Đóng góp đáng ghi nhận ở bài viết là những suy tư khá sâu sắc của tác giả về vấn đề dạy học hợp tác nhóm như: những tính chất cơ bản của sự hợp tác học tập, quy trình tổ chức dạy học the
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2014
Đào Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến
PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ không chỉ về
chuyên môn mà còn động viên, khích lệ tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học
sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô trực tiếp giảng dạy
lớp Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và tiếng Việt khóa 23 đã
tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức bổ ích, thiết thực về chuyên môn, phương pháp nghiên cứu khoa học và các kiến thức cơ bản để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, quý thầy cô và các em học sinh trường THPT Tân Phước Khánh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực nghiệm
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người luôn hết lòng ủng hộ, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đào Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
L ời cam đoan
L ời cảm ơn
M ục lục
Danh m ục viết tắt trong luận văn
Danh m ục các bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Lí thuy ết về dạy học hợp tác 9
1.1.1 Khái ni ệm về dạy học hợp tác 9
1.1.2 Nh ững đặc trưng cơ bản của dạy học hợp tác 10
1.1.3 Nh ững ưu điểm của dạy học hợp tác 12
1.1.4 Lo ại hình nhóm, cách chia nhóm trong dạy học hợp tác 14
1.1.5 Quy trình t ổ chức dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác 22
1.2 Cơ sở của việc dạy và học PCCNNN theo hình thức dạy học hợp tác 30
1.2.1 M ối quan hệ giữa dạy học TV và phương pháp dạy học hợp tác 30
1.2.2 M ối quan hệ giữa dạy học PC CNNN với dạy học hợp tác 35
Chương 2 THI ẾT KẾ CÁC KIỂU BÀI TẬP PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NG Ữ THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC 38
2.1 Đặc điểm chung của các bài phong cách chức năng ngôn ngữ 38
2.2 V ận dụng hình thức dạy học hợp tác để thiết kế một số bài tập cho nhóm bài phong cách ch ức năng ngôn ngữ 39
2.2.1 D ạng bài tập định hướng bài học 47
2.2.3 D ạng bài tập củng cố / ôn tập kiến thức 54
2.2.4 D ạng bài tập phát triển kĩ năng (thực hành) 56
Chương 3 TH ỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Thi ết kế giáo án 60
3.2 Th ực nghiệm 74
Trang 63.2.1 M ục tiêu thực nghiệm 74
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 75
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 77
3.2.4 Cách th ức thực nghiệm 77
3.2.5 Theo dõi ti ến trình thực nghiệm 77
3.3 K ết quả thực nghiệm 79
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 88
K ẾT LUẬN 94
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 97
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Tiếng Việt Học sinh Giáo viên Phương pháp dạy học Phong cách chức năng Dạy học hợp tác Tiếng Việt Trung học phổ thông Trung học phổ thông
Phong cách chức năng ngôn ngữ Sách giáo khoa
Thực nghiệm Đối chứng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
B ảng 1.1 Các hoạt động nhóm và chức năng của của chúng (Kagan, 1990) 18
B ảng 1.2 Phiếu quan sát HS 28
B ảng 3.1 Bảng so sánh học lực môn Ngữ văn ở năm trước của lớp TN và lớp ĐC 76
B ảng 3.2 Bảng tổng so sánh kết quả học tập của hai lớp TN và ĐC 76
B ảng 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả bài kiểm tra ngắn của các lớp TN và ĐC 80
B ảng 3.4 Bảng tổng so sánh kết quả học tập lớp TN và ĐC sau TN 80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Ở nước ta hiện nay, việc giáo dục ngôn ngữ được đặt vào phân môn tiếng Việt (TV) Dạy và học TV nhằm cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức về ngôn
ngữ học, hệ thống TV, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi
hoạt động giao tiếp Mặt khác, TV là công cụ giao tiếp và tư duy, vì vậy, phân môn TV còn đảm nhiệm thêm một chức năng khác mà các môn học khác không
có đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường và xã hội Nhưng dường như chúng
ta chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này Việc dạy TV hầu như chỉ thiên về
dạy kiến thức ngôn ngữ học, kiến thức về đặc điểm cấu trúc TV; dạy lí thuyết,
dạy những bài tập minh họa cho lí thuyết mà ít quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng TV, khả năng ứng dụng những bài học đó vào thực tế cuộc sống cho học sinh
Phong cách chức năng ngôn ngữ chiếm thời lượng không nhiều trong chương trình tiếng Việt Trung học Phổ thông (TV THPT) nhưng lại là chùm bài có vai trò quan trọng liên quan đến quá trình tạo lập văn bản của HS Trên thực tế, đại
đa số, HS còn sử dụng ngôn ngữ của phong cách này cho phong cách khác, thậm chí, HS học xong lớp 12 vẫn chưa tự mình viết hoàn chỉnh được một lá đơn
Việc sử dụng ngôn ngữ của HS chỉ do thói quen, cảm tính mà ít có ý thức lựa
chọn từ ngữ sao cho phù hợpvới các phong cách của từng loại văn bản Chính vì
vậy, khi tạo lập văn bản (nói và viết) học sinh vẫn thường lúng túng, không biết
sử dụng câu từ như thế nào để diễn đạt ý kiến của mình
Hơn thế nữa, ngày nay trong hoạt động dạy học, vấn đề quan trọng đang đặt
ra là làm thế nào để phát triển được năng lực cho HS Để thực hiện được vấn
đề này trong nhà trường phổ thông ở tất cả các môn học quả là một vấn đề nan
giải Và làm thế nào để phát triển được năng lực cho HS trong dạy học Ngữ văn nói chung và TV nói riêng thì càng khó khăn gấp bội Thế nhưng, nếu GV
Trang 10không có cách tổ chức học tập tốt, môn học này sẽ trở thành một môn học
buồn chán, nặng nề, làm nguội lạnh sự nhạy bén trong tư duy, xúc cảm của
người học, làm mai một những khả năng diễn đạt và cảm nhận tác phẩm văn
chương của HS Chính vì thế, việc vận dụng, thực hiện những phương pháp
nhằm phát triển năng lực cho HS vào dạy học là một yêu cầu rất cần thiết đối với môn Ngữ văn
Và với phương pháp dạy học hợp tác, vai trò người học được phát huy, HS
phải làm việc thực sự để tự mình trải nghiệm, tự mình lĩnh hội kiến thức thông qua những hoạt động tương tác giữa HS và HS, HS và GV Với phương pháp này GV chỉ là người hướng dẫn, điều khiển hoạt động học, còn HS sẽ là trung tâm trong quá trình lĩnh hội tri thức
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, xuất phát từ những lợi ích của dạy học hợp tác (DHHT) là nâng cao kết quả học tập, rèn kĩ năng sống, kĩ năng làm việc cho
