1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề con người cá nhân trong các sáng tác thời kì đầu của natsume soseki

97 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 764,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình nghiên cứu văn học Nhật Bản tại Hàn Quốc, đặc biệt là mảng nghiên cứu văn học Nhật Bản cận đại, số lượng các bài nghiên cứu về các nhà văn cận hiện đại lên đến hàng tr

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Bùi Thanh Phương

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Bùi Thanh Phương

Chuyên ngành: Văn Học Nước Ngoài

Trang 3

1

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

TS Nguyễn Thị Bích Thúy, các thầy cô tổ Văn học nước ngoài, phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm TPHCM, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này TPHCM, Ngày tháng 09 năm 2013

Người viết luận văn

Bùi Thanh Phương

Lớp Cao học VHNN khóa 22

Trang 4

2

LỜI CẢM ƠN 1

M ỤC LỤC 2

PH ẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do ch ọn đề tài 4

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 B ố cục của luận văn 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN NIỆM CON NGƯỜI CÁ NHÂN 12

1.1 Quan ni ệm về Con người cá nhân 12

1.1.1 Con người cá nhân phương Đông và phương Tây 12

1.1.2 Con người cá nhân Nhật Bản 16

1.2 Hành trình của Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản 18

1.3 Natsume Soseki và l ập trường cá nhân 24

1.3.1 Lập trường cá nhân trước xã hội 24

1.3.2 Lập trường cá nhân trong sáng tác văn chương 26

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI CÁ NHÂN-NỖI LÒNG TRƯỚC THỜI CUỘC 28

2.1 Cá nhân cô đơn giữa Nhóm 28

2.1.1 Cá nhân cô đơn giữa tình thân 28

2.1.2 Cá nhân kiếm tìm sự đồng cảm 31

2.2 Cá nhân l ạc lõng trong xã hội hiện đại hóa 35

2.2.1 Cá nhân “không theo kịp” xã hội 36

2.2.2 Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội 38

2.3 Cái Tôi và s ự cảnh tỉnh 40

2.3.1 Cái Tôi-Tự do-Ích kỉ 41

2.3.2 Thực trạng xã hội và sự cảnh báo 45

2.3.3 Thực trạng giáo dục thời kì Minh Trị và sự phản ứng 50

2.4 Cái Tôi và s ự bình tâm 52

2.4.1 Tìm về triết học, nghệ thuật 53

Trang 5

3

2.4.2 Đề cao sự công bằng xã hội 60

2.4.3 Tìm sự giải thoát trong cái chết 63

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT ĐẶC TẢ NHÂN VẬT CON NGƯỜI CÁ NHÂN 65 3.1 Ngôi k ể “Tôi” và nhân vật tự thuật 66

3.2 Cá tính hóa nhân v ật 71

3.3 C ặp đôi nhân vật 74

3.4 Con người cá nhân và không gian đặc thù 78

3.4.1 Không gian sự kiện 79

3.4.2 Không gian bất toàn 81

3.4.3 Không gian an toàn 84

PH ẦN KẾT LUẬN 87

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

đã đưa ra nhận định: Di sản để lại của tiểu thuyết thời Minh Trị là rất lớn, thế nhưng phần

lớn các tác phẩm dịch thuật tại Việt Nam đều thuộc về các nhà văn ăn khách thời hiện đại, còn các nhà văn quan trọng có ý nghĩa vượt thời gian lại chưa được chú ý nhiều Tác giả cũng đưa ra nhiều tên tuổi nổi bật, trong đó có nhà văn Natsume Soseki

Khảo sát tình hình nghiên cứu văn học Nhật Bản tại Hàn Quốc, đặc biệt là mảng nghiên cứu văn học Nhật Bản cận đại, số lượng các bài nghiên cứu về các nhà văn cận hiện đại lên đến hàng trăm bài, đứng đầu là Natsume Soseki với 240 bài nghiên cứu về các tác

phẩm kiệt xuất của ông như Nỗi lòng có 31 bài, Sanshiro 21 bài, Đêm mơ 17 bài… Như vậy

có thể nói rằng phần lớn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là hướng tới Soseki (Theo

Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á số 9, năm 2007) Kết quả khảo sát này cho thấy: là một trong những tác giả quan trọng nhất của văn học thời Minh Trị, nhưng Soseki lại xuất hiện khá muộn và chưa được đầu tư nghiên cứu ở Việt Nam

Soseki là một hiện tượng trên văn đàn Nhật bản, cho đến nay, những tác phẩm của ông

vẫn nằm trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất Ông được đánh giá là một trong ba

trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại cùng với Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke Chân dung của ông in trên tờ giấy bạc 1000 yên và được phát hành trong 20 năm liền Là một học

giả xuất sắc sang Anh du học, Soseki đã tiếp thu bài bản nhuần nhuyễn tinh hoa văn học Anh, ông đã kết hợp vốn kiến thức rộng lớn về văn hóa phương Tây cùng sự tinh thông Thiền học và văn hóa cổ điển Trung Hoa Sáng tác của Soseki là hành trình nỗ lực tìm kiếm

và khẳng định cái Tôi, đặc biệt là cái Tôi cô đơn của người trí thức trong xã hội tư sản còn mang nhiều tàn tích phong kiến Sự nghiệp sáng tác của ông dồi dào với hơn 20 tiểu thuyết nhiều thi phẩm, phê bình, tiểu luận trong khoảng thời gian từ 1903 đến 1916 Giai đoạn đầu,

Trang 7

phẩm tiêu biểu trong giai đoạn đầu khởi nghiệp của Soseki Nhưng giá trị lâu bền của những tác phẩm này là bàn về vấn đề con người cá nhân ngay khi sự va chạm giữa Nhật Bản và phương Tây bắt đầu Hòa vào tiếng nói con người cá nhân bùng phát trong văn học Minh

Trị, ba tác phẩm này là những phản ánh chân thực và sinh động suy nghĩ, hành động của con người cá nhân, không được gia công gọt giũa nhiều như những tác phẩm giai đoạn sau

Hấp dẫn và ăn khách nhưng những tác phẩm này chưa được nghiên cứu công phu và hệ

thống bằng những tác phẩm giai đoạn sau

Vì những lý do trên, đề tài nghiên cứu luận văn sẽ góp phần khám phá, lý giải quan

niệm về con người cá nhân của Soseki trong giai đoạn 1904-1907 một cách hệ thống và đặt trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn với mong muốn tạo tiền đề tìm hiểu vấn đề cốt lõi trong văn học cận hiện đại Nhật Bản: Con người cá nhân

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tình hình nghiên cứu văn học Nhật Bản thời kì Minh Trị ở nước ta khá khiêm tốn Đa

số các bài viết đều chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và giới thiệu, các bài viết nghiên cứu về nhà văn Natsume Soseki cũng không ngoạị lệ

(1) Khương Việt Hà với bài viết Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX(Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8 năm 2005) điểm qua

những tác phẩm nổi bật của Natsume Soseki Tác giả nhận định Tôi là con mèo (Wagahai

wa neko de aru, 1905-1906) là kiệt tác châm biếm, đả kích sự lố lăng của thời đại với hình tượng một con mèo nằm lắng nghe chăm chú các nhà khoa học tranh cãi trong căn phòng

Trang 8

6

của ông giáo Kushami, thực chất là sự thảo luận về triết học và nghệ thuật; tiểu thuyết Cậu

ấm (Botchan, 1908) kể về một giáo viên trung học vụng về trước sự thay đổi của thời cuộc

(2) Tham luận Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán (qua tư liệu văn học Việt Nam và Nhật Bản) của PGS.TS Đoàn Lê Giang đã đề cập

đến nhà văn Natsume Soseki và gọi ông là đại tác giả của tiểu thuyết cận đại với nhận xét:

Tất cả tác phẩm của ông đều đi vào thể hiện cái tôi và sự cô đơn của con người hiện đại Tham luận này đã bước đầu nhận định chung về đề tài chính trong sáng tác của Soseki (3) Tham luận Sơ lược tiếp cận thang giá trị mới trong văn học Nhật Bản thời minh trị Duy Tân của hai tác giả Đỗ Vạn Hỷ, Lý Hoàn Thục Trâm đã bước đầu tìm hiểu những

biểu hiện của một thang giá trị mới trong văn học buổi giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX Trọng tâm là sự xung đột cũ và mới; quan niệm về con người cá nhân Hai tác giả đã nhận định rằng quan niệm con người cá nhân trong văn học hiện đại Nhật Bản là một sự tiếp biến từ quan niệm Nho học truyền thống: mỗi cá nhân là một mắt xích trong chuỗi dài quan

hệ xã hội Tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro) của Natsume Soseki là sự thể hiện rõ nét nhất của

một bản ngã cá nhân như vậy Những nhân vật trong tác phẩm này không hề có những tên tuổi cụ thể nhưng chính đời sống nội tâm phức tạp làm nên diện mạo con người cá nhân của

họ Nhân vật Tiên sinh là “cái tôi” đang cố thoát ly khỏi giá trị truyền thống còn nhân vật Tôi lại biểu hiện kiểu “cái tôi” theo một thang giá trị mới Đây là công trình đi sâu vào vấn

đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki nhưng trọng tâm nghiên cứu ở tác phẩm giai đoạn sau

(4) Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân trong sách Tổng quan lịch sử văn học Nhật

B ản đã nghiên cứu kĩ lưỡng văn nghiệp của Natsume Soseki và so sánh ông với Mori Ogai-

nhà văn cùng thời và có quan điểm về phương Đông và phương Tây khác hẳn Natsume Soseki Ông nhận xét về tiểu thuyết Tôi là con mèo (Wagahai wa neko dearu): con mèo

đóng vai người kể chuyện, vờ ngây thơ quan sát môi trường nhà chủ và giới trí thức, công

chức thời Meji Trong đó Soseki được miêu tả khôi hài qua hình ảnh Ông giáo hắt hơi Với tác phẩm Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) muốn tìm về cái đẹp của một thế giới vượt hẳn

chúng nhân còn với Cậu ấm (Botchan), ông đề cao lý tưởng công bằng xã hội Qua Cậu

ấm, Soseki trình bày những nghịch cảnh và khổ não mà con người gặp phải trong cuộc sống

và quyết tâm đập tan nó Nguyễn Nam Trân đã nhận định sâu sắc về ba tác phẩm nổi bật trong giai đoạn đầu sáng tác của Natsume Soske

Trang 9

tư liệu quý báu, đặc biệt ở ý kiến của các nhà bình luận đối với từng tác phẩm Đặc điểm

chung của ba tác phẩm Tôi là con mèo, Cậu ấm, Chiếc gối cỏ đều mang tính chất tự thuật

2.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu tại nước ngoài

(1) Nhà văn đoạt giải Nobel văn học thứ hai cho Nhật Bản-Oe Kenzaburo trong tham

luận Về nền văn học Nhật Bản cận đại và hiện đại đọc tại Hội nghị văn học quốc tế San

Francisco 1990 đã ca ngợi Natsume Soseki như một người bình tĩnh trước làn sóng ồ ạt của văn hóa phương Tây Sự phê phán của Soseki như một tiếng chuông cảnh báo, Soseki đã vạch ra cho người Nhật thấy sự mải mê của mình khi chạy theo mô hình kinh tế phương Tây nhưng ngay cả những điều kiện sống cơ bản cũng trở nên tồi tàn xuống cấp trong chính quá trình hiện đại hóa và những giá trị văn hóa bị xao nhãng, xa rời

(2) Trong tham luận Sự hình thành các sáng tác của Natsume Soseki-Nhìn từ quá trình ra đời của tiểu thuyết cận đại, tác giả Mitsuhiro Tokunaga đề cập đến nội dung:

“Hiện đại hóa và tự chủ bản thân” qua tác phẩm Gió mùa Đông Bắc (Nowaki), Soseki đã

khẳng định hành động hay lối sống của cá nhân là chuyện đối phó với những sự việc này sinh từ nhu cầu nội tại Tuy nhiên tìm kiếm tự chủ bản thân, không chấp nhận thỏa hiệp mà hành động theo ý mình là biểu hiện của sự ích kỉ Công trình này đã phần nào lý giải được

bản chất vấn đề con người cá nhân trong buổi đầu sáng tác của Soseki

(3) Bài viết Literary reponses to Death and Funerals in Modern Japan của GS

Michihiro Ama (ĐH Alaska) là một công trình nghiên cứu sâu sắc về ý nghĩa của cái chết

và đám tang trong văn học Nhật Bản khảo sát cụ thể qua tác phẩm của hai nhà văn Tayama Katai và Natsume Soseki Tác giả đã căn cứ vào cuộc đời, sáng tác của Soseki để nhận định:

“Trong suốt cuộc đời mình Soseki vừa sợ hãi vừa lý tưởng hóa cái chết” minh chứng qua tác phẩm Tôi là con mèo

(4) Bài diễn thuyết của Tiến sĩ Hisaaki Yamanouchi với tựa đề Feline Philosophy: Natsume Soseki's Modern Classic Revisited đăng trên The Asiatic Society of Japan

