1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN PHƯƠNG PHÁP dạy học THEO HƯỚNG KÍCH THÍCH sự HỨNG THÚ, tìm tòi của đối TƯỢNG học SINH yếu, kém

28 493 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 392,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ, TÌM TÒI CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM Người thực hiện: NGUYỄN THÙY DUNG... Bài tập vật lí thì phải sử dụ

Trang 1

Đơn vị: Trường THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG

KÍCH THÍCH

SỰ HỨNG THÚ, TÌM TÒI CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM

Người thực hiện: NGUYỄN THÙY DUNG

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: NGUYỄN THÙY DUNG

2 Ngày tháng năm sinh: 02 / 08 / 1988

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Vật lý

- Năm nhận bằng: 2011

- Chuyên ngành đào tạo: Đại học Sư phạm TP.HCM – Vật lý

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy bộ môn Vật lý

Số năm có kinh nghiệm: 2 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

Trang 3

Tên sáng kiến kinh nghiệm: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ, TÌM TÒI CỦA ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM.

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

ật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm với phương pháp nghiên cứu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Mặt khác, Vật lí là môn khoa học tự nhiên có nhiều ứng dụng trong đời sống, sản xuất, chế tạo máy móc và trong nghiên cứu khoa học Do có tính thực tiễn, nên bộ môn Vật lí phổ thông mang tính hấp dẫn Tuy vậy, vật lí là môn học khó vì cơ sở của nó là toán học Lí thuyết vật lí thì rất khô khan và cứng nhắc, các thuật ngữ được dùng trong môn vật lí ít được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày nên học sinh mặc dù đã hiểu bài trên lớp và học bài ở nhà nhưng vẫn hay

quên phần lí thuyết Vì vậy, giáo viên thường hay nói đùa với học sinh là “ Học lí thì

phải lì” mới học tốt hay “ khó như lí, bí như hình” Bài tập vật lí thì phải sử dụng

toán học làm ngôn ngữ để diễn đạt, mà do đặc điểm học sinh của trường là tỉ lệ học sinh yếu kém nhiều, nhiều học sinh bị mất căn bản kiến thức toán, do đó kéo theo môn vật lí cũng ảnh hưởng rất nhiều

V

Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong ba trường cấp 3 của huyện Nhơn Trạch – Đồng Nai Ngôi trường vừa mới thành lập được 3 năm Tuy trường nằm giữa trung tâm huyện, và nằm trong khu hành chính của huyện, nhưng cách các

xã lân cận khá xa, và phần nhiều là do trường mới xây dựng nên ít người dân biết đến Bên cạnh đó, lý do cũng ảnh hưởng không kém đó là học sinh phải đi học xa nhà, trái tuyến, phải đi xe buýt, xe đưa đón học sinh mất nhiều thời gian, …

Chính vì thế mà việc nâng cao chất lượng học sinh yếu kém đang là một yêu cầu cần thiết của Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, và đặc biệt hơn hết là tôi – một giáo viên mới ra trường trẻ về tuổi nghề và tuổi đời

Điều mà quan tâm nhất hiện nay không chỉ của riêng tôi mà còn của tất cả các giáo viên trong tổ Lý là làm sao phải nâng cao chất lượng học sinh yếu, kém một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất

1 Đối tượng nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tôi đã chọn đối tượng chủ yếu là những học sinh khối

10 có học lực yếu và kém, lười học, không có sự hứng thú khi học môn Vật lí

2 Phương pháp nghiên cứu

Những học sinh học yếu, kém thường không thích bộ môn Vật lý, mà một khi các

em đã không yêu thích thì dẫn đến lười học hoặc học chỉ để đối phó và sẽ không có những phương pháp học phù hợp với đặc trưng bộ môn học này Vì vậy mà người giáo viên cần phải tìm ra những phương pháp tốt nhất nhằm tạo cho học sinh niềm say mê yêu thích, tạo hứng thú khi học môn học này Đối với đối tượng học sinh yếu, kém, giáo viên cần phải vận dụng tất cả các phương pháp dạy học để phù hợp với học sinh qua từng tiết dạy: phương pháp dạy học truyền thống, phương pháp dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp giải bài tập, phương pháp dạy thực hành…

Trang 3

Trang 4

Đối với việc dạy học cho đối tượng học sinh yếu kém, việc dạy học áp dụng nhiều phương pháp dạy học, theo tôi được thực hiện ở 3 nhiệm vụ sau:

