1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn vài KINH NGHIỆM đọc – HIỂU một số văn bản THƠ CHỮ nôm TRONG CHƯƠNG TRÌNH lớp 10 TRUNG học PHỔ THÔNG

18 740 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường phổ thông, các tác phẩm thơ chữ Nôm giúp cho học sinh hiểu biết thêm về lịch sử – xã hội Việt Nam thời kỳ trung đại, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lòng yêu thương

Trang 1

VÀI KINH NGHIỆM ĐỌC – HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN THƠ CHỮ NÔM TRONG CHƯƠNG TRÌNH

LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX còn gọi là văn học trung đại – tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến Hai thành phần chủ yếu của văn học trung đại là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Trong đó, văn học chữ Nôm đã đạt được những thành tựu đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Trong trường phổ thông, thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam được giảng dạy từ bậc trung học cơ sở (THCS) đến trung học phổ thông (THPT) Nó đã góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu quê hương thiết tha, lòng nhân ái, nhạy cảm trước cái đẹp, biết vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới lý tưởng cao đẹp

Thơ chữ Nôm là một trong những thành tựu rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam Thơ chữ Nôm không chỉ đa dạng về đề tài, phong phú về số lượng tác phẩm,

mà còn đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện, hình tượng thơ hàm súc, ngôn ngữ thơ tinh tế, sáng tạo Thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam thể hiện hai nội dung lớn là yêu nước và nhân đạo, phát triển theo quy luật vừa tiếp thu và dân tộc hóa những tinh hoa của văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc, tiếp thu những thành tựu của văn học dân gian Thơ chữ Nôm có sự đóng góp của những tài năng lớn như : Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyên Gia Thiều Thơ chữ Nôm có một giá trị nhân bản rất cao, chứa đựng những nỗi niềm mà các nhà thơ gửi gắm Đó là những tiếng lòng của các nhà thơ nên có sức truyền cảm mạnh mẽ, lắng sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còn tỏa sáng đến muôn đời sau

Trong trường phổ thông, các tác phẩm thơ chữ Nôm giúp cho học sinh hiểu biết thêm về lịch sử – xã hội Việt Nam thời kỳ trung đại, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lòng yêu thương con người bao la, những triết lý nhân sinh sâu sắc Học sinh còn được cung cấp thêm những hiểu biết về cái hay, cái đẹp của ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật Một bài thơ , một đoạn thơ chữ Nôm hay gợi mở cho học sinh nhữung tư duy bay bổng, những tình cảm lắng động, những rung động thấm đẫm tình người, cái đẹp hài hòa về nội dung về hình thức của thơ Nôm cuốn hút, hấp dẫn học sinh Nó bồi dưỡng cho học sinh năng lực thẩm mỹ nhạy cảm với cái đẹp, hướng các em tới những điều đẹp

Trang 2

năng đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm thời kỳ văn học trung đại Hoạt động dạy và học thơ chữ Nôm đạt hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường THPT Thông qua hoạt động giảng day, kiểm tra, đánh giá, người giáo viên cần trang bị cho học sinh một số kỹ năng cần thiết để học sinh cảm thụ tốt một bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam

Từ yêu cầu đổi mới phương pháp, dạy học, phát huy năng lực tư duy sáng tạo

của học sinh, tôi biên soạn đề tài “Vài kinh nghiệm đọc – hiểu mộ số văn bản thơ chữ

Nôm trong chương trình lớp 10 trung học phổ thông”, góp một ý kiến nhằm nâng cao

năng lực đọc – hiểu thơ chữ Nôm cho học sinh Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, xây dựng của các đồng nghiệp

II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:

1 Thuận lợi :

- Vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn luôn được sự quan tâm rộng rãi của các ban ngành, nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã tổ chức các hội nghị chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông, tổ chức hội giảng cấp tỉnh trong nhiều năm, tuyên dương những giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh Ban Giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn có nhiều đổi mới trong tổ chức các buổi họp tổ chức chuyên môn, không nặng về thủ tục hành chính

- Đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn nhiệt tình, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, tâm huyết với nghề, luôn đổi mới trong phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn Giáo viên trong tổ nhiệt tình tham gia các đợt thao giảng dự giờ, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy Nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh

- Nhà trường được cung cấp nhiều trang thiết bị : máy chiếu, tranh ảnh, đồ dùng dạy học tạo hứng thú cho học sinh học tập môn Ngữ văn Nhiều giáo viên trong tổ chuyên môn tự làm đồ dùng dạy học, tìm tòi tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy môn Ngữ Văn

- Chương trình phân ban đòi hỏi thầy và trò phải sáng tạo trong giảng dạy và học tập, phải phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh Giáo viên phải đổi mới cách soạn giáo án, thiết kế bài dạy, tổ chức các khâu lên lớp và chuẩn bị ở nhà Nhờ vậy, chất lượng giảng dạy các bộ môn, trong đó có môn Ngữ văn ngày càng cao Tỉ lệ học sinh khá giỏi ngày càng tăng so với năm học trước

- Học sinh học chương trình phân ban muốn đạt danh hiệu học sinh tiên tiến, học sinh giỏi phải cố gắng học tập môn Ngữ văn

Trang 3

2 Khó khăn :

- Trình độ học sinh trong nhà trường nhìn chung tương đối đồng đều Học sinh đuợc tuyển vào lớp 10 trong các năm học đều là các học sinh có học lực khá, giỏi Học sinh có tinh thần ham học hỏi, thông minh, sáng tạo Nhưng trong mỗi lớp học, học lực của học sinh chưa đồng đều Nhiều học sinh ý thức phấn đấu chưa cao, bằng lòng với học lực trung bình Một số học sinh học tập còn lơ là, ham chơi, chưa tập trung nghe giảng, thụ động Nhiều học sinh dành thời gian cho các môn học khoa học

tự nhiên, ôn thi đại học, môn Ngữ văn chỉ mong đạt điểm trung bình

- Chương trình học của học sinh THPT hiện còn nặng nề, kiến thức nhiều, quỹ thời gian hạn chế Giáo viên chưa có điều kiện đào sâu, nâng cao kiến thức cho học sinh

- Một số giáo viên chưa dành nhiều thời gian và công sức cho việc soạn giảng

về thơ chữ Nôm Giáo án đánh máy còn có hiện tượng sao chép của nhau hoặc lấy nguyên từ trên mạng, ít chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình học tập của từng trường, với trình độ học sinh của từng lớp

- Nhiều học sinh khi soạn bài ở nhà còn chép lại nguyên văn trong sách tham khảo, lười suy nghĩ, thiếu sáng tạo, trả lời các câu hỏi theo khuôn mẫu có sẵn Nhiều giáo viên chưa chú ý đến việc ra đề, chưa phân loại chính xác học sinh khá, giỏi và trung bình

- Một số học sinh còn “học tủ”, “học vẹt”, môn Ngữ văn ở lớp chỉ đạt điểm trung bình, nhưng thi học kỳ lại đạt điểm cao do “học tủ” trúng đề

- Một số học sinh chưa có hứng thú học thơ chữ Nôm do bài học có nhiều từ cổ, nhiều điển cổ, điển tích

3 Số liệu thống kê :

Khi thực hiện phương pháp mới trong việc đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm, chất lượng của học sinh được nâng cao Nhiều học sinh đạt điểm khá, giỏi

Kết quả khảo sát trong 3 năm học gần đây (Chấm điểm bài tự luận về thơ chữ Nôm)

Năm học Số học sinh

được khảo sát

Điểm dưới

5 – Tỉ lệ

Điểm trung bình – Tỉ lệ

Điểm khá, giỏi – Tỉ lệ

III NỘI DUNG ĐỀ TÀI :

Trang 4

A Cơ sở lý luận :