HS tôi đã lựa chọn đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy
phong cách ch ức năng ngôn ngữ” Từ đề tài nghiên cứu này tôi mong muốn tìm
ra được một hướng đi cụ thể và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong việc
dạy và học phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng và Ngữ văn nói chung Đặc biệt, mục tiêu của tôi trong đề tài này là hướng dẫn HS học hướng tới ứng
dụng vào trong học tập và trong thực tế cuộc sống xã hội của các em
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học truyền thống không thể đáp ứng được những yêu cầu
của nền giáo dục hiện đại V ì t h ế , v i ệ c đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường là một đòi hỏi cấp bách nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo cho người học ngay từ trên ghế nhà trường Do đó, phải tìm ra một phương pháp dạy học khác cho phù hợp, một trong những phương pháp đó là dạy
học hợp tác Tuy phương pháp dạy học này không phải hoàn hảo nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây vấn đề sử dụng hình thức DHHT trong
Trang 11dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng được các nhà nghiên cứu giáo dục, những nhà giáo có tâm huyết trong và ngoài nước quan tâm nhiều
hơn, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả dạy học
Trong những năm gần đây, cùng với việc thay sách giáo khoa Ngữ văn ở
phổ thông, đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy học Hướng đi này
có nhiều hứa hẹn, góp phần vào việc đổi mới cách thức dạy học Ngữ văn hiện nay
Trong những tài liệu nói về phương pháp dạy học đó, một số nhà nghiên cứu, nhà giáo đã đưa ra phương pháp DHHT nói chung và DHHT trong Ngữ văn nói riêng để GV cùng tham khảo và học hỏi
Nguy ễn Hữu Châu trong bài viết Dạy học hợp tác đăng trên Tạp chí
Thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 đã bàn đến phương pháp
DHHT Tác giả cho rằng: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được
nh ững mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm
nh ững kết quả có ích cho họ và cho cả các thành viên của nhóm” [tr 2; 16]
đó là: sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực; trách nhiệm của cá nhân và
của nhóm; khuyến khích sự tác động qua lại, tốt nhất là bằng hình thức trực
diện; dạy HS một số kĩ năng hoạt động liên cá nhân và nhóm nhỏ cần thiết;
và quá trình hoạt động nhóm Trong 5 yếu tố trên, tác giả cho rằng yếu tố quan trọng nhất là sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực Kết thúc bài viết, ông chỉ ra thành công của DHHT là: “Những hiệu quả to lớn mà sự hợp tác
đem lại tạo nên sự khác biệt của học hợp tác với nhiều phương pháp và làm cho nó tr ở thành một trong những công cụ quan trọng nhất đảm bảo sự thành
Trang 12công c ủa HS” [tr 5; 16]
Và quyển Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới của Thái Duy
Tuyên, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, có bài viết Dạy học hợp tác nhóm Ở bài
viết này, tác giả khẳng định: Việc tổ chức học tập tập thể, học nhóm là hết sức quan trọng Các em phải hợp tác với nhau, thầy trò phải hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập ngày càng nặng nề trong điều kiện hiện đại Hình
thức dạy học này có ưu điểm là tạo ra những thành công trong học tập; tăng
cường khả năng tư duy phê phán; tăng cường thái độ tích cực với các môn
học; nâng cao năng lực hợp tác giữa các HS với nhau; tạo ra tâm lí lành
mạnh; phát triển và hòa nhập xã hội; yêu thương lẫn nhau; có trách nhiệm thích hợp Và hình thức học hợp tác nhóm có đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh luận để tìm tòi, phát hiện chân lí Điều này đưa người học đến chỗ
tự phát hiện ra cái chưa biết và tự tìm cái cần biết Ý nghĩa quan trọng của hình
thức dạy học này là ở chỗ: người học phải cùng với người dạy làm chủ quá trình lĩnh hội tri thức, sau đó mới có được tri thức, tức là làm chủ được tri thức
của bản thân Đóng góp đáng ghi nhận ở bài viết là những suy tư khá sâu sắc
của tác giả về vấn đề dạy học hợp tác nhóm như: những tính chất cơ bản của sự
hợp tác học tập, quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác nhóm trong đó có những bước như thành lập nhóm học tập, giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học cho HS, theo dõi và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm,
nhận xét tương tác nhóm Qua kinh nghiệm của mình, Thái Duy Tuyên khẳng
định: “dạy học hợp tác nhóm tại lớp đóng vai trò quan trọng trong cuộc
s ống con người Nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội”
[tr 411; 36] Bên cạnh đó, tác giả cũng bàn luận thêm: “Rèn luyện các kĩ năng
hợp tác ngay từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng Dạy các k ĩ năng hợp tác cần được coi trọng như việc dạy kiến thức và kĩ năng cơ
b ản khác” [tr 411; 36]
Trang 13Như vậy, bài viết của tác giả Thái Duy Tuyên đã khẳng định thêm vai trò
của phương pháp DHHT
- Trong giáo trình “T ổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn” (2006),
PGS TS Nguyễn Thị Hồng Nam đề cập đến những vấn đề chung về học hợp tác, tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn và các hình thức đánh giá hiệu
quả học hợp tác Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của GV trong dạy học hợp tác, thiết kế bài tập thảo luận, đưa ra các dạng bài tập thảo luận nhóm và xây dựng các dạng bài tập trong môn Ngữ văn và trong đó có một số bài tập thảo luận dành riêng cho phần TV
- Ngoài ra, còn có khá nhiều bài nghiên cứu, bài luận văn, bài báo… đã nghiên cứu về đề tài này Đó là một điều kiện thuận lợi và là nguồn tài liệu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
- Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt” (2009) của nhóm tác giả Lê A,
Nguyễn Quang Ninh và Bùi Minh Toán, là một tài liệu giúp ích cho các GV bởi
những hướng dẫn giảng dạy cụ thể cho từng phân môn TV bao gồm từ ngữ, ngữ pháp và phong cách học Tài liệu này đưa ra các phương pháp dạy học cụ thể cho TV như: Phương pháp thông báo – giải thích; phương pháp phân tích ngôn
ngữ; phương pháp giao tiếp Một số hình thức thể hiện của phương pháp như: Hình thức diễn giảng; hình thức đàm thoại; hình thức đọc SGK và hình thức làm bài tập TV
Tất cả những tài liệu, công trình đã được đề cập trên đây đều có những đóng góp nhất định vào việc đổi mới phương pháp dạy học TV Có bài quan tâm đến