1 Dạy một kiến thức vật lý ( Định luật, định nghĩa, khái niệm,…).

2 Dạy bài tập vật lý ( Trắc nghiệm, tự luận, giải thích hiện tượng).

3 Tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lý.

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

- “ Kiến thức mỗi người là do bản thân mình xây dựng Trong quá trình dạy – học,

học sinh phải được hoạt động trong sự hợp tác giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau, thể hiện ở chỗ: giáo viên giúp đỡ, định hướng, điều chỉnh hoạt động của học sinh tạo ra các tình huống giúp học sinh độc lập tích cực, chủ động trong nhận thức” (Phương pháp giảng dạy vật lý trong các trường THPT ở CHDC

Đức, NXB Giáo dục)

- “ Để có hoạt động tìm tòi sáng tạo, cần phải tổ chức cho học sinh hành động được

là: phát hiện vấn đề, dự đoán giải pháp, đề xuất phương án thực nghiệm kiểm chứng, tham gia kiểm chứng dẫn đến nhận ra tri thức” (A.V.Muraviep – Dạy thế

nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức Vật lí, NXB giáo dục)

- “ Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất

của ngành Giáo dục, là một trong những biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng nhà trường Việt nam hiện nay, … nhằm cải tạo tình trạng dạy học nhồi nhét, nặng

nề và kém sáng tạo” ( Tài liệu BDTX 2004 – 2007 – TS Nguyễn Mạnh Hùng).

- “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ( Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hiện nay việc cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm đào tạo ra những cán bộ có

tư duy sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề một cách tự lực, chính xác là một yêu cầu đặt ra cho ngành Giáo dục, và một yêu cầu cấp thiết hơn nữa là việc tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để tạo hứng thú học tập dẫn đến niềm say mê môn Vật lí đối với những học sinh yếu kém, lười học

Tính thời sự nóng bỏng cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan Học sinh sẽ hứng thú học tập theo phương pháp mới vì trong một tiết học các em được tự mình hoạt động, cập nhật nhiều thông tin, đáp ứng được nhu cầu của xã hội

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

Việc soạn giảng để chuẩn bị cho tiết dạy học kết hợp nhiều phương pháp dạy học đòi hỏi người giáo viên phải thực sự đầu tư trí tuệ, tư duy, tính sáng tạo và sự chuẩn

bị công phu Đối với đối tượng học sinh yếu, lười học, thì khi soạn giảng người giáo viên phải chú ý đến việc tạo hứng thú, sự quan tâm của học sinh đó đến tiết dạy học của mình Vì vậy, việc đặt vấn đề, tạo tình huống có vấn đề, gần gũi với thực tế mà học sinh có thể hình dung được, trả lời được là một yếu tố quan trọng

3 Dạy kiến thức Vật lý

Một định luật, một kiến thức vật lý, để không áp đặt cho học sinh mà để học sinh tìm ra vấn đề, tự giải quyết vấn đề, khi soạn giảng và giảng dạy tôi tiến hành các bước sau đây:

Bước 1: Kích thích hoạt động nhận thức, định hướng hoạt động nhận thức.

Trang 5

( hay còn gọi là tạo tình huống có vấn đề, đặt vấn đề)

- Việc tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích sự hiểu biết của học sinh, gây chú

ý vào bài và có đặt ra yêu cầu cụ thể để tìm cách giải quyết vấn đề

Bước 2: Hoạt động tìm ra lời giải đáp cho tình huống có vấn đề.

Có 2 cách:

- Dùng phương pháp thực nghiệm vật lý để tìm ra câu trả lời trực tiếp: (nêu rõ mục

đích thí nghiệm, phương pháp tiến hành, đo đạc, giúp học sinh tiến hành thí nghiệm, hướng dẫn học sinh xử lý kết quả thí nghiệm và kết luận); GV có thể kết hợp công cụ trình chiếu Powerpoint những đoạn phim thực nghiệm, minh họa,…

- Dùng phương pháp suy luận để tìm ra câu trả lời: Giáo viên có thể kết hợp

Powerpoint để trình chiếu minh họa, dùng phương pháp đàm thoại giúp học sinh vận dụng những suy nghĩ từ những kiến thức đã biết để tìm ra câu trả lời Đối với những học sinh yếu, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp hơn, có những gợi ý để học sinh có thể trả lời chứ không áp đặt kiến thức cho học sinh

Bước 3: Kiểm chứng kết quả bằng thí nghiệm thực hành.

