BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Đỗ Thị Thanh Trang XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CÓ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ Ở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Thanh Trang
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
CÓ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Thanh Trang
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
CÓ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- PGS.TS Nguyễn Xuân Trường đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
- PGS.TS Trịnh Văn Biều đã dành nhiều thời gian góp ý và cung cấp cho tôi những tài liệu bổ ích giúp tôi hoàn thành tốt luận văn
- Phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy cô thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học khoa Hoá học trường Đại học
Sư phạm TPHCM và Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành khóa học
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban Giám
hiệu, các thầy, cô giáo tổ Hóa và các em học sinh Trường THPT Việt Âu, THPT Trần Hưng Đạo, THPT Trần Khai Nguyên, THPT Lương Văn Can cũng như các bạn, các anh chị lớp Cao học khóa 21 chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Hóa học đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
TPHCM, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Đỗ Thị Thanh Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Tổng quan về môi trường 6
1.2.1 Môi trường và chức năng cơ bản của môi trường 6
1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững 7 1.3 Giáo dục môi trường 9
1.3.1 Tình hình GDMT trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.3.2 Mô hình của việc dạy và học trong GDMT 10
1.3 3 Các kiểu triển khai GDMT 11
1.3.4 Nội dung GDMT ở trường Trung học phổ thông 12
1.4 Phương pháp giáo dục môi trường 17
1.4.1 Phương pháp tiếp cận 17
1.4.2 Phương pháp thực nghiệm 17
1.4.3 Sử dụng bài tập hóa học trong giáo dục môi trường 18
1.5 Thực trạng sử dụng bài tập về GDMT trong dạy học hóa học ở THPT 24
1.5.1 Mục đích điều tra 24
1.5.2 Đối tượng điều tra 24
1.5.3 Phương pháp điều tra 25
Trang 51.5.4 Kết quả điều tra 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG GDMT PHẦN HÓA HỮU CƠ Ở TRƯỜNG THPT 30
2.1 Nội dung và cấu trúc phần hóa học hữu cơ THPT 30
2.1.1 Nội dung phần hoá học hữu cơ 30
2.1.2 Đặc điểm về nội dung và cấu trúc phần hoá học hữu cơ 32
2.2 Xây dựng các bài tập về giáo dục môi trường 36
2.2.1 Những cách xây dựng bài tập hóa học mới 36
2.2.2 Nguyên tắc xây dựng các bài tập về GDMT 38
2.2.3 Quy trình xây dựng bài tập có nội dung GDMT phần Hóa học hữu cơ 38
2.3 Hệ thống bài tập có nội dung GDMT phần Hóa hữu cơ THPT 39
2.3.1 Bài tập tự luận có nội dung GDMT 40
2.3.2 Bài tập trắc nghiệm có nội dung GDMT 67
2.4 Sử dụng hệ thống bài tập có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học hóa học 79
2.4.1 Sử dụng bài tập để nêu và giải quyết vấn đề 79
2.4.2 Sử dụng bài tập để củng cố kiến thức và kĩ năng 79
2.5 Thiết kế giáo án bài dạy có sử dụng bài tập giáo dục môi trường 81
2.5.1.Giáo án bài “Ankin” 81
2 5.2.Giáo án bài “Nguồn hidrocacbon thiên nhiên” 88
2.5.3 Giáo án bài “Khái niệm về xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 96
2.5 4 Giáo án bài “Vật liệu polime” 100
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 107
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 108
3.1 Mục đích thực nghiệm 108
3.2 Nội dung thực nghiệm 108
3.3 Đối tượng thực nghiệm 108
3.4 Tiến hành thực nghiệm 109
3.4.1 Chọn và trao đổi với giáo viên thực nghiệm 109
3.4.2 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 110
3.4.3 Tiến hành hoạt động dạy học trên lớp 110
3.4.4 Tiến hành kiểm tra 111
3.4.5.Chấm bài kiểm tra, tổng hợp kết quả 111
3.4.6 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 111
3.5 Kết quả thực nghiệm 113
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 113
3.5.2 Kết quả nhận xét của GV và tham khảo ý kiến HS 120
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 123
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTHH : bài tập hóa học BVMT : bảo vệ môi trường CTCT : công thức cấu tạo
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kiến thức tích hợp GDMT lớp 11 13
Bảng 1.2 Kiến thức tích hợp GDMT lớp 12 15
Bảng 1.3 Danh sách các trường và số lượng GV được điều tra 25
Bảng 1.4 Tần suất sử dụng BTHH có nội dung GDMT của giáo viên THPT 25 Bảng 1.5 Các lĩnh vực có thể lồng ghép bài tập GDMT 26
Bảng 1.6 Phần hóa học có thể khai thác bài tập có nội dung GDMT 26
Bảng 1.7 Việc sử dụng bài tập có nội dung GDMT trong các dạng bài dạy 27
Bảng 1.8 Khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập hữu cơ có nội dung GDMT 27
Bảng 1.9 Kết quả học tập khi giáo viên sử dụng bài tập có nội dung GDMT 28 Bảng 1.10 Vai trò của bài tập hoá học có nội dung GDMT 28
Bảng 3.11 Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng 109
Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra bài “Ankin” 113
Bảng 3.13 Phân loại kết quả kiểm tra bài “Ankin” 114
Bảng 3.14 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra “Ankin” 114
Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra bài “Nguồn hidrocacbon thiên nhiên” 115
Bảng 3.16 Phân loại kết quả kiểm tra “Nguồn hidrocacbon thiên nhiên ” 115
Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra “Nguồn Hidrocacbon thiên nhiên” 116
Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra bài “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 116
Bảng 3.19 Phân loại kết quả kiểm tra “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp 117
Bảng 3.20 Tổng hợp tham số đặc trưng “Xà phòng chất giặt rửa tổng hợp” 117
Bảng 3.21 Kết quả kiểm tra bài “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 118
Bảng 3.22 Phân loại kết quả kiểm tra bài “Vật liệu polime” 118
Bảng 3.23 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra “Vật liệu polime” 119
Bảng 3.24 Hiệu quả tiết học khi sử dụng các bài tập có nội dung GDMT 120
Bảng 3.25 Hứng thú của HS khi làm bài tập có nội dung GDMT 121
Bảng 3.26 Lí do HS thích làm bài tập có nội dung GDMT 121
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hầm mỏ dễ xảy ra các vụ nổ 40
Hình 2.2 Nông dân đang xây dựng hầm biogas 42
Hình 2.3 Dầu loang trên biển vịnh Mexico 44
Hình 2.4 Sơ đồ tư duy bài “Ankin” 88
Hình 2.5 Sơ đồ tư duy bài “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 99
Hình 2.6 Sơ đồ tư duy bài “Vật liệu polime” 106
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra “Ankin” 114
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra “Ankin” 114
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích BKT “Nguồn hidrocacbon thiên nhiên” 115
Hình 3.4 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra “Nguồn hidrocacbon thiên nhiên” 116
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích BKT “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 117 Hình 3.6 Biểu đồ kết quả BKT “Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp” 117
Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra “Vật liệu polime” 118
Hình 3.8 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra “Vật liệu polime” 119
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môi trường là một vấn đề khoa học đa ngành Chúng ta phải hiểu đầy đủ
cơ sở khoa học của nó để bảo vệ và xử lý các vấn đề môi trường một cách hiệu
quả Hiện nay, sự phát triển về kinh tế kéo theo hậu quả là trái đất ấm lên, ô
nhiễm môi trường sống và phá huỷ sinh cảnh tự nhiên Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp đều do con người Vì vậy việc giáo dục bảo vệ môi trường cũng như
trang bị kiến thức về bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ là điều cấp thiết
Giáo dục môi trường (GDMT) là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất, giúp cho con người có nhận thức đúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo
vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Việc GDMT trong nhà trường phổ thông chiếm một vị trí đặc biệt, nhà trường là nơi đào tạo những người làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường của đất nước Thực tế ở trường phổ thông Việt Nam thì việc khai thác các kiến thức GDMT trong giảng dạy các môn học còn ít và sơ sài, vì vậy những hiểu biết về môi trường của học sinh còn hạn chế
Hoá học là khoa học thực nghiệm, hoá học có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Hoá học đóng góp một phần rất quan trọng vào giải thích các hiện tượng trong thực tế, giúp cho mỗi chúng ta có ý thức hơn về bảo
vệ môi trường Trong dạy học Hoá học ở trường phổ thông, nếu chúng ta lồng ghép được những bài tập về bảo vệ môi trường có liên quan đến bài học thì sẽ làm cho tiết học trở nên sinh động hơn, gây hứng thú và sức thu hút đối với học sinh và thông qua đó tuyên truyền giáo dục môi trường cho học sinh
Trong lí luận dạy học, bài tập được coi là một phương pháp dạy học vận dụng Nó được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở tất cả các cấp học và các loại trường khác nhau Bài tập được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra - đánh giá kiến thức,
kỹ năng của học sinh Như vậy sử dụng bài tập hoá học là một phương pháp dạy học Hoá học rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Hoá học ở
Trang 113 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi trường trong dạy học ở trường THPT hiện nay
- Nghiên cứu và tìm hiểu các cơ sở khoa học về môi trường, ô nhiễm môi trường
- Tìm hiểu nội dung của các bài trong chương trình Hoá học hữu cơ THPT
để tìm ra những kiến thức hoá học liên quan đến môi trường, giáo dục môi trường
- Xây dựng hệ thống bài tập về bảo vệ môi trường phần Hoá học hữu cơ
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng bài tập hóa học có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học hóa học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình dạy hoá học ở trường phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có nội dung giáo dục môi trường phần Hoá học hữu cơ THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Phần Hữu cơ trong chương trình hóa học ở THPT
- Phạm vi nghiên cứu: Một số trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh và
một số tỉnh lân cận
Trang 123
- Thời gian nghiên cứu: từ 9/2011 đến 9/2012
6 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các nhóm phương pháp sau
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc và nghiên cứu các tài liệu về môi trường, giáo dục môi trường trong dạy học Hoá học; phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp phân loại, hệ thống hóa
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Dự giờ, điều tra, tìm hiểu về việc GDMT qua dạy học Hoá học và sử dụng bài tập hóa học (BTHH) trong GDMT; phương pháp chuyên gia; Thực nghiệm sư phạm kiểm nghiệm tính phù hợp và hiệu quả của các đề xuất
