GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI Qua việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê, nội dung chủ yếu của luận văn này hướng đến việckhảo sát các nhân tố, các điều kiện xây dựng, hình thành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGỌC ĐIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- 2001 -
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGỌC ĐIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- 2001 -
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành được tỏ lòng biết ơn đối với TS Huỳnh Như Phương, người Thầy đã quan tâm sâu sắc và hết lòng giúp đỡ cho tôi hoàn thành được cuốn luận văn này
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 7
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 9
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 9
4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 12
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 13
CHƯƠNG I: NGUYỄN HIẾN LÊ – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP .21
1.1 cuộc đời 21
1.1.1 Quê hương và gia đình 21
1.1.2 Thời thơ ấu và niên thiếu 23
1.1.3 Tu ổi trưởng thành và đời công chức 24
1.1.4 Tự học và tập viết văn 27
1.1.5 Dạy học và viết sách 32
1.1.6 Lập nhà xuất bản, chuyên tâm hoạt động văn hóa 34
1.2 Sự nghiệp 42
1.2.1 26 năm, 100 tác phẩm 42
Trang 51.2.2 Di sản một đời văn 46
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG NHÀ VĂN TRONG CÁC TRƯỚC TÁC CỦA NGUYỄN HIẾU LÊ 56
2.1 LAO ĐỘNG NHÀ VĂN - MỘT VẤN ĐỀ QUAN TÂM CỦA NGUYỄN HIẾN LÊ 56
2.1.1 Nhà văn và nghề văn 56
2.1 2 Các trước tác Nguyễn Hiến Lê về lao động nhà văn 62
2.2 QUAN NIỆM CỦA NGUYÊN HIẾN LÊ VỀ LAO ĐỘNG NHÀ VĂN 70
2.2.1 Viết để học, học để viết 70
2.2.2 Kiên nhẫn luyện văn 73
2.2.3 Tinh luyện ngôn ngữ 88
2.2.4 Lựa chọn bứt pháp 93
2.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VIẾT VĂN CỦA NGUYỄN HIÊN LÊ 101
2.3.1 Để viết được nhiều 102
2.3.2 Kiếm tài liệu - Đọc sách báo 105
2.3.3 Lập bố cục - Viết 107
2.3.4 Không quên độc giả - Yêu đề tài 110
2.3.5 Viết Tựa 111
KẾT LUẬN 116
PHU LỤC 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nguyễn Hiến Lê không phải là một cái tên xa lạ với nhiều thế hệ những người đọc sách ở Việt Nam, nhất là với đông đảo độc giả ở miền Nam trước năm 1975 Sức viết và số lượng tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là một điều đáng kinh ngạc: Từ năm 1949 đến năm 1975, đúng 100 tác phẩm của ông đã được xuất bản Đó là chưa kể 20 cuốn khác đã lần lượt ra mắt bạn đọc trong hơn lo năm trở lại đây Kỷ lục đó cho đến nay ở nước ta, ngoài nhà văn Tô Hoài, ít ai sánh nổi
Sinh thời, Nguyễn Hiến Lê đã được xem là một học giả có nhiều đóng góp sâu sắc về nhiều lĩnh vực khác nhau: văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học Nguyễn Hiến Lê còn là một ngòi bút dịch thuật tài năng, một người viết
có uy tín và trách nhiệm của hàng trăm bài viết về văn hoa, giáo dục Ở bất kỳ lĩnh vực nào, đề tài nào, tác phẩm và bài viết của Nguyễn Hiến Lê cũng đem lại
cho người đọc những kiến thức sâu rộng mà thiết thực, bổ ích "Những năm
trước 1975 tại Sài Gòn, ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đổi với xã hội cũng như trong học thuật" [52;
tay ta, Gương kiên nhẫn Đó không phải là một nhầm lẫn đáng trách Chính
người làm luận văn này thoạt đầu cũng nghĩ gần giống như vậy Tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh tiếp nhận, thị trường sách báo có thể là những lý do dẫn đến những ấn tượng rất khác nhau về tác giả và tác phẩm
Thực ra, vấn học mới đúng là khu vực riêng mà Nguyễn Hiến Lê đặc biệt yêu thích và ông đã dành không ít công sức để khai phá, vun xới trong nhiều
năm tháng Trong cuốn Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê đã khẳng định:
"Điều chắc chắn là tôi có xu hướng về văn học, thích những
Trang 8cuốn viết có nghệ thuật (tư tưởng mới mẻ, thâm thúy mà viết kém thì tôi cũng không ưa) và thích giới thiệu những cái đẹp trong văn thơ với thanh niên" [22;
tr.222]
Công việc "giới thiệu những cái đẹp trong văn thơ" đó của Nguyễn Hiến
Lê được khởi sự bằng cuốn Luyện văn I (xuất bản năm 1953) và sau đó được tiếp tục với Luyện văn II, III (xuất bản năm 1957) Với hơn 700 trang sách, "bộ
ba" Luyện văn của Nguyễn Hiến Lê được đón nhận như một công trình có hệ
thống và mang tính thời sự không chỉ về những vấn đề kỹ thuật và nghệ thuật của công việc viết văn mà còn đáp ứng lòng mong đợi của nhiều người thiết tha với việc sử dụng tiếng Việt lúc bấy giờ Năm năm sau, Nguyễn Hiến Lê lại tiếp
tục cho ra đời bộ Hương sắc trong vườn văn (tập I và tập II đều xuất bản năm 1962) So với Luyện văn, bộ Hương sắc trong vườn văn là một bước phát triển,
nâng cao Cả hai công trình đó đã tạo thành một hợp thể sinh động mang tính lý luận, phê bình về mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - người đọc Và trong mối quan hệ đó, phương diện lao động nghệ thuật của nhà văn đã hiện lên như một vấn đề trọng tâm, nổi bật
Lâu nay, trong việc dạy văn và học văn trong nhà trường, tác phẩm văn chương vẫn luôn được xem là một chỉnh thể nghệ thuật với tư cách vừa là sản phẩm của quá trình sáng tạo của nhà văn, vừa là đối tượng thẩm mỹ của sự tiếp nhận Việc tiếp cận, tìm hiểu, cảm thụ, đánh giá đều hướng đến các mặt giá trị, ý nghĩa của tác phẩm Con đường giải mã tác phẩm thường được xuất phát
từ những vấn đề lý luận chung, phát triển qua hàng loạt các quy trình, thao tác phân tích (hoặc ngược lại) để thâm nhập, soi sáng và khẳng định các giá trị, ý nghĩa của tác phẩm Ưu điểm của hướng đi đó là không thể chối cãi Tuy vậy, công việc của người sáng tạo - tức lao động của nhà văn, dường như chưa được chú ý một cách thỏa đáng Những tìm tòi, trăn ưở ương việc hình thành tác phẩm của nhà văn vẫn còn cách xa học sinh, sinh viên một bức tường Việc viết văn, làm văn, luyện văn chưa phải là một công việc gần gũi, hấp dẫn đối với học sinh, sinh viên
Chọn Nguyễn Hiến Lê và các trước tác về nghề viết văn của ông làm đối tượng khảo sát, luận văn này mong muốn được nhắc đến Nguyễn
Trang 9Hiến Lê như một trong những khuôn mặt tiến bộ, đa dạng, tiêu biểu của văn học miền Nam trước ngày giải phóng Trong dòng văn học này, chúng ta chỉ mới chú ý đến các sáng tác mà chưa quan tâm đến mặt kinh nghiệm, lý luận Trong
khi đó, Nguyễn Hiến Lê lại là một mẫu mực, một "tấm gương của nghị lực"
[39; tr.41] nhờ tự học mà thành công trên con đường viết văn của mình Những
ý tưởng và kinh nghiệm của Nguyễn Hiến Lê không thể không là những di sản cần được nghiến cứu, khai thác
2 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Qua việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê, nội dung chủ yếu của luận văn này hướng đến việckhảo sát các nhân tố, các điều kiện xây dựng, hình thành tác phẩm cũng như các khía cạnh của công việc viết văn, lao động nhà văn nói chung Các ý kiến và những kinh nghiệm của Nguyễn Hiến
Lê về lao động nhà văn trong các trước tác của ông sẽ là chỗ dựa chủ yếu của những khảo sát và trình bày của luận văn
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong lý luận lẫn trong thực tế sáng tác, lao động nhà văn không phải là một vấn đề mới Các công trình của A.Xâytlin, Chu Quang Tiềm, L.X.Vưgôtxki, K.Pauxtôpxki đã đến với rộng rãi người đọc trong nhiều năm qua Phần lớn các nhà văn nổi tiếng của Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng đã
để lại những kinh nghiệm sáng tác văn chương của mình Thế nhưng Nguyễn Hiến Lê vẫn là một trường hợp khá đặc biệt Đó là một đời văn của 120 trước tác đủ loại với hơn 30.000 trang sách Có một thực tế là, trong nửa thế kỷ qua, sách của Nguyễn Hiến Lê liên tục được xuất bản, tái bản và được người đọc trân trọng đón nhận Tuy vậy, khi rà soát lại thì số lượng các bài viết hoặc các
công trình nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê còn quá ít ỏi Điều đó là một trở ngại không nhỏ nhưng đồng thời cũng là một hứa hẹn hấp dẫn cho hướng tiếp cận vấn đề
về tài liệu, do khối lượng trước tác của Nguyễn Hiến Lê quá lớn, chúng tôi phải mạnh dạn gạt bỏ các vấn đề giáo dục, văn hoa, lịch sử, triết học để chỉ tập trung vào nội dung và mục đích đã chọn Có tất cả 3 mảng tài liệu chủ yếu :
Trang 10(1) Các trước tác của Nguyễn Hiến Lê trực tiếp bàn về công việc viết
văn: Luyện văn I (1953); Nghề viết văn (1956); Luyện văn II, III (1957); Hương
sắc trong vườn văn (2 tập),(1962); Đời viết văn của tôi (1996)
(2) Các trước tác, bài viết của Nguyễn Hiến Lê có tác dụng hỗ trợ, bổ
sung cho mảng (1): Hồi kí Nguyễn Hiến Lê (1993); một số bài Tựa của Nguyễn
Hiến Lê; một số bài viết của Nguyễn Hiến Lê đăng trên Bách Khoa, Mai, Tin Văn
(3) Các công trình, bài viết của các tác giả khác viết về Nguyễn Hiến Lê:
Trước 30/4/1975, đáng chú ý nhất là các bài viết "nhân dịp tác phẩm thứ
100 của Nguyễn Hiến Lê ra mắt bạn đọc" đăng trên Giai phẩm Bách Khoa số
426 ra ngày 19/4/1975 (và cũng là số cuối cùng của giai phẩm này) Ngoài
trang tiểu sử vắn tắt về Nguyễn Hiến Lê được dẫn lại từ cuốn Sống và Viết của
Nguiễn Ngu Í kèm nét ký họa chân dung Nguyễn Hiến Lê của Tạ Tỵ, tòa soạn
Bách Khoa đã cho đăng bài Ông Nguyễn Hiến Lê và 100 tác phẩm dề giới thiệu cuốn Mười câu chuyện văn chương (tác phẩm thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê)
cùng nội dung phỏng vấn về các dự định sáng tác và tình trạng sức khỏe của Nguyễn Hiến Lê vào thời điểm ấy
Cũng trên số Bách Khoa đó, hai bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và của nhà văn Võ Phiến là hai cứ liệu giá trị Qua những kỷ niệm với Nguyễn Hiến
