Xuất phát từ mục tiêu trên, Bến Tre đã đề ra và thực hiện nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo, đồng thời cũng đã đạt được nhiều thành tích trong công tác xóa đói giảm nghèo, bước đầu đ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại Trường Đại học Sư Phạm phố
Hồ Chí Minh Qua đây tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Khoa
học Công nghệ - Sau Đại học Trường Đại học Sư Phạm TPHCM, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý cùng Quý Thầy Cô giảng dạy lớp cao học chuyên ngành
“Địa lý kinh tế - xã hội” khóa 11, đã quan tâm và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Thọ - Cô đã nhiệt tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
thập nhiều thông tin bổ ích nhằm hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Một lần nữa, tác giả chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng Quý Thầy Cô
giảng viên Khoa Xã hội Trường Cao đẳng Sư Phạm Bến Tre đã luôn khích lệ và động viên tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, các bạn học viên và đồng nghiệp, những người đã hỗ
trợ tinh thần cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tất cả những sự giúp đỡ và tình cảm của nhà trường, Quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè là nguồn động lực để tác giả tiến bước trên con đường nghiên cứu khoa học
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 – 2004 Tác giả
Trần Thanh Trúc
Trang 4MỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 3
M ỤC LỤC 4
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
M Ở ĐẦU 8
1 Lý do ch ọn đề tài 8
2 M ục đích nghiên cứu 9
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 L ịch sử nghiên cứu 10
6 H ệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu 11
7 C ấu trúc luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO 15
1.1 Nh ững vấn đề lý luận về đói nghèo 15
1.1.1 Khái ni ệm về đói nghèo 15
1.1.2 Phân lo ại đói nghèo 16
1.1.3 Tiêu chu ẩn đánh giá đói nghèo 17
1.1.4 Nguyên nhân đói nghèo 20
1.1.5 Ảnh hưởng của đói nghèo đối với sự phát triển KT- XH 20
1.2 T ổng quan về tình hình đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam 22
1.2.1 Th ế giới 22
1.2.2 Vi ệt Nam 25
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở TỈNH BEN TRE 31 2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre 31
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
2.1 2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 35
2.2 Hi ện trạng đói nghèo ở tỉnh Bến Tre 39
2.2.1 Tiêu chí xác định hộ đói nghèo 39
Trang 52.2.2 Di ễn biến hộ đói nghèo 40
2 2.3 Đặc điểm của các hộ đói nghèo 42
2.3 Nguyên nhân đói nghèo 61
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 61
2.3.2 Nguyên nhân ch ủ quan 67
2.4 Hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Bến Tre trong thời gian qua 77
2.4.1 Nh ững hoạt động xóa đói giảm nghèo cụ thề đã được tiến hành 77
2.4.2 Nh ững mặt hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo 81
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH B ẾN TRE 83
3.1 Kinh nghi ệm của các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới và Việt Nam v ề xóa đói giảm nghèo 83
3.1.1 Kinh nghi ệm của các tổ chức quốc tế 83
3.1.2 Kinh nghi ệm của các nước trên thế giới 84
3.1.3 Kinh nghi ệm của Việt Nam 88
3.2 Gi ải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bến Tre 89
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế 89
3.2.2 Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo 92
3.2.3 Đa dạng hóa nguồn thu nhập cho nông dân nghèo 93
3.2.4 Nâng cao hi ệu quả công tác chuyển giao kỹ thuật, tăng năng suất cây tr ồng, vật nuôi 99
3.2.5 Tăng cường hiệu quả hệ thống tín dụng nông thôn 100
3.2.6 H ỗ trợ giáo dục - y tế 102
3.2.7 D ạy nghề và hỗ trợ việc làm 103
3.2.8 Xây d ựng kinh tế hợp tác gắn với xóa đói giảm nghèo 105
3.2.9 Tăng cường trợ giá và ổn định thị trường 105
3.2.10 Th ực hiện tốt chương trình phát triển dân số và kế hoạch hóa gia đình 106
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
K ẾT LUẬN 107
Trang 6PHỤ LỤC 110
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ LĐTB XH : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
BCĐ XĐGN : Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ESCAP : Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương
của Liên Hiệp Quốc GINI : Hệ số đo mức độ bất bình đẳng
GNP : Tổng thu nhập quốc dân
GDP : Tổng thu nhập quốc nội
IDA : Hiệp hội phát triển Quốc tế
ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế
KT - XH : Kinh tế-xã hội
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TCTK : Tổng cục Thống kê Việt Nam
TH-CĐ-ĐH : Trung học - Cao đẳng - Đại học
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UNDP : Tổ chức hỗ trợ và phát triển của Liên Hiệp Quốc
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, đây là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước, những sản phẩm nông nghiệp trong vùng làm ra không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong cả nước mà còn là hàng hóa xuất khẩu quan trọng
Bến Tre sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển kinh tế xã hội (1990 2002) trên cơ sở quán triệt đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đã đạt được những thành tựu cơ bản Từ một tỉnh sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, với
cơ sở hạ tầng kém phát triển, mức tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 1990
-1995 đạt bình quân 6,07%/năm, sang giai đoạn 1996 -2000 tăng trưởng GDP của
Bến Tre đã vượt lên đạt 6,18%/năm Về kim ngạch xuất khẩu cũng tăng nhanh
từ 22.805 triệu USD năm 1995 lên đến 39.998 triệu USD năm 2001 Bên cạnh
đó, bình quân GDP đầu người năm 1995 đạt 2.725.486 đồng/người/năm, tăng lên 3.475.147 đồng/ người /năm 2001
Bến Tre đạt được mức tăng trưởng khả quan như vậy là nhờ có những điều
kiện thuận lợi về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, về kinh tế - xã hội, đặc biệt là
sự đổi mới tư duy đúng đắn của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre Tuy nhiên, sự tăng trưởng này vẫn còn thấp hơn so với mức tăng chung của vùng ĐBSCL và trên thực tế Bến Tre vẫn còn là tỉnh nghèo, cơ hội việc làm tạo thêm thu nhập còn bị hạn chế, người nghèo và nguy cơ tái nghèo còn nhiều nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Chính vì vậy, vấn đề đói nghèo luôn là vấn đề bức xúc
của tất cả các cấp, các ngành, của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Bến Tre Việc tìm
kiếm các giải pháp tăng cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo cũng là một vấn đề quan trọng của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội một cách
bền vững
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định "Xóa đói giảm nghèo là một
trong nh ững chương trình phát triển kinh tế- xã hội vừa cấp bách trước mắt; vừa
cơ bản lâu dài" và nhấn mạnh phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm
Trang 9nghèo nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xuất phát