- Các phương pháp toán học: Sử dụng toán học thống kê xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập Hoá học có nội dung giáo dục môi trường và sử dụng một cách khoa học, hợp lí trong dạy học Hóa học thì sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết về môi trường cho học sinh THPT
8 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Tổng quan lí thuyết về môi trường, giáo dục môi trường
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi trường, nâng cao nhận thức và đạo đức môi trường cho học sinh THPT
Trang 134
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tham khảo một số các tài liệu, bài viết, khóa luận và luận văn có nội dung giáo dục môi trường như sau: 1.1.1 Các tài liệu, bài viết về GDMT
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án “Đưa các nội dung về giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, Hà Nội 2002
2 Trịnh Văn Biều, Nguyễn Văn Bỉnh (2006), Giáo dục môi trường thông qua dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông, Tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên trung học phổ thông chu kì III (2004-2007), Đại học Sư phạm TP.HCM
3 Tài liệu tập huấn (2010), Giáo dục bảo vệ môi trường cho giảng viên các t rường đại học cao đẳng”, NXB Giáo dục
4 Tạp chí Dạy và Học hóa học, Tư liệu tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Hóa học (7/2010)
1.1.2 Các khóa luận tốt nghiệp, luận văn về GDMT
Hiện nay, đã có một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn nghiên cứu về đề tài giáo dục môi trường ở bậc THPT, cụ thể như:
1 Nguyễn Đặng Thu Hường (2009), Giáo dục môi trường thông qua dạy học hóa học lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm TP.HCM
2 Lê Thị Mỹ Trang (2003), Tìm hiểu môi trường và giáo dục môi trường qua môn hóa học ở lớp 12, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm TP.HCM
3 Phan Thị Lan Phương (2007), Giáo dục môi trường thông qua giảng dạy hóa học lớp 11 ở trường trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư
phạm TP.HCM
Trang 145
Các đề tài trên đã trình bày tương đối đầy đủ các cơ sở lí luận về môi trường và giáo dục môi trường, làm nền tảng vững chắc để chúng tôi kế thừa và phát triển đề tài của mình
4 Trần Thị Tú Anh (2009), Tích hợp các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong dạy học Hóa học lớp 12 trường THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư
Các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến việc thiết kế các bài giảng
có tích hợp và lồng ghép các kiến thức hóa học có nội dung giáo dục môi trường cho HS, chưa xây dựng được hệ thống bài tập cụ thể
7 Trần Thị Phương Thảo (2008), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về hóa học có nội dung gắn với thực tiễn, Luận văn thạc sĩ, Đại học
Trang 156
1.2 Tổng quan về môi trường
1.2.1 Môi trường và chức năng cơ bản của môi trường [14]
1.2.1.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là tổng hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có ảnh hưởng tới một vật thể hay một sự kiện, có khả năng tác động đến sự
tồn tại và phát triển đối với mỗi sinh vật
Thành phần tự nhiên của môi trường của trái đất bao gồm:
- Địa quyển (môi trường đất): Là phần vỏ cứng của Trái Đất, tính từ bề mặt Trái đất, nó có độ sâu khoảng 70 - 100 km trên phần lục địa và 2 - 8 km dưới đáy đại dương Thành phần hoá học, tính chất vật lý của thạch quyển tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đối với sự sống trên trái đất
- Thuỷ quyển (môi trường nước): Là thành phần nước của Trái Đất bao gồm các đại dương, sông, suối, ao hồ, nước dưới đất, băng tuyết và hơi nước Thuỷ quyển đóng vai trò không thể thiếu trong việc duy trì cuộc sống của con người, sinh vật và cân bằng khí hậu toàn cầu
- Khí quyển (môi trường không khí): Là lớp vỏ khí bao quanh Trái đất Trong khí quyển có tới khoảng 50 hợp chất hóa học khác nhau, giữa chúng hình thành hàng loạt các phản ứng và nằm cân bằng với nhau.Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống và quyết định tính chất khí hậu
- Sinh quyển: Bao gồm các thành phần hữu sinh (bao gồm các sinh vật sống như thực vật, các động vật và con người) và các thành phần vô sinh có quan
hệ chặt chẽ và tương tác lẫn nhau rất phức tạp
Môi trường sống của con người - môi trường nhân văn là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, kinh tế và xã hội bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân và của cả cộng đồng Môi trường sống của con người
là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất Trong môi trường sống này luôn luôn tồn tại sự tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh
Trang 167
Các thành phần của môi trường luôn chuyển hoá trong tự nhiên, diễn ra theo chu trình và thông thường ở dạng cân bằng Các chu trình phổ biến nhất trong tự nhiên là chu trình sinh địa hoá như: chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình photpho… Khi các chu trình này không giữ trạng thái cân bằng thì các sự cố
về môi trường xảy ra, tác động đến sự tồn tại của con người và sinh vật ở khu vực hoặc quy mô toàn cầu
1.2.1 2 Chức năng cơ bản của môi trường
- Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
1.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững
1.2.2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển [19]