Trang 10

8

(asjapan.org/web.php/lectures/2006/05) đã có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về tác phẩm Tôi là

con mèo Ông chú trọng đặc biệt đến cấu trúc của tác phẩm này: như một bài renga được

cấu thành từ nhiều bài haiku Tác giả nhận định đoạn cuối của tác phẩm này là sự hội họp

của nhiều tư tưởng, tất cả những trí thức được tập hợp lại với nhau, và các cuộc tranh luận trong số đó dẫn đến những câu hỏi về hiện đại hóa của Nhật Bản và chủ nghĩa cá nhân là

một trong những khía cạnh của nó Tác giả bài viết này đã đề cập vấn đề cá nhân trong tác

phẩm Tôi là con mèo tuy nhiên do trọng tâm nghiên cứu là cấu trúc tác phẩm, nên vấn đề

con người cá nhân còn sơ lược

(5) Một công trình đáng chú ý khác khi lấy tác phẩm của Natsume Soseki làm đối tượng

khảo sát là Giải phẫu cái tự ngã của TS Takeo Doi-Chuyên gia tâm thần học Tác phẩm

G ối đầu lên cỏ và Cậu ấm ngây thơ được khảo sát ở chương 4 “Các phương thức quan hệ

giữa người với người” Để minh họa cho mối quan hệ phức tạp của bộ đôi khái niệm

Tatemae và Honne (có thể hiểu sơ lược là tiếng nói chung của xã hội và tiếng nói cá nhân)

và nhận định rằng những thử thách trong cuộc sống mà nhân vật họa sĩ đang nói đến hầu hết người Nhật đều đồng tình vì họ đều đã trải nghiệm sự khó khăn đối với cấu trúc bộ đôi

Tatemae và Honne TS Takeo Doi cho rằng: Soseki đã cho chúng ta một nghiên cứu xuất

sắc về trường hợp điển hình trong nhân vật trung tâm Botchan, là hình mẫu của cá nhân luôn thất bại trong các tình huống xã hội Vấn đề con người cá nhân-Cậu ấm đã được Takeo Doi phân tích tỉ mỉ, tuy nhiên vì là công trình tâm lý học nên giá trị văn chương của Con người cá nhân Cậu ấm còn mờ nhạt

Trong phạm vi hẹp tài liệu chúng tôi bao quát được, việc tiếp cận nhà văn Natsume Soseki chỉ mới là sự giới thiệu, gợi mở và nghiên cứu chung với một số tác giả khác, chưa nhiều những công trình nghiên cứu riêng tác phẩm của Soseki, đặc biệt là vấn đề con người

cá nhân trong sáng tác của ông Hầu hết những bài nghiên cứu tập trung ở tác phẩm Nỗi

lòng (Kokoro) (được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của Soseki) Vì vậy, đề tài luận văn này mong muốn góp phần giới thiệu, lý giải vấn đề con người cá nhân trong các tác phẩm giai ở đoạn đầu của Soseki (giai đoạn thử nghiệm sáng tác của ông từ 1904-1907), tạo tiền

đề để có cái nhìn so sánh đối chiếu với từng giai đoạn sáng tác, đặc biệt là giai đoạn sáng tác chuyên nghiệp và đỉnh cao (từ 1907-1916) của Natsume Soseki

Trang 11

9

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tiếng nói của con người cá nhân; Bản chất của con người cá nhân; Nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cá nhân trong sáng tác thời kì đầu

của Natsume Soseki

Sự nghiệp sáng tác của Soseki có thể chia làm ba giai đoạn chính với các tác phẩm tiêu

biểu:

Giai đoạn thứ nhất: Tôi là con mèo (1905-1906), Gối đầu lên cỏ (Kusamakura, 1906),

Cậu ấm ngây thơ (Botchan, 1906), Bão mùa thu (Nowaki,1907)…

Giai đoạn thứ hai: Truyện chàng Shanshiro (Shanshiro, 1908), Từ dạo ấy (Sorekara, 1908), Cánh cổng (Mon,1910)…

Giai đoạn thứ ba: Qua ngày thu phân (Higan wo sugite, Người lữ khách (Kojin, 1913), Nỗi lòng (Kokoro, 1914), Cỏ bên đường (Michikusa, 1915), Sáng và tối (Meian, 1916)…

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba tiểu thuyết nổi bật nhất và đã được

dịch tại Việt Nam:

_Tôi là con mèo (Wagahai wa neko de aru)

_Cậu ấm ngây thơ (Botchan)

_Gối đầu lên cỏ (Kusamakura)

Ngoài ra chúng tôi sử dụng thêm các tác phẩm khác của Soseki để so sánh các giai đoạn sáng tác của ông

4 Phương pháp nghiên cứu

(1) Phương pháp tự sự học:

Được sử dụng chủ yếu trong chương 3 nhằm tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật của nhà văn (2) Phương pháp phân tích-tổng hợp:

Dựa trên cứ liệu khi phân tích các tác phẩm của Soseki, chúng tôi tổng hợp lại thành

những luận điểm chính, đưa ra kết luận

(3) Phương pháp so sánh-đối chiếu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài ở những tác phẩm giai đoạn đầu, chúng tôi so sánh với

những tác phẩm giai đoạn sau của Soseki để tìm hiểu sự tiếp nối, phát triển trong mục đích sáng tác và bút pháp của ông Đồng thời so sánh tác phẩm của Soseki với một số tác phẩm

Trang 12

10

của các tác giả khác trong và sau thời đại Minh Trị để có cái nhìn phong phú hơn về vấn đề con người cá nhân

(4) Hướng tiếp cận tâm lý học

Khi nghiên cứu tác phẩm của Soseki, chúng tôi nhận thấy hướng tiếp cận này đặc biệt quan trọng Tác phẩm của Soseki cũng được sử dụng làm cứ liệu trong các công trình tâm lý

học Chúng tôi chú trọng đặc trưng tâm lý của người Nhật, dùng làm cơ sở khám phá đặc trưng tâm lý nhân vật trong tác phẩm của Soseki

(5) Hướng tiếp cận xã hội học

Hướng tiếp cận này rất cần thiết trong việc nghiên cứu vấn đề cá nhân và xã hội ở Nhật

Bản; tìm hiểu sự tiếp nhận của độc giả với các tác phẩm của Soseki

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài luận văn nghiên cứu vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm giai đoạn đầu của Soseki, những tác phẩm này trước nay vẫn được tập trung nghiên cứu ở các vấn đề: thống

nhất văn nói và văn viết, thi pháp tiểu thuyết…

Lý giải quan niệm lập trường cá nhân (tự chủ bản thân) còn ở dạng thử nghiệm của Soseki trên nền tảng về Chủ nghĩa nhóm tại Nhật Bản

Góp phần khám phá nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cá nhân trong tác phẩm

của Soseki

6 B ố cục của luận văn

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Phân biệt rõ quan niệm con người cá nhân, con người cá nhân trong văn

h ọc Nhật Bản, giới thiệu tác giả Soseki và những lập trường cá nhân của ông, chú trọng lập

trường cá nhân trong sáng tác

Chương 2: Chỉ ra bản chất của con người cá nhân trong sáng tác thời kì đầu của

Soseki, lý giải vì sao con người cá nhân phải tìm đến những phương cách giải thoát

Chương 3: Khám phá một số thủ pháp xây dựng nhân vật con người cá nhân trong tác

phẩm của Soseki

Phần kết luận

Trang 13

11 Tài liệu tham khảo

Trang 14

12

CON NGƯỜI CÁ NHÂN

1.1 Quan ni ệm về Con người cá nhân

1.1.1 Con người cá nhân phương Đông và phương Tây

Con người ngay từ khi xuất hiện đã là con người cộng đồng nhưng đồng thời cũng là

con người cá nhân, con người phát triển cá tính của mình với tư cách là con người cộng đồng đồng thời con người cộng đồng cũng chỉ phát triển với tư cách là con người cá nhân Đây là mối quan hệ biện chứng: Giữa con người cộng đồng và con người cá nhân không chỉ

có sự gắn bó khăng khít mà mối quan hệ đó còn chứa đựng mâu thuẫn và xung đột

Con người với ý thức ban đầu của mình luôn khát khao giải đáp những thắc mắc về

bản thân về mối quan hệ cá nhân và cộng đồng, về vũ trụ và vị trí của mình trong vũ trụ và

giới hạn của hiểu biết Theo Iser Wolfgang (1926 – 2007) lý thuyết gia tiêu biểu của trường

phái Konstanz (Đức): “Con người “là” mình, nhưng không “có” được chính mình Muốn

nắm bắt và chiếm lĩnh được hình ảnh của chính mình luôn luôn là một khao khát vĩnh cửu của con người.” Chính sự khát khao bất tận đó đã thôi thúc khiến con người tách mình ra để

“nhìn lại và nhìn xa hơn” mong tìm được câu trả lời Còn nhà nghiên cứu A.F.Losep 1988) thì có nhận định sâu sắc về con người trong tác phẩm Lịch sử mỹ học cổ điển

(1963-(История античной эстетики):

“Cá nhân, ch ủ thể con người riêng biệt, ở đây không còn nảy sinh bằng con đường tự nhiên trong đời sống xã hội và nhà nước nữa, mà đã đối lập hẳn bản thân mình với xã hội

và t ự nhiên: nó đắm sâu vào bản thân nó, tự tách ra khỏi mọi cái xung quanh, chủ yếu sống

b ằng những cảm xúc của mình, khép mình lại; và nếu như nó hướng tới thiên nhiên thì điều

đó diễn ra không phải bằng con đường tự nhiên và tự phát, hữu cơ, mà chỉ là do những nỗ

l ực có ý thức của nó, những nỗ lực trí tuệ, tình cảm và ý chí, bằng cách khúc xạ những dữ

ki ện thiên nhiên và xã hội qua một bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong nó…”

Như vậy các ý kiến trên đều gặp nhau ở những đặc điểm về con người cá nhân: “đối

lập với xã hội và tự nhiên”, “đắm sâu vào bản thân”, “chủ yếu sống bằng cảm xúc của mình”, “có bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong”…

Trang 15

13

Những quan niệm về con người cá nhân này đều xuất phát từ phương Tây Nhận định

về văn hóa phương Tây, hầu hết các ý kiến đều cho rằng đặc trưng của nền văn hóa này là

lấy cá nhân làm nền tảng Đó là nền văn hoá thúc đẩy cá nhân làm chủ thiên nhiên và xã hội

và trong những thế kỷ qua chính nó thay đổi thế giới dựa trên ba khái niệm chủ đạo là tiến

bộ, khoa học và nhân quyền (Theo Phan Ngọc) Nhà sử học và xã hội học Troeltsch đã viết

như sau: “Ý tưởng Nhân cách trong hình thức của Tự do, xác định mọi thứ trong đạo lý của

lương tâm, và trong hình thức của Khách thể, xác định mọi thứ trong đạo đức học của giá trị-ý tưởng ấy rốt cuộc là một niềm tin phương Tây, không được biết đến ở Viễn Đông, và là định mệnh nổi bật và đặc hữu của người châu Âu”0

1 Người phương Tây vẫn tôn thờ chủ nghĩa tự do và hành xử theo phương châm cá nhân là tự do nhưng đặc tính này đối với người phương Đông lại khá mờ nhạt:

Luân lý học Đông Phương nghiên cứu về gián chủ quan tính 間主観性, tức là nghiên cứu về cộng đồng thể 共同体, nhưng luân lý học Tây Phương lại xuất phát từ nghiên cứu về tính chủ quan, tức là tính cá thể vì thế mà quan điểm về luân lý hai bên khác nhau

Ví dụ chúng ta có thể nhìn thấy sự khác biệt này trong khái niệm về trách nhiệm xã hội Từ

“responsibility” trong tiếng Anh được biểu thị ý nghĩa trách nhiệm đạo lý đối với hành động cá nhân vào cuối thế kỷ mười tám nhưng từ thời La Mã cổ đại, khái niệm cá nhân với

tư cách chủ thể của hành động đã có rồi Theo đó, tất cả mọi người đều có nhận thức về tồn tại luận là đều bình đẳng trước thần linh với tư cách cá nhân Đối với điều này thì ở Nhật Bản khái niệm trách nhiệm đã tồn tại từ thời cổ đại nhưng cá nhân nằm trong mối quan hệ khó chia tách thân phận với cộng đồng” [71]

Gián chủ quan tính chỉ rõ sự phụ thuộc cộng đồng bền chặt của người phương Đông, cái chủ quan được thành lập do tác dụng của cộng đồng, không phải của riêng tự ngã mà bao hàm cả tha ngã Đặc tính phụ thuộc cộng đồng này cũng được nhà nghiên cứu Phan Khôi phân tích trong Tư tưởng của Tây phương và Đông phương (in trong Đông Pháp thời

báo) Trong bài viết này ông chỉ ra những điểm khác biệt chính giữa con người phương Đông và phương Tây: phương Tây chuộng khoa học, phương Đông chuộng huyền học; Phương Tây trọng tự chủ, phương Đông trọng thống thuộc; phương Tây quý tấn thủ, phương Đông quý an phận Đặc tính thứ hai chính là sự khác biệt giữa khái niệm con người

1 (Troeltsch, Ernst Christian Thoughts: Its History and Application, (1923) p 120-121 Meridian, New york, 1957).