từ mục tiêu trên, Bến Tre đã đề ra và thực hiện nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo, đồng thời cũng đã đạt được nhiều thành tích trong công tác xóa đói giảm nghèo, bước đầu đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm bổ ích trong hoạch định chính sách cũng như chỉ đạo thực tiễn Tuy nhiên, sự phối hợp chỉ đạo thực
hiện các chính sách giảm đói nghèo nhiều nơi chưa được thống nhất, đồng bộ và chưa đạt hiệu quả cao Bản thân người nghèo vẫn chưa thực sự vươn lên để tự thoát nghèo đói Bên cạnh xu hướng tích cực là tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước nói chung đang giảm xuống rõ nét, thì vấn đề xóa đói giảm nghèo vẫn đang là thách thức, tỷ lệ hộ đói nghèo trong tình Bến Tre còn cao, kết quả đạt được chưa
vững chắc, thêm vào đó tình trạng tái nghèo vẫn còn xuất hiện
Trước thực tế đó, yêu cầu bức thiết là phải có sự thống nhất về phương pháp tiếp cận, đánh giá đói nghèo, xác định đúng nguyên nhân đói nghèo; từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu thống nhất hành động để công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả cao hơn và bền vững hơn trong thời gian tới Vì vậy, tác giả
chọn đề tài : "Vấn đề đói nghèo ở tỉnh Bến Tre hiện trạng và giải pháp" với
nguyện vọng góp được một phần nhỏ bé của mình vào công tác nghiên cứu lý
luận cũng như thực tiễn công tác xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh, góp phần thực hiện sự công bằng
xã hội
2 M ục đích nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn của đề tài, mục đích cơ bản của
luận văn là tìm ra những đặc điểm chủ yếu của người nghèo cũng như xác định
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo ở Bến Tre; từ đó làm cơ sở khoa học để đề ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển KT- XH cho
tỉnh
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo Xác định tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo, nguyên nhân và tác động của đói nghèo đối với
sự phát triển KT- XH
Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Bến Tre
Tìm hiểu những đặc điểm về đời sống kinh tế - xã hội của các hộ nghèo ở
Bến Tre, phân tích nguyên nhân đói nghèo của các hộ nghèo
Đánh giá hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo ở Bến Tre trong thời gian qua Trên cơ sở đó nghiên cứu đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm xóa đói
giảm nghèo ở Bến Tre
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề đói nghèo không chỉ ở khía cạnh lý luận mà cả
thực tế điển hình ở tỉnh Bến Tre bao gồm 7 huyện: Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Tròm, Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú và Thị xã Bến Tre
Do thời gian nghiên cứu và điều kiện có hạn nên đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2002 Đây là giai đoạn hộ nghèo, vùng nghèo
ở tỉnh Bến Tre được xác định một cách cụ thể cùng với những thông tin cơ bản
về vấn đề đói nghèo để làm cơ sở xây dựng chương trình xoa đói giảm nghèo
những năm tiếp theo
5 L ịch sử nghiên cứu
5.1 Thế giới
Tính chất thời sự của vấn đề đói nghèo đã thu hút sự nghiên cứu của các tổ
chức, các nhà khoa học trên thế giới Tổ chức Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế
giới, UNDP hàng năm đã tổng kết và dự báo tình hình đói nghèo ở các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới Các nhà khoa học như: David Dollar và Aant Kraay với công trình nghiên cứu: "Tăng trưởng kinh tế có lợi cho người
nghèo''' đã được đưa ra giải pháp tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo các thu nhập
Trang 11trung bình của nhóm nghèo nhất xã hội; Robert Chambers: "Phát triển nông thôn
- hãy b ắt đầu từ những người cùng khổ" tập trung giải quyết một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn của nghèo đói
5.2 Vi ệt Nam
Trong những năm qua, ở nước ta và nhiều địa phương đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề đói nghèo Tác giả Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Văn Thiều viết về: "Đói nghèo ở Việt Nam", trên cơ sở phân tích khá sâu về hiện
trạng đói nghèo ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Thị Hằng đã bàn đến "Vấn đề xóa
đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay" nhằm đưa ra giải pháp hữu hiệu
cho công cuộc xóa đói giảm nghèo
Tại TP.HCM, cụ thể là Viện Kinh Tế cũng đã có một số đề tài trên
chừng mực nhất đã có đề cập đến sự phân hoa giàu nghèo như đề tài: "Phân hóa
giàu nghèo trong quá trình chuy ển đổi nền kinh tế TP.HCM " hoặc "Nghiên cứu
di ễn biến mức sống dân cư và phân hóa giàu nghèo tại TP.HCM " do PGS.TS
Nguyễn Thị Cành chủ trì
Bàn về nghèo đói ở Bến Tre, đến nay chưa có một công tình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống, vấn đề này phần nhiều được thể hiện
trong các báo cáo, dự thảo của UBND, sở LĐ-TBXH, Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Gần đây, Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam -
Autstralia đã xây dựng dự án "Phân tích hiện trạng nghèo đói ở ĐBSCL", trong
đó có chuyên đề viết khái quát về tình hình đói nghèo ở Bến Tre
Trên tinh thần kế thừa, học tập, tiếp thu những thành tựu những người đi trước, các đề tài nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý giá, thực sự bổ ích cho tác giả khi tiến hành nghiên cứu, thực hiện luận văn
6 H ệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 H ệ quan điểm
6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trang 12Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống của Địa lý học Trong đề tài, diễn
biến đói nghèo đã được đặt trong bối cảnh KT - XH của Bến Tre, của Đồng
bằng sông Cửu Long và của cả nước Diễn biến và hiện trạng đói nghèo được phân tích trong mối quan hệ với các nhân tố KT - XH, các nhân tố đã ảnh hưởng đến vấn đề đói nghèo ở tỉnh Bến Tre
6.1.2 Quan điểm hệ thống
Trong quá trình nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở Bến Tre quan điểm hệ
thống được xem là quan điểm quan trọng Tỉnh Bến Tre là một hệ thống KT -
XH nhỏ trong hệ thống KT - XH lớn hơn
Trong hệ thống KT - XH Bến Tre có các phân hệ nhỏ hơn như hệ thống các ngành kinh tế, hệ thống dân cư, xã hội trong đó con người là chủ thể Các hoạt động của con người làm thay đổi các hệ thống khác do mối quan hệ chặt chẽ
giữa các thành phần trong hệ thống ấy Nghiên cứu đời sống kinh tế - xã hội của các hộ nghèo xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống KT
- XH của tỉnh Bến Tre, hệ thống KT - XH của Đồng bằng sông Cửu Long và với
tổng thể nền kinh tế quốc dân Do đó, khi đưa ra bất kỳ một giải pháp nào liên quan đến người nghèo cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, phải chú ý đến những ảnh hưởng nhiều mặt làm thay đổi mạnh mẽ đến hệ thống KT - XH
6.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Tình trạng đói nghèo ở Bến Tre diễn ra với tốc độ và quy mô khác nhau theo thời gian Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh trong nghiên cứu hiện