Lề, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã phác họa tính cách của nhà văn đáng kính này với một tình cảm trân trọng, khâm phục và biết ơn sâu sắc Còn bài viết của nhà văn
Võ Phiến Nhân đọc bản thảo cuốn "Nguyễn Hiến Lê" của Châu Hải Kỳ, ngoài
những ghi nhận trân trọng đối với công sức và tấm lòng của nhà giáo Châu Hải
Kỳ, lại là những khẳng định sắc sảo về tài năng và thành quả trong lĩnh vực học thuật của Nguyễn Hiến Lê
Cuốn Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm (Nxb Văn học, 1993) của
nhà giáo Châu Hải Kỳ (1)vừa nêu trên cũng là một tài liệu khá đặc
(1) Châu Hải Kỳ (1920 - 1993), tên thật Võ Văn Côn, nhà giáo, nhà văn, quê Quảng Nam, dạy học ở Nha Trang, tác giả của nhiều bài viết về văn chương và giáo dục trên Bách khoa, Văn,
Trang 11biệt Bản thảo đã viết xong vào đầu năm 1975, vừa được nhà văn Võ Phiến giới thiệu trên Bách Khoa thì miền Nam hoàn toàn giải phóng Từ năm 1977, Châu Hải Kỳ lại tiếp tục viết thêm một phần nữa về cuộc sống và sáng tác của Nguyễn Hiến Lê từ sau 30/4/1975 Có thể coi cuốn sách của Châu Hải Kỳ là một công trình được biên soạn công phu, đầy đủ nhất về Nguyễn Hiến Lê từ ưước đến nay Xuất phát từ lòng ngưỡng mộ văn tài và cốt cách của Nguyễn Hiến Lê, nhà giáo này đã miệt mài tìm hiểu, nghiên cứu hầu như toàn bộ các khía cạnh về cuộc đời, tác phẩm, sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê Mặc dù bị cắt
bỏ nhiều ở khâu biên tập và mắc nhiều lỗi ấn loát do in vội, cuốn Nguyễn Hiến
đời nhà văn họ Nguyễn, đồng thời trình bày được một cách hệ thống, cặn kẽ những nhận xét, phân tích, đánh giá đối với phần lớn sự nghiệp trước tác của Nguyễn Hiến Lê
Hết sức thán phục nghị lực và sức sáng tạo mãnh liệt ở nhà văn này,
Châu Hải Kỳ còn thấy ở Nguyễn Hiến Lê một "tri thức tân tiến, tâm hồn nhà
lực trí tuệ của Nguyễn Hiến Lê: " là nhà biên khảo, dĩ nhiên gặp trường hợp
cũng căn cứ vào sách vở, nhưng luôn luôn trong lúc nhận xét, phẩm luận vẫn có những thị kiến độc đáo riêng tư" [16; tr.l 17] Ông coi toàn bộ sự nghiệp
Nguyễn Hiến Lê có giá trị "vừa mở đường, vừa thức tỉnh".[16; tr.2891 về tiến
trình sáng tác của Nguyễn Hiến Lê, Châu Hải Kỳ đã nhận thấy đó là lối viết "từ
thấp đến cao", được tiến hành dài hơi bằng "một loạt tác phẩm về một chủ điểm" [16; tr.177 - 178] Quen thuộc với bút pháp bình dị, tự nhiên của Nguyễn
Hiến Lê, Châu Hải Kỳ đã tinh tế chỉ ra những phần đóng góp đúng là của Nguyễn Hiến Lê trong các công trình hợp soạn với người khác Theo Võ Phiến,
cũng chính Châu Hải Kỳ là "người đầu tiên nêu lên cái đặc tài viết Tựa'' [43;
tr.50] của Nguyễn Hiến Lê Có thể nói, trước nay, trong loại sách "chân dung văn học" đã khá phổ biến, hiếm thấy cuốn nào nặng lòng mến mộ chân thành đến tri âm tri kỷ và chu đáo được như vậy
Giáo dục phổ thông trước 30/04/1975 Cuốn Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm được xuất bản sau khi ông mất
Trang 12Ở mảng (3), ngoài các tài liệu kể trên còn có - trong những năm gần đây - một số bài viết, lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng, nhà giáo
Lê Anh Dũng và của các Nhà xuất bản Văn học, Văn hoá hoặc các nhà xuất bản địa phương, khi xuất bản hoặc tái bản các tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê Hầu hết các bài viết, lời giới thiệu, lời nhà xuất bản đó đều hết sức trân trọng con người và sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê, đồng thời khẳng định sự tiêu biểu, đa dạng trong sáng tác cũng như tính mẫu mực, nghiêm túc, khoa học trong các công trình biên khảo, nghiên cứu của ông
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê còn mang tính tổng quan về nhà văn - tác phẩm Đó là một thuận lợi đáng kể Tuy vậy, khi dấn sâu thêm một bước theo hướng nhà văn - tác phẩm - vấn đề, luận văn này lại đứng trước tình trạng chưa có một công trình nào đi trước để làm chỗ dựa
4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở ghi nhận cuộc đời lao động văn học miệt mài cùng sự nghiệp văn hoá-học thuật đa dạng của Nguyễn Hiến Lê, luận văn tập trung vào việc giới thiệu, phân tích và khẳng định những ý tưởng về lao động nhà văn cùng những kinh nghiệm viết văn từ chính đời văn của Nguyễn Hiến Lê như những đóng góp có giá trị
Hướng đến những nội dung trên, luận văn mong muốn được đóng góp thêm một cái nhìn về một đời sống văn học toàn diện trên một cơ thể chung của văn học Việt Nam; đồng thời bổ sung một vài gợi ý trong lý luận và kinh nghiệm về phương diện lao động nhà văn, một vấn đề ít nhiều có ý nghía trong việc dạy và học môn Văn trong nhà trường hiện nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để xây dựng luận văn này, chúng tôi đã vận dụng trong một chừng mực nhất định và còn hạn hẹp các phương pháp, biện pháp và thủ pháp sau:
- Phương pháp khảo sát văn bản được coi là phương pháp cơ bản trong quá trình tìm hiểu các trước tác của Nguyễn Hiến Lê bàn về lao động nhà
Trang 13văn lẫn kinh nghiệm viết văn Điểm hạn chế của việc khảo sát này là hầu hết các trước tác của Nguyễn Hiến Lê được sử dụng làm tư liệu đều là những bản in lại trong những năm gần đây, khó bảo đảm được yêu cầu chuẩn xác về mặt văn bản học
- Phương pháp phân tích-tổng hợp được vận dụng trong quá trình lý giải, biện luận, trình bày nội dung của phần chính văn Phân tích, tổng hợp cũng đồng thời là biện pháp hoặc thủ pháp được vận dụng cùng với các thủ pháp so sánh, liên hệ, thống kê ở các cấp độ nhỏ hơn trong văn bản luận văn
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn dày 113 trang Trừ các phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 2 chương:
- Chươngl: NGUYỄN HIẾN LÊ-CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP (37 trang).
- Chương2: VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG NHÀ VĂN TRONG CÁC TRƯỚC TÁC
Trang 14MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nguyễn Hiến Lê không phải là một cái tên xa lạ với nhiều thế hệ những người đọc sách ở Việt Nam, nhất là với đông đảo độc giả ở miền Nam trước năm 1975 Sức viết và số lượng tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là một điều đáng kinh ngạc: Từ năm 1949 đến năm 1975, đúng 100 tác phẩm của ông đã được xuất bản Đó là chưa kể 20 cuốn khác đã lần lượt ra mắt bạn đọc trong hơn lo năm trở lại đây Kỷ lục đó cho đến nay ở nước ta, ngoài nhà văn Tô Hoài, ít ai sánh nổi
Sinh thời, Nguyễn Hiến Lê đã được xem là một học giả có nhiều đóng góp sâu sắc về nhiều lĩnh vực khác nhau: văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học Nguyễn Hiến Lê còn là một ngòi bút dịch thuật tài năng, một người viết
có uy tín và trách nhiệm của hàng năm bài viết về văn hoá, giáo dục Ở bất kỳ lĩnh vực nào, đề tài nào, tác phẩm và bài viết của Nguyễn Hiến Lê cũng đem lại
cho người đọc những kiến thức sâu rộng mà thiết thực, bổ ích "Những năm
trước 1975 tại Sài Gòn, ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuậ” [52;
tay ta, Gương kiên nhẫn Đó không phải là một nhầm lẫn đáng trách Chính
người làm luận văn này thoạt đầu cũng nghĩ gần giống như vậy Tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh tiếp nhận, thị trường sách báo có thể là những lý do dẫn đến những ấn tượng rất khác nhau về tác giả và tác phẩm
Thực ra, văn học mới đúng là khu vực riêng mà Nguyễn Hiến Lê đặc biệt yêu thích và ông đã dành không ít công sức để khai phá, vun xới trong nhiều
năm tháng Trong cuốn Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê đã khẳng định:
"Điều chắc chắn là tôi có xu hướng về vấn học, thích những
Trang 15cuốn viết có nghệ thuật (tư tưởng mới mẻ, thâm thúy mà viết kém thì tôi cũng không ưa) và thích giới thiệu những cái đẹp trong văn thơ với thanh niên" [22;
tr.222]
Công việc "giới thiệu những cái đẹp trong văn thơ" đó của Nguyễn Hiến
Lê được khởi sự bằng cuốn Luyện văn I (xuất bản năm 1953) và sau đó được tiếp tục với Luyện văn II, III (xuất bản năm 1957) Với hơn 700 trang sách, "bộ
ba" Luyện văn của Nguyễn Hiến Lê được đón nhận như một công trình có hệ
thống và mang tính thời sự không chỉ về những vấn đề kỹ thuật và nghệ thuật của công việc viết văn mà còn đáp ứng lòng mong đợi của nhiều người thiết tha với việc sử dụng tiếng Việt lúc bấy giờ Năm năm sau, Nguyễn Hiến Lê lại tiếp
tục cho ra đời bộ Hương sắc trong vườn văn (tập I và tập II đều xuất bản năm 1962) So với Luyện văn, bộ Hương sắc trong vườn văn là một bước phát triển,
nâng cao Cả hai công trình đó đã tạo thành một hợp thể sinh động mang tính lý luận, phê bình về mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - người đọc Và trong mối quan hệ đó, phương diện lao động nghệ thuật của nhà văn đã hiện lên như một vấn đề trọng tâm, nổi bật
Lâu nay, trong việc dạy văn và học văn trong nhà trường, tác phẩm văn chương vẫn luôn được xem là một chỉnh thể nghệ thuật với tư cách vừa là sản phẩm của quá trình sáng tạo của nhà văn, vừa là đối tượng thẩm mỹ của sự tiếp nhận Việc tiếp cận, tìm hiểu, cảm thụ, đánh giá đều hướng đến các mặt giá trị, ý nghĩa của tác phẩm Con đường giải mã tác phẩm thường được xuất phát
từ những vấn đề lý luận chung, phát triển qua hàng loạt các quy trình, thao tác phân tích (hoặc ngược lại) để thâm nhập, soi sáng và khẳng định các giá trị, ý nghĩa của tác phẩm Ưu điểm của hướng đi đó là không thể chối cãi Tuy vậy, công việc của người sáng tạo - tức lao động của nhà văn, dường như chưa được chú ý một cách thỏa đáng Những tìm tòi, trăn trở trong việc hình thành tác phẩm của nhà văn vẫn còn cách xa học sinh, sinh viên một bức tường Việc viết văn, làm văn, luyện văn chưa phải là một công việc gần gũi, hấp dẫn đối với học sinh, sinh viên