Nếu có điều kiện nên cho học sinh làm thí nghiệm thực hành để kiểm chứng lại kết quả Giáo viên có thể cho học sinh hoạt động theo nhóm, rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm cho học sinh, đảm bảo được tất cả học sinh của lớp phải cùng làm, đặc biệt là những học sinh yếu, kém

Bước 4: Vận dụng kiến thức mới nhận được vào giải bài tập, giải thích hiện tượng.

Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới nhận được vào giải thích các hiện tượng thực tế, giải các bài tập, trả lời được các câu hỏi giúp học sinh đạt mức độ thông hiểu Đối với học sinh yếu, kém thì giáo viên nên cho bài tập ở mức độ vận dụng thấp…

Những bước dạy học nêu ra trên đây chỉ mang tính tương đối Tùy vào điều kiện thực tế, tùy vào từng bài, từng lớp dạy mà giáo viên vận dụng linh hoạt các tiến trình trên và kết hợp những phương pháp dạy học khác để điều khiển hoạt động của học sinh giúp học sinh biết nhận thức tìm ra vấn đề, tạo hứng thú để giải quyết vấn đề.Ngoài ra trong mỗi giờ học, ngoài việc giảng dạy nhiệt tình, giáo viên nên tích cực kiểm tra bài cũ, kiến thức cũ của học sinh Để học sinh tích cực xây dựng bài, giơ tay phát biểu, giáo viên nên cho điểm khuyến khích học sinh mỗi lần học sinh đó trả lời đúng câu hỏi của giáo viên, cộng 1 điểm vào cột kiểm tra miệng của học sinh.Những tiết dạy còn nhiều thời gian, GV nên cho học sinh làm bài tập vận dụng công thức Vật lí vừa mới học xong vào trong vở Giáo viên nên cho bài tập vận dụng không quá khó, có sự hướng dẫn Giáo viên chọn khoảng 5 học sinh làm bài xong nhanh nhất và gọi 1 học sinh lên bảng sửa, nếu đúng sẽ được cộng điểm Như vậy sẽ tạo hứng thú để học sinh kiếm điểm cao Những học sinh khác mà chưa được cộng điểm sẽ mong chờ đến giờ Vật lí để kiếm điểm cộng Cứ như vậy thì sẽ hình thành thói quen học tập và yêu thích môn Vật lí

Trang 5

Trang 6

TIẾT DẠY MINH HỌA LỰC MA SÁT (1 Tiết)

I MỤC TIÊU.

1 Kiến thức:

- Nêu được những đặc điểm của lực ma sát trượt, ma sát nghỉ, ma sát lăn

- Viết được công thức của lực ma sát trượt

- Nêu được một số cách làm giảm hoặc tăng ma sát

- Bước đầu biết đề xuất giả thuyết một cách hợp lí và đưa ra phương án thí nghiệm

để kiểm tra giả thuyết

II CHUẨN BỊ.

1 Chuẩn bị của giáo viên.

- Hai khúc gỗ hình hộp chữ nhật có khối lượng như nhau 200gam, có móc để móc lực kế, diện tích các bề mặt không giống nhau, độ nhẵn các bề mặt không giống nhau ( hoặc một khúc gỗ và các quả nặng 200 gam)

- Lực kế nhạy 5N ( có thể chuẩn bị nhiều hơn đề phòng hỏng, không chính xác)

- Một máng trượt

- Ôn lại các kiến thức đã học về lực ma sát ở lớp 8

- Ôn lại điều kiện cân bằng của một vật đã học ở bài trước đó

- Một vài loại ổ bi, con lăn

- Xác định trọng tâm của bài là phương án thí nghiệm hình 13.1 SGK, qua đó dạy cho học sinh kiến thức về phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp dạy học: Kết hợp phương pháp dạy học truyền thống có ứng dụng

công nghệ thông tin (cho xem đoạn phim, thí nghiệm minh họa), phương pháp làm việc nhóm, phương pháp làm thí nghiệm kiểm chứng

2 Chuẩn bị của học sinh.

- Ôn lại các kiến thức đã học về lực ma sát ở lớp 8

III CÁC BƯỚC HOẠT ĐỘNG:

1 Ổn định lớp – Kiểm tra sỉ số (2 phút).