Phát triển là xu hướng chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống, nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Mục đích của sự phát triển là đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống của con người
Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn, là đối tượng của phát triển Phát triển là nguyên nhân của mọi biến đổi đối với môi trường Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hữu
cơ với nhau Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt
Trang 171.2.2 2 Phát triển bền vững [21], [35]
Thuật ngữ " phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế- IUCN) với nội dung rất đơn giản: " Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Theo báo cáo của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới- WCED 1987 đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững là: " Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ "
Trên quan điểm tiếp cận tổng hợp có thể đề xuất một định nghĩa cụ thể hơn
đó là: “Phát triển bền vững là một quá trình vận động của một hệ thống kinh tế,
xã hội trong đó có sự gắn kết hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội
và bảo tồn tài nguyên, môi trường sống vì sự tồn tại ngày một tốt hơn của các thế
hệ kế tiếp”
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển hiệu quả,
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Thực chất của phát triển bền vững là sự kết hợp giữa phát triển với duy trì môi trường Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế -
xã hội - môi trường
Trang 189
1.3 Giáo dục môi trường
1.3.1 Tình hình GDMT trên thế giới và ở Việt Nam [19]
Trong khuôn khổ của việc GDMT thông qua các môn học trong nhà trường
có thể hiểu GDMT là một môn học nhằm giáo dục cho học sinh những kiến thức, hiểu biết về môi trường, những kỹ năng sống và làm việc trong một môi trường phát triển bền vững có thể gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp tìm ra giải pháp cho những vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể xảy ra trong tương lai
Môi trường là một vấn đề đáng quan tâm của toàn thế giới Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948 tại cuộc họp Liên hiệp quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ "giáo dục môi trường" được sử dụng Tiếp đó ngày 5/6/1972, tại hội nghị Liên hiệp quốc ở Stockholm (Thụy Điển) đã nhất trí nhận định: Việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường là một trong hai nhiệm
vụ hàng đầu của toàn nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình chống chiến tranh) Cũng vì thế ngày 5/6 hàng năm trở thành "Ngày môi trường thế giới"
Sau hội nghị Stockholm, GDMT đã được đưa vào các trường đại học ở nhiều nước Đến năm 1973, người ta thấy có khoảng 1000 chương trình được giảng dạy trong 750 trường và viện thuộc 70 nước khác nhau Tuy nhiên, mục đích, nội dung của GDMT lúc đó chưa được xác định rõ ràng, phải đợi đến các
hội nghị quốc tế sau, vấn đề này mới được giải quyết và hoàn thiện
Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào
“Tết trồng cây” để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống Cho đến nay phong trào vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ
Năm 1991, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có chương trình trồng cây phát triển giáo dục - đào tạo và bảo vệ môi trường (1991-1995)
Trong "Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000", GDMT được ghi nhận như một bộ phận cấu thành
Trang 1910
Đặc biệt gần đây nhất tháng 8-2004, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định
số 153/2004/QĐ-TTG về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
Trung ương Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam cũng đang tích cực phát động các phong trào như " Hành động vì môi trường xanh- sạch – đẹp"
1.3.2 Mô hình của việc dạy và học trong GDMT [35]
Việc dạy và học trong GDMT đang diễn ra trên toàn cầu theo một mô hình với 3 khía cạnh GDMT luôn luôn tồn tại song song:
* Giáo dục về môi trường: + Kiến thức, hiểu biết
- Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, hành động vì môi trường
- Hình thành khả năng đánh giá, ra quyết định trước những vấn đề môi trường, phát triển khả năng lựa chọn những giải pháp có tính bền vững
- Thiết lập những giá trị đạo đức môi trường căn bản
* Giáo dục trong môi trường: + Phát huy tiềm năng
+ Kinh nghiệm
+ Sự tham gia
Trang 20- Đối với việc học sẽ kích thích hứng thú và óc sáng tạo nhờ tiếp xúc trực tiếp với môi trường phong phú đa dạng
- Đối với việc dạy môi trường cung cấp một nguồn tư liệu và công cụ sư phạm vô tận
1.3.3 Các kiểu triển khai GDMT [35]
1.3.3 1 Hoạt động ở trên lớp
Thông qua môn học trong chính khoá, có các biện pháp sau:
- Phân tích những vấn đề môi trường ở trong trường học
- Khai thác thực trạng môi trường làm nguyên liệu để xây dựng bài học
- Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học, nhưng gắn liền với thực tế địa phương
- Sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được “vật chất hoá” như là điểm tựa, cơ sở để phân tích, tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết về môi trường
- Sử dụng tài liệu tham khảo (các bài báo, các đoạn trích trong các sách khoa học, các tư liệu, số liệu mới điều tra, công bố, các ảnh mới chụp nhất…) để làm rõ thêm về vấn đề môi trường
- Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với môi trường ở ngay chính trong một địa điểm thích hợp của môi trường, vườn trường, đồng ruộng, điểm dân