Chọn Nguyễn Hiến Lê và các trước tác về nghề viết văn của ông làm đối tượng khảo sát, luận văn này mong muốn được nhắc đến Nguyễn
Trang 16Hiến Lê như một trong những khuôn mặt tiến bộ, đa dạng, tiêu biểu của văn học miền Nam trước ngày giải phóng Trong dòng văn học này, chúng ta chỉ mới chú ý đến các sáng tác mà chưa quan tâm đến mặt kinh nghiệm, lý luận Trong
khi đó, Nguyễn Hiến Lê lại là một mẫu mực, một "tấm gương của nghị lực"
[39; tr.41] nhờ tự học mà thành công trên con đường viết văn của mình Những
ý tưởng và kinh nghiệm của Nguyễn Hiến Lê không thể không là những di sản cần được nghiên cứu, khai thác
2 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Qua việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê, nội dung
chủ yếu của luận văn này hướng đến việckhảo sát các nhân tố, các điều kiện xây dựng, hình thành tác phẩm cũng như các khía cạnh của công việc viết văn, lao động nhà văn nói chung Các ý kiến và những kinh nghiệm của Nguyễn Hiến
Lê về lao động nhà văn trong các trước tác của ông sẽ là chỗ dựa chủ yếu của những khảo sát và trình bày của luận văn
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Trong lý luận lẫn trong thực tế sáng tác, lao động nhà văn không phải là một vấn đề mới Các công trình của A.Xâytlin, Chu Quang Tiềm, L.X.Vưgôtxki, K.Pauxtôpxki đã đến với rộng rãi người đọc trong nhiều năm qua Phần lớn các nhà văn nổi tiếng của Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng đã
để lại những kinh nghiệm sáng tác văn chương của mình Thế nhưng Nguyễn Hiến Lê vẫn là một trường hợp khá đặc biệt Đó là một đời văn của 120 trước tác đủ loại với hơn 30.000 trang sách Có một thực tế là, trong nửa thế kỷ qua, sách của Nguyễn Hiến Lê liên tục được xuất bản, tái bản và được người đọc trân trọng đón nhận Tuy vậy, khi rà soát lại thì số lượng các bài viết hoặc các công trình nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê còn quá ít ỏi Điều đó là một trở ngại không nhỏ nhưng đồng thời cũng là một hứa hẹn hấp dẫn cho hướng tiếp cận vấn đề
Về tài liệu, do khối lượng trước tác của Nguyễn Hiến Lê quá lớn, chúng tôi phải mạnh dạn gạt bỏ các vấn đề giáo dục, văn hoa, lịch sử, triết học để chỉ tập trung vào nội dung và mục đích đã chọn Có tất cả 3 mảng tài liệu chủ yếu :
Trang 17(1) Các trước tác của Nguyễn Hiến Lê ưực tiếp bàn về công việc viết
văn: Luyện văn I (1953); Nghề viết văn (1956); Luyện văn II, III (1957); Hương
sắc trong vườn văn (2 tập),(1962); Đời viết văn của tôi (1996)
(2) Các trước tác, bài viết của Nguyễn Hiến Lê có tác dụng hỗ trợ, bổ
sung cho mảng (1): Hồi kí Nguyễn Hiến Lê (1993); một số bài Tựa của Nguyễn
Hiến Lê; một số bài viết của Nguyễn Hiến Lê đăng trên Bách Khoa, Mai, Tin Văn
(3) Các công trình, bài viết của các tác giả khác viết về Nguyễn Hiến Lê:
Trước 30/4/1975, đáng chú ý nhất là các bài viết "nhân dịp tác phẩm thứ
100 của Nguyễn Hiển Lê ra mắt bạn đọc" đăng trên Giai phẩm Bách Khoa số
426 ra ngày 19/4/1975 (và cũng là số cuối cùng của giai phẩm này) Ngoài
trang tiểu sử vắn tắt về Nguyễn Hiến Lê được dẫn lại từ cuốn Sống và Viết của
Nguiễn Ngu Í kèm nét ký họa chân dung Nguyễn Hiến Lê của Tạ Tỵ, tòa soạn
Bách Khoa đã cho đăng bài Ông Nguyễn Hiến Lê và 100 tác phẩm để giới thiệu cuốn Mười câu chuyện văn chương (tác phẩm thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê)
cùng nội dung phỏng vấn về các dự định sáng tác và tình trạng sức khỏe của Nguyễn Hiến Lê vào thời điểm ấy
Cũng trên số Bách Khoa đó, hai bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và của nhà văn Võ Phiến là hai cứ liệu giá trị Qua những kỷ niệm với Nguyễn Hiến
Lê, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã phác họa tính cách của nhà văn đáng kính này với một tình cảm trân trọng, khâm phục và biết ơn sâu sắc Còn bài viết của nhà văn
Võ Phiến Nhân đọc bản thảo cuốn "Nguyễn Hiến Lê" của Châu Hải Kỹ, ngoài
những ghi nhận trân trọng đối với công sức và tấm lòng của nhà giáo Châu Hải
Kỳ, lại là những khẳng định sắc sảo về tài năng và thành quả trong lĩnh vực học thuật của Nguyễn Hiến Lê
Cuốn Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm (Nxb Văn học, 1993) của
nhà giáo Châu Hải Kỳ (1)vừa nêu trên cũng là một tài liệu khá đặc
(1)Châu Hải Kỳ (1920 - 1993), tên thật Võ Văn Côn, nhà giáo, nhà văn, quê Quảng Nam, dạy học ở Nha Trang, tác giả của nhiều bài viết về văn chương và giáo dục trên Bách khoa, Văn,
Trang 18biệt Bản thảo đã viết xong vào đầu năm 1975, vừa được nhà văn Võ Phiến giới thiệu trên Bách Khoa thì miền Nam hoàn toàn giải phóng Từ năm 1977, Châu Hải Kỳ lại tiếp tục viết thêm một phần nữa về cuộc sống và sáng tác của Nguyễn Hiến Lê từ sau 30/4/1975 Có thể coi cuốn sách của Châu Hải Kỳ là một công trình được biên soạn công phu, đầy đủ nhất về Nguyễn Hiến Lê từ trước đến nay Xuất phát từ lòng ngưỡng mộ văn tài và cốt cách của Nguyễn Hiến Lê, nhà giáo này đã miệt mài tìm hiểu, nghiên cứu hâu như toàn bộ các khía cạnh về cuộc đời, tác phẩm, sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê Mặc dù bị cắt
bỏ nhiều ở khâu biên tập và mắc nhiều lỗi ấn loát do in vội, cuốn Nguyễn Hiến
đời nhà văn họ Nguyễn, đồng thời trình bày được một cách hệ thống, cặn kẽ những nhận xét, phân tích, đánh giá đối với phần lớn sự nghiệp trước tác của Nguyễn Hiến Lê
Hết sức thán phục nghị lực và sức sáng tạo mãnh liệt ở nhà văn này, Châu
Hải Kỳ còn thấy ở Nguyễn Hiến Lê một "tri thức tân tiến, tâm hồn nhà Nho", một "dây nối với quá khứ" [16; tr.75] Châu Hải Kỳ đánh giá cao năng lực trí tuệ của Nguyễn Hiến Lê: " là nhà biên khảo, dĩ nhiên gặp trường hợp cũng
căn cứ vào sách vở, nhưng luôn luôn trong lúc nhận xét, phẩm luận vẫn có những thị kiến độc đáo riêng tư" [16; tr.117] Ông coi toàn bộ sự nghiệp
Nguyễn Hiến Lê có giá trị "vừa mở đường, vừa thức tỉnh".[16; tr.289] về tiến
trình sáng tác của Nguyễn Hiến Lê, Châu Hải Kỳ đã nhận thấy đó là lối viết "từ
thấp đến cao", được tiến hành dài hơi bằng "một loạt tác phẩm về một chủ điểm" [16; tr.177 - 178] Quen thuộc với bút pháp bình dị, tự nhiên của Nguyễn
Hiến Lê, Châu Hải Kỳ đã tinh tế chỉ ra những phần đóng góp đúng là của Nguyễn Hiến Lê trong các công trình hợp soạn với người khác Theo Võ Phiến,
cũng chính Châu Hải Kỳ là "người đầu tiên nêu lên cái đặc tài viết Tựa" [43;
tr.50] của Nguyễn Hiến Lê Có thể nói, trước nay, trong loại sách "chân dung văn học" đã khá phổ biến, hiếm thấy cuốn nào nặng lòng mến mộ chân thành đến tri âm tri kỷ và chu đáo được như vậy
Giáo d ục phổ thông trước 30/04/1975 Cuốn Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm được xuất bản sau khi ông mất
Trang 19Ở mảng (3), ngoài các tài liệu kể trên còn có - trong những năm gần đây - một số bài viết, lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng, nhà giáo
Lê Anh Dũng và của các Nhà xuất bản Văn học, Văn hóa hoặc các nhà xuất bản địa phương, khi xuất bản hoặc tái bản các tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê Hầu hết các bài viết, lời giới thiệu, lời nhà xuất bản đó đều hết sức trân trọng con người và sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê, đồng thời khẳng định sự tiêu biểu, đa dạng trong sáng tác cũng như tính mẫu mực, nghiêm túc, khoa học trong các công trình biên khảo, nghiên cứu của ông
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê còn mang tính tổng quan về nhà văn - tác phẩm Đó là một thuận lợi đáng kể Tuy vậy, khi dấn sâu thêm một bước theo hướng nhà văn - tác phẩm - vấn đề, luận văn này lại đứng trước tình trạng chưa có một công trình nào đi trước để làm chỗ dựa
4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
Trên cơ sở ghi nhận cuộc đời lao động văn học miệt mài cùng sự nghiệp văn hoá-học thuật đa dạng của Nguyễn Hiến Lê, luận văn tập trung vào việc giới thiệu, phân tích và khẳng định những ý tưởng về lao động nhà văn cùng những kinh nghiệm viết văn từ chính đời văn của Nguyễn Hiến Lê như những đóng góp có giá trị
Hướng đến những nội dung trên, luận văn mong muốn được đóng góp thêm một cái nhìn về một đời sống văn học toàn diện trên một cơ thể chung của văn học Việt Nam; đồng thời bổ sung một vài gợi ý trong lý luận và kinh nghiệm về phương diện lao động nhà văn, một vấn đề ít nhiều có ý nghía trong việc dạy và học môn Văn trong nhà trường hiện nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để xây dựng luận văn này, chúng tôi đã vận dụng trong một chừng mực nhất định và còn hạn hẹp các phương pháp, biện pháp và thủ pháp sau:
- Phương pháp khảo sát văn bản được coi là phương pháp cơ bản trong quá trình tìm hiểu các trước tác của Nguyễn Hiến Lê bàn về lao động nhà
Trang 20văn lẫn kinh nghiệm viết văn Điểm hạn chế của việc khảo sát này là hầu hết các trước tác của Nguyễn Hiến Lê được sử dụng làm tư liệu đều là những bản in lại trong những năm gần đây, khó bảo đảm được yêu cầu chuẩn xác về mặt văn bản học
- Phương pháp phân tích-tổng hợp được vận dụng trong quá trình lý giải, biện luận, trình bày nội dung của phần chính vặn Phân tích, tổng hợp cũng đồng thời là biện pháp hoặc thủ pháp được vận dụng cùng với các thủ pháp so sánh, liên hệ, thống kê ở các cấp độ nhỏ hơn trong văn bản luận văn
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn dày 113 trang Trừ các phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 2 chương:
- Chương 1: NGUYỄN HIẾN LÊ - cuộc ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP (37 trang).