Trang 7

2 Đặt vấn đề: (1 phút) (Tình huống Vật lý mở đầu)

Người ta thường nói đến lực ma sát như nói đến một lực cản trở chuyển động Nếu chỉ có lực ma sát thì mọi trục của động cơ sẽ ngừng quay, mọi bánh xe sẽ ngừng lăn Nhưng nếu không có lực ma sát thì ta không thể đi bộ hoặc đi xe được Tại sao vậy?

Việc nghiên cứu lực ma sát sẽ giúp ta nhận ra và giải thích được nhiều hiện tượng

mà ta không ngờ là đã có lực ma sát tham gia, thậm chí còn giữ vai trò chủ yếu.

1 Hoạt động 1: (27 phút)Tìm hiểu về lực ma sát trượt.

Mức độ

chuẩn kiến thức

– kĩ năng

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

* Ôn lại kiến thức cũ và đặt vấn đề tìm hiểu bài: (3 phút)

- Nêu câu hỏi cả lớp cùng thảo luận:“ ở lớp 8 các em đã học những gì về lực ma sát? ”

Dẫn: Như vậy ta mới chỉ

biết các loại lực ma sát xuất hiện khi nào Bây giờ ta sẽ tiếp tục nghiên cứu phương, chiều và độ lớn của các loại lực ma sát Đầu tiên là lực

+ Lực ma sát lăn sinh ra khi một vật chuyển động lăn trên một vật khác

+ Lực ma sát nghỉ giữ cho vật đứng yên khi vật bị tác dụng của lực khác song song với mặt tiếp xúc

- GV cho HS xem đoạn phim

về một người đi chuyển trên đường trơn đi giày có mặt đế sần sùi và một người đi giày

có mặt đế nhẵn

- GV: Đo độ lớn của lực ma sát trượt như thế nào đây?

- GV: giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và nêu cách đo độ lớn của lực ma sát trượt

- Sau đó GV thực hiện thí

- Học sinh quan sát và nhận xét:

+ Khúc gỗ chuyển động gần như thẳng đều

Trang 7

Ôn lại kiến thức

cũ Tạo tình huống vật lí cơ bản

Tình huống vật

lí cơ bản

Kết hợp công nghệ thông tin.

Giới thiệu dụng

cụ

và làm thí nghiệm

Trang 8

Hoạt động 2 (5 phút)

GV: Dùng cách đo ở trên chúng ta đi tìm hiểu xem độ lớn của lực ma sát trượt phụ thuộc các yếu tố nào?

* Thí nghiệm khởi đầu:

GV: Nếu cô móc lực kế vào khúc gỗ và kéo cho nó chuyển động thẳng đều thì số chỉ của lực kế( tức là độ lớn của lực ma sát trượt) phụ thuộc vào những yếu tố nào trong các yếu tố sau đây ?

- Diện tích tiếp xúc của khúc

gỗ với mặt bàn

- Tốc độ của khúc gỗ

- Áp lực của khúc gỗ lên mặt tiếp xúc

- Bản chất (chất liệu) và các điều kiện bề mặt(độ nhám, độ sạch, độ khô,…)của mặt tiếp xúc

Hoạt động 3 (2 phút)

*Xây dựng giả thuyết:

GV vừa nhắc lại các giả thuyết các em đưa ra vừa ghi lên bảng (Thảo luận nhóm)

- GV yêu cầu từng nhóm đưa ra giả thuyết của nhóm

- Quan sát thí nghiệm khởi đầu

- Ghi nhớ các yếu tố GV đưa ra

Học sinh có thể đưa ra nhiều giả thuyết (dự đoán):

a) Diện tích tiếp xúc của khúc gỗ với mặt bàn( Stx)

+ Fmst có phụ thuộc Stx

+ Fmst không phụ thuộc Stx

b) Tốc độ của khúc gỗ (v)

+ Fmst có phụ thuộc v + Fmst không phụ thuộc vc)Áp lực của khúc gỗ lên mặt tiếp xúc ( N )

+ Fmst có phụ thuộc N+ Fmst không phụ thuộc Nd)Bản chất(chất liệu) và các

Học sinh làm việc nhóm tham gia thực nghiệm, dự đoán kết quả

và làm thí nghiệm tìm

ra kết quả.