trạng đói nghèo ở Bến Tre, tác giả đã phân tích, đánh giá diễn biến nghèo đói
gắn với từng thời điểm cụ thể trong những điều kiện phát triển KT- XH của đất nước và của tỉnh Đề tài phân tích quá khứ và hiện tại của vấn đề nghèo đói để
dự báo và đưa ra các giải pháp XĐGN trong tương lai
6.1.4 Quan điểm sình thái và phát triển bền vững
Trang 13Vấn đề đói nghèo được đặt ương mối quan hệ chặt chẽ với môi trường
nhằm mục đích giảm thiểu những tổn hại đối với môi trường sinh thái như gây
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống Các biện pháp
kiến nghị đưa ra trong luận văn cũng dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển
bền vững đối với những hộ nghèo đói ở Bến Tre
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thống kê
Trong đề tài, tác giả đã sử dụng và phân tích cơ sở số liệu thống kê phong phú từ cơ sở dữ liệu và kết quả của các cuộc điều tra mức sống dân cư, thống
kê KT - XH của Cục Thống kê và các số liệu điều tra đời sống kinh tế- xã hội
hộ nghèo của sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre Nhờ vậy, tác
giả đã có cơ sở để phân tích hiện trạng và nguyên nhân đói nghèo trên địa bàn
tỉnh Bến Tre
Tác giả cũng sử dụng số liệu của các Sở, Ban, Ngành, số liệu thống kê về tự nhiên, KT-XH để phân tích ảnh hưởng của nhân tố này đối với hiện trạng đói nghèo ở tỉnh Bến Tre
6.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tác giả sắp xếp, phân loại và các thông tin về tình hình đói nghèo, so sánh sự khác biệt về tỷ lệ hộ nghèo trong từng thời điểm khác nhau Với sự phân tích, so sánh đặc điểm hộ nghèo đói trong mối quan hệ giữa các điều kiện địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế - xã hội như : nơi cư trú, nghề nghiệp, việc làm, trình độ học vấn, thu nhập và chi tiêu cũng như liên quan với chính sách phát triển KT-XH từ đó rút ra những đặc trưng chung của các hộ nghèo ở tỉnh Bến Tre
6.2.3 Phương pháp điều tra thực địa, phương pháp phân tích xã hội học
Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định được
mức độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã có và có thể đưa ra được những luận
Trang 14bàn nhất là những vùng tập trung đông người nghèo ở Bến Tre Tác giả cũng
trực tiếp quan sát, chụp ảnh cảnh làm việc, sinh hoạt thường ngày của các hộ nghèo, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ trước hoàn cảnh đói nghèo và những nhu cầu cần thiết để phát triển sản xuất và đời sống nhằm giảm nghèo đói
Tác giả đề tài đã tiến hành phân tích xã hội học, phỏng vấn một số cán bộ trong Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo, thu thập các thông tin bằng nhiều nguồn khác nhau, phỏng vấn người nghèo ở một số xã có đông người nghèo tại các huyện: Bình Đại, Thạnh Phú Qua các thông tin và tìm hiểu thực địa, giúp tác
giả khẳng định lại mức độ tin cậy của số liệu và những nhận định đã có
6.2.5 Phương pháp chuyên gia
Vấn đề đói nghèo là một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành Do đó để đánh giá vấn đề này một cách khách quan tác giả đã tham
khảo trao đổi với nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như : các nhà
quản lý, xã hội học, dân số học, kinh tế học, các nhà quy hoạch để khẳng định
nhận định của mình
7 Cấu trúc luận văn
Đề tài:"Vấn đề đói nghèo ở tỉnh Bến Tre hiện trạng và giải
pháp", ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương chính :
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo
Chương 2 : Hiện trạng đói nghèo ở tỉnh Bến Tre
Chương 3 : Giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bến Tre
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI
NGHÈO
1.1 Nh ững vấn đề lý luận về đói nghèo
1.1.1 Khái ni ệm về đói nghèo
Nghèo đói có tính không đồng nhất, nghèo đói của gia đình này có thể không
giống tình trạng nghèo đói của gia đình khác, mặc dù cả hai gia đình đều có mức thu nhập như nhau Có nhiều cách định nghĩa nghèo đói và chính các loại được cho là nghèo thì cũng có những chuyển dịch bên trong nó theo hướng đi lên hay
đi xuống Do vậy, chúng ta cần thiết kết hợp một số khái niệm để hiểu được về nghèo đói một cách có hệ thống và sâu sắc hơn
Tháng 9/1993 Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
do ESCAP (Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hiệp
Quốc) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra quan điểm như sau:
"Nghèo là tình tr ạng một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức sống tối thiểu trong điều
ki ện chung của cộng đồng"
Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là mức sống trong đó những nhu cầu tự nhiên - nhu cầu tối thiểu về vật chất như thức ăn, quần áo, nhà ở và các nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đạt mức duy trì cuộc sống
của con người được tồn tại ở mức bình thường và dưới đó là đói khổ
Nghèo luôn luôn là dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương
diện Giữa mức nghèo và mức trung bình có một khoảng cách, thường là ba lần
Trang 16"Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó "
Như vậy, khái niệm nghèo tuyệt đối có xu hướng đề cập đến những người đang bị thiếu ăn (nghèo đói) Khái niệm nghèo tương đối đề cập đến những người nghèo nhất về phân phối thu nhập ở một số nước nhất định
Năm 1995, tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (World Summit for Social Development) người ta đã nhất trí với nhau về thước đo chung cho tình trạng nghèo là thu nhập dưới lUSD/người/ngày Hội nghị nói trên cũng đưa ra định nghĩa:
"Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn một đô la mỗi ngày cho m ỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để
s ống sót."
Ở một số báo cáo khác lại định nghĩa:
"Người nghèo ở nông thôn là những người hiện không có ruộng vì đã mất
ru ộng được cấp trước đây do thiếu năng lực hoặc thiếu vốn"
1.1.2 Phân lo ại đói nghèo
Juan Pablo đã phân biệt giữa các loại nghèo như sau:
• Nghèo có tính cơ cấu (Structural Poverty): cho những người mà những nhu
cầu về dịch vụ cơ bản của mình không được đáp ứng (thiếu điện, nước, nhà
ở, giao thông công cộng ) và thu nhập của họ dưới ngưỡng nghèo
• Nghèo do s ức ì (Inertial Poverty) : cho những người có đủ thu nhập, nhưng
những nhu cầu về dịch vụ cơ bản của họ không được thỏa mãn
• Nghèo m ới: đề cập đến tình trạng trái ngược các dịch vụ công cộng thì có
sẵn nhưng thu nhập thì lại xuống dưới ngưỡng nghèo
• H ội nhập xã hội: cho những người không nghèo tiếp cận được với những
dịch vụ cơ bản và có thu nhập đủ nhưng cần phải duy trì mức này để tránh
khỏi rơi vào nghèo đói Chỉ khi nào người ta đạt đến mức độ hội nhập xã
hội thì họ mới thực sự thoát khỏi nghèo đói
Trang 171.1.3 Tiêu chu ẩn đánh giá đói nghèo
Để đánh giá mức độ đói nghèo, các tổ chức khoa học và các tổ chức nghiên cứu phát triển đã căn cứ vào hai chỉ tiêu sau:
(1) Mức thu nhập bình quân đầu người trong 1 năm (hoặc ngày, hoặc tháng) Đây là thước đo cơ bản nhất để so sánh một cách tương đối mức độ giàu nghèo của các nhóm dân cư trong từng quốc gia hoặc giữa các quốc gia