- Chương 2: VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG NHÀ VĂN TRONG CÁC TRƯỚC TÁC
*
Trang 21Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ vãn
CHƯƠNG I: NGUYỄN HIẾN LÊ – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1.1 cuộc đời
1.1.1 Quê hương và gia đình
Nguyễn Hiến Lê, hiệu là Lộc Đình sinh ngày 08 tháng 01 năm 1912 (khai sinh ghi 08/4/1912), nhằm ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi
Tuy sinh trưởng ở Hà Nội, nguyên quán của Nguyễn Hiến Lê vốn ở làng
Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là tỉnh Hà Tây) Trong ký ức của Nguyễn Hiến Lê, Phương Khê là một làng nhỏ và nghèo nằm ở hữu ngạn sông Hồng, cách khoảng hai cây số về phía nam của bến đò Vân Sa, nơi có ngã
ba Bạch Hạc nổi tiếng Cả làng có chừng hai trăm hộ gia đình thì nhà nào quanh năm cũng chỉ trông vào mấy thửa ruộng và nhà nào cũng có tháng phải ăn độn ngô khoai Từ giữa thế kỷ XVIII tới đầu thế kỷ XX, cả làng chỉ có mỗi một người đỗ tú tài là ông nội của Nguyễn Hiến Lê; và trong nửa đầu thế kỷ XX, cả làng cũng chỉ có mỗi mình Nguyễn Hiến Lê là tốt nghiệp bậc cao đẳng (tương đương với bậc đại học hiện nay)
Lớn lên trong thời buổi nho học không còn được sủng ái, Nguyễn Hiến
Lê hẳn đã nghe và thấy được những suy vi đó Ông nội sau khi đậu tú tài đã bỏ con đường khoa cử, cũng không muốn ra làm quan, chỉ giữ khí tiết của một nhà
nho bất hợp tác Có bốn người con trai, cụ để cho các con "tự chọn lựa con
đường đi, miễn là không làm gì nhục cho tổ tiên".[23;tr.31]
Người con trưởng (tức bác Cả của Nguyễn Hiến Lê) tên là Nhuận, hiệu Tùng Hương, thông minh, văn thơ hay nhưng ghét khoa cử, gia nhập Đông Kinh nghĩa thục rồi sau qua Trung Hoa theo cụ Phan Bội Châu, chết ở đâu, năm nào, không rõ Người thứ nhì tên là Cổn, tự Đạo Quýnh, hiệu
(1)Lộc Đình, nghĩa là "sân Lộc" - Nguyễn Hiến Lê sinh ở ngõ Phất Lộc, Hà Nội Bút hiệu này Nguyễn Hiến Lê chỉ dùng
một lần ở bài tùy bút Hương và sắc (đăng trên tạp chí Giáo dục phổ thông, số 31 - 32, Sài Gòn, 1959)
Trang 22Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Kế Phương, học khá, suốt đời dạy học, mới đầu làm tổng sư, sau làm thầy đồ dạy tại nhà, cuối cùng làm hương sư, mất năm 1933 Người thứ ba tên là Côn, hiệu Phương Sơn, có văn tài nhất, thi hương một khoa, rớt, rồi bỏ luôn, gia nhập Đông Kinh nghĩa thục, làm rể cụ Lương Văn Can Khoảng năm 1913 - 1914, bác Phương Sơn trốn vào Nam kỳ, đổi tên là Khôn, sống bằng nghề làm ruộng
và bốc thuốc, mất năm 1960 ở chợ Thủ, Long Xuyên
Người thứ tư - thân phụ của Nguyễn Hiến Lê, huý Văn Bí, hiệu Đặc Như, sinh năm 1887 và mất năm 1920, khi Nguyễn Hiến Lê mới được 8 tuổi
Ngay từ bé, Nguyễn Hiến Lê đã được cha dạy vỡ lòng chữ Hán rồi sau đó
là chữ quốc ngữ và bốn phép toán Những chữ Hán dễ như thiên, trung, lập,
mân được khắc chìm trên những thẻ gỗ dài khoảng 3 tấc, rộng chừng 5 phân Cậu bé Lê dùng bút lông chấm nước lã, tô những chữ đó cho quen tay rồi sau mới tập viết phóng Cậu còn được cha nhờ một thầy ký dạy cho biết vần Tây Đến đầu năm 1920, ngay giữa niên học, Nguyễn Hiến Lê được cha xin cho vào học lớp dự bị trường Yên Phụ, Hà Nội Đến tháng 8 âm lịch năm đó, cha của Nguyễn Hiến Lê bị bệnh nặng rồi mất
Thân mẫu của Nguyễn Hiến Lê là bà Nguyễn Thị Sâm, sinh năm 1886, quê quán ở Hà Đông Gặp nghịch cảnh từ nhỏ (cha mất sớm, bị con riêng của cha ngược đãi), bà Sâm đã cùng với mẹ về sống với gia đình bên ngoại, tập buôn bán kiếm sống Từ khi có chồng, bà Sâm đưa mẹ về ở chung tại căn nhà
số 4 ngõ Phất Lộc, Hà Nội
Trong ký ức của Nguyễn Hiến Lê, căn nhà sô" 4 đó gắn liền với hình ảnh
con ngõ hẹp độ hai thước, dài chừng hai trăm thước, "không có gì đẹp mà lại
bẩn thỉu nữa" Dù vậy, trong tâm tưởng Nguyễn Hiến Lê, ngõ Phất Lộc vẫn là
một cái gì "bất biến" và "có điểm khả ái", là "di tích của một thời cổ, may mắn
không bị tàn phá " [23; tr 17]
Lớp dự bị (Préparatoire), tương đương lớp 2 hiện nay
Trang 23Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ vấn
- 23-
1.1.2 Thời thơ ấu và niên thiếu
Chính tại ngôi nhà số 4 xưa cũ được cất từ đời Tự Đức của các cụ bên ngoại để lại đó, bốn anh em Nguyễn Hiến Lê (1) đã lớn lên trong sự chăm sóc, thương yêu của mẹ, nhất là của bà ngoại Cuộc đời vất vả, tận tuy của bà ngoại
đã được Nguyễn Hiến Lê ghi lại trong tập văn Cháu bà nội, tội bà ngoại với
lòng biết ơn sâu nặng :
Bà đã thay mẹ tôi, săn sóc chúng tôi, lại thay cả cha tồi trong sự dạy dỗ chúng tôi nữa Ngày nay, anh em tôi, con cháu tôi,
có ai giữ được một chút cái tính khí khái của bày không chịu lụy ai, cái đức cần cù, tiết kiệm, cố chiến đấu để vượt khỏi cảnh nghèo,
lớn là nhờ bà [22 ; tr.32]
Từ khi cha mất, cậu bé Nguyễn Hiến Lê có phần chểnh mảng việc học
Mẹ lo buôn bán, lại khổng biết chữ, nên không thể kiểm soát việc học của mấy anh em Nguyễn Hiến Lê được Chơi đùa lêu lổng với bọn trẻ hàng xóm đến quên cả bài vở, Nguyễn Hiến Lê phải ngồi lại lớp, bị "đúp" một năm Nhưng qua năm học sau, bị thầy quở, Nguyễn Hiến Le xấu hổ, quyết tâm tu tỉnh, học hành nghiêm chỉnh hơn Nhờ vậy, Nguyễn Hiến Lê học tập tiến bộ hẳn, năm nào cũng nhất, nhì lớp Mới lớp nhì (tương đương lớp 4 hiện nay) mà đã quyết
tra những chữ khó "!
Tuy học giỏi, Nguyễn Hiến Lê lại bị rớt trong kỳ thi tuyển vô trường Bưởi (hồi đó gọi là trường Bảo hộ, nay là trường Chu Văn An) Thế là mất thêm một năm học tư ban đêm để luyện Pháp văn và Toán Năm sau (1927), Nguyễn Hiến Lê thi lại vào trường Bưởi và đậu khá cao Bốn năm liền, Nguyễn Hiến Lê miệt mài học ở bậc trung học
Trong mấy năm đó, có một sự kiện tuy nhỏ nhưng đã làm thay đổi hướng
đi sau này của Nguyễn Hiến Lê Liên tiếp 2 dịp hè (năm 1928 và 1929), Nguyễn Hiến Lê đã theo lời mẹ, về Phương Khê học chữ Hán với
(I)Nguyễn Hiến Lê là anh cả Em ttai kế là Nguyễn Hữu Hùng (1914 - 1946) Hai người em gái là Nguyễn Thị Oanh (đã
mất) và Nguyễn Thị Mùi (hiện còn sống, đang định cư ở Paris, Pháp)
Trang 24Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
- li -
bác Hai Ở cái thời Nho học đã tàn tạ mà mẹ của Nguyễn Hiến Lê lại có một quyết định như vậy thì thật lạ Theo lời bà, cho Nguyễn Hiến Lê học chữ Hán là
để "sau này đọc được gia phả bên nội bên ngoại, chứ không lẽ con cháu nhà
Nho mà không biết gốc gác ông bà" [23; tr 74] Hình như người mẹ không biết
chữ ấy muốn đứa con trai lớn của mình tiếp xúc với đạo Nho, giữ được truyền thống nhà Nho chăng?