vấn đề xây dựng câu hỏi trong DHHT, có bài đưa ra những ưu, khuyết điểm của DHHT, có bài lại đề cập đến mục đích và những hình thức của DHHT Còn lại,
đa phần các giáo trình có nội dung liên quan đến phương pháp dạy học TV đều chú trọng đến phương pháp giao tiếp trong dạy học TV hoặc sử dụng phương pháp thông báo – giải thích yêu cầu học trò phải chú ý lắng nghe một cách thụ động Trong khi đó, TV là một phân môn mang tính thực hành cao, đòi hỏi sự
Trang 14chung sức để giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất bằng cách vận dụng tối đa năng lượng hoạt động của HS Điều đó cho phép chúng ta xem xét môn TV nói chung và những bài thuộc nhóm PC CNNN nói riêng hoàn toàn có thể thích hợp cho việc vận dụng hình thức DHHT vào quá trình giảng dạy
Mặc dù những bài viết và tài liệu liên quan chưa đưa ra những quan điểm cụ
thể về vấn đề vận dụng hình thức DHHT vào dạy học TV, cũng như nhóm bài
PC CNNN nhưng những tài liệu trên lại là những gợi ý vô vùng quý giá và cần thiết để giúp người viết có những định hướng để xây dựng đề tài của mình hợp lí
và chặt chẽ hơn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy phong
cách chức năng ngôn ngữ”, chúng tôi muốn hướng tới mục tiêu nâng cao chất
lượng dạy và học phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng và phân môn TV nói chung Đồng thời chúng tôi muốn góp một phần nhỏ trong việc giải quyết
vấn đề trọng tâm của giáo dục hiện nay là đổi mới phương pháp giáo dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát triển năng lực sử
dụng tiếng Việt cho HS trong đời sống xã hội
4 Ph ạm vi nghiên cứu
Có nhiều quan điểm khác nhau chi phối đến việc dạy TV trong nhà trường cũng như dạy nhóm bài PCCCNN Song trong bài viết này chúng tôi chỉ hướng đến việc vận dụng lí thuyết của DHHT vào việc dạy các bài phong cách chức
năng ngôn ngữ
Do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trên những bài thuộc Phong cách chức năng ngôn ngữ và tiến hành thực nghiệm bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” cho HS lớp 11C7 và 11C8 trong trường THPT Tân
Phước Khánh – Huyện Tân Uyên – Tỉnh Bình Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng, kết hợp các phương pháp:
Trang 15Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp này được sử dụng để nghiên
cứu lịch sử vấn đề, lí thuyết về DHHT, tổng hợp các vấn đề có liên quan đến PP DHHT và ứng dụng vào dạy học TV Và từ việc phân tích những tư liệu cụ thể
để rút ra những kết luận cần thiết về việc ứng dụng PP DHHT vào dạy học PC CNNN
Phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp này sử dụng để thấy được
hiệu quả khác nhau của lớp thực nghiệm (dạy theo phương pháp dạy học hợp tác) với lớp đối chứng (dạy theo truyền thống) Từ đó rút ra tác dụng của phương pháp dạy học hợp tác trong việc dạy phong cách chức năng ngôn ngữ nói riêng và dạy TV nói chung
Phương pháp thực nghiệm, ở đề tài này, xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ
nghiên cứu, việc thực nghiệm sẽ tổ chức dạy ở phạm vi dạy giáo án đề xuất được thiết kế theo chủ yếu phương pháp dạy học hợp tác để kiểm nghiệm tính
khả thi của đề tài
Phương pháp thống kê, sử dụng phương pháp này để xử lí số liệu thu thập
trong quá trình thống kê kết quả thực nghiệm (trên cơ sở định lượng, định tính)
6 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn có những đóng góp sau:
- Thứ nhất, tổng hợp và hệ thống lí thuyết về phương pháp dạy học hợp tác
để vận dụng một cách thích hợp nhất vào dạy phong cách chức năng ngôn
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Trang 16Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thiết kế các kiểu bài tập phong cách chức năng ngôn ngữ theo phương pháp dạy học hợp tác
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuy ết về dạy học hợp tác
Dạy học hợp tác là hình thức dạy học đã và đang rất phổ biến ở rất nhiều
quốc gia trên thế giới Hình thức này được xác định là đáp ứng được những yêu
cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học và đem lại hiệu quả giáo dục cao DHHT yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của học sinh vào quá trình
học tập chung Trong quá trình đó, mỗi cá nhân học sinh tìm thấy lợi ích cho chính mình và cho tất cả các thành viên trong nhóm Học sinh học bằng cách làm chứ không phải bằng cách nghe giáo viên giảng Trong hình thức học hợp tác, việc tổ chức cho HS thảo luận nhóm đóng vai trò quan trọng, then chốt HS
sẽ trở thành nhân vật trung tâm của giờ học Trên cơ sở tham khảo một số tài
liệu về DHHT, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề lí luận nền tảng về DHHT
1.1.1 Khái ni ệm về dạy học hợp tác
Về khái niệm dạy học hợp tác, có khá nhiều khái niệm của nhiều tác giả, trong đó có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu như:
- Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong bài viết “Dạy học hợp tác” có đưa ra
quan điểm sau: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được những
mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm những
k ết quả có ích cho họ và đồng thời cho cả các thành viên của nhóm
H ọc hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nh ằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác” [tr 2; 17]
- Còn trong giáo trình T ổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học Ngữ văn -
(Nguyễn Thị Hồng Nam - Cần Thơ - 2006), tác giả cho rằng hình thức
học tập hợp tác “yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của học sinh
vào quá trình h ọc tập, đồng thời yêu cầu HS phải làm việc cùng nhau
để đạt được kết quả học tập chung Trong quá trình hợp tác, mỗi cá
Trang 18nhân tìm th ấy lợi ích cho chính mình và cho tất cả các thành viên trong nhóm” [tr 1; 31] Và trong quá trình hợp tác, học sinh học bằng cách làm chứ không phải bằng cách nghe giáo viên giảng Trong hình thức
học hợp tác này, việc tổ chức cho HS thảo luận nhóm đóng vai trò then
chốt Nếu mức độ tham gia thảo luận của HS càng lớn thì hiệu quả
học tập càng cao HS sẽ trở thành nhân vật trung tâm của giờ học
Từ các nguồn tài liệu trên, cùng với việc phân tích các định nghĩa về hợp tác trong các từ điển và sự hợp tác trong thực tế cuộc sống, chúng tôi rút ra
một số đặc điểm của sự hợp tác:
+ Có m ục đích chung trên cơ sở cùng có lợi
+ Bình đẳng tin tưởng lẫn nhau và tự nguyện hoạt động
+ Phụ thuộc lẫn nhau trên cơ sở trách nhiệm cá nhân cao
+ Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ và bổ sung cho nhau
Như vậy, có thể hiểu học hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học trong
đó có sự liên kết giữa các cá nhân để hình thành một nhóm cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do GV nêu ra Qua đó, HS làm việc cùng nhau để mở rộng
khả năng học tập của chính bản thân mình qua quá trình chia sẻ ý tưởng với
những người khác Điều này trái ngược với việc học cá nhân trong đó HS tự thân làm việc với mục đích ganh đua, hơn thua điểm số với những người khác Hình
thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của mỗi cá nhân HS vào hoạt động thảo luận nhóm và sẽ tạo nên một môi trường giao tiếp,
hợp tác GV và HS, giữa HS và HS
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của dạy học hợp tác
Học hợp tác không phải là xếp chỗ ngồi cho HS ngồi cạnh nhau trong bàn
học và mỗi em độc lập thực hiện nhiệm vụ của mình; không phải là mỗi cá nhân làm bài sau đó thông báo là đã hoàn thành công việc và giúp đỡ bạn khác Học
hợp tác cũng không phải chỉ là việc học sinh ngồi cạnh nhau, cùng trao đổi,
thảo luận, giúp đỡ nhau, chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm, mà theo giáo trình Tổ
Trang 19ch ức hoạt động hợp tác trong dạy học Ngữ văn - (Nguyễn Thị Hồng Nam -
Cần Thơ - 2006) phải có 5 tính chất sau đây:
- Ph ụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực
Yêu cầu trước tiên cho việc xây dựng một bài học hợp tác có hiệu quả là làm sao cho học sinh tin rằng họ “cùng chìm hoặc cùng nổi” Trong tình
huống hợp tác, các em có hai trách nhiệm: thực hiện nhiệm vụ được giao;
giúp các thành viên khác trong nhóm mình hoàn thành nhiệm vụ được giao
Hiện tượng này được gọi là phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực
Điều đó có thể đạt được qua việc: thiết lập mục tiêu bài dạy chung cho các em, giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, phát huy vai trò độc lập của từng
em và động viên, khích lệ đúng lúc Để cho việc học tập có sự hợp tác chặt chẽ
cần cho trẻ cảm nhận sự độc lập với các thành viên trong nhóm hợp tác học tập
- Sự tương tác “mặt đối mặt” trong nhóm học sinh
Học hợp tác đòi hỏi sự qua lại một cách tích cực giữa các học sinh trong nhóm Nói cách khác, các thành viên nhóm cần được nhìn thấy nhau trong quá trình trao đổi nhóm Tương tác mặt đối mặt có một số tác động tốt đối với
học sinh như sau:
+ Tăng cường động cơ học tập Trong quá trình trao đổi làm nảy sinh
những hứng thú mới;
+ Kích thích sự giao tiếp, sự chia sẻ những tư tưởng, nguồn lực và đáp án
giải quyết vấn đề;
+ Tăng cường kĩ năng xã hội như thái độ, cách biểu đạt;
+ Tăng cường sự phản hồi của học sinh bằng các hình thức khác nhau: lời nói, ánh mắt, cử chỉ
+ Khích lệ mọi thành viên tham gia;
+ Phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau
- Trách nhiệm cá nhân
Nhóm hợp tác được tổ chức và cấu trúc sao cho bảo đảm từng thành viên
Trang 20trong nhóm không trốn tránh công việc hoặc trách nhiệm học tập Mỗi thành viên trong nhóm được phân công thực hiện một vai trò nhất định và hiểu rằng
họ không thể dựa vào công việc của người khác Do đó, việc hợp tác nhóm còn làm cho mỗi thành viên trở nên mạnh dạn hơn Mục tiêu của hợp tác học
tập là phát huy tối đa kết quả học tập của từng thành viên Phát hiện khả năng
học tập của các em là điều cần thiết để giúp đỡ các em học tập có hiệu quả
- S ử dụng những kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội
Để hình thành kĩ năng, người học không chỉ nắm vững cách thức hành động mà còn phải hiểu mục đích, phương tiện và điều kiện hành động
quả Nội dung nhận xét nhóm có thể là những vấn đề sau đây:
+ Những mặt tốt trong hoạt động chung và những đóng góp cá nhân nổi
bật, cần được phát huy
+ Những mặt cần thay đổi để hoạt động của nhóm có hiệu quả hơn
Có hai hình thức trong nhận xét nhóm: nhận xét của các thành viên trong
từng nhóm và nhận xét của học sinh hay giáo viên về hoạt động của các nhóm
1.1.3 Nh ững ưu điểm của dạy học hợp tác
Theo quan điểm của Thái Duy Tuyên, học hợp tác có những ưu điểm sau:
T ạo ra những thành công trong học tập [tr 411; 36]
Quá trình trao đổi nhóm trong hợp tác nhóm đã làm tăng khả năng khám phá và phát triển các thao tác tư duy trong quá trình nhận thức ở mức độ cao Trong phương pháp học hợp tác nhóm, luôn luôn nảy sinh những yếu tố sau: mâu thuẫn giữa các tư tưởng, quan điểm, đưa ra kết luận, cơ sở lí luận và
Trang 21những thông tin tiếp nhận được của các thành viên trong nhóm
Sự trao đổi giữa các thành viên trong học tập hợp tác nhóm sẽ tạo điều
kiện cho các thông tin xuất hiện nhiều lần, được nói ra, được giải thích, được tích hợp và được cung cấp hợp tác Những thông tin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần sẽ được lưu giữ trong trí nhớ lâu dài
Tăng cường khả năng tư duy phê phán vì HS phải nắm bắt, kiểm tra,
đánh giá thông tin một cách hợp lí, áp dụng chúng một cách phù hợp và sáng tạo Học hợp tác nâng cao khả năng tần số thực hành các thao tác
tư duy cao hơn nhiều so với các phương pháp khác [tr 412; 36]
T ăng cường thái độ tích cực với các môn học trên cả hai mặt: kinh
nghiệm truyền đạt kiến thức cũng như động cơ học tập các môn học [tr 412;36]
Nâng cao n ăng lực hợp tác giữa các học sinh với nhau [tr 412; 36]
T ạo ra tâm lí lành mạnh [tr 413; 36]
Phát tri ển và hòa nhập xã hội [tr 413; 36]
Yêu th ương lẫn nhau [tr 413; 36] Trong môi trường học hợp tác nhóm,
học sinh có cơ hội, bổn phận giúp đỡ, động viên, kèm cặp và hỗ trợ
lẫn nhau và được hưởng lợi từ sự giúp đỡ đó
Trách nhi ệm thích hợp Đó là khả năng thấu hiểu hoàn cảnh của người
khác một cách có ý thức, có tình cảm [tr 413; 36]
Chúng tôi khá tán thành với những quan điểm về ưu điểm dạy học hợp tác
của tác giả Nhưng ngoài ra, hình thức dạy học hợp tác có nhiều tác dụng tích
cực đối với cả GV và HS
Đối với học sinh học hợp tác sẽ có những lợi ích sau:
- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh trong lớp
- Rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện ở tinh thần làm việc tập thể, biết chấp nhận ý kiến khác với mình, biết giải
Trang 22quyết xung đột theo cách xây dựng, biết chia sẻ kinh nghiệm và thông tin
mà mình có
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực tư duy cho HS
- Tập cho HS khả năng nhận xét, đánh giá một vấn đề
- Tạo cơ hội cho HS bộc lộ những suy nghĩ của mình, chính kiến của mình
