trái khoáy, ngược đời, con người được đặttrong sự bế tắc, bi kịch ) yêu cầu học sinh phải tìm tòi, phát hiện
+ Chính những mâu thuẫn hoặc vấn đề đó được đặt trong sự cấp thiết màhọc sinh phải giải quyết bằng được
+ Trong quá trình giải quyết vấn đề học sinh phải chiếm lĩnh được kiếnthức, kĩ năng, thái độ (niềm vui sướng của sự nhận thức sáng tạo)
- Các yếu tố của tình huống có vấn đề:
+ Có mâu thuẫn nhận thức, có điều chưa biết cần tìm Có mâu thuẫn nhậnthức giữa cái đã biết và cái phải tìm Điều chưa biết có thể là mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái phải tìm Điều chưa biết có thể là mối liên hệ chưa biết, hoặc cáchthức hay điều kiện hành động Đó chính là kiến thức mới sẽ được khám phá ratrong tình huống có vấn đề
+ Tạo ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới Thế năng tâm lí của nhu cầunhận thức là động lực khởi động hoạt động nhận thức của học sinh; nó sẽ gópphần làm cho học sinh đầy hưng phấn tìm tòi phát hiện, sáng tạo giải quyết nhiệm
vụ nhận thức đặt ra
+ Phù hợp với khả năng của học sinh trong việc phân tích các điều kiện củanhiệm vụ đặt ra và trong việc đi tìm điều chưa biết, nghĩa là trong việc phát hiệnkiến thức mới Tình huống có vấn đề nên bắt đầu từ cái quen thuộc, bình thường,
đã biết (từ vốn kiến thức cũ của học sinh, từ những hiện tượng thực tế…) mà điđến cái bất thường (kiến thức mới) một cách bất ngờ nhưng logic
2.2 Phương pháp thuyết trình:
Là trình bày bằng lời nói trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằmcung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe Đây là mộtcông cụ giao tiếp đóng vai trò to lớn trong sự thành công của cá nhân Người
Trang 12thuyết trình sẽ học được cách trình bày vấn đề trước đám đông, học được kĩ năng
áp dụng trong hội thoại, phát triển kĩ năng giao tiếp Đồng thời, phương phápthuyết trình cũng giúp học sinh có cơ hội thực hành và tích lũy kinh nghiệm, cóthêm tự tin
- Áp dụng phương pháp thuyết trình trong giờ học, giáo viên có thể đánh giá đượckhả năng giao tiếp của học sinh đến mức độ nào Học sinh có thể thuyết phụcngười nghe nghe theo mình, chấp nhận quan điểm, cùng suy nghĩ hành động theo
ý muốn của mình hay không? Muốn làm được điều này, giáo viên phải có nhữngbước tập dợt cho học sinh
+ Thứ nhất, giáo viên phải tập cho học sinh thói quen đứng trước đám đông
để trình bày một vấn đề nào đó (nên đặt những câu hỏi “Vì sao” hoặc “trình bày”
để học sinh trả lời)
+ Thứ hai, giáo viên khuyến khích học sinh đứng trên bục giảng (thay vìđứng tại chỗ) để trả lời những câu hỏi có vấn đề phức tạp Ví dụ: Khi học xongmột bài thơ hoặc đọan thơ, giáo viên yêu cầu học sinh: em có thể bình một đọanthơ hoặc em thích đoạn thơ, câu thơ nào nhất? Vì sao? Với văn xuôi cũng cónhiều cách đặt câu hỏi giúp học sinh tự tin trình bày trước lớp về nội dung bàihọc Khi học xong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, giáo viên có thể dùng câu hỏiđơn giản để học sinh tái hiện kiến thức hoặc đánh giá mức độ hiểu bài của họcsinh Nhà văn Kim Lân kể với chúng ta chuyện gì? Nhân vật nào gây ấn tượngnhất đối với em? Vì sao?