Trang 16

14

cá nhân của phương Tây và phương Đông Rõ ràng, đặc điểm “tự chủ” thuộc về khái niệm

con người cá nhân, Phan Khôi diễn giải thêm đó là tính độc lập, tự chủ, tự do bình đẳng

với nhau và với các thiết chế xã hội trong khi người phương Đông thuộc về vua chúa, không

được tự ý quyết định, sự bất bình đẳng giữa người và người luôn tồn tại Vấn đề Con người

cá nhân của phương Đông nảy nở trên sự thống thuộc và ý thức cộng đồng vô cùng bền

chặt (người Hàn Quốc là gia đình, Trung Quốc là gia tộc, Việt Nam là làng xã và Nhật Bản

là nhóm…) Điều này có nguyên do của nó, trước hết đối với những nước phương Đông lấy nông nghiệp làm gốc thì yếu tố tập thể luôn được đề cao, sức mạnh tập thể có thể chống

chọi lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cần thiết cho những công việc đồng áng yêu cầu nhiều sức người Cộng đồng các quốc gia Đông Á đã tiếp thu nền văn minh Trung Hoa, đặc

biệt là Nho giáo, chữ “Lễ” là nội dung căn bản để xây dựng học thuyết của Nho gia và sau này là Nho giáo Nho giáo chủ trương “Khắc kỷ phục lễ” tức kiềm chế bản thân của mình để

phục tùng “Lễ” Cá nhân phải hy sinh tất cả cho sự phục tùng đó điều này giải thích vì sao con người cá nhân phương Đông mang đặc điểm phụ thuộc cộng đồng

Như vậy Con người cá nhân phương Đông được hiểu như thế nào? Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang trong bài viết Có quan niệm về con người cá nhân ở phương Đông

không? sau khi trình bày những ý kiến khác nhau về con người cá nhân dưới ánh sáng của Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Nguyễn Kiến Giang đã đúc kết ba đặc điểm chung: (1) Con người cá nhân cố gắng hòa nhập với tự nhiên; (2) Cá nhân ý thức vị trí của mình và

phục tùng xã hội một cách tự nguyện chứ không phải do sự cưỡng chế; (3) Con người cá nhân được nhấn mạnh ở đời sống tâm linh của chủ thể Đặc điểm thứ hai đã phản ánh phần nào bản chất của con người cá nhân phương Đông được hình thành từ ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo rõ nét Nho giáo đề cao sự kiềm chế của bản thân, không thừa nhận cái Ngã nhưng lại yêu cầu cái Tôi “tu thân” rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân Nếu so sánh với

Phật giáo ở sự phân biệt Vô Ngã và Hữu Ngã sẽ thấy sự tương đồng: không có một Ngã, một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật Như thế, theo đạo Phật, cái ngã (hữu ngã) là cái “Tôi”, cái "Tôi" cũng chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn, luôn luôn thay đổi, mất mát vì vậy "Tôi" chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ Nhưng theo quan điểm nhà Phật vẫn tồn tại một nghịch lý: càng hướng tới vô ngã thì hữu ngã càng mạnh, để đạt đến vô ngã con người phải tự ý thức đến tận cùng Như vậy có thể hiểu con người cá nhân phương Đông một mặt bị kiềm tỏa, hạn chế giữa tập thể, phải phục tùng tập

Trang 17

thần hơn so với phương Tây Quan niệm tự do của phương Tây chú trọng nhiều hơn ở không gian vật chất, con người vẫy vùng trong đó để khẳng định quyền độc lập của mình

Có thể hiểu khái quát, tiêu chí quan trọng để nhận diện con người cá nhân phương Tây là ở

sự tự chủ, ở phương Đông là sự độc lập về tinh thần

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi chú trọng đặc trưng trong vấn đề con người cá nhân đó là tự do, tự chủ và cái Tôi với sự khu biệt Đông-Tây rõ rệt Khái niệm

cá nhân của phương Tây nghiêng về hành động, tôn trọng tuyệt đối quyền tự do của con

người, tạo điều kiện và đề cao cá nhân nổi bật trong xã hội Ở phương Đông Con người cá nhân mang nặng yếu tố tinh thần, con người cá nhân phải ràng buộc trách nhiệm với cộng

đồng Bàn về vấn đề con người cá nhân, cái Tôi được nhắc đến như là thuộc tính vĩnh cửu đến mức chúng ta thường đồng nhất Con người cá nhân chính là cái Tôi Vậy cái Tôi thực

ra là gì? Trong triết học, Cái tôi được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là Tôi, bao hàm

trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.Theo phân tâm học của

C.Frued, cái Tôi là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của

tác động xã hội Cái Tôi cùng với nó và cái siêu Tôi là ba miền của tâm thức Cái tôi được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cái Tôi học

cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận

Cái Tôi có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn

nhân cách và xã hội.Trong triết lý Phật giáo, cái Tôi, thường gọi là Ngã, là cái Tôi được

thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử Đạo Phật không công nhận sự hiện diện của một Ngã như thế Theo quan niệm Thiền, đặc trưng duy

nhất dựa trên tâm lý của cái Tôi hoàn chỉnh là việc nó chìm đắm trong sự tự trị, tự do, trong

sự tự quyết và cuối cùng là sự sáng tạo Như vậy có thể nhìn nhận cái Tôi vừa thể hiện đạo

đức vừa thể hiện tâm lý và mang cả tính chất tôn giáo, bình diện của nó trải rộng Còn nói

đến Cá nhân là nói đến sự trái ngược với tập thể Cái Tôi được thể hiện cụ thể ở nhiều khía

Trang 18

16

cạnh, còn Cá nhân mang tính chất khái quát, nghiêng về đạo đức và sự ràng buộc về trách

nhiệm

1.1.2 Con người cá nhân Nhật Bản

Trở lại với đặc tính của con người phương Đông là sự thống thuộc và tính cộng đồng, yếu tố này được phát triển thành đỉnh cao tại Hàn Quốc và Nhật Bản Ở Hàn Quốc, tính cộng đồng thể hiện rõ ở Chủ nghĩa gia đình, mối quan hệ và tính chất của nó trở thành hạt nhân trong tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và chính trị Tính tôn ti trật tự và gia đình trị là nền tảng và phương châm sống của quốc gia này Tại Nhật Bản, chủ nghĩa nhóm là cốt lõi xã hội

Trong một xã hội theo định hướng nhóm như Nhật Bản, có rất nhiều từ mang nghĩa

"nhóm": グループ (guruupu); Từ gốc Trung Quốc 集団 (shuudan);球団 (kyuudan: đội);

连中 (renchuu: nhóm trong công ty)… Khi họ trò chuyện với người nước ngoài người Nhật thường xưng “Chúng tôi”: “Chúng tôi không thích món ăn này”, “Chúng tôi thích vẻ đẹp

của tự nhiên” Theo Eiko Takamizawa trong Group orientation in Japan: Analysis and

application to missions, một công trình tìm hiểu mô hình khung của xã hội Nhật Bản thì lời xưng"Chúng tôi" bao hàm một quan điểm đồng bộ Nếu xem xét từ góc độ lịch đại, "Chúng tôi" không chỉ là người Nhật sống trong thế kỷ này mà còn bao gồmcả tổ tiên của họ [78]

Takeo Doi (chuyên gia tâm thần học người Nhật) khẳng định: “Ta thường nói người Nhật

có đặc trưng là chủ nghĩa nhóm, trong khi người Mỹ là cá nhân chủ nghĩa.” [9, tr.77] đồng

thời ông cũng đưa ra bộ đôi Tatemae-Hone nhằm minh chứng cho mối quan hệ giữa cá

nhân và nhóm Từ Tatemae được định nghĩa là một loại nguyên tắc hay luật lệ đã được xác

lập là tự nhiên và hợp thức Tatemae luôn bao hàm sự tồn tại của một nhóm người đứng sau lưng nó, tán thành nó Ngược lại Hone chỉ các cá thể thuộc về một nhóm, trong sự đồng

thuận với Tatemae, mỗi cá nhân vẫn có động cơ và ý kiến riêng khác với Tatemae và giữ cái riêng đó đằng sau Tatemae Tatemae chính xác là một sản phẩm của xã hội hóa, và Honne là biểu hiện của sự tự ý thức.Nhật Bản đặc biệt nhấn mạnh sự hòa hợp xã hội và sự

đồng thuận nhóm.Qua những khái niệm như Wa (sự hài hòa), Giri (trách nhiệm, lòng biết

ơn và nghĩa vụ đối với cộng đồng) và Kazoku (trung thành với nhóm, công ty) Tính chất

nhóm cao độ dẫn đến sự thỏa mãn khi phù hợp với nhóm, cảm giác phù hợp với mọi người rất mạnh mẽ ở Nhật Bản Người Nhật ghét bỏ lỡ những gì mà người hàng xóm, bạn bè hoặc

Trang 19

17

đồng nghiệp đang làm Nếu một cô dâu mặc bốn chiếc váy đắt tiền khác nhau trong ngày cưới của mình, thì các cô dâu khác cảm thấy họ phải làm điều tương tự… Một trong những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của cá nhân Nhật Bản là bị loại trừ khỏi nhóm Một nhà tâm lý học Nhật Bản đã phát biểu trên một tờ báo tại London rằng: Bản sắc cá nhân của người Nhật Bản rất yếu, họ cảm thấy an toàn hơn khi ở trong nhóm của mình Ngay từ thuở lọt lòng, trẻ

em Nhật Bản đã được dạy về tính kìm chế (Gaman) như một nghệ thuật sống Gaman là

một yếu tố dùng gắn kết xã hội Nhật Bản Nó ngụ ý tự kiềm chế, đau khổ trong im lặng, phủ nhận chính mình, hài lòng và tự thể hiện để phù hợp với những điều tốt đẹp hơn Chính sự kìm chế này đã cho đất nước Nhật Bản những “phép màu thần kì” vượt qua sự tàn phá khốc liệt của thiên tai và chiến tranh Nhưng dường như nó cũng tạo sự vô cảm của người Nhật Bản (bởi những cảm xúc đời thường của họ đã bị “đàn áp”) Đối với người Nhật Bản bị cô lập ra khỏi xã hội còn tồi tệ hơn cả cái chết Yếu tố này cũng góp phần duy trì sự tồn tại những làng hay khu phố bền chặt dẫn đến một hình thức cộng đồng gọi là “Xã hội dư luận”

Xã hội dư luận (tiếng Nhật: Uwasa no shakai – xã hội của lời đồn đại, đàm tiếu, bình phẩm

sau lưng) được hiểu như một cộng đồng người mà hành vi của mỗi một gia đình, mỗi một thành viên bị chi phối bởi những lời đồn đại, đàm tiếu, bình phẩm của cộng đồng nơi người

đó sống Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân Để tránh điều này, họ luôn luôn làm theo sự nhất trí Họ chú tâm gìn giữ sự hòa hợp đến mức nhiều khi lờ di sự thật, bởi dưới con mắt người Nhật giữ gìn sự nhất trí, thể diện và uy tín là

vấn đề cốt tử Chính vì vậy trong xã hội Nhật, có rất ít chỗ cho ý tưởng cá nhân, người nào hòa nhập hoàn toàn vào các nhóm thì sẽ được đền đáp.Trong khi Chủ nghĩa cá nhân được

đề cao ở phương Tây, thì ở Nhật sự tự khẳng định cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào cũng không được khuyến khích Câu tục ngữ trứ danh ở Nhật: “Cây đinh nào ló lên sẽ bị đóng

xuống” khẳng định thái độ từ chối dứt khoát của người Nhật đối với Chủ nghĩa cá nhân

Những điều này phần nào phác họa cho thấy cái nền chung về khái niệm Con người

cá nhân ở Nhật Bản, rõ ràng ở đất nước này vấn đề con người cá nhân không được khuyến khích và phát triển Vì vậy nội hàm của khái niệm Con người cá nhân rất đặc trưng, đậm

chất Nhật Bản Vậy lịch sử văn học Nhật Bản có hay không có vấn đề con người cá nhân và tại sao thời kì Minh Trị được coi là thời kì tiếng nói cá nhân phát triển mạnh mẽ nhất?