- Tạo điều kiện cho tất cả HS có cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập trong lớp, không phân biệt khả năng học khác nhau của người học
- Tăng cơ hội học hỏi cho HS: học từ thầy, học từ nhiều bạn trong lớp
- HS có thể bổ khuyết cho nhau những “ lỗ hổng” về tri thức, thái độ
- Rèn luyện năng lực diễn đạt , trình bày thông tin ngắn gọn, rõ ràng, chính xác
- Qua quá trình giải quyết được vấn đề mà GV, HS tăng cường sự tự tin và nâng cao lòng tự trọng của bản thân
- HS có cơ hội điều chỉnh phương pháp học của bản thân
Hình thức dạy học theo kiểu hợp tác thảo luận nhóm sẽ tạo điều kiện cho GV:
- Đo lường và đánh giá chính xác mức độ hiểu bài, nhận thức, tình cảm và năng lực diễn đạt cũng như năng lực tư duy của HS
- Trên cơ sở đó, điều chỉnh phương pháp dạy học
Các năng lực tư duy sáng tạo, năng lực diễn đạt, sự tự tin, khả năng biết lắng nghe ý kiến của người khác và khả năng hợp tác với người khác là những phẩm
chất không thể thiếu của mỗi con người và trong một tập thể nhỏ là lớp học, cơ quan và tập thể lớn là xã hội Và đó là những yếu tố làm nên sự thành công của
một con người và của một tập thể HS cần phải được rèn luyện những năng lực này ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
1.1.4 Loại hình nhóm, cách chia nhóm trong dạy học hợp tác
* Lo ại hình nhóm
Có hai loại nhóm cơ bản, đó là nhóm cố định và nhóm không cố định Nhóm cố định là loại hình gồm những HS được chia nhóm cố định trong khoảng thời gian từ một tuần đến vài tuần lễ để cùng nhau hoàn thành một bài
Trang 23tập lớn, phức tạp Nhóm không cố định là loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ vài phút đến một tiết học để giải quyết một vấn đề không quá phức tạp Trong loại hình này, GV có thể sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau tùy theo nội dung bài học và thời lượng của tiết học Đó là các loại nhóm: 2 HS, 4-5 HS, ghép nhóm hai lần, kim tự tháp và hoạt động trà
trộn
1.1.4.1 Nhóm c ặp 2 học sinh
Đây là hình thức HS trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình huống
do GV nêu ra Trong quá trình giải quyết các tình huống, HS sẽ thu nhận kiến
thức một cách tích cực Để HS làm việc theo cặp có hiệu quả, GV phải tạo ra
dạng bài tập lỗ hổng thông tin cho HS Điều này có nghĩa là: HS A nắm giữ
một số thông tin này, HS B nắm giữ một số thông tin khác Chỉ bằng cách hợp tác với nhau, chia sẻ, thảo luận những thông tin mình có, nói cách khác là
ghép các m ảnh kiến thức lại với nhau, 2 HS mới có thể tạo nên một bức tranh
hoàn chỉnh Như vậy, nếu GV không tạo được lỗ hổng thông tin thì sẽ không
tạo ra nhu cầu hợp tác thực sự giữa các HS
của nhóm mình với các nhóm khác Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm Loại hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học
có dung lượng kiến thức lớn mà thời gian trên lớp lại hạn hẹp Loại hoạt động
so sánh thường dành cho những bài học có dung lượng kiến thức không lớn
Trang 241.1.4.3 Ghép nhóm hai l ần
Trong hình thức ghép nhóm hai lần, số thành viên trong nhóm bằng số vấn
đề cần giải quyết cùng lúc Việc tổ chức các thành viên trong nhóm có tính
chất lưu động Trong lần đầu, mỗi nhóm có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề khác nhau của một bài học, mỗi thành viên trong nhóm phải ghi chép Sau khi
giải quyết xong vấn đề, tất cả các thành viên trong nhóm được tách ra để thành lập nhóm mới Các thành viên này trở thành đại sứ cho nhóm của mình
trong nhóm mới, họ phải thông báo nhiệm vụ và cách giải quyết nhiệm vụ của nhóm mình cho nhóm mới
Hình thức ghép nhóm có ưu điểm rất lớn là việc báo cáo công việc của các nhóm sẽ do tất cả các thành viên trong nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do
một HS khá, giỏi đảm nhận Cách học này góp phần làm tăng sự tự tin cho các thành viên trong nhóm
1.1.4.4 Nhóm kim tự tháp
Đây là cách tổ chức ý kiến của tập thể lớp học về một vấn đề của bài học
Hoạt động theo hình thức này, HS sẽ ghép nhóm nhiều lần Đầu tiên, GV nêu lên một vấn đề cho các HS làm việc độc lập, sau đó, ghép 2 HS lại thành một
cặp để các HS chia sẻ các ý kiến của mình Kế đến, các cặp sẽ kết hợp lại thành nhóm 4 người, tiếp tục trao đổi ý kiến Các nhóm 4 thành viên sẽ họp
lại thành các nhóm 8, nhóm 16 thành viên Cuối cùng, cả lớp sẽ có một
bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề
Kiểu nhóm kim tự tháp rất phù hợp với các giờ ôn tập khi HS cần phải nhớ các định nghĩa, khái niệm, công thức,… đã học trong một chương
1.1.4.5 Nhóm ho ạt động trà trộn
Trong hình thức này, tất cả các HS trong lớp phải đứng dậy và di chuyển trong lớp để thu thập thông tin từ các thành viên khác, giống như các khách
mời trong một buổi tiệc đứng gặp gỡ, tiếp xúc với nhau Sự di chuyển khỏi
chỗ ngồi cố định làm cho các HS cảm thấy thích thú, năng động hơn Đối với
HS trung bình hoặc kém thì đây là cơ hội cho họ hỏi nhiều người khác nhau cùng một câu hỏi mà không cảm thấy xấu hổ
Trang 25SƠ ĐỒ CÁC LOẠI NHÓM
Mô hình nhóm 2HS
55
555
12 345
Trang 26Ngoài ra, dựa vào bảng Các hoạt động nhóm và chức năng của của chúng (Kagan,1990), chúng ta có thể thấy rõ được cấu trúc, đặc điểm và chức năng
của các loại hoạt động nhóm:
Bảng 1.1 Các hoạt động nhóm và chức năng của của chúng (Kagan, 1990)
(h ọc thuật + xã hội)
Xây dựng nhóm (Teambuilding) Xoay vòng
Sự tham gia bình đẳng, làm quen với các thành viên trong nhóm
việc theo nhóm
- Trình bày và nghe các nhóm khác trình bày
- Sau đó diễn lại cái đã nghe theo cách của mình
Xem xét các giả thuyết, các phương pháp giải quyết vấn đề
Hi ểu và tôn trọng những quan điểm khác nhau, gặp gỡ các bạn trong
Phát triển vốn từ
Phát tri ển kĩ năng giao
ti ếp, khả năng thay thế vai
Nắm vững/Điều khiển (Mastery)
Trang 27Numbered
Heads
Togethers
- GV nêu câu hỏi
- HS trao đổi sao cho mỗi thành viên hiểu rõ
- Các HS cùng số trong nhóm trả lời
Xem xét kiến thức, kiểm tra việc hiểu kiến thức
bản, ghép tên tác giả với tên tác phẩm…
Nhớ các sự kiện
Giúp đỡ, khen ngợi
Pair check - Cặp đôi trong nhóm 4,
mỗi cặp giải quyết một
vấn đề: HS A nêu vấn
đề, HS B tư vấn
- Hai cặp trao đổi
Phát triển kĩ năng thực hành
Giúp đỡ, khen ngợi
Xây dựng khái niệm (Concept Development)
Chia sẻ thông tin, cách
Trang 28khác Nhóm mạng
Đổi vai
Đa chức năng (Multifunctional)
Vòng tròn
(Roundtable)
- Mỗi HS viết một câu trả
lời lên một tờ giấy
- Chuyển tờ giấy cho các
HS khác viết tiếp câu