+ Thứ ba, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc nhóm, cử nhóm trưởng lênthuyết trình nội dung sau đó chỉ định một thành viên bất kì trong nhóm lên trìnhbày vấn đề nhằm đảm bảo cho các thành viên đều có cơ hội để trình bày Saunhiều lần thực hiện, học sinh đã quen với việc trình bày trước lớp, các nhóm sẽkhông cần nhóm trưởng mà vai trò của mọi người là như nhau
2.3 Phương pháp dùng sơ đồ tư duy:
- Sơ đồ tư duy còn gọi là Bản đồ tư duy, Lược đồ tư duy…là hình thức ghichép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề haymột mạch kiến thức…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường
nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Có thể gọi bản đồ tư duy là công cụ
ghi chú tối ưu (Internet)
- Bộ não của con người được coi là một thế giới bí ẩn Não trái ghi nhớ cácthông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con số Não phải giúp ta xử lí các thông tin
về nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh…Từ trước đến nay, chúng ta thường quen vớiviệc ghi chép thông tin bằng từ ngữ, gạch đầu dòng, tóm ý…Như vậy, chúng tachỉ sử dụng 50% khả năng của bộ não khi ghi nhận thông tin Năm 1960, TonyBuzan đã nghiên cứu ra phương pháp Bản đồ tư duy (Mind Map), đã giúp conngười tận dụng triệt để khả năng ghi nhận thông tin của bộ não
- Trong chương 8 cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” của Adam Khoo có đề
cập đến phương pháp giúp chúng ta có khả năng nhớ tốt hơn hay nói cách khác
ghi nhớ tốt không phải là năng khiếu, tài năng Adam Khoo khẳng định: “Không
Trang 13hề tồn tại trí nhớ tốt hay trí nhớ kém mà chỉ tồn tại trí nhớ được rèn luyện và trí nhớ không được rèn luyện Mỗi người trong chúng ta đều sở hữu một trí nhớ phi thường tự nhiên mà chúng ta chỉ cần học cách tận dụng nó”
Trí nhớ bao gồm sự ghi nhớ (lưu trữ thông tin) và sự hồi tưởng (tìm lại thông
tin) Sự ghi nhớ liên quan đến việc lưu trữ thông tin chúng ta nhận được vào bộ
não Sự hồi tưởng liên quan đến khả năng tìm lại thông tin đó khi cần thiết
Có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy khả năng lưu trữ thông tin của bộ não
là hoàn hảo và không bị hao mòn theo thời gian Điều này có nghĩa là mỗi từ ngữ,hình ảnh, mỗi âm thanh chúng ta lưu vào trí nhớ từ khi sinh ra được lưu giữ hoànhảo nguyên vẹn ở một nơi nào đó trong trong bộ não Vấn đề đáng quan tâm làkhả năng hồi tưởng của chúng ta không hoàn hảo Trí nhớ được tạo ra bằng cáchliên kết từng mảng thông tin với nhau Muốn nhớ tốt cần lưu ý đến các nguyên tắc
cơ bản: sự hình dung, sự liên tưởng, làm nổi bật sự việc, sự tưởng tượng, màu sắc,
âm điệu…
Như vậy, theo rất nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, muốn tận dụngtriệt để khả năng ghi nhớ và khả năng hồi tưởng của bộ não chúng ta cần sử dụng
cả não trái và não phải
Hiện nay không còn cách dạy đọc – chép, chiếu – chép, nhìn – chép…Vìvậy, giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách thực hiện sơ đồ mô phỏng kiến thứcbài học Đồng thời, giúp học sinh tư duy, sáng tạo, tận dụng khả năng ghi nhớ vàhồi tưởng những kiến thức đã ghi nhớ Hay nói cách khác, học sinh có thể thểhiện nội dung bài học theo cách của mình qua các từ khóa, từ chủ đề trung tâmđến các ý lớn đến các ý nhỏ Khác với cách ghi chép thông thường, ở cách sửdụng màu sắc kích thích trí nhớ và sự hứng thú vì mỗi nhánh có một từ khóa kèmhình ảnh
Với một kĩ thuật hình họa có đường nét, có màu sắc có từ ngữ, hình ảnhđược dựa trên sự tưởng tượng và kết nối, bản đồ tư duy giúp chúng ta tự do suy
nghĩ và phát huy tiềm năng sáng tạo của bộ não Học sinh không còn thụ động
ngồi nghe giáo viên giảng bài rồi ghi bài một cách máy móc mà trái lại các em
sáng tạo ra “tác phẩm” của riêng mình qua sự định hướng, gợi ý của giáo viên.
Ngoài việc dùng bản đồ tư duy trong dạy và học, bản đồ tư duy còn giúp học sinhnâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra
Quy trình lập Bản đồ tư duy:
- Trước hết, chúng ta bắt đầu bằng từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Sau đó,
nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một…bằng các đường kẻ (luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng
có tác dụng kích thích não như hình ảnh) Các đường kẻ càng gần hình ảnh trung
tâm càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, chúng
ta có thể hiểu và nhớ nhiều hơn do bộ não chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
(các đường ở cùng một cấp độ phải có cùng màu sắc).
Trang 14- Lưu ý: Mỗi từ hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ Nêndùng đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn Ngoài ra cần bố trí thông tin đềuquanh hình ảnh trung tâm.