cư tập trung…
Trang 211.3.3 2 Hoạt động ở ngoài lớp
- Báo cáo các chuyên đề về BVMT do các nhà khoa học, các kĩ thuật viên hay giáo viên chuyên đề về môi trường trình bày
- Thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương
- Tham gia tuyên truyền, vận động thực hiện bảo vệ môi trường
- Tham gia các chiến dịch xanh hoá trong nhà trường: trồng cây, quản lí và phân loại rác thải…
- Tham quan cắm trại, trò chơi, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trưòng
- Theo dõi diễn biến của môi trường tại địa phương
- Tổ chức câu lạc bộ, thành lập các nhóm hoạt động bảo vệ môi trường
- Xây dựng dự án và thực hiện
- Hoạt động phối hợp với gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội
1.3.4 Nội dung GDMT ở trường Trung học phổ thông [22], [35]
1.3.4 1 Các nội dung cơ bản
- Khái niệm về hệ sinh thái và môi trường
- Các thành phần cấu tạo môi trường và các tài nguyên
- Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên môi trường
- Các nguồn năng lượng với vấn đề môi trường
Trang 2213
- Ô nhiễm môi trường, chất thải
- Các vấn đề môi trường toàn cầu (sự nóng lên toàn cầu, suy giảm tầng ozon, mưa axit )
- Sự suy giảm đa dạng sinh học
- Dân số môi trường và sự phát triển bền vững
- Câu lạc bộ: Câu lạc bộ môi trường sinh hoạt theo chủ đề
- Hoạt động tham quan danh lam thắng cảnh, nơi xử lý rác thải, nhà máy sản xuất
- Hoạt động trồng cây xanh khu nhà trường, khu nhà ở, khu công cộng
- Hoạt động đoàn về BVMT: tổ chức chiến dịch tuyên truyền GDMT ở nhà trường, địa phương
1.3.4 3 Nội dung và kiến thức tích hợp giáo dục BVMT phần Hoá học Hữu cơ
- Các phương pháp phân tích để xác định nguyên tố trong hợp chất hữu cơ
- Nêu được thành phần, tính chất, trạng thái tự nhiên của
- Xác định thành phần nguyên tố trong hợp chất hữu cơ
- Xác định được thành phần chính của
Trang 23- Khí metan chất gây ô nhiễm
- Biết phương pháp tiến hành thí nghiệm xác định C, H trong thành phần chất hữu cơ
- Kĩ thuật tiến hành thí nghiệm điều chế và thử tính chất metan
chất hữu cơ là C, H
- Thử tính chất của
CH4
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
- Vai trò của các hidrocacbon, đặc biệt trong công nghiệp tổng hợp hữu cơ
- Sự biến đổi các chất thành các vật liệu như PE, PVC, Cao su…
- Tiến hành thành công an toàn thí nghiệm điều chế etilen và axetilen, đốt cháy và các tính chất
- Biết được thành phần cấu tạo, tính chất của benzen và đồng đẳng của benzen gây ung thư
- Benzen có độc tính có thể gây hại cho cơ thể
- Sự biến đổi của benzen thành các chất khác
- Biết được thành phần hoá học của nguồn hidrocacbon trong
- Nhận biết anken, ankin
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm điều chế
và thử tính chất
- Tác hại của một số chất và cách sử dụng hợp lý
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
-Chú ý xử lí chất thải sau thí nghiệm
- Sử dụng an toàn đối với hóa chất độc
- Nhận biết thành phần, tính chất của khoáng sản
- Thu thập thông tin
về vấn đề bảo vệ môi
Trang 24trường trong khai thác, vận chuyển, chế biến dầu mỏ, than đá
- Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường
- Biết được nguyên nhân, tính chất, ứng dụng, điều chế của một số chất trong môi trường tự nhiên và nhân tạo
- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
- Nhận biết các chất
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
-Nhận biết các chất
cụ thể
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
- Nhận biết các chất
cụ thể
- Xử lí chất thải sau thí nghiệm
- Sử dụng xà phòng, chất tẩy rửa hợp lí, phù hợp với loại nước, chống ô nhiễm môi trường
Trang 25amino axit và protein
- Nêu được thành phần cấu tạo, tính chất của đường, tinh bột và xenlulozơ để sử dụng bảo quản hợp lí
- Vấn đề chống ô nhiễm môi trường trong sản xuất đường, sản xuất giấy, sản xuất rượu bia…
- Quá trình quang hợp của cây xanh đảm bảo cân bằng môi trường
- Biết tiến hành một số thí nghiệm tìm hiểu tính chất riêng của chất béo,glucozơ,saccarozo, tinh bột giúp hiểu được sự biến đổi các
chất trong môi trường tự nhiên
- Biết được thành phần tính chất của một số chất trong môi trường
tự nhiên Thí dụ trong thuốc lá có nicotin, trong cá mè có nhiều trimetylamin
- Thành phần tính chất của protein
- Một chất là thành phần chính trong cơ thể người, động vật
- Hiểu rõ được hiện tượng bản chất phản ứng của anilin, amino axit và protein
- Bảo quản đường, ngũ cốc hợp lí bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
- Sử dụng bảo quản
đồ dùng bằng tre,
gỗ
- Biết trồng và chăm sóc cây xanh,
sử dụng cây xanh một cách hợp lí
- Nhận biết được một số chất trong thành phần môi trường tự nhiên
- Nhận biết được một số tính chất hoá học: anilin, amino axit, protein
- Nhận biết thành phần môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
Trang 26đó biết được cách sử dụng polime hợp lí hiệu quả
- Hiểu được khái niệm, thành phần hoá học, tính chất một số vật liệu tự nhiên và nhân tạo cụ thể như tơ tổng hợp và tơ nhân tạo, chất dẻo, cao su thiên nhiên
và cao su nhân tạo, keo dán
- Đề xuất biện pháp
xử lí rác thải làm bằng vật liệu polime nói chung
- Thu thập các thông tin, xử lí thông tin về vật liệu polime tự nhiên và nhân tạo
- Thu thập các thông tin, xử lí thông tin về vật liệu polime tự nhiên và nhân tạo
- Đề xuất sử dụng phế thải hoặc tiêu huỷ một cách hợp lí
1.4 Phương pháp giáo dục môi trường [19]