trả lời
Đánh gía kiến thức đã
học, các kĩ năng thực hành, nhớ lại thông tin,
tạo ra sự hợp tác
Xây dựng nhóm, sự tham gia của tất cả các thành viên
- Hai vòng tròn quay theo chiều ngược nhau, HS trao đổi câu trả lời của mình với người đối
Đối tác
(Partners)
- Nhóm 4 HS, mỗi cặp làm việc về một vấn đề
- Hỏi ý kiến các nhóm khác
Nắm vững và giới thiệu
những vấn đề mới, xây
dựng khái niệm
Tư vấn, chia sẻ, gặp gỡ
Trang 29- Chia sẻ sự hiểu biết
hoặc sản phẩm với cặp đôi trong nhóm mình
Hợp tác
(Co-op
Co-op)
- HS làm việc trong nhóm tạo ra một sản
phẩm
- Chia sẻ với cả lớp
Học và chia sẻ những
vấn đề phức tạp, đánh giá, vận dụng, phân tích,
tổng hợp
Vậy nhìn vào bảng trên có thể thấy được một số loại hình nhóm, những chức
năng của từng loại nhóm Qua đó, GV sẽ có những định hướng nhất định trong
quá trình lựa chọn nhóm trong quá trình dạy học
*Cách chia nhóm:
• L ựa chọn các thành viên trong một nhóm:
Khi lựa chọn hình thức DHHT vào bài dạy của mình, GV cũng cần lưu ý đến
vấn đề lựa chọn các thành viên trong nhóm hợp tác, bởi vì đó cũng là một vấn đề liên quan đến sự thành bại của DHHT Vì vậy, khi chia nhóm, GV cần lưu ý: Thành viên trong mỗi nhóm gồm các HS giỏi, khá, trung bình, yếu, có
cả HS nam và nữ
Việc sử dụng loại nhóm nào tùy thuộc vào nội dung bài học, vào thời
lượng của tiết học
Để bảo đảm thời gian của tiết học, GV phải xác định rõ lượt thời gian cho mỗi lần thảo luận Thời gian thảo luận ngắn thì số lượng HS trong
Trang 30nhóm phải ít, nội dung bài tập đơn giản
Mỗi thành viên trong nhóm phải được phân công nhiệm vụ rõ ràng và
phải cùng hợp tác để giải quyết nhiệm vụ chung của cả nhóm
Không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm mà chỉ nên cho HS
thảo luận những vấn đề phức tạp
GV cần sắp xếp các thành viên khác nhau về tính cách và năng lực vào
một nhóm sao cho các thành viên của nhóm càng đa dạng càng tốt Kinh nghiệm cho thấy, nhóm hoạt động có hiệu quả là nhóm gồm các thành viên có
năng lực đa dạng: trình độ nhận thức cao, trung bình và yếu, đa dạng về thành
phần xuất thân, điều kiện kinh tế, điều kiện môi trường sống Với nhóm như
vậy, mỗi vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự cân nhắc, tính toán toàn diện
hơn Nhóm đồng nhất cũng có thể được tổ chức với mục tiêu cung cấp một vài kĩ năng đặc biệt, đáp ứng những mục tiêu chuyên biệt nào đó
1.1.5 Quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác
1.1.5.1 Xác định các mục tiêu dạy học
Trước khi dạy một bài, giáo viên cần xác định rõ hai loại mục tiêu Một
là, mục tiêu về tri thức, kĩ năng và thái độ được xác định ở mức độ vừa phải đối với học sinh, đồng thời phù hợp với yêu cầu chung của bài học Hai là,
mục tiêu về kĩ năng hợp tác được thể hiện bằng các kĩ năng hợp tác cụ thể và yêu cầu học sinh tiến hành trong quá trình học bài đó
1.1.5.2 Thành lập nhóm học tập
* Thi ết kế bài tập thảo luận
Trong tiết dạy học hợp tác, không phải giáo viên dành toàn bộ giờ học cho việc thảo luận nhóm mà chỉ thảo luận những vấn đề phức tạp, trọng tâm, lí thú… Do đó, việc thảo luận nhóm là hoạt động rất quan trọng để HS cùng nhau làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giải quyết các bài tập Từ
đó, tìm hiểu và chiếm lĩnh một cách vững vàng tri thức Bài tập vừa là định hướng, vừa là công cụ giúp HS tự tìm hiểu khám phá, vận dụng kiến thức,
Trang 31kĩ năng đúng hướng, đúng cách Bài tập là sợi dây nối kết các quan hệ HS - HS; GV - HS Nhờ đó, HS có nhiều cơ hội để học tập, mở rộng tầm nhìn Bài
tập đóng vai trò là khởi nguồn cho hoạt động của nhóm Do vậy, bài tập là yếu
tố hàng đầu quyết định đến hiệu quả của giờ dạy học theo hình thức thảo
luận nhóm Chính vì tầm quan trọng đó của bài tập nên khi thiết kế bài tập
thảo luận, GV phải đầu tư nhiều công sức cho công việc có tính chất chiến
lược này Bài tập thiết kế phải đạt được các yêu cầu:
- Các câu hỏi giao cho HS thảo luận phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu để HS
nắm được yêu cầu của bài tập trước khi thảo luận Điều này giúp HS thuận tiện trong việc tiến hành thảo luận theo đúng định hướng của GV, tránh được những băn khoăn không cần thiết
- Bài tập cần nêu được các vấn đề thú vị, phải là những thách thức đối với
HS, buộc HS phải tư duy và cùng nhau hợp tác để tìm tòi cách giải quyết
Có như vậy mới phát huy được tối đa năng lực, trí tuệ và khả năng sáng
tạo của HS và giúp HS hiểu vấn đề được sâu sắc Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Nam cho thấy: Nếu GV ra các bài tập, vấn đề có sẵn
câu tr ả lời trong SGK thì việc tổ chức thảo luận nhóm thất bại 80% sự thành công c ủa thảo luận nhóm là GV nêu ra được các vấn đề thú vị buộc
HS ph ải cùng nhau hợp tác để có thể tìm ra câu trả lời [tr 3; 31] Bài tập
nêu ra được các vấn đề thú vị sẽ giúp HS phát hiện ra những "điểm sáng"
của kiến thức, kích thích hứng thú học tập của HS, từ đó, dễ làm nảy sinh
ý tưởng sáng tạo Chỉ khi bài tập có tính chất thách thức đối với HS,
một HS không thể hoàn thành được thì mới có thể buộc HS hợp tác, giúp
HS có nhiều cơ hội học tập, mở rộng tầm nhìn, hiểu kiến thức sâu sắc và
có khả năng vận dụng tri thức linh hoạt Kinh nghiệm của các cá nhân và kinh nghiệm của các nhóm với những lối kiến giải phong phú sẽ làm giàu thêm vốn tri thức và kĩ năng cho từng thành viên
Trang 32Nếu bài tập quá đơn giản, trả lời không cần suy nghĩ thì không thể phát huy được năng lực trí tuệ của HS Tuy nhiên, độ khó của bài tập không nên
vượt quá tầm trình độ của HS Vì nếu như vậy, dễ làm cho HS thiếu tự tin, chán nản, thậm chí buông xuôi, bất hợp tác Bài tập thảo luận nhóm phải bàn
về những vấn đề trọng tâm và phải có tính hệ thống trong mối quan hệ gắn bó
với nội dung của bài học Có như vậy thì kết quả của thảo luận nhóm mới
thực sự có ý nghĩa và có hiệu quả đích thực Nếu GV thiết kế bài tập quá nhiều mà không hướng vào trọng tâm bài học và bài tập thiếu tính liên thông
sẽ khiến cho HS bối rối, khó xác định được vấn đề cốt lõi và sự liên quan gắn
bó của những mảng kiến thức của toàn bộ bài học
* Xác định thời gian duy trì nhóm
Cần duy trì các nhóm đến thời điểm đủ độ ổn định và nhóm đạt được thành công nhất định Giải tán nhóm và thành lập nhóm mới khi nhóm này có
vấn đề về hoạt động kém hiệu quả để đảm bảo HS sẽ học được các kĩ năng
cần thiết cho việc giải quyết vấn đề trong quá trình hợp tác với bè bạn Việc HS được lần lượt ở cùng một nhóm với tất cả các bạn trong lớp sau một học kì hay năm học sẽ giúp cho HS cảm nhận tính tích cực, lành mạnh về sự hợp tác