Do có quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc, văn học nước ta ngay từ buổi đầu ra đời đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nhiều yếu tố văn học Hán, văn hóa Hán : từ chữ viết đến các thể tài sáng tác, thi liệu, văn liệu Văn học chữ Hán đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Nhưng con đường tiến lên của văn học dân tộc thời kỳ trung đại là vừa phải tiếp thu, vừa phải Việt hóa, vừa phải từ bỏ dần các yếu tố Hán cùng với việc tự tạo ra những yếu tố, những hình thức mang tính dân tộc Từ chữ Hán, ông cha ta đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt, từ đó đã xây dựng một nền văn học viết bằng chữ Nôm cùng song song phát triển với nền văn học viết bằng chữ Hán Bên cạnh việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học, việc tìm ra các thể loại thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói, cùng với các thể loại có nguồn gốc Trung Quốc, là những cố gắng to lớn của cha ông ta trên con đường dân tộc hóa hình thức văn học, thể hiện tinh thần yêu nước, độc lập tự chủ và ý thức sáng tạo

Thơ chữ Nôm là thành tích quý báu của cha ông ta, làm cho văn học trung đại đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức Thơ chữ Nôm có nội dung phong phú, được đưa vào giảng dạy ở nhiều cấp học, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu, phê bình văn học Vì vậy, giúp học sinh có hứng thú học thơ chữ Nôm, nâng cao chất lượng đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại là một việc cần thiết của người giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông

B Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài :

1 Công việc chuẩn bị cho tiết đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm :

1.1 Công việc của người giáo viên :

- Để nâng cao chất lượng dạy và học thơ chữ Nôm, người giáo viên phải đầu tư

nhiều thời gian và công sức Người giáo viên phải đọc kỹ phần Tiểu dẫn và phần Văn

bản Những kiến thức được truyền đạt cho học sinh phải thật chính xác, khoa học từ

những nét chính về cuộc đời tác giả, những tác phẩm tiêu biểu, hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của văn bản Đặc biệt là phải tìm hiểu ý nghĩa của từ, các điển cổ, điển tích

- Thiết kế bài học một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn giảng dạy trong nhà trường, phù hợp với đối tượng học sinh Chuẩn bị hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài, câu hỏi rèn luyện kỹ năng đọc – hiểu văn bản chữ Nôm, câu hỏi và bài tập hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Phát hiện, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, phát huy năng lực đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm Chuẩn bị hoạt động thảo luận theo tổ nhóm của học sinh Hệ thống câu hỏi đặt ra để học sinh thảo luận phải hướng vào trọng tâm bài học,

Trang 5

vào mục tiêu bài học đặt ra Bài học phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, không lan man, dàn trải

- Người giáo viên nắm vững trọng tâm kiến thức, kỹ năng của bài học, chuẩn bị nhuần nguyễn các khâu lên lớp, sẽ làm chủ được kiến thức, chủ động về thời gian, không lúng túng khi gặp tình huống học sinh đặt ra câu hỏi đề nghị giáo viên lý giải hoặc nâng cao vấn đề

- Người giáo viên có thể tự làm đồ dùng dạy học, tìm thêm tư liệu nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy, hoặc phân công học sinh chuẩn bị sơ đồ, mô hình, dụng cụ học tập Chẳng hạn : bức tranh cảnh thiên nhiên ngày hè, bức tranh Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân

- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, soạn bài mới, hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm ở nhà

1.2 Công việc của học sinh :

- Học sinh phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, không lơ

là, thụ động Học sinh phải soạn bài ở nhà, đọc kỹ văn bản, nắm được những nét chính về cuộc đời, sự nghiệp văn học, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

- Học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập theo hướng dẫn của giáo viên : bảng phụ, tranh ảnh, hình vẽ Chuẩn bị việc thảo luận theo tổ nhóm, tranh luận theo yêu cầu của từng bài học và định hướng của người thầy

- Học sinh chuẩn bị bài học bám sát sách giáo khoa, bám sát chuẩn kiến thức,

kỹ năng qua câu hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài của giáo viên

- Những chỗ chưa hiểu sâu, học sinh có thể chuẩn bị câu hỏi, nhờ giáo viên giải đáp trên lớp

- Học sinh có thể đọc thêm một số bài thơ chữ Nôm không có trong chương

trình lớp 10 nhằm mở rộng, nâng cao tri thức Chẳng hạn các bài thơ Cảnh mùa hạ của Trần Thái Tông, Cây chuối, Cuối xuân tức sự của Nguyễn Trãi

- Liên hệ với các bàu thơ, đoạn thơ chữ Nôm đã học để tích hợp kiến thức về

thể loại Chẳng hạn như bài thơ ; Bài ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi), các đoạn trích Kiều

ở Lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều báo ân báo oán (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du).