Hiện nay đã có rất nhiều phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy trên máy tính Khihọc sinh học trên lớp, chúng ta chỉ cần hướng dẫn cách vẽ sơ đồ Các em chỉ cầndùng bút màu, giấy A4, …
2.4 Phương pháp đóng vai:
- Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số cáchứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giúp học sinhsuy nghĩ sâu sắc về một vấn đề nhằm ứng xử tốt hơn khi nó xảy ra trong cuộcsống Học tập để tham gia là một kĩ năng quan trọng của học sinh Đóng vai tronglớp học có thể thực hiện bằng nhiều cách nhưng khi sử dụng phương pháp nàytrong giờ học Ngữ Văn ở trường THPT thì giáo viên chỉ yêu cầu ở mức độ đơngiản Đóng vai tạo ra một môi trường kích thích, mô phỏng thực tế cho phép họcsinh tăng cường sự hiểu biết về tình huống hoặc sự kiện đã được tái hiện
- Ưu điểm của phương pháp đóng vai: học sinh rèn luyện thực hành những
kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hànhtrong thực tiễn Tạo hứng thú cho học sinh, hình thành kĩ năng giao tiếp và có cơhội bộc lộ cảm xúc Đồng thời, phương pháp này cũng tạo điều kiện phát triển sứcsáng tạo của học sinh Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cũng phải lưu ýđến việc khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cựchóa
3 Cách thức chung:
Khi giáo viên lên lớp với tiết đọc – hiểu thì vai trò của sách giáo khoa làkhông nhỏ Áp dụng phương pháp đọc – hiểu ở nhà của học sinh và đặt câu hỏinêu vấn đề của giáo viên là một việc là rất quan trọng Muốn sách giáo khoa trởthành phương tiện có hiệu quả giúp phát triển trí tuệ và làm phong phú tinh thầncho học sinh thì phải hướng dẫn cho học sinh biết phương pháp đọc
Một thực trạng đáng lo ngại là một số học sinh không đọc tác phẩm (đoạntrích) trước khi học tiết đọc – hiểu Giáo viên có thể hạn chế điều này bằng mộtquy định (thay kiểm tra bài cũ bằng việc kiểm tra phần tóm tắt tác phẩm sẽ họcđối với những học sinh lười đọc tác phẩm, giáo viên có thể hỏi một vài chi tiếttrong tác phẩm để kiểm tra việc đọc bài của học sinh)
Dần dần giáo viên phải hình thành cho học sinh:
rõ ràng, tỉ tỉ, có hệ thống
Trang 15- Một trong những bước lên lớp rất quan trọng của giáo viên đó là bướccủng cố- dặn dò Đây là bước cuối cùng trong tiến trình lên lớp vì vậy có một sốgiáo viên đã bỏ qua hoặc dặn dò qua loa vì hết giờ Theo tôi, sau khi củng cố kiếnthức bài học, giáo viên cần phải dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học sau bằng hệthống câu hỏi rõ ràng Đó là một trong những cách tạo tâm thế để học sinh tiếpcận bài học tốt hơn, tạo hứng thú tìm tòi các tài liệu có liên quan đến bài học màđặc biệt là đọc tác phẩm.
Ví dụ: Chuẩn bị học tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, giáo viên không chỉdặn học sinh đọc và tóm tắt tác phẩm mà đặt ra một số câu hỏi: Nhà văn Kim Lân
kể với người đọc câu chuyện gì? Từ câu chuyện ấy em hiểu gì về các nhân vậtTràng, thị, cụ Tứ? Qua những nhân vật đó, nhà văn muốn giửi gắm đến người đọcthông điệp gì?
Với tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thông thườnggiáo viên có thể yêu cầu: Tìm những đặc trưng cơ bản của văn học Việt Nam thời
kì đổi mới, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đọc kĩ tác phẩm, nghệ sĩPhùng đã kể với người đọc chuyện gì? Câu chuyện ở tòa án huyện kể về ai?Nhưng khi đã dùng phương pháp nêu vấn đề, tôi đã đổi mới cách hỏi Ví dụ: tạisao Nguyễn Minh Châu được đánh giá là thuộc một trong số “những người mởđường tinh anh và tài năng” nhất của văn học Việt Nam thời kì đổi mới? Đọc vàtóm tắt tác phẩm tác phẩm bằng sơ đồ tư duy Nếu em là các nhân vật trongtruyện, em sẽ hành xử như thế nào trước sự bế tắc (người đàn bà, người đànông…)
4 Cách thức cụ thể: (trong đề tài này, tôi không đề cập đến phần tiểu dẫn, nghệ
thuật, luyện tập)
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã sử dụng kết hợp các phương pháp dạy họctích cực như: phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai,phương pháp thuyết trình thông qua làm việc nhóm, phương pháp dùng sơ đồ tưduy…Khi các em đã quen với những phương pháp này, chúng ta có thể áp dụngvào bất kì bài học nào nếu thấy phù hợp
Sau khi giáo viên đã dặn dò học sinh chuẩn bị bài học chu đáo, giáo viên bắt đầukiểm tra việc chuẩn bị của học sinh (tôi thường giao trách nhiệm này cho lớptrưởng hoặc lớp phó học tập)
4.1 Tìm hiểu phần tiểu dẫn:
Phần này đã có trong sách giáo khoa, tôi chỉ hướng dẫn học sinh tìm các ý liênquan: Nêu những nét chung nhất về tác giả ( phong cách sáng tác, sở trường…)4.2 Đọc – hiểu tác phẩm
4.2.1 Tóm tắt tác phẩm:
- Khi giáo viên đã cho học sinh làm quen với cách sử dụng sơ đồ tư duy để hệthống hóa kiến thức hoặc tóm tắt tác phẩm, giáo viên có thể gọi bất kì một họcsinh nào trong lớp lên bảng để tóm tắt tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa theo cáchriêng của mình nhưng phải đủ và đúng nội dung Lúc này học sinh vừa phảithuyết trình vừa dùng sơ đồ tư duy
- Giáo viên gọi học sinh khác nhận xét, bổ sung (nếu cần)