và tạo cho các em nhiều cơ hội để thực hành các kĩ năng cần thiết cho việc
hoạt động trong các nhóm mới Tránh việc đánh giá thấp tác dụng của các nhóm học tập đa dạng trong việc nâng cao chất lượng dạy học
Trang 33viên, ủng hộ lẫn nhau trong quá trình hợp tác Cần có khoảng trống làm lối đi
để GV có thể dễ dàng di chuyển từ nhóm này sang nhóm khác nhằm quản lí
và hỗ trợ khi cần thiết
* Phân công nhi ệm vụ cho các thành viên trong nhóm
Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng Sau mỗi lần
hoạt động nhóm, các thành viên cần thay đổi vị trí cho nhau, tránh tình trạng
mỗi thành viên đóng một vai trò trong thời gian quá lâu Nhiệm vụ của các thành viên trong một nhóm có thể bao gồm:
Điều khiển nhóm (nhóm trưởng) có nhiệm vụ hướng dẫn các thành
viên tham gia vào hoạt động, giải thích rõ nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm tra lại xem mọi thành viên đã hiểu vấn đề chưa, thống nhất ý
kiến của nhóm, giải quyết các “mâu thuẫn” trong quá trình hoạt động nhóm
Với vai trò này, HS cần có nhiều năng lực hơn, đặc biệt là năng lực quản lí, giám sát và hướng dẫn bạn
Th ư kí ghi chép mọi ý kiến, biên tập, tóm tắt các ý kiến
Người báo cáo thay mặt nhóm báo cáo kết quả
Khuyến khích động viên mọi thành viên tham gia, nhắc nhở những thành
viên “lắm lời” trong nhóm, bảo đảm trong quá trình trao đổi, mọi thành viên
phải có quyền và nghĩa vụ đóng góp vào bài học
Ng ười theo dõi đánh giá sự tham gia của mọi thành viên
Phân bố thời gian theo dõi và thông báo thời gian cho hoạt động nhóm,
cùng các thành viên trong nhóm phân phối thời gian thích hợp cho từng vấn
đề, tránh hiện tượng “cháy thời gian”
1.1.5.3 Gi ải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học cho học sinh
GV giải thích để HS rõ về mục tiêu và nhiệm vụ học tập được giao Trong quá trình giải thích, GV cần lưu ý một số điểm dưới đây:
Giải thích mục tiêu và nhiệm vụ của bài học cần phải dựa trên những
kiến thức và thông tin HS đã được học, đã trải nghiệm trước đó
Trang 34Giải thích tiến trình cần tuân thủ, đưa ra các ví dụ giúp HS hiểu kiến
thức, kĩ năng phải học và thực hành để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Giao nhiệm vụ sao cho HS hiểu rõ việc mình phải làm
Cần có những câu hỏi phụ để kiểm tra xem HS đã hiểu nhiệm vụ được giao chưa
1.1.5.4 Giao bài t ập cho nhóm thảo luận
Công việc này tưởng chừng như đơn giản nhưng nó đòi hỏi người GV
cần phải biết cách thực hiện để đảm bảo độ nhanh và tính chính xác Đối
với những bài tập ngắn, GV đọc đi đọc lại 2 lần hoặc ghi lên bảng cho HS chép Đối với những bài tập dài, GV chuẩn bị trước ở bảng phụ hoặc photo phát cho từng nhóm Ngoài ra, GV cần nêu rõ các chuẩn mực cần đạt của bài tập nhóm giúp HS xác định được đích cần đạt trước khi tiến hành thảo luận nhóm
1.1.5.5 Theo dõi, can thiệp và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm
Trong khi HS hoạt động hợp tác với nhau, GV cần dành phần lớn thời gian vào việc quan sát tinh thần, thái độ làm việc của HS để kịp thời nhắc
nhở những HS thụ động, điều chỉnh làm hạn chế tình trạng 1,2 HS độc chiếm
diễn đàn lấn át các HS khác Ngoài ra, GV phải biết lắng nghe ý kiến của HS
để điều chỉnh hoạt động thảo luận nhóm khi chệch hướng hoặc ghi nhận những
ý kiến hay của HS chuẩn bị cho hoạt động báo cáo đạt hiệu quả GV cũng cần dành lượng thời gian hợp lí đi đến từng nhóm để giúp đỡ HS hoạt động nếu
cần thiết, có thể là nêu câu hỏi gợi ý để định hướng cho HS khám phá, giải quyết bài tập, có thể là can thiệp dạy cho HS những kĩ năng hợp tác như cách
lắng nghe ý kiến của bạn cùng nhóm (mắt nhìn vào người nói, tay tự do, giữ
im lặng) hoặc cách tiếp nhận ý kiến của người khác (không được có hành vi
phỉ báng người khác, nói với thái độ ôn hoà, xây dựng), cách giải quyết mối
bất đồng… GV khuyến khích HS trình bày ý kiến của nhóm bằng sơ đồ, mô hình để giải thích cho cả lớp Điều này giúp cho HS nhớ được kiến thức một cách tổng quát trong mối liên hệ gắn bó với nhau
Trang 351.1.5.6 T ổ chức cho HS báo cáo kết quả thảoluận
GV cần tổ chức tốt công việc này Sau những lúc báo cáo, HS cần
nắm được kiến thức của vấn đề mà nhóm đã thảo luận GV có thể tổ chức cho
HS báo cáo bằng nhiều cách:
Đại diện từng nhóm đứng tại chỗ trình bày
Chia bảng làm nhiều cột, các nhóm viết kết quả thảo luận một lượt
Một vài nhóm treo hoặc dán bảng phụ có ghi kết quả thảo luận của nhóm lên bảng (tùy theo thời gian nhiều hay ít)
Yêu cầu mỗi nhóm trình bày lần lượt một ý trong bài tập được giao
Dù chọn hình thức báo cáo nào, GV cũng cho HS tự nhận xét đánh giá
lẫn nhau Từ đó các nhóm có thể mở rộng thêm tầm nhìn hoặc có sự điều
chỉnh, bổ sung cho sự tự nhận thức của mình GV cũng biết được HS đã hiểu
vấn đề ở mức độ nào? Có gì chưa đúng cần sửa chữa? Từ đó có sự hướng dẫn, điều chỉnh thích hợp Cuối quá trình thảo luận, GV cùng HS rút ra được kết
luận cuối cùng Trong khi đại diện của các nhóm báo cáo, GV phải quan sát,
nhắc nhở các thành viên khác chú ý lắng nghe GV cần khen ngợi, khích lệ kịp
thời đối với những nhóm làm tốt; động viên những nhóm làm chưa tốt cố
gắng hơn ở những lần sau Thỉnh thoảng cho HS bình chọn kết quả của nhóm làm tốt nhất trong tiết học để khen thưởng các em
1.1.5.7 T ổ chức cho HS thảo luận chung và nhận xét đánh giá lẫn nhau
GV khuyến khích tinh thần tự giác, tích cực của HS kết hợp với việc
chỉ định buộc mọi thành viên hoạt động trong công việc này Đảm bảo làm sao
để các nhóm đều phải có những ý kiến giúp GV có được những thông tin
Trang 36h ướng
d ẫn
Các
ho ạt động khác
Nh ận xét chung
tập Có thể lần này cộng điểm nhóm này, lần sau cộng điểm cho nhóm khác Trong những hoạt động hợp tác đầu tiên, GV sẽ tiến hành nhận xét nhóm, có thể ngay sau khi hoạt động hợp tác kết thúc hoặc vào cuối mỗi tiết
học Nội dung nhận xét cần bao gồm cả kết quả giải quyết vấn đề và sự tham gia của các thành viên trong quá trình đó Trong quá trình nhận xét không
cần thiết nêu tên HS nhưng những thông tin phản hồi càng cụ thể càng tốt
Trang 37Không phải ngày nào cũng đều nhận xét nhóm, nhưng hoạt động này cần tiến hành một cách thường xuyên GV có thể cho cá nhân HS nhận xét kết quả,
hoặc tinh thần làm việc của nhóm mình; cũng có thể GV quan sát một vài nhóm
HS thảo luận, sau khi báo cáo kết quả xong rồi, GV mới thực hiện việc nhận xét nhóm