(2) Mức tiêu dùng calo bình quân hàng ngày của mỗi người Đây là chỉ tiêu dựa vào nguồn dinh dưỡng được cung cấp để duy trì hoạt động sinh học của con người
Dưới đây là một số tiêu chuẩn đánh giá nghèo đói mà các tổ chức trong và ngoài nước đã và đang sử dụng trong những năm gần đây và xét trong trường
hợp Việt Nam
• Ngân hàng Th ế giới
Ngân hàng Thế giới đã đưa ra tiêu chuẩn xác định thu nhập ở mức nghèo
là "1 USD/ngày" cho một người, tức là thu nhập cần thiết để duy trì 2100 calo
Mức nghèo đói được ILO chọn là một rổ LTTP đang có sẩn mà mọi người
đã thừa nhận để tính toán là 2100 calo/ngày/người Lượng LTTP này phải phù
hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho các nhóm nghèo Bên cạnh đó, lượng LTTP phải gồm các loại lương thực thực phẩm rẻ
nhất chỉ với một lượng tối thiểu các thực phẩm khác để làm phong phú LTTP
• T ổng cục Thống kê Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu tình trạng nghèo ở Việt Nam, Tổng cục Thống
kê (TCTK) áp dụng các ước lượng khác nhau để đo lường mức độ nghèo, mức
Trang 18độ trầm trọng của người nghèo và sự phân hóa giàu nghèo bao gồm: tỷ lệ nghèo,
chỉ số khoảng cách nghèo, hệ số bất bình đẳng GINI
Tiêu chuẩn nghèo của TCTK được xác định bằng mức thu nhập tính theo
thời giá vừa đủ để mua một lượng hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu bảo đảm khẩu phần thức ăn duy trì nhiệt lượng tiêu dùng bằng 2100 Calo/ngày /người Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới tiêu chuẩn trên thuộc vào diện hộ nghèo
Theo TCTK, 2100 calo là tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối phù hợp với tình hình
thực tế Việt Nam, nhiệt lượng tối thiểu từ 2000 - 2200 calo là tiêu chuẩn nghèo
thấp của các nước
• B ộ Lao động -Thương binh và Xã hội
Bộ LĐTBXH đưa ra mục tiêu xác định chuẩn nghèo đói để :
* Xác định rõ người nghèo, xã nghèo, thôn nghèo, huyện nghèo và lập được một danh sách cụ thể về hộ, thôn, xã, huyện nghèo
* Làm cơ sở xây dựng chính sách, giải pháp xoa đói giảm nghèo
Bộ LĐTBXH đã đưa ra chuẩn nghèo đói chủ yếu dựa vào các số liệu về thu nhập của hộ gia đình như sau :
Ngày 29 tháng 8 năm 1995, Bộ LĐTBXH quy định :
H ộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg
H ộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp và được xác
định tùy theo vùng:
* Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15 kg gạo
* Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20 kg gạo
Trang 19* Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 55.000 đồng/người/tháng
* Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 70.000 đồng/người/tháng
* Vùng nông thôn miền núi, hải đảo : dưới 80.000 đồng/người/tháng
* Vùng nông thôn đồng bằng, trung du : dưới 100.000 đồng/người/tháng
* Vùng thành thị: dưới 150.000 đồng/người/tháng
Cách xác định hộ nghèo đói của Bộ LĐTBXH theo chuẩn nghèo đói đã được công bố như sau :
Bước 1: Phổ biến hướng dẫn chuẩn nghèo theo phương pháp kết hợp hộ tự
kê khai và rà soát của Ban xoa đói giảm nghèo (XĐGN) Tiến hành tập huấn, hướng dẫn biểu mẫu cho các cán bộ địa phương và cho các hộ
Bước 2: Thôn bản, tổ chức điều tra, khảo sát lên danh sách các hộ nghèo đói, tổ chức rà soát lại việc kê khai của hộ, đưa ra hội nghị thôn, bản thảo luận,
lập sổ hộ nghèo đói
Bước 3 : Ban XĐGN xã, phường kiểm tra xác định lại lần cuối để báo cáo lên UBND huyện Huyện tổng hợp báo cáo lên Sở LĐTBXH Bộ LĐTBXH
tổng hợp từ báo cáo của các Sở để trình Chính phủ
Theo Bộ LĐTBXH, các địa phương có thể vận dụng để xác định ngưỡng nghèo riêng cho tỉnh mình nhưng với 3 điều kiện :
* Thu nhập bình quân đầu người của địa phương đó cao hơn thu nhập đầu người của cả nước
* Có tỷ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước
* Có đủ nguồn lực cân đối cho các giải pháp XĐGN ở địa phương
Trang 201.1.4 Nguyên nhân đói nghèo
Nghèo đói là kết quả của nhiều yếu tố tác động
Đối với một quốc gia, có rất nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự nghèo đói,
đó là do chiến tranh triền miên, do dân số quá đông, do quản lý yếu kém, do đầu
tư cho giáo dục và đào tạo quá thấp, do thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và công nghệ
mới, do sự rời bỏ những giá trị cổ truyền, do sự xem nhẹ vai trò phụ nữ trong phát triển, hay vì những điều kiện thiên nhiên, tài nguyên, môi trường không thuận lợi
Đối vối từng cá nhân, có nhiều người quan niệm rằng nghèo đói như một
thứ bệnh tật di truyền, bẩm sinh, theo kiểu "cha truyền con nối" Nghèo đói có
thể chuyển đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác như là số phận và thật ra thế giới
của những người nghèo đói cũng có những trói buộc khắc nghiệt, có lẽ có những
vấn nạn khó khăn khiến cho người nghèo khó lòng thoát ra khỏi cảnh ngộ cơ hàn
của mình
Chúng ta có thể liệt kê ra rất nhiều những đặc điểm trong thế giới của
những người nghèo Đó là tuổi thọ thấp, trình độ giáo dục thấp, thiếu những kỹ năng, thiếu cơ hội làm việc, dễ mắc nợ nần, ít tham gia vào hoạt động văn hóa
giải trí, thiếu ăn, dinh dưỡng kém, dễ mắc nhiều bệnh tật, dễ có tâm trạng buồn chán tuyệt vọng, thiếu tự tin
Trên thực tế, cũng khó xác định đâu là yếu tố đầu tiên gây ra tình trạng nghèo đói Nguyên nhân và hậu quả nghèo đói thể hiện rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ trong cuộc sống hiện đại Tuy nhiên, cách tiếp cận hợp lý hơn cả để có
thể nhìn nhận nghèo đói là do nhiều yếu tố gây ra, bắt nguồn từ kinh tế ở cả tầm
vi mô và vĩ mô
1.1.5 Ảnh hưởng của đói nghèo đối với sự phát triển KT- XH
• Ảnh hưởng của đói nghèo đến sự phát triển kinh tế
Đối với người nghèo, năng suất lao động thấp, lao động chân tay là chủ
yếu, công cụ cơ giới bị hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau Điều này tất
Trang 21yếu ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động xã hội Kết quả của sự thấp kém
về năng suất lao động là mức thu nhập của người nghèo nói riêng và của cả quốc gia nói chung cũng thấp
Liên quan đến cuộc sống người nghèo là nạn thiếu lương thực phẩm dẫn đến đói kém thường xuyên Ở đây không chỉ tồn tại nạn đói "tuyệt đối" do khẩu
phần lương thực thực phẩm quá thấp mà nạn đói "tương đối" cũng trở thành mãn tính do không đảm bảo đủ số dinh dưỡng cần thiết cho bữa ăn hàng ngày Tình
trạng thiếu lương thực thực phẩm dẫn đến thiếu dinh dưỡng, ảnh hưởng đến khả năng lao động, năng suất lao động, thể lực, trí lực của con người Từ đó, nó ảnh hưởng đến khả năng tạo ra thu nhập nâng cao mức sống cho gia đình, cho xã hội
và khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước
• Ảnh hưởng đối với xã hội
Tỷ lệ người nghèo cao sẽ gây khó khăn đối với việc tổ chức đời sống xã
hội: Khả năng sắp xếp việc làm cho người nghèo rất khó khăn Trong hoàn cảnh kinh tế kém phát triển, cấu trúc ngành nghề chưa hoàn thiện, chất lượng nguồn lao động còn thấp, điều kiện mở rộng sản xuất bị hạn chế nên sự bố trí việc làm
hợp lý cho người nghèo là điều khó có thể thực hiện Do vậy, người nghèo nguy