1.1.3 Tuổi trưởng thành và đời công chức
Mùa hè năm 1930, bà ngoại bị bệnh và mất đột ngột, Nguyễn Hiến Lê ở
lại Hà Nội, bỏ học chữ Hán Nguyễn Hiến Lê nhớ lại : "Thời đó, tôi ham biết
thơ văn Trung Quốc, nghe những tên như Văn tâm điêu long, Chiêu minh văn
tuyển, Tiền Xích Bích phú, Quy khứ lai từ là trong lòng vang lên một điệu trầm
trầm như nhớ nhung cái gì"; nhưng khi hỏi bác tôi thì người gạt đi: " - Chấu học tiếng Tây mà muốn biết những cái đó làm gì ) Thôi đi Để sức mà tìm hiểu khoa học, cháu " [22; tr.ll]
Tuy vậy, chính hai vụ hè học chữ Hán đó đã để lại những dấu ấn tinh thần, tình cảm sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Hiến Lê:
Nhờ sống sau lũy tre xanh giữa nông dân, tôi hiểu đời sống vất vả, thiếu thốn của họ, cả những tật xấu của họ nữa ( );tôi có cảm tình với hạng dân nghèo chất phác mà ghét hạng tổng lý hách dịch, xảo trá Tôi lại yêu quê hương tôi hơn: cảnh núi Tản hùng vĩ, cảnh ngã ba Bạch Hạc mênh mông vào mùa nước lớn, cảnh đồng ruộng văng vãng tiếng sáo diều và thoang thoảng hương lúa, cảnh chợ quê lèo tèo mấy gian cột tre mái rạ với những quán chè tươi ở dưới gốc muỗm, lồng lộng gió đồng.[22,tr.13]
Nếp sống giản dị, nghiêm cẩn của nhà nho - qua cuộc đời người bác ruột
- đã để lại những ấn tượng rất sâu ở Nguyễn Hiến Lê, nhất là bài học coi trọng tinh thần hơn vật chất Lần đó, Nguyễn Hiến Lê theo bác Hai đi thăm mộ cụ Lê Anh Tuấn ở làng Thanh Mai Sinh thời, cụ Lê Anh Tuấn sống rất thanh bạch, giữ chức Tham tụng mà rất nghèo, chỉ cất được một ngôi nhà rất nhỏ, Ngay cụ
Lê Đình Duyên (thầy học của ông nội Nguyễn Hiến Lê), đậu tiến sĩ, giữ chức
Tư nghiệp Quốc tử giám mà nhà thờ còn
Trang 25Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
-25-
nhỏ hơn nữa Nguyễn Hiến Lê nhớ hoài lời dạy của bác Hai: "Đời sống vật
chất nên dưới mức trung còn đời sống tinh thần thì trên mức ấy" [22;tr.l5]
Tháng 9 năm 1934, Nguyễn Hiến Lê tốt nghiệp trường Cao đẳng công chánh Mẹ và bác Ba Phương Sơn rất vui nhưng riêng Nguyễn Hiến Lê lại thấy buồn:
Lúc đó đương thời kinh tế khủng hoảng, tôi biết đợi nửa năm nữa chưa chắc đã được bổ mà cảnh nhà tôi lại túng bấn( ) Mỗi lần mặt trời gần lặn, nỗi chán nản của tôi dâng lên mênh mông như bóng tối Tôi không muốn ở nhà, đi thơ thẩn ở ngoài đường cho hết ngày [22; tr.16 - 17]
Để qua ngày, Nguyễn Hiến Lê tự học lại chữ Hán Hơn 3 tháng đợi phân
bổ, chiều nào cũng vậy, Nguyễn Hiến Lê đến Thư viện trung ương, mượn bộ
nhưng cách thức tự học của Nguyễn Hiến Lê rất nghiêm túc, qui củ: chép lại những từ ngữ thường dùng mà chưa biết, mỗi ngày độ ba bốn chục từ, những điểm ngữ pháp quan trọng cũng được ghi chép lại một cách cẩn thận, từ cách
đặt câu đến những chi, hồ, giả, dã Mỗi chiều ở thư viện độ ba tiếng đồng hồ,
buổi tối và sáng hôm sau học hết những trang đã ghi chép để đến chiều lại ra thư viện chép bài học sau, mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại bài ương tuần Cuối đợt tự học đó, Nguyễn Hiến Lê đã có được độ ba ngàn từ! Nguyễn Hiến
Lê cũng thử viết một bài ngắn bằng chữ Hán, nhờ người khác đọc và góp ý để
sửa chữa; rồi cũng tự đọc được - trước chậm, sau nhanh dần - trọn bộ Tam quốc
chí in thạch bản, có lời bình của Thánh Thán
Vừa lúc ấy, Nguyễn Hiến Lê nhận được giấy bổ vào làm ở sỏ thủy lợi miền Nam Đông Dương Đầu năm 1935, Nguyễn Hiến Lê rời Hà Nội, vào Nam nhận việc
Con đường Bắc - Nam trải rộng trước mắt người thanh niên 23 tuổi Nguyễn Hiến Lê đầy nắng ấm, sắc trời trong trẻo với điệp trùng núi rừng sông biển Ở Sài Gòn độ nửa tháng, Nguyễn Hiến Lê được phân bổ về
Trang 26Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ vấn
- 26-
Long Xuyên Hơn hai chục năm trước, sau khi Đông kinh nghĩa thục bị đóng cửa, bác Ba Phương Sơn của Nguyễn Hiến Lê đã bỏ Hà Nội vào Nam, về làng Tân Thạnh hẻo lánh ven Đồng Tháp Mười sống cuộc đời ẩn sĩ, ngày ngày làm ruộng, bốc thuốc giúp bà con trong vùng Cuộc trùng phùng của hai bác cháu trong mấy ngày Tết Ất Hợi (1935) đó thật cảm động Rồi đây, chính bác Ba Phương Sơn sẽ là người luôn động viên, khích lệ Nguyễn Hiến Lê trên con đường văn nghiệp sau này
Công việc chính của các nhân viên thủy lợi như Nguyễn Hiến Lê là đi đo mực đất cao thấp ở miền Tây, từ Châu Đốc, Long Xuyên qua Rạch Giá, lên Sa Đéc, xuống Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; từ mực đất đó mà đo xuống mực nước kinh rạch để tính ra đường nước chảy khi thảo những kế hoạch thủy lợi
Cực nhất là mùa mưa Trong cuốn Hồi kí, Nguyễn Hiến Lê nhắc đến
những vùng lúc ấy còn hoang vu như Chắc Băng- Cạnh Đền, miệt Thứ, Ư Minh, Thơi Bình (Cà Mau), kinh Gãy (Đồng Tháp Mười) đầy đỉa, muỗi, vắt; đất thì sình lầy, nhiều khi phải vạch lau sậy mà đi trong đêm tối Nhưng vào mùa khô, đi đo dọc theo đường lộ và kinh rạch miền Sa Đéc, Cần Thơ thì thật tuyệt: trăng vằng vặc trên rạch Cái Răng, Bình Thủy; không khí mát mẻ, gió nhẹ, thoang thoảng hương sao, hương xoài, hương bưởi, hương mù u và tiếng đàn kìm não nùng văng vẳng Hơn hai năm lênh đênh trên sông rạch miền Tây, Nguyễn Hiến Lê được dịp hiểu biết tường tận về cảnh vật và con người Nam
bộ Nguyễn Hiến Lê nhận thấy "Nam Việt không bằng phẳng, đơn điệu, buồn tẻ
như ta tưởng lầm khi nhìn bản đồ" mà trái lại, "có rất nhiều khác nhau về địa hình, phong cảnh, phong tục, lối sống","cố đi nhiều mới biết được, và có ở lâu mới thấy thích" [23;tr.l41- 144]
Đó là cảnh kỳ thú, biệt lập như một tiểu vũ trụ của đất Hà Tiên từng đi vào văn học Đó là cảnh âm thầm, huyền bí của dãy Thất Sơn, cảnh làng Ba Chúc với những ngôi chùa nền đá, tường gạch và mái lá Xuôi dòng sông Hậu, Long Xuyên có lúa sạ, nhà sàn và cá linh Rồi cảnh vườn tược xum xuê, "gạo trắng nước trong" của Cần Thơ, Sóc Trăng Miền nước mặn Bạc Liêu có ruộng muối, vườn nhãn, nhiều điền chủ lớn Chót cùng là Cà Mau với những rừng đước âm u, những rạch nước đỏ như nước trà đậm
Trang 27Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
- 27-
Nguyễn Hiến Lê đã có dịp gặp cụ Võ Hoành, bạn của bác Ba Phương Sơn từ hồi ở Đông Kinh nghĩa thục, lúc này đang bị an trí ở Sa Đéc Nguyễn Hiến Lê cũng thường xuyên chứng kiến những cuộc đời làm ăn vất vả mà lúc nào cũng phóng khoáng, yêu đời của nông dân Nam bộ Thật có lý và sâu sắc khi Nguyễn
Hiến Lê cho rằng: "Sinh lực miền Nam này dào dạt ở thôn quê, trên bờ những
con rạch mát rượi bóng dừa, trên những cánh đồng bát ngát bông sen và bông súng, trong những căn nhà sàn vách ván này, chứ không phải ở trong thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, trên đường Catinat hay Tổng đốc Phương" [23; tr 141]
Năm 1937, Nguyễn Hiến Lê lập gia đình Ông cưới vợ đúng vào lúc xong hai năm tập sự, được vào chính ngạch và đổi về Sài Gòn làm việc ở văn phòng
Từ đây chấm dứt đời sống tự do giữa thiên nhiên, mây nước mà bước vào kiểu sống "sáng vác ô đi, tối vác về"! Năm 1938, ông bà Nguyễn Hiến Lê có con trai, đặt tên là Nguyễn Nhật Đức Ở Sài Gòn, tuy là công chức mẫn cán, Nguyễn Hiến Lê vẫn thấy công việc phòng giấy rất chán Ngoài giờ làm việc, ngoài
những lúc chơi với con, dạy con học, "mõi ngày có cả một buổi tối và mỗi tuần
cả một ngày ở không" Nguyễn Hiến Lê lại "không có khiếu về âm nhạc, không thích đánh cờ, rất ghét đánh bài, cũng không ưa họp bạn tán chuyện, nhậu nhẹt hoặc rủ nhau nhảy đầm như hầu hết thanh niên hồi đó " Rốt cuộc, Nguyễn
Hiến Lê "chỉ còn có cách là đọc sách, học thêm, nhân đó mà tập viết" [22; tr.28
- 29]
1.1.4 Tự học và tập viết văn
Hồi còn học ở trường Bưởi - Nguyễn Hiến Lê kể lại trong cuốn Đời viết
Nguyễn Hiến Lê đã cao hứng ngâm câu " Nhập thế cục bất khả vô văn tự"
Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua, nhiều lắm thì cũng chỉ là một mơ mộng chung chung Tổ tiên nội ngoại của Nguyễn Hiến Lê không có ai viết sách cả Thời xưa, viết sách chưa phải là một nghề Bác Hai của Nguyễn Hiến Lê từng bảo Nguyễn Hiến Lê chuyên tâm vào khoa học Nguyễn Hiến Lê cũng không được một giáo sư nào khuyến khích viết văn,
(1)Vai trò, diễn biến và ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục đối với cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ xx là một đề tài
chất chứa tâm tư và công sức của Nguyễn Hiến Lê những năm sau này
Trang 28viết sách Cho nên, khi ở trường Công chánh ra, Nguyễn Hiến Lê chắc đã quên
từ lâu cái khẩu khí trong câu thơ đó rồi
Tuy vậy, chính những ngày lênh đênh trên sông rạch miền Tây theo nghề thủy lợi cộng với tinh thần ham học, ham hiểu biết đã manh nha ở Nguyễn Hiến
Lê một khởi đầu cần thiết của nghiệp viết văn
Hồi đó, làm việc ban đêm, Nguyễn Hiến Lê được rảnh cả ngày hôm sau Gặp lúc mưa gió, nằm trên ghe ở giữa đồng thì thật buồn, phải kiếm sách báo
để đọc Gặp gì đọc nấy: Ngày Nay, Phổ Thông bán nguyệt san, tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, cả truyện trinh thám của Conan Doyle và các sách về tôn giáo nữa mà vẫn không sao hết được bảy, tám giờ một ngày Thế là Nguyễn Hiến Lê
lại tiếp tục học chữ Hán Đọc bộ Mạnh tử và bộ Âm băng thất, thấy chữ nào,
câu nào không hiểu thì Nguyễn Hiến Lê chép lại, gởi về cho bác Ba nhờ giảng
giúp Có lần, mua được bộ Văn tâm điêu long nhưng cách viết biền ngẫu khó