1.4 1 Phương pháp tiếp cận
- Tích hợp các kiến thức về giáo dục BVMT vào môn học theo mức độ: toàn phần, bộ phận và mức độ liên hệ
- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn
- Thông qua hoạt động ngoại khóa
Trang 2718
- Phương pháp thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề
- Giảng giải, giải thích - minh họa, sử dụng các tờ rơi
- Phương pháp dạy học thực nghiệm
- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa các nhà trường và cộng đồng địa phương trong hoạt động về GDMT
1.4.3 Sử dụng bài tập hóa học trong giáo dục môi trường [26], [35]
1.4.3.1 Khái niệm về bài tập hóa học
Bài tập hoá học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, BTHH giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi, phát hiện của việc tìm ra đáp số Đặc biệt BTHH còn mang lại cho người học một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức Đây là một yếu tố tâm lý quan trọng của quá trình nhận thức đang được chúng ta quan tâm
1.4.3.2 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học, tuy nhiên, căn cứ vào hình thức người ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn: bài tập tự luận (trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
- Bài tập tự luận: Khi làm bài, HS phải viết / trình bày câu trả lời, phải lý
giải, lập luận, phải chứng minh bằng ngôn ngữ của mình Trong bài tập tự luận, lại chia ra: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập có sử dụng hình vẽ, bài tập thực tế dựa vào tính chất, nội dung bài tập Gần đây, việc kiểm tra đánh giá
HS đã chuyển dần sang trắc nghiệm nhưng bài tập tự luận vẫn đang được phát triển và sử dụng khá rộng rãi do những ưu điểm của nó như: đo được khả năng
Trang 2819
độc lập suy nghĩ, phát huy được tính sáng tạo của HS Và để tăng cường hứng thú học tập, nghiên cứu hoá học cho HS, bài tập thực tế, bài tập có sử dụng hình
vẽ hiện nay cũng được chú trọng xây dựng
- Bài tập trắc nghiệm: Khi làm bài, HS chỉ phải đọc, suy nghĩ để lựa chọn
đáp án đúng trong số các phương án đã cho Thời gian giành cho mỗi câu từ 1 - 2 phút Bài tập trắc nghiệm được chia thành 4 dạng chính: dạng điền khuyết, dạng ghép đôi, dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn Hiện nay, bài tập trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn là loại bài tập thông dụng nhất do những ưu điểm của nó như: có độ tin cậy cao, tính giá trị tốt hơn (đo được khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quát hoá ), thật sự khách quan khi chấm bài (điểm số của bài trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS và vào trình độ người chấm bài)
1.4.3.3 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hoá học
a) Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất
- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học, kỹ năng thực hành góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất bảo vệ môi trường
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước
hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình Trước khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo… Trong những
Trang 29có khả năng rèn luyện tư duy nhưng thuận lợi hơn cả là những bài tập có tác dụng rèn luyện khả năng suy luận
Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết
đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân
c) Ý nghĩa giáo dục
Giáo dục đạo đức, tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê
khoa học Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư
tưởng đạo đức Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới Thông qua việc giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng thú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung
1.4.3.4 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
Trang 3021
Thực tế cho thấy có nhiều bài tập hóa học còn quá nặng nề về thuật toán, nghèo nàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tiễn hoặc mô tả không đúng với các quy trình hóa học Khi giải các bài tập này thường mất thời gian tính toán toán học, kiến thức hóa học lĩnh hội được không nhiều và hạn chế khả năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học hóa học của học sinh Các dạng bài tập này dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp, rối rắm với học sinh làm cho các em thiếu tự tin vào khả năng của bản thân dẫn đến chán học, học kém
Định hướng xây dựng chương trình sách giáo khoa THPT của Bộ GD&ĐT (năm 2002) có chú trọng đến tính thực tiễn và đặc thù của môn học trong lựa chọn kiến thức nội dung sách giáo khoa Quan điểm thực tiễn và đặc thù của hóa học cần được hiểu ở các góc độ sau đây:
- Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội cộng đồng
- Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăng cường thí nghiệm hóa học trong nội dung học tập
- Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ
sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng phát triển chung của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán
mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho học sinh Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học
+ Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho học sinh thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống Ta cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, để
Trang 31+ Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạng bài tập tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan
Như vậy xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho học sinh ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi
1.4.3 5 Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc phát triển năng lực nhận thức của học sinh
Trong học tập hoá học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho học sinh là hoạt động giải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này các năng lực tư duy được phát triển, học sinh sẽ
có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng mới
- Tạo ra kết quả học tập mới
Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức được mục đích của hoạt động giải BTHH, không phải chỉ là tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hoá học cho học sinh BTHH phong phú và đa dạng, để giải được BTHH cần phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, … Qua đó học sinh thường xuyên được rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biết của bản thân
Trang 3223
Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách toàn diện của học sinh
1.4.3.6 Những dạng bài tập có thể góp phần giáo dục môi trường
a) Bài tập hình thành khái niệm hoá học
Khi hình thành khái niệm GV thường nêu lên định nghĩa hoặc cho HS đọc định nghĩa rồi GV giải thích, qua đó mà HS ghi nhớ các dấu hiệu bản chất của nó
GV cũng có thể lựa chọn, xây dựng hệ thống BTHH phù hợp để điều khiển hướng dẫn HS tư duy, tìm ra những dấu hiệu bản chất của khái niệm cần hình thành và phát biểu được khái niệm bằng ngôn ngữ hoá học Sau đó GV chỉnh lí, phát biểu chính xác hoá khái niệm và tổ chức cho HS vận dụng khái niệm đó Trên cơ sở hiểu rõ bản chất của khái niệm, HS dễ dàng liên hệ các kiến thức đã học với nội dung liên quan đến môi trường
b) Bài tập có nội dung biện luận để tăng cường tính suy luận cho HS
Nhiều bài toán có phần tính toán rất đơn giản nhưng có nội dung biện luận hoá học phong phú, sâu sắc là phương tiện tốt để rèn luyện tư duy hoá học cho
HS Khi GV lồng ghép các bài tập tính toán về các vấn đề có nội dung GDMT,
HS sẽ nhanh chóng hiểu và tăng cường nhận thức về môi trường thông qua bài tập Ví dụ các bài tập về tính toán lượng khí thải gây ô nhiễm không khí, hay tính toán lượng nguyên liệu cần dùng để điều chế các sản phẩm thân thiện với môi
trường
c) B ài tập thực nghiệm
Khi giải bài tập thực nghiệm, học sinh phải biết vận dụng kiến thức để giải bằng lí thuyết sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của những bước giải bằng lí thuyết và rút ra kết luận về cách giải Dạng bài tập này mang lại hiệu quả giáo dục rất tốt Khi HS được tự mình tiến hành và quan sát thí nghiệm, tư duy của HS sẽ được tác động mạnh mẽ, nhận thức được nâng cao
Trang 3324
Tuy nhiên ở Việt Nam cơ sở vật chất và điều kiện tiến hành thí nghiệm còn nhiều
hạn chế nên rất khó khăn cho việc áp dụng dạng bài tập này
d)B ài tập thực tiễn
Việc tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong các bài dạy giúp HS vận dụng các kiến thức hoá học để giải quyết các vấn đề thực tiễn có nội dung GDMT Thông qua việc giải các bài tập này HS sẽ thấy việc học hoá học có ý nghĩa hơn, hứng thú hơn
e) Bài tập có sử dụng sơ đồ, đồ thị, hình ảnh
Dạng bài tập này có hình thức trình bày ngắn gọn, cô đọng, nêu bật được những dấu hiệu bản chất của các định nghĩa, các hiện tượng và khái niệm Thông qua việc quan sát các đồ thị, hình ảnh cụ thể, HS dễ dàng tiếp thu những nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép trong bài tập Ví dụ các bài tập có đồ thị về nồng độ các khí thải độc hại trong không khí hay bài tập có hình ảnh về sự
ô nhiễm môi trường đất do rác thải
1.5 Thực trạng sử dụng bài tập về GDMT trong dạy học hóa học ở THPT
1.5 1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập có nội dung GDMT trong dạy học hóa học ở trường THPT
1.5.2 Đối tượng điều tra
Tiến hành điều tra 30 GV hóa học ở các trường THPT thuộc thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Thời gian từ tháng 9/2011 đến tháng 12/1011
Trang 341.5.3 Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ trực tiếp, trao đổi với các GV một số trường THPT
- Gửi và thu phiếu điều tra cho GV
1.5.4 Kết quả điều tra
Bảng 1.4 Tần suất sử dụng BTHH có nội dung GDMT của giáo viên THPT
Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ
Trang 3526
Bảng 1.5 Các lĩnh vực có thể lồng ghép bài tập GDMT
Các lĩnh vực Số GV Phần trăm
1 Sản xuất công nghiệp và nông nghiệp 9 30%
dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc chọn lựa các bài tập trong quá trình soạn bài giảng dạy
Bảng 1.6 Phần hóa học có thể khai thác bài tập có nội dung GDMT
Trang 3627
Bảng 1.7 Việc sử dụng bài tập có nội dung GDMT trong các dạng bài dạy
Dạng bài dạy Số GV Phần trăm
Khi sử dụng bài tập có nội dung GDMT, có 43,3% giáo viên dùng trong giờ nghiên cứu bài mới, những giờ học còn lại thì ít được sử dụng để GDMT cho
HS Kết hợp với khó khăn trong việc khai thác các bài tập môi trường trong hóa hữu cơ càng làm giảm hiệu quả giáo dục rất nhiều
Bảng 1.8 Khó khăn của giáo viên khi sử dụng hệ thống bài tập
hữu cơ có nội dung GDMT
Những khó khăn Số GV Phần trăm 1.Kiến thức hữu cơ ít gần gũi, khó khai
2 Hệ thống bài tập còn ít 9 30%
3 Mất nhiều thời gian soạn giáo án 5 16,7%
4 Thời gian tiết học ngắn không đủ