cơ thất nghiệp và khó tìm việc làm ngày càng tăng
Nghèo đói là hiện tượng phổ biến và gây sức ép rất lớn đối với xã hội Sức
ép đó thể hiện ở việc đáp ứng cơ sở hạ tầng, các vấn đề y tế, giáo dục cũng như các chính sách hỗ trợ cho người nghèo
• Ảnh hưởng đối với môi trường sinh thái
Hiện tượng đói nghèo vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở vùng nông thôn nên việc mở rộng sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện nhiệm vụ XĐGN Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra những thách thức đối
với môi trường sinh thái Hiện tượng phá huy môi trường do tài nguyên bị khai thác kiệt quệ đã diễn ra nhiều nơi và ở một số vùng môi trường khó có thể phục
hồi được Hàng năm diện tích rừng bị mất đi nhiều do khai thác gỗ tràn lan, bất
hợp pháp và việc phá rừng làm đất canh tác Tình trạng đánh bắt thủy sản quá
Trang 22chất đã làm giảm tính đa dạng sinh học của các loài Mặt khác, phần lớn người nghèo đều có mức sống thấp, thu nhập bấp bênh Vì vậy, các yếu tố về chế độ
ăn, uống, sinh hoạt không thể đảm bảo được Họ sống tạm bợ trong những căn nhà lụp xụp thiếu thốn các phương tiện tối thiểu cho cuộc sống, thậm chí không đảm bảo điều kiện vệ sinh mọi nhu cầu sinh hoạt đều có thể tuôn xuống kênh rạch, ao hồ, dòng sông dẫn đến môi trường sống bị thay đổi với khuynh hướng ngày càng xấu đi
Tóm lại, nghèo đói là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh tế, là
yếu tố ảnh hưởng đến sự mất ổn định chính trị, an ninh và là nguyên nhân rất khó khắc phục tác động xấu đến việc bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn môi trường sinh thái
1.2 T ổng quan về tình hình đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
Gibuti Gămbia Haiti Lêxôthô Malauy Môritani Nêpan Xamoa
Bănglađet Buôckina Phaxô Cápve
Cômo Ghinê Xích đạo Ghinê
Kiribati Libêria Manđivơ Môdămbich Nigiê
XaoTômê
Trang 23CH thống nhất Tandania Dămbia
Prixinipê Xômali Tuvalu Vanatu
Nguồn: Số liệu thống kê của UBDP, 2000
Đáng lưu ý là 2/3 trong số 48 nước kể trên lại đang bị tụt hậu xa hơn so với
với các nước có mức thu nhập thấp khác nếu tính khoảng thời gian từ những năm
90 3/4 dân số ở những nước này có mức thu nhập dưới 2USD/ngày và 3/5 dân số
của các nước này sống dưới mức nghèo khổ, nghĩa là dưới lUSD/ngày Hơn thế
nữa phần lớn trong số 48 nước kể trên lại rơi vào Châu Phi, nơi mà theo các tiêu chí của IMF có tới 31 nước có gánh nợ nần vượt quá sức chịu đựng của nền kinh
tế, mất khả năng trả nợ, buộc WB và IMF phải cho hưởng một số ưu đãi và dịch
vụ nợ
Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc tại thời điểm 1998, tình trạng
nghèo đói của các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới thể hiện như sau:
Các nước công nghiệp phát triển tính đến năm 1998 vẫn còn hơn 100 triệu
người nghèo và hơn 100 triệu người không có nhà ở Tuy nhiên, cái nghèo ở các nước này là nằm trong sự so sánh với tầng lớp thượng lưu, nghĩa là nghèo tương đối Tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có 57 triệu người (chiếm 17% dân số) phải sống trong cảnh nghèo khổ, cứ 6 người dân thì có Ì người sống trong một gia đình nghèo khó Châu Mỹ cũng có 364 triệu người nghèo (chiếm 13,3% dân số châu lục này)
Khu v ực Nam Phi và Cận Xahara, còn 215 triệu người thuộc diện nghèo
đói, 120 triệu người lớn mù chữ, 170 triệu người không đủ ăn, hơn 180 triệu trẻ
em không có khả năng tới trường học, trong khi đó hàng năm vẫn có khoảng 1,3 triệu hecta đất nông nghiệp bị bỏ hoang Trong số các nước nghèo ở Châu Phi thì Ruanda hiện đang là nước nghèo nhất và cũng là nước nghèo nhất thế giới
hiện nay, thu nhập GDP bình quân đầu người hàng năm chỉ đạt 80 USD, nghĩa
là mỗi ngày mỗi người ở đây chỉ thu nhập có khoảng 0,22 USD, bằng 1/5 mức 1
Trang 24USD / người / ngày, tiêu chuẩn được WB và IMF sử dụng để đánh giá mức nghèo khổ đối với các nước đang phát triển
Tại các nước Arập, hiện có khoảng 73 triệu người nghèo và trên 60 triệu
người mù chữ
T ại Mỹ La tinh và Caribê có khoảng 150 triệu người nghèo 56% nông dân
không có khả năng được dùng nước sạch để ăn uống và sinh hoạt Hiện nay, Braxin là nước có khoảng cách giữa nghèo và giàu lớn nhất, 10% người giàu ở đây đã chiếm giữ 50% tài sản quốc gia
Khu v ực Đông Á cũng còn khoảng 170 triệu người còn phải sống trong
cảnh nghèo đói
Khu v ực Nam Á, 560 triệu người nghèo đói, 600 triệu dân đang trong tình
trạng suy dinh dưỡng, 250 triệu người không được sống trong những điều kiện
vệ sinh cơ bản, 1/3 số trẻ sơ sinh chưa đủ trọng lượng tối thiểu, nhẹ cân, 48 triệu
trẻ em không được tới trường, tình trạng cưỡng bức lao động trẻ em còn phát triển tràn lan
Năm 1992 Ngân hàng Thế giới đã đưa ra số liệu tổng kết và dự báo cho các nước đang phát triển như sau:
Bảng 1.2: Tổng kết và dự báo về phân bố nghèo đói ở các nước đang phát triển
Triệu người Tỷ lệ %
1985 1990 2000 1985 1990 2000 Các nước đang phát triển 1051 1133 1407 30,5 29,7 24,1 Trong đó
Châu Phi và Cận Xahara 184 216 304 47,6 47,8 47,9 Trung Đông và Bắc Phi 60 73 89 30,6 33,1 30,6
Trang 25Châu Mỹ La Tinh và Caribê 87 108 125 22,7 25,5 24,9
Nguồn: WB –Word Development Report 1992
Báo cáo này của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết rằng số người nghèo đói
ở Đông Á giảm trong khi đó ở các vùng như Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và cận Xahara thì số người nghèo đói đang gia tăng
Tóm lại, cùng với sự phát triển và tiến bộ theo thời gian thì nghèo đói tồn tại ở
mọi nơi, từ nước phát triển cao cho đến nước kém phát triển nhất cho dù cuộc chiến chống nghèo đói được phát động toàn cầu
1.2.2 Vi ệt Nam
Năm 1998, cả nước còn 2,4 triệu hộ (12,5 triệu người) nghèo đói chiếm 15% tổng số hộ dân, ương đó có 300.000 hộ thường xuyên thiếu đói Nhìn chung, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng trong vòng 5 năm kể từ năm 1993 đến năm 1998 Tỷ lệ nghèo LTTP đã giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 15% năm 1998 Tỷ lệ nghèo chung năm 1993 là 58,1% giảm xuống còn 37,4% năm 1998 Tuy tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam còn cao nhưng kết quả
giảm nghèo này là một thành công lớn của chính phủ Việt Nam mà chưa có
nước nào đạt được trong những năm gần đây Trung bình mỗi năm giảm được 2% hộ đói nghèo (từ 250.000-300.000 hộ)
Bảng 1.3: Tỷ lệ nghèo ở thành thị và nông thôn
Trang 26Ngu ồn: TCTK-Điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 1993 và 1998
Hình 1.1: Tỷ lệ nghèo ở thành thị và nông thôn
Ngu ồn: TCTK - Điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 1993 và 1998
Tỷ lệ nghèo LTTP (với ranh giới mức thu nhập là 62.477 đồng/ người/ tháng năm 1993 và 107.236 đồng/ người/ tháng năm 1998) và tỷ lệ nghèo chung (với ranh giới mức thu nhập là 96.700 đồng/ người/ tháng năm 1993 và 149.156 đồng/ người/ tháng năm 1998) đã giảm rất nhanh ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn Tỷ lệ nghèo LTTP giảm từ 7,9% (1993) xuống 2,3% (1998) ở khu