- Ghi chép những ý kiến nhận định, đánh giá hay về tác giả, tác phẩm để làm tư liệu học tập

2 Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững những kiến thức về tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn trích :

Trang 6

Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc – hiểu phần Tiểu dẫn Học sinh đọc phải rõ

ràng, chính xác những thông tin về cuộc đời nhà thơ, những tác phẩm tiêu biểu, hoàn cảnh sáng tác bài thơ, nội dung chính, giá trị nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ, nắm đuợc xuất xứ, vị trí của đoạn trích Giáo viên và những học sinh khác chú ý lắng nghe, đối chiếu với sách giáo khoa Nhận xét cách đọc, phát hiện, sửa chữa những chỗ đọc sai dẫn đến những thông tin thiếu chính xác Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh tóm

tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn về tác giả, tác phẩm.

Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những tư liệu về tác giả, tác phẩm : tranh chân dung, tranh phong cảnh, những lời nhận định về tác giả, lời bình hay về tác phẩm, các băng đĩa ghi âm, ghi hình các nghệ sĩ ngâm các bài thơ, đoạn thơ Mục đích giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về tác giả, những đóng góp về nội dung, nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Ví dụ : Viết về Nguyễn Du, Mộng Liên Đường chủ nhân nói đến “ Tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”, Hoài Thanh ca ngợi “Sức cảm thông lạ lùng của đại thi hào dân

tộc” Tố Hữu viết “Tấm lòng thơ với tình đời thiết tha” (Kính gửi cụ Nguyễn Du) đều

là nói lên bản chất nhân đạo trong con người và cảm hứng nhân văn trong tâm hồn

Nguyễn Du Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Chinh phụ ngâm, Phan Huy chú trọng

Lịch triều hiến chương loại chí có viết “ Sách Chinh phụ ngâm là bởi hương cống

Đặng Trần Côn biên soạn Nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy, người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra” Nắm vững những trí thức trong phần

Tiểu dẫn giúp cho học sinh có cơ sở hiểu sau hơn nội dung bài thơ, đoạn thơ chữ

Nôm

3 Đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm phải chú ý đến các bản phiên âm, có thể có

dị bản, nắm vững phần chú thích, hiểu được nghĩa của các từ Việt cổ, điển cổ, điển tích :

Các bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam được dạy và học trong chương trình phổ thông được phiên âm ra chữ quốc ngữ Việc phiên âm thường có dị bản, một chữ Nôm có khi đọc thành hai, ba cách khiến cho cách hiểu cũng khác nhau Giáo viên và học sinh cần chú ý điều này để cân nhắc, lựa chọn khi đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm Nên chọn cách phiên âm trong sách giáo khoa Ví

dụ : Câu thơ thứ tư trong bài Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) của Nguyễn

Trãi có bản phiên âm “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, “Hồng liên trì đã tạn mùi hương” Bản phiên âm trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là “ Hồng liên trì đã tiễn mùi

hương” Tịn mùi hương là đã hết mùi hương, tạn mùi hương là mùi hương thoang thoảng Bản phiên âm là tiễn mùi hương (ngát mùi hương) trong sách giáo khoa là

hợp lý, vì thiên nhiên đang giữa mùa hè, rất sống động, màu sắc đậm đà Trong đoạn

trích Trao duyên (trích Truyện Kiếu – Nguyễn Du) có câu thơ được phiên âm là “Bây