Học sinh tham gia

dự đoán kết quả thí nghiệm

Trang 9

điều kiện bề mặt (độ nhám ,

độ sạch, độ khô,…)của mặt tiếp xúc

+ Fmst có phụ thuộc + Fmst không phụ thuộc

Hoạt động 4 (4 phút)

* Thí nghiệm kiểm tra

- GV: Tất cả các giả thuyết (dự đoán) mà các em đưa ra đều có thể đúng hoặc chưa đúng Bây giờ chúng ta xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết trong đó chỉ thay đổi một yếu

tố còn các yếu tố khác thì giữ nguyên

- GV giới thiệu cho học sinh các dụng cụ thí nghiệm (hai khúc gỗ, một lực kế)

- Sau khi các em thảo luận đưa ra các phương án thí nghiệm kiểm tra

- GV: Do điều kiện thời gian

có hạn cả lớp cùng làm thí nghiệm kiểm tra sự phụ thuộc của lực ma sát vào hai yếu tố

là diện tích bề mặt và áp lực của vật lên mặt tiếp xúc (các yếu tố khác giữ nguyên)

Thí nghiệm 1: GV làm TN học sinh quan sát nhận xét kết quả

- Móc lực kế vào khúc gỗ kéo cho nó chuyển động thẳng đều đọc số chỉ của lực kế

- Giữ nguyên khúc gỗ thay đổi bề mặt tiếp xúc có diện tích khác lúc đầu

(*Chú ý: Hai bề mặt tương đối nhẵn như nhau) đọc số chỉ lực kế và nhận xét Số chỉ lực kế như nhau

là giả thuyết đúng

Kết luận 1: giả thuyết chúng

ta đưa ra là sai như vậy giả Trang 9

HS làm việc nhóm

Thảo luận phương

án thí nghiệm kiểm chứng

Trang 10

- GV yêu cầu HS đưa ra kết luận.

- GV kết luận lại

thuyết đúng phải là:

“Độ lớn lực ma sát trượt không phụ thuộc vào diện tích tiếp xúc bề mặt”

Hoạt động 5 (5 phút)

Thí nghiệm 2: GV làm TN (một trong các phương án thí nghiệm mà học sinh đưa ra phù hợp với ý đồ GV, nếu không thì GV gợi ý) học sinh quan sát nhận xét kết quả

- Móc lực kế vào một khúc

gỗ kéo cho nó chuyển động thẳng đều đọc số chỉ của lực kế

(Có thể sử dụng các quả nặng để thay đổi áp lực)

- Các thí nghiệm còn lại nếu không thực hiện được trực tiếp có thể cho học sinh xem thí nghiệm mô tả bằng công nghệ thông tin hoặc cho HS kiểm tra ở nhà nếu có dụng cụ

- Yêu cầu HS rút ra kết luận chung về đặc điểm của độ lớn lực ma sát trượt

- HS quan sát thí nghiệm kiểm tra

TNKT2 : Các giả thuyết+ Fmst có phụ thuộc N+ Fmst không phụ thuộc NGiả sử Fmst có phụ thuộc N là giả thuyết đúng

Kết luận 2: giả thuyết chúng

ta đưa ra là đúng:

“Độ lớn lực ma sát trượt phụ thuộc vào áp lực của vật lên

Hoạt động 6 (5 phút)

GV: Giới thiệu công thức tính

hệ số ma sát trượt và độ lớn lực ma sát trượt

- HS ghi nhận hệ số ma sát

Kiểm chứng giả thuyết

Quan sát thí nghiệm

mô phỏng

Trang 11

(GV ghi bảng công thức)

- Hệ số ma sát trượt

mst t

F N

- Biểu thức tính độ lớn lực ma sát trượt

mst t

F = µ N

- Lưu ý với HS: µtphụ thuộc

vào vật liệu, hình dạng bề mặt tiếp xúc, không có đơn vị

- GV giới thiệu hệ số ma sát trượt của một số vật liệu thông thường (bảng 13.1)