vực thành thị và từ 29,1% (1993) xuống 18,3% (1998) ở khu vực nông thôn Tỷ
lệ nghèo chung cũng giảm đi từ 25,1% (1993) xuống 9% (1998) ở khu vực thành
thị và giảm từ 66,4% (1993) xuống 44,9% (1998) ở khu vực nông thôn
Tỷ lệ nghèo ở khu vực thành thị hiện tại hầu như chiếm tỉ lệ rất thấp, trong khi đó ở nông thôn vẫn còn khoảng 1/5 dân số sống trong nghèo khổ theo ngưỡng nghèo LTTP và gần 1/2 dân số sống trong nghèo khổ theo ngưỡng nghèo chung Dù đã giảm đáng kể về tỷ lệ nghèo khổ, song tỷ lệ nghèo ở Việt Nam vẫn còn cao (trên 37%) nên dẫn đến khoảng cách phân hoa giữa các nhóm thu nhập trong vùng, giữa các vùng cũng như giữa các khu vực (nông thôn - thành thị) là rất lớn
Bảng 1.4: Thu nhập bình quân 1 người/ năm theo nhóm hộ ở khu vực thành
thị nông thôn và vùng kinh tế (giá so sánh)
Đơn vị tính 1000 đ
Trang 27Mi ền núi Trung vdu phía
B ắc
Đồng
b ằng sông
H ồng
B ắc Trung
B ộ
Duyên
h ải
Mi ền Trung
Tây Nuyên
Đông Nam
B ộ
Đồng
b ằng sông
C ửu Long
Nguồn: TCTK – Điều tra mức sống dân cư năm 1998
Qua bảng 1.4 cho thấy mức thu nhập của nhóm giàu (nhóm 5) chung cho các vùng gấp 9,9 lần so với nhóm nghèo (nhóm 1) Chênh lệch giàu nghèo ở thành thị là 10,39 lần, cao hơn so với chênh lệch ở nông thôn 8,24 lần Theo các vùng kinh tế thì vùng Đông Nam Bộ có mức chênh lệch giàu nghèo cao nhất 14,89 lần và tiếp đó là vùng Tây Nguyên Vùng có chênh lệch giàu nghèo thấp
nhất 14,89 lần và tiếp đó là vùng Tây Nguyên Vùng có chênh lệch giàu nghèo
thấp nhất là Duyên hải Miền Trung Điều này phản ảnh một tình trạng thực tế phát sinh trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển kinh tế không đều làm sâu sắc thêm sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm thu nhập, giữa các vùng trong cả nước
Trang 28Bảng 1.5: Tình trạng nghèo đói theo vùng ở Việt Nam
(%)
1998 1998 1993 1998
Mi ền núi phái Bắc 18 13,5 21 28 Đồng bằng sông Hồng 20 14,9 23 15
B ắc Trung Bộ 14 10,5 16 18 Duyên h ải Miền Trung 11 8,1 10 10
Đồng bằng sông Cửu Long 21 16,3 18 21
C ả nước 75,8 100,0 100,0 100,0
Ngu ồn: Báo cáo phát triển của Việt Nam – Tấn công nghèo đói
Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam phân bố theo các vùng không giống nhau
Số người nghèo đói tập trung nhiều ở vùng Miền núi phía Bắc chiếm 28% tổng
số người nghèo cả nước Tiếp theo là vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 21%, vùng Bắc Trung Bộ 18%, vùng Đồng bằng sông Hồng cũng còn nhiều người nghèo, chiếm tỷ lệ 15% tổng số người nghèo cả nước Điều đó cho thấy
rằng những vùng xa xôi hẻo lánh đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển thường
chịu cảnh nghèo đói cùng cực, còn những vùng gần các đô thị và các thị trường chính yếu thường là thuận lợi hơn đối với phát triển KT - XH nên đời sống khá sung túc tương đối Trên cơ sở ước tính về tỷ lệ nghèo đói ở quy mô tỉnh cho
thấy Lai Châu là tỉnh nghèo nhất, với hơn 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khó Hai tỉnh Hà Giang và Sơn La cũng có số lượng người dưới mức nghèo khó tổng
cộng 70% Bốn tỉnh khác có số lượng người sống dưới mức nghèo nằm giữa các con số 60% và 68%: Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn và Bắc Cạn 13 tỉnh khác có
số lượng người sống dưới mức nghèo khó giữa 45% và 60%
Trang 29Số lượng người sống dưới mức nghèo có tỷ lệ thấp nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh (ít hơn 5% ) tiếp theo là Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai,
tất cả các địa phương này có tỷ lệ người sống dưới mức nghèo ít hơn 15% Số lượng người sống dưới mức nghèo ở Hà Nội và Đà Nẵng gần ở mức 15% Điều
đó cho thấy, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng mang tính thành thị là chủ
yếu, trong khi ba tỉnh khác cũng có lợi do địa thế gần với Thành phố Hồ Chí Minh
Phân bố địa lý của tình trạng nghèo đói ở Việt Nam cho thấy nhiều tỉnh nghèo nhất có vị trí nằm ở phía Bắc dọc theo biên giới Trung Quốc và Lào Như
vậy có tất cả 6 tỉnh nghèo nhất nằm dọc theo đường biên giới này Hơn nữa,
10 tỉnh nghèo nhất nằm ở Đông Bắc và Tây Bắc Điều này phản ánh địa hình
miền núi gây khó khăn cho phát triển sản xuất nông nghiệp, do khoảng cách xa
với các thị trường chủ yếu và cơ sở hạ tầng giao thông trong vùng này còn kém phát triển
Số lượng người nghèo trong các vùng nông thôn tương tự như các mức nghèo khó chung ở các tỉnh, điều này không có gì ngạc nhiên, do phần lớn dân
số sống ở vùng nông thôn trong hầu hết các tỉnh Tình trạng nghèo khó ở nông thôn cao nhất ở các tỉnh biên giới của các vùng Đông Bắc và Tây Bắc Các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai và Kon Tum sẽ rơi vào danh sách 10 tỉnh nghèo nhất
nếu chúng ta xếp hạng các tỉnh này theo số lượng người nghèo ở nông thôn Mặt khác, tỉnh thứ 3 thuộc vùng Tây Nguyên, Đắc Lắc, có số lượng người nghèo
sống ở nông thôn là 45%, gần bằng xấp xỉ với mức trung bình của tình trạng nghèo đói ở nông thôn của Việt Nam Sự phồn thịnh tương đối của Đắc Lắc liên quan đến sự phát triển nhanh chóng của việc sản xuất cà phê trong tỉnh này, cũng như vị trí gần với Thành phố Hồ Chí Minh Các tỉnh của vùng ven biển
Bắc Trung Bộ có số lượng người nghèo giữa 49% và 62% Quảng Trị là tỉnh nghèo nhất Bắc Trung Bộ
Tình trạng nghèo đói ở nông thôn trong khu vực Đồng bằng sông Hồng
thấp hơn đáng kể so với vùng Đông Bắc và Tây Bắc Tuy nhiên, vùng này cũng
Trang 30có tỷ lệ số người sống dưới mức nghèo đói ở nông thôn lớn hơn 40%, dù các
tỉnh này gần Hà Nội
Tình trạng nghèo ít hơn ở các tỉnh phía Nam, mặc dù mỗi vùng có ít nhất
một tỉnh với tỷ lệ người nghèo lớn hơn 40% Trong vùng Đông Nam Bộ, Ninh Thuận có tỷ lệ người nghèo ở nông thôn cao nhất với tỷ lệ lên đến 62% Tỉnh này là tỉnh cách xa nhất đối với Thành phố Hồ Chí Minh so với tất cả các tỉnh khác trong vùng Đông Nam Bộ Trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có 7
tỉnh với tỷ lệ nghèo đói ở vùng nông thôn nằm trong khoảng 40%- 46% 5 tỉnh khác có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn 40%
Tỷ lệ nghèo đói ở thành thị thường thấp hơn tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn Ngay cả trong các tỉnh nghèo nhất, tỷ lệ nghèo đói cũng thấp hơn 25%, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn và thành thị
Tóm lại, vấn đề nghèo đói và tấn công nghèo đói là vấn đề toàn cầu Thực
tế ở một số quốc gia cho thấy là kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng
suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân
cư lại càng bức xúc Tính chất thời sự của vấn đề nghèo đói không chỉ hiện diện
ở thước đo đơn thuần, mà nếu cứ tích cóp dần qua năm tháng sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến quá trình phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia
Trang 31CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở TỈNH BEN TRE
2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 V ị trí địa lý