quá, đọc không nổi, Nguyễn Hiến Lê phải kiếm những bộ được dịch ra bạch
thoại như bộ cổ văn quan chỉ, có chú thích kỹ để tiện đối chiếu Mua được bộ
khi trích dẫn có cả phần nguyên văn chữ Hán, rồi phiên âm và dịch
Học chữ Hán cũng vẫn không hết thì giờ, Nguyễn Hiến Lê xoay ra viết
nhật ký để vơi bớt nỗi nhớ quê, nhớ nhà Đó là những phút "say mê vô cùng" của Nguyễn Hiến Lê : "Cẩm bứt lúc nào là tâm hồn toi rung động nhè nhẹ lúc
ây, như được nghe một bản nhạc êm đềm, bản nhạc của cố hương và dĩ vãng",
Thế là, "nhớ đâu chép đó, viết bừa đu chẳng cần bố cục, cũng chẳng sửa, viết
có khỉ quên giờ giấc [23;tr.l47] Chính cái kiểu viết "thẳng như ruột ngựa" đó đã
giúp Nguyễn Hiến Lê sử dụng ngòi bút được quen tay, viết mỗi ngày một dễ
dàng hơn Hai mươi năm sau, trong tập tùy bút - cảo luận Nghề viết văn (xuất
bản 1956), Nguyễn Hiến Lê đã thuật lại rành rẽ những ngày đầy hứng khởi của hoàn cảnh cụ thể xui ông tập viết văn đó Cho dù năm, sáu trăm trang giấy vở học trò đầy kín chữ ấy - sản phẩm của lần "thử việc" đầu tiên - chưa hề được in
thành sách nhưng mãi đến những năm cuối đời, khi đặt bút viết Lời nói đầu cho tập Hồi kí của mình, Nguyễn Hiến Lê vẫn nhớ và nhắc lại "cái buổi ban đầu lưu
luyến ấy"
Trang 29Ngay từ hồi còn nhỏ, Nguyễn Hiến Lê đã được bác Hai xếp vào hạng
"đàm thư" (mê sách), về làm ở Sài Gòn, sách báo dễ kiếm hơn Lúc đầu, do tiết kiệm, Nguyễn Hiến Lê mua những sách rẻ tiền, in xấu, nhiều lỗi, không có chú thích Đó là một sai lầm Sau này, kinh nghiệm hơn, Nguyễn Hiến Lê tìm chọn
và đặt mua sách một cách tập trung, hộ thống hơn Tủ sách của ông lúc đầu chỉ
có vài trăm cuốn, sau dần dần lên đến độ ba ngàn cuốn
Sách nào mua về, Nguyễn Hiến Lê cũng đọc qua một lượt để biết nội
dung Khi đọc, ông "luôn có một cây bút chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ
hoặc có thể dùng tới sau này"; "cuốn nào thường phải đọc lại" thì "những ý quan trọng" được ghi chú vào "mấy trang để trắng ở đầu sách" [22;tr.34] Tuy
mê sách, ham đọc sách nhưng Nguyễn Hiến Lê không phải là người mê sưutập sách cổ, sách quý như Vương Hồng Sến hoặc những người chơi sách khác Nguyễn Hiến Lê coi sách chỉ là một phương tiện để học và tra cứu Là người
xem trọng công tác tư liệu, Nguyễn Hiến Lê coi sách "còn quan trọng hơn cái
cày đối với người làm ruộng, cái búa cái đe đối với người thợ rèn" [22;tr.34]
Quãng đời công chức ở Sài Gòn của Nguyễn Hiến Lê kéo dài 8 năm (từ
1937 đến 1945) Mỗi năm ông đều đi công tác 3,4 lần khắp các tỉnh miền Đông
và miền Tây Nam bộ Có lần lên Nam Vang, Siem Reap, nơi có di tích Đế Thiên Đế Thích, có lần lên tới thác Khône ở Hạ Lào Đi đâu, gặp cảnh nào đẹp, Nguyễn Hiến Lê đều có thói quen ghi chép lại các sự việc và cảm tưởng dưới
dạng nhật ký hay du ký Tập du ký tuy mỏng mà đặc sắc Đế Thiên Đế Thích là
một chứng cứ sinh động về xu hướng sáng tác của Nguyễn Hiến Lê trong những năm đầu cầm bút.(1)
Thường thường, mỗi năm Nguyễn Hiến Lê xin nghỉ nửa tháng, một tháng
để về Tân Thạnh thăm bác hoặc ra Tuy Hòa thăm ông nhạc Những chuyên đi
đó đã giúp Nguyễn Hiến Lê "được thấy cảnh đẹp mê hồn của miền duyên hải
của mình Bốn tập ghi chép, mỗi tập vài chục trang mà ông còn giữ lại được là
"Về Bắc lần đầu'', "Về Bắc lần nhì", "Về Bắc lần
(1)Tập du ký Đế Thiên Đế Thích được Nguyễn Hiến Lê viết xong từ tháng 2/1943 nhưng mãi 25 năm sau mới xuất bản
lần đầu (Nxb Thời Mới, Sài Gòn, 1968) Năm 1992, tập du ký chỉ dày non trăm trang nhưtig viết rất công phu này đã được Nxb Văn Hóa tái bản
Trang 30Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ vấn
- 30-
ba" và "Nha Trang - Tuy Hòa - Qui Nhơn" (I)
Bốn mươi năm sau, khi ngồi viết
Hồi kí, Nguyễn Hiến Lê vẫn thích thú dẫn lại một hơi mấy trang văn liền cảnh
đẹp hùng vĩ, say người của đèo Hải Vân
Năm 1944, ương lần ra Hà Nội thi lấy bằng kỹ sư, Nguyễn Hiến Lê có dịp gặp lại người bạn cũ thời học trường Yên Phụ là Vũ Đình Hoe, đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Thanh Nghị Sẵn có vốn sống thực tế về miền Tây, Nguyễn Hiến Lê nhận lời viết giúp một bài về Đồng Tháp Mười Về lại Sài
Gòn, Nguyễn Hiến Lê bắt tay vào việc tìm đọc "tất cả những gì liên quan đến
Đồng Tháp" [20;43] để viết cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười Sáu, bảy
tháng sau, bản thảo hoàn tất Tiếc rằng, do giao thông trắc trở, bưu điện Sài Gòn không nhận gởi bảo đảm ra Hà Nội được, Nguyễn Hiến Lê đành cất bản thảo, đợi cơ hội khác Dè đâu, năm 1946, bản thảo đó lại bị bọn cướp lấy mất ngay trong Đồng Tháp khi Nguyễn Hiến Lê tản cư về nhà bác Ba ở Tân Thạnh.(2)
Cũng trong những năm đó, Nguyễn Hiến Lê đã miệt mài tận dụng thì giờ rảnh để tự học thêm chữ Hán và tập dịch sách Để học bạch thoại, Nguyễn Hiến
Lê dịch tập Nam du tạp ức và bài Tam bất hũ của Hồ Thích Để học cổ văn Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê tập dịch khoảng 100 bài trong Cổ văn quan chỉ
Nguyễn Hiến Lê kể:
Công việc thật mệt, mỗi ngày tôi dịch được một bài Nhờ dịch mà tôi thấy được cái hay của cổ văn: bài nào bố cục cũng kỹ,
mở thường đột ngột mà kết thường gọn, mạnh, ý nhiều khi khoáng đạt, có chút triết lý, mà lời cô đọng, hàm súc, du dương, ) Đọc cổ văn tôi mới tìm được nghệ thuật của cổ nhân và tôi bất giác bắt chước cách viết của cổ nhân [22;tr.36 - 37]
Những năm đó, sách tiếng Việt về văn học, triết học Trung Quốc còn quá
ít Trong tay Nguyễn Hiến Lê chỉ lác đác có bộ Nho giáo (Trần Trọng Kim);
Lão tử, Mặc tử (Ngô Tất Tố); Việt Hán vãn khảo (Phan Kế Bính) Nguyễn Hiến
Lê rất mừng khi tìm được bộ Tứ thư (Chu Hi chú giải);
(1) ) Nguyễn Hiến Lê có 3 lần về Bắc : lần về thăm mẹ bệnh nặng và mất (1940), lần thứ nhì để gả em
gái (1943), và lần ra thi kỹ sư (1944)
(2) ) Tám năm sau (1954), Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng viết lại và đã thành công Cuốn Bảy ngày trong
Đồng Tháp Mười được xuất bản ngay trong năm đó
Trang 31Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
- 31-
Trung Quốc văn nghệ tư trào sử lược (Chu Duy Chi); Trung Quốc văn học sử đại cương (Dương Triệu Tổ); Tân trước Trung Quốc văn học sử (Hồ Vân Dực); Bạch thoại văn học sử (Hồ Thích); Histoire de la littérature chinoise
(Margouliès); La littérature chinoise (O.K Ghéquier)
Bắt đầu quan tâm đến giáo dục trẻ em, Nguyễn Hiến Lê thích thú đọc
Ưéducation du sentiment (của p Félix Thomas) và nhận thấy quan điểm lẫn
cách viết của nhà giáo dục người Pháp này thật hấp dẫn Nguyễn Hiến Lê hăng hái dịch ngay Phương cách dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê ngay trong bản dịch
đầu tay này đã sớm định hình : "lược dịch thổi, có chỗ tóm tắt đại ý, có chỗ bỏ
hẳn, chỉ cốt sao không phản ý tác giả là được" Tuy nhiên, ở những đoạn hay,
Nguyễn Hiến Lê luôn "dịch sát, không bỏ một câu, cố lột được nghệ thuật viết
của tác giả " [22;tr.39] Từ đó về sau, khi dịch những cuốn khác trong loại sách
"Học làm người" Nguyễn Hiến Lê vẫn giữ nguyên lối dịch như vậy
Tính ra, trong khoảng 8 năm làm công chức ở Sài Gòn, Nguyễn Hiến Lê
đã "tự học mà biết thêm một ít chữ Hán, một ít văn học và triết học Trung
Quốc; và đã viết được trên một ngàn trang, mục đích chỉ là để tiêu khiển, tự học, chưa có ý xuất bản" Tuy vậy, ngòi bút "tiếu khiển" này cũng đã có xu
hướng khá rõ : "Tôi không làm thơ, không viết tiểu thuyết, mà thích loại ký (du
ký, hồi ký), luận (nghị luận, cảo luận, tùy bút) và chú ý tới các vấn đề giáo dục, văn học, nhưng chưa có ý bước vào khu vực biên khảo" Sau này, Nguyễn Hiến
Lê đã tự đánh giá về những thể nghiệm đó của mình:
Hồi đó tôi trên dưới 30 tuổi, sự hiểu biết còn hẹp, lý luận chưa vững nhưng nhận định không đến nỗi hời hợi, tự xét không kém những nhà văn thời đó trạc tuổi tôi và viết những loại như tôi
mà đã cổ chút danh trên văn đàn, mà bút pháp đã định rồi: văn cần sáng sủa, bình dị, nếu hơi hoa mỹ thì càng quý (đẽo gọt quá thì tôi không ưa), cần nhất là cảm xúc phải chân thành [22;tr.50-51]
(1)Tên gọi một loạt sách có nội dung thiên về trí dục, đức dục của Nxb P.Văn Tươi (từ năm 1951) và Nxb Nguyễn Hiến
Lê (từ năm 1954) ở Sai Gòn
Trang 32Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Hiến Lê có gởi đăng trên tờ Tân Việt
Nam (tuần báo của Nhà xuất bản Tín Đức thư xã) mấy bài tùy bút, tiểu luận
đã viết từ trước Đó là lần đầu bút danh Nguyễn Hiến Lê xuất hiện trước độc giả nhưng chắc là không gây được ấn tượng gì vì lúc bây giờ, những biến động về thời sự, chính trị đang là mối quan tâm lớn nhất của mọi người
Cách mạng tháng Tám bùng nổ Ngày 2/9/1945, Việt Nam tuyên bố độc lập Ở Sài Gòn, từ ngày 6/9/1945 trở đi, tình hình trở nên xấu đi do sự quay lại của thực dân Pháp, núp sau lưng Anh - Mĩ Nguyễn Hiến Lê bỏ việc, nằm nhà gần một tháng Chẳng biết làm gì, Nguyễn Hiến Lê lại học ngoại ngữ Lần này là tiếng Anh Đến ngày 10/10/1945, Nguyễn Hiến Lê tản
cư về Tân Thạnh, ở nhà bác Ba Phương Sơn Vợ và con trai thì Nguyễn Hiến Lê đã cho tản cư về Bạc Liêu từ cuối năm 1944 rồi Năm 1946 là một năm buồn rầu, lo lắng, bế tắc của Nguyễn Hiến Lê: hết học thêm ở bác Ba
về Đông y lại tò mò tìm hiểu thêm tử vi, bói toán, cả về địa lý (phong thủy) nữa! Năm 1947, Nguyễn Hiến Lê qua Long Xuyên, định tạm trú chừng nửa tháng, ngờ đâu phải ở tới bảy năm ròng!