- GV giới thiệu vai trò của lực ma sát trượt trong cuộc sống (có ích và có hại) Yêu cầu HS lấy thêm ví dụ

trượt và độ lớn lực ma sát trượt

- Ghi nhận lưu ý của GV

- Quan sát bảng 13.1

- Lấy thêm ví dụ về lực ma sát trượt có ích và có hại

2 Hoạt động 2(5 phút): Tìm hiểu về lực ma sát lăn.

Lực ma sát lăn xuất hiện

khi một vật lăn trên một

- Giới thiệu một vài đặc điểm của lực ma sát lăn

- Giới thiệu lực ma sát lăn

có ích và có hại như thế nào? Cho HS quan sát vài

ổ bi, con lăn

- HS lắng nghe và ghi nhớ

- Chú ý lắng nghe và tìm thêm một vài ví dụ về lực

Lực ma sát nghỉ chỉ xuất

hiện khi có ngoại lực tác

dụng lên vật, ngoại lực này

- Giới thiệu một vài đặc điểm của lực ma sát nghỉ

- Giới thiệu lực ma sát nghỉ

có ích và có hại như thế

- HS lắng nghe và ghi nhớ

- Chú ý lắng nghe và tìm thêm một vài ví Trang 11

Liên hệ thực tế

và quan sát ứng dụng thực tế.

Liên hệ thực tế

Liên hệ thực tế

Trang 12

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

Sau khi học bài này các em biết được

để trả lời các câu hỏi và bài tập cuối bài

- Trả lời lần lượt các loại ma sát

- Nhận nhiệm vụ về nhà

4 Dạy bài tập Vật lý

Vật lý là một môn học khó vì cơ sở của nó là toán học Bài tập vật lí lại rất đa dạng và phong phú Trong phân phối chương trình số tiết bài tập lại hơi ít so với nhu cầu cần củng cố kiến thức cho học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu, kém cần

có thời gian làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập Chính vì thế người giáo viên cần phải tìm ra những phương pháp tốt nhất nhằm tạo cho học sinh niềm say mê, hứng thú môn học này Việc làm này rất có lợi cho học sinh trong thời gian ngắn đã nắm được các dạng bài tập, nắm được phương pháp giải và từ đó có thể phát triển hướng tìm tòi lời giải mới cho các dạng bài tập tương tự

Quá trình giải bài tập là quá trình vận dụng lí thuyết vào giải quyết các nhiệm vụ học tập cụ thể, qua đó rèn luyện được khả năng vận dụng tri thức, rèn luyện được tính kiên trì, tính chủ động và sáng tạo của người học Hiện nay, số lượng sách tham khảo và sách bài tập có mặt trên thị trường rất phong phú và đa dạng Điều gây khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn cho bản thân các em hệ thống bài tập thích hợp để học tập Vì vậy mà giáo viên cần quan tâm đến việc xây dựng, khai thác, lựa chọn bài tập nhằm bồi dưỡng kĩ năng giải bài tập cho các em Tôi là một giáo viên trẻ mới ra trường vì vậy trong quá trình dạy học nhiều khi tôi chưa chú trọng đúng mức về cách ra bài tập và hướng dẫn giải bài tập Chính vì vậy, một tiết dạy bài tập cần dành thời gian đầu tư soạn giảng công phu, và biết rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy

Đối với đối tượng học sinh yếu kém, thực trạng của những học sinh này khi thực hiện đề tài này:

+ Trên 80% học sinh không có và nếu có thì không biết sử dụng máy tính bỏ túi

Trang 13

+ Hơn 50% học sinh không có vở bài tập và sách bài tập.

+ Trên 50% học sinh chưa có động cơ, thái độ học tập đúng đắn

Biện pháp thực hiện:

- Trang bị đầy đủ cho học sinh những kiến thức toán học cần thiết

- Yêu cầu mỗi học sinh tự trang bị cho mình một máy tính bỏ túi

- Hướng dẫn học sinh cách sử dụng thành thạo máy tính bỏ túi

- Giáo viên khai thác bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập

- Đối với bài tập trắc nghiệm và tự luận giáo viên cần photo cho học sinh và đảm bảo mỗi học sinh phải có một bản, giao về nhà cho học sinh nghiên cứu trước và phải đem theo trong giờ bài tập

- Trong giờ bài tập, giáo viên cần hướng dẫn học sinh trình bày lời giải và nhiều học sinh cùng tham gia giải một bài