Trang 20

18

1.2 Hành trình c ủa Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản

“Y ếu tố văn học chủ đạo ở các tác phẩm là nỗi buồn chứ không phải niềm vui, là nước

m ắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang tính tr ữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với các yếu tố mang tính lịch sử, xã hội”

đây là nhận định của nhà nghiên cứu Numano Mitsuyosh về văn học Nhật Bản Đọc văn học

Nhật Bản, dễ dàng nhận ra những xúc cảm thường nhật, dễ đi sâu vào lòng người, không đao to búa lớn, không mang tầm vóc cao siêu, văn học Nhật Bản đem đến những điều bình

dị, sâu xa về nhân sinh

Văn học Nhật Bản là một nền văn học trữ tình, từ Tanka đến Haiku, từ tiểu thuyết đến tùy bút, tất cả đều là những nỗi niềm, những lời bộc bạch, là tâm sự mang tính cá nhân hơn

là cái nhìn về xã hội, chính trị Văn học Nhật Bản cho đến trước thời kì Minh Trị không gắn

với yếu tố chính trị Cổ sự kí (Kojiki) là huyền sử lập nước Nhật Bản, không mang nặng sự

kiện lịch sử, điểm nổi bật của Cổ sự kí là niềm vui và nỗi buồn nhân thế Từ sự tự ái và tính

hiếu kì của nữ thần ánh sáng Amaterasu đến tâm trạng thổn thức thương nhớ người yêu của hoàng đế Nintoku rồi lòng ghen tuông của hoàng hậu Iwa… Huyền sử của dân tộc Nhật Bản được xây dựng bằng tâm lý thường nhật của con người, vĩ đại từ những điều nhỏ nhặt, sống

động từ những gì tĩnh lặng “Ngọn hải đăng của thơ ca Nhật Bản”: Vạn diệp tập

(Manyoshu) là thế giới của cảm xúc và tình yêu, là khởi nguồn của thơ công dân Trong

“Vạn diệp ngũ đại gia” nhà thơ Yamanoue no Okura có một phong cách riêng, thơ ông vang

lên âm điệu chống bất công xã hội: Trường ca Đối đáp của những người nghèo

(Kinkyu-mondo-uta) thể hiện sâu sắc tình cảm nhân đạo yêu thương cảm thông với những số phận

khốn khổ trong xã hội:

“Giá rét run c ầm cập

Qu ấn vội mảnh vải gai

Trùm thêm áo khoác ng ắn

Cho đỡ lạnh đêm dài

Trang 21

19

Con thơ và vợ dại

Kêu réo mi ếng ăn hoài

Làm gì cho b ớt khổ?

Th ử trả lời ta hay! [43, tr.58]

Thời kì Heian phát triển rực rỡ với văn học cung đình, đặc biệt là văn chương nữ lưu,

tiểu thuyết và tùy bút nảy nở Đời sống cung đình, cuộc sống của quý tộc qua các thể loại thơ ca, tiểu thuyết, tùy bút ghi nhận những tâm sự, cảm xúc cô độc cá nhân, đạt đến sự

thăng hoa với Aware Tiểu thuyết vĩ đại Truyện Genji hấp dẫn ở hệ thống nhân vật nữ xoay

quanh người tình lý tưởng của muôn đời-hoàng tử Genji Mỗi nhân vật nữ là một chân dung riêng biệt, không đồng nhất Murasaki đã khắc họa diện mạo tầng lớp quý tộc Heian Trong

Truy ện Genji (Genji monogatari) mẫu số chung của tầng lớp quý tộc được tô đậm, số phận

và đời sống luyến ái của hoàng tử Genji nhập vào vòng tuần hoàn của cuộc đời, hòa vào dòng chảy chung của thời đại Thời kì này cũng đã xuất hiện tập truyện ngắn đầu tiên:

Truy ện quan trung cố vấn bên bờ đê (Tsutsumi chunagon monogatari) gồm 10 truyện

ngắn, những nhân vật trong các tập truyện này có tính cách kì quặc không giống như những nhân vật luôn thưởng ngoạn và nao lòng trước cái đẹp ở các sáng tác khác Họ thích nhìn

trộm qua khe cửa, nghe trộm người khác nói chuyện, phạm nhiều lỗi lầm, gặp những tình

huống dở khóc dở cười Và đặc sắc hơn cả là truyện Tiểu thư yêu sâu bọ (Mushi mezuru

himegimi) tính cách và hành động của tiểu thư yêu sâu bọ vượt ra khỏi lề lối giả tạo của xã

hội thời kì đó Tập truyện này chống lại thị hiếu về cái Đẹp đã được tôn thờ trong suốt một

thời gian dài, đánh dấu cho “ráng chiều” của thời đại Heian, những giá trị được tôn thờ qua bao năm tháng giờ đây bắt đầu tẻ nhạt Tác phẩm này “ngấp nghé” ngưỡng cửa cho những

đề tài thực tế, khám phá hiện thực “trần trụi” của con người Đỉnh cao của văn học Heian còn được đánh dấu ở sự nở rộ của thể loại tùy bút và nhật kí, với thể loại này tâm tư tình

cảm của con người được biểu lộ chân thật nhất, rõ ràng nhất Chính những tập tùy bút này

lại khắc họa rõ nét chân dung của tác giả, trong khi những tư liệu về họ chẳng còn lại được

bao nhiêu Tùy bút Ch ẩm thảo tử (Makura no Soshi) của Sei Sonagon là đỉnh cao của thể

loại này, cách viết của Chẩm thảo tử rất tự do, đề tài bao gồm tất cả kinh nghiệm, những

điều mắt thấy tai nghe, cảm tưởng về cuộc sống xung quanh Tác phẩm này có 300 đoạn in đậm dấu ấn cảm xúc và thẩm mỹ nhạy bén của tác giả… Thể loại tùy bút và nhật kí với đặc

Trang 22

20

trưng theo dõi những biến chuyển nội tâm, khả năng tự chiếu đã tạo điều kiện cho con

người “bật ra” tiếng nói cá nhân mạnh mẽ và nhạy bén

Văn học thời cận đại (thời kì Edo) là văn học bình dân, thời kì của văn chương phù thế

nổi tiếng với Ihara Saikaku (Tiểu thuyết), và Chikamatsu Mozaemon (Múa rối Joruri và ca

kịch Kabuki)…Đề tài nổi bật trong các tác phẩm của Chikamatsu là sự xung đột giữa Ninjo

và Giri Ninjo (nhân tình) là nh ững tình cảm và đam mê của con người, trong khi đó giri

(nghĩa lí) là những bổn phận và đạo lí Mối xung đột giữa cá nhân và xã hội đó rất khó hòa

giải, dẫn đến cái chết bi thảm của các nhân vật chính Giri của mỗi người tùy thuộc vào

hoàn cảnh: gia đình, thị tộc, giai cấp, xứ sở, thời đại, tư tưởng….Trong khi đó Ninjo là

những tình cảm cuồng nhiệt, say đắm của con người muốn vượt ra ngoài những ràng buộc

đó Tác phẩm tiêu biểu của đề tài này là Tự sát đôi ở Sonezaki, Tự sát đôi ở Amijima, Cây

thông b ật rễ, Cuộc chiến Kokusenya…), trong đó nổi bật tư tưởng của Chikamatsu muốn

nhân tình và nghĩa lí bổ sung lẫn nhau, quân bình trong cuộc sống Dù nhân tình thường

phải hi sinh nhưng chính vì vậy mà nghĩa lí trở nên khoan dung hơn Đóng góp lớn nhất của

thời kì Edo đối với văn học Nhật Bản là đã sản sinh ra thi sĩ-thiền sư kiệt xuất Basho với thể thơ Haiku thâu tóm “vũ trụ trong một hạt cát”:

Ta nhìn sâu xa Đóa hoa nở ở vết nứt trên tường

Bên hàng gi ậu nở Tôi nh ổ hoa ra khỏi vết nứt kia

Cành nazuna Gi ữ cả rễ lẫn thân trong tay tôi,

(Basho) Này hoa nh ỏ nếu tôi có thể hiểu được

Hoa là gì c ả rễ lẫn thân, tất cả mọi thứ,

Tôi có th ể biết được Chúa trời và con người là gì

(A.Tennyson)1

1 [39, tr7-9]

Tiến sĩ D.T.Suzuki chuyên gia nghiên cứu Thiền học của Nhật Bản sử dụng ví dụ này

để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa tư duy phương Đông và phương Tây, ở đây chúng

1 Alfred Tennyson (1809-1892) là m ột trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Anh, đề tài nổi bật trong thơ ông là truy ền thuyết cổ, vấn đề xã hội, sự quan sát thiên nhiên nhạy bén…

Trang 23

21

tôi sẽ xem xét kĩ hơn ở sự bộc lộ của con người cá nhân trong hai bài thơ này Chúng ta vẫn cho rằng người phương Đông yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên hơn người phương Tây,

bằng chứng là Basho không “thô bạo” như Tennyson, ông lặng lẽ nhìn ngắm bông hoa trong

sự sống của nó, trong sự hòa nhập của nó với đất trời bằng tình cảm đắm say của một người yêu quý thiên nhiên rất mực, còn Tennyson thì ngắt bông hoa ra khỏi sự sống của nó, xem xét nó từng “đường gân thớ thịt” bằng con mắt của lý trí, lối tư duy khoa học…Nhưng rõ ràng tư thế và khát vọng trước thiên nhiên của Tenyson là sự chủ động, dứt khoát và ham

học hỏi khác hoàn toàn so với Basho Thiền sư Basho ngắm cành hoa trong sức sống của nó, ông như một người bạn rất đỗi dịu dàng của hoa Nhưng có lẽ sâu xa hơn là sự tôn sùng tự nhiên và cảm nhận mình là một phần tự nhiên của Basho Người phương Tây nhận thức, khám phá và chinh phục tự nhiên còn người phương Đông thì dừng ở sự nhận thức, khám phá Họ luôn trong tâm trạng nương theo thiên nhiên để đạt đến trạng thái hòa hợp cùng vũ

trụ

Tennyson muốn từ bông hoa để hiểu hoa, hiểu mình, hiểu Chúa trời hay nói cách khác

là muốn truy nguyên về nguồn cội Nhà thơ tách mình ra, độc lập hoàn toàn với đối tượng đang tìm hiểu để nghiên cứu Con người cá nhân ở đây khao khát hiểu mình, hiểu người và

muốn hiểu cả vũ trụ bao quanh mình, đó là sự ham muốn vô cùng vô tận của một người tự

chủ, tự tin, độc lập và không bị ràng buộc Còn Basho thì lại tìm sự giải thoát ở một bông

hoa, con người cá nhân tìm sự đồng cảm, đồng thuận để cùng ngẫm nghĩ và thâm nhập

Không như Tenyson, để hiểu được bông hoa, Basho đã trở thành bông hoa và từ bông hoa Basho thẩm thấu bí mật của vũ trụ rồi quay trở lại chiêm nghiệm bản thân mình Đặc điểm

của con người cá nhân Nhật Bản hiển hiện rõ ràng qua bài Haiku của Basho

Về thực chất, Con người cá nhân trong văn học truyền thống Nhật Bản được hiểu

như thế nào? Đó không phải là con người thức tỉnh (trong xã hội Việt Nam thời trung đại)

vốn đã quen làm theo, nghe theo tiếng nói của một cộng đồng Đó cũng không phải con người cá nhân mạnh mẽ, dứt khoát của phương Tây luôn tìm cách vượt trội so với cộng đồng và cộng đồng tôn trọng điều đó như một giá trị thuộc về quyền và tư cách con người,

do đó con người được phát huy tự do và năng lực cá nhân một cách tối đa Ở Nhật Bản đó là

tự do trong phụ thuộc, cá nhân vẫn có mong muốn riêng, vẫn làm những điều mình thích nhưng họ vẫn nhìn về nhóm của mình Nữ thi sĩ Komachi thổn thức với tình yêu của mình

Trang 24

22

trong bài thơ Tanka, là đang hòa vào dòng chảy chung của những vần thơ trữ tình, của trào

lưu thời đó Sei Shonagon với tùy bút Chẩm thảo tử mang những suy tư và nhận xét riêng

của mình, là đang ghi chép lại cuộc sống của bộ phận quý tộc cung đình Họ luôn có một nhóm mà mình thuộc về và nhóm này không chiều theo những ham muốn cá nhân, vì thế cá

nhân không có điều kiện vượt lên trên nhóm (vượt lên không mang nghĩa tài năng nổi trội

mà là suy nghĩ và hành động chệch ra ngoài sự cho phép của nhóm) Xung đột giữa Giri và Ninjo được xem là biểu hiện rõ rệt nhất cho tính chất của con người cá nhân Nhật Bản, khi

mối quan hệ này trở nên “vô cùng mệt mỏi” thì Nhật Bản va chạm với làn sóng tự do cá nhân của phương Tây, những tưởng sẽ dung hòa vì tìm được lối đi mới nhưng con người cá nhân Nhật Bản về bản chất vốn đã khác biệt, lại chịu đựng thêm những xung đột mới vì không đạt được tự do theo mong muốn

Hai khái niệm Ninjo và Giri (biểu hiện cho sự xung đột giữa cá nhân và xã hội của

Nhật Bản) biểu hiện rõ rệt trong thời kì Edo và bùng phát mạnh mẽ ở thời kì Minh Trị Trong số các khái niệm từ phương Tây, các nhà văn Nhật Bản tiếp thu nhiều nhất chính là

Chủ nghĩa cá nhân, được thể hiện rõ rệt nhất trong thể loại tiểu thuyết tự thuật

(shishosetsu) Sự cô đơn của cá nhân tự ý thức đã trở thành chủ đề xuyên suốt của văn học thời kì này:

Cuộc Canh tân đã đặt nước Nhật vào bối cảnh quốc tế Đến nỗi, cả trên mặt bằng trong nước cũng như trong quan hệ với nước ngoài, Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ và cũng phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng nặng nề Những nhà trí thức thời đó cảm thấy cần có một nền văn học tiểu thuyết tạo cho người Nhật ở thời đại mới đó một tiếng nói riêng, và họ ra sức đi tìm nó Đây chính là bước đầu của cái mà người ta gọi là nền văn học Nhật Bản hiện đại Những người tiên phong của nền văn học này là những trí thức được giao một sứ mệnh, đều có một giọng nói và cách cảm nhận ăn sâu trong hiểu biết về những nhà văn cổ điển Trung Hoa Họ thêm thắt vào đó các nghiên cứu khác, đặc biệt là về văn học Nga, Đức, Pháp, Anh…Họ dịch riêng lẻ các tác phẩm châu Âu và dùng nó như bàn đạp

để tạo nên viễn cảnh của thời đại mới, khi đã cắt được ràng buộc với những qui ước của nền tảng văn học cũ Trong số đó có Shimei Futabatei, chuyên về văn học Nga, Sôseki Natsume, quen thuộc với văn học Anh, Ogai Mori, nghiên cứu tiếng Đức và Pháp Vậy là ở Nhật Bản đã tồn tại một dòng tiểu thuyết từ cách đây hơn một thế kỷ đã làm cầu nối giữa những trí thức thời Minh Trị với những nhà văn hiện đại.”[63]

Trang 25

23

Sau hơn ba trăm năm đóng cửa tuyệt giao với thế giới bên ngoài, Nhật Bản ngủ kĩ đã thức dậy trước làn gió mới từ phương Tây thổi tràn vào trên tất cả mọi lĩnh vực Nền văn học hiện đại, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân Văn học truyền thống, cổ đại của Nhật Bản, khi tiếp nhận ảnh hưởng văn học và tư tưởng mới của Tây Âu, thay đổi đặc thù thành nền văn học tôn trọng tính cá nhân và việc miêu tả con người, miêu

tả cá tính trở thành mục tiêu lớn nhất, được gọi là phương pháp tả thực, tiểu thuyết trở thành trung tâm của nền văn học hiện đại Vào thời kỳ này, văn học Nhật Bản đã hiện đại hóa với vai trò là nền văn học của nhân dân (từ văn học chính trị đến văn học của quần chúng nhân dân) Các trào lưu văn học nở rộ cùng nhiều trường phái lý thuyết khác nhau đã tạo nên bức tranh phong phú đầy màu sắc cho văn học thời kì này

Tiểu luận Bản chất của tiểu thuyết (Shosetsu shinzui) của Tsubouchi Shoyo

(1859-1935) xuất bản năm 1885, đã đặt nền móng cho nền lý luận văn học hiện đại: phủ nhận lập trường luân lý “khuyến thiện trừ ác” của những tác phẩm thời kì trước, chủ trương tôn trọng thái độ tâm lý khách quan, đề cao cảm xúc của con người Vì vậy nó còn được gọi là Chủ

nghĩa tả thực, tác phẩm tiêu biểu theo khuynh hướng này là Phù vân (Ukigumo) của

Futabatei Shimei Tác phẩm này diễn tả ảnh hưởng đậm nét của phong trào Âu hóa lên đời sống tình cảm của con người, đặc biệt là những thanh niên, đồng tiền và sự hào nhoáng có sức mạnh vô cùng chi phối tính cách của con người

Chủ trương của chủ nghĩa tả thực là nội dung của cuộc tranh luận văn học đầu tiên vào những năm 1890 khi một số nhà phê bình khác như Ozaki Yukio (1858-1954) và Shimada Saburo (1852-1923) nêu cao vai trò của một nền “văn học khai hóa” mang nặng tính giáo dục và xem cảm xúc con người như là biểu hiện của một loại văn học suy đồi Cuộc tranh luận giữa Kitamura Tokoku (1868-1894) và Yamaji Aizan (1864-1917) về những cá nhân kiệt xuất và con người bình thường trong văn học Trong khi Aizan quan niệm những con người bình thường cần được giáo hóa những vấn đề luân lý thông qua sự ngưỡng vọng những cá nhân kiệt xuất thì Tokoku lại ý thức sâu sắc về sự cảm thông của những cá nhân kiệt xuất hướng tới đám đông vô danh, và nhấn mạnh giáo dục không thể thực hiện được nếu thiếu sự cảm thông

Một khuynh hướng quan trọng khác được hình thành sau chiến tranh Nhật-Thanh là khuynh hướng lãng mạn Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này đả phá truyền thống (hình thức và đạo đức cũ) để tìm sự giải phóng của bản ngã về mặt tình cảm qua đại diện là

Trang 26

24

nhà văn Kitamura Tokoku và những tác phẩm buổi đầu của Mori Ogai Chiếm vị trí chủ lưu trên văn đàn vào cuối thời Minh Trị là chủ nghĩa tự nhiên Nếu chủ nghĩa tả thực tìm cách diễn tả một cách khách quan hiện thực thì chủ nghĩa tự nhiên chú trọng phân tích con người

và xã hội để đi tìm chân lý

Từ việc điểm qua những trào lưu chính của văn học Nhật Bản cận hiện đại, chúng ta nhận thấy đề tài chủ yếu ở thời kì này là sự xung đột giữa mới và cũ, tuy nhiên nó chỉ ở bề nổi, sự xuất hiện của con người cá nhân với tiếng nói riêng tha thiết mới tạo nên sóng gió trong thời kì này Giá trị con người cá nhân trong văn học Nhật Bản tiếp nối dòng chảy quá khứ, không chỉ thể hiện trong chuỗi quan hệ và sự ràng buộc của xã hội mà còn “xoay sở trong bầu không khí của những giá trị ngoại nhập”

“Bề mặt” của thời đại Minh Trị là tôn trọng tự do cá nhân, nhưng tự do ấy là do tầng lớp cầm quyền quy định, yêu cầu và bắt buộc Cá nhân thực chất không có được tự do như mình mong muốn Văn học thời kì này phát triển mạnh mẽ bởi những ý thức cá nhân muôn hình muôn vẻ, nó không chỉ là biểu hiện của tiếng nói tự do mà còn là tiếng nói đòi hỏi tự

do, tiếng nói yêu cầu được lắng nghe

1.3 Natsume Soseki và l ập trường cá nhân

1.3.1 Lập trường cá nhân trước xã hội

Natsume Soseki được sinh ra ở Tokyo vào năm 1867, chỉ một năm trước khi bắt đầu

thời đại Minh Trị Duy Tân Soseki ra đời khi cha mẹ ông đã già vì vậy ông được gửi đi làm con nuôi trong tám năm Ông có niềm say mê đặc biệt với văn học Trung Quốc và văn học truyền thống Nhật Bản, tuy nhiên ông lại chọn con đường sự nghiệp của mình theo xu hướng chung của tinh thần hiện đại hóa thời hiện đại Ông chọn học Tiếng Anh và trở thành

một trong những sinh viên xuất sắc khoa văn học Anh của trường đại học Tokyo Sau khi

tốt nghiệp, Soseki dạy tiếng Anh tại các trường trung học Ông kết hôn ngay sau đó và cuộc hôn nhân không hạnh phúc đã để lại dấu ấn sâu đậm trong những sáng tác của ông Tình

cảm vợ chồng trong tác phẩm của Soseki thường rất lạnh nhạt

Nhật Bản thời kì Tokugawa khiến giới phương Tây kinh ngạc bởi sự thịnh vượng

của nền giáo dục Nền giáo dục Tokugawa đã để lại một tài sản giá trị: số lượng người dân

biết đọc biết viết ngày một tăng, đội ngũ nhân tài đông đảo, chính sách chú trọng bồi dưỡng năng lực, tinh thần và đạo đức Nó được coi là nền tảng để triều đại Minh Trị thực hiện

Trang 27

25

chính sách giáo dục mới Để theo kịp các nước phương Tây, chính quyền Minh Trị chủ trương gửi nhân tài đến học tập tại các nước tiên tiến Soseki được cử sang Anh du học trong chương trình “Học tập phương Tây” của Nhật Bản, ông đến nước Anh trong tâm trạng không thoải mái Tâm lý sợ hãi và tự ti trước sự xa lạ và khác biệt văn hóa khiến ông thu mình lại Giữa hai bờ Đông-Tây, Soseki chủ trương khẳng định lập trường cá nhân của riêng mình, vấn đề này trở thành cốt lõi trong phương châm sống và sáng tác của ông Soseki luôn chú trọng đến tự do của mỗi cá nhân, chèn ép tự do là không tuân theo quy

luật tự nhiên Ông cho rằng chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa dân tộc không nhất thiết phải đối chọi nhau Cá nhân có tự do của riêng mình nhưng khi đất nước cần, con người biết tiết

chế tự do của mình để thực hiện nghĩa vụ với đất nước Tư tưởng này xuất phát từ cái nhìn

về thời cuộc của Soseki: làn sóng hiện đại hóa nhanh chóng đã cuốn con người vào vòng xoáy mù quáng, bắt chước phương Tây không hề suy tính Để tránh trở thành nô lệ của các nước Tây Âu, Soseki muốn nước Nhật nhận thức rõ tầm quan trọng của cá nhân

Là một người khép kín và khó tiếp nhận những gì khác lạ vì vậy đến nước Anh xa xôi quả là một thử thách lớn đối với Soseki Đây cũng là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc

đời của ông: “Hai năm trải qua ở Anh là hai năm khó chịu nhất trong đời tôi…Trong số các

quý ông Anh, tôi sống như một con chó xù xì trong một bầy sói" [72] Điều đặc biệt là Soseki

rất hay ví von so sánh mình và những người không tốt với những con chó Trong bài phát biểu khi từ bỏ vị trí giảng viên tại trường đại học về làm việc cho báo Asagi, hình ảnh ví

von này được lặp lại: “Khi còn giảng dạy tại các trường đại học, tôi đã bị bao vây bởi

những con chó không ngừng gào thét, vô cùng khó chịu Những con chó là một phần lý do khiến những bài giảng của tôi tệ hại” [72] Chính lối sống khép kín và thu mình đã cho

Soseki một cái nhìn kĩ lưỡng về thế giới phương Tây hào nhoáng trước mắt vì thế mục đích quan trọng đến Anh của ông là nhằm: “Để từng bước tìm hiểu về bốn chữ “tự chủ bản thân”

và để chứng minh điều đó, ông đã say sưa với những nghiên cứu khoa học và những suy tưởng triết học Với mục đích xây dựng lập trường cá nhân của mình, Soseki đã có sự so sánh giữa Nhật Bản và phương Tây phong phú và sâu sắc: các mẩu ghi chép, thư từ, nhật ký

của ông là sự quan sát kĩ lưỡng đời sống văn minh phương Tây :

“Etiquette của phương Tây thì rất phức tạp, còn ngược lại ở Nhật Bản thì lễ nghĩa chỉ

là sự bảo vệ cái tôi ích kỷ mà thôi Đặc biệt là Nhật Bản không thoát được tính artificiality nên tuy không lễ nghĩa mà lại có artificiality, và cũng có vulgarity gắn liền với sự thiếu lễ

Trang 28

26

nghĩa trong giao tiếp, còn nếu không có lễ nghĩa mà có spontaneity thì chưa hẳn có lợi mà còn có hại, thêm vào đó còn có cái hại của nghi lễ là sự ngớ ngẩn”.(Nhật ký ngày 15 (thứ

hai) tháng 4 năm Minh Trị 34)

Vì nguyên tắc chính trong giao tiếp ở phương Tây là không làm tổn thương hay phật ý người khác, nên họ không để cho người ngoài nhận thấy vẻ mặt hay tâm trạng không vui của mình Có thể nói việc che giấu tình cảm là rất cần thiết, tuy nhiên điều đó không được thể hiện rõ ở người Nhật Bản.” (Mẩu ghi chép số 12, năm Minh trị 34) [72]

Yukichi Fukuzawa, nhà tư tưởng chính trị lớn nhất của Nhật Bản thời Minh Trị cho rằng: “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân.”Với cách nghĩ này, Soseki nhận định

thời Minh Trị là thời kỳ hạn chế sự phát triển cá nhân: “Đất nước lâm nguy thì tự do cá

nhân bị hạn chế, đất nước thái bình thì tự do cá nhân được mở rộng, đó là chuyện đương nhiên Nếu đã có dù chỉ một chút nhân cách cũng không thể nào bỏ qua điều đó để có thể thờ ơ, bàng quan và chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân trong trường hợp có nguy cơ mất nước” Mặt khác, ông lại kiến giải rằng: “Quốc gia là quan trọng, nhưng rõ ràng chúng ta không thể cứ nhắc mãi từ “quốc gia” suốt ngày để tỏ ra gắn bó với tổ quốc” [72] Chính

kiến này cho thấy Soseki có cách nhìn sâu sắc từ sự tiếp thu vấn đề cá nhân ở phương Tây Con người phương Đông luôn tôn sùng quốc gia, cống hiến trọn vẹn, làm “mờ hóa” bản thân Nhưng muốn phát triển một quốc gia thịnh vượng tất yếu mỗi cá nhân phải tự tu dưỡng, vừa biết phát huy bản thân vừa biết kiềm chế để hòa vào lợi ích chung mới là một cá nhân xuất sắc