Trang 7

giờ trâm gãy, bình tan” và “Bây giờ trâm gãy, gương tan” Chúng ta nên chọn cách

phiên âm thứ hai, vì trâm và gương là những vật nam nữ ngày xưa thường tặng cho nhau để làm kỷ niệm của tình yêu Trâm gãy, gương tan là hình ảnh nói về sự tan vỡ

của tình yêu Lựa chọn hợp lý cách phiên âm còn góp phần hiểu được những tâm tư, tình cảm, ý chí, tài năng nghệ thuật của tác giả Sự lựa chọn này còn giúp chúng ta tránh được sự suy diễn tùy tiện, hiểu sâu sắc giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, giúp cho học sinh phát triển tư duy độc lập và sáng tạo Đọc - hiểu văn bản thơ chữ Nôm vừa đảm bảo ý nghĩa, vừa cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung, nghệ thuật của văn bản là một việc khó khăn Nói đòi hỏi người giáo viên phải huy động vốn sống, kinh nghiệm và tri thức cuộc đời mà bản thân mình đã tích lũy được, phải có vốn từ ngữ phong phú, có khả năng cảm thụ tác phẩm, cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn bản để đồng cảm đối với những nhân vật hay cảm xúc trong tác phẩm

Đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm cần bám sát kết cấu và cảm xúc chủ đạo của

bài thơ Chẳng hạn bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi cần đọc chậm, rành mạch,

cách ngắt nhịp rõ ràng, thể hiện được vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè, vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi với tình yêu thiên nhiên, yêu đời, năng tình với nhân dân, đất

nước Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện quan niệm nhàn của tác giả,

cần đọc chậm, rõ ràng, thể hiện được khí khái và giọng trữ tình của bài thơ Đọc đúng, đọc diễn cảm một văn bản thơ chữ Nôm là một việc không dễ dàng Bởi vì mỗi học sinh có một giọng đọc khác nhau, có sự cảm thụ khác nhau về văn bản Việc rèn luyện năng lực đọc – hiểu một văn bản thơ chữ Nôm cho học sinh là rất cần thiết, giúp cho các em chiếm lĩnh các giá trị của tác phẩm

4 Hướng dẫn học sinh được những tri thức văn hóa, tri thức về thể loại của văn bản thơ chữ Nôm.

Đọc – hiểu tác văn bản chữ Nôm là đi sâu tìm hiểu văn bản với cấu trúc, hình tượng, ngôn ngữ của văn bản Nhưng nếu giáo viên cung cấp cho học sinh những tri thức về văn hóa, về thể loại của văn bản thì việc đọc – hiểu tác phẩm sẽ đạt hiêu quả cao hơn.Chẳng hạn Chinh phụ ngâm thuộc thể loại thơ tự tình Thơ tâm tình lấy tâm

trạng, cảm xúc làm đối tượng, khác với văn xuôi tự sự lấy sự kiện, hành động làm đối

tượng Khi phân tích thơ trữ tình phải chú ý đến thế giới nội tâm của nhân vật Chinh

phu ngâm gồm 478 câu thơ làm theo thể trường đoản cú, khúc ngâm được dịch ra chữ

Nôm bằng thể song thất lục bát rất thành công Đoạn trích Nỗi sầu oán của người

cung nữ (trích Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều) cũng dùng thể thơ song

thất lục bát Khi đọc – hiểu các đoạn trích trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm

khúc) cũng cần chú ý đến vai trò của thể thơ song thất lục bát trong việc hình thành

đặc điểm của ngâm khúc Đề tài người chinh phụ, người cung nữ là một đề tài khá

Trang 8

phổ biến của thơ ca cổ điển Trung Quốc, nhất là thơ Đường Khi viết Chinh phụ

ngâm, Cung oán ngâm khúc, các tác giả Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều đã có một

nguồn văn liệu dồi dào để tham khảo Cần thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của các tác phẩm này ngay từ tên gọi, nghệ thuật miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, tiếng nói đề cao hạnh phúc lứa đôi Đây là một cái mới, là đóng

góp xuất sắc của các tác giả cho lịch sử văn học Khi đọc - hiểu các đoạn trích Tình

cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Nỗi sầu oán của người cung nữ, phải chú ý đến cống

hiến quan trọng này của tác giả

Các văn bản thơ chữ Nôm ra đời cách đây đã khá lâu, nên thường có nhiều từ

cổ Các tác giả văn học trung đại, ngay cả khi viết bằng chữ Nôm cũng sử dụng nhiều điển cổ, điển tích Điều này góp phần vào việc nâng cao khả năng biểu hiện và tính chất hàm súc của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn học Điển cổ, điển tích thường không xa lạ với những trí thức thời xưa thì lại khó hiểu đối với người đọc và học sinh ngày nay Cho nên khi đọc hiểu văn bản chữ Nôm, cần giúp cho học sinh hiểu rõ các điển cổ, điển tích, được giới thiệu trong phần chú thích hoặc giáo viên giảng giải thêm Người giáo viên cần tham khảo thêm nhiều sách báo, tư liệu Khi đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm cần lĩnh hội ý từ sâu xa của điển cổ, điển tích và chú ý sắc thái biểu đạt cổ kính của từ ngữ