Tóm lại, khi thực hiện hình thức TLN, GV cần đảm bảo các bước sau đây:
- Bước 1: Thiết kế được các bài tập thảo luận hợp lí, có vấn đề
- Bước 2: GV chia nhóm cho phù hợp
- Bước 3: GV giao bài tập cho các nhóm thảo luận
Để giúp HS hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm mình, GV cần nhắc lại câu hỏi 2
lần hoặc viết các câu hỏi lên bảng Đối với những bài tập dài, để tránh mất
thời gian, GV viết sẵn bài tập lên phiếu bài tập, phát cho mỗi nhóm một phiếu (có thể cùng nội dung hoặc khác nội dung), cũng có thể viết trước ở nhà trên
bảng phụ
- Bước 4: HS huy động kinh nghiệm cá nhân, thảo luận với các thành viên cùng nhóm để giải quyết vấn đề được giao Trong quá trình các nhóm thảo luận, GV phải đi đến các nhóm, nêu câu hỏi gợi ý hoặc điều
chỉnh hoạt động của HS khi chệch hướng, hoặc nhắc nhở vấn đề thời gian, theo dõi và nhắc nhở các HS thụ động
- Bước 5: GV tổ chức cho HS báo cáo kết quả Khi đại diện nhóm trình bày kết quả, GV ghi lại những ý kiến đúng, nêu câu hỏi gợi mở cho HS tiếp tục phát hiện những vấn đề mà nhóm chưa tìm ra câu trả
lời Sau đó, yêu cầu các nhóm khác bổ sung, GV nhận xét và chốt lại
vấn đề, đánh giá hoạt động của các nhóm Qua quá trình đó, HS tự
lĩnh hội, tự điều chỉnh tri thức thu nhận được bằng cách so sánh ý kiến
của nhóm mình với các nhóm khác, với ý kiến của GV
Có thể thấy, để có một giờ dạy học hợp tác đạt hiệu quả, trách nhiệm đặt lên vai người GV thực sự nặng nề Ngoài năng lực, người GV phải thực sự có
Trang 38tâm huyết với nghề nghiệp, phải có sự đầu tư công phu đối với từng hoạt động trong suốt tiến trình HS thảo luận Tất cả đều phải được dự tính tỉ mỉ sao cho phù hợp nhất để thảo luận nhóm đạt hiệu quả tối ưu
Muốn vận dụng hình thức hợp tác nhóm đạt hiệu quả, GV và HS phải nắm
vững các vấn đề lí luận về DHHT chúng tôi đã trình bày ở trên Để minh họa cho lí thuyết, ở chương 2, chúng tôi trình bày về thực tiễn vận dụng phương pháp DHHT vào dạy học PCCCNN ở lớp 11, trường THPT Tân Phước Khánh, Huyện Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương
1.2 Cơ sở của việc dạy và học PCCNNN theo hình thức dạy học hợp tác
Ngày nay, việc dạy HS phải đạt được những yêu cầu mới là: phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập nhằm phát huy năng lực người học GV
cần nêu câu hỏi gợi mở để dẫn dắt HS tự tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức và kĩ năng
vận dụng TV trong tạo lập văn bản (nói và viết) Từ đó, giúp cho HS hình thành
những năng lực vận dụng TV trong giao tiếp, đặc biệt là 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt một cách thành thạo, tự tin và chính xác Thiết nghĩ, điều này không phải HS nào cũng làm được, đặc biệt là ở kĩ năng nói và viết nhiều HS vẫn còn lúng túng và gặp không ít khó khăn khi trình bày ý kiến của mình theo các phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau Do vậy, chúng tôi
thấy dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học PC CNNN nói riêng theo phương pháp DHHT để có thể rèn luyện cho HS những kĩ năng trên
1.2.1 M ối quan hệ giữa dạy học TV và phương pháp dạy học hợp tác
1.2.1.1 Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học
Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực
ngôn ng ữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi
quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc
dạy và học Tiếng Việt Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ” Năng lực ngôn ngữ là khả năng của
con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức
Trang 39ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ…của ngôn ngữ đó Còn năng lực giao tiếp đó
là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân
loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp
ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp Giao tiếp với tư cách là một
dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củng cố mối quan hệ và được sử
dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng được sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo
ra tình huống ấy Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại
trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói nhất định hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn…
1.2.1.2 Dựa trên cơ sở tâm lý - ngôn ngữ
Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.S.Vư-gootsxki và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một
dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt.Từ
đó suy ra đơn vị dạy- học ngôn ngữ phải là hành động lời nói Dạy hành động
lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì?, Dạy để làm gì? và
D ạy như thế nào? Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các
mặt chức năng và hình thức của nó là đều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình
thức ngôn ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng Nếu mục đích của
việc dạy- học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình
Trang 40thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lý học Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành
kỹ năng, kỹ xảo Tâm lý ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu
về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp
giữa cá thể với nhiều người Quan hệ của phương pháp học Tiếng Việt và Tâm
lý học, đặc biệt là Tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý người nói chung và tâm lý học sinh trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em
1.2.1.3 D ựa trên cơ sở giáo dục học
Phương pháp dạy học tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Mục đích của phương pháp dạy học tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ
chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào
cuộc sống lao động trong xã hội mới Quan hệ của phương pháp dạy học tiếng
Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo
dục tạo ra và làm cơ sở cho phương pháp dạy học tiếng Việt sử dụng các khái
niệm, thuật ngữ của Giáo dục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo
dục do Giáo dục học đề ra- phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc
thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động Trong phương pháp dạy học
tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học: nguyên
tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc
trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học…