1.3.2 Lập trường cá nhân trong sáng tác văn chương

Natsume Soseki thuộc trường phái Dư Dụ còn gọi là trường phái văn chương Cao sang, chống lại chủ nghĩa tự nhiên Ông thấm nhuần tư tưởng trong cuốn Văn chương Anh

th ế kỉ 18 Kinh nghiệm rút ra từ chủ nghĩa hiện thực của văn chương Anh giúp Soseki thấy

được hạn chế của lối miêu tả theo chủ nghĩa tự nhiên: chủ trương sáng tác những tác phẩm chan chứa tình cảm và làm xúc động lòng người Ông lo ngại sự sùng bái quá mức chủ nghĩa vật chất của phương Tây sẽ gián tiếp dẫn đến sự sùng bái chủ nghĩa tự nhiên

Soseki được biết đến không chỉ là cây bút đầy nội lực trong sáng tác mà còn là nhà lí

luận sắc sảo trong những công trình lý luận Những tác phẩm lý luận Bungakuron(Văn học luận, 1907), Bungaku hyoron (Văn học bình luận, 1909), tiểu luận Gendai Nihon no kaida

Trang 29

27

(Kỷ nguyên ánh sáng của nước Nhật Bản hiện đại, 1911), Watashi no kojinshugi (Chủ

nghĩa cá nhân của tôi, 1915) …Ở lĩnh vực sáng tác hay lí luận Soseki đều hướng đến mục

đích khám phá bản chất của văn học.Trong Bungakuron.Từ vốn kiến thức uyên bác về văn học Anh Năm 1907 ông xuất bản Bungakuron, nêu tính cấp thiết của việc đọc Soseki sử

dụng phương pháp tiếp cận của tâm lý học hiện đại và xã hội học, ông tạo ra một mô hình

để nghiên cứu các kinh nghiệm có ý thức của văn hóa đọc theo thời gian theo từng nền văn hóa Điều này được ông tiếp tục phát triển trong các bài tiểu luận, nghiên cứu trong suốt sự nghiệp của mình

Natsume Soeki khẳng định hai yếu tố then chốt trong văn học: tri giác và cảm xúc Tri giác mà không cảm xúc thì là tri giác trong nhận thức khoa học, cảm xúc mà thiếu tri giác thì đó chỉ là tiền-văn chương Nhận định này tuyên chiến với lý thuyết của chủ nghĩa tự nhiên, vốn chủ trương viết tự thuật bằng phong cách thông tục, thiếu dấu ấn tư tưởng và tình

cảm của tác giả Với đánh giá sâu sắc về văn học Anh thế kỷ XVIII tiểu luận Bungaku

hyoron đặt ra những tiêu chí mà người Nhật cần có để thưởng thức văn học ngoại quốc Tiểu luận của Soseki chú ý nhiều đến các khái niệm triết học, tác động của công nghiệp hóa

và hiện đại hóa đến con người…

Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm của Soseki, thì những tư liệu về cuộc đời ông lại không mang tính quyết định để khám phá những nhân vật khác của nhà văn Như nhà văn Marcel Proust đã từng viết: “Con người nhà văn trong đời thực và con người nhà văn trong tác phẩm chẳng mấy quan hệ gì với nhau.” Với Soseki, trong nội tại tác phẩm ở giai đoạn đầu, tính cách nhân vật có sự biến đổi phức tạp bởi lẽ : nhân vật chịu sự tác động của sự

kiện, chính vì thực tại luôn biến động và chảy dòng thời gian, sự kiện không theo ý muốn

chủ quan của tác giả nên nhân vật của Soseki luôn mới lạ, luôn vận động, luôn đem lại cảm giác thích thú được tìm hiểu cho độc giả Điều này xuất phát từ phương châm sáng tác của Soseki: xem xét tác phẩm phải trong hoàn cảnh xã hội

Từ những vấn đề đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki cần đặt trên nền tảng Nhóm xã hội Nhật Bản; Vấn đề con người

cá nhân có sự tiếp biến từ truyền thống và giao thoa văn hóa phương Tây; Nguồn tư liệu về tình hình xã hội Nhật Bản thời kì Minh Trị là cơ sở quan trọng để tìm hiểu những vấn đề con người cá nhân trong các sáng tác của Soseki

Trang 30

tiếng nói cảnh báo, nó khác tiếng nói khát khao đòi hạnh phúc cá nhân trong sự ràng buộc

của lễ giáo phong kiến Muốn tìm hiểu cặn kẽ vấn đề Con người cá nhân phải nhìn nhận nó

trong tập thể, đặc biệt đối với Nhật Bản, đất nước có truyền thống lâu đời về nhóm xã hội Nhân vật của Soseki được miêu tả trong nhóm xã hội của mình, bao gồm cả gia đình, bạn

bè Tuy nhiên bản chất của nhóm trong tác phẩm của Soseki còn mang một ý nghĩa khác Sự

kết nối giữa các cá thể chỉ là bề ngoài, không phải là sự kết nối bền chặt, mãn nguyện, mà là

kết nối bắt buộc do tâm lí sợ lạc lõng, sợ cô độc Từ khái niệm nhóm truyền thống đến nhà văn cận hiện đại Soseki đã mang thêm nét nghĩa mới, biểu trưng cho sự rạn vỡ từ bên trong

Cấu trúc trong tác phẩm Soseki được chúng tôi khảo sát đó là: qua sự kiện tác con người hành xử lưỡng phân (giữa yêu cầu của nhóm hay nhu cầu của chính bản thân mình), từ đó tính cách con người được bộc lộ Vấn đề con người cá nhân trong các sáng tác

động-thời kì đầu của Natsume Soseki được chúng tôi khảo sát từ cá nhân trong tương quan với xã

hội đến cá nhân đối diện bản ngã (Người viết nhấn mạnh)

2.1 Cá nhân cô đơn giữa Nhóm

2.1.1 Cá nhân cô đơn giữa tình thân

Lối ứng xử theo cộng đồng đều có cả ở Đông- Tây nhưng ở phương Đông nó mang

nặng tính thống thuộc một cách tự nguyện Ở Nhật Bản, hãy xem nhóm của anh ta sẽ biết anh ta là người như thế nào Nhân vật trong tác phẩm của Soseki rất đặc biệt bởi không thể đoán biết nhân vật trong nhóm của họ Khái niệm nhóm và cá nhân thuộc về nhóm trong tác

phẩm của Soseki có chiều kích phức tạp hơn

Với người Nhật, tất yếu ai cũng có một nhóm cụ thể, người thân trong gia đình là nhóm thân thiết nhất.Soseki miêu tả những con người cô đơn ngay chính trong những mối quan hệ thân thiết nhất Ông đi từ cấp độ gần gũi nhất đến xa nhất của nhân vật trong nhóm

và đi theo chiều ngược lại của thước đo tình cảm: càng thân thiết càng lạnh nhạt, càng xa lạ càng tin tưởng (Người viết nhấn mạnh) Trong mối quan hệ gia đình, những nhân vật của

Trang 31

29

Soseki đều không tìm được sự chia sẻ Ngay cả vợ chồng đầu gối tay ấp cũng dấy lên sự hoang mang về sự gắn kết tình thân đang vụn vỡ Tình yêu trong tác phẩm của Soseki thường bị bóp méo và miêu tả với giọng điệu châm biếm Tình yêu, tình nghĩa vợ chồng không có sự thấu hiểu và đồng cảm

Ông giáo Kushami trong Tôi là con mèo là điển hình cho người đàn ông ghét vợ, ông

ta luôn càu nhàu và châm chọc vợ mình, luôn thao thao bất tuyệt những điều bà vợ không

biết Ông ta ngồi điềm nhiên trong khi người vợ cuống quýt hỏi bạn ông cái tên ông chồng

vừa gọi châm biếm mình có nghĩa là gì? Là hình ảnh hài hước và xót xa Họ sống mà không quan tâm nhau, từ cái thắt lưng đến cái áo khoác lụa Haori, chỉ đến khi nhà bị mất trộm, đối phương mới biết người đầu gối tay ấp của mình có trang phục như thế nào Cô gái Nami và

người chồng trong Gối đầu lên cỏ tồn tại như hai người quen biết lâu ngày, họ không hiểu

gì về nhau và quan hệ vợ chồng của họ rất mong manh Tình cảm vợ chồng trong những tác

phẩm của Soseki nổi bật cảnh “đồng sàng dị mộng”, càng trăn trở, càng muốn biết họ lại càng không biết gì về nhau Tác phẩm sáng tác trong giai đoạn chuyên nghiệp: Nỗi lòng

(Kokoro) miêu tả một người vợ đến tội nghiệp, nếu nói rằng Tiên sinh là một người đàn ông yêu vợ hẳn đó là một tình yêu méo mó, người vợ chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc Bà không thể bước vào “thế giới” của ông, bà bất lực và quay quắt trong ý nghĩ dằn vặt cả đời

rằng mình là nguyên nhân của nỗi buồn dai dẳng trong ông, là một phần của xã hội mà ông

vô cùng căm ghét

Những tác phẩm của Soseki khiến độc giả thấy nhói lòng về mối quan hệ gia đình lỏng

lẻo, chông chênh… Trong gia đình, cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) là một cái gai, mẹ đuổi cậu

đi đến ở nhà bà con, không muốn gặp mặt cho tận đến lúc lâm chung; cậu bị ông bố xem là người vô tích sự, không bao giờ gần gũi Quan hệ giữa cậu với anh là tranh giành, đánh nhau…Khi cha mất, mối dây liên hệ duy nhất giữa hai anh em cũng không còn nữa, họ giải quyết mối quan hệ bằng việc chia tiền và đường ai nấy đi “kể từ đó tôi không gặp anh nữa”

[34, tr.28] Câu nói này được lặp lại cuối tác phẩm, là cái kết của mối quan hệ giữa cậu ấm

và Nhím (Sau khi trừng trị Áo Đỏ và Hề Trống, cậu ấm và Nhím chia tay nhau: “Tôi chưa

có d ịp gặp lại hắn lần nào” [34, tr.234] Trong cuộc đời mình, cậu ấm “lỗi hẹn” với mọi

mối quan hệ thân thiết, cho đến cuối cùng bà Kiyo-người quan tâm cậu cũng không ở bên

cậu lâu dài

Trang 32

biết Phòng khách của ông giáo là nơi họp mặt của những trí thức nhàn rỗi để họ tạo dựng

mối quan hệ Ngoài ra, giữa họ không có sự gắn bó thân thiết nào khác Những trí thức trong tác phẩm của Soseki là những người nhàn rỗi và tỏ ra nhàn rỗi, họ không muốn tham gia vào thế sự Anh Kanghetsu (Tôi là con mèo) luôn bận bịu về luận án tiến sĩ với đề tài về

lực học, treo cổ (những đề tài như những câu chuyện phiếm) và mục đích làm luận án tiến sĩ

là được cưới tiểu thư giàu có Chàng họa sĩ (Gối đầu lên cỏ) nhàn nhã buồn tình tìm đến nơi

thôn dã Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) không bận rộn với việc giảng dạy mà rất nhàn rỗi quan

sát người khác…Kiểu nhân vật trí thức này được Soseki miêu tả khá tinh tế, thay vì phải

cống hiến cho đất nước, họ thu mình lại, không quan tâm tới quốc gia đại sự, họ lặng lẽ với

thế giới riêng của mình

Thật khó để tìm kiếm tình bạn đích thực trong tác phẩm Soseki, bề ngoài họ rất hợp nhau, cùng chung chí hướng mỉa mai xã hội nhưng về thực chất họ không hề có bạn, họ là

những người thấy người khác na ná giống mình và tìm đến (nhận thức này dựa trên ý thức nhóm, họ cho rằng mình thuộc về nhóm đó và cảm thấy cần phải sinh hoạt trong nhóm đó, các cá nhân tồn tại như những mảnh ghép không vừa vặn) Cậu ấm và Nhím (Cậu ấm ngây

thơ) là những người cùng chung chí hướng trả đũa Áo Đỏ, họ tạm thời sát cánh bên nhau,

họ cảm thấy cô độc khi không có chiến hữu, Nhím không dám phản kháng cho đến khi cậu

ấm xuất hiện, cậu ấm không biết trả đũa Áo Đỏ thế nào nếu không có Nhím Cùng đi trên

một con đường ngắn và khi đạt được mục đích, họ tách ra, không gặp lại nhau nữa

Ông giáo Kushami xem Kangetsu là học trò ưng ý nhất của mình nhưng cũng không

hiểu hết về anh ta, không biết anh ta kết hôn khi nào, ông giáo thờ ơ với học trò khi đến nhờ ông giúp đỡ Mối quan hệ thầy trò vốn thiêng liêng trong truyền thống nhưng dưới ngòi bút

của Soseki hiện lên thật méo mó Nếu tinh ý với những sự việc gây phiền toái cho ông giáo