Đa số giáo viên cho rằng khó khăn lớn nhất là khó khai thác các kiến thức hữu cơ để đưa vào GDMT cho HS (43,3%), tiếp theo là hệ thống bài tập có sẵn còn ít, GV ít có nguồn tài liệu để tuyển chọn các bài tập (30%).Có 16,7% GV thấy việc soạn giáo án bài dạy có lồng ghép bài tập GDMT mất nhiều thời gian Còn 10% giáo viên còn lại thấy thời gian tiết học ngắn, chỉ đủ để truyền đạt các kiến thức trọng tâm, không đủ để lồng ghép các nội dung giáo dục khác
Trang 371 Tiết học sinh động, hào hứng 20 66,7 6 20 4 13,3
2 HS yêu thích môn học hơn 16 53,4 7 23,3 7 23,3
3 Nâng cao nhận thức của HS về môi trường 25 83,3 2 6,7 3 10
4 Hiệu quả bài dạy được nâng cao 17 56,7 10 33,3 3 10
Theo bảng đánh giá trên ta nhận thấy việc đưa nội dung GDMT trong dạy học Hóa học góp phần nâng cao hiệu quả dạy học cũng như nâng cao nhận thức
về môi trường và thái độ học tập của HS đối với môn học
Bảng 1.10 Vai trò của bài tập hoá học có nội dung GDMT
Cần thiết Không cần thiết Ý kiến khác
Trang 38
29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài bao gồm:
1 Giới thiệu tổng quan về môi trường: nêu được khái niệm, các chức năng
và mối liên hệ giữa môi trường và phát triển bền vững
2 Trình bày tình hình giáo dục môi trường trên thế giới và ở Việt Nam, mô hình dạy và học trong giáo dục môi trường, các kiểu triển khai giáo dục môi trường và nội dung giáo dục môi trường ở trường Trung học phổ thông
3 Nêu được nội dung và các phương pháp giáo dục môi trường ở phổ thông
4 Trình bày về việc sử dụng bài tập hóa học trong giáo dục môi trường: quan hệ giữa bài tập hóa học với việc phát triển năng lực nhận thức của HS và các dạng bài tập có thể góp phần giáo dục môi trường
5 Tiến hành điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học về giáo dục môi trường trong dạy học ở trường THPT với 30 GV thuộc các trường THPT ở thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam Chúng tôi nhận thấy hầu hết các GV đều đồng tình với việc lồng ghép các bài tập có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học Hóa học góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và tăng sự hứng thú, tích cực tư duy của HS Tuy nhiên đa số các GV còn gặp nhiều khó khăn trong việc biên soạn các bài tập hóa học có nội dung GDMT để đưa vào dạy học
Trang 3930
Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ
NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG PHẦN HOÁ
HỮU CƠ Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Nội dung và cấu trúc phần hóa học hữu cơ THPT
2 1.1 Nội dung phần hoá học hữu cơ
Phần hoá học hữu cơ trong chương trình THPT gồm 62 tiết, trong đó có 40 tiết lí thuyết, 12 tiết luyện tập, 6 tiết thực hành và 4 tiết kiểm tra Nội dung này được phân bố học kì II lớp 11 và học kì I lớp 12 Nội dung kiến thức bao gồm: 1) Các khái niệm mở đầu (Chương 4: Đại cương về hóa hữu cơ): Đây là cơ
sở lý thuyết chủ đạo cung cấp các kiến thức cơ bản về cấu tạo hợp chất hữu cơ Nội dung phần đại cương bao gồm các vấn đề:
- Khái niệm đại cương mở đầu, sự phân loại chất trong hóa học hữu cơ
- Cách xác định thành phần định tính, định lượng, lập công thức, biểu diễn phân tử từ hợp chất hữu cơ theo các dạng công thức: công thức tổng quát, công thức đơn giản nhất, công thức cấu tạo…
- Thuyết cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ
- Khái niệm đồng đẳng, đồng phân, dạng liên kết hóa học, sự lai hóa, phân
bố không gian của hợp chất hữu cơ
2) Nghiên cứu các loại chất hữu cơ cơ bản:
Hệ thống kiến thức về các loại hợp chất hữu cơ được sắp xếp theo các chương:
Lớp 11:
+ Chương 5: Hiđrocacbon no
+ Chương 6: Hiđrocacbon không no (Anken- Ankadien- Ankin)
+ Chương 7: Hiđrocacbon thơm - Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
+ Chương 8: Dẫn xuất halogen – Ancol - Phenol
+ Chương 9: Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic
Trang 4031
Lớp 12:
+ Chương 1: Este- Lipit
+ Chương 2: Cacbohiđrat
+ Chương 3: Amin- Aminoaxit- Protein
+ Chương 4: Polime và vật liệu polime
- Nghiên cứu các loại chất hữu cơ (hiđrocacbon, hợp chất nhóm chức, hợp chất cao phân tử) trên cơ sở nghiên cứu một chất cụ thể nhằm làm rõ cấu tạo phân
tử (thành phần – dạng liên kết), tính chất hóa học đặc trưng của dãy đồng đẳng
- Nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ hóa học trong hóa hữu cơ
- Nghiên cứu quy luật chi phối quá trình biến đổi các chất hữu cơ, loại phản ứng, cơ chế, đặc điểm của từng phản ứng, quy luật ảnh hưởng qua lại giữa các nguyên tử trong phân tử (quy tắc cộng, tách, thế vào nhân thơm…)
- Mối liên quan chuyển hóa giữa các loại chất hữu cơ từ đơn giản đến phức tạp
3) Kiến thức về ứng dụng thực tiễn và phương pháp điều chế các loại hợp chất hữu cơ cơ bản:
Kiến thức về kĩ năng hóa học và phương pháp giải các dạng bài tập hóa học hữu cơ Hệ thống kiến thức hóa hữu cơ được trình bày theo dãy đồng đẳng về các loại chất Sự nghiên cứu kĩ một chất điển hình có ứng dụng nhiều trong thực
tế, trên cơ sở các kiến thức này đủ để học sinh hiểu được cấu tạo, tính chất đặc trưng của các chất trong dãy đồng đẳng Các loại chất hữu cơ được sắp xếp theo một hệ thống logic từ loại chất đơn giản cả về thành phần cấu tạo phân tử đến loại chất phức tạp phù hợp với sự tiếp thu của học sinh và theo tiến trình phát triển về mối liên quan định tính giữa các loạt chất hữu cơ
Như vậy, phần hoá học hữu cơ ở trường THPT đã chú trọng nghiên cứu các chất một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện trên cơ sở lí thuyết chủ đạo mang tính kế thừa, phát triển và hoàn thiện các nội dung kiến thức đã được nghiên cứu ở THCS