- Đối với đối tượng học sinh yếu kém, ngoài việc giảng dạy nhiệt tình, giáo viên cần nắm bắt được tâm lí học sinh Thường xuyên gọi những học sinh yếu, kém lên bảng làm từ những bài tập từ cơ bản nhất (vận dụng 1 công thức) đến vận dụng cao (vận dụng 2 công thức) Mỗi lần lên bảng nếu làm đúng giáo viên ghi nhận và ghi điểm cộng vào sổ Người giáo viên cần tạo môi trường thân thiện giữa Thầy và Trò bằng cách động viên, khuyến khích kịp thời sự cố gắng và tích cực của học sinh đó trong học tập Khi đó, chắc chắn những em học sinh đó sẽ cảm thấy vui và sẽ muốn phát huy tính tích cực trong giờ học sau Tuyệt đối giáo viên không nên chê bai, miệt thị, xem thường những học sinh yếu khi làm sai như thế càng vô tình làm các em chán ghét môn Vật lí hơn

Sau đây, tôi xin đưa ra tiết dạy minh họa cho bài tập tự luận và bài tập dưới hình thức trắc nghiệm khách quan và dạng bài tập giải thích hiện tượng tự nhiên

4.1 Dạy bài tập Vật lý tự luận

Bước 1: Tóm tắt những kiến thức liên quan, gọi học sinh trả lời những câu hỏi liên

quan đến kiến thức cũ, giúp học sinh hệ thống hóa lại nhóm kiến thức cần vận dụng, điều kiện vận dụng

Bước 2: Nêu bài tập cụ thể theo hệ thống từ dễ đến khó, các dạng tiêu biểu, vận

dụng kiến thức vào các hiện tượng vật lí Gợi ý học sinh tóm tắt đề, phân tích dữ kiện bài toán, tìm ra mối liên hệ giữa các dữ kiện với những kiến thức đã biết, gợi ý giúp học sinh suy nghĩ hướng giải quyết

Dùng phương pháp vấn đáp để giúp học sinh trình bày cách giải

Bước 3: Gọi học sinh nhận xét, nêu lại được cách thức giải bài toán, hình thành

phương pháp giải dạng bài toán và vận dụng giải các bài tập tiếp theo

TIẾT DẠY MINH HỌA BÀI TẬP CHUYỂN ĐỘNG THẲNG BIẾN ĐỔI ĐỀU

I MỤC TIÊU:

1 Kiến thức:

- Nắm được các bước giải toán lập phương trình chuyển động của chất điểm, cách vẽ

đồ thị vận tốc – thời gian, từ đồ thị lập lại phương trình vận tốc

Trang 13

Trang 14

- Nắm được các bước giải bài toán tìm vị trí và thời điểm gặp nhau của hai chất điểm cùng tham gia chuyển động.

2 Kỹ năng:

- Giải được các bài toán

- Thực hiện các phép toán chính xác, trình bày logic bài toán

- Kỹ năng vẽ đồ thị

3 Thái độ: Tích cực tham gia tìm hiểu vấn đề cùng giáo viên.

II CHUẨN BỊ:

1 Giáo viên: Hệ thống kiến thức và phương pháp giải các bài toán.

2 Học sinh: Chuẩn bị các bài toán đã giao làm ở nhà.

III CÁC BƯỚC HOẠT ĐỘNG:

1 Hoạt động 1: Ôn lại kiến thức.

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung ghi nhớ

- Viết công thức tính độ

lớn của vận tốc tức thời?

- Viết công thức tính độ

lớn của gia tốc? Giá trị

như thế nào trong từng

loại chuyển động?

- Viết công thức tính vận

tốc vận tốc vào thời điểm

t bất kì?

- Dấu của v0 và a như thế

nào trong từng loại

chuyển động?

- Viết công thức tính

quãng đường đi được?

- Viết công thức liên hệ

v v

0 0

0

v a

v a

- Quãng đường đi được:

0 0

0

v a

v a

- Công thức liên hệ giữa gia tốc, vận tốc và quãng đường

đi được:

as v

v 2 2 0

v v

0 0

0

v a

v a

4 Quãng đường đi được:

0 0

0

v a

v a

5 Công thức liên hệ giữa gia tốc, vận tốc và quãng đường

đi được:

as v

v 2 2 0

: NDĐ : CDĐ

: NDĐ : CDĐ

: NDĐ : CDĐ

: NDĐ : CDĐ

: CĐTNDĐ : CĐTCDĐ

: CĐTNDĐ : CĐTCDĐ

: CĐTNDĐ : CĐTCDĐ

: CĐTNDĐ : CĐTCDĐ

Ngày đăng: 02/12/2015, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w