Hắt hơi (Tôi là con mèo) thì nguyên nhân đều bắt nguồn từ mối quan hệ thầy trò, điều này

gây sự ảo não vô cùng cho ông giáo Kushami Mối quan hệ nảy lửa giữa cậu ấm và học trò

(C ậu ấm ngây thơ) là sự phản ánh sinh động nền giáo dục còn nhiều bất cập

Trang 33

31

Truyền thống ứng xử của người Nhật được chia thành Bên trong và Bên ngoài Bước

ra ngoài ranh giới Bên trong là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác trong không gian Bên ngoài Nếu nói: “Hắn ta tốt bên ngoài nhưng xấu bên trong” theo cách hiểu của người Nhật,

tức là là cách nói chê bai người đó vì tính ích kỉ và cư xử khó khăn với người trong nhà, trong khi các mối quan hệ bên ngoài của anh ta lại được coi là dễ chịu và đáng trọng, điều

này được minh chứng rõ ràng qua hình tượng ông giáo Kushami (Tôi là con mèo) Ông ta

coi vợ như một người đáng ghét, luôn chê bai, không muốn nói chuyện nhưng ông ta sẵn sàng ngồi liền hàng giờ để nghe câu chuyện phiếm của ông bạn Meitei dù hay cằn nhằn ông

bạn mình, ông quan tâm đến học trò Kangetsu của mình hơn là để mắt đến ba cô con gái

nhỏ… Trong tác phẩm của Soseki, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội thường rất trái ngược nhau

2.1.2 Cá nhân kiếm tìm sự đồng cảm

Tiểu thuyết Gối đầu lên cỏ có khung cảnh nên thơ, hữu tình, có cặp nhân vật chính là

chàng họa sĩ và cô gái đẹp trong làng nhưng họ không làm nên một câu chuyện tình Hai nhân vật chính được Soseki sắp đặt trong một mối quan hệ khác: mối quan hệ tri kỷ Nami không tìm được sự đồng điệu với người chồng đầu gối tay ấp nhưng cô lại tìm thấy cảm giác ấy khi gặp chàng họa sĩ Soseki tô đậm những vết nứt của quan hệ huyết thống, quan hệ

vợ chồng, ông đặt sự xa cách trong quan hệ tình thân bên cạnh sự khát khao đồng cảm từ người ngoài, chỉ như vậy con người cá nhân đã đủ chạm đến nỗi cô đơn dù có rất nhiều mối quan hệ

Nami là một nhân vật rất đặc biệt, cô thoắt ẩn thoắt hiện như một bức tranh Trong

mắt dân làng, Nami là một người bất hạnh trong tình cảm Cô yêu một người nhưng bị ép

lấy người khác Khi chồng phá sản, cô trở về với gia đình nhưng thật ra đó không còn là gia đình của cô nữa Nami không có bất kì một sự gắn kết nào của tình thân, rời bỏ chồng, gia đình không thấu hiểu, họ xem cô là vết nhơ, Nami lạc lõng giữa những người ruột thịt Chỉ khi chàng họa sĩ đến, cô mới được thấu hiểu Cô có thể trò chuyện, chia sẻ quan niệm sống, cái chết, lẽ thật giả trong cuộc đời:

“Tóm l ại là những biểu hiện trên gương mặt cô không thể nào thống nhất về một kiểu

Gi ống như mê và ngộ tranh đấu với nhau nhưng vẫn tồn tại cùng nhau dưới một mái nhà

Ch ắc hẳn cái vẻ không hài hòa trên gương mặt cô gái này là bằng chứng cho sự thiếu cân

Trang 34

32

b ằng trong tâm hồn, và sự thiếu cân bằng trong tâm hồn gắn với tình trạng mất cân bằng trong th ế giới của cô Đó là gương mặt thể hiện một con người bị bất hạnh đè nén và đang

ch ống chọi với bất hạnh Rõ ràng đây là một cô gái không hạnh phúc.” [38, tr.62]

Cũng giống Nami, cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) bị gia đình chối bỏ Những hành động

và việc làm của cậu vượt quá giới hạn cho phép của gia đình Cậu đã khiến gia đình loại trừ mình ra khỏi nhóm nhưng cậu lại có được lòng thương yêu không toan tính của người giúp

việc-bà lão Kiyo:

“Ch ỉ qua những lời khen ngợi của bà tôi đã tự biết mình là kẻ đạo đức kém nên không mong ch ờ được một ai dù là kẻ thấp hèn yêu mến Với mọi người tôi chỉ là một thằng bỏ đi

Th ế mà lại được một người như bà Kiyo này yêu quý, chiều chuộng, tôi đâm ra nghi

ng ờ.Thỉnh thoảng ở trong bếp vắng không có ai, bà thường khen tôi :

C ậu có tính tốt là rất thẳng thắn

Tôi không hi ểu lời bà nói, bởi nếu quả là tôi có tính tốt như vậy thì ngoài bà ra những người khác cũng phải đối xử với tôi tốt như vậy chứ! Mỗi lần bà nói như thế bao giờ tôi cũng nói tôi ghét nghe những lời nịnh nọt Lúc đó bà lại vui vẻ nhìn vào mặt tôi mà bảo:

của Cậu ấm hợp với suy nghĩ của Kiyo, ngay cả chuyện cậu đặt biệt danh cho tất cả giáo viên trong trường (một việc không bình thường) bà cũng ngầm hưởng ứng, khuyến khích

Khảo sát một số tác phẩm của Soseki, đặc biệt là giai đoạn sau, chúng tôi nhận thấy

một quan niệm tình cảm xuyên suốt của Soseki, cũng là nền tảng cho quan niệm nhóm của

ông: đó là sự đồng cảm Soseki thường xây dựng những mối quan hệ tay ba có yếu tố đồng

tính Tam giác tình cảm này được xây dựng dựa trên sự đồng cảm và bền chặt hơn cả tình yêu tình vợ chồng Ông giáo Kushami thân thiết với Meitei hơn cả vợ mình, ông có thể dành

thời giờ để giải thích với Meitei những điều ông nói, có thể tiếp Meitei bất cứ lúc nào, luôn tin tưởng vào những gì Meitei nói Meitei và người vợ luôn mang đến cho ông giáo

Trang 35

33

Kushami sự phiền phức, nhưng cái chịu đựng phiền phức đối với Meitei thật rộng lượng còn

với vợ, ông luôn cau có Ở những tác phẩm giai đoạn đầu, mức độ xa cách giữa mối quan hệ

vợ chồng còn mang tính châm biếm, chưa sâu sắc nhuần nhuyễn và rõ rệt bằng những tác

phẩm ở giai đoạn sau, đặc biệt là tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro) Tiên sinh lần lượt có hai mối

quan hệ với K và Tôi, cả hai đều gắn bó thân thiết với ông đến nỗi, người vợ chỉ như cái bóng lặng lẽ bên ông chồng Quan hệ vợ chồng theo quan niệm của Soseki không chỉ đơn thuần là hai người sống với nhau, ông cho rằng vợ chồng cũng là hai cá nhân: “Muốn sống

chung v ới nhau thì cái cá nhân sống chung ấy cũng phải hòa hợp với nhau chứ!?” [38,

tr.563] Điều này giải thích vì sao tình cảm vợ chồng trong Soseki thường được miêu tả là

những cá nhân không hòa hợp như những “mảnh ghép” tạm thời

Nhân vật cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) bề ngoài là một nhân vật đơn giản nhưng là cá

nhân có vấn đề trong các mối quan hệ Anh ta “loay hoay” trong quan hệ giữa Nhím và Áo

Đỏ nhưng lại thấy gắn bó với Bí Đỏ, cách miêu tả của Soseki về một anh chàng mạnh mẽ nóng nảy luôn cảm thấy thương tình và rất ân cần với Bí Đỏ rụt rè, nhỏ nhẹ cho người đọc

cảm giác về một người đàn ông mạnh mẽ muốn làm chỗ dựa cho một cô gái yếu đuối Trong cách ứng xử với Áo Đỏ, Áo Đỏ dù đối xử với Nhím thế nào, cậu ấm cũng không mấy

bận tâm nhưng khi Áo Đỏ tàn nhẫn với Bí Đỏ, cậu ấm lại không giữ được bình tĩnh, không

muốn mình là người nhận lương của Bí Đỏ-người mà anh ta quý mến Có thể nói việc Bí Đỏ

bị đẩy đi dạy học ở tỉnh xa là nguyên cớ mãnh liệt nhất khiến cậu ấm bàn với Nhím về kế

hoạch trả đũa Áo Đỏ Nhân vật Tôi trong mối quan hệ giữa cha mẹ và Tiên sinh trong Nỗi

lòng không đơn thuần chỉ là sự giằng xé giữa truyền thống và hiện đại nữa, đó là tình cảm hướng đến một con người thực sự thuộc về thế giới của mình Hành động bỏ lên tàu của Tôi trong khi cha hấp hối chưa biết mất lúc nào chứng tỏ Tôi không thể thiếu Tiên sinh dù biết ông không còn trên cõi đời này nữa

Mối quan hệ tay ba trong tác phẩm của Soseki còn mang ý nghĩa khác Tác phẩm

C ậu ấm ngây thơ miêu tả cuộc tình tay ba giữa Bí Đỏ-Madona-Áo đỏ, Áo đỏ mặc dù là

hiệu phó nhưng đã chiếm đoạt vợ chưa cưới của đồng nghiệp, tình huống chiếm đoạt người yêu hay vợ của bạn là tình huống thường thấy trong tác phẩm của Soseki Tác phẩm Từ dạo

ấy (Sorekara) một tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác chuyên nghiệp của Soseki cũng kể về

cuộc sống của một cặp vợ chồng mà theo ông mô tả “sự thương yêu và thỏa mãn khó tìm

thấy ở những cặp vợ chồng khác” nhưng nó vẫn chứa đựng điều gì đó bất ổn bởi nhân vật

Trang 36

34

chính Sosuke đã phản bội bạn mình là Yasui để chiếm đoạt O Yone - người yêu của bạn Tình huống tương tự được gặp lại trong tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro): Tiên sinh sống suốt

đời trong dằn vặt vì đã gián tiếp đẩy bạn mình là K vào cái chết khi cầu hôn người trong

mộng của K Chúng tôi cho rằng mối quan hệ tay ba với tình huống chiếm đoạt vợ của bạn được Soseki sử dụng như ngụ ý cảnh báo hậu quả của việc chiếm đoạt những thứ không thuộc về mình, là hiện tượng phổ biến trong làn sóng chạy theo một cách mù quáng văn minh phương Tây Mối quan hệ tay ba trong tác phẩm của Soseki không đơn thuần là tranh giành tình cảm mà mang nhiều sức gợi Cuộc tình giữa Bí Đỏ-Madona-Áo Đỏ là sự giễu cợt

những người đàn bà hay thay đổi, chính xác hơn là sự phân vân lưỡng lự: bỏ lại truyền

thống và ngả về phía hiện đại Soseki đã miêu tả Áo Đỏ với một phong cách rất Tây, từ cái

áo sơ mi đỏ hắn mặc nhằm để nổi bật hơn người khác đến cái lối nói ẽo ợt giọng mũi như con gái và đệm tiếng Tây, tất cả nhằm giúp hắn trở nên sang trọng hơn trong mắt mọi người cùng cái mác hiệu phó của hắn Điều này không khó giải thích vì sao cô gái xinh đẹp nhất vùng mặc dù đã có hôn ước với Bí Đỏ (người đàn ông hiền lành đúng kiểu truyền thống)

vẫn ngả vào vòng tay của Áo Đỏ Tình yêu tay ba thể hiện sự phân vân giữa truyền thống và

hiện đại từng được Fusatabei khai thác trong Phù vân (Ukigumo) Nhiều nhà phê bình cho

rằng tên gọi Phù vân ám chỉ số phận nổi trôi của cô gái Osei do sự sắp đặt hôn nhân của bà

mẹ nhiều toan tính Ban đầu bà định gả Osei cho Bunzo, nhưng khi biết Bunzo vừa thất nghiệp, bà ta lại nghiêng sang Noboru, một người biết thu phục lòng người bằng nhiều phương cách và quan trọng nhất là đang thăng tiến trong sự nghiệp Nhưng sự đời không đơn giản, khi hôn lễ chuẩn bị diễn ra, Noburo lại dan díu với cô em vợ của thủ trưởng cơ quan Bà Omasa toan tính làm khổ Bunzo-người cháu họ lại bị chính sự toan tính khác làm

dở dang đời con gái mình Nhưng chính nàng Osei ban đầu quyến luyến Bunzo, một chàng trai hiền lành nhút nhát, sống theo chuẩn mực đạo đức Samurai nhưng khi nghe những lời tán tỉnh và hứa hẹn của Noburo, Osei lại lao vào vòng tay của anh ta Osei là nhân vật điển hình trong xã hội Nhật Bản thời Minh Trị đầy vấn đề tiêu cực Nàng nhẹ dạ, ham chuộng lối

sống phương Tây, dễ bị cám dỗ của vật chất

Khi khảo sát những mối quan hệ tay ba trong sáng tác của Soseki chúng tôi nhận thấy bên cạnh yếu tố chủ chốt là sự đồng cảm, Soseki đặc biệt chú trọng ở khía cạnh an toàn