1.1.5 Dạy học và viết sách
Do tình hình lúc bấy giờ hết sức phức tạp, Nguyễn Hiến Lê đành phải nấn ná ở Long Xuyên, không về Tân Thạnh mà cũng không về Sài Gòn được Đã quyết bỏ nghề công chánh, tự xét thấy cũng chưa đủ kinh nghiệm
để làm đông y sĩ, Nguyễn Hiến Lê nhận dạy thêm Pháp văn và Toán cho con em vài người bạn ở Long Xuyên Ông dạy kèm kỹ lưỡng, có kết quả tốt, được phụ huynh tin tưởng nên cũng tạm đủ sống bằng số thù lao của công việc "gõ đầu trẻ" bất đắc dĩ này Có dư chút ít tiền, Nguyễn Hiến Lê gởi mua sách ở Pháp, mua đủ loại vì lâu nay ông bị "đói" sách: sách, đĩa học tiếng Anh, sách văn học, giáo dục, tâm lí, khoa học, xã hội học Sau đó mới chọn mua thêm những loại đúng ý thích: sách về giáo dục, về ngữ học, văn học Trung Hoa, tiểu sử danh nhân, tự luyện đức trí(1) và sách về khoa tổ chức
(1)
Sách "tự luyện đức, trí": Tiếng Pháp gọi là "culture humaine", tiếng Anh gọi là "seỉf -improvement"
Trang 33Nhận thấy sự mới mẻ của môn "tổ chức công việc theo khoa học", Nguyễn Hiến Lê ghi tên theo học lớp hàm thụ của trường dạy môn đó(1)
Nguyễn Hiến Lê học rất kỹ: đọc tài liệu nhiều lần, ghi tóm tắt ra giấy, đặt mua thêm các tài liệu tham khảo được giới thiệu trong bài giảng Sau đó, Nguyễn Hiến Lê sắp đặt lại những điều đã ghi chép, chia thành chương, lập bố cục và
viết thành một cuốn có nội dung sáng sủa, mạch lạc “chủ yếu để tổng hợp mà
hiểu rõ môn học" Nhờ sự giúp đỡ của một phụ huynh học sinh, tập bản thảo đó
đã được xuất bản cuối năm 1949 với nhan đề tổ chức công việc theo khoa học
Đó là cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Hiến Lê ra mắt độc giả
Tháng l1 năm 1950, do Trường trung học Thoại Ngọc Hầu ở thị xã Long Xuyên khuyết người dạy nửa chừng, Nguyễn Hiến Lê đã nhận lời dạy giúp Nguyễn Hiến Lê dạy các môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, sau thêm môn Hán văn nữa ở nhiều lớp từ năm thứ tư xuống tới năm thứ nhì (tương đương lớp 9, lớp 8, lớp 7 hiện nay) Nhận thấy nhược điểm của học sinh lúc bấy giờ là chưa biết cách học, chưa được trang bị một phương pháp học tập cho có hiệu quả,
Nguyễn Hiến Lê viết ngay cuốn Kim chỉ nam của học sinh nhằm hướng dẫn
học sinh học tập một cách chủ động Cuốn sách nhanh chóng được hoan nghênh nhờ nội dung thiết thực, phương pháp cụ thể và hiệu quả, lại được minh họa bằng nhiều kinh nghiệm sinh động của chính Nguyễn Hiến Lê hồi học trường Yên Phụ và trường Bưởi Cuốn sách "gối đầu giường" của những học sinh hiếu học đó được Nhà xuất bản P.Văn Tươi xin tái bản ngay trong năm 1951
Trong gần năm năm (từ 1949 đến 1953), nhất là ở ba năm cuối, Nguyễn
Hiến Lê "làm việc rất nhiều, vừa tự học, vừa dạy học, vừa viết sách, hễ miệng
thổi giảng thì cầm sách lên, đặt cuốn sách xuống thì cầm cây bút
liên tiếp cho ra đời Đắc nhân tâm (ký chung với P.Hiếu, 1951); Huấn luyện tình
cảm (1951); Bảy bước đến thành công (1952); Để hiểu văn phạm (1952); Tổ chức gia đình (1953); Nghệ thuật nói trước công
(1)}Tám năm sau (1954), Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng viết lại và đã thành công Cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười
được xuất bản ngay trong năm đó
Trang 34chúng (1953); Luyện văn I (1953); Thế hệ ngày mai (1953) Cuối năm 1953,
Nguyễn Hiến Lê cũng đã hoàn thành được tập bản thảo dày 750 trang của bộ
Đại cương văn học sử Trung Quốc, một công trình "mệt mà thú tích lũy từng
chút một trong mấy năm làm việc cật lực đó
Năm 1953 là năm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng ương cuộc đời Nguyễn Hiến Lê Kết quả khả quan của non chục cuốn sách trong mấy năm ấy
đã thôi thúc Nguyễn Hiến Lê hướng đến một lối đi mới Nếu được chuyên tâm
hẳn vào việc viết sách, những mong mỏi đã gởi gắm trong Tổ chức cổng việc
theo khoa học, trong Kim chỉ nam của học sinh, trong Luyện văn I sẽ có cơ
phát huy tác dụng sâu rộng hơn Các tính toán cụ thể về in ấn, xuất bản, phát hành càng củng cố thêm dự định của Nguyễn Hiến Lê Lúc này, tình hình giáo dục ở trường học lại rất buồn: học sinh chán nản, phập phồng vì nạn quân dịch, phụ huynh thì chạy vạy đủ đường cho con em được lên lớp, thầy chỉ còn biết khích lệ suông, mất hết hứng thú dạy Mà hoàn cảnh riêng của Nguyễn Hiến Lê cũng không cho phép ông cứ nấn ná mãi ở Long Xuyên được Đã 9 năm rồi vợ chồng, cha con vẫn chưa được đoàn tụ bên nhau(1) Chính vì thế, sau khi suy tính kỹ, thấy nghề viết sách có thể sống được, Nguyễn Hiến Lê quyết định chuyển nghề
1.1.6 Lập nhà xuất bản, chuyên tâm hoạt động văn hóa
Dù còn quyến luyến ít nhiều với nghề dạy học, cuối tháng 11 năm 1953, Nguyễn Hiến Lê dứt khoát thu xếp để lên Sài Gòn Mang theo các bản thảo chưa in, một cái rương sách cùng số tiền dành dụm được trong mấy năm dạy học và viết sách, Nguyễn Hiến Lê đi chào bác Ba, lẳng lặng lên xe đò rời Long Xuyên
Trở lại Sài Gòn lần này, Nguyễn Hiến Lê mang tâm trạng của một người lập lại cuộc đời với hướng đi đã được xác định Xin lại được căn nhà cũ ở số 50 Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Hiến Lê bắt tay vào việc ngay Hai căn phòng hẹp phía ngoài dành cho bà Lê mở lớp dạy kèm trẻ em tiểu học và mẫu giáo, còn căn phòng phía trong được gần 20 mét vuông, ông cho
(1) Nguyễn Hiến Lê cho vợ con tản cư về Giá Rai, Bạc Liêu từ cuối năm 1944 Năm 1946 bị cướp Miên lấy hết tư trang, bà Lê phải đưa Nhật Đức (lúc đó mới 8 tuổi) về lại Sài Gòn, một mình kiếm sống bằng nghề cắt may, dạy kèm trẻ để nuôi con đi học lại Trong mấy kỳ hè sau đó, bà có đưa Nhật Đức về Long Xuyên để Nguyễn Hiến Lê kèm cho con trai học hè
Trang 35sửa sang để vừa làm chỗ ăn, chỗ tiếp khách, chỗ ngủ vừa dùng làm chỗ viết sách của mình và chỗ học cho con!
Khi quyết định giã từ nghề dạy học để chuyên sống bằng nghề viết sách
và xuất bản, Nguyễn Hiến Lê đã tính toán kỹ Nếu tự xuất bản lấy và nếu mỗi năm viết được 3 cuốn sách, mỗi cuốn độ 200 ưang, bán được chừng 2, 3 ngàn
bản thôi, thì vẫn có thể "sống ung dung với cây viết", "tuy mệt nhưng được tự
do, chăng phải tùy thuộc ai" [23;tr.316] Vì thế, cho dù có người can ngăn, kể
cả lời khuyên thân mật của nhà thơ Đông Hồ, Nguyễn Hiến Lê vẫn không chùn bước
Do chỉ xuất bản tác phẩm của chính mình, không mua tác phẩm của ai, Nguyễn Hiến Lê không phải xin phép, không phải đóng môn bài, nhưng Nguyễn Hiến Lê cũng lấy tên mình để đặt tên cho nhà xuất bản Giữa năm
1954, Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê ra đời Năm đó, Nguyễn Hiến Lê 42 tuổi
Cuốn sách "đầu lòng" của Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê là cuốn Tự học
để thành công, Đây là cuốn hướng dẫn cách học khi đã rời ghế nhà trường (bổ
túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh - dùng khi còn đi học) nên nội dung rất
thực tế: cách tự học, cách đọc sách, cách học ngoại ngữ, tự học bằng cách viết sách và dịch sách Vì là cuốn sách ra mắt của nhà xuất bản mang tên mình, Nguyễn Hiến Lê cho in ở đầu sách mấy lời "phi lộ " để giới thiệu phương châm hoạt động của nhà xuất bản mà cũng là tâm nguyện và mục đích viết của ông trong những năm đầu cầm bút:
đã tự vạch một chương trình hoạt động: viết những sách để giúp các bạn thanh niên bổ túc nền giáo dục ở nhà trường, vì chúng tôi nghĩ học đường chỉ dạy ta cách học và khi ở trường ra ta mới bắt đầu học, học cho tới suốt đời, học để hành, hành để học
Nay lập nhà xuất bản, chúng tôi có mục đích tiếp tục thực hiện chương trình đó một cách có hiệu quả hơn Những sách chúng tôi dự định xuất bản thuộc nhiều loại, nhưng hết thảy đều có tính cách chung này là không cách biệt với đời sống mà trái lại, rút bài học ở ngay trong đời sống để thanh
Trang 36niên hiểu thêm đời, hầu sống một cách đầy đủ hơn.[22;tr.H7-118]
Tháng 8 năm 1954, khi 3000 cuốn Tự học để thành công vừa in xong và
cho phát hành thì hiệp định Genève đã ký kết từ 20 tháng 7 rồi Năm trước, sách Nguyễn Hiến Lê (của Nhà xuất bản P.Văn Tươi) bán khá chạy ngoài Bắc, nay vừa mở nhà xuất bản thì thị phần đã bị thu hẹp ít nhất là một phần ba rồi! Tuy
vậy, cuốn Tự học để thành cổng vẫn bán được đều đều và chỉ mấy tháng sau, Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê đã cho ra mắt Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười,
một tác phẩm du ký- biên khảo đặc sắc, thường được coi là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Hiến Lê Từ đó, Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê cứ đều đặn cho ra đời mỗi năm ba, bốn đầu sách và ngày càng có tiếng là một nhà xuất bản đứng đắn, chiếm được lòng tin yêu của đông đảo độc giả thanh niên, sinh viên, học sinh cũng như các bậc cha mẹ và giới tri thức
Khác với số đông những người làm nghề xuất bản thường chạy theo mục đích kinh doanh và lợi nhuận, Nguyễn Hiến Lê dừng lại ở mức độ mỗi năm chỉ xuất bản 3, 4 cuốn sách của chính mình mà thôi Nhờ có kế hoạch từ trước và khéo xếp đặt công việc, Nguyễn Hiến Lê tốn rất ít thời gian, công sức cho viếc xuất bản Điều quan trọng nhất là Nguyễn Hiến Lê đã chủ động dành được thì giờ để tập trung viết lách và chủ động xuất bản được những cuốn mình thích dù
biết trước là bán sẽ không chạy Năm 1955, Nguyễn Hiến Lê cho in bộ Đại
cương văn học sử Trung Quốc (gồm 3 cuốn), một bộ sách gói ghém tâm tình,
công sức của Nguyễn Hiến Lê và bác Ba Phương Sơn trong những năm ở Tân Thạnh và Long Xuyên.(1)