Tỉnh Bến Tre có hệ tọa độ địa lý 9°48' đến 10°20' vĩ độ Bắc và từ 106°01' đến 106°48' kinh độ Đông, phía Bắc giáp Tiền Giang, phía Tây và Tây Nam giáp Vĩnh Long, phía Nam và Đông Nam giáp Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông Trung tâm của tỉnh là Thị xã Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 86
km về phía Tây Bắc
Diện tích tự nhiên phần đất liền của tỉnh là 2315km2
chiếm 0,68% diện tích cả nước và chiếm khoảng 5,83% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long
Bến Tre có đường bờ biển dài 56km và có 4 sông lớn là: Sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông cổ Chiên Các sông lớn này đã chia địa hình của tỉnh thành 3 cù lao lớn: cù lao An Hóa (gồm huyện Châu Thành và Bình Đại), cù lao Bảo (gồm Thị xã và huyện Giồng Tròm, Ba Tri), cù lao Minh (gồm huyện Chợ Lách, Mỏ Cày và Thạnh Phú), ở vào vị trí đó, Bến Tre có điều
kiện thuận lợi không chỉ mở rộng phát triển nền kinh tế một cách toàn diện: nông, lâm nghiệp, thúy hải sản, du lịch mà còn là cửa ngõ thông thương giữa Đồng bằng sông Cửu Long với cả nước và quốc tế bằng các tuyến đường giao thông thủy rất thuận lợi Ngoài ra, Bến Tre là địa bàn quan trọng về an ninh quốc phòng đối với khu vực nói riêng và cả nước nói chung
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình Bến Tre mang đặc trưng cơ bản của Đồng bằng sông Cửu Long
đó là tính bằng phẳng rất cao, có xu thế thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng ra phía biển
Về cơ bản có thể phân biệt 3 dạng địa hình:
Trang 32Vùng th ấp: có độ cao dưới 1m bị ngập nước khi triều lên bao gồm một số
diện tích đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi bồi ven sông và khu rừng ngập
mặn
Vùng trung bình: có độ cao từ l-2m chiếm ừên 90% diện tích toàn tỉnh,
chỉ bị ngập nước vào các đợi triều cường ở các tháng 9-12 Địa hình này đã được nhân dân cải tạo lên liếp làm vườn
Vùng cao: có độ cao 2-5m bao gồm các giồng cát, nổng cát thích hợp cho việc trồng các loại rau màu Đây là khu vực tập trung dân cư ven biển làm các nghề giồng, rừng, biển
2.1.1.3 Khoáng sản
Theo các tài liệu địa chất, Bến Tre hầu như không có các loại khoáng sản
có giá trị cao, nhất là khoáng sản có trữ lượng công nghiệp Ở Bến Tre chỉ có
một số loại có tính chất vật liệu như: cát cồn để san lấp mặt bằng, đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói và sa khoáng
2.1.1.4 Đất đai
Theo phân loại của FAO/UNESCO, đất ở Bến Tre gồm 25 loại được phân thành 4 nhóm chính:
• Nhóm đất phù sa: diện tích 69.015ha (chiếm 30,2% diện tích toàn tỉnh)
gồm 9 loại đất trong đó chủ yếu là: đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng, đất phù
sa trên nền đất xám và đất phù sa có lớp hữu cơ Nhóm đất này phân bố tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh Đây là nhóm đất tốt nhất, có thành phần cơ giới
từ thịt nhẹ đến nặng và đang được sử dụng để trồng lúa và các loại cây lâu năm
• Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: diện tích 124.313ha (chiếm 54,3% diện
tích toàn tỉnh) có 2 nhóm phụ:
- Nhóm đất phù sa nhiễm mặn từng thời kỳ: có diện tích 74.544ha, phân bố
cách bờ biển từ 10-15km gồm các huyện : Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, Nam
Trang 33Mỏ Cày) Đất nghèo đạm và lân, thành phần cơ giới thường có nhiều sét nên khả
năng thoát nước kém
- Nhóm đất mặn: chiếm diện tích 44.312ha, phân bố tập trung ở vùng ven
biển các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú Đất có thành phần cơ giới nặng,
thoát nước kém nên tốc độ phân giải các chất hữu cơ rất chậm
• Nhóm đất phèn: có diện tích 18.842ha (chiếm 8,2% diện tích toàn tỉnh),
phân bố rải rác khắp các huyện, thường gặp ở địa hình thấp khó tiêu nước và bị nhiễm mặn Nhìn chung đất rất chua, hàm lượng độc chất trong đất cao
• Nhóm đất giồng cát: có diện tích 16.667ha (chiếm 7,3% diện tích toàn
tỉnh), phân bố khắp các huyện trong tỉnh Đất có thành phần cơ giới nhẹ, thông thoáng, tốc độ phân giải chất hữu cơ cao
Nhìn chung, chất lượng đất của Bến Tre xếp vào loại trung bình so với các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long
/ngày Số giờ nắng trung bình
7,2 giờ/ngày, cao vào mùa khô (7,1 - 8,5 giờ/ngày), thấp hơn vào mùa mưa (5,4 -6,9 giờ/ngày)
Bến Tre là nơi có lượng mưa trung bình hàng năm thấp nhất Đồng bằng sông Cửu Long, biến động từ 1264 mm -1498,2 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, vì vậy khí hậu ở Bến Tre chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5
Trang 34đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trong suốt mùa
mưa, tổng lượng mưa đạt tới 94,3% -98,5% tổng lượng mưa cả năm
Tóm lại, khí hậu của Bến Tre khá thuận lợi sản xuất lường thực - thực
phẩm và chế biến nông - thủy - hải sản với quy mô lớn
2.1.1.6 S ống ngồi
Bến Tre được bao bọc bởi sông và biển Đông Trong đó, nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt chủ yếu từ 4 sông chính: sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên
Sông Mỹ Tho: dài 90km, lưu lượng mùa mưa 6480 m3
Sông Ba Lai: dài 70km, lưu lượng mùa mưa chỉ có 240m3
/s, mùa khô 59m3/s Phần đầu nguồn đã bị bồi đắp nên lưu lượng có xu hướng giảm dần
Muốn khai thác phải đầu tư cải tạo và mở rộng, đồng thời với hệ thống cống đập
Ba Lai điều tiết sẽ có tác dụng quan trọng cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt cho các huyện Bình Đại, Giồng Tròm, Ba Tri và Thị xã Bến Tre
Sông Cổ Chiên: dài 87km, lưu lượng mùa mưa 2880m3
/s, mùa khô 710m3/s Đây cũng được xem là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho các huyện
Trang 352.1.1.7 Sinh vật
Thực vật tự nhiên của Bến Tre, đáng lưu ý nhất là rừng ngập mặn Cây
rừng chính gồm có: đước, mắm, bần, giá, dừa nước, phi lao phân bố ở ven biển các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Riêng thực vật dưới tán rừng khá phong phú, theo kết quả điều tra sơ bộ có khoảng 70 loài thuộc 34 họ
Động vật có ý nghĩa kinh tế nhất là các loài động vật dưới nước, đặc biệt
cá và tôm Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 89 loài cá tự nhiên phần lớn mang nguồn gốc biển di cư vào, trong đó có 24 loài cá kinh tế gồm một số loài tiêu
biểu như: cá cơm, cá mào gà, cá úc, cá ngát, cá chêm, cá bống Nguồn tôm biển phong phú có 20 loài trong đó, nhiều loài có giá trị xuất khẩu như: bạc thẻ, tôm
thẻ, thẻ vằn, tôm bạc đất, tôm bạc nghệ, tôm chì, tôm sắt Ngoài ra, ở Bến Tre còn có các loài cua, nghêu, sò với trữ lượng khá lớn
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
Tính đến năm 2002, số dân của tỉnh Bến Tre là 1.328.416 người chiếm 7,92% dân số của vùng Đồng bằng sông cửu Long Trước đây, Bến Tre là tỉnh
có dân số gia tăng khá nhanh Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh công tác dân
số và kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã được hạ thấp còn 1,1% Mật độ dân cư trung bình 573 người/km2 nhưng phân bố không đều, tập trung đông nhất ở Thị xã: 1.668 người/km2
và thấp nhất ở các huyện vùng biển: Bình Đại 322 người/km2
Trang 36Ngu ồn: Cục Thống kê tỉnh Bến Tre-Niên giám Thống kê 2002