Những cá nhân dưới ngòi bút của Soseki luôn cảm thấy mình cô độc, lẻ loi bởi tiếng nói yếu

ớt lọt thỏm giữa xã hội Các nhân vật thân thiết với một người nào đó cho họ cảm giác an

Trang 37

35

toàn (họ không bị xâm hại đến vỏ bọc, bảo vệ được suy nghĩ riêng của mình) Đó là mối quan hệ giữa ông giáo và con mèo trong Tôi là con mèo (chỉ mình ông giáo cho con mèo tá

túc, và bảo vệ nó đến cùng dù nó rất tệ), Cậu ấm và Kiyo, Cậu ấm và Bí Đỏ trong Cậu ấm

ngây thơ (nhân vật này không tiếc tình cảm cho Bí Đỏ nhưng lại rất dè chừng Nhím), chàng

họa sĩ và cô gái trong Gối đầu lên cỏ (cô gái cô độc tìm thấy sự đồng cảm và thấu hiểu từ

chàng họa sĩ)

Những cá nhân trong sáng tác của Soseki càng thất vọng về sự gắn bó tạm bợ bao nhiêu họ càng có nhu cầu mãnh liệt về sự gắn bó đồng cảm bấy nhiêu Sự gắn bó giữa một nhóm người không chỉ dừng lại ở những yếu tố tương đồng đơn thuần nữa mà đòi hỏi sâu hơn ở sự đồng cảm thật sự, chính cái nhóm đó mới cho cá nhân sự tự chủ cần thiết, cá nhân thuộc về nhóm một cách tự nguyện và thoải mái chứ không do áp lực sợ lạc lõng

Người Nhật luôn thuộc về một cộng đồng và muốn miêu tả con người chân thật nhất

phải miêu tả con người ở giữa mọi người Vì vậy sự cô đơn trong văn học Nhật Bản rất đặc

biệt Nỗi cô đơn đó không đến từ sự thờ ơ của xã hội với bản thân mà đó là bi kịch khi tự mình tách ra khỏi cộng đồng mà vốn dĩ mình thuộc về (Người viết nhấn mạnh) Tính cố hữu

của người Nhật là nỗi sợ cô đơn, Nhật Bản có lời dạy về đạo lý rằng: “Hãy tìm một tập thể

mà anh thuộc về họ” Người Nhật phủ nhận chủ nghĩa cá nhân nhưng cũng xa lạ với chủ nghĩa tập thể theo đúng nghĩa của nó Họ sợ phải đối diện một mình với bản thân Cuộc

sống ở Nhật Bản loại trừ mọi sự tách biệt Sự tách biệt được so với sự cô độc-và sự cô độc

với người Nhật là một cái gì đó rất khủng khiếp Các nhân vật của Soseki được miêu tả trong nhiều mối quan hệ, họ giao tiếp rất nhiều, có đầy đủ họ hàng, bạn bè, học trò nhưng

họ vẫn cô đơn, giữa những người thân, họ không tìm được tiếng nói chung và cả sự thấu

hiểu

2.2 Cá nhân l ạc lõng trong xã hội hiện đại hóa

Con người lạc lõng là vấn đề thường thấy trong văn học buổi giao thời, giữa cái mới

và cái cũ, giữa cái quen và cái lạ khiến con người rơi vào trạng thái hụt hẫng, sự cô đơn và không thể kết nối với thế giới xung quanh dẫn chúng ta đến trạng thái lạc lõng

Trang 38

36

2.2.1 Cá nhân “không theo kịp” xã hội

Văn minh phương Tây đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của xã hội Nhật Bản Những tòa nhà xây bằng gạch theo kiến trúc phương Tây mọc lên khắp Tokyo Những người có địa

vị được phân biệt qua Âu phục, chính quyền ban hành quy định Âu phục phải được dùng trong mọi nghi lễ chính thức Đàn ông cắt tóc ngắn trở thành trào lưu, để cổ súy cho phong trào này có hẳn một bài hát phổ thông: Zangiri atama o tataite mireba, bunmei kaika no oto

gasuru (Gõ vào đầu để tóc ngắn dội ra tiếng “văn minh khai hóa”)… (Theo Giáo sư Vĩnh

Sính trong Nh ật Bản cận đại ) Làn sóng Âu hóa lan tràn đến mức bất cứ cái gì của phương

Tây đều được xem là sang trọng, “đúng mốt” Nhìn vào bối cảnh xã hội như vậy, hẳn những người luôn mang nặng tinh thần dân tộc như Soseki không khỏi thấy “chướng tai gai mắt”

Ông giáo (Tôi là con mèo) cho rằng xã hội này là tập hợp những kẻ điên, anh Kangetsu suốt ngày xách cơm theo mài viên thủy tinh, ông Meitei nghĩ rằng mình sinh ra để

đi trêu chọc, đùa bỡn thiên hạ, bản tính độc ác của mụ vợ nhà Kaneda, ông Kaneda phi bình thường, đám học trò Lạc Vân quán với sự phá phách làm loạn có thể làm tiêu tan cả thế

giới:

“Ch ỉ tính qua như vậy đã thấy khá đông bọn cùng loại, đã cảm thấy vững lòng một cách không ng ờ rồi Xã hội biết đâu chả là nơi tụ tập toàn những bọn điên với nhau Chính cái g ọi là xã hội, phải chăng là việc những thằng điên tụ tập lại, đâm chém, giằng xé nhau,

ch ảnh chọe, chửi bới nhau, rồi tất cả gộp lại thành một tập thể, lúc tan rã, lúc thịnh vượng

C ứ thịnh vượng lên rồi lại tan rã đi như một tế bào, và cứ thế mà sống mà tồn tại? Trong cái xã h ội đó, những kẻ ít nhiều biết lý lẽ, biết phải trái lại trở thành vướng, cho nên xã hội

ph ải làm ra một cái gọi là “nhà thương điên” để nhốt họ vào đó Nếu vậy thì chính những người bị nhốt trong nhà thương điên tối tăm kia mới là người bình thường, còn những bọn đang nhởn nhơ phá phách ngoài xã hội, trái lại mới đúng là những thằng điên.Những người điên bị cô lập một mình thì mãi mãi bị coi là điên Nhưng nếu họ tụ tập nhau lại thành tập

th ể, thành tổ chức, có lực lượng, biết đâu lại trở thành là hoàn toàn lành mạnh cũng nên Thi ếu gì những trường hợp thằng điên nặng nhưng có tiền, có quyền, dùng tiền và quyền sai

ki ến những thằng điên nhẹ, hung hăng tàn bạo nhưng lại được người đời cho là tài giỏi đó thôi? Th ật chẳng còn hiểu cái gì ra cái gì nữa!” [38, tr.434-435]

Trang 39

37

Chúng ta nhận thấy một nội hàm ý nghĩa mới trong quan niệm của Soseki về Nhóm,

nhóm luôn luôn đúng, còn cá nhân với tiếng nói riêng của mình thì luôn luôn sai, mãi mãi bị vùi dập Và hệ quả của nó đưa đến ranh giới mong manh giữa kẻ điên và người tỉnh, cái khác nhau giữa họ không phải là bản chất mà là lực lượng:

“B ất bình cũng được Có gì không vừa lòng, tức giận xong thì tâm trạng lại bình thường trở lại Con người ta có nhiều loại, khuyên người khác hãy giống mình thì không thể

gi ống được Đũa mà không cầm giống người khác thì ăn cơm hơi khó Nhưng bánh mỳ của mình, mình c ứ bẻ tùy theo ý thích là tiện nhất Đặt may bộ Kimono ở cửa hàng may khéo thì

m ặc vừa người, không may gặp phải cửa hàng dở thì ít nhiều phải gắng chịu mới được Nhưng cuộc đời này rất kỳ diệu, bây giờ người ta mặc Âu phục nhiều vì nó hợp với phong cách người mặc Nếu cha mẹ sinh ra mình khéo léo, phù hợp với thời thế thì hạnh phúc

nh ất Nhưng nếu không may không hợp thời thế thì phải một là gắng chịu, hai là chịu cho đến khi hòa hợp được vào cuộc đời, ngoài ra không có cách nào khác cả.” [38, tr.384-385]

Nhân vật của Soseki là những nhân vật còn nặng lòng với truyền thống đang loay hoay

giữa guồng quay của hiện đại hóa Nhân vật cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) là nhân vật rất đặc

biệt của Soseki, trên nền chung về những cá nhân u uất lãnh đạm và “trơ lì” trước guồng quay của xã hội thì cậu ấm là một nhân vật “năng động” thực sự Cậu ấm là đại diện cho tinh thần võ sĩ đạo: luôn nóng nảy, thẳng thắn, muốn làm gì phải làm cho bằng được, luôn

ca ngợi những gia đình samurai (nhưng cái ngầm ý sâu xa của Soseki không chỉ dừng lại ở

đó, samurai đại diện cho hệ thống ý thức lâu đời của Nhật Bản, đại diện cho quyền lãnh đạo

của Nhật Bản, đại diện cho thái độ ứng xử trước làn sóng Âu hóa: vừa thỏa hiệp vừa đấu tranh) Những suy nghĩ của cậu ấm là những lời bình phẩm đanh thép về xã hội:

“Ng ẫm ở trên đời có những kẻ thì trâng tráo như Hề Trống, bất cứ chỗ nào, chẳng ai

c ần đến, hắn cũng giơ cái mặt ra, bắng nha bắng nhắng, lại có những kẻ vênh váo, mặt vắt trên vai theo ki ểu “cái nước Nhật này mà không có tôi là không xong” như Nhím, rồi có

nh ững kẻ như Áo Đỏ tự đóng vai thành gã lái buôn, chuyên kinh doanh những mặt hàng làm đỏm, nước hoa, son phấn và trai lơ Cũng có những ông Ta-nu-ki luôn mồm tuyên bố “ta đây chính là nền giáo dục biết đi, nền giáo dục khoác áo đuôi tôm” Biết bao nhiêu loại người, biết bao nhiêu bộ mặt, ai cũng thấy mình oai mình giỏi Vậy mà chỉ có anh Bí Đỏ này, chưa thấy ai hiền như anh Anh hiền như một con búp bê mà người ta giữ để làm tin,

hi ền đến nỗi có anh mà cũng như không có” [34, tr.143-144]

Trang 40

Xã hội trong mắt những nhân vật của Soseki thật khó chấp nhận, nó đi ngược lại suy nghĩ và mong muốn của họ, những giá trị giả tạo, tầng lớp tư sản mới nổi mê đắm đồng tiền, thang giá trị mới đánh giá con người dựa trên năng lực cá nhân (không hề khách quan mà

nhằm để phục vụ lợi ích của quốc gia) Con người cá nhân suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình, luôn chịu sự phê phán của người đời (như ông giáo Kushami, hay Cậu ấm, nàng Nami), không theo kịp xu hướng của xã hội hay nói chính xác hơn là họ“đứng lại trước guồng quay hiện đại hóa quá nhanh”, khi đứng lại, họ trở thành “con người bên lề” và

xã hội quay lại chế nhạo họ

2.2.2 Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội

Soseki không chối bỏ quá trình hiện đại hóa nhưng không đồng tình trước một Nhật

Bản “với tay” theo văn minh phương Tây Ông đồng tình với sự khai hóa văn minh nảy sinh

từ nhu cầu nội tại Mâu thuẫn trong con người cá nhân theo quan điểm của Soseki là cá nhân

tự cho mình là trung tâm, có thể sắp xếp cuộc sống của mình mà không biết rằng chính môi trường mới sắp xếp cuộc sống của họ Vì vậy họ có tâm lý mâu thuẫn cho rằng mình không

để ý đến người khác nói gì cứ làm theo ý mình nhưng lại u uất, dè chừng khi xã hội phản ứng xấu về họ

Cậu ấm (Cậu ấm ngây thơ) qua những lời kể về chiến tích của mình, thoạt trông là

một người không để ý gì đến việc người khác nhận xét gì về mình: “Những khi lên lớp thỉng

tho ảng gặp những trục trặc nhưng tôi chỉ thấy buồn lúc đó Sau đó ba mươi phút là tôi quên

h ết Tôi là một kẻ dẫu có muốn lo xa cái gì cũng không được Hầu như tôi không để ý gì đến

nh ững thất bại trong giờ giảng của tôi đã ảnh hưởng thế nào đối với học sinh, hay đã làm cho ông hi ệu trưởng và ông hiệu phó có nhận xét thế nào về mình.” [34, tr.56] nhưng thực

chất anh ta rất để ý khi nhược điểm của mình bị phơi ra trước mặt mọi người: chi tiết bà Kiyô nói việc anh ta đái dầm ngày còn nhỏ trước mặt một người xa lạ như cháu bà Kiyô nhưng cậu ấm luôn suy nghĩ không biết anh ta nghĩ gì về mình Nhân vật cậu ấm bề ngoài

Ngày đăng: 02/12/2015, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w