Vợ dạy học, chồng viết sách, làm việc cật lực suốt năm, sáu năm trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, dần dà cuộc sống gia đình đã từng bước được ổn định và Nguyễn Hiến Lê thực sự rảnh tay để chuyên tâm vào sáng tác Năm
1957, ông bà Nguyễn Hiến Lê đã gởi Nguyễn Nhật Đức học ngành thương mại
ở Paris, Pháp Năm 1960, mua được ngôi nhà số 12/3C đường Kỳ Đồng, Nguyễn Hiến Lê đã có được một khoảng không
(1)Việc sắp chữ Hán để in hồi đó rất tốn công Năm 1956, 3 cuốn của bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc mới được in
xong Lời đề từ xúc động của bộ sách hướng về người mẹ đã khuất của Nguyễn Hiến Lê Sách in xong, Nguyễn Hiến Lê mang ngay một bộ về Long Xuyên để biếu bác Ba Phương Sơn
Trang 37yên tĩnh, thuận lợi hơn cho cổng việc viết lách và nhất là cho sức khoe đã có nhiều dấu hiệu giảm sút của mình
Bước vào làng văn và hoạt động xuất bản, Nguyễn Hiến Lê có nhiều dịp
để gặp gỡ giới văn nghệ sĩ, trí thức cũng như mở rộng các mối quan hệ khác Đó
là niềm vui, là vinh hạnh, thậm chí là cơ hội mà nhiều người phải tranh thủ Nhưng Nguyễn Hiến Lê thì không như vậy Thuộc vào lớp những nhà văn chịu ảnh hưởng Tây học nhưng tâm hồn, cốt cách, phong thái ứng xử của Nguyễn Hiến Lê vẫn nghiêng về phía Nho học nhiều hơn, đậm hơn Ba người bạn văn thân nhất của Nguyễn Hiến Lê là Đông Hồ, Hư Chu, Giản Chi Cả ba đều biết chữ Hán và đều giữ được ít nhiều phong cách nhà Nho, tuy thân mà không vồn
vã, ồn ào Tri kỷ nhất của Nguyễn Hiến Lê là Đông Hồ, thân thiết nhất là Hư Chu và thân mật mà trân trọng nhất là Giản Chi Với lớp bạn già xê xích nhau năm bảy tuổi, mối giao tình của Nguyễn Hiến Lê cũng thật trọn vẹn Tuy ít được gặp nhau nhưng vẫn thường đọc văn thơ, bài viết của nhau và thường xuyên thư từ cho nhau Đó là trường hợp của Đông Xuyên, Quách Tấn, Tương Phố, Vi Huyền Đắc, Phạm Phú Hoài Mai, Tùng Tử, Học Năng, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Bạt Tuy, Trương Văn Chình, Vương Hồng Sển, Lê Thọ Xuân, Nguyễn Văn Hầu Nguyễn Hiến Lê cũng rất thân với Võ Phiến, Nguyễn Hữu Ngư, Lê Ngộ Châu trong nhóm Bách Khoa Danh sách các bạn văn, bạn nghề thân sơ của Nguyễn Hiến Lê còn có thể kéo dài hơn nhiều với Bàng Bá Lân, Đoàn Thêm, Trần Thúc Linh, Paul Schneider (Xuân Phúc), Nguyễn Huy Khánh, Thiên Giang, Toan Anh, Đỗ Bằng Đoàn, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Võ Hồng, Châu Hải Kỳ, Dã Lan, Nguyễn Đăng Liên, Đàm Quang
Hậu số văn hữu xa gần gởi văn thơ, tác phẩm biếu tặng hoặc nhờ Nguyễn Hiến Lê nhận xét, góp ý cũng rất nhiều Đặc biệt, trong số bạn bè của ông có đến cả chục người đều là bác sĩ có tiếng: Lê Văn Ngôn, Huỳnh Kim Bửu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Hữu Phiếm, Trần Văn Bảng, Nguyễn Hữu Vị, Liêu Thanh Tâm, Trần Ngọc Ninh Cả Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Chấn Hùng nữa -hai vị bác sĩ lúc ấy hẵng còn trẻ, tự coi Nguyễn Hiến Lê là thầy học và Nguyễn Hiến Lê coi hai người như bạn vong niên
Vốn ít đi lại, giao du, Nguyễn Hiến Lê hầu như túc trực thường xuyên bên bàn viết theo một thời biểu nhất định Nguyễn Hiến Lê quý
Trang 38thời gian và công việc, điều đó đã rõ Nhưng Nguyễn Hiến Lê cũng rất quý sức khoẻ Bệnh tật đã ngăn trở ông nhiều Chứng loét dạ dày đã hành hạ ông dai dẳng suốt ba mươi mấy năm Lao phổi đã trói ông nửa năm điều trị trong điều kiện thuốc men còn hạn chế của những năm sáu mươi Rồi tim mạch, căng thẳng thần kinh, mất ngủ, trĩ, thận cùng một lô các bệnh khác của tuổi già! Nguyễn Hiến Lê đã chọn cách làm việc thật điều độ, ăn ngủ đúng giờ giấc để
"chiều lòng" sức khoe vì nếu "chiến đấu với nó", lần nào ông "cũng thấy thua"
Cũng chính vì không hiểu rõ tình trạng sức khoe của Nguyễn Hiến Lê, nhiều người cho rằng ông sống quá cách biệt, tự cao, khinh người; họ lại càng hiểu lầm khi thấy ông từ chối không tham gia các hội đoàn, tổ chức, không dự các cuộc họp mặt, gặp gỡ thân mật này khác May mà bằng hữu thân quen hoặc những người có dịp tiếp xúc với ông vài lần đều thấy điều đó, hiểu và thông cảm cho ông Và để bù lại, hình thức thư từ được ông triệt để sử dụng như một lợi khí giao tiếp Nhiều nhất và thắm thiết nhất là trên trăm lá thư với nhà thơ Đông Hồ Hầu như mỗi ngày Nguyễn Hiến Lê đều nhận được gần chục lá thư của bạn văn, độc giả Thư ai, ông cũng phúc đáp, trả lời chu đáo, không bỏ sót
thường có tiếng nói kịp thời trên các tạp chí Bách Khoa, Mai, Tin Văn, Văn,
Tân Văn để bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước thời cuộc và dư luận
Tất nhiên, đó phải là những vấn đề chạm đến "vùng đề tài ưa thích" của ông -
một "vùng tâm" lẫn "vùng biên" khá rộng với đủ các khu vực của học thuật, văn chương, văn hóa, giáo dục
Hai mươi năm kể từ sau khi lập nhà xuất bản (1955 - 1975) là 20 năm
"làm việc tích cực" của Nguyễn Hiến Lê Các khu vực đề tài mà Nguyễn Hiến
Lê đã đột phá từ mấy năm trước giờ đây được tiếp tục mở rộng, đào sâu hơn
Từ loại "Tổ chức công việc" đến phương pháp giáo dục trẻ em, từ các tác phẩm khá đa dạng của loại sách "Học làm người" đến một loạt sách tiểu sử danh nhân vừa chọn lọc tiêu biểu vừa có tác dụng
Trang 39giáo dục sâu sắc, mảng sách "chủ công" này đã nâng cao uy tín của Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê và đồng thời cũng là mảng đề tài đưa tên tuổi Nguyễn Hiến Lê đến với đông đảo độc giả nhất
Trên đà đó, Nguyễn Hiến Lê có điều kiện đi vào mảng đề tài ưa thích nhất của mình: văn học Trung Quốc, kỹ thuật viết văn, các bài học
về lịch sử dân tộc và thế giới Nhiều cuốn trong mảng này được coi là tác phẩm chính của Nguyễn Hiến Lê và đã khẳng định tài danh của nhà
nghiên cứu, biên khảo, phê bình Nguyễn Hiến Lê: Đông kinh nghĩa thục
(1956); Hương sắc trong vườn văn (1962); Khảo luận về ngữ phấp Việt
Tư Mã Thiên (1970), Tô Đông Pha (1970); Bán đảo Ả Rập (1969)
Triết học Trung Quốc là một khu vực mới mẻ nhưng ngày càng hấp dẫn Nguyễn Hiến Lê một cách sâu sắc Lúc đầu chỉ là một tập mỏng :
Nho giáo, một triết lý chính trị (1958) Nhưng sau những ngày cộng tác
hứng thú và hiệu quả với Giản Chi trong công trình Đại cương triết học
Trung Quốc (1965), Nguyễn Hiến Lê dần dần đào sâu hơn với Nhà giáo
họ Khổng (1972); Liệt tử và Dương tử (1972); Mạnh tử (1975) Ở thời
điểm 30/04/1975, Nguyễn Hiến Lê đã có bản thảo bộ Trang tử và đương soạn chung với Giản Chi về Hàn Phi tử và Tuân tử
Dịch thuật vốn là một hứng thú lớn của Nguyễn Hiến Lê Gần phân nửa số lượng tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là sách dịch Quan điểm, thái
độ, phương cách dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê cũng nhiều vẻ Với những loại sách về tri thức văn hóa, tự luyện đức trí, ông có lối biên dịch khá thoáng Nhưng với các tác phẩm văn chương, Nguyễn Hiến Lê tôn trọng cao tinh thần cùng bút pháp của nguyên tác nhưng cũng tán thành lối chuyển ngữ sáng tạo, Việt hóa ở những chỗ cần thiết Trước khi hiện tượng "sách dịch" trở nên ồn ào, rầm rộ như một nạn dịch ở Sài Gòn mấy năm 1972, 1973 thì các dịch phẩm nghiêm túc, điêu luyện của
Nguyễn Hiến Lê đã định vị trong lòng người đọc rồi: Kiếp người
(S.Maugham, 1962); Chiến tranh và hòa bình (L.Tolstoi, 1968); Chiến Quốc sách (1968); Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu (A.Paton, 1969); Thư gởi người đàn bà không quen biết (A.Maurois, 1970)
Trang 40Sau ngày đất nước thống nhất, cuộc sống của Nguyễn Hiến Lê không gặp những xáo trộn lớn Sách của ông được lưu hành bình thường Đến thăm ông sau ngày giải phóng có nhà văn Nguyễn Văn Bổng (Trần Hiếu Minh), nhà báo Nguyễn Huy Khánh, Thiên Giang Một số nhà văn, nhà nghiên cứu, bạn cũ ở Bắc của Nguyễn Hiến Lê có dịp vào Nam cũng tìm đến thăm ông: Nguyễn Kim Thản, Như Phong, Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh, Vũ Tuân Sán, Nguyên Thạch Giang, Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Hướng Minh Được mời dự một
số buổi tọa đàm, đại hội về văn hóa, văn nghệ do Thành phố tổ chức với tư cách một nhân sĩ, trí thức yêu nước, Nguyễn Hiến Lê có phần miễn cưỡng nhưng cũng thẳng thắn trao đổi, góp ý về học thuật Trong mây bài báo viết sau giải
phóng của Nguyễn Hiến Lê, bài Góp ý về việc thống nhất tiếng Việt (đăng trên
Sài Gòn giải phóng chủ nhật, 12/9/1976) tuy ngắn nhưng gây được sự chú ý của
hoàn chỉnh: Tôi tập viết tiếng Việt; Đời nghệ sĩ; Con đường thiên lý; Một mùa
hè vắng bóng chìm; Lịch sử văn minh Trung Quốc; Trang tử
Công việc khảo cứu về các triết gia Tiên Tần lại được ông tiếp tục như đã
dự định từ trước Năm 1974, Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi đã cùng phân công
nhau biên soạn hai cuốn Tuân tử và Hàn Phi tử Những biến đổi sâu sắc từ sau
ngày 30/4/1975 hình như cũng không tác động mấy đến "hợp đồng học thuật" giữa hai ông già - Nguyễn Hiến Lê đã 65 tuổi, Giản Chi hơn ông 6 tuổi- nên đến năm 1976 thì 2 cuốn đó hoàn tất Và chỉ trong vòng 3 năm sau đó, từ năm 1977 đến 1979, Nguyễn Hiến Lê đã khẩn trương biên soạn xong được năm công trình
đáng kể: Mặc học; Lão tử; Khổng tử; Luận ngữ; Kinh Dịch Trong đó Kinh
Dịch là cuốn được Nguyễn Hiến Lê biên soạn công phu nhất, khai thác được
nhiều ý mới mẻ, thực tế và lạc quan từ cuốn sách nổi tiếng là một kỳ thư này
Viết xong cuốn Kinh