Đại đa số dân cư Bến Tre sinh sống ở nông thôn chiếm 90,66% dân số Dân thành thị chỉ chiếm 9,34%, chủ yếu tập trung ở Thị xã và các thị trấn, thị tứ Nhìn chung, hơn 10 năm qua (1990 -2002), cơ cấu dân số thành thị - nông thôn không có nhiều thay đổi, năm 1990 tỷ lệ dân số thành thị chiếm 7,5%, còn nông thôn là 92,5% đến năm 2000 tỷ lệ tương ứng là 9,13% - 90,87% và năm 2002 là 9,34% -90,66% Điều này cho thấy tốc độ đô thị hóa ở Bến Tre diễn biến rất
chậm với tỷ lệ dân đô thị thấp nhất ở ĐBSCL (ĐBSCL 17%)
Bảng 2.2: Dân số phân theo thành thị - nông thôn
Đơn vị tính: Người, % Đơn vị Tổng số Phân theo thành thị nông thôn
Trang 37Ngu ồn: Cục Thống kê tỉnh Bến Tre – Niên giám Thống kê 2002
Năm 2002, dân số tham gia lao động ở Bến Tre là 850.413 người chiếm 64% dân số toàn tỉnh Số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 652.985 người chiếm 76,75% nguồn lao động, trong đó lao động tập trung
phần lớn trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp với 533.171 người chiếm 81,96%, lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ chỉ có 18,04% Điều này phản ánh
hoạt động kinh tế ở Bến Tre là ngành nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển
Nhìn chung, Bến Tre có nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm sản
xuất, có truyền thống hiếu học, có tinh thần cách mạng, nhanh nhạy trong việc
tiếp thu khoa học kỹ thuật Đó là nguồn tài nguyên hết sức quý giá cho việc xây
dựng và phát trển kinh tế Song điều đáng lo ngại là chất lượng nguồn lao động còn thấp: tỷ lệ lao động có trình độ văn hoa dưới cấp li chiếm tới 29% ở thành
thị và 60-70% ở nông thôn, lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chỉ chiếm 8,4% ở thành thị và 5% ở nông thôn (năm 2002)
2.1.2.2 Tình hình phát tri ển kỉnh tế
Tổng sản phẩm trong tình Bến Tre (GDP) theo giá so sánh năm 1994 đã tăng từ 2248 tỷ đồng năm 1990 lên 3018 tỷ đồng năm 1995 và 4076 tỷ đồng năm 2000, với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,07%/nãm trong giai đoạn 1990 -
1995 và 6,18%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000 GDP năm 2000 tăng 2 lần so
với năm 1990, GDP đầu người cũng tăng 1,7 lần trong vòng 10 năm từ 1,82
Trang 38chung của cả nước Riêng năm 2002 tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 8,1% đây là mức tăng trưởng cao nhất so từ trước đến nay và bình quân GDP đầu người cũng tăng lên 3,6 triệu đồng
Cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, đóng góp chính cho nền kinh tế hiện nay vẫn là nông nghiệp Đây là ngành có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, bình quân 5,28%/năm trong suốt thời kỳ 1990 - 2000 Tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp tuy có giảm dần nhưng ở mức cao, từ 69,78% năm 1991 xuống còn 67,69% năm 2000 Riêng năm 2002, ngành nông nghiệp có tốc độ tăng 6,72%
và chiếm tỷ trọng 65,13%
Ngành công nghiệp phát triển yếu với tốc độ tăng trưởng chậm, bình quân 9,25%/năm trong lo năm 1990 -2000 (9% /năm trong giai đoạn 1991 - 1995 và 9,5% /năm trong giai đoạn 1996 -2000) Tỷ trọng của ngành công nghiệp trong
cơ cấu GDP tăng từ 8,94% năm 1991 lên 12,73% năm 2000 Riêng năm 2002 ngành công nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất, nhưng cũng chỉ ở mức 14,27% và chiếm 13,71% trong GDP
So với nông nghiệp và công nghiệp, ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng trung bình 7,8% /năm, nhưng từ năm 1996 trơ đi tốc độ bị giảm nhiều, bình quân
chỉ đạt 7,2% cho cả thời kỳ 1996 - 2000 Do vậy, tỷ trọng của dịch vụ dao động
ở mức 20 - 21% trong cùng thời kỳ Riêng năm 2002, ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng 10,21% và chiếm 21,16% trong GDP
Hình 2.1: Chuyền dịch cơ cấu kinh tế của tình Bến Tre 1991 - 2002
Trang 39Ngu ồn: Số liệu thống kê Bến Tre năm 1991-2002
2.2 Hi ện trạng đói nghèo ở tỉnh Bến Tre
2.2.1 Tiêu chí xác định hộ đói nghèo
Theo điều tra tình hình đói nghèo tỉnh Bến Tre do Sỡ LĐTB-XH tiến hành năm 1994, tiêu chuẩn hộ đói và hộ nghèo được xác định: hộ đói ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 30.000 đồng/tháng, ở thành thị là dưới 50.000 đồng/tháng Hộ nghèo ở nông thôn có mức thu nhập từ 30.000 - 50.000 đồng/người/tháng, ở thành thị từ 50.000 - 70.000 đồng/người/tháng
Cuối năm 1998, đầu năm 1999 Sở LĐTB-XH tình Bến Tre lại có cuộc điều tra đời sống KT-XH của các hộ nghèo trên toàn tỉnh Trong cuộc điều tra này, tiêu chuẩn hộ đói (còn gọi là hộ loại A) được quy định chung cho cả hai khu vực nông thôn và thành thị là mức thu nhập bình quân đầu người dưới 50.000 đồng/tháng Hộ nghèo ở nông thôn là từ 50.000 - 120.000 đồng/người/tháng và ở thành thị là từ 50.000 - 145.000 đồng/người/tháng Đồng
thời, số hộ nghèo này còn được phân chia thành 3 loại khác nhau (còn gọi là loại
B, loại C và loại D) Mức phân định cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Phân loại đói nghèo theo thu nhập ở Bến Tre năm 1999
Đơn vị tính: Nghìn đồng/người/tháng
Thành thị Dưới 50 50-dưới 100 100-dưới 120 120-dưới 145 Nông thôn Dưới 50 50-dưới 80 80-dưới 100 100-dưới 120
Ngu ồn: Sở LĐTB – XH tỉnh Bến Tre-Báo cáo kết quả điều tra đời sống
kinh t ế - xã hội hộ nghèo năm 1999
Năm 2001, căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tiêu chuẩn hộ nghèo ở Bến Tre được phân định theo hướng nâng lên cao hơn Hộ đói
Trang 40nghèo cũng được chia làm 4 loại A, B, C, D theo mức thu nhập bình quân của
từng loại như sau:
Bảng 2.4: Phân loại đói nghèo theo thu nhập ở Bến Tre năm 2001
Đơn vị tính: Nghìn đồng/người/tháng
Thành thị Dưới 50 50-dưới 100 100-dưới 120 120-dưới 150 Nông thôn Dưới 50 50-dưới 80 80-dưới 100 100-dưới 120
Ngu ồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre
Như vậy là ngay từ năm 1999, Bến Tre đã áp dụng ngưỡng nghèo khá cao Đối với khu vực nông thôn, tiêu chuẩn hộ nghèo loại c ở Bến Tre áp dụng
từ năm 1999 (100.000 đồng) tương đương với chuẩn hộ nghèo nói chung do Bộ LĐTB-XH áp dụng cho giai đoạn 2001-2005 Còn chuẩn hộ nghèo nông thôn
loại D ở Bến Tre (120.000 đồng) thì cao hơn so với chuẩn của Bộ LĐTB-XH
hiện nay Đối với khu vực thành thị, chuẩn hộ đói nghèo loại D được tỉnh Bến Tre áp dụng vào năm 1999 (145.000 đồng) thì cao hơn so với chuẩn do Bộ LĐTB-XH áp dụng vào thời điểm đó Đến năm 2001, tỉnh vẫn áp dụng chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn loại D ngang với chuẩn chung do Bộ LĐTB-XH đề
ra cho giai đoạn 2001-2005 là 150.000 đồng Các tiêu chí về hộ đói và hộ nghèo
vừa được trình bày trên đây được Bến Tre áp dụng từ năm 2001 cho đến nay
2.2.2 Di ễn biến hộ đói nghèo
Theo tiêu chí đã áp dụng cho năm 1994, Bến Tre có 63.200 hộ có mức
sống thuộc diện đói nghèo, chiếm tỷ lệ 24,8% tổng số hộ toàn tỉnh Đa số các hộ đói nghèo tập trung ở khu vực nông thôn với tỷ lệ 88,8%, đó là kết quả suy rộng
từ cuộc điều tra chọn mẫu
Đến cuối năm 1998, đầu năm 1999, việc phân định và lập danh sách hộ đói nghèo theo 4 loại A, B, c, D được Sở LĐTB -XH tỉnh Bến Tre tiến hành dựa trên kết quả điều tra thu nhập thực tế đồng thời kết hợp với việc bình nghị tại