Ví dụ : Khi đọc – hiểu bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, giáo viên hướng

dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các từ cổ rồi, thức, tiễn, dắng dỏi, dẽ có, điển cổ

Ngu cầm, các từ Hán Việt làng ngư phủ, lầu tịch dương Khi đọc - hiểu bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên giới thiệu cho học sinh điển tích trong

truyện đời Đường, kể về Thuần Vu Phần là một viên tướng tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm vui Một hôm, Thuần Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hòe, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua nước Hòe, đuợc hưởng giàu sang phú quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mơ Tác giả mượn điển tích này để thể hiện sâu sắc quan niệm triết lý nhân sinh bằng thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chỉ là giấc chiêm bao Qua đó, tác giả khẳng định thêm sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình

Chương trình môn Ngữ văn ở bậc THPT hiện nay được xây dựng và thực hiện đổi mới phương pháp theo tinh thần tích hợp Trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy học phần văn học là học sinh phải biết cách đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại Yêu cầu này xác định những nội hàm cụ thể để học sinh thực hiện một chuỗi thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả thực hành vận dụng và nối kết kiến thức với phần Tiếng Việt, Làm văn

Trang 9

Vì vậy, khi đọc – hiểu một văn bản học, trong đó có đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm thời kỳ trung đại, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những tri thức về thể

loại Ví dụ : bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài thơ Đường luật có câu mở

đầu và câu kết thúc có dạng lục ngôn (sáu chữ) mối quan hệ giữa cảnh, sự và tình :

cảm xúc này sinh trên cơ sở tác giả quan sát những cảnh vật, sự kiện : hòe lục đùn đùn rợp mát, thạch lựu phun trào sắc đỏ, sen hồng đang ngát hương, tiếng “lao xao” nơi chợ cá dân dã, tiếng ve dắng dỏi như một bản đàn chốn “lầu tịch dương” Bài

Nhân của Nguyễn Bỉnh Khiêm là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ

Nôm Sự kết hợp các yếu tố cảnh, sự và tình trong bài thơ này khác với bài thơ Cảnh

ngày hè của Nguyễn Trãi Bài thơ không tả cảnh, không dẫn dắt cảm nghĩ bằng cảnh

mà chỉ bằng các sự việc, không có sự minh bạch rõ ràng giữa sự và tình, mà chúng

được kết hợp đan xen với nhau trong từng khổ thơ, ngay trong từng câu thơ

Phần tri thức về văn hóa và tri thức về thể loại cần được sự vận dụng linh hoạt, tùy theo nội dung bài học, thời gian được phân phối và đối tượng học sinh mà cung

cấp kiến thức cần thiết Ví dụ : Các đoạn trích Chí khí anh hùng, Thề nguyền (trích

Truyện Kiều của Nguyễn Du) thuộc thể thơ lục bát, chỉ được dạy trong 1 tiết, giáo

viên có thể cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh

sa đà, dài dòng, lan man

5 Đọc – hiểu ý nghĩa của ngôn từ, của hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm :

Khi đọc - hiểu một văn bản thơ chữ Nôm, phải đọc – hiểu ý nghĩa của ngôn từ

vì yếu tố đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc với bài thơ là ngôn từ Văn bản thơ chữ Nôm

có tính chất hàm súc, lời ít mà ý nhiều, có tính chất đối xứng của các thể thơ cổ, lựa chọn hình ảnh từ ngữ đẹp, tinh tế, khéo léo Cần tạo ấn tượng toàn vẹn về văn bản bằng cách đọc văn bản từ đầu đến cuối, hiểu được các từ khó, tự lạ, ý nghĩa của các

hình tượng Trong đoạn trích Thề nguyền, để thể hiện tình yêu câu nặng, mãnh liệt

của Thúy Kiều với Kim Trọng, sự chủ động của nàng sang nhà Kim Trọng, Nguyễn

Du đã viết hai câu thơ :”Cửa ngoài vội rủ rèm the – Xăm xăm băng lối vườn khuya

một mình” Để khám phá được ý này, giáo viên cần đặt câu hỏi :”Nêu nhận xét về

hàm nghĩa của các từ vội, xăm xăm, băng ?” Giáo viên cần cho học sinh thấy tính từ

vội kết hợp với động từ băng và từ láy xăm xăm giàu giá trị gợi hình và biểu cảm,

diễn tả bước chân nhanh nhẹn và lòng can đảm, sự chủ động và mãnh liệt của Thúy Kiều khi dám dỡ rào, vượt tường qua nhà Kim Trọng để tình tự Vì tình yêu, vì khát vọng hạnh phúc mà nàng đã bất chấp cả lễ giáo phong kiến Để phát hiện được ý này,

giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh : “Liên hệ với đoạn trích Trao duyên để chỉ

ra tính chất nhất quán trong quan niệm về tình yêu của Thúy Kiều?” Hoặc so sánh

Trang 10

tình yêu vượt qua lễ giáo phong kiến của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, đôi trai tài gái sắc cùng thời đại với Nguyễn Du

Khi đọc – hiểu một bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh cảm nhận hình tượng văn học từ các hình ảnh, chi tiết, hiểu và cảm nhận một cách tổng thể về nội dung, ý nghĩa của hình tượng Ví dụ : Hai câu thơ cuối trong

đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều- Nguyễn Du) miêu tả tư thế ra đi

mạnh mẽ, dứt khoát của Từ Hải :

Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi.

Chim bằng trong thơ văn thường tượng trưng cho khát vọng anh hùng có bản lĩnh phi thường khát khao làm nên sự nghiệp lớn Câu thơ một lần nữa khẳng định ý chí, lòng quyết tâm của Từ Hải Đã đến lúc chim bằng bay lên cùng gió mây Từ Hải tạm biệt cuộc sống ấm êm để ra đi lập công danh Đó là ý chí, lòng quyết tâm của người không muốn sống cuộc sống bình thường mà muốn làm nên những việc phi thường, xuất chúng hơn người Để tìm hiểu ý nghĩa hình tượng chim bằng, giáo viên đặt câu hỏi :”Cảm nhận của anh (chị) hình tượng chim bằng trong hai câu thơ cuối đoạn trích?”

Tìm hiểu ý nghĩa hình tượng trong một bài thơ chữ Nôm còn là tìm hiểu tài năng sử dụng ngữ từ, hình ảnh, sự sắp xếp kết cấu gợi cảm của nhà thơ, sự thống nhất giữa những mặt đối lập trong hình tượng Các nhà thơ thời trung đại thường tạo ra

cách tiếp cận thế giới từ các quan hệ đối lập Ví dụ : Bốn câu thơ trong đoạn trích Nỗi

thương mình (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) diễn tả tâm trạng đau đớn, tủi hổ đến ê

chề của Kiều :

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

Quá khứ đối lập với hiện tại, đối lập một cách khốc liệt Dĩ vãng chỉ được gợi

lên qua một câu : Khi sao phong gấm rủ là, còn hiện tại được nhắc đến liên tiếp trong

ba câu thơ Kiều vừa nhớ lại những tháng năm hạnh phúc êm đềm “trướng rủ màn che” thì hiện tại khốc liệt đã ập đến trùng trùng nghiến nát quá khứ tươi đẹp một cách phũ phàng Ngày trước nàng được nâng niu trong gấm lụa, bây giờ như cánh hoa tan

tác giữa đường Từ nghi vấn sao được sử dụng nhiều trong phép đối, vừa theo phép điệp, kết hợp với các thành ngữ chéo dày gió dạn sương, bướm chán ong chường tạo

nên giọng điệu đau xót, ê chề cho thân phận

Ngày đăng: 02/12/2015, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w